CÁC ĐỊNH NGHĨA TỪ NHỮNG NĂM 70 Trong một đệ trình của Paul Zurkowski, Chủ tịch Hiệp hội ngành công nghiệp thông tin tới Uỷ ban Quốc gia về khoa học thư viện và thông tin, ông đã nêu lên
Trang 1TIM HIEU KHAI NIEM KIEN THUC THONG TIN GOP PHAN DAM BAO CHAT LUONG DAO TAO
CU NHAN CHUYEN NGANH KHOA HOC
THONG TIN - THU VIEN
Nguyên Hoàng Sơn
Bộ món Thông tin - Thư viện
Kiến thức thông tin (KT TT) là một khái niệm trừu tượng
Với quan niệm như vậy KTTT là khái niệm không thé dé
dàng định nghĩa được hay nó có thể hiểu theo một chiều được
Nó là một cụm từ thể hiện một khái niệm xúc tích, vừa mang
tính trừu tượng cao, vừa mang tính cụ thể Nó tập trung vào một vấn để nào đó mang tính định hướng Cụ thể, KTTT có thể hiểu như là khả năng sử dụng thông tin hay khả năng sở hữu được, nắm trong tay một lĩnh vực thông tin nào đó
CÁC ĐỊNH NGHĨA TỪ NHỮNG NĂM 70 Trong một đệ trình của Paul Zurkowski, Chủ tịch Hiệp hội ngành công nghiệp thông tin tới Uỷ ban Quốc gia về khoa
học thư viện và thông tin, ông đã nêu lên mục tiêu đạt được
KTTT toàn quốc ở thập niên kế tiếp Zurkowski đã trình bày một môi trường dịch vụ thông tin mà ở đó người ta phải tìm
kiếm cho công việc hàng ngày Ông đã mô tả những sản phẩm dịch vụ thông tin được các khu vực tư nhân (phi chính phủ, các doanh nghiệp kinh doanh không thuộc thư viện) phục vụ
Trang 2bao gồm các ngân hàng thông tin, các nhà môi giới thông tin, các nhà xuất bản và những hoạt động đánh giá thông tin Mối quan hệ truyền thống giữa những hoạt động thông tin và những thư viện này cũng được ông đề cap toi Zurkowski con xem xét cách thức chuyển đổi vị trí giữa khu vực này với nhau
và ông cũng nêu lên những vấn đề chính sách cần phải giải
quyết để từ đó môi trường thông tin có thể được kích hoạt, phát triển nhằm đáp ứng cho | quốc gia có KTTT
Zurkowski là người đầu tiên sử dụng khái niệm KT TT với nội dung như sau: Những người được đào tạo để ứng dụng các
nguồn thông tin vào trong công việc của họ được gọi là những
người có KTTT Họ được học những công nghệ, những kỹ năng để tận dụng được những công cụ thông tin cũng như các
nguồn tin chủ yếu để tạo nên những giải pháp thông tin giải
quyết cho các vấn đề của họ Trong định nghĩa này, Zurkowski đã nêu lên những điểm sau:
- Các nguồn thông tin được áp dụng vào trong các tình
huống giải quyết công việc
- Các công nghệ, kỹ năng cần có để sử dụng các công cụ thông tin và các nguồn thông tin chính yếu
- Thông tin được sử dụng để giải quyết vấn đề
Khái niệm KTTT vào năm 1976 lại xuất hiện một lần nữa trong một bài trình bày của Lee Burchinal tại một hội thảo của thư viện A&M Texas noi về tương lai của việc tổ chức thông tin: “Để trở thành người có KTTT, cần phải có một hệ thống các kỹ năng mới Chúng bao gồm các phương thức để xác
định và sử dụng thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề và ra
quyết định một cách có hiệu quả ” Định nghĩa của Burchinal
đã liên kết KT FT với:
- Các kỹ năng bao gồm kỹ năng xác định nguồn tin và sử
dụng thông tin
Trang 3- Sử dụng thông tin để giải quyết vấn đề và ra quyết định
