Trên cơ sở đó phần trình bày của em gồm các phần sau:Chương I- Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam và ngành dược phẩmChương II- Cơ sở lý thuyết Chương III- Ứng dụng phân tích độ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA TOÁN KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói trong thời gian vừa qua thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn khá trầm lắng Việc các chỉ số VN-index và HN-index liên tục giảm điểm cũng như khối lượng giao dịch giảm xuống phần nào đã phản ứng sự sụt giảm và đi xuống của thị trường Như vậy nhà đầu tư có nên đầu tư nhiều vào thị trường trong giai đoạn này hay không? Có thể khẳng định điều đó phụ thuộc vào khả năng dự báo cũng như tiềm lực tài chính của từng nhà đầu tư Trên sàn chứng khoán lúc này,
có thể nói trong các nhóm ngành mà các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán thì
cổ phiếu thuộc nhóm ngành dược phẩm đang rất được chú ý Đó là vì trong nhóm ngành này giá của các cổ phiếu tương đối cao so với các nhóm ngành khác Một trong những lý do tạo nên sự khác biệt đó là vì đây là nhóm ngành ít có biến động lớn về doanh thu , trong khi đó lợi nhuận lại tương đối ổn định nên khi mà thị trường đang bất ổn như hiện nay, đầu tư vào nhóm ngành này sẽ có độ an toàn cao hơn so với các nhóm ngành khác
Khi bạn đầu tư thì 1 nguyên tắc để giảm thiểu rủi ro đó là đa dạng hóa danh mục đầu tư, nhà đầu tư nên lựa chọn các mã cổ phiếu tốt nhất trong các nhóm ngành
để hình thành nên danh mục đầu tư cho mình Vậy trong nhóm ngành này đâu là những mã cổ phiếu được đánh giá tốt nhất, dựa vào đâu để có thể đánh giá cổ phiếu
đó là tốt hay không tốt? Xuất phát từ câu hỏi đó, em đã lựa chọn đề tài “ Phân tích động thái giá của cổ phiếu thuộc nhóm ngành dược phẩm” làm chuyên đề tốt
nghiệp của mình Do kiến thức trình độ có hạn cũng như các điều kiện khác, em chỉ tiến hành lựa chọn 1 số cổ phiếu trong nhóm ngành này thông qua để tiến hành phân tích nhằm lựa chọn ra những cổ phiếu tốt nhất ở nhóm ngành này để có thể đưa ra khuyến nghị giúp các nhà đầu tư tham khảo để lựa chọn đưa vào danh mục đầu tư của họ
Trang 4Trên cơ sở đó phần trình bày của em gồm các phần sau:
Chương I- Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam và ngành dược phẩmChương II- Cơ sở lý thuyết
Chương III- Ứng dụng phân tích động thái giá của cổ phiếu nhóm ngành dược phẩm
Em xin chân thành cảm ơn PGS-TS Ngô Văn Thứ cùng các thầy cô trong bộ môn Toán Tài Chính đã nhiệt tình giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp này
Trang 5B- NỘI DUNG CHI TIẾT
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ NHÓM
NGÀNH DƯỢC PHẨM
1-Khái niệm về thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là lĩnh vực phong phú, đa dạng và rất phức tạp; là nơi mua bán các chứng khoán và thường được thực hiện chủ yếu tại sở giao dịch chứng khoán, một phần ở các công ty môi giới (công ty chứng khoán) và cả ở thị trường chợ đen Ở đó người ta mua bán , chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời
TTCK có các hình thái là sở giao dịch chứng khoán ,TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận
2-Chức năng của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn rất hiệu quả Do đó nó đóng 1 vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Chính vì thế nó có những chức năng sau:
3- Các chủ thể tham gia thị trường
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán
Trang 6a) Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ
b) Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức
- Các nhà đầu tư cá nhân
- Các nhà đầu tư có tổ chức
c) Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán;
- Quỹ đầu tư chứng khoán;
- Các trung gian tài chính
d) Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước;
- Sở giao dịch chứng khoán;
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán;
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán;
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán;
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán;
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
4- Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
Trang 7- Nguyên tắc công khai;
- Nguyên tắc trung gian;
- Nguyên tắc đấu giá
5-Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ hạn trên 1 năm) Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản:
a) Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
-Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
- Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
b) Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC)
c) Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
- Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
-Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán
các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ
- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
Trang 8Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn
6-Tổng quan về ngành dược phẩm
Ngành dược ở Việt Nam là ngành có tốc độ phát triển tương đối ổn định
Năm 2010 ngành dược Việt Nam có giá trị khoảng 1,54 tỉ USD chiếm 1,47% GDP cả nước Tốc độ phát triển trung bình ngành vào khoảng 16-18% cao hơn so với thế giới 4-7% và châu Á ( 12,6%) Sự phát triển ổn định của ngành dược trong những năm qua là do nhu cầu về việc sử dụng thuốc ngành càng tăng và tỉ trọng sản xuất trong nước được cải thiện 1 cách đáng kể với sức cạnh tranh ngày càng lớn mạnh
Theo số liệu thống kê của Cục quản lý Dược, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng đạt trên 1,9 triệu USD trong năm 2010, tăng gần 13% so với năm 2009 Mặc dù tốc độ tăng trưởng tổng tiền thuốc sử dụng đang trong xu hướng giảm qua 2 năm 2009-2010 nhưng vẫn giữ ở mức trên 2 con số Tốc độ tăng trưởng giá trị tiền thuốc sử dụng tăng bình quân đạt bình quân trên 18% trong 5 năm 2006-2010, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng bình quân của ngành Dược toàn cầu (6,2%) BMI dự báo giá trị tiền thuốc sử dụng sẽ đạt gần 3,4 triệu USD vào năm 2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 14,5%/năm trong giai đoạn 2011-2015 (đã loại trừ tác động của tỷ giá), tuy chậm hơn giai đoạn 2006-2010 nhưng vẫn ở mức cao
và vượt xa mức tăng trưởng bình quân toàn cầu theo IMS Health dự báo là 6%/năm và cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình nhóm 3 các thị trường Dược phẩm mới nổi (Các thị trường mới nổi trừ Trung quốc, Brazil, Ấn Độ và Nga) được dự báo ở mức 10-13%/năm
