Đề xuất một số biện pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam...63 Phụ lục 1: Kiểm định tính dừng các chuỗi dữ liệu 67 Phụ lục 2: Bảng hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 74 Phụ lục 3:
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1.1 Vài nét cơ bản về lạm phát 10
1.1.1 Khái niệm về lạm phát 10
1.1.2 Phân loại lạm phát 11
1.1.3 Các nguyên nhân dẫn đến lạm phát 14
1.1.4 Giới thiệu một số thước đo lạm phát 20
1.2 Giới thiệu chỉ số giá tiêu dùng CPI 22
1.2.1 Định nghĩa về CPI 22
1.2.2 Cách tính CPI tại Việt Nam 23
1.2.3 Đánh giá chỉ số CPI 25
1.2.4 Thực tiễn về chỉ số CPI tại Việt Nam 26
1.3 Chỉ số CPI trên thế giới và những khác biệt với Việt Nam 31
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 33 2.1 Một số mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến CPI trên thế giới 33
Trang 22.1.2 Mô hình đường Phillips của Gerlach và Peng (2006) 34
2.2 Mô hình tự hồi quy vector VAR 35
2.2.1 Khái niệm về mô hình VAR 36
2.2.2 Phương pháp ước lượng mô hình VAR 37
2.2.3 Một số vấn đề trong xây dựng mô hình VAR 37
2.3 Ứng dụng Mô hình VAR nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ trên thế giới 38
2.3.1 Ứng dụng mô hình tự hồi quy vecto VAR ở Mỹ 38
2.3.2 Mô hình VAR nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ đến lạm phát tại 7 quốc gia Đông Á 38
2.4 Một số nghiên cứu định lượng về lạm phát tại Việt Nam 40
2.4.1 Mô hình trễ đa thức của Võ Trí Thành (1997) 40
2 4 2 Mô hình VAR, ECM của Võ Trí Thành và cộng sự (2001) 40
2.4.3 Mô hình 3 yếu tố của Dương Thị Thanh Mai (2002) 40
2.4.4 Phân tích chuỗi thời gian phi tuyến của Phạm Thị Thu Trang (2009) 41
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG MÔ HÌNH VAR PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ TỚI CPI TẠI VIỆT NAM 46 3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam thời kỳ 2007-2011 46
3.1.1 Nhóm yếu tố trong nước 46
3.1.2 Nhóm yếu tố nước ngoài 50
3.2 Lựa chọn và đánh giá các biến đưa vào mô hình 51
3.2.1 Lựa chọn biến cho mô hình 51
3.2.2 Kiểm định các biến số trong mô hình 53
3.3 Phân tích tương quan giữa các biến 53
Trang 33.3.1 Phân tích bằng hệ số tương quan 53
3.3.2 Phân tích bằng kiểm định nhân quả 53
3.4 Xây dựng mô hình VAR kiểm định mức ảnh hưởng của các yếu tố tới CPI.54 3.4.1 Cách tiếp cận mô hình VAR trong chuyên đề 54
3.4.2 Ước lượng các mô hình VAR 54
3.4.3 Đánh giá mô hình 56
3.5 Phân tích kết quả của mô hình 57
3.6 Đề xuất một số biện pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam 63
Phụ lục 1: Kiểm định tính dừng các chuỗi dữ liệu 67
Phụ lục 2: Bảng hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 74
Phụ lục 3: Bảng kiểm định nhân quả các cặp biến số 75
Phụ lục 4: Kết quả ước lượng các mô hình VAR phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tới mức tăng CPI phân loại theo mức độ trễ 83
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNN Ngân hàng nhà nước
TCTD Tổ chức tín dụng
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
WTO Tổ chức thương mại thế giới
CPI Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 5Bảng 1.1: Quyền số tính CPI của Việt Nam thời kỳ 2006 - 2014 24
Bảng 1.2: Tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam thời kỳ 1986-2011 27
Bảng 2.1: Kiểm định tính dừng chuỗi số liệu mô hình thời gian phi tuyến 43
Bảng 2.2: Kết quả mô hình chuỗi thời gian phi tuyến 44
Bảng 3.1: Mức lương tối thiểu chung từ năm 2007 đến 2011 49
Bảng 3.2: Các nhân tố sử dụng trong mô hình VAR 52
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 6Hình 1.1: Tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2011 28
Hình 1.2: Tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2011 29
Hình 3.1: Thâm hụt ngân sách, vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài 2000-2010 46
Hình 3.2 : Cơ cấu đầu tư của khu vực nhà nước, ngoài nhà nước và FDI 47
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trang 7Phát triển ổn định kinh tế và duy trì tăng trưởng luôn là mục tiêu và định hướngcủa mọi quốc gia Đối với Việt Nam chúng ta - một nước có nền kinh tế chậm pháttriển thì việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao mang tính quyết định nhằm nâng tầm nềnkinh tế Tuy nhiên vấn đề lạm phát lại đang là một trở ngại và thách thức để có thể đạtđược các mục tiêu đó
Nhiều nghiên cứu đặc biệt là nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra lạm phát có cảtác động tích cực lẫn tiêu cực tới đời sống xã hội, điều này tùy thuộc vào cấu trúc nềnkinh tế và khả năng thích ứng với sự thay đổi liên tục của lạm phát cũng như mức độ
dự báo toàn diện về lạm phát Giá cả của hàng hoá dịch vụ luôn biến động theo thờigian, tuy nhiên nếu như giá cả thay đổi quá nhanh chóng thì nó có thể là một cú sốc đốivới nền kinh tế Và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số cơ bản đo lường giá cảhàng hoá dịch vụ và cho biết liệu nền kinh tế có đang bị lạm phát hoặc giảm phát haykhông CPI thường rất được quan tâm theo dõi và nó đóng một vai trò quan trọng trongviệc đưa ra các quyết định tài chính quan trọng như chính sách lãi suất của Ngân hàngNhà nước và các NHTM, xác định mức lương cơ bản, nới lỏng hay thắt chặt chính sáchtiền tệ, chính sách tài khóa của chính phủ… từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sảnxuất của các doanh nghiệp, giá thành sản phẩm và đời sống của người dân
Nghiên cứu lạm phát hiện đang đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọnchính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là nghiên cứu theo hướng định lượng Hiện nay córất nhiều nhân tố trên thị trường có khả năng ảnh hưởng tới lạm phát nói chung và mứctăng CPI nói riêng như: tiền tệ, tổng cầu, giá vàng, giá USD, giá xăng, yếu tố tâm lý…tuy nhiên chúng ta chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố trên lên CPI
là nhiều hay ít ? theo chiều hướng nào ? và liệu có độ trễ trong việc ảnh hưởng của cácyếu tố tới CPI hay không ?
Chính vì vậy em đã lựa chọn đề tài “Sử dụng mô hình VAR phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố trên thị trường tới CPI Việt Nam thời kỳ 2007 - 2011” để
làm chuyên đề tốt nghiệp
Mục đích nghiên cứu
Trang 8- Tổng hợp một số lý thuyết về lạm phát nói chung và chỉ số CPI nói riêng Diễnbiến và nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam những năm vừa qua.
