Việc làm là một khái niệm phức tạp, nó gắn với hoạt động thực tiễn của con người, vì vậy để hiểu rõ được khái niệm về việc làm thì chúng ta phải hiểu rõ khái niệm người có việc làm.. Tại
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM 4
I Các khái niệm 4
1.1 Lao động 4
1.2 Việc làm 5
1.3 Thất nghiệp 6
1.4 Thiếu việc làm 7
1.5 Tạo việc làm 8
II Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động: 10
2.1 Mối quan hệ giữa việc làm và cuộc sống người lao động 10
2.2 Mối quan hệ giữa việc làm và phát triển kinh tế xã hội 11
2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc tạo việc làm 13
III Các nhân tố ảnh hưởng tới việc tạo việc làm: 15
3.1 Nhóm các yếu tố thuộc về cung việc làm 15
3.2 Nhóm các yếu tố thuộc về cầu việc làm 18
3.3 Chính phủ và pháp luật 19
IV Các tiêu chí đánh giá về tạo việc làm: 20
4.1 Số việc làm mới bình quân năm 20
4.2 Tỷ lệ người lao động tìm được việc làm phù hợp 21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÃ NGA BẠCH - NGA SƠN - THANH HÓA 22
I Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của xã Nga Bạch 22
1.1 Điều kiện tự nhiên 22
1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương 22
1.2.1 Đặc điểm kinh tế: 22
1.2.2 Đặc điểm về văn hoá, giáo dục, y tế: 24
1.3 Tình hình lao động tại xã Nga Bạch: 26
1.3.1 Quy mô lao động tại xã Nga Bạch 26
1.3.2 Dân số từ 15 tuổi trở lên tham hoạt động kinh tế thường xuyên 27
1.3.3 Tình hình thiếu việc làm của lao động 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế 29
II Các nhân tố ảnh hưởng tới tạo việc làm của xã Nga Bạch 30
2.1 Nhóm các yếu tố thuộc về cung việc làm 30
2.1.1 Đất đai và tình hình sử dụng đất 30
2.1.2 Tình hình sử dụng vốn 31
2.2 Nhóm các yếu tố thuộc về cầu việc làm 31
2.3 Chính phủ và pháp luật 32
III Tình hình tạo việc làm tại xã Nga Bạch: 32
3.1 Tạo việc làm trong ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp 32
3.2 Trong ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 36
3.3 Tạo việc làm trong ngành dịch vụ 38
IV: Đánh giá về tạo việc làm cho người lao động tại xã Nga Bạch 39
4.1 Thành tích của tạo việc làm: 39
4.2 Tồn tại và nguyên nhân 40
Trang 2CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG TẠI XÃ NGA BẠCH - NGA SƠN - THANH HÓA: 42
1 Những kiến nghị về chủ trương chính sách của Nhà nước 42
2 Giải pháp về kinh tế 43
2.1 Trong ngành nông –lâm- ngư nghiệp 43
2.2 Trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 45
2.3 Trong ngành dịch vụ, thương mại: 46
3 Giải pháp về giáo dục đào tạo 48
4 Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng và thúc đẩy kinh tế thị trường 49
5 Các giải pháp khác 51
KẾT LUẬN: 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 54
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề việc làm là một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi một địa phương, mỗi quốc gia Vấn đề này không những mang tính kinh tế mà còn mang tính xã hội sâu sắc Vì vậy trong thời gian qua thì vấn đề tạo việc làm cho người lao động luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Hiện nay thì số lượng lao động có việc làm không ngừng tăng, số người thất nghệp và thiếu việc làm giảm đi; có sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu và chất lượng lao động Nhưng trong toàn quốc thì vấn đề tạo việc làm cho người lao động ở mỗi địa phương là rất khác nhau bởi còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của các địa phương, các vùng Do đó không phải địa phương nào cũng có kết quả tạo việc làm cho người lao động đều tốt cả
Xã Nga Bạch mặc dù trong những năm gần đây có những kết quả cao trong công tác tạo việc làm cho người lao động nhưng vẫn còn rất nhiều tồn tại Số lao động được giải quyết việc làm ở xã không ngừng tăng qua các năm nhưng tỷ lệ người thất nghiệp và người thiếu việc làm ở nông thôn còn khá cao Sở dĩ có kết quả như vậy vì xã Nga Bạch còn gặp nhiều
Trang 3khó khăn trong phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng còn yếu kém Vì vậy trong thời gian tới UBND xã đưa vấn đề tạo việc làm cho người lao động lên hàng đầu.
Nhận thấy được vai trò của việc tạo việc làm cho người lao động, trong thời gian thực tập tại UBND xã Nga Bạch, bằng phương pháp nghiên
cứu các tài liệu sẵn có, đi tìm hiểu thực tế em xin chọn đề tài : “Tạo việc làm cho người lao động tại xã Nga Bạch - huyện Nga Sơn – tỉnh Thanh Hóa.” làm đề tài cho báo cáo chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình Đối
tượng nghiên cứu của chuyên đề thực tập này là vấn đề tạo việc làm cho người lao động ở xã Nga Bạch – huyện Nga Sơn – tỉnh Thanh Hóa Mục đích nghiên cứu là phân tích thực trạng tạo việc làm cho người lao động những thành tích, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó, từ đó xin
đề xuất ra một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động ở xã Nga Bạch
Chuyên đề thực tập của em gồm có ba phần :
Chương I : Cơ sở lý luận về tạo việc làm.
Chương II : Thực trạng tạo việc làm cho người lao động tại xã
Nga Bạch - Nga Sơn - Thanh Hóa.
Chương III : Một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động
tại xã Nga Bạch - Nga Sơn - Thanh Hóa.
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM
I Các khái niệm
1.1 Lao động.
Theo Mác: “Lao động trước hết là quá trình diễn ra giữa con người và giới tự nhiên, là quá trình trong đó bằng hoạt động của mình con người làm trung gian và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”
Trong bộ luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, là một hoạt
động diễn ra giữa con người và giới tự nhiên”.
Trong quá trình tác động vào giới tự nhiên, con người phải sử dụng công cụ, thiết bị để tác động nhằm biến đổi tự nhiên thành những vật thể nhằm đáp ứng nhu cầu của mình
Khi nói đến lao động không thể không nói đến sức lao động, sức lao động là toàn bộ thể chất và tinh thần của con người tồn tại trong một cơ
Trang 5thể, trong một người đang sống và được con người đó đem ra sử dụng mỗi khi sản xuất một giá trị sử dụng nào đó.