- Sử dụng thông tin hiệu quả
Cùng năm đó, cũng xuất hiện một số các định nghĩa khác
về KTTT nhưng không thuộc lĩnh vực Thông tin - thư viện Cees Hamelink, một nhà cố vấn cho chương trình nghiên cứu
truyền thông đại chúng, sử dụng định nghĩa KTTT để nhằm
chỉ vào một xã hội có nhu cầu muốn thoát khỏi những hậu quả mang tính áp chế của phương tiện truyền thông đại chúng đã
được thể chế hóa và được cấu trúc đang bị các thế lực điều khiển và kìm giữ theo ý muốn của họ và truyền bá những
thông tin đã được chế biến theo ý đồ chính trị về những sự
kiện thế giới
Quan điểm của ông cho rằng phải tạo cơ hội cho mọi
người ra những quyết định của chính mình ở trong tình huống của họ và trước những thông tin sự kiện mới xảy ra Hamelink
đã gợi ý thiết lập các kênh thông tin thay thế hay các mạng
thông tin độc lập với những lợi ích chính trị và kinh tế: “Điều quan trọng nhất của những kênh thông tin mới là nó có thể chống lại được với các kênh truyền thông đại chúng đang
thống trị Và chúng ta có thể học cách sử dụng thông tin bằng
các phương tiện thay thế trên
Hamelink coi sử dụng thông tin bảng cách mới này có
liên quan tới KTTTT và xác định coi đây 1a kha nang nam được
những khía cạnh toàn diện và độc lập về các sự kiện tin tức
Cho dù cách tiếp cận của Hamelink có liên quan đến việc diễn
giải các sự kiện tin tức không hợp với các định nghĩa về KTTT sau này nhưng nó lại có quan hệ gián tiếp tới một định nghĩa của Mỹ vào năm 1976 Major R Owens, với mục đích vạch ra tương lai cho các thư viện và các cán bộ thư viện, đã đưa ra một số mối quan hệ giữa các công dân với KTTT: “Ngoài nhiệm vụ đảm bảo cho công việc đạt được hiệu quả cao,
Trang 4KTTT con rat can thiét cho viéc dam bảo sự sống còn của các
tổ chức dân chủ Mọi công dân đều có quyền bình đẳng nhưng
những cử tri khi có KTTTT ở trong một vị trí nhất định sẽ có
những quyết định thông minh hơn so với những người không
có KTTT Việc sử dụng thông tin vào trong quá trình ra quyết định giúp các công dân hoàn thành trách nhiệm công dân của mình là một sự tối cần thiết”
Vào năm 1979, tổ chức IIA (Hiệp hội các ngành công
nghiệp thông tin) đã được đưa ra một định nghĩa về KTTT mà
không đề cập đến tính đặc thù của thông tin khi sử dụng trong các công sở và nơi làm việc như định nghĩa của Zurkowski đã
đề cập: “Định nghĩa của HA cho rằng một người có KTTT là người biết các cong nghệ và các kỹ năng để sử dụng các công
cụ thông tin để tạo lập các quyết định giải quyết các vấn đề”
Trong cùng năm đó, trong một bài báo viết về tương lai của nghề thư viện, Robert Taylor đã giới thiệu một khái niệm về
KTTT nhấn mạnh:
“Một định nghĩa về KTTT một cách đúng đắn phải bao
gồm các yếu tố sau:
* Để giải quyết mọi vấn đề điều cần thiết là phải có đủ
thông tin và số liệu
* Phải có kiến thức hiểu biết về nguồn thông tin (Ai và ở đâu) là một điều kiện tiên quyết
* Quá trình thông tin diễn ra liên tục cũng quan trọng như
những quá trình thông tin diễn ra rời rạc
* Có những chiến lược tìm tin để bổ sung thông tin.”
