Theo đoạn số 03 trong VAS 14: “ doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiềnthu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thunhư bán sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng
Trang 1CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Về mặt lý thuyết: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý điều tiết vĩ mô của nhà nước theođịnh hướng XHCN như hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hạch toánkinh doanh độc lập, tự chủ Hoạt động của doanh nghiệp đã và đang phát triểnmạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, tính phức tạp của nó đòi hỏi mỗidoanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh hiệu quả nhằm đứng vững trênthị trường Trong đó, bán hàng là cơ sở, tiền đề cho sự tồn tại và phát triểnkhông chỉ đối với doanh nghiệp thương mại mà còn đối với sự phát triển củabất kỳ doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, kế toánbán hàng là một đòi hỏi mang tính cấp thiết đặc biệt được quan tâm chú trọngtrong công tác kế toán
Các chuẩn mực kế toán Việt Nam như: VAS 02 “Hàng tồn kho”; VAS
14 “Doanh thu và thu nhập khác”; VAS 21 “Trình bày BCTC”,… đã tạo hànhlang pháp lý quan trọng cho việc hạch toán doanh thu bán hàng, xác định giávốn hàng bán và trình bày thông tin trên BCTC Tuy nhiên, do tính chất phứctạp việc vận dụng các chuẩn mực vẫn còn những bất cập cần được hưóng dẫn
và hoàn thiện Ngày 20/3/2006 Bộ Tài Chính đã ban hành chế độ kế toándoanh nghiệp theo quyết định 15/2006/QĐ/BTC thay thế cho quyết định1141/2001/QĐ cho thấy sự hoàn thiện từng bước của chế độ kế toán ViệtNam Điều này đã thoả mãn và phục vụ tốt yêu cầu của giai đoạn phát triểnkinh tế thị trường, phù hợp cho việc Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới
Công tác kế toán bán hàng tại doanh nghiệp còn tồn tại không ít sai sótnghiêm trọng cần khắc phục như ghi nhận doanh thu sai thời điểm; chưa phảnánh đúng nội dung, kết cấu của tài khoản sử dụng; hệ thống sổ kế toán sử
Trang 2dụng chưa đầy đủ, bố trí sổ chưa khoa học; thông tin cung cấp chưa đáp ứngđược nhu cầu của ban quản trị công ty và các đối tượng có liên quan, … Vìvậy, việc tổ chức và hoàn thiện phương pháp kế toán bán hàng phù hợp vớichế độ kế toán hiện hành và yêu cầu quản lý của nền kinh tế là vấn đề cấpthiết được đặt ra đối với những người làm công tác kế toán trong doanhnghiệp.
Về mặt thực tế: Kế toán bán hàng là phần hành kế toán quan trọng
trong công tác kế toán của công ty Cổ phần Khí cụ điện I Theo kết quả phiếuđiều tra tổng hợp cho thấy tồn tại một số vấn đề về kế toán bán hàng như:phương thức tiêu thụ, lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, lập dự phòng phảithu khó đòi, các thông tin cung cấp cho nhà quản trị, sổ kế toán,… chưa phùhợp với chế độ kế toán hiện hành cần được nghiên cứu, phân tích và từ đó cógiải pháp hoàn thiện
1.2 Xác lập và tuyên bố đề tài.
Qua quá trình thực tập, em nhận thấy công tác kế toán bán hàng tạicông ty đang còn nhiều tồn tại và những bất cập cần được giải quyết Xuấtphát từ những vấn đề về lý luận và thực tế nêu trên, câu hỏi đặt ra là:
Bộ máy kế toán của công ty phải được tổ chức như thế nào cho phù hợpvới chế độ kế toán hiện hành?
Những vấn đề còn tồn tại trong công tác kế toán bán hàng là gì? Nhữnggiải pháp nào cần phải đưa ra để giải quyết những vấn đề còn tồn tại đó?
Hoàn thiện công tác kế toán bán hàng là một yêu cầu cấp thiết và có ýnghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng công tác kế toán tạidoanh nghiệp, giúp cho kế toán thực hiện tốt chức năng cung cấp tông tin choviệc ra quyết định quản lý
Trang 3Nhận thức được vai trò quan trọng đó và nhằm tìm ra câu trả lời chocác vấn đề đã đặt ra ở trên, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kế toán bánnhóm hàng thiết bị chiếu sáng tại công ty Cổ phần Khí cụ điện I”
1.3 Mục tiêu nghiên cứu.
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu của đề tài, em hi vọng sẽ hệ
thống hóa được lý luận về công tác kế toán bán hàng; tìm hiểu kỹ hơn vềchuẩn mực, chế độ kế toán và các quy định khác của Nhà nước có liên quanđến nghiệp vụ bán hàng
Về mặt thực tiễn: Đánh giá thực tiễn công tác kế toán bán hàng tại
công ty và đưa ra những giải pháp thiết thực giúp công ty Cổ phần Khí cụđiện I tổ chức tốt hơn công tác kế toán bán nhóm hàng thiết bị chiếu sáng, phùhợp với các quy định của nhà nước cũng như tình hình thực tế của doanhnghiệp Từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường,nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện tốtnghĩa vụ của mình đối với các cổ đông góp vốn, với người lao động, với Nhànước và các đối tượng khác có liên quan
1.4 Phạm vi nghiên cứu.
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, quy định về khung kết cấu luậnvăn của trường đại học Thương Mại và kiến thức về vấn đề nghiên cứu nênphạm vi nghiên cứu của đề tài có những giới hạn nhất định
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về kế toán bán nhóm hàng thiết bị chiếu
sáng
Không gian nghiên cứu: Tại công ty Cổ phần Khí cụ điện I.
Thời gian nghiên cứu: Tháng 3 năm 2011.
1.5 Kết cấu.
Luận văn có kết cấu gồm bốn chương:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu đề tài
Trang 4Chương 2 Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàngtrong doanh nghiệp thương mại.