Như vậy lao động chính là việc sử dụng sức lao động, quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động
1.2 Việc làm.
Việc làm là một khái niệm phức tạp, nó gắn với hoạt động thực tiễn của con người, vì vậy để hiểu rõ được khái niệm về việc làm thì chúng ta phải hiểu rõ khái niệm người có việc làm
Tại Hội nghị lần thứ 13 năm 1983 tổ chức lao động thế giới (ILO) đưa ra quan niệm : “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó,
có được trả công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay và thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” Người có việc làm là những người lao động ở tất cả các khu vực (công và tư) có thu nhập đem lại nguồn sống cho bản thân và gia đình, xã hội.Tại nhiều nước trên thế giới sử dụng khái niệm này
Khi điều tra thống kê về lao động và việc làm, khái niệm trên được
cụ thể hoá bằng các tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc vào mỗi nước trên thế giới đặt ra Trong đó có thể chia ra thành hai nhóm :
Nhóm thứ nhất : Là nhóm có việc làm và đang làm việc, đó là những
người đang làm bất cứ công việc gì được trả công hoặc làm việc trong các trang trại hay cơ sở sản xuất kinh doanh của gia đỡnh
Nhóm thứ hai : Là những người có việc làm nhưng hiện không làm
việc, đó là những người có việc làm nhưng hiện tại đang nghỉ ốm hoặc các
Trang 6đều được thừa nhận là việc làm” Như vậy một hoạt động được coi là việc làm nếu nó đáp ứng được hai tiêu chuẩn :
Thứ nhất, đó là hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm.
Thứ hai, hoạt động đó phải đem lại thu nhập cho người lao động.
Việc chuẩn và lượng hoá khái niệm việc làm tạo cơ sở thống nhất trong lĩnh vực điều tra nghiên cứu và hoạch định chính sách về việc làm.Như vậy, việc làm là hoạt động được thể hiện trong ba dạng sau :
Thứ nhất, hoạt động lao động để nhận tiền công hoặc tiền lương
bằng tiền mặt hay hiện vật
Thứ hai, hoạt động lao động để thu lợi nhuận cho bản thân.
Thứ ba, làm công việc cho hộ gia đình của mình, không được trả
thù lao dưới mức tiền công, tiền lương cho công việc đó Bao gồm sản xuất nhà nước trên ruộng đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ
sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý
1.3 Thất nghiệp.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công thịnh hành”
Như vậy người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động trong tuần lễ điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm và có đăng ký tìm việc theo quy định
Để xem xét và so sánh tình hình thất nghiệp người ta sử dụng các con số chủ yếu là tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ số giữa số người thất nghiệp với dân số hoạt động dân số
UR = U/LF
Trang 7Trong đó : UR: tỷ lệ thất nghiệp
U : Số người thất nghiệp
LF : Dân số hoạt động dân số
Thất nghiệp là một khái niệm vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội, nó mang nghĩa ngược với có việc làm Nói đến thất nghiệp là nói đến sự khó khăn cho việc hoạch định chính sách của các quốc gia Tuy nhiên trên thực tế tỷ lệ thất nghiệp ở mức hợp lý là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Vì vậy cần phải giữ mức tỷ lệ thất nghiệp sao cho hợp lý với trình độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia
1.4 Thiếu việc làm.
Thiếu việc làm là việc làm không tạo điều kiện, không đỏi hỏi người lao động sử dụng hết thời gian lao động làm việc theo chế độ và mang lại thu nhập dưới mức tối thiểu
Người thiếu việc làm là người trong tuần lễ điều tra có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm Thiếu việc làm có hai dạng :
Thiếu việc làm vô hình : Là khi thời gian sử dụng cho sản xuất kinh
doanh không có hiệu quả dẫn đến thu nhập thấp, người lao động phải làm việc bổ sung thêm để tăng thu nhập Người thiếu việc làm vô hình là người
có thời gian làm việc tuy đủ hoặc vượt mức chuẩn quy định về đủ số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra nhưng việc làm có năng suất thấp, thu nhập thấp, công việc không phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ và họ có nhu cầu tìm việc làm thêm
Thiếu việc làm hữu hình : Là khi thời gian làm việc thấp hơn mức
bình thường Người thiếu việc làm hữu hình là người có việc làm nhưng số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra ít hơn mức quy định chuẩn và họ có nhu cầu làm việc thêm
Trang 8Vì khái niệm về thiếu việc làm rộng do đó việc xác định số người thiếu việc làm là rất khó khăn Vì vậy nhất là khi việc xác định số người thiếu việc làm ở Việt Nam là rất khó khăn nên chúng ta cần bám chắc khái niệm thiếu việc làm của ILO, từ đó chỉ xác định người thiếu việc làm ở dạng nhìn thấy có những trường hợp khác nên đưa vào nhóm những người
có việc làm nhưng không ổn định
Tình trạng thiếu việc làm hiện nay tồn tại ở rất nhiều nước nhất là ở những nước đang phát triển như Việt Nam Việc giải quyết vấn đề này phải
có sự kết hợp của nhiều cấp, nhiều ngành và mang tính rất lan giải
Từ những khái niệm trên có khái niệm về việc làm đầy đủ : Việc làm
đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất cứ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân hay việc làm đầy đủ là trạng thái mà mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc thì đều có thể tìm được việc làm trong một thời gian tương đối ngắn