- Phân tích một số nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở Việt Nam thời kỳ 2007-2011dưới góc độ phân tích định lượng sử dụng mô hình VAR
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích kinh tế lượng, với bộ số liệu bao gồm các yếu
tố :
Thời gian lấy dữ liệu từ T1/2007 đến T12/2011 (theo tháng), nguồn sốliệu được tổng hợp từ website của Tổng cục thống kê và Phòng Nghiên cứu kinh
tế, Hội sở chính ngân hàng Maritime Bank
Sử dụng các mô hình Kinh tế lượng đã được học trong chương trình (đặc biệt là
mô hình VAR) để ước lượng, có tham khảo thêm một số tài liệu về kinh tế vĩ
mô để phân tích kết quả
Phạm vi nghiên cứu
Do lạm phát là một đề tài nghiên cứu mang tầm vĩ mô với phạm vi kiến thứcrộng lớn, do khả năng và thời gian có hạn nên trong chuyên đề tốt nghiệp này em chỉtập trung vào phân tích một số nhân tố có ảnh hưởng lớn đến CPI, để từ đó đưa ra một
số kết luận, dự báo dựa trên các mô hình kinh tế lượng
Lời cảm ơn
Trang 9Em xin chân thành cảm ơn Th.S Trần Chung Thủy và các anh chị tại phòng Nghiên cứu kinh tế, Hội sở chính NHTMCP Hàng Hải Việt Nam Maritime Bank đã giúp đỡ em trong quá trình viết đề tài Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp,
bổ sung của các thầy cô giáo để chuyên đề thực tập của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 10Trong lịch sử phát triển của kinh tế thế giới thì lạm phát đã và đang là một vấn
đề hết sức phức tạp đặt ra cho các quốc gia Lạm phát không chỉ xảy ra ở những nước
có nền kinh tế kém phát triển, mà ngay ở các nước phát triển cũng luôn có bóng dángcủa lạm phát Lạm phát tác động đến giá cả thị trường, từ đó tác động đến mọi mặt củađời sống
Dưới con mắt của các nhà kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung trong nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị
thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh giữa các nền kinh tế khác nhauthì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của loại tiền tệ này so với các loại tiền tệ khác Cácnhà kinh tế học hiện đại cho rằng lạm phát là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh
tế hàng hoá - tiền tệ Họ cũng nói biểu hiện của lạm phát là khi mức giá chung củahàng hoá và chi phí sản xuất đồng thời tăng lên một cách phổ biến trong một khoảngthời gian đủ dài để biểu hiện rõ thành xu hướng Do đó nếu giá cả chỉ tăng ở một vàinhóm hàng hóa mang tính đột biến hay tính thời vụ thì phải loại bỏ các yếu tố đó theocách tính chỉ số lạm phát cơ bản
Như vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ Nó sinh ra cùng với việc mở rộng
hệ thống tài chính, các loại tiền tệ theo sự phát triển của nền kinh tế từ công xã nguyênthủy đến nền kinh tế tự do và đặc biệt là sự xuất hiện của tiền giấy Đó là hiện tượngđặc trưng của sự thay đổi mức giá chung, hay là sự tăng lên của mức giá trung bìnhtheo thời gian
Theo kinh tế chính trị thì lạm phát là một phạm trù vốn có của kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không được tôn trọng, nhất là quy luật lưu thông tiền tệ Ở đâu còn sản xuất hàng hoá, còn tồn tại
những quan hệ hàng hoá - tiền tệ thì ở đó còn tiềm ẩn khả năng xảy ra lạm phát Và
Trang 11lạm phát sẽ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm Karl Marktừng viết trong bộ "Tư bản" nổi tiếng của mình: "Việc phát hành tiền giấy phải đượcgiới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy củamình" Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do Nhà nước phát hành đưa vàolưu thông vượt quá số lượng vàng bạc mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảmxuống và tình trạng lạm phát xuất hiện.
Như vậy là lạm phát không có bản chất giai cấp mà chỉ có bản chất kinh tế Nó
có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải phápchống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xẩy ra ở bất cứnền kinh tế hàng hoá nào với bất kỳ chế độ xã hội nào Tuy nhiên việc tác động vào thịtrường không thể triệt tiêu hoàn toàn lạm phát mà chỉ kìm giữ nó ở một tỉ lệ nhất định,
vì lạm phát có quan hệ mật thiết với vấn đề thất nghiệp và tiền tệ Và trên hết, lạm phátluôn đi cùng với sự tăng trưởng kinh tế
1.1.2 Phân loại lạm phát
Lạm phát thường được phân loại dựa trên 2 tiêu thức, đó là định lượng và địnhtính
1.1.2.1 Phân loại theo định lượng
- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10%
một năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động một cách tương đối Trong thời
kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường, đời sống của người lao động ổnđịnh Sự ổn định đó được biểu hiện bằng việc giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi khôngcao, không xảy ra tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn
Tác động: đây là mức lạm phát mà bình thường các quốc gia phải trải qua và ítgây tác động tiêu cực đến nền kinh tế Trong bối cảnh đó người dân vẫn sẵn sàng giữtiền để thực hiện giao dịch và ký các hợp đồng dài hạn tính theo đồng nội tệ, họ tinrằng giá và chi phí của hàng hoá mà họ mua hoặc bán sẽ ko đi chênh lệch quá nhiềutrong tương lai gần
- Lạm phát phi mã: là lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2
Trang 12VD: tỉ lệ lạm phát ở Việt Nam cuối năm 2007 là 12,63% và đến tháng 4/2008, tỉ
lệ này đã là 21,42% Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoátập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong nhữngnăm đầu thực hiện chính sách cải cách
Tác động: nếu lạm phát ở mức 2 con số thấp (khoảng 11,12%) thì nói chung cáctác động là không đáng kể và nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận được Nhưng khi tăngđến hai con số cao thì lạm phát sẽ làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biếnđộng lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá Lúc đó sẽ xảy ra hiện tượng ngườidân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không cho vay tiền ở mức lãi suấtbình thường Như vậy lạm phát sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập vìnhững tác động tiêu cực không nhỏ của nó Bên cạnh đó lạm phát phi mã còn là mối đedoạ đối với sự ổn định của nền kinh tế quốc dân
- Siêu lạm phát: là trường hợp lạm phát 3 con số một năm, xảy ra khi lạm phát
đột biến tăng lên với tốc độ rất nhanh và tốc độ cao Định nghĩa cổ điển về siêu lạmphát do nhà kinh tế Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trởlên (nếu tỷ lệ lạm phát này duy trì liên tục suốt 12 tháng thì tỷ lệ lạm phát cả năm lênđến 13000 %) Theo định nghĩa này thì cho đến nay thế giới mới trải qua 15 cuộc siêulạm phát
Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trong cungtiền, điều này thường bắt nguồn từ sự cần thiết phải tài trợ cho thâm hụt ngân sách quálớn Hơn nữa một khi lạm phát cao đã bắt đầu, tình hình thâm hụt ngân sách có thể trởnên ko thể kiểm soát được Dựa trên các bằng chứng lịch sử, dường như thâm hụt ngânsách kéo dài khi được tài trợ bằng phát hành tiền trong khoảng từ 10 đến 12 % GDP sẽgây ra siêu lạm phát
VD: một ví dụ điển hình của siêu lạm phát là vào năm 1913, tức là ngay trướckhi chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, 1 USD có giá trị tương đương với 4 markĐức Nhưng chỉ 10 năm sau, 1 USD đổi được tới 4 tỉ mark Vào thời đó, báo chí đãđăng tải những tranh ảnh biếm họa về vấn đề này như sau: người ta vẽ cảnh một ngườiđẩy xe tiền đến chợ chỉ để mua một chai sữa, hay một bức tranh khác cho thấy ngày đóđồng mark Đức được dùng làm giấy dán tường hoặc dùng như một loại nhiên liệu
Trang 13Một VD khác: nếu như cuối tháng 2/2008, lạm phát ở Zimbabwe là 165.000%thì tới tháng 5/2009, con số này đã tiến sát 2.000.000% Vào thời điểm cuối tháng3/2008, người ta chỉ mất 15 triệu đô Zimbabwe để mua một ổ bánh mì, thì giờ đây họphải chi tới 600 triệu Một chai dầu ăn 2 lít khi ấy có giá tới 5 tỷ đô, bằng một thánglương của một công nhân có thu nhập thấp.