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu và thực trạng về Kế toán bánnhóm hàng thiết bị chiếu sáng tại công ty Cổ phần Khí cụ điện I
Chương 4 Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện Kế toán bán nhómhàng thiết bị chiếu sáng tại công ty Cổ phần Khí cụ điện I
Trang 5
CHƯƠNG II TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN
BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại.
2.1.1 Doanh thu.
Theo đoạn số 03 trong VAS 14: “ doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiềnthu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thunhư bán sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng bao gồm cả những khoản phụthu và thu phí thêm ngoài giá bán (nếu có) mà không căn cứ vào việc doanhnghiệp đã thu được tiền từ các giao dịch đó hay chưa”
2.1.2 Các khoản giảm trừ doanh thu.
Theo đoạn số 03 trong VAS 14:
Chiết khấu thương mại: “Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp
bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn”
Giảm giá hàng bán: “Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người
mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu”
Giá trị hàng bán bị trả lại: “Giá trị hàng bán bị trả lại là giá trị khối
lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanhtoán”
Chiết khấu thanh toán: “Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán
giảm tiền cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thờihạn thanh toán của hợp đồng”
2.1.3 Giá vốn hàng bán.
Theo VAS 02 hàng tồn kho thì giá vốn của hàng hoá tiêu thụ được hiểu
là toàn bộ chi phí thực tế cấu thành nên sản phẩm, hàng hoá và là biểu hiện vềmặt giá trị của thành phẩm, hàng hoá Đối với các DNTM, giá vốn hàng bán
Trang 6là trị giá vốn của hàng hóa, các chi phí khác như chi phí hao hụt mất mát củahàng tồn kho sau khi trừ đi các khoản bồi thường, dự phòng giảm giá hàngtồn kho phải trích lập trong kỳ.
2.2 Một số lý thuyết về kế toán bán hàng.
2.2.1 Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại.
2.2.1.1 Phương thức bán buôn hàng hóa.
Khái niệm: Bán buôn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các đơn vị
thương mại, các doanh nghiệp sản xuất … để thực hiện bán ra hoặc để giacông chế biến rồi bán
Đặc điểm: Khi thực hiện phương thức bán buôn hàng hóa, hàng hóa vẫn
nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào tiêu dùng nên giá trị và giá trị sửdụng của hàng hóa chưa được thực hiện Hàng hóa thường được bán theo lôhoặc bán với số lượng lớn, giá bán biến động phụ thuộc vào khối lượng hàngbán và phương thức thanh toán
Phân loại: Trong bán buôn hàng hóa thường bao gồm các hình thức:
- Phương thức bán buôn qua kho: Là phương thức bán buôn trong đó hàng
bán phải được xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp Trong phương thứcnày có hai loại:
+ Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng tại kho: Theo hình thức này,khách hàng cử người mang giấy giới thiệu đến kho của doanh nghiệp trực tiếpnhận hàng và áp tải hàng về Sau khi nhận hàng, đại diện bên mua ký nhận đãnhận đủ hàng vào chứng từ bán hàng của bên bán đồng thời trả tiền hoặc chấpnhận thanh toán, hàng được xác định đã bán
+ Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng: Bên bán căn cứ vào hợp đồngkinh tế đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng của người mua, xuất kho gửi hàngcho người mua bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài Chi phívận chuyển hàng có thể do bên bán hay bên mua chịu tùy theo từng hợp đồng
Trang 7kinh tế đã ký kết Hàng gửi đi bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệpđến khi nào bên mua nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì quyền sởhữu hàng hóa mới được chuyển giao, hàng xác định là đã bán.
- Bán buôn vận chuyển thẳng: là phương thức bán buôn hàng hóa trong đó
hàng hóa bán ra khi doanh nghiệp mua từ nhà cung cấp không đem về nhậpkho của mình mà giao bán ngay hoặc chuyển bán ngay cho khách hàng.Phương thức này có thể được thực hiện theo các hình thức sau:
+ Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp: DNTM saukhi nhận được hàng từ nhà cung cấp của mình thì giao bán trực tiếp cho kháchhàng tại địa điểm do hai bên đã thỏa thuận Sau khi giao hàng, đại diện bênmua sẽ ký nhận vào chứng từ bán hàng và quyền sở hữu hàng hóa đã đượcchuyển giao cho khách hàng, hàng hóa được xác định là tiêu thụ
+ Bán buôn vận chuyển thẳng theo phương thức gửi hàng: DNTM nhận hàng
từ nhà cung cấp của mình gửi đi bán cho khách hàng mà không về nhập khocủa doanh nghiệp Khi khách nhận được hàng sẽ ký vào chứng từ bán hàng,hàng được xác định là bán, doanh thu được ghi nhận