1.5 Tạo việc làm.
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo
ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá
và dịch vụ theo yêu cầu thị trường
Vấn đề tạo việc làm cho người lao động là một vấn để rất phức tạp nhưng là rất cần thiết mà mỗi quốc gia, mỗi địa phương luôn phải quan tâm Việc tạo việc làm cho người lao động chịu ảnh hưởng của không những là nền kinh tế xã hội mà còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác Vì vậy khi xem xét để đưa ra chính sách tạo việc làm cho người lao động cần phải quan tâm đến rất nhiều nhân tố khác
Thực chất của tạo việc làm cho người lao động là tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất gồm cả về chất lượng và cả
số lượng Chất lượng, số lượng của tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu
tư, những tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất cũng như việc
sử dụng và quản lý các tư liệu đó
Trang 9Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu dân số Chất lượng lao động phụ thuộc vào kết quả đào tạo, phát triển của giáo dục và y
tế Ngoài ra vấn đề môi trường cho sự kết hợp giữa các yếu tố này là hết sức quan trọng, nó bao gồm các chính sách, điều kiện khuyến khích người lao động cũng như người sử dụng lao động trong công việc Thị trường lao động chỉ có thể được hình thành khi người lao động với người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao động, do vậy vấn để tạo việc làm phải được nhìn nhận ở cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời không thể không thể kể đến vai trò của Nhà nước
Người sử dụng lao động là người chủ yếu tạo ra chỗ làm việc cho người lao động, bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước Để có quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động phải có những điều kiện nhất định Đó là người sử dụng lao động cần phải có vốn, công nghệ, kinh nghiệm và thị trường tiêu thụ Còn người lao động cần phải có sức khoẻ, trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm phù hợp với công việc của mình Để có được việc làm được trả công theo ý muốn của mình thì người lao động luôn phải học hỏi, trau dồi kiến thức cho mình để theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Ngoài ra người lao động phải luôn tự đi tìm việc làm phù hợp với mình để đem lại thu nhập cho gia đình mình.Tuy nhiên khi nói đến quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động không thể không kể đến vai trò của Nhà nước Nhà nước quản lý quan hệ lao động bằng các chính sách khuyến khích động viên nhằm đem lại lợi ích cho cả hai bên Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động để họ phát huy tối đa năng lực của mình Ngoài ra Nhà nước cũng đưa ra các chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp
lý Vì vậy, khi nghiên cứu tạo việc làm cần chú ý đến vấn đề đầu tư của Nhà nước cũng như tư nhân là các khu vực có thể tạo ra cơ hội việc làm cho người lao động
Trang 10Hiện nay việc đầu tư của Nhà nước cũng như của các tư nhân đều tập trung ở thành thị và các khu công nghiệp vì ở những nơi này sẽ tạo ra được
tỷ lệ lợi nhuận cao hơn và có khả năng liên kết với nhau hơn Chính vì điều này sẽ gây ra hiện tượng người lao động từ nông thôn ra thành thị và cũng làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn, do đó cần phải có chính sách tạo việc làm phù hợp cho cả người lao động ở thành thị và nông thôn
II Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động:
2.1 Mối quan hệ giữa việc làm và cuộc sống người lao động.
Việc làm là những hoạt động có ích, tạo ra thu nhập cho người lao động và cho xã hội Đối với người lao động thì việc làm là nhu cầu của cuộc sống
Vì về cơ bản khi tồn tại nhu cầu của con người gồm hai loại : Nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần
- Về mặt vật chất, theo C.Mác : " Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, do đó cũng là của mọi lịch sử,tiền đề đó là người ta phải có thể sống đó mới cú thể tạo ra " lịch sử " Nhưng muốn sống trước hết phải
có ăn, uống,mặc ,ở và một vài thứ khác nữa Vậy thì hành động lịch sử đầu tiên là sự sản xuất ra những tư liệu thõa mãn những nhu cầu đó, sự sản xuất ra bản thân đời sống vật chất và đấy chính là một hành động lịch sử, một hành động lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử " Từ thuở
khai thiên lập địa con người đó ý thức được rằng: Để tồn tại con người phải đấu tranh với thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên, tức là phải tham gia lao động Khi xã hội càng phát triển, nhu cầu của con người tăng lên trong khi điều kiện thiên nhiên ngày càng khan hiếm, thì nhu cầu được lao động, tham gia sản xuất ngày càng lớn
- Về mặt tinh thần : Lao động đó sáng tạo ra con người, hoàn thiện con người, nhờ có lao động mà con được hoàn thiện như ngày nay
Trang 11Bên cạnh nhu cầu vật chất thì nhu cầu về tinh thần (văn hoá, nghệ thuật , mong muốn được kính trọng ) cũng không kém phần quan trọng Khi mà xã hội càng phát triển thì nhu cầu này ngày càng được chú trọng Điều đó chỉ được đáp ứng khi con người tham gia vào lao động một cách tự nguyện và nhiệt tình để phát huy tối đa năng lực, sức sáng tạo của mình
- Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động không những tạo điều kiện cho người lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống, mà còn làm giảm các tệ nạn xã hội, làm cho xã hội càng văn minh hơn
- Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động còn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ, tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó có quyền cơ bản nhất là quyền được được làm việc, nhằm nuôi sống bản thân và gia đình và góp phần xây dựng đất nước
2.2 Mối quan hệ giữa việc làm và phát triển kinh tế xã hội.
Sự phát triển kinh tế được biểu hiện ở chỗ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Chỉ tiêu này được biểu hiện sự tăng lên của tổng sản phẩm xã hội, sự tăng lên này phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là thời gian lao động và hiệu quả của lao động
Ta có công thức sau đây :
TSF = T.W
Trong đó:
TSF : Tổng sản phẩm xã hội
T : Thời gian lao động (người, ngày công, giờ công)
W : Hiệu quả của lao động (NSLĐ)
Như vậy muốn tăng tổng sản phẩm xã hội, một mặt phải huy động triệt để mọi người có khả năng lao động tham gia vào nền sản xuất xã hội
Trang 12tức là mỗi người đều có việc làm đầy đủ (đạt đến mức độ toàn dụng lao động); mặt khác phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nhằm khai thác triệt để tiềm năng của mỗi người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm hiệu quả Chính vì vậy, việc làm được coi là giải pháp có tính chiến lược cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Ở một khía cạch khác có thể xem việc làm là một gánh nặng cho xã hội Vì trong xã hội thì sự gia tăng dân số luôn gắn với sự gia tăng nguồn lao động
Ở những nước chậm phát triển thì khả năng tạo thêm việc làm hiện nay bất cập với tốc độ gia tăng chưa từng thấy của nguồn lao động Đây là một thách thức lớn đối với nhiều quốc gia
Dân số tăng nhanh, nguồn lao động tăng nhanh đang làm mất cân đối giữa lao động và việc làm gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm ngày một gia tăng Điều này trở thành lực cản của sự phát triển ở các quốc gia, nó ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia, an ninh khu vực và thế giới
Con người sinh ra và lớn lên cùng với các hoạt động lao động của mình, là nguồn gốc của sự phát triển xã hội Yếu tố chính, yếu tố chủ yếu quy định quá trình biến đổi và phát triển sản xuất chính là lao động sáng tạo của con người Chính vì thế nếu không tạo điều kiện cũng như việc không đáp ứng nhu cầu lao động của con người thì đồng nghĩa với việc kìm hãm quá trình biến đổi và phát triển sản xuất
Có việc làm, có thu nhập thì nhu cầu tối thiểu ăn, ở, mặc, học hành
sẽ được đảm bảo Ngược lại nếu không có việc làm thì các nhu cầu đó không được đáp ứng và vì nó mà con người có thể sẵn sàng tàn phá thiên nhiên, huỷ hoại môi trường bất chấp luật lệ, thuần phong mỹ tục
mà chính họ tạo dựng nên
Trang 13Tình trạng thất nghiệp, không có việc làm sinh ra trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút và còn có thể dẫn tới hoạt động tội phạm có tổ chức với quy
mô lớn rất nguy hiểm cho xã hội
Mặt khác thì thất nghiệp cũng là một nguyên nhân thúc đẩy di dân làm biến dạng sự phân bố dân cư giữa các khu vực khác nhau trong một quốc gia và cả giữa các quốc gia Tình trạng này dẫn đến hiện tượng từ nông thôn đổ ra thành thị, từ miền núi xuống miền xuôi, từ trong nước ra nước ngoài, từ các nước chậm phát triển sang các nước phát triển vượt quá
sự kiểm soát của Chính phủ quốc gia Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội VIII trong mục phân tích khuyết điểm và yếu kém có nhận định: " Việc làm đang là vấn đề gay gắt Sự phân hoá giầu nghèo giữa các vùng, giữa các đô thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh Đời sống một số bộ phận nhân dân nhất là một số vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, vùng đồng bào dân tộc còn quá khó khăn " Điều đó có thể nói lên việc giải quyết các vấn đề xã hội của ta trong còn hạn chế, vấn đề việc làm thích hợp cho các tầng lớp dân cư chưa được giải quyết thoả đáng Nếu không có chính sách thích hợp thì đây sẽ là một gánh nặng, một lực cản đất nước
2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc tạo việc làm.