3-Hai yếu tố quan trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng cao của thị trường dược phẩm Việt Nam là tốc độ tăng trưởng kinh tế, tuy đang chậm lại trong năm
2010 nhưng vẫn được dự báo ở mức tốt (7-7,5%/năm trong giai đoạn 2011-2015, theo EIU) và dân số lớn (đứng thứ 13 thế giới năm 2010)
Chi tiêu bình quân đầu người ở mức thấp:
Theo Cục quản lý Dược, tiền thuốc bình quân đầu người năm 2010 đạt 22,25 USD Trong khi đó, theo thống kê của IMS, trong năm 2010, chi tiêu cho dược
Trang 9bảng về chi tiêu tiền thuốc đầu người năm 2010 trong các thị trường dược phẩm mới nổi nhóm 3 (bao gồm Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Rumania, Ai Cập, Ukraine, Pakistan và Việt Nam) với mức bình quân chi tiêu tiền thuốc đầu người của nhóm này là 56 USD/ năm Các thị trường dược phẩm mới nổi nhóm 2 (bao gồm Brazil, Ấn Độ và Nga) có mức bình quân chi tiêu tiền thuốc đầu người là 32 USD /năm Con số tương ứng của Trung Quốc (nhóm 1) là 31 USD
Chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm và y tế tăng chậm hơn chỉ số CPI :
Theo công bố chính thức của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm và y tế tháng 5/2011 tăng 1,20% so với tháng 4/2011, là một trong những nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng không cao trong khi chỉ số giá tiêu dùng nói chung tăng 2,21% So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá hàng dược phẩm và y tế tăng 6,2%, thấp hơn nhiều so với mức tăng chung gần 19,8% Trong giai đoạn từ đầu năm 2009 đến hết tháng 5/2011, theo số liệu công bố của TCTK, giá nhóm hàng dược phẩm và y tế đều tăng chậm hơn chỉ số giá tiêu dùng nói chung, đặc biệt
từ đầu Q4’2010 tính lại đây
Theo báo cáo của Cục quản lý Dược dựa trên số liệu thống kê của một số đơn
vị trong ngành (như Công ty DP TW1 tại Hà Nội, Công ty Dược TW3 cho khu vực miền Trung và Cty DP TW2, phòng Quản lý dược-Sở y tế TP HCM, vv cho TP HCM, vv), giá thuốc trên thị trường năm 2011 tính đến 20/5/2011 nhìn chung ổn định hoặc có mức điều chỉnh (tăng hoặc giảm) không đáng kể
Tuy nhiên, giá trên thị trường có sự biến động lớn
Các nguồn tin báo chí cũng như BMI đều đưa tin về một loạt các cuộc khảo sát giá thuốc tại HCM và Hà Nội cho thấy những mức tăng giá mạnh với biên độ điều chỉnh biến động từ 3-30% Quyết định điều chỉnh tỷ giá VNDUSD thêm 9,3% của NHNN vào giữa tháng 2/2011 có tác động trực tiếp lên mặt bằng giá thuốc có nguồn gốc nhập khẩu cũng như thuốc sản xuất trong nước do ngành Dược Việt Nam phải nhập khẩu trên 80% nguyên liệu đầu vào Đồng thời, trên 50% trị giá thuốc sử dụng trong nước cũng phải nhập khẩu từ bên ngoài.Ngoài ra một số yếu tố khác như tăng giá điện (15,28% từ tháng 3/2011), giá xăng (gần 30% trong những tháng đầu năm), vv cũng đẩy chi phí đầu vào cho sản xuất của ngành Dược tăng lên và đẩy giá bán đầu ra lên Thuốc chữa và phòng bệnh là mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng thực hiện bình ổn giá và do đó, Nhà nước quản lý giá và các
Trang 10doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh Dược phẩm phải đăng ký giá bán Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Dược phẩm đăng ký mức giá cao hơn rất nhiều so với giá thực
tế từ nhiều năm trước và do đó, tạo điều kiện cho việc tăng giá mạnh trong thời gian gần đây mà vẫn nằm trong khuôn khổ cho phép
Số lượng doanh nghiệp trong ngành dược phẩm ở Việt Nam tính đến năm
2010 ước chừng có khoảng 200 doanh nghiệp, tuy nhiên nhìn chung hầu như đều là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhỏ chủ yếu sản xuất thuốc phổ thông và phân phối thuốc (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 50% tổng số nhà thuốc tư nhân trên toàn quốc) còn nhiều trùng lặp dẫn tới cạnh tranh cao trong thị trường nội địa Sauk hi gia nhập WTO, số lượng doanh nghiệp thuốc nước ngoài tại Việt Nam tăng từ 300 lên 500 doanh nghiệp chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh, nhập khẩu và phân phối thuốc
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm ở mức tốt:
Tính chung cho các công ty dược phẩm niêm yết đã có số liệu Q1’2011, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm đều đạt trên 24% Theo thống kê
dữ liệu lịch sử qua các năm 2007-2010, có thể thấy doanh thu và lợi nhuận ròng của Q1 thường chiếm khoảng 22% kết quả của cả năm Như vậy, tính bình quân cho ngành, các doanh nghiệp dược phẩm niêm yết sẽ có thể hoàn thành kế hoạch đã đề
ra cho năm Tuy nhiên, một số doanh nghiệp như tỷ lệ hoàn thành kế hoạch lợi nhuận ròng của DHT và SPM chỉ đạt tỷ lệ rất thấp (9-10%) do các biến động về giá nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác như đã đề cập trên
Một số chỉ tiêu tài chính quan trọng khá ổn định hoặc cải thiện nhẹ:
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng biên bình quân Q1’2011 khá ổn định so với cùng kỳ năm 2010 trong khi các chỉ số ROA và ROE tăng nhẹ thể hiện dấu hiệu cải thiện khả năng quản lý tài sản của các doanh nghiệp; chỉ số ROA và ROE 4 quý tính đến hết Q1’2011 đạt lần lượt 11,65% và 20,16% so với các con số tương đương năm
2010 là 10,96% và 19,25%
Mặt bằng giá cổ phiếu ngành đang ở mức khá hấp dẫn:
Chỉ số PE và PB bình quân của các công ty dược phẩm niêm yết hiện nay ở mức khá hấp dẫn, tương ứng là 6,5 và gần 1,4, thấp hơn so với các chỉ số chung
Trang 11của thị trường (đại diện là của VN-Index) là 9,33 và 1,66 Trong đó, có 5 cổ phiếu dược phẩm niêm yết mức PE cao hơn mức bình quân chung của ngành và 2 cổ phiếu có mức PB cao hơn mức bình quân chung của ngành DHG, cổ phiếu có mức vốn hóa lớn nhất trong ngành và là cổ phiếu cơ bản tốt, tuy có mức PE cao hơn bình quân ngành nhưng vẫn thấp hơn khá nhiều so với bình quân thị trường (8,56x
so với 9,33x) ở mức giá 125.000 VND/cổ phiếu (ngày 22/6/2011)
Như vậy qua phần đánh giá sơ qua trên ta có thể thấy rõ được rằng đầu tư vào nhóm ngành này là rất khả quan, khả năng mang lại lợi nhuận là rất cao
Trang 12CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1-Các chỉ tiêu tài chính trong phân tích cổ phiếu
