Chương trình đào tạo Hiện nay trong toàn quốc, không kể các trường cao đẳng, có 4 cơ sở đào tạo đại học chính qui ngành thư viện - thông tin thông tin - thư viện đó là khoa Thư viện -
Trang 1ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH
VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO
NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
DE PHAT TRIEN GIAO DUC DAI HOC
NGANH THU VIEN - THONG TIN
Nguyễn Thị Lan Thanh
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
1 Những bất cập của chương trình và phương pháp đào tạo ngành Thư viện- Thông tin (Thông tín - Thư viện)
a Chương trình đào tạo
Hiện nay trong toàn quốc, không kể các trường cao đẳng,
có 4 cơ sở đào tạo đại học chính qui ngành thư viện - thông tin (thông tin - thư viện) đó là khoa Thư viện - Thông tin (tên quen dùng Thông tin - Thư viện) trường Đại học Văn hóa Hà
Nội, Bộ môn Thông tin - Thư viện trường Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, khoa Quản trị
thông tin trường Đại học dân lập Đông Đô và khoa Thư viện-
thông tin trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Trong chương trình đào tạo của các trường này, nhìn nhận một cách chủ quan, có
thể thấy mục tiêu đào tạo rất đa dạng Để tiện cho việc trình bày, có thể hiểu mục tiêu đào tạo biểu thị qua ba tiêu chí sau:
I- Bằng tốt nghiệp
2- Khả năng có được ở người sinh viên sau khi tốt nghiệp
Trang 23- Dia chi lam viéc
Cu thé, sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Văn hóa Hà Nội được nhận bằng cử nhân văn hóa (ngành Thư viên - Thông tin) Sau khi tốt nghiệp sinh viên có khả năng thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nhận thức đây đủ các kiến thức cơ bản về khoa học thư viện - thư mục, thông tin và vận dụng chúng một cách toàn diện vào thực tiễn
- Ung dụng công nghệ tin học vào công tác Thư viện - Thong tin
Với khả nang như vậy họ có thể làm việc ở các cơ quan
thư viện, cơ quan thông tin khoa học hoặc trong thiết chế hợp nhất giữa thư viện và thông tin
Tương tự như vậy ở trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, sinh viên tốt nghiệp
được nhận văn bằng cử nhân khoa học nhân văn (chuyên
ngành thông tin - thư viện) Ở các sinh viên này có khả năng thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nhận thức đầy đủ các quy luật chung và các nguyên lý
cơ bản của khoa học thông tin - thư viện, vận dụng vào thực tiễn hoạt động chuyên môn
- Phân tích, thiết kế hệ thống thông tin - thư viện, xây dựng được chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức cho cơ quan thông tin - thư viện
- Thu thập nguồn tin, xử lý, phân tích, tổng hợp thông tin
trong các cơ quan thông tin khoa học công nghệ, thông tin
khoa học xã hội và nhân văn ở trung ương và các địa phương
- Xây dựng, quản trị, khai thác các cơ sở dữ liệu tích hợp
và đặc thù
Trang 3- Ưng dụng công nghệ tin học và kỹ thuật tự động hóa trong cong tác thong tin - thư viện v.v
Khi ra trường các sinh viên có thể đảm nhiệm tất cả các
khâu công tác từ tổ chức điều hành đến trực tiếp triển khai hoạt động tại các thư viện khoa học và trung tâm thông tin các
Bộ, các Ngành, các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, các Công ty, Xí nghiệp v.v
Còn ở trường Đại học dân lập Đông Đô sinh viên tốt
nghiệp được nhận bằng cử nhân ngành thông tin học và quản trị thông tin Khi ra trường sinh viên có khả năng làm những công việc sau:
- Nghiên cứu và giảng dạy về khoa học thông tin, đảm
nhận và tổ chức các khâu công tác của quá trình thông tin - tư
liệu
- Biết điều hành và quản lý cơ quan thông tin ; ứng dụng
công nghệ thông tin vào công tác thông tin - thư viện
Nhờ có các khả năng như vậy, sinh viên ra trường sẽ làm việc tại các cơ quan - bộ phận thông tin, tư liệu, thư viện và văn phòng
Như vậy, qua mục tiêu đào tạo của 3 trường, chúng ta thấy chưa có sự phân biệt rõ rệt giữa các mẫu hình người cán bộ được đào tạo: Cán bộ thư viện, cán bộ thư viện - thông tin hay
cán bộ quản trị thông tin Về mật nguyên lý, để đáp ứng mục