Phương hướng có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục giải phóng triệt để tiềm năng sức lao động phù hợp với hệ thống cơ chế, chính sách pháp luật theo tinh thần đổi mới Hình thành và phát triển thị trường lao động, đa dạng hoá các hình thức sản xuất kinh doanh tạo ra những khả năng to lớn để tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm
Vấn đề lớn, cơ bản trong đổi mới toàn bộ hệ thống quản lý lao động
và giải quyết việc làm ở nước ta theo những đòi hỏi khắt khe của thị trường lao động là phải tổ chức toàn bộ lao động xã hội, tạo một đội ngũ lao động
có cơ cấu số lượng và chất lượng phù hợp với cấu trúc kinh tế mới
Trang 14Nhà nước có vai trò trong việc tạo môi trường thuận lợi và bình đẳng cho người lao động ở mọi khu vực có việc làm và việc làm có hiệu quả Nhà nước phải quan tâm đến toàn bộ lực lượng lao động xã hội, phải soạn thảo chế độ chính sách và cơ chế quản lý không chỉ trong khu vực kinh tế Nhà nước mà còn trong toàn xã hội Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho mọi người lao động, tạo điều kiện cho họ được bình đẳng trong việc tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, bình đẳng trong việc hưởng những thành quả lao động của mình.
Nhà nước có trách nhiệm tổ chức và khuyến khích mọi người lao động các cấp các ngành, các địa phương, các tổ chức xã hội tạo nhiều việc làm có hiệu quả Tác động của Nhà nước thông qua các chính sách cụ thể như chính sách đầu tư qua tín dụng và dịch vụ sản xuất đa dạng có nhiều kênh Nhà nước có vai chủ đạo trong việc hỗ trợ nguồn vốn cho người lao động, chỉ đạo hệ thông ngân hàng kinh doanh tiền tệ hướng vào việc " tạo việc làm " để thực hiện cho vay Kêu gọi và tranh thủ các tổ chức quốc tế đầu tư vào cho vay theo chương trình dự án kinh tế ở Việt Nam, khuyến khích mọi thành viên, mọi tổ chức xã hội trong cộng đồng góp vốn góp các nguồn lực khác vào công cuộc tạo việc làm
Nhà nước Trung ương cũng như chính quyền các cấp, các ngành kinh
tế, kỹ thuật phải tổng kết các mô hình việc làm thích hợp, có hiệu quả để nhân ra diện rộng nhằm mục tiêu thay đổi cơ cấu lao động hiện nay đặc biệt
là ở nông thôn
Nhà nước có vai trò chủ yếu trong việc tổ chức mạng lưới thông tin thị trường lao động, phổ biến mô hình, khuyến khích các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể phát huy mạnh mạng lưới môi giới và dịch vụ việc làm giúp cho người lao động có những thông tin cần thiết nhằm nhanh chóng tạo được công ăn việc làm
Trang 15Nhà lý cho những nhà doanh nghiệp về vốn, thiết bị, kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra nhiều chỗ làm việc mới và
ổn định Đẩy mạnh " Chương trình quốc gia giải quyết việc làm, tạo điều kiện cho mọi người lao động nước đóng vai trủ chủ đạo trong việc đào tạo tay nghề cho người lao động, tổ chức mạng lưới dạy nghề rộng khắp để đào tạo mới, đào tạo lại nghề cho phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động Đặc biệt Nhà nước cần quan tâm đến việc nâng cao năng lực quản tự tạo việc làm "
Trong những năm qua các nhà kinh tế Việt nam bằng nhiều giải pháp ( chiến lược, kế hoạch, chính sách , tổ chức ) để tạo ra nhiều công việc làm trong nền kinh tế, sử dụng tối đa và có hiệu quả các nguồn nhân lực Tạo việc làm cho người lao động vẫn đang là nhiệm vụ kinh tế-chính trị-xã hội cấp bách ở nước ta hiện nay
III Các nhân tố ảnh hưởng tới việc tạo việc làm:
3.1 Nhóm các yếu tố thuộc về cung việc làm.
Nhóm các yếu tố thuộc về cung việc làm chính là tư liệu sản xuất bao gồm vốn, đất đai, máy móc, công cụ, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực sinh học…Trong đó quan trọng nhất là yếu tố về vốn, đất đai, kết cấu
hạ tầng kỹ thuật, các yếu tố còn lại có thể mua được bằng vốn
Trước tiên chúng ta nói đến vốn:
Vốn có vai trò rất quan trọng, không thể thiếu được trong quá trình sản xuất Vốn được biểu hiện bằng tiền của tư liệu sản xuất và đối tượng lao động được sử dụng vào trong quá trình sản xuất Vốn được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm thiết bị nguyên vật liệu, máy móc, vốn để dự trữ cho quay vòng Càng có nhiều vốn để đầu tư, quy mô sản xuất ngày càng được nâng cao, hiệu quả sản xuất càng cao và số lao động thu hút làm việc
sẽ ngày một nhiều hơn
Trang 16Trong sản xuất nông nghiệp thì vốn cũng có vai trò hết sức quan trọng Có thể nói vốn là một yếu tố rất quan trọng để phát triển sản xuất nông nghiệp, khi diện tích đất đai là không đổi thì vốn đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển chiều sâu Do đó khi nguồn vốn được sử dụng trong nông nghiệp tăng thì càng tạo ra được nhiều chỗ làm việc cho người lao động trong nông thôn, nhất là khi mà lượng thiếu việc làm của người lao động nông thôn còn tồn tại rất nhiều.