Taylor đã liên hệ nghề nghiệp thư viện với KTTT và cho
thấy rằng đại đa số các vấn đề (chứ không phải là tất cả) được
giải quyết thông qua việc sử dụng thông tin và kiến thức về
Trang 5các nguồn tin là rất cần thiết đồng thời có các chiến lược để bổ
sung thông tin
Các định nghĩa của thập kỷ 70 đã làm nối bật một số các nhu cầu đối với KTTT nhưng vẫn chưa tiếp cận được điểm mốc để xác định các kỹ năng và kiến thức cần để xử lý thông tin tại cùng thời điểm đó
Để phân tích các định nghĩa xuất hiện trong những năm
70, chúng ta có thể suy ra rằng thông tin cũng rất thiết yếu cho
xã hội, việc xử lí thông tin ngày càng phức tạp vì sự phát triển
theo số mũ của thông tin Burchina tin rằng chúng ta sẽ cần
một tập hợp các kỹ năng mới về thông tin Đa số các định nghĩa được nhấn mạnh vào việc sử dụng hay ứng dụng thông
tin ngay khi nó vừa được tìm thấy cũng như việc sử dụng nó cho việc ra quyết định Việc sử dụng không chỉ là thông tin
mà còn là các công cụ thông tin (giúp cho việc truy cập thông
tin) được Zurkowski và HA đề cập Nhiều định nghĩa xuất hiện trong các bối cảnh vai trò của các thư viện trong tương lai đang được tranh luận, chúng chỉ ra một mối liên hệ giữa nghề
Thông tin - Thư viện và KTTT Những định nghĩa thập kỉ 70
đã làm đã làm nối nổi bật một số các yêu cầu cần với KTTT nhưng không cụ thể
CÁC ĐỊNH NGHĨA CỦA NHỮNG NĂM 80 Vào đầu những năm 80, công nghệ thông tin bắt đầu được
ứng dụng nhiều vào trong hoạt động của xã hội Năm 1982, tổ chức IIA đã tiến hành một nghiên cứu gồm 4 giai đoạn về hạ tầng thông tin của Mỹ Những công nghệ mới của thập kỷ này được coi như là một yếu tố quan trọng của KTTT nghiên cứu này đã chỉ ra “có một khoảng cách phân biệt giữa l người
biết cách và thời điểm để sử dụng công nghệ này và sử dụng chúng dễ dàng, hiệu quả với một người không thể sử dụng
Trang 6công nghệ này va do vay da tự làm hạn chế sự tiếp cận tới các
nguồn tri thức”
Vào cùng năm đó, tạp chí Time đã chọn máy vi tính là
chiếc máy hàng đầu của năm do va Forest Horton da coi vai
"trò tiềm tàng của máy tính như là một nguồn thông tin trong
kỷ nguyên thông tin Ông đã để cập đến mối quan tâm ngày càng tăng của tờ tạp chí này về các khả năng xử lý các vấn đề
của máy tính qua định nghĩa về kiến thức máy tính như sau:
“Kiến thức máy tính phải gắn liền với sự gia lăng nhận '
thức để hiểu được máy tính có thể và không thể làm được gì?”.Có hai thành tố tạo nên kiến thức máy tinh | la phần cứng
và phần mềm
Tuy nhiên, ông tiếp tục lý giải rằng KTTT con phat t trién
cao hơn kiến thức máy tính Mặc dù sự lý giải về kiến thức
máy tính của Horton còn rất đơn giản những nhận thức về
KTTT của ông cũng đáng để ghi nhận Định nghĩa này đã
đánh dấu, báo hiệu về sử chuyển đổi nhận thức về KTTT trong
thập kỷ 80, đưa chúng ta bước vào lĩnh VỰC khoa học xử lý
thông tin trên cơ sở có máy tính trợ giup
Vậy KTTT lại trái ngược lại với kiến thức của máy tính,
nó mang ý nghĩa tăng nhận thức của các cá nhân và các doanh
nghiệp về sự bùng nổ tri thức và làm thế nào các hệ thống
thông tin có máy móc hỗ trợ có thể giúp nhận biết, truy nhập các tệp dữ liệu, tài liệu cần có để hỗ trợ giải quyết vấn đề và ra quyết định
Các công cụ có máy tính trợ giúp và các nguồn tin mà