Có thể nói trong tài chính việc phân tích các chỉ tiêu là rất quan trọng, nó sẽ cho ta biết được một cách chi tiết và chính xác nhất về tình hình hoạt động cũng như tài chính của một công ty Nó sẽ giúp cho ta biết được đầu tư vào công ty này rủi ro cao hay thấp hơn công ty kia, tình hình hoạt động tài chính của công ty này so với công ty kia là ổn định hơn… Khả năng sinh lời với cùng 1 đồng vốn bỏ ra ở doanh nghiệp này cao hay thấp hơn so với doanh nghiệp kia… chính vì thế nên việc phân tích các chỉ số này càng thể hiện rõ tầm quan trọng hơn Sau đây e xin giới thiệu một số chỉ tiêu tài chính cơ bản để có thể đánh giá qua tình hình hoạt động của các công ty
1.1 Nhóm hệ số về khả năng thanh toán
Hệ số thanh toán ngắn hạn =
Hệ số này là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty, nó cho biết
tỷ lệ các khoản nợ ngắn hạn của công ty được trả bằng các tài sản tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó
Hệ số này của từng công ty thường được so sánh với hệ số trung bình của ngành, tuy nhiên mỗi ngành sẽ có một hệ số trung bình khác nhau
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán nhanh của công ty đối với các khoản
Trang 13dào, tuy nhiên hệ số này cao quá kéo dài có thể dẫn tới vốn bằng tiền của doanh nghiệp nhàn rỗi, ứ đọng dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp Chỉ tiêu này quá thấp chứng tỏ công ty không có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Nều hệ số này thấp quá kéo dài ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và làm tăng khá năng
bị giải thể cũng như phá sản trong tương lai gần
Hệ số này cũng thường được so sánh với hệ số trung bình của ngành, thông thường khả năng thanh toán của công ty được đánh giá an toàn khi hệ số này > 0.5 lần vì công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần đến các nguồn thu hay doanh số bán…
Việc phân tích khả năng trả nợ của một công ty có thể được mở rộng đối với các khoản nợ dài hạn, lài vay dài hạn tương ứng với đó là các hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn và khả năng thanh toán lãi vay dài hạn… Tuy nhiên, các chỉ tiêu
về khả năng thanh toán ngắn hạn và thanh toán nhanh thường được quan tâm hơn cả bởi nó phản ánh tình hình cũng như sức mạnh tài chính hiện tại của công ty Còn khả năng thanh toán nợ dài hạn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nên đôi khi không được chú ý đến trong phân tích
1.2 Nhóm hệ số về tình hình hoạt động của công ty
trung bình của công ty, giúp xác định xem công ty đó phải mất bao lâu để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt
HSTHNTB=
toán trung bình, phản ánh mốii quan hệ giữa các khoản phải trả đối với tiền mua hàng chịu mỗi năm
HSTTTB =
số hàng còn lưu kho, hệ số này cho biết khả năng dùUng vốn đầu vào của các
Trang 14hàng hóa có tính luân chuyển cao, tránh được tình trạng lưu kho bởi các hàng kém tính linh hoạt.
HSHLK =
Gtrị hàng hóa lưu kho trung bình
1.3 Nhóm chỉ tiêu về hệ số nợ của công ty
Hệ số này cho biết tình trạng nợ hiện thời của công ty và có tác động đến nguồn vốn vay và lãi suất khi đáo hạn; bao gồm các hệ số sau:
Hệ số nợ càng thấp thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng ít và ngược lại Hệ số này được tính như sau:
HSNTTS = Tổng nợ / Tổng TS
hạn và vốn cổ phần và độ cao (thấp) của hệ số này phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh khác nhau của từng công ty
Nợ dài hạn + Gtrị tài sản đi thuê
cổ phiếu thường xuyên thay đổi theo thời gian Tuy nhiên trên thực tế người ta thường hay đơn giản hoá việc tính toán bằng cách sử dụng số cổ phiếu đang lưu
Trang 15cách tính thêm cả các cổ phiếu chuyển đổi, các bảo chứng (warrant) vào lượng cổ phiếu đang lưu thông.
EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá
cổ phiếu Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ P/E Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công thức tính trên
Hai doanh nghiệp có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít
cổ phần hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn Nếu như các yếu tố khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo
"chất lượng" của tỉ lệ này Tốt hơn hết là không nên dựa vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác
1.5 Hệ số P/E
P/E =
Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - P) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share – EPS)
Trong đó giá thị trường P của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất
P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí
Trang 16Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao
P/B =
Chỉ số P/B (Price-to-Book ratio – Giá/Giá trị sổ sách) là tỷ lệ được sử dụng để
so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó Tỷ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó
Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ tìm kiếm các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua
Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỷ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hoặc
là thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp
Nếu như điều kiện đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị thật
Còn nếu điều thứ hai đúng, thì có khả năng lãnh đạo mới của công ty hoặc các điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty, tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đông
Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi
sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao
Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi nhà đầu tư xem xét các doanh nghiệp có mức
độ tập trung vốn cao hoặc các công ty tài chính, bởi giá trị tài sản của các công ty này tương đối lớn
Trang 17Vì công tác kế toán phải tuân thủ những tiêu chuẩn ngặt nghèo, nên giá trị ghi
sổ của tài sản hoàn toàn không tính tới các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do công ty tạo ra Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các công ty dịch vụ vì giá trị tài sản hữu hình của
họ không lớn
1.7 Hệ số ROA
Tổng tài sànROA là tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (Return on total assets) ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản) ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau
Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn
Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà chi cho các hoạt động đầu tư, đó không phải là một dấu hiệu tốt Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời
1.8 Hệ số ROE
Vốn cổ phần thườngROE là tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (Return on common equyty) ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường
Trang 18Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào.
Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn
Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau:
- ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng
- ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công
ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không
2 Một số mô hình sử dụng để phân tích động thái giá của cổ phiếu
Có thể nói có rất nhiều nhà đầu tư hoặc nhà phân tích lựa chọn các mô hình để phân tích động thái giá của cổ phiếu Cùng một mô hình nhưng cũng có thể cho ra rất nhiều những kết quả khác nhau Điều khác biệt này được tạo ra đó là do bất kỳ
mô hình nào được áp dụng cũng cần có cơ sở lý thuyết cũng như điều kiện áp dụng của nó Trong điều kiện này thì mô hình này là phù hợp còn lại không đúng trong các mô hình khác Chính vì thế nên việc lựa chọn mô hình để tiến hành phân tích cũng phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm cũng như kỹ năng phân tích của các nhà phân tích Trong phạm vi làm đề tài tốt nghiệp, em xin được lựa chọn những mô hình sau để tiến hành phân tích dựa trên khả năng và cơ sở dữ liệu của mình
2.1 Mô hình chỉ số đơn – mô hình SIM
Mô hình SIM được ra đời vào năm 1963 bởi William Sharpe Mô hình này đề cập mối quan hệ tuyến tính giữa lợi suất tài sản và lợi suất chỉ số thị trường Về
Trang 19hình thức, SIM giống như mô hình hồi quy đơn nên có thể sử dụng phương pháp kinh tế lượng để phân tích và ước lượng mô hình.
2.1.1 Các giả thiết của mô hình
Cho I là chỉ số của thị trường, ri, rI lợi suất tài sản i, chỉ số I Đối với thị trường Việt nam có thể sử dụng chỉ số Vn-Index cho sàn HOSE, chỉ số HASTC cho sàn giao dịch Hà nội
Trang 20Quan hệ tuyến tính giữa lợi suất tài sản i và lợi suất chỉ số và có dạng:
2.1.3 Ý nghĩa các tham số và giả thiết của SIM
γ i : biểu thị phần lợi suất cố định, lợi suất riêng có của tài sản i
βi : hệ số này xác định mức độ nhạy cảm của lợi suất tài sản i với sự biến động của thị trường
βi < 1 tài sản i được gọi là thụ động
βi > 1 tài sản i được gọi là năng động
ε i : là phần biến động ngẫu nhiên lợi suất riêng có của tài sản i
bằng 0 hay nói cách khác sự tăng giảm giá tài sản do tác động của các yếu tố ngẫu nhiên ngoài thị trường sẽ bằng 0
Cov(ε i, rI) = 0 : tức là sự biến động ngẫu nhiên riêng có của tài sản không liên quan đến biến động của thị trường (hay ε i và rI không tương quan với nhau)
Cov(ε i, ε k) = 0 với i # k: tức là sự biến động ngẫu nhiên riêng có của các tài sản là không liên quan với nhau (ε i và rI không tương quan với nhau)
2.1.4 Ước lượng và kiểm định mô hình SIM
a Phương pháp ước lượng SIM
Trang 21Như đã nói ở trên, ta có thể viết lại mô hình SIM dưới dạng mô hình kinh tế lượng như sau: rit= γ i + β iI * rIt + ε it (1)
Với tư cách là một hàm hồi qui tổng thể (PRF) phương trình (1) còn được gọi
là “đường đặc trưng” của tài sản i
Do các chuỗi lợi suất ri , rI trong tài chính đều là các chuỗi thời gian nên để tránh trường hợp hồi qui giả mạo đòi hỏi chuỗi {rit} và chuỗi {rIt} phải là các chuỗi dừng Ước lượng mô hình SIM ta tiến hành các bước sau:
Thu thập và xử lý các chuỗi số liệu về lợi suất tài sản, lợi suất thị trường (có thể tính toán theo ngày, tuần, tháng, năm…)
Kiểm định tính dừng của các chuỗi lợi suất (theo tiêu chuẩn Dickey- Fuller)
Nếu chuỗi lợi suất là dừng, ta dùng các mô hình AR, MA, ARMA, ARIMA… để ước lượng lại chuỗi đó
Tiến hành hồi qui phương trình (1) bằng các phương pháp sau:
- OLS nếu các giả thiết của OLS đã được thỏa mãn
- Nếu các giả thiết của OLS là không thỏa mãn (ví dụ như: phương sai không thuần nhất, có tự tương quan, có đa cộng tuyến); ta phải tiến hành hiệu chỉnh mô hình
- ARCH hoặc GARCH
b Kiểm định mô hình SIM
Ta đi kiểm định các khuyết tật của mô hình như kiểm định dạng hàm đúng( kiểm định Ramsey), kiểm định tự tương quan ( kiểm định Breusch-Godfrey), kiểm định phương sai sai số thay đổi( kiểm định White)
2.1.5 Ứng dụng mô hình SIM trong phân tích rủi ro của tài sản
Mô hình SIM được xem như công cụ phân tích rủi ro của tài sản, rủi ro của danh mục, xây dựng danh mục tiếp tuyến… nhưng trong khuôn khổ đề tài em xin
trình bày về ứng dụng mô hình SIM trong phân tích rủi ro của tài sản.
Giả sử lợi suất của tài sản i tuân theo mô hình SIM:
ri = γ i + β iI * rI + ε i
Ta kí hiệu σi2 ; σI2 ; σ ε2 lần lượt là phương sai của lợi suất tài sản i, của chỉ số thị trường I và của nhiễu trắng εi Khi đó:
Trang 22σi2 = β2
iI σI2 + σε2
Ở đây có thể coi σi2 là “tổng rủi ro” của tài sản i Rủi ro này được chia thành 2
phần như trong công thức trên Vì σI2 là rủi ro của chỉ số I có liên quan đến mọi tài sản nên β2
iI σI2 gọi là “rủi ro hệ thống”( hay “rủi ro thị trường”) σε2 là rủi ro gây ra bởi nhiễu trắng εi đặc trưng riêng cho tài sản i đó, cho nên σε2 được gọi là “rủi ro
riêng” ( hay “rủi ro phi hệ thống”) của tài sản i Như vây, ta có thể phân tích tổng
rủi ro của tài sản i thành:
Tổng rủi ro của tài sản = Rủi ro hệ thống + Rủi ro phi hệ thống
Bằng cách phân tích này ta có thể biết được yếu tố rủi ro của một tài sản tài chính phụ thuộc vào tình hình thị trường hay phụ thuộc vào chính bản thân nó,qua
đó đánh giá xem tài sản đó có nên đưa vào danh mục đầu tư hay không?