tiêu đào tạo cần phải xác lập chương trình đào tạo tương ứng Tuy nhiên thực tế nghiên cứu chương trình đào tạo cho thấy, chương trình (bao gồm các môn học) của các trường trên chưa
phù hợp với mục tiêu đào tạo Cụ thể, cử nhân của Đại học
Văn hóa khi ra trường nếu làm việc ở các cơ quan thông tin thì
thiếu nhiều kiến thức về thông tin học và công nghệ thông tin;
ngược lại các cử nhân thông tin học và quản trị thông tin của Đại học dân lập Đông Đô khi ra trường, nếu làm việc ở các cơ
Trang 4quan thư viện thì lại thiếu nhiều kiến thức về thư viện - thư
mục v.v Nói một cách khác, việc xác định mẫu hình người cán bộ được đào tạo trong các trường thuộc ngành thư viện - thông tin (thông tin - thư viện) là chưa rõ, chưa phù hợp với địa chỉ làm việc (tức là nơi tiếp nhận sinh viên sau khi tốt nghiệp) Và vì vậy, nội dung chương trình đào tạo được xây dựng chưa khoa học: Thiếu những môn học cần thiết hoặc
thừa những môn học không cần thiết
Bên cạnh nội dung chương trình chưa khoa học là thời
lượng mỗi môn học chưa hợp lý, biểu hiện ở số đơn vị học
trình của một môn học giống nhau nhưng lại chênh lệch nhau
khá nhiều Ví dụ: Định chủ đề tài liệu trong chương trình của
Bộ môn Thông tin - Thư viện (Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, ĐHỌG HN) là 2 đơn vị học trình thì ở Đại học Văn hóa Hà Nội là 5 đơn vị học trình; hay môn công tác với người đọc trong chương trình của Bộ môn Thông tin - Thư viện là 2 đơn vị học trình thì ở Đại học Văn hóa Hà Nội là 4 đơn vị học trình
Đồng thời với sự chưa hợp lý của thời lượng môn học là
sự chưa hợp lý trong việc phân chia giờ giảng lý thuyết, thảo
luận và thực hành Ví dụ: Chỉ có một số môn học có 2/3 s6 gid
lên lớp là lý thuyết, còn lại đa số các môn học số giờ lý thuyết chiếm 90 - 95%
Tóm lại, nghiên cứu chương trình đào tạo của các trường
chúng ta thấy mục tiêu đào tạo chưa được xác định rõ dân đến
nội dung chương trình không phù hợp, sản phẩm được đào tạo
ra trường khi làm việc ở những địa chỉ giống nhau thì bộc lộ
những thiếu hụt về kiến thức không đáp ứng được yêu cầu của
thực tế
b Phương pháp đào tạo
Hầu hết phương pháp đào tạo của các trường vẫn duy trì theo lối kinh viện, nghĩa là thây giảng bài, trò ghi chép Đề cải
thiện vấn đề này đã có rất nhiều các cuộc hội nghị, hội thảo,
Trang 5tập huấn về phương pháp đào tạo mới lấy người học làm trung
tâm, chủ động tiếp thu kiến thức, người thầy sẽ trở thành người cố vấn gợi mở giúp sinh viên phát triển kiến thức Tuy nhiên cho đến nay, kết quả triển khai thực hiện phương pháp đào tạo mới chưa đạt được nhiều Tình trạng phổ biến trong các nhà trường vẫn là phương pháp truyền đạt kiến thức một cách thụ động Có thể nói, phương pháp đào tạo chưa thực sự ngam sau vào nhận thức của từng giảng viên
Vấn đề đặt ra là những nguyên nhân nào dẫn đến những bất cập cả trong chương trình và phương pháp đào tạo? Nguyên nhân có rất nhiều, song có lẽ chủ yếu hơn cả là:
1- Chương trình đào tạo chậm đổi mới (có trường 10 nam chưa thay đổi chương trình)
2- Sức ỳ của một số đông giảng viên khá lớn: Chưa đổi
mới được nhận thức về hiệu quả của phương pháp giảng dạy
mới, ngại thay đổi thói quen ảnh hưởng xấu đến chất lượng
giảng dạy như: Không soạn thảo giáo án đầy đủ, không đọc tài liệu tham khảo
3- Phương pháp đào tạo chưa được triển khai sâu rộng
trong các trường Nhà trường chưa tạo điều kiện cho việc áp dụng phương pháp giảng dạy mới như: Hệ thống sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, các phương tiện kỹ thuật V.V
Những nguyên nhân trên cũng chính là những nguyên
nhân kìm hãm sự phát triển giáo dục - đào tạo đại học nói
chung và ngành Thư viện - Thông tin nói riêng
Những bất cập trên trong chương trình và phương pháp
đào tạo không thể tiếp tục tồn tại trong bối cảnh mới, bối cảnh
của nền văn minh nhân loại, nền kinh tế tri thức, trong đó giáo dục đại học được coi là nơi sản xuất nguồn nhân lực không những phải có chất lượng cao mà còn cần hiệu quả cao trên cơ