Tác động: tốc độ và tỷ lệ của siêu lạm phát vượt xa lạm phát phi mã, tốc độ lưuthông tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền luơng thực tếcủa người lao động bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không cònchính xác, các yếu tố thị trường bị biến dạng và hoạt động sản xuất kinh doanh lâm vàotình trạng rối loạn, mất phương hướng Tóm lại siêu lạm phát làm cho đời sống và nềnkinh tế suy sụp một cách nhanh chóng
1.1.2.2 Phân loại theo định tính
- Lạm phát cân bằng: là lạm phát tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người
lao động, tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Do
đó có thể không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và đến nềnkinh tế nói chung
- Lạm phát không cân bằng: tốc độ tăng giá không tương ứng với tốc độ tăng
thu nhập của người lao động Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường xảy ra hơn.Khi đó mức sống thực tế của người lao động bị giảm sút
- Lạm phát dự đoán trước: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì
tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn Loại lạm phát này có thể dự đoántrước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo Lạm phát này không gây thiệt hại lớncho nền kinh tế vì dân chúng sẽ làm giảm thiệt hại bằng hai cách: hạch toán thêm tỉ lệlạm phát (trượt giá) vào những chỉ tiêu có liên quan hoặc nếu lạm phát dự đoán xảy ravới tỉ lệ cao, người dân sẽ tránh giữ tiền mà thay vào đó là vàng và ngoại tệ mạnh
- Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện Loại
lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống người dân vì họ chưa kịp thích nghi
Từ đó loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế, và niềm tin của nhândân vào chính quyền có phần giảm sút Lạm phát này cũng gây ra sự phân phối lại của
Trang 14cải trong dân chúng (giữa người đi vay và người cho vay, giữa người trả lương vàngười hưởng lương…).
1.1.3.1 Lạm phát do tăng cung tiền
Lạm phát tiền tệ là lạm phát do lượng tiền trong lưu thông trong nền kinh tế tăng lên(ví dụ do NHNN mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so vớitrong nước; hay chẳng hạn do NHNN mua công trái theo yêu cầu của nhà nước, hoặc
do nhà nước phát hành thêm tiền khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên và gây
Trang 15T: là khối lương giao dịch thực (giả thuyết T bằng với sản lượng Y trongnền kinh tế)
Trong bối cảnh này, tổng cung AS được giả định là cho trước ở mức độ toàn dụng, haynói cách khác, sản lượng đang ở tình trạng cân bằng dài hạn:
với Y là tổng sản lượng thực được xác định bởi hàm sản xuất trong dài hạn Trong khi
đó, tổng cầu AD được xác định như sau:
Cân bằng trong thị trường hàng hóa và dịch vụ xảy ra khi AD = AS, nói cách khác làtổng giá trị hàng hóa giao dịch (PY) phải bằng tổng lượng tiền cần thiết để thanh toán(MV), tức là:
Do vậy, từ phương trình (1.4) phương trình số lượng viết dưới dạng sự thay đổi tínhbằng % là:
% thay đổi M + % thay đổi V = % thay đổi P + % thay đổi Y (1.6)
% thay đổi P = % thay đổi M + % thay đổi V - % thay đổi Y (1.7) Các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển giả định rằng V là một hằng số bởigiá trị này phụ thuộc vào sự phát triển của hệ thống tài chính mà điều này không phảithay đổi ngay được Riêng Fisher còn đưa thêm giả định rằng Y là một hằng số trongdài hạn
Như vậy, lý thuyết lượng tiền đã giải thích điều gì xảy ra khi mức cung ứng tiền
tệ thay đổi Với giả thiết tốc độ lưu thông tiền tệ không đổi thì bất cứ sự thay đổi nào
Trang 16các nhân tố sản xuất và hàm sản xuất quyết định mức GDP thực tế và xem GDP thực tếkhông đổi, nên mọi sự thay đổi của GDP danh nghĩa phải thể hiện ở sự thay đổi mứcgiá Vì vậy lý thuyết số lượng cho rằng giá cả tỷ lệ thuận với mức cung ứng tiền tệ.
Thuyết số lượng tiền tệ nói rằng NHNN, cơ quan kiểm soát mức cung tiền sẽtrực tiếp kiểm soát tỷ lệ lạm phát Nếu NHNN giữ cho mức cung tiền ổn định, thì mứcgiá cũng ổn định Còn nếu NHNN tăng mức cung tiền lên một cách nhanh chóng thìmức giá cũng tăng lên một cách tương ứng
1.1.3.2 Lạm phát do cầu kéo
Loại lạm phát này xảy ra khi tổng cầu tăng trong khi tổng cung không đổi hoặctổng cung tăng chậm hơn tổng cầu
Có nhiều nguyên nhân làm tăng tổng cầu như:
- Thứ nhất là do tăng chi tiêu của các hộ gia đình hoặc tăng đầu tư của các doanhnghiệp Khi đó sẽ có một lượng tiền lớn được tung ra để mua hàng hóa và dịch vụ, từ
đó gây ra sự thừa tiền trong lưu thông dẫn đến việc đồng tiền bị mất giá
- Thứ hai là do tăng cán cân thương mại khiến cho nước ngoài tăng mua hànghóa trong nước, còn người trong nước giảm mua hàng nước ngoài
- Thứ ba là do chính phủ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế: nếu chính phủ tăng chitiêu cho hàng hoá và dịch vụ thì lượng tiền đó sẽ được đưa trực tiếp vào nền kinh tếlàm gia tăng tổng cầu Còn nếu Chính phủ giảm thuế hoặc tăng chi tiêu chuyển nhượng
sẽ làm tăng thu nhập khả dụng, từ đó làm tăng tiêu dùng của hộ gia đình, chính là tăngcầu Hiện nay đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng lạm phátcao
- Và nguyên nhân cuối cùng: do việc kiểm soát lượng cung tiền của NHTW cònhạn chế: NHTW không kiểm soát được lượng cung tiền hợp lý, cung tiền tăng làm tănglãi suất, kích thích tăng đầu tư tư nhân từ đó làm tăng tổng cầu
1.1.3.3 Lạm phát do chi phí đẩy
Trang 17Là lạm phát xảy ra khi 1 số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nềnkinh tế ngay cả trong thời kỳ tài nguyên không được sử dụng hết.
Nếu nhìn trong đồ thị AD-AS, một cú sốc sẽ làm đường AS dịch chuyển lêntrên và sang bên trái Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tếđều biến động theo chiều hướng bất lợi: Y giảm, thất nghiệp và lạm phát đều tăng.Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lam phát kèmsuy thoái Trong trường hợp này, yêu cầu khôi phục lại trạng thái toàn dụng được đặt
ra Thông thường chính phủ sẽ thực hiện chính sách gia tăng chi tiêu, giảm thuế hoặctăng cung tiền để tăng tổng cầu
Có 3 loại chi phí có thể gây ra lạm phát là:
Tiền lương: khi công đoàn thành công trong viêc đẩy tiền lương tăng cao, cácdoanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện Vòng xoáy
đi lên của tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên nghiêm trọng nếu chínhphủ tìm cách tránh suy thoái bằng cách nới lỏng tiền tệ
Thuế gián thu: việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cảcác nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát Ở đây, thuế gián thu đóng một vaitrò quan trọng vì chúng tác động trực tiếp tới giá cá hàng hóa Nếu so sánh vớicác nước phát triển là những nước có tỷ lệ thuế trực thu cao chúng ta có thểnhận định rắng ở các nước đang phát triển, nơi mà thuế gián thu chiếm tỷ trọnglớn trong tổng nguồn thu từ thuế thì thay đổi thuế gián thu dường như có tácđộng mạnh hơn tới lạm phát
Giá nguyên liệu nhập khẩu: đối với các quốc gia có nền kinh tế nhập khẩu,nhiều loại nguyên liệu cấu thành thiết yếu mà nền công nghiệp trong nước chưasản xuất được thì sự thay đổi giá cả của chúng sẽ có ảnh hưởng quan trọng đếntình hình lạm phát trong nước Nếu giá của chúng tăng mạnh trên thị trường thếgiới hay đồng nội tệ giảm mạnh trên thị trường tài chính quốc tế, thì chi phí sảnxuất trong nước sẽ tăng mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ
Trang 18Những yếu tố nêu trên có thể tác động riêng rẽ, nhưng cũng có thể gây ra tácđộng tổng hợp làm cho lạm phát gia tăng với tốc độ cao (lạm phát cao) và rất cao (siêulạm phát).