2.2 Mô hình ARCH
Mô hình này được Engle đưa ra năm 1982 Tư tưởng cơ bản của nó là:
- Lợi suất của tài sản trung bình (U t) không tương quan chuỗi
- U t có thể mô tả bằng một hàm bậc hai của các giá trị trễ
Các giả thiết của mô hình:
- Độ rủi ro có thế mang tính mùa vụ ( quan hệ bầy đàn), biến động theo thời gian với cơ chế liên tục
- Lợi suất, độ rủi ro và phần dư là một chuỗi dừng
phương sai bằng 1
- Các hệ số αi thỏa mãn một số điều kiện để phương sai không điều kiện hữu hạn
- ut có phân phối chuẩn hoặc phân phối T- student
Mô hình ARCH tổng quát (ARCH(m)):
2 t m t m
t =α +αU − + +α U −
σ
α0〉0, αi ≥0 ∀i
Trang 23•: Biến ngẫu nhiên độc lập có cùng 1 phân bố và E(εt)=0, Var(εt)=1
được chuẩn hóa
1 α
ασ
2 0
Một số nhược điểm của mô hình ARCH:
nhiễu đều có ảnh hưởng dương đến phương sai do đó mà bất kể các nhiễu âm hay dương đều có ảnh hưởng dương đến phương sai Các cú sốc lớn về mặt trị tuyệt đối
sẽ có xu hướng dẫn đến các cú sốc lớn hơn, điều này không phải lúc nào cũng đúng trong thực tế
Trang 24- Mô hình ARCH chỉ cho biết cơ chế biến đổi của phương sai (rủi ro) thông qua độ dài của các yếu tố trễ nhưng mô hình không giải thích được vì sao có cơ chế như vậy.
- Thông thường mô hình ARCH dự báo phương sai cao so với giá trị thực
hạn thì khi đó 0 ≤ α1 <13 Điều kiện này đối với các mô hình ARCH bậc cao rất khó được thể hiện
2.3 Mô hình GARCH
Mô hình GARCH tổng quát (GARCH(m,s)):
Các giả thiết của mô hình:
- Lợi suất, độ rủi ro và phần dư là một chuỗi dừng
- Độ dao động của cổ phiếu vừa phụ thuộc vào độ dao động trước đó, vừa phụ thuộc vào nhiễu gây ra biến gây ra biến động trong giá
- εt là biến ngẫu nhiên độc lập có cùng phân phối
- Phương sai không điều kiện và phương sai có điều kiện dương
s
j j i
t i
1
2 1
2 0
2
σβα
ασ
α0 >0; αi,βj ≥0 ; ( ) 1
) max(
βα
m i khi
βα
Điều kiện đối với tổng của αi & βi đảm bảo phương sai không điều kiện hữu hạn (đảm bảo chuỗi hội tụ)
Trang 25=
−+
2 0
1
2 1
2 0
2 2
1
2 1
2 1
2 2
2 2
)(
)(
s m
i
s
j j t j i
t i i
s
j j t j t j
m
i i t i t
t t
t t t
t t t
t t t
V U
V U U
V U
V U
V U
U V
ββ
αα
βα
ασ
σσ
+
=
j j t j t
s m
1
2 0
2
)(
ασ
đây là phương sai không điều kiện dùng để
tính giá của quyền chọn trong trường hợp dài hạn
Mô hình GARCH(1,1): đây là mô hình thường được dùng nhất do mô hình
ước lượng khá đơn giản mà khả năng dự báo vẫn cao
r t =µt +U t
U t =σtεt với εt ~ iid (phân bố độc lập giống nhau)
1 1
2 1 1 0
2
−
− ++
t α αU βσσ
α0 >0 ; 0≤α1,β1 <1 ; α1 +β1 <1
t t t
t
t t t
t t
t t t t
t t
V V U
U
V U U
V U có ta
V U U
V
+
−+
+
=
⇔
−+
2 1 1 1 0 2
1
2 1 1
2 1 1 0 2
2 2 2
2
)(
)(
ββ
αα
βα
α
σσ
1 1 1 0
2 = +( + ) −
Điều kiện t ≥ 2, lấy e12 =σ12 với e là phần dư khi ước lượng mô hình
Thông thường mô hình GARCH là mô hình dùng cho ngắn hạn nên nó chỉ dự báo tốt trong ngắn hạn do đó phải thường xuyên tính lại
Trang 26CHƯƠNG III
ÁP DỤNG PHÂN TÍCH ĐỘNG THÁI GIÁ CỦA CỔ PHIẾU NHÓM
NGÀNH DƯỢC PHẨM
1.Giới thiệu về các công ty trong nhóm ngành dược phẩm
Do kiến thức và trình độ có hạn cũng như gặp khá nhiều khó khăn về việc thu thập dữ liệu nên em chỉ lựa chọn 1 số cổ phiếu tiêu biểu có giá cao trong nhóm ngành này để tiến hành phân tích Một số mô hình sẽ phân tích đầy đủ các cổ phiếu, một số khác sẽ chỉ sử dụng một số cổ phiếu có đầy đủ dữ liệu để phân tích, Sau khi tiến hành nghiên cứu và chọn lọc em xin giới thiệu về các công ty có cổ phiếu được niêm yết trên sàn HN-index và sàn HoSE
1.1 Công ty cổ phần dược Hậu Giang ( DHG)
- Năm 1992: Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang chuyển đổi thành DNNN
Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang và hạch toán kinh tế độc lập trực thuộc Sở Y
tế TP Cần Thơ
- Ngày 02/09/2004: Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang TP Cần Thơ chuyển đổi mô hình hoạt động thành CTCP Dược Hậu Giang và chính thức đi vào hoạt động với vốn điều lệ ban đầu là 80 tỷ đồng
Trang 27-Cổ phiếu DHG của công ty cổ phần dược Hậu Giang được niêm yết trên sàn HoSE vào ngày 21/12/2006 Hiện nay vốn thị trường của công ty ước tính đạt trên
4100 tỷ đồng
1.1.2 Lĩnh vực kinh doanh trong ngành dược phẩm
- Sản xuất kinh doanh dược;
- Xuất khẩu: dược liệu, dược phẩm theo quy định của Bộ Y tế
- Nhập khẩu: thiết bị sản xuất thuốc, dược liệu, dược phẩm, trang thiết bị y tế theo quy định của Bộ Y tế;
- Sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị sản xuất thuốc tự chế tạo tại Công ty;
- Lợi nhuận: Dược Hậu Giang là một trong những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất trong ngành
Doanh thu hàng sản xuất của Dược Hậu Giang chiếm 10% doanh thu hàng sản xuất trong nước Hệ thống phân phối của Công ty trải dài từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau với các kênh phân phối đa dạng, có thể cung cấp sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách thuận tiện nhất Đây là điểm mạnh nổi trội của Dược Hậu Giang so với các doanh nghiệp cùng ngành vào thời điểm hiện tại
hiệu:
Trang 28- "Top 10 Thương hiệu mạnh nhất Việt Nam" do Thời báo Kinh tế Việt Nam
tổ chức
- "Top 100 Thương hiệu dẫn đầu Việt Nam" do Báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức
- Giải “Quả cầu vàng 2006” do Trung tâm phát triển tài năng – Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức
- "Thương hiệu được yêu thích" thông qua bình chọn trên trang web www.thuonghieuviet.com
- Các giải thưởng khác về thương hiệu
Tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa công ty trong năm
2004, lợi thế kinh doanh mà chủ yếu là giá trị thương hiệu của Dược Hậu Giang được xác định là 10,4 tỷ đồng
