1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định giá các cổ phiếu nhóm ngành khách sạn, du lịch qua mô hình CAPM

61 887 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng nhu cầu đó mà nhiều công ty du lịch khách sạn được hình thành và theo phát triển chung cũng có nhiều công ty hình thức này cổ phần hóa, phát hành cổ phiếu trên thị trường Cùng

Trang 1

MỤC LỤC

2.1.1 Các giả thiết của mô hình CAPM 13

2.1.1.1 Các giả thiết về các nhà đầu tư 13

2.1.1.2 Các giả thiết đối với thị trường và các tài sản trên thị trường 14

2.1.2 Các danh mục và các biểu diễn hình học của mô hình CAPM 14

2.2.1 Đường thị trường chứng khoán (SML)_ biểu diễn hình học của mô hình CAPM 18

2.2.2 Mối quan hệ giữa CML và SML 20

2.2.3 Các đặc tính của CAPM 21

2.2.3.1 Phương trình biểu diễn CAPM 21

2.2.3.2 Các đặc tính 22

2.3 Ứng dụng của mô hình CAPM 23

2.3.1 Phân tích rủi ro của tài sản, danh mục 23

2.3.2 Tính hệ số của tài sản, danh mục 24

Trang 2

MỞ ĐẦU

Lý do lựa chọn đề tài

Ngày nay, thị trường chứng khoán ngày càng phát triển đòi hỏi nhà đầu

tư cần có cái nhìn cụ thể về giá cổ phiếu để đưa ra những quyết định đầu tư hiệu quả Vì vậy mà định giá cổ phiếu là một điều cần thiết và quan trọng Định giâ cổ phiếu giúp nhà đầu tư nhận định được giá cổ phiếu, giúp nhà đầu

tư đưa ra những quyết định đầu tư sáng suốt Khách sạn du lịch là một ngành khá quan trọng trong thời gian hiện nay Đời sống ngày càng phát triển làm cho nhu cầu giải trí, du lịch của con người ngày càng gia tăng Để đáp ứng nhu cầu đó mà nhiều công ty du lịch khách sạn được hình thành và theo phát triển chung cũng có nhiều công ty hình thức này cổ phần hóa, phát hành cổ phiếu trên thị trường Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, cổ phiếu nhóm ngành “khách sạn, du lịch” cũng ngày càng tăng lên Hiện nay trên thị trường chứng khoán có hơn mười công ty thuộc nhóm ngành “khách sạn, du lịch” đã đăng kí niêm yết cổ phiếu Trong thời gian qua, nền kinh tế

có nhiều biến động,các cổ phiếu nhóm ngành “khách sạn, du lịch” vì vậy mà

có thêm nhiều mã và cũng có những cổ phiếu do nhiều lý do mà không còn hoạt động Tuy vậy “khách sạn, du lịch” vẫn là ngành thu hút khá nhiều đầu

tư Bất kì hiện tượng nào cũng có hai mặt đối lập và đâu tư chứng khoán cũng vây, nó sẽ mang lại cho bạn lợi nhuận siêu ngạch nhưng cũng có thể lấy đi của bạn tất cả Vì vậy muốn đầu tư hiệu quả cần phải có những hiểu biết nhất định, phải có các công cụ định giá cổ phiếu để đưa ra hướng đầu tư mang lại lợi nhuân CAPM là một trong số công cụ định giá khá tốt hiện nay

Vì vậy đề tài của em là “Định giá các cổ phiếu nhóm ngành khách sạn, du lịch qua mô hình CAPM”.

Trang 3

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT ĐỊNH GIÁ CÔ PHIẾU

1.1 Cổ phiếu

1.1.1 Cổ phiếu các công ty nhóm ngành “khách sạn, du lịch”

“Khách sạn du lịch” là một ngành không còn mới nhưng cũng là một trong số những ngành thu hút lượng đầu tư khá lớn hiện nay Trên thị trường có rất nhiều công ty thuộc nhóm ngành này nhưng mới có 12 công ty đăng kí phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

Công ty có thâm niên lâu nhất trong thị trường chứng khoán của nhóm ngành này là công ty “cổ phần khách sạn Sài Gòn” với mã chứng khoán

“SGH” Công ty lên sàn vào ngày 16/7/2001, là một trong số các công ty lên sàn đầu tiên của chứng khoán Việt nên có thể nói SGH đã chứng kiến và trải qua những thăng trầm của thị trường chứng khoán

Tiếp đó là “công ty cổ phần HACINCO”, nhưng cũng phải đến ngày 4/1/2006 công ty này mới phát hành với mã chứng khoán HSC Hiện nay công ty này đã ngừng giao dịch trên thị trường

Theo dòng thời gian, công ty “cổ phần cáp treo núi Bà Tây Ninh”, mã chứng khoán TCT Công ty cổ phần cáp treo núi Bà Tây Ninh tiền thân là bộ phận cáp treo trực thuộc công ty du lịch Tây Ninh Bộ phận cáp treo đi vào hoạt động ngày 08/3/1998 và đến ngày 10/1/2001, bộ phận này chính thức chuyển thành “công ty cổ phần cáp treo núi Bà Tây Ninh” Với số vốn điều lệ 15,985 tỷ đồng trong đó vốn nhà nước chiếm 51% cùng nhiều dự án hấp dẫn, công ty đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư

Ngày 31/7/2007, là ngày đầu tiên mà “công ty cổ phần quốc tế hoàng gia” tham gia giao dịch trên thị trường với mà chứng khoán RIC Là công ty

Trang 4

13/8/1994, từ đó đến nay công ty đã thu được nhiều thành tựu Và đây cũng là công ty mà giá cổ phiếu sụt giảm nghiêm trọng nhất trong nhóm ngành

“khách sạn, du lịch”

Công ty cổ phần VIPEARLLAND là một công ty có lĩnh vực kinh doanh khá đa dạng trong nhóm ngành “khách san, du lịch” Trải qua 6 năm xây dựng và phát triển, Công ty Cổ phần Du lịch và Thương mại Vinpearl đã khẳng định thương hiệu của mình trong làng du lịch giải trí với các Khu du lịch, khu vui chơi giải trí, nhà hàng, khách sạn 5 sao có quy mô rộng lớn, cao cấp, hiện đại và đạt tiêu chuẩn quốc tế Ngày 31/1/2008, công ty đã phát hành

cổ phiếu với mã VPL Nhưng vào năm 2011, VPL đã ngừng hoạt động trên thị trường chứng khoán do VIPEARLLAND đã bị Vincom mua lại Ta không tiến hành định giá cổ phiếu này

Cũng trong nhóm ngành “khách sạn, du lịch”, ngày 18/7/2008,cổ phiếu của “công ty cổ phần Văn hoá –Du lịch Gia Lai đã chính thức giao dịch trên thị trường chứng khoán với mã CTC Công ty cổ phần Văn hóa- Du lịch Gia Lai là một trong những công ty phát hành sách hàng đầu Việt Nam, ngoài ra công ty còn kinh doanh trên rất nhiều các lĩnh vực khác Tuy vậy giá cổ phiếu của công ty không cao Lên sàn từ năm 2008, cùng lúc đó thị trường chứng khoán đang đi xuống nên công ty cũng không thoát khỏi tình trạng này và hiện nay giá cổ phiếu của công ty là khá thấp

PDC là mã cổ phiếu của “công ty cổ phần du lịch dầu khí Phương Đông” Công ty có cổ phiếu giao dịch lần đầu vào ngày 29/9/2009 và từ ngày lên sàn đến nay là chuỗi thời gian ảm đạm đối với PDC Lên sàn với giá khởi điểm là 22000 đồng một cổ phiếu và đây cũng là giá cao nhất của cổ phiếu này, có những thời điểm giá cổ phiếu hạ thấp chỉ có trên 300 đồng một cổ phiếu, giá cổ phiếu rơi vào tình trạng xuống dốc không phanh

Trang 5

“Công ty cổ phần du lịch Golf Việt Nam” lên sàn năm 2009 và cũng chịu cảnh ngộ giống với PDC Không có vị thế thật sự nổi bật và những hậu thuẫn kinh tế làm cho cổ phiếu của “cổ phần du lịch Golf Việt Nam” giảm mạnh, lợi suất cổ phiếu đa phần là âm, màu đỏ ảm đạm trên bảng giá.

Ra đời khá muộn nhưng “công ty cổ phần khách sạn và dịch vụ Đại Dương” cũng đã tìm được chỗ đứng cho mình với số vốn điêu lệ khá lớn, hơn

1000 tỷ đồng Hơn thế “công ty cổ phần khách sạn và du lịch Đại Dương” với những dự án kinh doanh tốt đã góp phần ổn định giá cổ phiếu trong hoàn cảnh giá cổ phiếu xuống dốc hiện nay Công ty giao dịch cổ phiếu đầu tiên vào ngày 1/10/2010 với mã OCH

Ngay sau khi OCH lên sàn, vào ngày 2/10/2010, "công ty cổ phần công viên nước Đầm Sen” cũng đã có ngày giao dịch đầu tiên với mã DSN Có thể nói DSN là một trong số rất ít các công ty giá cổ phiếu tăng trong tình hình hiện nay Phát hành với giá khởi điểm 16400 một cổ phiếu, qua thời gian biến động xét đến phiên giao dịch cuối tháng 3/2012 giá của cổ phiếu này đã nên đến 29000 đồng một cổ phiếu và còn có xu hướng tăng tiếp Biến động giá lớn

và cũng là cổ phiếu đầu tư triển vọng nhưng cũng chính sự biến động lớn này làm cho DSN thích hợp với các nhà đầu tư nhạy bén và thích mạo hiểm

Gần đây trên thị trường chứng khoán xuất hiện thêm 2 công ty thuộc nhóm ngành “khách sạn, du lịch” mới đó là “công ty Cổ Phần Du Lịch Tân Định” và “ công ty Cổ Phần Du Lịch-Dịch Vụ Hội An” cùng lên sàn vào nửa cuối của năm 2011 “Công Ty Cổ Phần Du Lịch- Dịch Vụ Hội An” với mã cổ phiếu HOT ra đời muộn nhưng qua chưa đầy một trăm phiên giao dịch đã thật

sự gây được sự chú ý lớn của các nhà đầu tư Giá mở cửa của phiên giao dịch đầu tiên ngày 21/7/2011 là 16.900 đồng một cổ phiếu và giá đạt được tới

Trang 6

có tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài lớn, 49% tỷ lệ cổ phiếu nước ngoài sở hữu, nên khi đánh giá cổ phiếu này cần xem xét vấn đề đầu tư nước ngoài để đánh giá chính xác về cổ phiếu.