Vốn trong ngành thương mại dịch vụ có vai trò đặc biệt quan trọng Chỉ có thể hoạt động sản xuất thương mại dịch vụ khi mà có vốn Khi mà vốn tăng thì hoạt động dịch vụ sẽ được mở rộng và do đó sẽ tạo nhiều chỗ làm cho người lao động trong lĩnh vực này
Như vậy, trong bất cứ hoạt động nào thì yếu tố vốn cũng đóng vai trò quan trọng và gián tiếp ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động
Yếu tố thứ hai nhưng đóng vai trò quan trọng nhất trong tư liệu sản xuất đó là yếu tố đất đai
Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề của mọi quá trình sản xuất Sự ảnh hưởng của đất đai là khác nhau đối với các ngành khác nhau
Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai không chỉ tham gia với tư cách là yếu tố thông thường mà là yếu tố tích cực không thể thay thế được Nhưng sự tác động của đất đai tới sản xuất nông nghiệp là có hạn
vì diện tích đất đai là không thể tăng được mà hiện nay trong quá trình công nghiệp hoá thì diện tích đất đai đang bị thu hẹp Để tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, nhất là lao động nông thôn thì vấn đề chú trọng công tác vừa chăm sóc đất, vừa kết hợp trồng lúa, hoa màu xen kẽ
là hết sức cần thiết, tránh tình trạng nông nhàn cho người nông dân Chúng ta cần phải chú trọng việc sử dụng đất trong nông nghiệp để cho người lao động trong khu vực nông nghiệp có việc làm tương đối đầy đủ
Có thể nói rằng ngành nông nghiệp không thể tồn tại được nếu như không có đất đai, tức là người lao động trong nông nghiệp không thể có
Trang 17chỗ làm việc Vì vậy chúng ta cần khai thác và sử dụng đất hợp lý, đồng thời phải luôn chú trọng cải tạo đất.
Trong công nghiệp thì đất đai đóng vai trò cũng rất quan trọng Đất đai được dùng để xây dựng nhà máy, trụ sở, xí nghiệp và nó luôn là
sự lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư Việc lựa chọn địa điểm để xây dựng nhà xưởng hiện nay là hết sức khó khăn bởi hoạt động sản xuất kinh doanh cũn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khỏc Các nhà đầu tư luôn lựa chọn địa điểm gần đường giao thông để dễ dàng cho việc buôn bán, trao đổi hàng hoá, và đồng thời họ cũng chọn chỗ thoáng mát, gần nguồn điện, nguồn nước…Nhưng việc lựa chọn mà họ quan tâm nhiều nhất là địa điểm đó phải có đông dân cư Nơi có đông dân cư thì sẽ tạo ra một thị trường tiêu thụ lớn đồng thời việc tỡm kiếm lao động ở nơi này sẽ dễ dàng hơn
Ngày nay thì việc lựa chọn địa điểm để hoạt động sản xuất kinh doanh là rất khó Mặt khác thỡ đang có chiều hướng người lao động chuyển dần sang lĩnh vực hoạt động công nghiệp và ngành này đang là ngành tạo nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động Vỡ vậy chúng ta cần phải khai thác phát triển ngành công nghiệp để giải quyết việc làm cho nhiều người lao động đặc biệt là người lao động ở nông thôn
Trong hoạt động thương mại dịch vụ, đất đai không đóng vai trò quan trọng bằng ngành nông nghiệp và dịch vụ nhưng cũng không thể thiếu được
Như vậy thì trong bất cứ ngành nào thì đất đai cũng là một điều kiện tiền đề để ngành tồn tại và phát triển Do đó chúng ta cần phải có một chính sách sử dụng đất hợp lý
Ngoài yếu tố vốn và đất đai thì yếu tố về cơ sở hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho người lao động Các yếu tố đó là các
hệ thống thuỷ lợi, giao thông, kho tàng, thông tin liên lạc, bến bãi…Các yếu tố này phát triển tốt là tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội và do
Trang 18đó tạo điều kiện để phát triển các ngành khác và tạo thêm việc làm cho người lao động Đồng thời khi phát triển yếu tố cơ sở hạ tầng thì cũng cần một lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực này Do đó thì phát triển yếu
tố này sẽ thúc đẩy các nền kinh tế phát triển và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Nhưng yếu tố này cũng không phải là yếu tố không thể thay thế được mà nó có thể mua được bằng vốn
Yếu tố tư liệu sản xuất là yếu tố hàng đầu tác động đến quá trình tạo việc làm cho người lao động Vì vậy các nhà đầu tư nên lựa chọn yếu tố này một cách kỹ lưỡng để người lao động có điều kiện làm việc thuận lợi nhất và tạo thêm nhiều chỗ làm cho người lao động