2006) được người tiêu dùng bình chọn là “Hàng Việt Nam chất lượng cao” Dược Hậu Giang là đơn vị đầu tiên của Việt Nam cho ra đời 2 dòng sản phẩm kháng sinh thế hệ mới thuộc dạng đặc trị dành cho hệ thống điều trị là Haginat và Klamentin (năm 2005); các sản phẩm đặc trị khác: Apitim 5mg - điều trị cao huyết áp, đau thắt ngực ổn định, Trimetazidin - điều trị đau thắt ngực, Atorlip - thuốc hạ lipid máu, Glumefor - điều trị tiểu đường
sản xuất tân dược đầu tiên đạt các tiêu chuẩn WHO GMP/GLP/GSP, ISO 9001:
2000, ISO/ IEC 17025
Theo Báo cáo của Cục quản lý dược Việt Nam vào tháng 6/2006: cả nước có
174 cơ sở sản xuất thuốc (162 cơ sở trong nước, 12 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài), có 54 cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP (11 cơ sở đạt WHO-GMP) gồm: 13 cơ sở
có vốn đầu tư nước ngoài, 5 cơ sở liên doanh, còn lại là các công ty trong nước Trong số 54 cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP: 31 cơ sở được chứng nhận GLP,
16 cơ sở được chứng nhận GSP
các Ngân hàng thương mại và các nhà cung ứng Vào thời điểm ngày 31/12/2006, công ty chỉ mới sử dụng 70% trong tổng hạn mức tín dụng (240 tỷ đồng) do các
Trang 29Công ty cũng đã tạo được uy tín lớn với các đối tác cung ứng do sức mua ổn định, khối lượng nhập khẩu lớn, thanh toán đúng hạn, tạo lợi thế trong cạnh tranh Vào ngày 21/12/2006, cổ phiếu DHG của CTCP Dược Hậu Giang chính thức giao dịch tại Trung tâm GDCK TP Hồ Chí Minh và luôn được các nhà đầu tư lớn, có tiêu chí đầu tư lâu dài quan tâm.
Dược Hậu Giang có hệ thống phân phối trải dài từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau với các kênh phân phối đa dạng, có thể cung cấp các sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách thuận tiện nhất Thương hiệu Dược Hậu Giang nằm trong 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam do thời báo kinh tế Việt nam tổ chức, trong 100 thương hiệu mạnh Việt Nam do người tiêu dùng bình chọn qua Báo Sài Gòn tiếp thị, đứng thứ 7 trong thị trường Dược Phẩm Việt Nam và đứng đầu trong thị trường Generics
1.2 Công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây
1.2.1 Lịch sử hình thành
Công ty cổ phần Dược phẩm Hà Tây tiền thân là Xí nghiệp Dược phẩm Hà Tây được thành lập năm 1965 Năm 1985, Xí nghiệp Dược phẩm Hà Tây sát nhập với Công ty Dược phẩm hà Tây và Công ty Dược liệu Hòa Bình thành Xí nghiệp liên hợp Hà Sơn Bình
Năm 1991, Xí nghiệp liên hợp Dược Hà Sơn Bình chia thành Công ty Dược phẩm Hà Tây và Công ty Dược phẩm Hòa Bình
Năm 2000, Công ty Dược phẩm Hà Tây được chuyển đổi thành Công ty cổ phần Dược phẩm Hà Tây theo quyết định số 1911/QĐ-UB ngày 21/12/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây
Cổ phiếu DHT của công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây được niêm yết lần đầu tiên trên sàn HNX vào ngày 12/3/2008 Hiện nay vốn thị trường của công ty ước tính khoảng 145 tỷ đồng
1.2.2 Lĩnh vực kinh doanh trong ngành dược phẩm
- Sản xuất kinh doanh dược phẩm, dược liệu, mỹ phẩm, thực phẩm thuốc và trang thiết bị y tế
- Xuất nhập khẩu dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm thuốc và trang thiết bị y tế
- Mua bán hóa chất và hóa chất xét nghiệm
- Kinh doanh vacxin, sinh phẩm y tế
Trang 301.2.3 Vị thế của công ty
Công ty dược phẩm Hà Tây được thành lập từ năm 1965 Từ ngày 01/01/2001, Công ty được chuyển đổi thành Công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây, lấy tên giao dịch là HATAPHAR Chức năng nhiệm vụ chủ yếu của công ty là: Sản xuất, Kinh doanh, Xuất nhập khẩu thuốc chữa bệnh, hoá chất nguyên liệu làm thuốc, dược liệu
và trang thiết bị dụng cụ y tế Với kinh nghiệm 40 năm trưởng thành, HATAPHAR luôn là đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu nộp ngân sách đề ra có tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong 10 năm lại đây
Ngày 21 tháng 09 năm 2006 Cục quản lý Dược - Bộ Y tế đã chính thức cấp chứng chỉ cho dây chuyền sản xuất thuốc viên nén, viên bao, viên nang cứng, nang mềm, thuốc bột và thuốc cốm không chứa kháng sinh b-lactam, dây chuyền sản xuất thuốc viên nén, viên bao, viên nang cứng, thuốc bột và thuốc cốm có chứa kháng sinh nhóm b-lactam và dây chuyền sản xuất thuốc tiêm bột có chứa kháng sinh Cephalosporin đạt tiêu chuẩn GMP-WHO và phòng kiểm tra chất lượng đạt tiêu chuẩn GLP, kho đạt tiêu chuẩn GSP
1.3 Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Y tế Domesco
1.3.1 Lịch sử hình thành
Công ty được thành lập từ tháng 7/1985 theo Quyết định số 349/TCCB của Uỷ Ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp với tên gọi là Công ty Vật tư Thiết bị Y tế mà tiền thân là Trạm Vật tư Y tế trực thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp Chức năng nhiệm vụ chính của Công ty Vật tư Thiết bị Y tế là tiếp nhận, quản lý tổ chức sản xuất, thu mua, cung ứng và sửa chữa các thiết bị, dụng cụ y tế phục vụ cho ngành Y tế Trong quá trình hoạt động từ khi thành lập đến nay, Công ty đã qua 7 lần thay đối tên đăng kí kinh doanh để thích nghi với vi phạm hoạt động Từ 1/1/2004 đến nay, công ty hoạt động với tên gọi Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Y tế Domesco Năm 2003, theo quyết định số 392/ QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án tổng thể, xắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Uỷ ban Nhân Dân tỉnh Đồng Tháp đến hết năm 2005, Domesco là doanh nghiệp thực hiện
cổ phần hoá, trong đó nhà nước nắm giữ trên 51% vốn điều lệ Công ty đã chọn hình thức cổ phần hoá là bán một phần vốn nhà nước hiện có tại Doanh nghiệp, kết hợp với bán cổ phiếu để tăng vốn điều lệ
Trang 31Ngày 01/01/2004, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế Domesco chính thức