Trang 6sở chuyển đào tạo chủ yếu là kiến thức và kỹ năng sang chủ yếu là đào tạo năng lực: thu thập thông tin, xử lý tài liệu và ra
quyết định hành động Chính vì vậy xuất hiện nhu cầu khách
quan phải đổi mới sâu sắc và toàn diện chương trình và
phương pháp đào tạo đại học
2 Yêu cầu của việc đối mới chương trình và phương
pháp đào tạo
a Bdo đảm tính toàn điện
Chương trình đào tạo phải được đổi mới toàn diện từ mục
tiêu đào tạo, thời lượng của các khối kiến thức, thời lượng của
từng môn học, cho đến chất lượng đào tạo
Bên cạnh tính toàn diện của chương trình là tính toàn diện của đổi mới phương pháp đào tạo Mỗi phương pháp đào tạo
đều có những ưu và nhược điểm Một phương pháp có thể áp
dụng tốt cho trường hợp này và không tốt đối với trường hợp
khác Bởi vậy để có thể lựa chọn được phương pháp đào tạo
thích hợp chúng ta cần tính đến các tiêu chuẩn như: Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, trình độ học vấn và điều kiện kỹ
thuật v.v
b Bảo đảm tính khách quan
Tính khách quan của việc đổi mới chương trình đào tạo thể hiện ở sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đào tạo để đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nói một
cách khác, việc nâng cao chất lượng đào tạo là yêu cầu thực tế đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Mà muốn nâng cao chất
lượng đào tạo thì không thể nằm ngoài việc đối mới chương
trình và phương pháp đào tạo
c Bảo đảm tính khả thì
Trang 7Việc đổi mới chương trình và phương pháp dao tạo phải
dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, bảo đảm thực hiện nội
dung chương trình và phương pháp đào tạo phải phù hợp với yêu cầu đào tạo của từng ngành trong thực tế
3 Nội dung đổi mới trong chương trình và phương pháp đào tạo
a Doi voi chương trình đào tạo
Nội dung đổi mới phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
* Đảm bảo thực hiện mục tiêu và nội dung đào tạo theo
luật giáo dục
Điều 35 của luật giáo dục đã chỉ rõ: "Mục tiêu của giáo
dục đại học và sau đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và
năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ được đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một ngành nghề, có
khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo
Về nội dung đào tạo, Điều 36 của luật Giáo dục đã nêu:
"Phải có tính hiện đại và phát triển: bảo đảm cơ cấu hợp lý siữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức chuyên ngành và
các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế
thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp bản sác văn hóa dân
tộc, tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới ”
Đào tạo trình độ đại học phải bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và chuyên ngành tương đối hoàn chỉnh; có phương pháp làm việc khoa học; có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn
Trang 8Để đảm bảo thực hiện mục tiêu và nội dung đào tạo như
trên, trong thời gian tới các khoa đào tạo cán bộ thư viện- thông tin cần rà soát lại mục tiêu đào tạo của ngành mình, làm
sao xác định rõ những phẩm chất chính trị, phẩm chất chuyên
môn cho mẫu hình người cán bộ của ngành trong tương lai
Để đảm bảo tính đúng đắn của mục tiêu đào tạo đòi hỏi
cần trả lời những vấn đề sau: Đào tạo ai? Khả năng làm được
gi sau khi tốt nghiệp? và sẽ làm việc ở đâu? Điều này liên
quan đến việc xác định tên gọi loại cán bộ được đào tạo là:
Cán bộ thư viện, thư viện - thông tin hay quản trị thông tin
Trên cơ sở xác định đúng mục tiêu đào tạo các môn học trong chương trình sẽ được chọn lựa một cách lô gic và khoa
học, đồng thời nội dung môn học phải được đổi mới sao cho
phù hợp với mục tiêu đào tạo chuyên ngành, bảo đảm thể hiện
tính hiện đại và cập nhật Điều đó có nghĩa là, nội dung chương trình phải đảm bảo đầy đủ các môn học cần thiết bao
gồm cả các môn bắt buộc và tự chọn, các môn học được bố trí theo một trật tự hợp lý, có khối lượng đủ lớn và mang nội dung tích hợp tạo thuận lợi cho việc áp dụng các phương pháp hội thảo hoạc thực hành cho người học