2.2.1.2 Phương thức bán lẻ hàng hóa.
Khái niệm: Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho
người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua
về mang tính chất tiêu dùng nội bộ
Đặc điểm: Với phương thức bán lẻ thì hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu
thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đãđược thực hiện Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc với số lượng nhỏ, giá bánthường ổn định
Phân loại: Phương thức bán lẻ thường có các hình thức sau:
- Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán lẻ trong đó việc thu
tiền ở người mua và việc giao hàng cho người mua tách rời nhau Theo hình
Trang 8thức này, mỗi quầy hàng có một nhân viên thu ngân làm nhiệm vụ thu tiềncủa khách hàng rồi viết hóa đơn, tích kê giao cho khách hàng để họ đến nhậnhàng ở quầy hàng do mậu dịch viên bán hàng giao Hết ca hoặc hết ngày, mậudịch viên căn cứ vào hóa đơn, tích kê giao cho khách và kết quả kiểm kê hàngtồn quầy, xác định số lượng hàng đã bán trong ngày hoặc trong ca làm việclàm cơ sở cho việc lập báo cáo bán hàng Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền
và nộp tiền cho thủ quỹ Với hình thức này, việc mua hàng và thanh toán táchrời nhau nên sẽ tránh được những sai sót, mất mát hàng hóa và tiền, tạo điềukiện thuận lợi cho việc quản lý và phân bổ trách nhiệm đến từng cá nhân Tuynhiên phương thức này lại gây phiền hà và mất thời gian của khách nên ítđược áp dụng, chủ yếu sử dụng cho các mặt hàng có giá trị
- Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng
trực tiếp thu tiền và giao hàng cho khách Cuối ngày hoặc cuối ca bán hàng,mậu dịch viên phải kiểm kê hàng hóa tồn quầy, xác định số lượng hàng đãbán trong ca, trong ngày để lập báo cáo bán hàng đồng thời lập giấy nộp tiền
và nộp tiền cho thủ quỹ Hình thức này khá phổ biến vì nó tiết kiệm được thờigian mua hàng của khách hàng
- Hình thức bán hàng tự phục vụ: Theo hình thức này, khách hàng sẽ tự chọn
những hàng hóa mà mình cần mua sau đó mang đến bộ phận thu tiền và lậphóa đơn bán hàng Khi tổ chức bán hàng theo hình thức này, doanh nghiệp cóthể tiết kiệm được chi phí nhân viên, tạo điều kiện cho khách hàng có thể lựachọn mặt hàng cần thiết nhưng phải tổ chức tốt khâu quản lý tránh tình trạngmất mát và tổ chức đội ngũ nhân viên tư vấn thông tin về hàng hóa Hình thứcnày phù hợp với các doanh nghiệp có mặt hàng kinh doanh đa dạng, có giá trịthấp như mặt hàng tiêu dùng, đồ gia dụng, thực phẩm…
- Hình thức bán hàng trả góp: Với hình thức này người mua sẽ trả một số tiền
nhất định tại thời điểm mua hàng, số tiền hàng còn lại được thanh toán thành
Trang 9nhiều lần trong thời gian nhất định và phải trả một số tiền lớn hơn giá trị trảngay Về bản chất, bán hàng trả góp chính là một hình thức doanh nghiệp hỗtrợ tín dụng cho người tiêu dùng, giúp khách hàng có thể mua hàng ngay khiđiều kiện tài chính chưa cho phép Với những mặt hàng có giá trị lớn, để cóthể mua hàng trả góp khách hàng cần có những giấy tờ xác nhận khả năngthanh toán như giấy bảo lãnh của ngân hàng Hình thức này thường do cácdoanh nghiệp có khả năng tài chính hay có liên kết với các ngân hàng, tổ chứctài chính thực hiện
lý vẫn thuộc quyền sử hữu của DNTM, do đó hàng chưa thể xác định là hàngbán Sau khi bán được hàng, cơ sở nhận đại lý sẽ lập bảng kê hàng bán gửicho doanh nghiệp, đồng thời ghi nhận khoản hoa hồng bán hàng đại lý đượchưởng dựa trên số hàng đã bán và tỷ lệ phần trăm hoa hồng, tiền hàng nợ bêngiao đại lý Khi đó doanh nghiệp mới được ghi nhận doanh thu
- Xuất hàng để đổi lấy hàng hóa khác không cùng bản chất (trao đổi hàng hóa
có giá trị, giá trị sử dụng khác nhau)
Trang 10- Xuất hàng tiêu dùng nội bộ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp hay xuất hàng hóa để khuyến mãi.
2.2.2 Các phương thức thanh toán.
Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, việc xác định hình thức thanh toán,thời điểm thanh toán có ý nghĩa rất lớn Một phần nó đảm bảo quyền lợi củangười bán thu tiền được sau khi đã giao hàng, bù đắp được chi phí bỏ ra vàmang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Mặt khác, điều khoản thanh toán còn làmột biện pháp kích thích tiêu thụ, đẩy mạnh tốc độ lưu chuyển vốn, nâng caokhả năng sử dụng vốn của doanh nghiệp Các phương thức thanh toán phổbiến hiện nay là:
2.2.2.1 Phương thức thanh toán trực tiếp.
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được thựchiện trước hoặc ngay sau khi chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa Sự vậnđộng của hàng hóa gắn liền với sự vận động của tiền tệ
Việc thực hiện thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu,sec, hoặc có thể bằng hàng hóa (nếu là phương thức hàng đổi hàng) Tuynhiên, theo quy định của luật thuế GTGT, một trong những điều kiện để đượcthực hiện khấu trừ thuế GTGT thì các hóa đơn mua hàng có giá trị từ 20 triệuđồng thì việc thanh toán phải được thực hiện thông qua ngân hàng bằng cáchchuyển khoản hoặc séc thanh toán
Phương thức thanh toán trực tiếp đảm bảo cho doanh nghiệp thu hồivốn nhanh, hạn chế tình trạng bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên, phương thứcthanh toán có phạm vi áp dụng hẹp, thường dùng trong phương thức bán lẻhay khi doanh nghiệp có tài chính hạn chế hoặc nhận thấy khả năng thanhtoán, tư cách tín dụng của khách hàng thấp
Trang 112.2.2.2 Phương thức thanh toán trả chậm.