Trái với HOT,giá cổ phiếu của “công ty Cổ Phần Du Lịch Tân Định”,khối lượng giao dịch khá ổn định, sở hữu 100% vốn trong nước Đặc điểm khá dễ nhận thấy của giá cổ phiếu của công ty này là biên độ thay đổi lợi suất khá cao, thay đổi giá khá lớn nhưng nhìn chung giá khá ốn định trong thời gian giao dịch vừa qua

Khách sạn, du lịch là khu vực đầu tư mà trong đó phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện tự nhiên và khả năng kinh tế của người dân Rất dễ hiểu khi những khu du lịch chủ yếu là những khu có cảnh quan thiên nhiên đẹp,trong lành, các khu di tích lịch sử ,vì vậy mà điểu kiện tự nhiên là một yếu tố rất quan trọng cho việc phát triển ngành du lịch Du lịch phát triển kéo theo hệ quả là khách sạn cũng sẽ được đầu tư phát triển Một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành cũng như giá cổ phiếu của ngành này là chỉ số giá tiêu dùng CPI Xem xét sự ảnh hưởng của CPI đối với giá cổ phiếu nhóm ngành “khách sạn, du lịch”:

năm CPI Giá cổ phiếu nhóm ngành “khách sạn, du lịch”2000-2003 <4% Giá cổ phiếu không biến động nhiều

2004-2005 8-10% Có sự thay đổi về giá

2006 6.57% Giá tăng lên khá nhiều so với 2005 do sự phát

triển của thị trường

2007 12.75% Giá tăng cao, sự biến động giá lớn

2008 19.75% Giá đã hạ do thời kì giảm sút của thị trường

2009 6.52% Giá giảm so với 2008, biến động giá nhỏ

2010 11.75% Giá tăng nhẹ, đặc biệt là vào thời điểm cuối năm

2011 18.58% Giá có nhiều biến động, giảm nhẹ vào cuối năm

Trang 7

Nhìn vào bảng tổng quan trên ta thấy phần nào sự ảnh hưởng của CPI đối với ngành “khách sạn, du lịch” “Khách sạn, du lịch” là một ngành thuộc nhóm ngành dịch vụ nên mức độ tiêu dùng của người dân ảnh hưởng khá lớn đến sự phát triển của ngành Ngành “khách sạn, du lịch nói chung và các công

ty thuộc nhóm ngành “khách sạn, du lịch” nói riêng phát triển tốt thì giá cổ phiếu của các công ty này trên sàn chứng khoán mới khởi sắc

1.2 Định giá cổ phiếu và thị trường cổ phiếu Việt Nam

1.2.1 Định giá cổ phiếu

1.2.1.1 Khái niệm định giá cổ phiếu

Giá trị là lượng vật chất hay tiền tệ của một vật được đánh giá theo vật trao đổi trung gian hoặc một tiêu chuẩn có đặc điểm tương tự

Thị giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán là giá trị biến đổi hàng ngày, có loại cổ phiếu giá tăng mạnh nhưng cũng có loại cổ phiếu giá giảm mạnh so với giá ban đầu Sự biến động về giá tạo cơ hội kiếm lời cho các nhà đầu tư Chính vì thế mà các tổ chức kinh doanh, nhà đầu tư, phân tích thị trường muốn tìm ra giá trị thực của cổ phiếu mà giá đó họ cho là có cơ sở và phù hợp để giải thích biến động của cổ phiếu

1.2.1.2 Các loại giá được nói đến khi định giá cổ phiếu

- Mệnh giá cổ phiếu

Mệnh giá hay giá trị danh nghĩa là giá trị mà công ty cổ phần ấn định cho một cổ phiếu và được ghi trên cổ phiếu Mệnh giá cổ phiếu chỉ có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm công ty phát hành cổ phiếu, lần đầu huy động vốn cho công ty Mệnh giá thể hiện số tiền tối thiểu công ty phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà công ty phát hành Đối với thị trường Việt Nam, khi một

Trang 8

- Giá trị kinh tế

Là tổng các khoản thu nhập mà tài sản đó mang lại trong tương lai bao gồm thu nhập đem đến cho nhà đầu tư trong thời gian nắm giữ tài sản đó và giá trị thanh lý

- Giá trị thị trường của cổ phiếu hay còn được gọi là giá thị trườngThực tế, giá này không phải do công ty ấn định cũng không do người nào quyết định mà được xác nhận thống nhất qua trao đổi, quan hệ cung-cầu cầu của thị trường

1.2.2.Vai trò của định giá cổ phiếu

1.2.2.1 Đối với bản thân công ty định giá

Để phát hành cổ phiếu ra thị trường với giá hợp lý, công ty cần phải định giá nó như một tài sản thông thường Nếu định giá quá cao sẽ không có người mua còn định giá thấp doanh nghiệp bị thiệt hại Vì vậy mức giá công

ty đưa ra phải hợp lý, đối với một công ty thì định giá chính xác giá trị của cổ phiếu phát hành là một sự thành công, đảm bảo giao dịch sau này