3.2 Nhóm các yếu tố thuộc về cầu việc làm.
Nhóm các yếu tố thuộc về cầu việc làm chính là các yếu tố thuộc về người lao động đó chính là chất lượng và số lượng Trong yếu tố chất lượng lại bao ngồm nhiều yếu tố như sức khỏe người lao động, trình độ học vấn, trình độ tay nghề, đạo đúc tác phong người lao động …
Để đánh giá sức lao động của con người thì cần phải nói đến cả chất lượng và số lượng Hiện nay dân số của nước ta không ngừng tăng và số người trong độ tuổi lao động không ngừng tăng cao Trong khi đó thì việc tạo ra số chỗ làm việc mới không theo kịp tốc độ tăng của lực lượng lao động do đó vẫn còn tồn tại rất nhiều người thất nghiệp ở các thành thị và người thiếu việc làm ở nông thôn Do đó chúng ta cần phải có một chính sách phát triển kinh tế xã hội đi đôi với chính sách dân số để đảm bảo cho mọi người lao động đều có việc làm Về chất lượng của sức lao động thì cần phải xem xột trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm của người lao động Hiện nay thì lao động có trình độ chuyên môn cao tập trung nhiều ở các thành phố, do vậy sẽ gây sức ép về việc làm cho lượng lao động ở các thành phố này đồng thời cũng gây khó khăn trong việc giải quyết việc làm cho lượng lao động có trình độ thấp ở vùng nông
Trang 19thôn Như vậy vấn đề sức lao động của người lao động cũng gây ra sự mất cân đối về lực lượng lao động có trình độ khác nhau giữa các vùng, có những vùng thì lại rất thừa lao động có trình độ đại học, cao đẳng nhưng lại
có những vùng rất thiếu lượng lao động này Do đó gây khó khăn trong việc tạo việc làm cho người lao động ở những vùng khác nhau
ở những địa phương có nguồn nhân lực dồi dào thì ở đó nhu cầu về việc làm lớn và người sử dụng lao động sẽ dễ dàng tìm kiếm lao động ở những nơi này Và cũng ở đây đỏi hỏi phải có chương trình tạo việc làm cho người lao động có quy mô lớn hơn và gây áp lực rất nhiều cho các nhà ra chính sách
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo việc làm cho người lao động mà trong đó đại diện là các yếu tố tư liệu sản xuất, môi trường, bản thân người lao động Do vậy khi đưa ra chính sách tạo việc làm cho người lao động cần phải xem xét các điều kiện và nhu cầu về việc làm để đáp ứng được nhu cầu của người lao động và thị trường
3.3 Chính phủ và pháp luật.
Chính phủ và pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tạo việc làm cho người lao động vì Chính phủ và pháp luật là nhân tố chính tạo nên môi trường xã hội tại địa phương
Môi trường xã hội là các chính sách của địa phương, sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng đối với người lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc tạo việc làm cho người lao động Được sự quan tâm của các cấp thì người lao động mới hăng say làm việc, người sử dụng lao động sẽ thoải mái hoạt động sản xuất kinh doanh Người lao động sẽ an tâm hơn để làm việc để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm khi được sự quan tâm của các đoàn thể, ban ngành Một yếu tố rất quan trọng là chính sách phát triển kinh tế của địa phương sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cơ cấu việc làm cho người lao động ở địa phương đó Do đó mỗi địa phương cần
Trang 20dựa vào điều kiện của địa phương mình mà đưa ra chiến lược phát triển kinh tế cho phù hợp để tránh tình trạng người lao động không có việc làm.
Ngoài ra môi trường xã hội còn bao gồm các chính sách cho vay vốn với lãi suất thấp, ra luật đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động
có khả năng tự tạo chỗ làm cho bản thân và gia đình đồng thời tạo việc làm cho người lao động ở lân cận Các yếu tố như công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo cho người dân sẽ nâng cao chất lượng lao động và sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho họ tìm được công việc phù hợp
Việc xây dựng môi trường xã hội không những ở địa phương mà ngay
cả ở nơi làm việc của người lao động cũng phải có một môi trường thuận lợi
Đó là việc xây dựng văn hoá trong doanh nghiệp để từ đó kích thích tâm lý người lao động, để nâng cao năng suất lao động Đồng thời doanh nghiệp cũng phải đảm bảo các quyền lợi của người lao động để người lao động yên tâm làm việc
IV Các tiêu chí đánh giá về tạo việc làm:
4.1 Số việc làm mới bình quân năm.
Để đánh giá việc tạo việc làm cho người lao động trong một giai đoạn nào đó người ta sử dụng chỉ tiêu số việc làm mới bình quân năm Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy số việc làm tạo mới trong giai đoạn nghiên cứu chia cho số năm nghiên cứu Ưu điểm của chỉ tiêu này là tính toán rất đơn giản, và cho kết quả dễ hình dung và đánh giá Song hạn chế của chỉ tiêu này là việc thu thập số liệu về số việc làm mới tạo ra là không hề dễ dàng nếu vùng nghiên cứu rộng và nhiều có cơ cấu ngành nghề đa dạng, hạn chế tiếp theo của nó là không phản ánh được mức độ hài lòng của người lao động với việc làm mới của mình, cơ cấu ngành trong tạo việc làm Chỉ tiêu này chỉ mới phản ánh được số lượng của việc tạo việc làm mà không phản ánh được chất lượng của quá trình tạo việc làm
Trang 214.2 Tỷ lệ người lao động tìm được việc làm phù hợp.
Để đánh giá về chất lượng của quá trình tạo việc làm cho người lao động người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ người lao động tìm được việc làm phù hợp Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy số lao động tìm được việc làm mới phù hợp chia cho tổng số lao động tìm được việc làm Chỉ tiêu này phản ánh được một phần nào đó của sự hài lòng của bản thân người lao động với việc làm mới Song phải hiểu được khái niệm việc làm phù hợp, việc làm phù hợp khác với việc làm ưu thíc đối với bản thân người lao động Việc làm làm phù hợp ở đây có thể mang tính chất định tính hơn là định lượng, việc làm có thể phù hợp với khả năng của sức khỏe người lao động, phù hợp với trình độ học vấn hay phù hợp với trình độ tay nghề của người lao động…và vì thế để xác định xem một người lao động mới tìm được việc làm và công việc đó có phù hợp với người đó hay không thì nên hỏi và phỏng vấn trực tiếp, vì xác định một người lao động chấp nhận một công việc làm mới rất khó xác định động cơ làm việc Cũng chính vì lý do
đó mà chỉ tiêu đánh giá này rất tốn kém và khó khăn khi điều tra
Trang 22CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÃ NGA BẠCH - NGA SƠN -
THANH HÓA
I Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của xã Nga Bạch
1.1 Điều kiện tự nhiên.
- Thời Pháp thuộc xã Nga Bạch bao ngồm 9 làng là làng Bạch Hải, Làng Bạch Đằng, làng Bạch Thắng, làng Bạch Hùng, làng Bạch Đông, làng Bạch Thái, làng Bạch Trưng, làng Bạch Triệu, làng Bạch triệu, làng Bạch Thành thuộc huyện Nga Sơn Thanh Hóa Sau cách mạng tháng tám chính quyền cách mạng đổi tên thành xã Quảng Hiệp, đến tháng 6 năm 1953 theo chủ trương của đảng chia nhỏ để dễ quản lý xã Quảng Hiệp được chia tách
ra làm hai xã là xã Nga Bạch và xã Nga Trung Từ ngày chia tách xã vẫn giữ nguyên theo địa giới hành chính từ đó đến nay
- Xã Nga Bạch là một xã ven biển nằm ở phía đông nam huyện Nga Sơn, phía bắc giáp xã Nga Trung, phía tây giáp xã Nga Nhân, Nga Thạch, phía Đông giáp xã Nga Thủy và Phía nam giáp một nhánh của sông Mã bờ kia sông Mã là huyện Hậu Lộc
- Diện tích tự nhiên: Là 290 ha, trong đó diện tích canh tác là 136 ha
- Khí hậu: Xã Nga Bạch là xã nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa lượng mưa trung bình hàng năm 1700 đến 2200 mm.nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 độ C Đây là điều kiện thuận lợi cho việc trồng cây lương thực và cây công nghiệp dài ngày như cây cói vốn là thế mạnh của địa phương
1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương.