1.1.3.4 Một số nguyên nhân khác
Lạm phát do kỳ vọng
Kỳ vọng về lạm phát là những dự đoán của người dân về mức giá chung trongtương lai Kỳ vọng về mức giá trong tương lai của công chúng có tác động giống nhưmột cú sốc đối với nền kinh tế Kỳ vọng mức giá trong tương lai là cơ sở để ra quyếtđịnh trong hiện tại Nếu công chúng dự kiến lạm phát cao thì những nhà sản xuất muốntăng mức giá hàng hóa của họ, người công nhân sẽ đấu tranh đòi tăng tiền lương danhnghĩa, người cho vay sẽ yêu cầu một mức lãi suất danh nghĩa cao hơn và mọi người sẽđến ngân hàng rút tiền nhiều hơn Và kết quả là lạm phát thực tế ở mức cao hơn.Những phân tích vừa rồi sẽ đảo chiều trong trường hợp mọi người kỳ vọng một mứclạm phát thấp trong tương lai
Lý thuyết giá cả cứng nhắc nhằm giải thích sự dốc lên trong ngắn hạn củađường tổng cung mang những hàm ý về sự phụ thuộc của cung về hàng hóa và dịch vụvào nhận thức, tiền lương, giá cả và tất cả đều được ấn định dựa trên mức giá dự kiến
Có thể biểu diễn tổng cung bằng công thức toán học:
Trang 19α: là hệ số biểu diễn độ dốc của đường tổng cung (0<α<1).α<α<1).1).
Mức giá kỳ vọng càng lệch so với mức giá thực tế sẽ làm tổng cung càng lệch
so với sản lượng tiềm năng Theo phương trình này, một mức giá kỳ vọng cao giốngnhư một cú sốc cung bất lợi sẽ làm giảm sản lượng và tăng lạm phát
Lạm phát do cầu thay đổi
Giả sử lượng cầu về một hàng hóa giảm đi, trong khi lượng cầu về một hàng hóakhác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chấtcứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm) thì hàng hóa mà lượng cầugiảm sẽ vẫn không giảm giá, trong khi đó hàng hóa có lượng cầu tăng thì lại tăng giá.Kết quả là mức giá chung tăng lên, từ đó sẽ dẫn tới lạm phát
Lạm phát do thâm hụt ngân sách
Trang 20Ngân sách sẽ thâm hụt khi các chính phủ in thêm tiền để trang trải cho chi tiêu,dẫn tới lượng tiền danh nghĩa tăng lên và là một nguyên nhân gây ra lạm phát Một khigiá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới tiếp tục nảy sinh, đòi hỏi phải in thêm một lượngtiền mới và lạm phát sẽ tiếp tục tăng vọt Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường xảy ratrong thời kỳ siêu lạm phát
Tuy nhiên chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng cách vay tiền của nhân dânthông qua trái phiếu: lượng tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có nguy cơlạm phát, nhưng nếu thâm hụt tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả cho dân (cả gốc lẫn lãi)
sẽ lớn đến mức phải in thêm tiền để trang trải Khi đó thì khả năng có lạm phát là điềuchắc chắn
Ngoài các nguyên nhân kể ở trên có thể kể đến các nguyên nhân liên quan đếnchính sách của Nhà nước, chính sách thuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý, cácchủ thể kinh doanh làm tăng chi phí đầu vào, nguyên nhân do yếu tố nước ngoài,…
1.1.4 Giới thiệu một số thước đo lạm phát
Các nhà kinh tế sử dụng các chỉ số đo lường mức giá bình quân (mức giá chung)
để phản ánh xu hướng biến động của các loại giá khác nhau Không tồn tại một phép
đo chính xác hay duy nhất về mức giá chung, vì giá trị của các chỉ số phụ thuộc vào tỷtrọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa/dịch vụ trong rổ hàng hóa và dịch vụ, cũngnhư phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Một vài chỉ số phổbiến để đo lường lạm phát là:
1.1.4.1 Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator):
Chỉ số này dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội GDP Nó là tỷ lệgiữa tổng giá trị GDP theo giá hiện hành (GDP danh nghĩa) với tổng giá trị GDP củanăm gốc (GDP thực tế), từ đó xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay gọi
là GDP thực
Trang 21
1.1.4.2 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI):
Là thước đo mức giá chung của một giỏ hàng hoá và dịch vụ điển hình màngười tiêu dùng mua Giỏ hàng hoá được ấn định đối với một năm cơ sở Chỉ số CPI làmột chỉ số Laspeyres
Cách tính chỉ số CPI không phải là cộng các loại giá cả lại và chia cho tổng khốilượng hàng hóa mà là cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng của nó trong nềnkinh tế thể hiện bằng tỷ trọng của nó (quyền số trong rổ hàng hóa tính CPI) Chỉ số giáCPI thường được xem là phương pháp đo lường chi phí sinh hoạt liên quan tới giỏhàng hóa và dịch vụ điển hình được mua bởi người tiêu dùng Việt Nam cũng như đa
số các nước trên thế giới trong những năm qua đã sử dụng chỉ số giá tiêu dùng CPI đểtính tỷ lệ lạm phát của quốc gia mình
Chi tiết về chỉ số CPI cũng như thực tế về CPI tại Việt Nam những năm vừa qua
sẽ được trình bày trong những phần tiếp theo
1.1.4.3 Một số chỉ số đo lạm phát khác:
Trang 22Ngoài hai chỉ số chủ yếu trên người ta còn sử dụng một số các chỉ số khác để đolường lạm phát như:
- Chỉ số giá sinh hoạt (CLI): là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một
cá nhân so với thu nhập CLI có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" đểphản ánh những khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khuvực
- Chỉ số giá sản xuất (PPI): là chỉ số đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận
được (không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu) PPI là chỉ số đượcxây dựng để tính mức giá chung trong lần bán đầu tiên Chỉ số này rất có ích lợi vì nóđược tính chi tiết sát với những thay đổi thực tế
- Chỉ số giá bán buôn (WPI-Whosesale Price Index): đo sự thay đổi trong giá
cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựachọn Chỉ số này có nhiều điểm giống với PPI
- Chỉ số giá bán lẻ (RPI - Retail Price Index): là chỉ số phản ánh tình hình biến
động giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường theo thời gian (tháng, quý, năm haychu kì nhiều năm) và không gian (thị trường thế giới, thị trường toàn quốc, thị trườngtheo khu vực, tỉnh, thành phố) Chỉ số này được tính theo phương pháp bình quân giaquyền số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường và giá bán lẻ hàng ở hai thời điểmkhác nhau
- Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân (PCEPI): trong "Báo cáo chính sách
tiền tệ cho Quốc hội" tháng 2/2000, Federal Open Market Committee (FOMC) thôngbáo rằng tổ chức này đã thay đổi thước đo cơ bản về lạm phát của mình từ CPI sang
"chỉ số giá cả dạng chuỗi của các chi phí tiêu dùng cá nhân"
1.2.1 Định nghĩa về CPI
CPI là tên viết tắt tiếng Anh của Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index).Rất nhiều các quốc gia trên thế giới còn dùng CPI như đại diện cho thông số về lạm
Trang 23phát, mặc dù không phải bao giờ chỉ số này cũng đúng, hoặc chỉ phản ánh tương đối vềlạm phát.