Horton liệt kê đã cho thấy phương thức mà máy tính được áp dụng cho việc xử lý thông tin đã được đặt nền móng vào đầu những nam 80 Cơ sở dữ liệu trực tuyến, dịch vụ truyền thông,
thư điện tử, các dịch tóm tắt đánh chỉ số, tìm kiếm của chính
phủ và nước ngoài, dịch vụ phân tích dữ liệu và thư viện
Trang 7William Demo, từ năm 1986 đã tiếp tục đưa ra những ý kiến
bằng việc xem xét những khối lượng thông tin đồ sộ Ông đã
liệt kê nhiều ví dụ về công nghệ như máy vi tính, truyền hình
cáp, xuất bản điện tử, truyền thông vệ tính, Videotext, cơ sở
dữ liệu trực tuyến, CD - ROM lưu trữ thông tin Quan điểm
của ông cho rằng để nắm được các công nghệ mới này đòi hỏi
cần phải có kỹ năng tri thức mới Kỹ năng mới này được ông
gọi là KTTT Mặc dầu Demo không đưa ra một định nghĩa đây đủ về KTTT nhưng ông chỉ ra rằng chỉ có những người nắm được các kỹ năng cần thiết này mới có thể thu được lợi
ích đầy đủ từ thời đại thông tin
Hiển nhiên rằng vào giữa những năm 80, công nghệ thông tin tiên tiến bắt đầu đáp ứng được những yêu cầu xử lý thông tin Demo cho rằng cùng với những kỹ năng và kiến thức
thông tin truyền thống, KTTT đã tạo nên tiền đề chung cho việc tự học tập suốt đời Ông cũng nhận thấy rằng nội hàm của
KTTT có thể giải thích ở nhiều góc độ nghề nghiệp như: Thư
viện, giáo dục, truyền thông Ông cũng gợi ý rằng, trong tất
cả các định nghĩa đang có lúc đó thì có một định nghĩa trong lĩnh vực đào tạo người dùng tin trong thư viện đã cố gắng đưa
ra một cách chi tiết những vẫn dé để xác định KTTT theo
phương diện chức năng tương ứng Định nghĩa này trước đó một năm cũng được nêu ra và từ đó đến nay vẫn mang tính cụ thể nhất Người ta coi nó như một cột mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khái niệm KTTT bởi vì chính nó đã
cho thấy sự hợp nhất của KTTT với việc đào tạo thư viện và
KTTT trở thành một vấn đề nổi cộm trong ngành thư viện Định nghĩa được hình thành trong năm 1985 tại thư viện Auraria ở khu học xá Devor của trường Đại học Tổng hợp
Colorado Thư viện ở đây tiến hành nghiên cứu chương trình
đào tạo người dùng tin của thư viện có thể đáp ứng được
Trang 8KTTT cua 30 nghìn sinh viên (có độ tuổi từ 18 trở lên) như thế
- Các kỹ năng (chiến lược nghiên cứu, đánh giá thông tin)
- Kiến thức về sử dụng các công cụ, và nguồn tin
* Được hình thành, phát triển qua tích luỹ Den qua cac thái độ, hành vị như:
- Sự bền bỉ
- Sự chú ý đến các chi tiết
- Sự thận trọng chú ý khi tiếp cận các nguồn tin in ấn và các nguồn tin ở dạng khác
* Sự thâm dụng về thời gian và sức lực
* Nhu cầu tin - hoạt động giải quyết vấn đề
* Sư khác biệt nhưng vẫn có nét tương đồng giữa KTTFT và kiến thức máy tính
KTTT không phải là:
* Chỉ đơn thuần là các kiến thức về các nguồn tin
* Chỉ đơn thuần coi thư viện là nguồn tin duy nhất
* Tìm kiếm thông tin (mà còn hiểu và đánh giá thông tin)
Một loạt các khía cạnh của định nghĩa này cũng cần làm nổi bật lên như sau
Trang 9* Mot tập hợp các kỹ năng cần có là một trong những dặc
điểm của KTTT Chúng được coi như là chiến lược nghiên cứu
và đánh giá thông tin
* KTTT không chỉ giới hạn ở việc chỉ xác định nguồn tin
mà còn phải hiểu và đánh giá nguồn tin đó
* Thư viện không phải là nguồn thông tin duy nhất
* KTTT đòi hỏi những thái độ đặc thù như nhận biết được
nhu cầu tin và việc sử dụng chính xác thông tin