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyểngiao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu hànghóa
Phương thức thanh toán trả chậm là một hình thức doanh nghiệp cấp tíndụng cho các khách hàng của mình (tín dụng thương mại) Độ lớn, thời giancủa khoản tín dụng đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mối quan hệ vớikhách hàng; doanh nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm
có thời gian sử dụng lâu dài thường cho phép khách hàng trả chậm trong thờigian dài hơn với khoản nợ lớn hơn so với các doanh nghiệp có tiềm lực tàichính hạn chế; đồng thời cũng phụ thuộc vào điều kiện của khách hàng nhưsức mạnh tài chính, khả năng thanh toán, tư cách tín dụng Trong điều kiệncạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu các tiêu chuẩn tín dụng quá cao thì doanhnghiệp có thể loại bỏ nhiều khách hàng tiềm năng gây khó khăn trong việctiêu thụ hàng hóa, nhưng nếu tiêu chuẩn tín dụng quá thấp thì có thể làm tăngdoanh số bán nhưng cũng làm cho rủi ro tín dụng càng cao, gia tăng cáckhoản nợ khó đòi, chi phí thu tiền cũng tăng lên Do đó, doanh nghiệp phảixác định rõ chính sách tín dụng của mình phù hợp Đồng thời, khi thực hiệnbán trả chậm đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức theo dõi tốt các khoản nợ vềmặt giá trị, tình hình thanh toán, thời gian thanh toán
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào không kể là kinh doanh thương mại haysản xuất, công tác bán hàng là rất quan trọng và cũng là công cụ cần thiếtphục vụ cho quản lý Chính vì vậy, thời gian qua đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về kế toán bán hàng trong DNTM ở những cấp độ nghiên cứukhác nhau Dưới đây là một số đề tài em được tham khảo:
Trang 12Trong bài luận văn “Kế toán bán mặt hàng sữa tại công ty cổ phần sữa Quốc tế” của sinh viên Vũ Thị Thuỷ lớp 41D2 trường Đại học Thương Mại
do ThS Nguyễn Thị Hà hướng dẫn đã nêu ra những ưu điểm trong công tác
kế toán bán hàng của doanh nghiệp như chứng từ, tài khoản và sổ kế toán sửdụng theo đúng biểu mẫu quy định, từng tháng có đóng thành quyển do đó dễlưu trữ và truy vấn số liệu khi cần, đã cung cấp thông tin kế toán bán hàng ởmức độ nhất định đồng thời cũng có những phát hiện về vấn đề còn tồn tạinhư mẫu phiếu xuất kho của công ty vẫn sử dụng theo quyết định 1141 – TC/QĐ/CĐKT ngày 1 tháng 11 năm 1995 của BTC; công ty chưa thực hiện chínhsánh giảm giá hàng bán và chiết khấu thương mại cho khách hàng; Quy môcác khoản phải thu của công ty là tương đối lớn mà việc thanh toán của kháchhàng đôi khi còn rất chậm; chưa lập các khoản dự phòng… Luận văn cũngđưa ra được những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao công tác kế toán bán hàngtại công ty
Luận văn: “Kế toán bán hàng thiết bị các ngành phân tích khoa học tại công ty TNHH thương mại vật tư KHKT” của sinh viên Nguyễn Thị Hồng Thu lớp 41D4 trường Đại học Thương Mại do TS.Phạm Đức Hiếu hướng dẫn
đã chỉ ra những mặt đạt được về kế toán bán hàng tại đơn vị thực tập như tổchức chứng từ phù hợp; xác định doanh thu, giá vốn hàng bán đúng theo quyđịnh của chuẩn mực, chế độ kế toán và các vấn đề còn tồn tại như sử dụnghình thức chứng từ ghi sổ nhưng chưa sử dụng sổ đăng ký chứng từ ghi sổ;chưa mở sổ chi tiết bán hàng cho từng mặt hàng; chưa lập các khoản dựphòng và kế toán quản trị chỉ mới dừng lại ở việc cung cấp số liệu trong quákhứ mà chưa có phân tích dự đoán trong tương lai; chính sách bán hàng cònchưa đa dạng Với những phát hiện qua nghiên cứu, tác giả cũng đưa ra đượcnhững giải pháp nhằm hoàn thiện mở sổ chi tiết TK 5111 để phản ánh riêng
Trang 13cho từng mặt hàng; mở sổ đăng ký chứng từ ghi sổ; nâng cao kế toán quản trịbán hàng.
2.4 Nội dung kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại.
2.4.1 Kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán Việt Nam.
Kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại được quy định trựctiếp trong VAS 14 – “Doanh thu và thu nhập khác”, VAS 01- “Chuẩn mựcchung” và VAS 02- “Hàng tồn kho”
2.4.1.1 Kế toán bán hàng quy định trong VAS 14 – “Doanh thu và thu nhập khác”.
- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thìdoanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản
sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thutheo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu
có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự
về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo
ra doanh thu
- Khi hàng hóa được trao đổi để lấy hàng hóa khác không tương tự thì việctrao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Trường hợp này doanhthu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa nhận về, sau khi điều
Trang 14chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm Khikhông xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thìdoanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa đem trao đổi, saukhi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm
* Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng:
Theo VAS 14, đoạn 10: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồngthời thỏa mãn tất cả năm điều kiện:
(1) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền vớiquyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua
(2) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người
sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa
(3) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
(4) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịchbán hàng
(5) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
2.4.1.2 Kế toán bán hàng quy định trong VAS 01 – “Chuẩn mực chung”.
* Nội dung chuẩn mực các nguyên tắc cơ bản:
Cơ sở dồn tích: Theo đoạn 03, doanh nghiệp phải ghi nhận doanh thu ngay
khi hàng xác định đã bán, không căn cứ vào thời điểm thực tế doanh nghiệpthu được tiền hay các khoản tương đương tiền
Giá gốc: Theo đoạn 05, trị giá vốn hàng bán phải được xác định tính theo số
tiền hoặc tương đương tiền mà doanh nghiệp đã trả hoặc phải trả (đối vớihàng hóa mua bằng tiền) hoặc giá trị hợp lý của hàng hóa (đối với hàng hóatrao đổi) đến khi hàng hóa đó ở trạng thái sẵn sàng sử dụng để bán
Phù hợp: Theo đoạn 06, việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với
nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phítương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó
Trang 15Nhất quán: Theo đoạn 07, doanh nghiệp phải nhất quán trong việc sử dụng
hình thức ghi sổ kế toán, tính đơn giá hàng xuất kho từ đó tính giá vốn hàngbán
Thận trọng: Yêu cầu kế toán bán hàng phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn
kho, nợ phải thu khó đòi…
* Các yêu cầu cơ bản đối với kế toán: Kế toán bán hàng phải tuân theo
nguyên tắc trung thực, khách quan, kịp thời, đầy đủ và có thể so sánh
2.4.1.3 Kế toán bán hàng quy định trong VAS 02 - “Hàng tồn kho”:
* Nguyên tắc xác định giá vốn hàng bán:
Trị giá hàng bán được tính theo giá gốc theo nguyên tắc giá phí.Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tínhtheo giá trị thuần có thể thực hiện được Trong đó, giá gốc hàng bán bao gồm:Chi phí mua, chi phí chế biến, và các chi phí liên quan trực tiếp khác phátsinh để có được hàng hóa ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng để bán
* Xác định giá vốn hàng bán:
- Phương pháp tính theo giá đích danh
- Phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp nhập trước, xuất trước
- Phương pháp nhập sau, xuất trước
(a) Phương pháp tính theo giá đích danh:
Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng đối với doanh nghiệp
có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được, có đơn giá cao.Khi thực hiện doanh nghiệp phải biết được các đơn vị hàng hóa bán ra thuộcnhững lần mua nào và dùng đơn giá của lần mua đó để xác định giá trị hàng
đã xuất trong kỳ
Ưu điểm: Thuận lợi cho kế toán trong việc tính giá hàng và cho kết quả tínhtoán chính xác nhất trong các phương pháp
Trang 16Nhược điểm: Chỉ phù hợp với các doanh nghiệp có ít mặt hàng, ít chủng loại
hàng hóa, có thể phân biệt, chia tách thành nhiều thứ riêng rẽ và giá trị hàngxuất bán không sát với giá thị trường
(b) Phương pháp bình quân gia quyền:
Theo phương pháp này, giá vốn của từng loại hàng bán được tính theogiá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từngloại hàng đó được mua trong kỳ Giá trị trung bình có thể được tính theo thời
kỳ hoặc vào mỗi lần nhập một lô hàng về hoặc giá trung bình kỳ trước
Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện
Nhược điểm: Độ chính xác không cao do những biến động của giá cả hàng
hóa trên thị trường, đồng thời việc tính giá đơn vị của hàng xuất bán cũng nhưgiá trị hàng bán được tính vào cuối kỳ nên không cập nhật trị giá vốn hàngbán ra, có thể gây ảnh hưởng đến tốc độ công tác quyết toán trong doanhnghiệp
\
(c) Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO).
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng hóa được mua trướchoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng hóa còn lại cuối kỳ là hàngtồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ Theo phương phápnày thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thờiđiểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá củahàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho
Giá đơn vị bình
quân cả kỳ dự trữ =
Giá gốc hàng hóa tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng hàng hóa tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Giá thực tế hàng
xuất bán
Số lượng hàngxuất bán
Đơn giá bình quânhàng xuất bán
Trang 17Ưu điểm: Hàng tồn kho phản ánh trên bảng cân đối kế toán được đánh giá sát
với giá thực tế tại thời điểm lập báo cáo
Nhược điểm: Doanh thu hiện tại không phù hợp với chi phí hiện tại
(d) Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO)
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được muasau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ làhàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó Theo phương pháp này thì giátrị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng,giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặcgần đầu kỳ còn tồn kho
Ưu điểm: Thực hiện phương pháp này đảm bảo nguyên tắc phù hợp trong kếtoán và khi giá cả có xu hướng tăng lên thì doanh nghiệp có thể tạm hoãntrách nhiệm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp do chi phí lúc đó là cao nhất.Nhược điểm: Khi giá cả hàng hóa có xu hướng tăng lên, nếu doanh nghiệpchạy theo việc mua hàng hóa nhập kho để tăng giá vốn hàng bán nhằm hoãntrách nhiệm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp có thể doanh nghiệp phải chịuchi phí bảo quản, lưu kho hàng hóa và giá trị hàng tồn kho được phản ánhthấp hơn giá trị của nó cho nên tài sản bị đánh giá thấp hơn giá trị thực tế
2.4.2 Kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại (theo quyết định
số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20/03/2006 của Bộ tài chính).
- Chứng từ xuất kho: Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, PXK
Trang 18- Hợp đồng kinh tế với khách hàng.
- Thẻ quầy hàng, Bảng kê bán lẻ hàng hóa
- Các chứng từ thanh toán (phiếu thu, séc chuyển khoản, séc thanh toán, ủynhiệm thu, giấy báo Có của Ngân hàng, bản sao kê của Ngân hàng…)