đi vào hoạt động theo QĐ số 144/ QĐ.UB.TL ngày 27/11/2003 của uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp và giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 30/12/2003
Cổ phiếu DMC của công ty cổ phần xuất nhập khẩu Y tế Domesco được niêm yết lần đầu tiên vào ngày 25/12/2006 trên sàn HoSE, hiện nay vốn thị trường của công ty ước tính khoảng 600 tỷ đồng
1.3.2 Lĩnh vực kinh doanh trong ngành dược phẩm
- Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu thuốc, nguyên liệu, phụ liệu dùng làm thuốc cho người
- Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu nước hoa, các loại hóa-mỹ phẩm từ nguồn nguyên liệu trong nước & nhập khẩu
- Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu thực phẩm chế biến, nước uống tinh khiết, nước khoáng thiên nhiên và nước uống từ dược liệu, nước uống không cồn
- thị trường xuất khẩu chính của công ty là Japan, HongKong, Lao, Campuchia, Philippine ( đối tượng mặt hàng chính là nguyên liệu có nguồn gốc dược thảo, thành phẩm sản xuất của công ty
- Thị trường Nhập Khẩu: Châu Âu, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, HongKong, Khối ASEAN, ( đối tượng mặt hàng chính là : thuốc & nguyên liệu dùng làm thuốc; trang thiết bị ngành y, dược, phòng thí nghiệm & dụng cụ y tế )
ở các địa phương: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên Với thị trường nước ngoài, công ty đã đặt đại diện làm công tác liên kết tiếp thị ở Lào, Myanmar, Campuchia và mở rộng suất khẩu sang Mỹ, Nhật Thị phần tính trên lĩnh vực sản xuất của Domestic năm 2005 ước tính khoảng 5.5 % tổng thị phần cả nước
Trang 32- Năm 2005, Domesco là doanh nghiệp xếp thứ 5 trong lĩnh vực sản xuất thuốc, kim ngạch xuất khẩu chiếm 4.1% tổng kim ngạch xuất khẩu của các công ty dược Bắt đầu năm 2003, việc xuất khẩu các sản phẩm của công ty sng thị trường nước ngoài đã được chú trọng.
1.4 Công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm
1.4.1 Lịch sử hình thành
- Tháng 09/1983: Tiền thân của Imexpharm là Xí nghiệp Liên Hiệp Dược Đồng Tháp, trực thuộc Sở Y tế Đồng Tháp, được thành lập theo Quyết định số 284/TCCQ ngày 28/09/1983 của Sở Y tế Đồng Tháp Tổng số CBNV là 70 người, sản phẩm của xí nghiệp lúc này được sản xuất bằng thủ công với khoảng 10 loại sản phẩm, doanh thu hàng năm khoảng 30 tỷ đồng
-Tháng 11/1992: Xí nghiệp liên hiệp dược Đồng Tháp đổi tên thành Công ty dược phẩm Đồng Tháp trực thuộc UBND Tỉnh Đồng Tháp theo Quyết định số 12/QĐTL của UBND Tỉnh Đồng Tháp Bắt đầu từ lúc này Công ty được xây dựng theo hướng phát triển bền vững và lâu dài hơn, máy móc và trang thiết bị sản xuất được đầu tư mua sắm mới, đội ngũ nhân lực được chú trọng phát triển Tổng số CBNV tăng lên 200 người, doanh thu hàng năm của Công ty đạt trên 150 tỷ đồng-Tháng 11/1999: Công ty dược phẩm Đồng Tháp đổi tên thành Công ty Dược phẩm Trung ương 07 trực thuộc Tổng Công ty Dược Việt Nam theo quyết định 3466/QĐ BYT
-Tháng 07/2001: Công ty Dược phẩm Trung ương 07 chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần với tên gọi mới là Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm theo quyết định 907/QĐTg ngày 25/07/2001 với vốn điều lệ là 22
tỷ đồng
Sau nhiều lần “lột xác”, Imexpharm đã không ngừng phát triển và tạo được tiếng vang là công ty Dược phẩm uy tín hàng đầu Việt Nam, một thương hiệu của chất lượng và hiệu quả trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng
-Cổ phiếu IMP của công ty Dược phẩm Imexpharm được niêm yết trên sàn HOSE lần đầu tiên vào ngày 4/12/2006 Hiện nay vốn thị trường của công ty ước tính khoảng 570 tỷ đồng
Trang 331.4.2 Lĩnh vực kinh doanh trong ngành dược phẩm
- Sản xuất thuốc tân dược chữa bệnh cho người, các chất diệt khuẩn, khử trùng cho người, sản xuất thuốc y học dân tộc, cổ truyền
- Mua bán thuốc, dược phẩm, dược liệu hóa chất, nguyên liệu của ngành dược
- Mua bán thiết bị y tế
- Kho bảo quản dược phẩm
- Sản xuất và mua bán các thực phẩm dinh dưỡng
- Về mạng lưới thị trường: IMEXPHARM có 8 cửa hàng trung tâm trong tỉnh
và 5 chi nhánh ngoài tỉnh, ngoài ra còn thực hiện mô hình liên kết với các công ty Dược trong cả nước làm đại lý phân phối sản phẩm, nhờ vậy sản phẩm của IMEXPHARM đáp ứng đầy đủ và kịp thời đến tận tay khách hàng với chất lượng, sản phẩm và dịch vụ tốt nhất
1.4.3 Vị thế công ty
- Theo cục quản lý dược VN, cho đến nay cả nước đã có 174 cơ sở sản xuất thuốc, với 162 cơ sở trong nước và 12 cơ sở là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Có 54 cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP trong đó có 8 cơ sở đạt GMP - WHO Những cơ sở đạt GMP có 13 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài, 5 cơ sở liên doanh, còn lại là các công ty trong nước Tuy nhiên, trong 54 cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP chỉ
có 31 cơ sở được chứng nhận thực hành kiểm nghiệm thuốc tốt ( GLP ) và 16 cơ sở được chứng nhận bảo quản thuốc tốt ( GSP )
- Theo số liệu thống kê 2003, 5 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược trong nước có doanh thu cao nhất là dược Hậu Giang ( 295 tỷ ); Imexpharm ( 233.5 tỷ); Mekophar ( 267 tỷ ); Sanophi - Synthelabor VN ( 214 tỷ ); Vidiphar ( 150 tỷ )
Imexpharm là một trong những công ty sản xuất dược hàng đầu VN đạt đầy
đủ các tiêu chuẩn của GMP từ sản xuất đến tồn trữ
1.5 Công ty cổ phần Hóa Dược phẩm Mekophar
1.5.1 Lịch sử hình thành
- Công ty Cổ phần Hoá - Dược phẩm Mekophar tiền thân là Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 24 được thành lập theo Quyết định số 1589/QĐ-TTg ngày 19
Trang 34tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 24 đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Dược Việt Nam thành Công ty cổ phần.