CPI là thước đo mức giá chung của một giỏ hàng hóa và dịch vụ điển hình màngười tiêu dùng mua (tính theo % để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàngtiêu dùng theo thời gian) Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này dựa vào một sốhàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng, VD như: gạo, thịt, cá, hàng may mặc,xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện, nước, ) Giỏ hàng hoá được ấn định đối với mộtnăm cơ sở và có thể thay đổi cho phù hợp với tình hình
Chỉ số CPI là một chỉ số Laspeyres, được tính bởi công thức:
CPI là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá Sự thay đổicủa mức giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là Chỉ sốgiảm phát GDP hay Chỉ số điều chỉnh GDP đã được đề cập ở phần trên)
1.2.2 Cách tính CPI tại Việt Nam:
Việc tính toán CPI ở Việt nam do Tổng cục Thống kê đảm nhiệm Các bướctính chỉ số CPI được thực hiện như sau:
Bước 1: Cố định giỏ hàng hoá: thông qua điều tra, TCTK sẽ xác định lượng
hàng hoá và dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua
Bước 2: Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá
điển hình tại từng thời điểm
Trang 24Bước 3: Tính chi phí để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng nhân với
giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại với nhau
Bước 4: Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng
494 mặt hàng như năm 2006
Bảng 1.1: Quy n s tính CPI c a Vi t Nam th i kỳ 2006 - 2014 ền số tính CPI của Việt Nam thời kỳ 2006 - 2014 ố tính CPI của Việt Nam thời kỳ 2006 - 2014 ủa Việt Nam thời kỳ 2006 - 2014 ệt Nam thời kỳ 2006 - 2014 ời kỳ 2006 - 2014
Quyền số thời kỳ 2006-2009(%)
Quyền số thời kỳ 2010-2014(%)
C Tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng 100 100
1 I Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 42.85 39.93
3 III May mặc, mũ nón, giày dép 7.21 7.28
10 X Văn hoá, giải trí và du lịch 3.59 3.83
11 XI Hàng hoá và dịch vụ khác 3.31 3.34
Tổng số mặt hằng trong rổ hàng 496 573
Trang 25Tuy nhiên CPI cũng có những nhược điểm riêng:
- Chỉ số CPI không đo lường lạm phát một cách chính xác do tác động của độlệch cơ cấu và độ lệch thay thế Theo thời gian, giỏ hàng hóa của người tiêu dùng phảiđược thay đổi do sự xuất hiện của hàng hóa tiêu dùng mới Khi giỏ hàng hóa tính CPIchậm thay đổi thì chỉ số này sẽ không bao gồm những hàng hóa tiêu dùng mới phátsinh nhưng được đa số người tiêu dùng sử dụng, dẫn đến độ lệch thay thế
- Bên cạnh đó nếu giá cả của nhóm hàng hóa có quyền số lớn tăng mạnh dẫnđến biến động mạnh trong CPI thì CPI sẽ đưa ra thông tin sai về biến động tỷ lệ lạmphát Độ lệch cơ cấu được thể hiện là CPI không phản ánh sự điều chỉnh cơ cấu hànghóa tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng chonhững hàng hóa khác nhau theo thời gian
Để khắc phục những nhược điểm trên thì ở Việt Nam, giỏ hàng hóa tính chỉ sốCPI được Tổng cục thống kê điều chỉnh theo chu kỳ 5 năm Đối với một nền kinh tếnhỏ và mở cửa như Việt Nam hiện nay, sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát tính theo CPI
sẽ rất nhạy cảm trước những biến động trong cung cấp nông sản hay sự lên xuống củagiá dầu thế giới,… Chính vì thế tỷ lệ lạm phát tính theo CPI có thể sẽ rất cao trong khihầu hết giá cả của các nhóm hàng phi lương thực và nhiên liệu chỉ thể hiện một mứctăng vừa phải
Trang 26- Còn nếu so sánh với một chỉ số tình lạm phát phổ biến khác là DGDP thì CPIcũng có những nhược điểm: trong khi chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của mọihàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước thì CPI chỉ phản ánh mức giá của mọihàng hoá và dịch vụ được người tiêu dùng mua Sự khác biệt này đôi khi rất quantrọng, ví dụ khi giá dầu tăng lên thì chỉ số giá tiêu dùng tăng nhiều hơn mức gia tăngcủa chỉ số điều chỉnh GDP.
- Một sự khác biệt thứ hai giữa chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số CPI liên quanđến việc gán quyền số cho các loại giá cả khác nhau Giỏ hàng hoá khi tính CPI là cốđịnh (tại Việt Nam được thay đổi theo chu kỳ 5 năm), trong khi đó nhóm hàng hoá vàdịch vụ dùng để tính chỉ số điều chỉnh GDP tự động thay đổi theo thời gian Sự khácbiệt này không quan trọng lắm nếu mọi giá cả đều thay đổi theo cùng tỷ lệ, song nếuchúng thay đổi với những tốc độ khác nhau thì cách gán quyền số rất quan trọng khitính tỷ lệ lạm phát, từ đó dẫn đến những sai lệch khi tính toán lạm phát từ 2 chỉ số này
Tóm lại, dù vẫn có nhược điểm song trong các thước đo lạm phát thì CPI vẫn làchỉ số quan trọng nhất và được quan tâm chú ý nhất Nó cũng là chỉ số đo lường sựthay đổi trong chi phí sinh hoạt được biết đến nhiều nhất CPI được sử dụng để điềuchỉnh tiền lương, phúc lợi xã hội, lương hưu, thuế và các chỉ số kinh tế khác nữa Nócũng cung cấp cho các nhà đầu tư các thông tin về những biến động có thể xảy ra trênthị trường tài chính - nơi mà cổ phiếu có mối quan hệ cả trực tiếp và gián tiếp đối vớiCPI Nắm chắc chỉ số giá cả trong tay, các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu
tư phù hợp và bảo vệ mình bằng cách mua các công cụ đầu tư
1.2.4 Thực tiễn về chỉ số CPI tại Việt Nam
Kinh tế Việt Nam từ những năm 1980 đến nay đã trải qua sự biến đổi sâu sắc: từnền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướngXHCN, từ tăng trưởng thấp những năm 80 sang tăng trưởng cao những năm 90, từkhủng hoảng sang ổn định và phát triển
Ngay sau khi đổi mới nền kinh tế, nước ta đã phải đương đầu với tình trạng suythoái và siêu lạm phát Trong giai đoạn 1986-1988, mặc dù Chính phủ rất cố gắng đưa
Trang 27nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tuy nhiên kết quả rất hạn chế: tỷ lệ lạm phátvẫn rât cao trong khi suy thoái kinh tế có xu hướng kéo dài Phải đến năm 1989, vớiviệc áp dụng những công cụ chính sách vĩ mô cơ bản của kinh tế thị trường như: chínhsách tài khóa, tiền tệ, tỷ giá hối đoái, lãi suất thì thị lạm phát mới dần được kiểm soát.