2.4.2.2 Tài khoản sử dụng.
Để phản ánh nghiệp vụ bán hàng, kế toán sử dụng các tài khoản chủyếu bao gồm:
TK 511 – “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”
- Nội dung: Được dùng để phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh
nghiệp thực hiện trong một kỳ hạch toán của hoạt động bán hàng
+ Số thuế xuất khẩu, thuế TTĐB của số hàng tiêu thụ
+ Doanh thu hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán kếtchuyển vào cuối kỳ, kết chuyển xác định kết quả kinh doanh
Bên có: Doanh thu bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ
TK 511 không có số dư cuối kỳ
TK 632 – “Giá vốn hàng bán”
- Nội dung: Dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ,
bất động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (đối với doanhnghiệp xây lắp) bán trong kỳ
Trang 19- Kết cấu:
Bên Nợ:
+ Trị giá vốn của hàng hóa đã xuất bán trong kỳ
+ Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Chênh lệch giữa số dự phòngphải lập năm nay lớn hơn số đã lập năm trước chưa sử dụng hết)
+ Trị giá hàng hóa hao hụt, mất mát sau khi trừ đi phần cá nhân bồi thường.Bên Có:
+ Kết chuyển giá vốn của hàng xác định đã bán nhưng bị trả lại
+ Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (Chênh lệchgiữa số dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số đã lập năm trước)
+ Kết chuyển xác định kết quả kinh doanh vào cuối kỳ
TK 632 không có số dư cuối kỳ
TK 521 – “Chiết khấu thương mại”
- Nội dung: Dùng để phản ánh khoản chiết khấu thưong mại mà doanh nghiệp
đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua do việc người mua đã muahàng với số lượng lớn và theo thoả thuận bên bán sẽ dành cho bên mua mộtkhoản chiết khấu thương mại (đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cáccam kết mua bán hàng)
- Kết cấu:
Bên nợ: số chiết khấu thương mại doanh nghiệp đã chấp nhận cho kháchhàng
Bên có: kết chuyển chiết khấu thương mại sang TK 511
TK 521 không có số dư cuối kỳ
TK 531 – “Hàng bán bị trả lại”
- Nội dung: Phản ánh giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị
khách hàng trả lại và từ chối thanh toán
Trang 20- Kết cấu:
Bên nợ: Phản ánh doanh thu của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền cho ngườimua hoặc tính trừ vào các khoản phải thu của khách hàng, của số sản phẩmhàng hoá đã bán
Bên có: Kết chuyển doanh thu hàng bán bị trả lại sang tài khoản 511 để xácđịnh doanh thu thuần bán hàng
TK 531 không có số dư cuối kỳ
TK 532 – “Giảm giá hàng bán”
- Nội dung: Phản ánh các khoản giảm giá hàng bán thực tế phát sinh và việc
xử lý khoản giảm giá hàng bán trong kỳ kế toán Giảm giá hàng bán là khoảngiảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hoá kém, mất phẩm chất haykhông đúng quy cách quy định trong hợp đồng kinh tế
- Kết cấu:
Bên nợ: Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho người mua do hàngbán kém, mất phẩm chất hoặc sai quy cách theo quy định trong hợp đồng.Bên có: Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán sang tài khoản 511
TK 131 – “Phải thu của khách hàng”
- Nội dung: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình
hình thanh toán các khoản phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiềnbán hàng
- Kết cấu:
Bên Nợ:
+ Số tiền phải thu của khách hàng về hàng hóa đã bán trong kỳ
+ Số tiền thừa trả lại cho khách hàng
Bên Có:
+ Số tiền khách hàng đã trả nợ
+ Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng
Trang 21+ Khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng sau khi đã giao hàng và kháchhàng có khiếu nại.
+ Doanh thu của số hàng đã bán bị người mua trả lại (Có thuế GTGT hoặckhông có thuế GTGT)
+ Số tiền chiết khấu thanh toán, chiết khấu thương mại cho người mua
Số dư bên Nợ: Số tiền còn phải thu của khách hàng.
Tài khoản này cũng dùng để phản ánh khoản tiền hàng khách hàng ứngtrước với số dư bên có, khi phát sinh khoản ứng trước ghi bên có, trừ tiềnhàng thì ghi bên nợ và có số dư cuối kỳ bên có Không được bù trừ số dư củahai loại tài khoản này vào cuối kỳ
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản khác: TK 111 – “Tiền mặt”,
TK 112 – “Tiền gửi ngân hàng”, TK 333 – “Thuế và các khoản phải nộp nhànước”, TK 157 – “Hàng gửi đi bán”, TK 1381 – “Tài sản thiếu chờ xử lý”,
TK 3381 – “Tài sản thừa chờ xử lý”…
2.4.2.3 Hạch toán nghiệp vụ bán hàng trong một số trường hợp chủ yếu.
Đối với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương phápKKTX:
Trường hợp doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừthì doanh thu, giá vốn và giá trị hàng gửi bán là giá trị chưa có thuế GTGT
* Kế toán nghiệp vụ bán buôn hàng hóa trong trường hợp giao hàng trực tiếp cho khách:
Đối với hình thức này, khi đại diện khách hàng ký vào chứng từ muahàng, kế toán căn cứ vào các chứng từ đó để ghi sổ doanh thu bán hàng của
TK 511, thuế GTGT phải nộp (nếu có) của TK 333 (3331), tăng tiền hoặckhoản phải thu của khách hàng (chi tiết cho từng khách hàng); đồng thời ghităng giá vốn hàng bán vào TK 632 và giảm hàng hóa hoặc hàng gửi đi bán
Trang 22* Kế toán nghiệp vụ bán buôn hàng hóa trong trường hợp gửi hàng:
Với hàng gửi bán mà chưa đủ điều kiện để ghi nhận doanh thu, căn cứvào chứng từ xuất kho kế toán ghi tăng giá trị hàng gửi bán; khi xác định làhàng đã được bán, kế toán ghi tăng doanh thu, tăng tiền hoặc khoản phải thucủa khách hàng đồng thời ghi tăng giá vốn hàng bán và ghi giảm giá trị hànggửi bán tương ứng Trong trường hợp có phát sinh thừa (hoặc thiếu) hàng hóatrong quá trình gửi hàng, tùy theo nguyên nhân thừa (hoặc thiếu) kế toán bánhàng ghi nhận vào các tài khoản khác nhau Nếu chưa xác định được nguyênnhân, kế toán ghi tăng với hàng thừa (hoặc tăng TK 1381 – “Tài sản thiếu chờ
xử lý” nếu hàng thiếu) Nếu xác định được nguyên nhân thì tùy từng nguyênnhân kế toán ghi vào các tài khoản tương ứng
* Kế toán các trường hợp phát sinh trong quá trình bán buôn:
Trong trường hợp đã ghi nhận doanh thu nhưng phát sinh các khoảngiảm trừ doanh thu (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bịtrả lại) kế toán căn cứ vào biên bản có xác nhận của các bên liên quan về sốhàng yêu cầu trả lại hay giảm giá hoặc bảng kê về số hàng đã mua của khách
để ghi tăng các khoản giảm trừ doanh thu, giảm thuế GTGT phải nộp, khoảnphải thu nếu trừ vào công nợ hoặc giảm tiền nếu trả khách hàng bằng tiền vàocác sổ kế toán tương ứng Cuối kỳ, kế toán kết chuyển để xác định doanh thubán hàng thuần
* Kế toán bán hàng trả góp:
Kế toán căn cứ vào các chứng từ bán hàng để ghi nhận doanh thu bánhàng tương ứng với mức giá trả ngay, doanh thu chưa thực hiện (phần chênhlệch giữa giá bán trả ngay và trả sau sau khi trừ thuế GTGT phải nộp), thuếGTGT phải nộp tăng số tiền phải thu, số tiền thu lần đầu đồng thời căn cứ vàophiếu xuất hàng ghi tăng giá vốn hàng bán và giá trị hàng giảm tương ứng
Trang 23* Kế toán nghiệp vụ bán lẻ hàng hóa:
Hàng ngày hoặc định kỳ, nhận được bảng kê bán lẻ của mậu dịch viên
kế toán xác định doanh thu chưa thuế, thuế GTGT phải nộp của số hàng đãtiêu thụ, tăng tiền; đồng thời ghi tăng giá vốn hàng bán và giảm giá trị hàngtồn kho Trong trường hợp số tiền mậu dịch viên nộp bị lệch với số tiền trênbảng kê thì tùy từng nguyên nhân kế toán ghi vào các sổ kế toán tương ứng
* Kế toán nghiệp vụ bán đại lý:
Tại đơn vị giao đại lý: Khi xuất hàng căn cứ vào chứng từ xuất kho hoặc
hóa đơn hàng mua (nếu mua gửi bán thẳng) kế toán ghi tăng giá trị hàng gửibán và giảm trị giá hàng tồn kho hay tiền hoặc tăng khoản phải trả người bán.Khi bên nhận đại lý thông báo về số hàng đã bán, kế toán ghi tăng doanh thu,tăng khoản phải thu của bên nhận đại lý hoặc tiền, đồng thời ghi tăng giá vốn
và giảm trị giá hàng gửi đại lý
Ở đơn vị nhận đại lý: khi nhận hàng gửi đại lý, căn cứ vào phiếu xuất
kho kiêm vận chuyển nội bộ bên giao đại lý chuyển và kết quả thực tế kiểm
kê hàng hóa, kế toán ghi tăng trị giá hàng hóa nhận đại lý; khi bán được hàngghi nhận khoản phải trả cho bên giao đại lý, ghi nhận doanh thu hoa hồng đại
lý đồng thời ghi giảm trị giá hàng nhận đại lý
* Kế toán bán hàng trong một số trường hợp khác được coi là bán:
- Xuất hàng để trả lương công nhân viên: Kế toán ghi nhận doanh thu bánhàng theo giá vốn, thuế GTGT phải nộp nếu có, ghi giảm khoản lương phảitrả đồng thời ghi tăng giá vốn hàng bán và giảm trị giá hàng tồn kho
- Xuất hàng để đổi lấy hàng hóa khác không tương tự về bản chất: nếu nhậnhàng trước rồi mới trả hàng sau thì coi như mua chịu, kế toán ghi tăng giá trịhàng nhận về theo giá trị hợp lý, tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (nếucó) và tăng khoản phải thu; khi giao hàng trả khách, căn cứ vào chứng từ xuấthàng ghi tăng giá vốn hàng bán và giảm hàng hóa đồng thời ghi tăng doanh
Trang 24thu bán hàng, thuế GTGT phải nộp (nếu có) và giảm khoản phải trả Nếu đơn
vị giao hàng trước rồi mới nhận hàng sau thì hàng hóa coi như hàng bán chịu
- Xuất hàng để tiêu dùng nội bộ không phục vụ cho hoạt động sản xuất kinhdoanh, biếu tặng, trả thưởng cho người lao động ….thì lập hóa đơn GTGT xácđịnh doanh thu theo giá vốn, ghi tăng chi phí quản lý kinh doanh, tăng doanhthu hàng bán và thuế GTGT phải nộp (nếu có) đồng thời ghi tăng giá vốnhàng bán của hàng xuất dùng
- Xuất hàng để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho mục đích khuyên mãi: ghi nhậndoanh thu bán hàng theo giá bán của hàng hóa cùng loại hoặc tương đươngvào cùng thời điểm, ghi tăng chi phí quản lý kinh doanh đồng thời ghi tănggiá vốn hàng khuyến mãi đã xuất dùng
Trường hợp doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:Quá trình xử lý nghiệp vụ kế toán bán hàng tương tự trường hợp doanhnghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nhưng giá trị hàng gửibán, doanh thu và giá vốn hàng bán được ghi nhận là giá trị đã bao gồm thuếGTGT Cuối kỳ xác định số thuế GTGT phải nộp căn cứ vào GTGT của hànghóa bán ra trong kỳ và thuế suất thuế GTGT
Đối với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương phápKKĐK:
Kế toán nghiệp vụ bán hàng tương tự phương pháp KKTX nhưng khixuất kho hàng bán kế toán chỉ theo dõi về số lượng còn giá vốn hàng bán chỉđược xác định vào cuối kỳ sau khi tổng hợp được giá trị hàng mua về nhậpkho trong kỳ, hàng mua đang đi đường và giá trị hàng tồn kho vào cuối kỳ saukhi kiểm kê, khi đó ghi tăng giá vốn hàng bán vào TK 632 đối ứng với giảmhàng hóa vào TK 611