* Đảm bảo chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là vấn đề cốt lõi của chương trình đào
tạo Nó biểu hiện rõ nét qua năng lực có được của người sinh
viên sau khi được đào tạo trong trường Các năng lực đó chính là:
- Phẩm chất nhân văn bao gồm: Khả năng hợp tác cùng
đồng nghiệp thực hiện các công việc được giao ; khả năng
thuyết phục đồng nghiệp chấp nhận các ý tưởng kế hoạch dự
án để cùng thực hiện và khả năng quản lý một tổ chức để
thực hiện những mục tiêu đã đề ra:
- Kỹ năng thực hành thành thạo nghề nghiệp chuyên môn
Trang 9- Năng lực nhận thức bao gồm: Từ biết, hiểu, ứng dụng cho đến chuyển giao và sáng tạo
- Nang lực tư duy bao gồm: Tư duy cụ thể, lô gic, hệ
thống và tư duy trừu tượng
Như vậy, việc đảm bảo đào tạo đầy đủ các năng lực trên là
vấn đề sống còn của đào tạo đại học trong giai đoạn mới
* Đảm bảo thời lượng hợp lý cho các khối kiến thức và
từng môn học
Theo qui định của Bộ Giáo dục và đào tạo chương trình
đào tạo cử nhân gồm hai khối kiến thức: Khối kiến thức giáo
dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp
Trong khuôn khổ của bài viết này không đề cập đến khối kiến
thức giáo dục đại cương Đối với khối kiến thức giáo dục
chuyên nghiệp, như trên đã nêu, căn cứ vào mục tiêu đào tạo
cần xác định những môn học bắt buộc và tự chọn trong
chương trình đào tạo, cố gắng đảm bảo số đơn vị học trình dao động trong khoảng 122 - 130 đơn vị học trình ; thời lượng cho
mỗi môn học không quá nhỏ (2 don vi hoc trinh/ 1 mén hoc)
Cụ thể, đối với chương trình dành cho khoa Thư viện - thông
tin (thông tin - thư viện), môn “Công tác với người đọc” và
“người dùng tin” nên kết hợp làm một môn với số đơn vị học
trình là 4; hoặc môn “lịch sử sách” và “lịch sử thư viện” có thể kết hợp làm một môn với 3 đơn vị học trình Cùng với việc xác định số đơn vị học trình của từng môn học cần phân chia hợp lý số giờ lý thuyết, giờ thực hành và giờ thảo luận Chẳng
hạn không chấp nhận 100% số giờ lên lớp là lý thuyết đối với
môn học "Bổ sung vốn tài liệu và đăng ký” hoặc với môn ““Tổ chức quản lý công tác thư viện - thông tin” v.v
Tóm lại, việc đổi mới quy định thời lượng cho các khối
kiến thức và cho từng môn học là rất cần thiết để chương trình
Trang 10đào tạo của chúng ta tiến tới (có thể) hòa nhập với các nước trên thế giới
b Đối với phương pháp đào tạo
Hiện nay, với phương pháp dạy theo kiểu truyền thống
như trên đã nêu lại thiếu tài liệu tham khảo cũng như các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học vv thì rất khó cho việc thực hiện mục tiêu đào tạo ở các thứ bậc cao trong các lĩnh vực nhận thức, kỹ năng và tình cảm Chính vì vậy đòi hỏi phải đổi mới phương pháp đào tạo, nghĩa là phải tìm được những phương pháp giảng dạy phù hợp cho mục tiêu đào tạo của chương trình
Thực tế cho thấy, bên cạnh phương pháp giảng bài truyền
thống có rất nhiều phương pháp đào tạo sinh động khác, đó là:
Phương pháp thảo luận nhóm, thực hành, nghiên cứu tình
huống, tham quan thực tế, đóng kịch vv Mỗi phương pháp đều có mặt ưu và nhược điểm Do đó để có thể lựa chọn được các phương pháp giảng dạy thích hợp cần dựa vào một số tiêu
chuẩn như: Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, trình độ của
học viên và diều kiện kỹ thuật cho phép sử dụng phương pháp
lựa chọn Bên cạnh các tiêu chuẩn này cần quán triệt đầy đủ
các nguyên lý chỉ đạo quá trình dạy và học, bao gồm: Học đi
đôi với hành, tạo cho học viên chủ động và tích cực tham gia vào quá trình đào tạo; gây được hứng thú, học tập và tăng
cường động cơ học tập của học viên; kết hợp hoặc thay đổi các phương pháp đào tạo thích hợp khác nhau
Từ những vấn đề xem xét trên, có thể thấy, cho dù lựa
chọn phương pháp đào tạo nào thì cũng phải phân tích đến
hiệu quả thu được sau khi áp dụng chúng Nghĩa là, phương pháp đó phải đảm bảo giúp cho người học tốt hơn, nhớ và vận
dụng kiến thức tốt hơn vào thực tế Như vậy, đổi mới phương
pháp đào tạo là rất cần thiết và đặc biệt mang lại tác dụng rất
lớn khi tìm ra được phương pháp đào tạo thích hợp góp phần