Từ giai đoạn này nền kinh tế bắt đầu ổn định và phát triển, thể hiện sự hiệu quả củacông cụ chính sách vĩ mô Diễn biến lạm phát trong thời kì đất nước đổi mới (từ 1986tới nay) được mô tả ở bảng sau:
Bảng 1.2: tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng tr ưởng của Việt Nam thời kỳ 1986- ng c a Vi t Nam th i kỳ 1986- ủa Việt Nam thời kỳ 2006 - 2014 ệt Nam thời kỳ 2006 - 2014 ời kỳ 2006 - 2014
Trang 28Hình 1.1: Tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2011
(Nguồn: TCTK)
Dựa vào xu hướng biến động của tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng trưởng được thểhiện trên Hình 1.2, chuyên đề sẽ phân thành 4 giai đoạn lạm phát như sau:
- Giai đoạn 1986-1991: giai đoạn lạm phát cao
- Giai đoạn 1992-1998: giai đoạn ổn định và phát triển
- Giai đoạn 1999-2003: giai đoạn thiểu phát
- Giai đoạn 2004-nay: giai đoạn tăng trưởng với tỉ lệ lạm phát cao
Ở trong khuôn khổ chuyên đề này sẽ chỉ đề cập và phân tích lạm phát ở ViệtNam giai đoạn từ 2004 tới nay: giai đoạn tăng trưởng với tỉ lệ lạm phát cao:
Trang 29Theo số liệu thống kê thì năm 2002 CPI tăng 4%, chính thức chấm dứt giai đoạngiảm phát của thời kỳ trước Năm 2003 chỉ số tăng giá vẫn thấp (3%) nhưng năm 2004
đã có dấu hiệu thay đổi Ngay từ các tháng đầu năm CPI đã tăng khá mạnh: tháng 1tăng 1,1% sang tháng 2 tăng đến 3%, các tháng còn lại đều tăng Năm 2005, tiếp tục
đà tăng của năm 2004 khi ngay ở 2 tháng đầu năm mức tăng lần lượt là 1,1 rồi 2,5%,tất cả các tháng còn lại đều tăng Với mức tăng 9,5% năm 2004 và 8,4% trong năm
2005 đã gây nên một số lo ngại lạm phát trở lại Tới năm 2007, tín hiệu lạm phát đãđược phát ra ngay từ 2 tháng đầu năm với mức tăng 1,2% và 2,2%, tháng 3 giảm nhẹmột chút rồi sau đó nóng dần lên đặc biệt là ở 2 tháng cuối năm với mức tăng 1,2% rồi2,9% là mức tăng cao nhất của một tháng kể từ năm 1992 Lạm phát đã trở lại sau 15năm, kể từ 1992 Từ năm 2008 đến 2011 lạm phát vẫn ở mức cao, lần lượt là 19,89%;6,8%; 11,75% và 18,6 %
Hình 1.2: Tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2011
Một số nguyên nhân chính dẫn tới lạm phát thời kỳ này:
Trang 30- Trước hết cần phải nói đến các chính sách tiền tệ Trong gần 10 năm qua, đểthực thi chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng, Chính phủ đã thực thi chính sách tiền
tệ nới lỏng Trong khi đó hiệu quả đầu tư của nền kinh tế thấp, điều này đã dẫn đến sựmất cân đối giữa hàng - tiền Để giải quyết vấn đề này thì từ giữa năm 2007 và đặc biệt
là từ đầu 2008 đến 2011, Chính phủ đã rất mạnh tay trong việc thắt chặt tiền tệ Songcần phải có thời gian để biện pháp này phát huy tác dụng và do chính sách tiền tệ nớilỏng được thực hiện trong một thời gian dài nên cũng không thể ngay lập tức giải quyếtdứt điểm vấn đề này
- Một trong những nhân tố làm tăng chi phí là việc giá dầu trên thế giới tăng quácao và quá nhanh Tại thời điểm cuối năm 2007, khi giá dầu tăng lên mức xấp xỉ 100USD/thùng, thế giới đã đánh giá là quá cao và lo lắng về những tác động tiêu cực củacuộc hoảng dầu lửa Đến thời điểm giữa năm 2008, giá dầu đã tăng khoảng 50% lêngần 150 USD/thùng Giá dầu trên thế giới tăng quá cao và nhanh là một trong nhữngnhân tố làm suy thoái kinh tế, gia tăng lạm phát trên toàn cầu Đối với Việt Nam, ngoàiviệc chịu tác động trực tiếp từ việc giá dầu trên thế giới tăng cao thì với một nền kinh
tế mà hoạt động sản xuất dựa rất lớn và nguồn đầu vào từ nhập khẩu, Việt Nam đãbuộc phải nhập khẩu lạm phát từ các nước khác trên thế giới Nói cách khác là chi phísản xuất trong nước tăng lên do giá dầu tăng và giá nhập khẩu các loại nguyên vật liệuđầu vào của hoạt động sản xuất tăng lên
- Ngoài ra, CPI của Việt Nam tăng cao chủ yếu do sự tăng giá mạnh mẽ củanhóm hàng lương thực, thực phẩm Trên thực tế, không đủ căn cứ để khẳng định cầutrong nước tăng quá nhanh dẫn đến làm tăng giá Song cuộc khủng hoảng lương thựctrên thế giới ngày càng trầm trọng làm cho giá lương thực trên thế giới tăng cao Dovậy, mặc dù Việt Nam vẫn đảm bảo an ninh lương thực cho hoạt động sản xuất và tiêudùng trong nước, nhưng việc giá lương thực trên thế giới tăng cao đã thúc đẩy các nhàsản xuất và xuất khẩu gạo trong nước tính toán lợi ích và tìm cách tăng giá lương thực.Đối với thực phẩm, nhất là mặt hàng thịt lợn, do tình trạng dịch bệnh có thời điểmbùng phát đã dẫn đến thiếu cục bộ và đã đẩy giá của mặt hàng này tăng cao
- Cuối cùng, việc Chính phủ thực hiện biện pháp kiểm soát giá đối với các mặthàng quan trọng nhằm kiềm chế lạm phát một mặt có tác dụng tích cực là giữ giá các
Trang 31mặt hàng này trong một thời gian nhất định, qua đó giảm sức ép đầu vào đối hoạt độngsản xuất kinh doanh của nền kinh tế Tuy nhiên, đứng trước tình hình lạm phát tiếp tụcleo thang, giá dầu thế giới tiếp tục tăng cao, điều này cũng tạo ra tâm lý đầu cơ, chờđợi thời điểm bãi bỏ cơ chế kiểm soát giá, nhất là thời điểm gần tới thời điểm Chínhphủ xem xét lại giá các mặt hàng thuộc diện kiểm soát.
Tại Mỹ, ban đầu CPI được coi như là chỉ số theo dõi giá cả các mặt hàng vàdịch vụ (Cost of Goods Index-COGI) nhưng dần dần quốc hội Mỹ nghĩ rằng CPI cầnphản ánh giá cả sinh hoạt (Cost of Living Index-COLI) nên phương pháp tính toán CPIđược sửa đổi và bổ sung nhiều lần Một trong những sự thay đổi này phát sinh từ sựthay thế mặt hàng của người tiêu thụ (VD giá một chiếc TV LCD quá cao, người tiêudùng sẽ chọn và thay thế bằng một chiếc TV nhỏ và rẻ tiền hơn Khi tính toán CPI theophương pháp mới sẽ chọn mặt hàng TV nhỏ và vì bán chạy nên giá TV nhỏ này có thểkhông tăng hay thậm chí được giảm giá) Nhiều người phản biện cho là cách tính toánCPI như vậy dễ bị chính phủ thao túng để đưa ra những con số thấp hơn thực tế và do
đó không đánh giá được chính xác mức độ lạm phát Tuy nhiên cho đến nay cách tính
đó vẫn được giữ nguyên
Hiện nay về cơ bản thì cách tính CPI của Việt Nam giống với đa số các quốc giatrên thế giới Chỉ có sự khác nhau về số lượng mặt hàng và quyền số tính tương ứngtrong giỏ hàng hóa và dịch vụ điển hình Bên cạnh đó cũng có sự chênh lệch về mức độ
“làm sạch” số liệu, khả năng điều tra trên diện rộng và cách thức công bố thông tin
Còn về cách sử dụng CPI, trong khi tại Việt Nam CPI được coi là thước đo lạmphát chính, thì tại một số quốc gia (VD như Nga), CPI chỉ được coi là một trong nhữngchỉ số quan trọng để đánh giá lạm phát, bên cạnh chỉ số DGDP, và đặc biệt là chỉ số lạm phát cơ bản.