1.2.1 Đặc điểm kinh tế:
Xã Nga Bạch cũng gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế trước đây do nhiều nguyên nhân Nhưng trong những năm gần đây thì nền kinh tế
Trang 23của xã đều có những bước phát triển Một trong những xã đi đầu về phát triển kinh tế là huyện Nga Sơn
Trong các năm vừa qua thì tốc độ phát triển kinh tế của năm sau cao hơn năm trước Riêng năm 2010 là năm hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị – kinh tế – xã hội, phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng kinh tế là 27,4% tăng 2,4% so với kế hoạch Giá trị bình quân đầu người đạt 18 triệu/năm, tổng thu ngân sách đạt khá, các chỉ tiêu kinh tế đều tăng so với năm 2009 Cụ thể là:
*Về sản xuất Nông-Lâm –Ngư nghiệp
Trong năm 2010 xã Nga Bạch đó tập trung cao trong việc chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Tổng giá trị xản xuất nông nghiệp đạt 6,7 tỷ tăng 8% so với năm 2009
Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 132 ha giảm 5,5% so với năm 2009, hệ số quay vòng đất 2,2 lần Diện tích trồng lúa đạt 39 ha giảm 4,4% so với năm 2009 Cây vụ đông đạt 62 ha đạt 86,8% so với
kế hoạch Công tác chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục được quan tâm, các mô hình chuyển đổi diện tích từ lúa kém hiệu quả sang đào ao nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với chăn nuôi, trồng cây có giá trị kinh tế cao đi vào hoạt động ổn định và có bước phát triển tốt Đến nay toàn xã có 26 mô hình kinh tế trang trại trong đó có 17 mô hình đạt tiêu chí theo quy định tại Quyết định số 46/2008/QĐ - UB của UBND Nga Sơn Đàn lợn tiếp tục tăng, tổng số đàn lợn 2876 con tăng 7,9% so với năm 2009 ; đàn bò 657 con bằng 142,7% so với năm 2009; đàn gia cầm 28640 con bằng 125,9 % so với năm 2009 Về đánh bắt thủy chế biến thủy hải sản, toàn xã có 55 tàu thuyền, bình quân mỗi tàu thuyền
có 5 lao động, sản lượng đánh bắt thủy hải sản năm 2009 là hơn 232 tấn, và diện tích nuôi trồng thuỷ sản được duy trì và ổn định, sản lượng
cá thịt đạt 75 tấn bằng 148,8% năm 2009
Trang 24* Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Sản lượng ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng cao dần trong những năm gần đây và đóng một tỷ lệ rất cao vào tổng giá trị sản lượng tạo ra của xã Xã Nga Bạch có nghề truyền thống nổi tiếng là dệt chiếu và mây tre đan với thị trường tiêu thụ là trong nước và xuất khẩu đa phần là xuất sang Trung Quốc Trong xã có một doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp là bao bì, túi li lông, hai doanh nghiệp chuyên sản xuất và kinh doanh chiếu cói Có 1 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, có năm công ty TNHH trên địa bàn xã Năm 2009 giá trị sản lượng ngành sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng 16,7% so với năm 2008 nhưng năm 2010 tăng 28,3% so với năm 2009 Giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 2010 đạt 24 tỷ đồng
Về xây dựng cơ bản, năm 2010 đó hoàn thành việc làm đường thôn xóm theo hướng bê tông hóa theo chủ trương nhân dân đóng góp nhà nước hỗ trợ; đường điện chiếu sáng hoàn thành việc nâng cấp và xây dựng song việc đưa điện ra cách đồng của xã theo dự án cánh đồng 50 triệu/ha/năm của
xã Năm 2010 cũng là năm xã hoàn thành việc bê tông hóa kênh mương phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp
* Về dịch vụ thương mại :
Trong những năm ngần đây cùng với nền kinh tế phát triển ngành dịch vụ cũng có bước phát triển nhất định Trong xã có hai tàu vận tải lớn 100 tấn chuyên vận tải hàng hóa đi trung quốc và các tỉnh ven biển,có dịch vụ vận tải đường bộ phát triển phục vụ nhu cầu đi lại, vận chuyển hành hoá của cả nhân dân trong xã và toàn huyện.Buôn bán kinh doanh trong toàn xã phát triển nhanh Tính đến năm 2009 ngành dịch vụ thương mại tạo ra là 5,7 tỷ đồng đến năm 2010 là 7,2 tỷ đồng
1.2.2 Đặc điểm về văn hoá, giáo dục, y tế:
* Về văn hóa:
Trang 25Phong trào văn hoá, văn nghệ trong huyện luôn được sự quan tâm của các cấp uỷ đảng, của quần chúng nhân dân Đặc biệt trong những ngày
lễ lớn của dân tộc thì nhân dân trong xã tham gia các phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng rất sôi nổi, hưởng ứng và tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Các hoạt động thể dục thể thao được duy trì thường xuyên, 100% các trường tổ chức hội khoẻ phù đổng và được các học sinh tham gia hưởng ứng tích cực
Năm 2010 toàn xã có 09 làng được công nhận là làng văn hoá, đưa tổng số làng được công nhận làng văn hoá 100 %; 9 thôn có nhà văn hoá;
1456 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá đạt 75% Qua những số liệu trên cho thấy sự nhận thức và tuân thủ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước của nhân dân trong huyện là cao, do đó vấn đề ra chính sách tạo việc làm cho người lao động trong huyện cũng được nhân dân ủng hộ
* Về giáo dục:
Trên địa bàn xã có 3 trường, một trường mẫu giáo, một trường tiểu học, và một trường trung học cơ sở Số học sinh của trường cấp 1 và cấp 2 thu hút được lá 450 học sinh,100% các cháu đến tuổi đi học được đến trường và xã đã hoàn thành được mục tiêu phổ cập tiểu học