Bên cạnh đó định giá giúp công ty nắm rõ tình hình hiện tại của mình, qua đó có những điều chỉnh trong công tác quản lý và kinh doanh Các nhà tư vấn phát hành giúp công ty bán được cổ phiếu với cổ phần thấp và nhanh chóng, giúp cho việc tái cơ cấu vốn của doanh nghiệp từ đó hoàn thành các dự

án mới

Trang 9

1.2.2.2 Đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán

Việc định giá cổ phiếu là một hoạt động nghề nghiệp của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, thực hiện với tính chuyên nghiệp cao và nguồn thông tin đa dạng Do đặc điểm chuyên sau về thị trường các tổ chức này có điều kiện tiếp cận nhiều thông tin, có đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên sâu với trình độ cao Kết quả định giá cổ phiếu được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau nhằm tạo lợi nhuận

1.2.2.3 Đối với các nhà đầu tư

Đối với các nhà đầu tư không chuyên sâu, họ thường sử dụng các giá trị định giá của các nhà phân tích để tiến hành đầu tư mua, bán Còn với các nhà đầu tư chuyên nghiệp, họ có thể tự mình định giá của cổ phiếu, đặc biệt khi

họ có những thông tin đầy đủ về một ngành nghề, một công ty cụ thể Khi đó định giá giúp nhà đầu tư đưa ra những quyết định đầu tư tốt nhất

1.2.2.4 Đối với cơ quan quản lý

Với các cơ quan quản lý, việc định giá cổ phiếu giúp họ thực hiện chức năng quản lý thị trường tốt hơn, phát hiện ra các trường hợp không lành mạnh, đưa ra các quyết định quản lý hiệu quả

1.2.3 Các giai đoạn phát triển của thị trường cổ phiếu Việt Nam

1.2.3.1 Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng khoán

Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000

Từ ngày thành lập, thị trường chứng khoán luôn trong tình trạng gà gật, giá cả

Trang 10

giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức đi vào hoạt động Giai đoạn phát triển cao xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng lên 30% lên 40%.

Bảng số liệu tổng quan thị trường chứng khoán

1.2.3.2 Giai đoạn 2006: sự phát triển đột phá

Hoạt động giao dịch diễn ra sôi nổi trên cả 3 sàn giao dịch : sở giao dịch thành phố Hồ Chí Minh, trung tân giao dịch Hà Nội và thị trường OTC Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-ba-buê Và sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng

"thu hút " các nhà đầu tư trong và ngoài nước Vào năm 2006, VN-Index đạt kỉ lục với mốc 809,86 điểm, HASTC-Index chạm mốc 260 điểm Sau giai đoạn phát triển đột phá, thị trường chứng khoán Việt sang một bước ngoặt mới

1.2.3.3 Giai đoạn 2007: thị trường chứng khoán bùng nổ

Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường, Diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giao dịch có nhiều biến động, Vn-Index của cả 2 sàn giao dịch Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều có biên độ giao động mạnh

VN_Index đạt đỉnh: 1.170,67 điểm

Trang 11

HASTC-Index : 459,36 điểm

1.2.3.4 Giai đoạn 2008: sự sụt giảm của thị trường

Công ty chứng khoán, doanh nghiệp… phát hành trái phiếu, cổ phiếu

để tăng vốn điều lệ dẫn đến tình trạng thị trường chứng khoán có nguy cơ cung vượt quá cầu

- Giai đoạn 1: từ tháng 1 thới tháng 6 năm 2008: thị trường giảm giá mạnh do tác động của kinh tế vĩ mô

- Giai đoạn 2: từ tháng 6 tới tháng 9 năm 2008: phục hồi trong ngắn hạn, thị trường có những khởi sắc

- Giai đoạn 3: cuối năm 2008: thị trường lại rơi vào tình trạng sụt giảm

do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

1.2.3.5 Giai đoạn 2009: giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng

Quý I năm 2009, thị trường chứng khoán luôn trong tình trạng ảm đạm, các sàn giao dịch vắng lặng, thị trường chứng khoán không còn hấp dẫn được các nhà đầu tư

Cuối tháng 10 đến nửa đầu năm 2010, nhìn chung thị trường có những chuyển biến tốt nhưng vẫn không đủ hấp dẫn các nhà đầu tư

1.2.3.6 Giai đoạn từ 2010 đến nay

Trong giai đoạn này thị trường đã dần ổn đinh ở mức thấp Đầu tư cổ phiếu ngày nay không còn là kênh đầu tư ưa thích của các nhà đầu tư Cùng với sự đi xuống của thị trường, nhiều công ty chứng khoán phải đóng cửa, cắt giảm chi nhánh, nhân sự để duy trì hoạt động Thị trường trầm ổn hơn

Nhận xét về sự biến động của thị trường chứng khoán:

Trang 12

trưởng không chỉ về quy mô niêm yết mà cả về tính thanh khoản của thị trường Trải qua nhiều thăng trầm, thị trường chứng khoán nay đã trưởng thành hơn Cùng với sự biến động của thị trường thế giới, thị trường chứng khoán trong nước cũng đã có những giai đoạn phát triển tương ứng Tuy là thị trường mới nhưng chứng khoán Việt Nam cũng đã dần trưởng thành hơn, thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài Giai đoạn 2006-2007 là thời kì cổ phiếu tăng giá mạnh, có những cổ phiếu giá tăng cao hơn nhiều lần so với giá thực

tế, lợi suất cổ phiếu cao, chỉ số Vn-Index có những thời điểm đạt trên 1170 điểm Giá cổ phiếu tăng quá cao so với giá thực tế cùng với khủng hoảng kinh

tế dẫn đến thời kì suy giảm, giá cổ phiếu giảm mạnh đỉnh cao là khủng hoảng suy thoái nghiêm trọng vào năm 2009 Từ 2010 đến nay, giá cổ phiếu đã có phần ổn định hơn tuy nhiên giá thấp và sự biến động giá không cao nên thị trường cổ phiếu thời kì này vẫn khá ảm đạm

Trang 13

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG MÔ HÌNH CAPM ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU NHÓM NGÀNH “ DU LỊCH, KHÁCH SẠN”

2.1 Lý thuyết mô hình CAPM

Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là cốt lõi của lý thuyết kinh tế tài chính hiện đại Mô hình CAPM cho phép dự đoán mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất kỳ vọng

Ý tưởng trong mô hình CAPM là chia rủi ro của danh mục đầu tư thành rủi ro hệ thống và rủi ro riêng biệt Rủi ro hệ thống là rủi ro của danh mục đầu

tư thị trường Khi thị trường biến động, mỗi tài sản tài chính riêng biệt bị ảnh hưởng ít nhiều Rủi ro riêng là rủi ro gắn với một tài sản riêng biệt, nó gắn với phần lợi suất của tài sản không tương quan với sự biến động của thị trường Rủi ro hệ thống không thể giảm bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư Rủi

ro riêng biệt có thể giàm nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư Mô hình CAPM

mô tả mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro dựa trên giả thiết là nhà đầu tư là biết đa dạng hóa tốt tức là rủi ro phi hệ thống là tiến tới 0 Từ đó, CAPM mô

tả lợi suất của một tài sản hay một danh mục đầu tư bằng lợi suất của tài suất phi rủi ro cộng với phần bù rủi ro

2.1.1 Các giả thiết của mô hình CAPM

2.1.1.1 Các giả thiết về các nhà đầu tư

* Các nhà đầu tư e ngại rủi ro

* Các nhà đầu tư trong quá trình đầu tư là những người chấp nhận giá

trên trị trường tài chính Họ cạnh tranh hoàn hảo hay nói cách khác giá tài sản trên thị trường tài chính là biến ngoại sinh đối với nhà đầu tư

Trang 14

2.1.1.2 Các giả thiết đối với thị trường và các tài sản trên thị trường

* Các tài sản trên thị trường với số lượng cố định trong thời gian chúng

ta xem xét và các tài sản có thể chia nhỏ tuỳ ý, tất cả các tài sản đều được giao dịch trên thị trường

* Lợi suất của các tài sản là các biến ngẫu nhiên có phân phối chuẩn.

* Trên thị trường có tài sản phi rủi ro và các nhà đầu tư có thể vay hoặc

cho vay các tài sản phi rủi ro với lãi suất phi rủi ro và số lượng không hạn chế

* Các thị trường tài chính là thị trường hoàn hảo theo nghĩa sau:

+ Mọi thông tin liên quan đến thị trường đối với các nhà đầu tư đều có

thể tiếp cận được

+ Không có các hạn chế, quy định rằng buộc về khối lượng các loại tài

sản giao dịch cũng như việc bán khống các loại tài sản

+ Không có các chi phí liên quan đến việc giao dịch tài sản, không để

cập đến thuế, thuế môi giới, phí giao dịch

2.1.2 Các danh mục và các biểu diễn hình học của mô hình CAPM

Giả sử trên thị trường có N loại tài sản rủi ro

Lợi suất của mỗi tài sản ri~ N(ri, 2

,

1 ,

1

=

=Trong đó : σ 2

i là phương sai của lợi suất của tài sản i

: V là ma trận đối xứng xác định dương nên tồn tại ma trận nghịch đảo V− 1 là ma trận đối xứng và cùng có tính xác định dương

Trang 15

* Thiết lập danh mục thị trường:

Gọi Vi là giá trị thị trường của tài sản rủi ro (i)

i

V V

M i

W W

* Tính hiệu quả của danh mục thị truờng (M)

Trạng thái cân bằng của thị trường là trạng thái cân bằng giữa cung tài sản và cầu tài sản

Giả sử có K nhà đầu tư Nhà đầu tư k có hàm lợi ích Uk tương ứng với danh mục đầu tư Pk Do mục tiêu của nhà đầu tư là tối đa hoá lợi ích kỳ vọng nên Pk nằm trên biên hiệu quả

Ký hiệu: wk là tỷ trọng nhà đầu tư đầu tư vào T (là danh mục được xác định bằng tiếp tuyến xuất phát từ R f tiếp xúc với biên hiệu quả) (1-wk) là tỷ trọng nhà đầu tư k đầu tư vào danh mục phi rủi ro F (là danh mục chỉ có tài sản phi rủi ro) Danh mục T(w w , , w 1,T T2 T