Chỉ số lạm phát cơ bản được tính trên cơ sở chỉ số CPI sau khi loại bỏ một sốnhóm hàng hoá và dịch vụ mà giá cả của chúng phản ánh sai lệch sự biến động thựccủa mức giá chung Các tiêu chí loại bỏ các hàng hoá đó là:
Trang 32- Các hàng hoá mà giá cả hình thành chủ yếu do các nhân tố cung
- Các loại hàng hoá mà giá cả hình thành do các quy định hành chính
- Những thay đổi giá cả gây nhiễu cho ngân hàng trung ương
Như vậy so với CPI ban đầu, CPI sau khi loại bỏ đi các yếu tố trên có thể phảnánh chính xác hơn sức mua thực sự của đồng tiền và cho phép có được một dự báođáng tin cậy hơn về xu hướng biến động giá chung trong dài hạn của nền kinh tế Tuynhiên, việc sử dụng CPI mới này làm thước đo lạm phát cũng có những hạn chế nhấtđịnh: đó là khi loại trừ hoàn toàn ảnh hưởng của một nhân tố nào đó ra khỏi CPI thìthông tin về nhân tố đó sẽ bị triệt tiêu, và như vậy thông tin phản hồi từ các tín hiệu thịtrường phản ánh trên giá nhân tố đó cũng bị loại trừ Hơn nữa CPI tính theo cách nàycũng không thể khắc phục được hoàn toàn độ lệch cơ cấu và độ lệch thay thế của CPI.Chính vì vậy mà hiện nay các nhà kinh tế tìm các phương pháp khác để xây dựng cácthước đo lạm phát cơ bản dựa trên cơ sở lý thuyết vững chắc hơn
Trang 33CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
2.1 Một số mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến CPI trên thế giới
Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều mô hình kinh tế lượng để phân tích vềlạm phát nói chung và CPI nói riêng Những mô hình này đều dựa trên các trường pháikinh tế để xây dựng các mô hình kinh tế lượng đơn hoặc đa biến Mục tiêu của các môhình này có thể là kiểm chứng tính chính xác của các giả định, kết luận của mô hình lýthuyết hoặc kiểm chứng sự phù hợp của mô hình với một nền kinh tế cụ thể nào đó.Việc lựa chọn mô hình nào để ứng dụng, lựa chọn hướng tiếp cận kinh tế nào để xâydựng mô hình còn tùy thuộc vào nền kinh tế của từng quốc gia Ngoài ra, một yếu tốkhông kém phần quan trọng trong việc lựa chọn mô hình đó là sự sẵn có hoặc khả thi
về mặt dữ liệu, độ dài và tính chính xác của các chuỗi dữ liệu
Trước khi xây dựng mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát tạiViệt Nam, chuyên đề sẽ giới thiệu một số mô hình phân tích lạm phát trên thế giới để
từ đó có một cái nhìn tổng quan về phân tích lạm phát theo định lượng
2.1.1 Mô hình hiệu chỉnh sai số ECM của Mohammad (1999)
Đây là một nghiên cứu về diễn biến lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn của nềnkinh tế Trung Quốc bằng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM Nghiên cứu này dựa trên môhình tiền tệ truyền thống nhưng mở rộng phân tích bằng cách thêm vào một số biếnkhác để nắm bắt đặc trưng nền kinh tế Trung Quốc:
Trang 34
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Johansen - Juselius để phân tích quan hệdài hạn của các biến trong mô hình (2.1) và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để xácđịnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa ngắn hạn và dài hạn, cũng như quan hệ nhân quả giữagiá và tiền
Ưu điểm của mô hình này đó là Mohammad đã sử dụng công cụ kinh tế lượnghiện đại: kiểm định đồng liên kết Johansen - Juselius và kiểm định ECM để nghiên cứumối quan hệ dài hạn giữa tiền tệ và giá cả trong đó có xét thêm biến chỉ số năng suấtcông nghiệp và năng suất nông nghiệp để xem xét khía cạnh lạm phát cơ cấu
2.1.2 Mô hình đường Phillips của Gerlach và Peng (2006)
Đã dùng mô hình đường Phillips để phân tích lạm phát ở Trung Quốc:
(2.2)
Ước lượng (2.2) cho thấy mô hình cổ điển có khuyết tật tự tương quan nên (2.2) chưacho thấy được diễn biến lạm phát, các tác giả đã ước lượng mô hình đường Phillips vớitrễ dài hơn:
(2.3)
Trang 35Kết quả thu được mô hình (2.3) tốt hơn mô hình (2.2):
Hệ số α2, β1 có ý nghĩa cao; ước lượng DW tiến gần 2 cho thấy giảm tươngquan giữa các phần dư, nhưng hệ số α3 và β2 âm Đ i ề u này cho thấy, ngoài sự thayđổi trong khoảng sản lượng tạo ra lạm phát còn có sự tác động nào đó lớn hơn mứcsản lượng ảnh hưởng đến lạm phát
Tuy nhiên trước khi khám phá ra điều ở trên, các tác giả đã ước lượng thêmmột phương trình khác:
Kết quả ước lượng của mô hình (2.4) tồi hơn mô hình (2.3): hệ số R2 thấphơn, ngoài hệ số chặn thì các hệ số khác nói chung không có ý nghĩa Như vậy môhình (2.3) tốt hơn (2.4) => điều này dẫn đến việc xác định biến bị thiếu trong môhình (2.2) với mục tiêu biến đó có thể giải thích hệ số α3 và β2 âm trong phương trình(2.2) bằng cách sử dụng biến công cụ z và giả thiết biến z là quá trình tự hồi quy bậc 2
(2.5)
Với việc đưa vào biến công cụ z các tác giả đã thu được mô hình giải
thích tốt Biến z đại diện cho một số biến không quan sát được như sự thay
đổi giá, mở rộng thương mại, vốn rất khó để ước lượng sự tác động của các biếnnày lên lạm phát do đó các tác giả đã đưa vào biến z để được mô hình mô tả tốt diễnbiến lạm phát ở Trung Quốc
2.2 Mô hình tự hồi quy vector VAR
Như chúng ta đã biết, mối quan hệ giữa các biến số kinh tế không đơn thuầnchỉ theo một chiều Biến độc lập (biến giải thích) không chỉ ảnh hưởng lên biến phụthuộc mà trong nhiều trường hợp nó còn có ảnh hưởng ngược lại Do đó mà ta phảixét ảnh hưởng qua lại giữa các biến này cùng một lúc Chính vì thế mô hình kinh tế
Trang 36theo hệ phương trình.
Tuy nhiên, để ước lượng được các mô hình này ta phải đảm bảo rằng cácphương trình trong hệ được định dạng, một số biến được coi là nội sinh (biến mà giátrị được xác định bởi mô hình, là biến ngẫu nhiên) và một số biến khác được coi làngoại sinh hay đã xác định trước (ngoại sinh cộng với nội sinh trễ) Việc định dạngnày thường được thực hiện bằng cách giả thiết rằng một số biến được xác định trướcchỉ có mặt trong một số phương trình Quyết định này thường mang tính chủquan và đã bị Chrishtopher Sims lên tiếng chỉ trích Theo Sims, nếu tồn tại mốiquan hệ đồng thời giữa một số biến thì các biến này phải được xét có vai trò nhưnhau, tức là tất cả các biến xét đến đều là biến nội sinh Dựa trên tinh thần đó màSims đã xây dựng mô hình vector tự hồi quy VAR
Sims (1980) đã thay đổi mối quan tâm của các nhà kinh tế lượng đương thời.Ông cho rằng hầu hết các biến số kinh tế, nhất là biến số kinh tế vĩ mô đều mangtính nội sinh, nghĩa là đều có tác động qua lại lẫn nhau Từ đó ông đề xuất mô hìnhnhiều biến số mà trong đó các biến số của mô hình đều đóng vai trò như nhau, và đều
là biến nội sinh Đó là mô hình tự hồi quy vecto VAR
Mô hình VAR về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình) và
có các trễ của các biến số VAR là mô hình động của một số biến thời gian
Mô hình VAR dạng cấu trúc tổng quát với m biến và trễ p bước được viết ởdạng sau:
trong đó:
yt = (y1t,…,ymt)’
Ai: là các ma trận cấp m x m A: là ma trận cấp m x 1εt: là ma trận cấp m x 1 yếu tố ngẫu nhiên
- Trường hợp đặc biệt: xét hai chuỗi thời gian Y1 và Y2 Mô hình VAR
Trang 37tổng quát đối với Y1 và Y2 có dạng sau đây:
Trong mô hình trên, mỗi phương trình đều chứa p trễ của mỗi biến Với hai biến
mô hình có 22p hệ số góc và 2 hệ số chặn Vậy trong trường hợp tổng quát nếu mô hình
có k biến thì sẽ có k2p hệ số góc và k hệ số chặn, khi k càng lớn thì số hệ số phải ướclượng càng tăng
Bước 1: Đầu tiên chúng ta cần xét tính dừng của các biến trong mô hình Nếu
chưa dừng thì sử dụng kỹ thuật lấy sai phân để đưa về các chuỗi dừng
Bước 2: Lựa chọn khoảng trễ phù hợp
Bước3: Xem xét mức độ phù hợp của mô hình chạy ra (bằng việc kiểm định
tính dừng của phần dư Nếu phần dư của mô hình dừng thì mô hình nhận được phùhợp với chuỗi thời gian và ngược lại)
Bước 4: So sánh các mô hình và lựa chọn mô hình phù hợp nhất.