Xuất phát từ lĩnh vực đào tạo người dùng tin, một lĩnh vực
chỉ tập trung vào vấn đề tìm tin trong thư viện, những quan
điểm trên đã mang đến cho ta một lĩnh vực khác rộng hơn mà
việc đào tạo người dùng tin phải thực hiện trong tương lai
Định nghĩa trên đã đưa ra một loạt các tham số về các nguồn
tin hiện có và nhấn mạnh rằng tìm kiếm thông tin không chỉ đơn thuần giới hạn trong không gian của thư viện
Trong suốt những năm 80 của thế kỷ 20, vấn đề KTTT
được xã hội rất chú ý Ví du vao nam 1987, Carol Kuhlthau da đưa ra một câu hỏi như sau:
Trong một xã hội thông tin, một người có KT là người
nhu thé nao? KTTT có quan hệ mật thiết đến chức năng nhận
thức Nó liên quan đến khả năng đọc, lĩnh hội và sử dụng thông tin thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày Nó cũng liên
quan đến khả năng nhận biết nhu cầu tin và tìm kiếm thông tin
để trợ giúp việc ra quyết định KTTT đòi hỏi những khả năng
để quản lý một khối lượng lớn thông tin từ máy tính và từ các
kênh thông tin đại chúng và khả năng tự học suốt đời Bởi vì
những thay đổi về công nghệ và xã hội đòi hỏi cần có những
kỹ năng và kiến thức mới
Jan Olsen và BIl Coons cũng đã nghiên cứu KT TT trong phạm vi rộng hơn: KTTT là sự hiểu biết vai trò và quyền lực
Trang 10cua thong tin, la kha nang xác định vị trí các thong tin do, tim
và sử dụng chúng để hỗ trợ cho quá trình ra quyết định, khả
nang tạo ra thông tin và xử lý thông tin thong qua các công cụ
xử lý thông tin điện tử
Nói tóm lại, KTTT là sự phát triển tất yếu của nhận thức truyền thống về tri thức, là một sự phản ứng trước cuộc cách
mạng thông tin mà chúng ta đang phải đương đầu
Vào nửa cuối thập kỷ, các nhà thư viện ở các trường học
đã diem lại các chương trình đào tạo người dùng tin với quan điểm hướng tới tương lai Họ đã có một sự chuyển đổi về khái niêm khi đánh giá lại những mục tiêu phát triển của mình Đó
là sự thay đổi về khái niệm Kiến thức thư viện thành Kiến thức thông tin Vào cuối thập kỷ này, các hướng dẫn về kỹ năng
thư viên được coi như là quá thiếu so với nhu cầu học tập
trong một xã hội thông tin và nhiều chương trình đào tạo
người dùng tin trong thư viện đã được thay đổi để trở thành chương trình đào tạo về KTTTT Trong giai đoạn những năm 80
cua thé ky 20, các thư viện ở Mỹ đã chú ý đặc biệt đến vai trò
của thư viện trong quá trình học tập Một số báo cáo đã cho thấy sự cần thiết về đổi mới giáo dục trong quốc gia, như báo cáo “Sự hiểm họa của một quốc gia” hay báo cáo “Các trường
Đại học” Sự tiếp nhận khái niệm KTTT là một sự phản hồi của lĩnh vực thư viện trước sự thờ ơ hay tảng lờ của quá trình
đối mới giáo dục Giờ đây, các nhà thư viện đã bát đầu chú ý đến mối quan hệ giữa chương trình đào tạo người dùng tin với quá trình tự học tập suốt đời
Trong năm 1987, một Hội nghị quốc gia với chủ đề “Các thư viện và sự tìm kiếm một nền giáo dục tiên tiến” do trường
Đại học Tổng hợp Columbia kết hợp với trường Đại học Tổng hợp Colorado tổ chức để xem xét vai trò thư viện trường học trong tiến trình đổi mới giáo dục Những người tham gia vào Hội nghị này bao gồm các giảng viên và các nhà quản lý trong
Trang 11các trường Đại học, giảng viên thư viện, các đại diện của Chính phủ, giới kinh doanh và các tổ chức giáo dục Trong bản báo cáo tại Hội nghị, bà Patricia Breivik đã chỉ ra những vấn để của thời đại và hướng phát triển của các thư viện