Phong trào thi đua dạy tốt, học tốt trong các cấp học, ngành học được đẩy mạnh, trong năm học 2009 - 2010 có trường THCS Nga Bạch được Bộ giáo dục và đào tạo tặng bằng khen Thi tốt nghiệp các cấp 2: THCS Nga Bạch đạt 99,6%, Công tác xã hội hóa giáo dục, khuyến học, khuyến tài tiếp tục phát triển trong xã Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia : 01 trường THCS và 01 trường mầm non Như vậy thì sự nghiệp giáo dục ở xã Nga Bạch ngày được chú trọng hơn và đạt được nhiều thành tích khích lệ Điều này hứa hẹn chúng ta sẽ có một lực lượng lao động có trình độ cho sau này
Trang 26* Về y tế : Được xây dựng và duy trì hoạt động từ huyện đến xã, sức khoẻ
của nhân dân luôn được quan tâm và chữa trị kịp thời Thường xuyên chăm
lo, quan tâm đến việc phũng, khỏm chữa bệnh và chăm lo sức khoẻ cho nhân dân, không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn Chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên, tinh thần phục vụ người bệnh tốt hơn Năm 2010 trạm
I tế xã thực hiện khám chữa bệnh cho 1032 lượt người, tiêm chủng vacxin cho 88 cháu, 286 cháu được uống Vitamin A Bước đầu thực hiện việc khám, điều trị miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi có hiệu quả Mang lưới y tế
cơ sở được quan tâm phát triển, đó xã, được công nhận là xã chuẩn quốc gia về y tế Công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm được quan tâm, trên địa bàn huyện không có dịch bệnh lớn xảy ra
Chú trọng bảo vệ, chăm sóc trẻ em; công tác tuyên truyền tư vấn kiến thức dân số kể hoạch hoá gia đình được đẩy mạnh, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cộng tác viên dân số được nâng cao Tiến hành cấp trên 75 thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi Năm 2010 tổng số sinh là 55 Vì sức khoẻ của nhân dân được quan tâm chu đáo do đó lực lượng lao động của xã có sức khoẻ tốt, điều này cũng góp phần làm cho công tác tạo việc làm cho người lao động được thuận lợi hơn
Tóm lại tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng trong những năm gần đây thì công tác giáo dục, y tế, văn hoá xã hội trong xã luôn được chú trọng và không ngừng phát triển Do đó người lao động trong xã sẽ thoải mái hơn để làm việc Đây cũng là một yếu tố tích cực trong công tác tạo việc làm cho người lao động ở xã Nga Bạch
1.3 Tình hình lao động tại xã Nga Bạch:
1.3.1 Quy mô lao động tại xã Nga Bạch.
Tính đến thời điểm điều tra 1-10-2010 thì số hộ gia đình ở Nga Bạch là
1939 người có 8594 nhân khẩu trong đó nữ chiếm 51,64% tương ứng với
4229 người, nam 3960 người Bình quân một hộ gia đình có 4,432 người
Trang 27Chung trong toàn xã thì tổng số nhân khẩu từ đủ 15 tuổi trở lên là 5554 người chiếm 64,62 % dân số Số người trong độ tuổi lao động (nam từ 15-
60, nữ từ 15-55) là 4468 người chiếm 52% dân số toàn xã Trong đó nữ có
2368 người trong độ tuổi lao động chiếm 53% Nam có 2099 người chiếm 47% Ta thấy do đặc thù nông thôn nên lao động nữ cao hơn lao động nam
1.3.2 Dân số từ 15 tuổi trở lên tham hoạt động kinh tế thường xuyên
* Cơ cấu lực lượng lao động thường xuyên chia theo nhóm tuổi:
Tính đến ngày 1/10/2010, lực lượng lao động của toàn xã là 4677 và lao động ở nhóm tuổi 15-35 có 1817 người chiếm 38,85 % lực lượng lao động nói chung; lực lượng lao động ở nhóm tuổi 35-54 có 1610 người, chiếm 38,82% ; lực lượng lao động ở nhóm tuổi 54-59 có 1044 người, chiếm 22,33
% Nếu xếp nhóm lao động có tuổi từ 15-35 là lao động trẻ thì tính bình quân hàng năm giai đoạn 2008-2010 lực lượng lao động trẻ của cả xã giảm 1,7 % với mức giảm tuyệt đối là gần 30 người/năm; lực lượng lao động cao tuổi (nhóm tuổi từ 54-59) giảm 5,5 % với mức giảm tuyệt đối là 48 người/năm người và lực lượng lao động trung niên tăng 6,31% với mức tăng tuyệt đối là 67/năm người Kết quả điều tra lao động - việc làm thời gian gần đây cho thấy sự biến động về cơ cấu lực lượng lao động cả nước nói chung và xã nói riêng chia theo các nhóm tuổi đó diễn ra theo một xu hướng rừ rệt là: nhóm lực lượng lao động trung niên ngày một gia tăng nhanh cả về tương đối và tuyệt đối, nhóm lực lượng lao động trẻ và lao động cao tuổi ngày một giảm ; trong đó nhóm cao tuổi giảm nhanh hơn cả về quy mô và tốc độ
*Chất lượng lao động của xã Nga bạch:
-Về trình độ văn hóa;
Nhìn chung thì trình độ học vấn của lực lượng lao động thường xuyên ngày càng tăng nhanh Nhưng hiện tại khi thống kê vào năm 2010 thì số lao động có trình độ chiếm tỷ lệ rất thấp
Trang 28Trung cấp
Cao đẳng
Đại học
Số người trình độ từ sơ cấp tới trung cấp là 310 người chiếm 6,51% Số người có trình độ cao đẳng và đại học là 149 chiếm 3,18% Bình quân hàng năm số người tốt nghiệp cấp III trong tổng số người đủ 15 tuổi tham gia lao động thương xuyên tăng 6,7 % Nhìn chung thì trình độ học vấn của lao động tại xã đang được cải thiện nhanh chóng nhưng hiện tại qua thống kê thì có thể thấy trình độ học vấn của lao động quá thấp Do vậy, nếu không
có những chính sách và giải pháp hỗ trợ tích cực, đồng bộ và có hiệu quả
để tăng nhanh số lượng và tỷ lệ lao động có trình độ học vấn tốt nghiệp cấp II/cấp III; kết hợp vừa đào tạo nghề vừa nâng cao trình độ học vấn cho lao động tại địa phương thì khó có thể thực hiện được các mục tiêu gia tăng về