Bên cạnh những ưu điểm nổi trội của mô hình VAR như: không cần xác địnhbiến nào là biến nội sinh và biến nào là biến ngoại sinh hay; có thể sử dụng phươngpháp OLS cho từng phương trình riêng rẽ thì mô hình VAR còn gặp phải một số hạnchế:
- Khi xét đến mô hình VAR ta còn phải xét đến tính dừng của các biến trong môhình Yêu cầu đặt ra khi ta ước lượng mô hình VAR là tất cả các biến phảidừng, nếu trong trường hợp các biến này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân đểđảm bảo chuỗi dừng Càng khó khăn hơn nữa nếu một hỗn hợp chứa các biến
có tính dừng và các biến không có tính dừng thì việc biến đổi dữ liệu khôngphải là việc dễ dàng
- Khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ thích hợp Giả sử mô hình VAR bạn
Trang 38xem xét ở trên thì số hệ số mà bạn phải ước lượng là 32.8+3=75 Và nếu ta tăng
số biến và số trễ đưa vào mỗi phương trình thì số hệ số mà ta phải ước lượng
sẽ khá lớn Ngoài ra, khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ còn được thểhiện ở chỗ nếu ta tăng độ dài của trễ sẽ làm cho bậc tự do giảm, do vậy mà ảnhhưởng đến chất lượng các ước lượng
Vì những lý do trên, mà mô hình dạng VAR thường được sử dụng trong cácbài toán liên quan đến các biến kinh tế vĩ mô, đó là:
Dự báo, đặc biệt là dự báo trung hạn và dài hạn
Phân tích cơ chế truyền tải sốc, nghĩa là xem xét tác động của một cúsốc trên một biến phụ thuộc lên các biến phụ thuộc khác trong hệ thống
2.3 Ứng dụng Mô hình VAR nghiên cứu tác động của chính sách tiền
Bernanke và Mihov (1998) đề xuất một phương pháp VAR có thể bao gồm tất
cả các biến chính sách trước đây đề xuất đối với Hoa Kỳ như là chi tiết kỹ thuật
cụ thể của mô hình nói chung
Fabio Canova, Luca Gambetti (2008) đã điều tra sự đóng góp của chính sáchtiền tệ đến những thay đổi trong tăng trưởng sản lượng và động lực lạm phát ở
Mỹ bằng cách xác định một cú sốc chính sách và quy tắc chính sách trong một
hệ số thời gian thay đổi VAR sử dụng sự giới hạn dấu hiệu mạnh mẽ
Mô hình VAR với YT là một véc tơ bao gồm lãi suất ngắn hạn, tỷ lệ lạm phát,tăng trưởng sản lượng và tốc độ gia tăng M2 theo thứ bật YT được thể hiệnqua hệ phương trình:
Trang 39(2.7)trong đó:
A0,t : có thời gian chặn khác nhau Ai,t : là ma trận hệ số của các thời gian khác nhau
i = 1, , p và εt: là một phép khử nhiễu trắng Gauss
phát tại 7 quốc gia Đông Á
Ngân hàng thanh toán quốc tế BIS (2006) sử dụng mô hình véc tơ tự hồi quy(VAR) nhằm kiểm định tác động của chính sách tiền tệ vào hoạt động kinh tế và giá cả
Mô hình VAR ( Vector Autoregressions) được sử dụng để phân tích những tácđộng của chính sách tiền tệ trong bảy nền kinh tế Đông Á: Indonesia, Hàn Quốc,Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan Như được mô tảtrong Bernanke và Mihov (1998), giả sử rằng cơ cấu kinh tế là mô hình động không bịgiới hạn truyến tính thì ta có hệ phương trình sau :
Trong đó: các Bi , Ci , Ay, Di , Gi và Ap là ma trận hệ số vuông
Phương trình (2.8) và (2.9) phân vùng các biến được xem xét thành hai nhóm :khối phi chính sách (Y) và khối chính sách (P):
Các Yt vector bao hàm các biến phi chính sách kinh tế vĩ mô như sản lượng vàgiá cả, các yếu tố này có phản ứng trước những cú sốc chính sách tiền tệ sẽđược kiểm tra
Các Pt vector bao gồm các biến chính sách hay biến tiền tệ hoặc có tiềm năngthông dụng như là các chỉ báo về chính sách tiền tệ, ví dụ như lãi suất ngắn hạn.(lưu ý rằng các NHTW có thể không hoàn toàn kiểm soát các biến chính sách
Trang 40một tác động đáng kể đến các biến này trong giai đoạn hiện nay Trong hệ thốngnày, mỗi biến được phép phụ thuộc vào giá trị hiện tại hoặc trị số trễ (lên đến trễk) của bất kỳ biến nào trong hệ thống Các vector Vy và Vp không có tươngquan nhiễu lẫn nhau)
Mô hình VAR cơ bản theo BIS sẽ trả lời cho câu hỏi liệu các yếu tố về tiền tệ,như tín dụng cho nền kinh tế và lãi suất nội địa đóng một vai trò quan trọng trong việcxác định lạm phát hay không ngoài tỷ giá VND/USD Hệ thống VAR cơ bản bao gồmcác biến nội địa như : tỷ giá VND/USD, CPI và M2, tín dụng trong nước, lãi suất, giáhàng hóa ( giá xăng, giá gạo) và các biến số như cung tiền Mỹ
2.4 Một số nghiên cứu định lượng về lạm phát tại Việt Nam
Võ Trí Thành đã dùng mô hình trễ đa thức để nghiên cứu các yếu tố xác định lạm phát trong nửa đầu thập kỷ 1990 như sau:
(2.10)
Với chuỗi số liệu theo tháng từ 12/1990 đến 12/1994, Võ Trí Thành thấy rằng
ω, gM có ý nghĩa cao nên đây là các yếu tố có khả năng dự báo lạm phát, tổng các hệ
số của trễ gY không có ý nghĩa và có dấu không phù hợp nên có thể nói tác động củabiến gY lên lạm phát nếu tồn tại thì chỉ trong ngắn hạn
Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình VAR, ECM với số liệu tháng từ 1991-1999
và đã cho một số kết luận:
- Thay đổi M (M1, M2) không chứa đựng thông tin dẫn báo về biến động lạmphát Tỷ giá danh nghĩa mang ít thông tin dự báo biến động c ủ a lạm phátsắp tới
- Tác động của Δer lên lạm phát trong nửa sau 1990 yếu hơn và ít có nghĩahơn nhiều so với nửa đầu 1990