trường học Bà lưu ý về sự thống nhất cần có rằng: để đổi mới
đào tạo sau đại học, sự hội nhập hoàn toàn của thư viện vào
quá trình đào tạo là một điều thiết yếu Đây là một lĩnh vực
mà bản báo cáo “Các trường đại học” đã nhấn mạnh, còn bản
báo cáo “Nguy cơ của một quốc gia” cũng đưa ra vấn đề sinh
viên phải được chuẩn bị để cho quá trình tự học suốt đời
Bà đã giải thích: để thực hiện được học tập suốt đời, người
sinh viên phải có KTTT, nhờ đó mà người sinh viên mới có
thể:
* Hiểu được các quá trình để nắm bắt thông tin, bao gồm
cả hệ thống tìm tin và truyền tin
* Có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động của các kênh thông tin khác, bao gồm cả các thư viện để đáp ứng sự đa
dạng của nhu cầu tin
* Trang bị được những kỹ năng cơ bản để tiếp nhận và lưu
trữ thông tin như: kỹ năng về cơ sở dữ liệu, kỹ năng xử lý
bảng biểu và văn bản
* Là những công dân có trách nhiệm, sáng suốt trong việc xem xét các vấn đề chính sách xã hội có liên quan đến thông tin như: bản quyền, thông tin cá nhân, thông tin chính phủ và các vấn đề chính sách thông tin sẽ nảy sinh
Trong hội nghị 1987 cũng có các ý kiến khác như: đối với những sinh viên muốn có được KTTTT thì ở trình độ sau đại học học cần phải được trang bị các kỹ năng xử lý thông tin và các môn học về KTTT phải được dạy xen lẫn với việc học các
môn học chuyên môn
Trang 12Như vậy vào cuối thập kỷ này, khi nhận thức về KTTT phát triển sâu rộng, người ta đã nhận định rằng các kỹ năng về KTFT nên được dạy song song với các môn học khác KTTT
đã trở thành một vấn đề giáo dục phổ biến mà ở đó người cán
bộ thư viện với tư cách là một giáo viên giảng dạy đóng vai trò
chủ đạo Vào cuối thập kỷ 80, vai trò của các kỹ nang thư viện
trong giảng dạy được nghiên cứu, các chương trình đào tạo về người dùng tin được mở rộng để bao quát rộng hơn những vấn
đề liên quan đến việc giảng dạy KTTT Theo W.B.Lukeubill
giải thích thì: khi KT TT được áp dụng vào thư viện, nó không chỉ dùng lại các kỹ năng xác định nguồn tin và có những kết
quả tìm phù hợp với nhu cầu tìm mà việc giảng dạy người
dùng tin còn tạo cho ta có khả năng xúc tiến các chiến lược nhằm giúp có những giải pháp tiếp cận hữu hiệu để thỏa mãn
nhu cầu tin
Tuy nhiên, vào những năm 80, không phải mọi quan điểm
về KTTT đều xuất phát từ lĩnh vực thư viện Ở Hà Lan, ủy ban
cố vấn về giáo dục và công nghệ thông tin thành lập năm 1981
đã đưa ra một bản báo cáo đầu tiên trong năm 1982 với một tiêu đề “Học công nghệ thông tin” để giới thiệu cho học sinh phổ thông Viện phát triển giáo dục quốc gia đã bắt tay tiến hành một dự án quốc gia 1983 nhằm hướng dẫn cho tất cả học sinh phổ thông (lứa tuổi từ 12 - 16 tuổi) về công nghệ thông
tin Mục tiêu của dự án là đưa chương trình học này vào dạy xen lẫn với chương trình học chính khóa Trong bản báo cáo lần thứ 2 năm 1984, ủy ban này đưa ra một chủ đề mới “Kiến thức thông tin và kiến thức máy tính” với định nghĩa: các kỹ
năng và kiến thức sử dụng máy tính, lấy thông tin để giải quyết vấn đề hay tăng hiểu biết về một vấn đề xác định cũng
như điều khiển các quá trình hoạt động
Quan niệm về KTTT và kiến thức máy tính của Hà Lan khác với của Mỹ vì người Mỹ cho rằng: KTTT không có nghĩa