- Vốn điều lệ ban đầu của Công ty khi cổ phần hoá là 36 tỷ đồng trong đó nhà nước nắm giữ 45% Ngày 27 tháng 03 năm 2006, Đại hội đồng cổ đông thường niên
đã biểu quyết thông qua việc phát hành cổ phiếu thưởng nâng vốn điều lệ lên 54 tỷ đồng, nguồn sử dụng cho việc tăng vốn lấy từ lợi nhuận giữ lại của Công ty
- Vào năm 2006, Công ty tiến hành đăng ký chào bán 3 triệu cổ phiếu ra công chúng nâng vốn điều lệ lên thành 84 tỷ đồng
- Năm 2008, Công ty tăng vốn điều lệ lên 84 tỷ đồng và 92,1 tỷ đồng
- Cổ phiếu MKP của công ty Cổ phần Hóa- Dược phẩm Mekophar lần đầu tiên được niêm yết vào ngày 2/6/2010 trên sàn HoSE Hiện nay vốn thị trường của công
ty ước tính khoảng 490 tỷ đồng
1.5.2 Lĩnh vực kinh doanh trong ngành dược phẩm
- Sản xuất và kinh doanh, xuất nhập khẩu dược phẩm, dược liệu, hoá chất, nguyên phụ liệu cho ngành dược, dụng cụ y tế;
-Sản xuất bao bì dùng trong ngành dược (chai nhựa, hộp giấy, thùng carton);
- Sản xuất, mua bán hàng thực phẩm công nghệ (trừ sản xuất, chế biến thực phẩm tươi sống);
1.5.3 Vị thế của công ty
- Theo số liệu được ghi nhận tại báo cáo tổng kết năm 2009 công bố trên thị trường chứng khoán Việt Nam, doanh thu thuần của một số doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược điển hình trong nước như: Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang (1.746 tỷ), Công ty Cổ phần Hoá - Dược phẩm Mekophar (647 tỷ đồng), Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm (660 tỷ đồng), Công ty Cổ phần XNK y tế Domesco (1.068
tỷ đồng), Công ty Cổ phần Dược Cửu Long (576 tỷ đồng), Công ty Cổ phần Dược phẩm OPC (371 tỷ đồng), Công ty Cổ phần Traphaco (747 tỷ)
- Về xuất khẩu, hầu hết các doanh nghiệp đều gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới Tuy nhiên, theo báo cáo tổng kết năm 2009 của Tổng Công ty dược Việt nam năm 2009 kim ngạch xuất khẩu của các thành viên đạt
Trang 35đó kim ngạch xuất khẩu của MEKOPHAR trong năm 2009 đạt 5,71 triệu USD, chiếm trên 17% tổng doanh thu thuần Thị trường xuất khẩu truyền thống như khu vực Châu Âu: Nga, Ukraina, Moldova, một số nước Đông Âu cũ; khu vực Châu Á: Lào, Campuchia, Myanma, Malayxia; khu vực Châu Phi: Congo,Nigeria
- Công ty Cổ phần Hoá - Dược phẩm Mekophar là một trong những công ty sản xuất Dược hàng đầu của Việt Nam đạt đủ các tiêu chuẩn của GMP-WHO từ sản xuất, kiểm nghiệm đến tồn trữ và là đơn vị có nhà máy sản xuất nguyên liệu kháng sinh duy nhất trong cả nước
1.6 Công ty cổ phần dược phẩm Pharmedic
1.6.1 Lịch sử hình thành
- Công ty Xuất nhập khẩu Trực dụng Y tế Pharimex được thành lập theo quyết định số 126/QĐ-UB ngày 30/6/1981 của UBND TP.HCM là tiền thân của Công ty
cổ phần Dược phẩm Dược liệu Pharmedic
- Năm 1983, Công ty Pharimex đã phải chuyển thể thành Xí nghiệp Công tư Hợp doanh Dược phẩm Dược liệu theo quyết định số 151/QĐ-UB ngày 24/9/1983 của UBND TP.HCM
- Năm 1997, Xí nghiệp đã được chuyển thể thành Công ty cổ phần Dược phẩm Dược liệu Pharmedic theo quyết định số 4261 ngày 13/8/2007
1.6.2 Lĩnh vực kinh doanh trong ngành dược phẩm
- Sản xuất kinh doanh Dược phẩm, Dược liệu, mỹ phẩm, vật tư, y tế và các sản phẩm khác thuộc ngành y tế
- Liên doanh, liên kết với tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước
- Gia công chế biến 1 số nguyên phụ liệu (chủ yếu từ Dược liệu để sản xuất 1
số mặt hàng có tính chất truyền thống)
- In và ép bao bì bằng nhựa, nhôm, giấy
- Sản xuất, mua bán hóa chất (trừ hóa chất có tính độc hại mạnh), chế phẩm diệt côn trùng-diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế
1.6.3 Vị thế của công ty
- Công ty Cổ phần Dược phẩm Dược liệu Pharmedic là một trong 86 doanh nghiệp đạt chuẩm GMP (theo thống kê của Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại - Bộ Công thương)