N ), tỷ trọng nhà đầu tư k đầu tư vào tài sản rủi ro i là: wk*wi (∀i=1 ,N k=1 ,K )

Trang 16

Vk: là giá trị thị trường của tất cả tài sản của nhà đầu tư k

Vki: là giá trị thị trường của tài sản i do nhà đầu tư k nắm giữ

Vki=wk*wi*Vk ∀i=1 ,N k=1 ,K

Mức cung tài sản i trên thị trường: Vi

Mức cầu tài sản i trên thị trường: ∑

=

K

k ki

V

1 0

i

V V

K

V V

k i K

V t w

V t w

Trang 17

Hình 1 : Tín hiệu của danh mục thị trường 2.2 Đường thị trường vốn (CML)

Đường thị trường vốn(CML) được minh hoạ qua đồ thị như sau

P

r : là lợi suất kỳ vọng của cổ phiếu i

rf : là lợi suất phi rủi ro trên thị trường

Trang 18

Hình 2: Đồ thị của đường thị trường vốn

Trang 19

Trong điều kiện cân bằng thị trường, nếu danh mục là danh mục hiệu quả thì danh mục đó phải được định giá sao cho (P) nằm trên thị trường vốn.

σ (r M -rf)

Q

r - rf : chênh lệch lợi suất của danh mục Q

M

r - rf : chênh lệch lợi suất của danh mục thị trường

rf : lợi suất của tài sản phi rủi ro

Với tài sản (i) ta có :

r i - rf = 2

) , (

M

M

i r r COV

SML được coi là một tiêu chí chuẩn mực để đánh giá một phương án đầu

tư Với việc chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định đối với một phương án đầu tư, SML cho chúng ta biết lợi nhuận thu được của phương án đầu tư đó là bao nhiêu mới có thể bù đắp được rủi ro mà các nhà đầu tư phải gánh chịu

Trang 20

Xuất phát từ đường SML, tất cả các chứng khoán nếu được định giá chính xác nhất phải nhất thiết nằm trên đường SML Với những điểm nằm phía dưới hoặc phía trên đường SML đều biểu hiện tình trạng giá không phản ánh đúng với giá trị cân bằng trên thị trường Nếu là điểm nằm phía trên đường SML, chứng khoán đó được định giá thấp hơn giá trị thực của chúng Trong trường hợp này các nhà đầu tư nên mua loại chứng khoán này Ngược lại nếu điểm đó nằm dưới đường SML, không nên mua loại chứng khoán này

vì giá của chúng cao hơn giá trị thực

2.2.2 Mối quan hệ giữa CML và SML

Nếu P là danh mục hiệu quả ta có phương trình

p M

f M f p

r r r

r − : Phần bù rủi ro của danh mục thị trường

Một danh mục Q hoặc một tài sản i bất kỳ đều có giá ở trên thị trường và giá của chúng được xác định theo phương trình sau:

Q f

r = + β −

i f

M

M Q Q

r r

σ

2

, cov

M

M i i

r r

Trang 21

r i r i

SML

CML

(1)

σ i β i

σ M σ 1 σ 2 β 2 1 β 1

Hình 4 : Mối quan hệ giữa CML và SMLS

Danh mục hiệu quả : r1, σ1

Danh mục phi hiệu quả :r2, σ2

Từ đường CML ta có thể suy ra hệ số beta Và ngược lại khi biết hệ số beta của tài sản trong danh mục thị trường ta có thể tính được lợi suất kì vọng của tài sản đó

2.2.3 Các đặc tính của CAPM

2.2.3.1 Phương trình biểu diễn CAPM

E(ri) = rf + E(r m) −r fi

Trong đó :

E(ri) : là lợi suất kỳ vọng của cổ phiếu i

rf : là lợi suất phi rủi ro trên thị trường

E(rm) : là lợi suất kỳ vọng của thị trường

Trang 22

nó nằm chính xác trên đường thị trường chứng khoán (SML) Nhà đầu tư luôn

có thể đa dạng hoá mọi rủi ro ngoại trừ hiệp phương sai của một tài sản với danh mục thị trường mà thôi Nói các khác, họ có thể đa dạng hoá mọi rủi ro trừ rủi ro của tổng thể nền kinh tế vốn không thể tránh khỏi ( không thể đa dạng hoá được) Hệ quả là, rủi ro duy nhất nhà đầu tư phải trả một phần bù để tránh đi là rủi ro hiệp phương sai Tổng rủi ro hệ thống là kết quả phép đo hiệp phương sai tài sản đó với nền kinh tế, và rủi ro phi hệ thống vốn độc lập với nền kinh tế

Vấn đề đặt ra ở đây là ta không thể so sánh phương sai của một tài sản đơn lẻ với phương sai của một danh mục được đa dạng hoá tốt Phương sai của danh mục sẽ gần như luôn nhỏ hơn Phép đo chính xác cho một tài sản đơn lẻ là hệ số Beta, là hiệp phương sai của nó với thị trường chia cho phương sai của thị trường

Một tính chất quan trọng khác của CAPM là phép đo rủi ro cho một tài sản đơn lẻ là cộng tuyến tính khi tài sản được đưa vào danh mục Ví dụ nếu ta đưa α% của cải của ta vào tài sản X với rủi ro hệ thống Beta X, và β% vào

tài sản Y , với rủi ro hệ thông là BetaY, thì Beta của danh mục tạo lên đơn giản là trung bình gia quyền của Beta các tài sản:

Trang 23

w R

1 1 i

N

j ij j N

i i

R

1 1

1

~

ta hiểu wiCOV(Ri,Rp) chính là rủi ro chứng khoán i trong danh mục

P Tuy nhiên, sự thay đổi biên của đóng góp của tài sản i vài rủi ro của danh mục đơn giản là COV(RiRj) Do vậy, hiệp phương sai là định nghĩa đúng đắn về rủi ro vì nó đo lường sự thay đổi trong rủi ro danh mục khi ta thay đổi trọng số của một số tài sản trong danh mục

Mặc dù việc sử dụng rủi ro hệ thống và rủi ro không thể đa dạng hoá có cùng nghĩa như rủi ro hiệp phương sai, chúng có đôi chút khác nhau Chúng đều bắt nguồn cùng từ việc có thể đa dạng hoá mà không mất chi phí và sự tồn tại của một danh mục thị trường lớn Định nghĩa về rủi ro hiệp phương sai thì lại không phải vậy Nó tiếp tục có nghĩa ngay cả khi khái niệm về danh mục thị trường chỉ chứa một tài sản mà thôi

2.3 Ứng dụng của mô hình CAPM

2.3.1 Phân tích rủi ro của tài sản, danh mục

Ta có mô hình hồi quy đơn

i M i i

r = γ + β + ε

Trong đó γi =(1 − βi)r f

i M i i

2 2 2 2

ε

σ σ β

2

σ : Tổng rủi ro

Trang 24

σ : Rủi ro riêng (rủi ro phi hệ thống )

Đối với tài sản hoặc danh mục có rủi ro riêng ta có thể giảm bằng cách

Nếu hệ số αi> 0 thì tài sản hoặc danh mục được định giá thấp theo mô

hình CAPM nếu là một nhà tư vấn ta nên khuyên khách hàng mua

Nếu hệ số αi<0 thì tài sản hoặc danh mục được định giá cao theo mô

hình CAPM, nếu là một tư vấn ta nên khuyên khách hàng bán đi

Mô hình định giá tài sản vốn CAPM là một mô hình kinh tế mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng Nói một cách khác, đây là mô hình định giá cho những chứng khoán có nguy cơ rủi ro CAPM cho rằng rủi ro hệ thống là mối quan tâm đối với các nhà đầu tư vì chúng không thể loại bỏ được bằng biện pháp đa dạng hoá danh mục đầu tư Đặc biệt CAPM cho biết lợi suất ước tính của một chứng khoán hoặc một danh mục đầu tư được xác định bằng lợi suất của chứng khoán không rủi ro cộng với một phần bù rủi ro Trong mô hình CAPM, phần bù rủi ro được xác định bằng cách nhân mức độ

Trang 25

rủi ro β với giá thị trường của chứng khoán đó (r M - rf)

Một đóng góp cụ thể hơn nữa của mô hình là hệ số đo lường Beta (β) Mặc dù mô hình CAPM mô tả hoàn toàn chính xác, nhưng có thể nói rằng hệ

số Beta là một thành phần mô tả rõ ràng về rủi ro của một tài sản và là một yếu tố quan trọng của lợi suất kỳ vọng

Trong mô hình CAPM thị trường vốn là hiệu quả ở chỗ nhà đầu tư được cung cấp thông tin đầy đủ, chi phí giao dịch không đáng kể, không có những hạn chế đầu tư, và không có nhà đầu tư nào đủ lớn để ảnh hưởng đến giá cả của một loại chứng khoán nào đó Nói khác đi, giả định thị trường vốn

là thị trường hiệu quả và hoàn hảo

Trang 26

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG CAPM CHO CÁC CỔ PHIẾU NHÓM NGÀNH “DU LỊCH, KHÁCH SẠN” QUA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA THI TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Kí hiệu ls_vnindex(i) là chuỗi lợi suất của Vn-Index thời kì i

3.1 Lập danh mục thị trường

30 mã cổ phiếu được chọn gồm: AGC, AGR, ATA, B82, COM, HEV, HLC, HOM, HVG, ICF, KHA, L18, L43, L62, LAF, LGC, LUT, NAG, NBB, NBC, ONE, OPC, PAC, PET, PSG, PHC, PHT, PMS, UIC

Sử dụng bảng tính excel ta thu được kết quả VN30 như sau:

Thay số ta được :

Trang 27

r i = 0.00039+βi*(0.000566-0.00039)

= 0.00039+0.000176*βi (3.1)

3.2 Ứng dụng CAPM cho mã cổ phiếu SGH

3.2.1 Định giá cổ phiếu SGH giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005

Sử dụng eview ước lượng OLS cho chuỗi lợi suất của SGH theo chuỗi lợi suất VN-Index cho thời kì 2000-2005 ta được bảng sau:

Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob

LS_VNINDEX1 0.003295 0.002501 1.317446 0.1882

R-squared 0.003123 Mean dependent var 0.008993

Adjusted R-squared 0.001324 S.D dependent var 0.242788

S.E of regression 0.242627 Akaike info criterion 0.009010

•Từ bảng trên ta có hệ số beta của cổ phiếu SGH trong giai đoạn

2000-2005 là: β(SGH)=0.003295

p-value của β là 0.1882 >0.05 Vậy với mức ý nghĩa 5%, cổ phiếu SGH trong thời kì 2000-2005 không chịu ảnh hưởng của những biến động của thị

Trang 28

trường Lợi suất kì vọng của cổ phiếu không phụ thuộc vào lợi suất kì vọng của thị trường Vì vậy ta không thể định giá cổ phiếu qua CAPM được

Để đưa ra các quyết định đầu tư cho thời kì này cần phải xem xét động thái giá của cổ phiếu SGH, xem xét xu hướng tăng, giảm giá cho từng thời kì

Khi mới phát hành vào năm 2001, giá cổ phiếu SGH, tăng cao, khuyến cáo mua vào, tuy nhiên khoảng 10 phiên tăng điểm liên tục SGH rớt giá, nhận thấy khả năng giá giảm sẽ diễn ra trong thời gian dài, khuyến cáo nhà đầu tư bán ra khi giá vừa giảm Từ nửa cuối năm 2001 đến hết 2005, giá cổ phiếu SGH ổn định ở mức thấp, tuy nhiên trong thời gian giao dịch, giá cổ phiếu SGH có những đợt sóng nhỏ, nhà đầu tư có thể bắt các sóng này để thu lời

3.2.2 Định giá cổ phiếu SGH trong giai đoạn năm 2006

3.2.2.1 Ước lượng hệ số mô hình

Tương tự phần định giá trong giai đoạn 2000-2005 cho cổ phiếu SGH

Ước lượng eview cho thời kì năm 2006 lởi suất SGH với lợi suất Index ta được bảng sau :

VN-Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob

Trang 29

C 0.094021 0.064590 1.455652 0.1468

0.010372 0.003709 2.796613 0.0056R-squared 0.031058 Mean dependent var 0.131707

Adjusted R-squared 0.027087 S.D dependent var 1.004465

S.E of regression 0.990768 Akaike info criterion 2.827423

•Hệ số beta của cổ phiếu SGH trong giai đoạn năm 2006 là : 0.0107

•Hệ số α là :

Ta có : αi =r ACTr i =r ACTr f − βi(r Mr f)

r ACT tính trên bảng tính excel của ta được: r ACT = 32,4/360

Thay số vào công thức (3.1) ta được r i=0.0107*0.000176+0.00039Suy ra: r i= 0.0896

3.2.2.2 Định giá cổ phiếu

Thực hiện trên bảng tính excel ta có lợi suất năm 2006 của cổ phiếu là : 32,4Định giá cổ phiếu

Với giá phiên giao dịch cuối năm 2006 của SGH là : 47.1

Ap dụng công thức 1.1 với SGH giai đoạn 2006 ta được giá của SGH trong tháng tới là :

Trang 30

3.2.3.1 Hệ số mô hình

Ước lượng SGH trong giai đoạn 2007

VNINDEX3 0.036221 0.008045 4.502100 0.0000R-squared 0.076989 Mean dependent var 0.253061Adjusted R-squared 0.073191 S.D dependent var 3.629405S.E of regression 3.494062 Akaike info criterion 5.348137Kết quả thu được thông qua excel :

Hệ số beta của tài sản là : 0.362

P_value=0 Cổ phiếu chịu tác động của thị trường

Tính hệ số α tương tự phần tính hệ số α của phần(3.2.2.1) ta được :

Hệ số α : 0.1718

Lợi suất của cổ phiếu SGH trong năm 2007 là : 62

Giá cổ phiếu trong phiên giao dịch cuối năm 2007 là : 109.100

3.2.3.2 Định giá cổ phiếu

Sử dụng công thức 1.1, định giá cổ phiếu SGH trong phiên giao dịch tới :

Ngày đăng: 24/03/2015, 12:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Tín hiệu của danh mục thị trường 2.2. Đường thị trường vốn (CML) - Định giá các cổ phiếu nhóm ngành khách sạn, du lịch qua mô hình CAPM
Hình 1 Tín hiệu của danh mục thị trường 2.2. Đường thị trường vốn (CML) (Trang 17)
Hình 3:  Đồ thị của đường thị trường chứng khoán - Định giá các cổ phiếu nhóm ngành khách sạn, du lịch qua mô hình CAPM
Hình 3 Đồ thị của đường thị trường chứng khoán (Trang 18)
Hình 2: Đồ thị của đường thị trường vốn - Định giá các cổ phiếu nhóm ngành khách sạn, du lịch qua mô hình CAPM
Hình 2 Đồ thị của đường thị trường vốn (Trang 18)
Hình 4 : Mối quan hệ giữa CML và SMLS - Định giá các cổ phiếu nhóm ngành khách sạn, du lịch qua mô hình CAPM
Hình 4 Mối quan hệ giữa CML và SMLS (Trang 21)
Bảng tổng quan định giá giá các cổ phiếu nhóm ngành “khách sạn, - Định giá các cổ phiếu nhóm ngành khách sạn, du lịch qua mô hình CAPM
Bảng t ổng quan định giá giá các cổ phiếu nhóm ngành “khách sạn, (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w