2.4.2.4 Sổ kế toán sử dụng:
Đối với doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung:
Trang 25* Các loại sổ sử dụng: Sổ Nhật ký chung; sổ cái các tài khoản: TK 511; TK
521, TK 131, TK 632, TK 156; sổ chi tiết công nợ, sổ chi tiết hàng hóa, nhật
Đối với doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái:
* Các loại sổ sử dụng: Nhật ký sổ cái và các sổ kế toán chi tiết theo yêu cầu
Trang 26hợp chứng từ kế toán được lập cho những chứng từ cùng loại (Phiếu thu,phiếu chi, phiếu xuất, phiếu nhập…) phát sinh nhiều lần Chứng từ kế toán vàBảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại sau khi đã ghi Sổ Nhật ký - Sổ Cái,được dùng để ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết có liên quan Cuối tháng, sau khi
đã phản ánh toàn bộ chứng từ kế toán phát sinh trong tháng vào Sổ Nhật ký
-Sổ Cái và các sổ, thẻ kế toán chi tiết, kế toán tiến hành cộng số liệu của cột sốphát sinh ở phần Nhật ký và các cột Nợ, cột Có của từng tài khoản ở phần SổCái để ghi vào dòng cộng phát sinh cuối tháng Căn cứ vào số phát sinh cáctháng trước và số phát sinh tháng này tính ra số phát sinh luỹ kế từ đầu quýđến cuối tháng này Căn cứ vào số dư đầu tháng (đầu quý) và số phát sinhtrong tháng (trong quý) kế toán tính ra số dư cuối tháng (cuối quý) của từngtài khoản trên Nhật ký - Sổ Cái Các sổ, thẻ kế toán chi tiết cũng phải đượckhoá sổ để cộng số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và tính ra số dư cuối thángcủa từng đối tượng Căn cứ vào số liệu khoá sổ của các đối tượng lập “Bảngtổng hợp chi tiết" cho từng tài khoản Số liệu trên “Bảng tổng hợp chi tiết”được đối chiếu với số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và Số dư cuối tháng củatừng tài khoản trên Sổ Nhật ký - Sổ Cái Số liệu trên Nhật ký - Sổ Cái và trên
“Bảng tổng hợp chi tiết” sau khi khóa sổ được kiểm tra, đối chiếu nếu khớp,đúng được sử dụng để lập BCTC
Đối với hình doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ:
* Các loại sổ sử dụng: sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, chứng từ ghi sổ, sổ cái các
tài khoản: TK 511, TK 632, TK 131, TK 156 và sổ chi tiết các tài khoảntương ứng theo cầu quản lý của doanh nghiệp
* Trình tự ghi sổ (Sơ đồ số 03):
Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng Tổng hợpchứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi sổ, kếtoán lập Chứng từ ghi sổ Căn cứ vào Chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ Đăng ký
Trang 27Chứng từ ghi sổ, sau đó được dùng để ghi vào Sổ Cái Các chứng từ kế toánsau khi làm căn cứ lập Chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào sổ, thẻ kế toánchi tiết có liên quan.Cuối tháng, phải khoá sổ tính ra tổng số tiền của cácnghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong tháng trên sổ Đăng ký Chứng từghi sổ, tính ra Tổng số phát sinh Nợ, Tổng số phát sinh Có và Số dư của từngtài khoản trên Sổ Cái Căn cứ vào Sổ Cái lập Bảng Cân đối số phát sinh Saukhi đối chiếu khớp đúng, số liệu ghi trên Sổ Cái và Bảng tổng hợp chi tiết(được lập từ các sổ, thẻ kế toán chi tiết) được dùng để lập BCTC Quan hệ đốichiếu, kiểm tra phải đảm bảo Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Cócủa tất cả các tài khoản trên Bảng Cân đối số phát sinh phải bằng nhau vàbằng Tổng số tiền phát sinh trên sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ Tổng số dư Nợ
và Tổng số dư Có của các tài khoản trên Bảng Cân đối số phát sinh phải bằngnhau, và số dư của từng tài khoản trên Bảng Cân đối số phát sinh phải bằng số
dư của từng tài khoản tương ứng trên Bảng tổng hợp chi tiết
Đối với doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Nhật ký - Chứng từ:
* Các loại sổ sử dụng: Nhật ký chứng từ, Bảng kê, Sổ Cái, Sổ hoặc thẻ kế
toán chi tiết
* Trình tự ghi sổ (So đồ số 04):
Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ kế toán đã được kiểm tra lấy sốliệu ghi trực tiếp vào các Nhật ký - Chứng từ hoặc Bảng kê, sổ chi tiết có liênquan Đối với các loại chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh nhiều lần hoặcmang tính chất phân bổ, các chứng từ gốc trước hết được tập hợp và phân loạitrong các bảng phân bổ, sau đó lấy số liệu kết quả của bảng phân bổ ghi vàocác Bảng kê và Nhật ký - Chứng từ có liên quan Đối với các Nhật ký -Chứng từ được ghi căn cứ vào các Bảng kê, sổ chi tiết thì căn cứ vào số liệutổng cộng của bảng kê, sổ chi tiết, cuối tháng chuyển số liệu vào Nhật ký -Chứng từ Cuối tháng khoá sổ, cộng số liệu trên các Nhật ký - Chứng từ, kiểm
Trang 28tra, đối chiếu số liệu trên các Nhật ký - Chứng từ với các sổ, thẻ kế toán chitiết, bảng tổng hợp chi tiết có liên quan và lấy số liệu tổng cộng của các Nhật
ký - Chứng từ ghi trực tiếp vào Sổ Cái Đối với các chứng từ có liên quan đếncác sổ, thẻ kế toán chi tiết thì được ghi trực tiếp vào các sổ, thẻ có liên quan.Cuối tháng, cộng các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết và căn cứ vào sổ hoặc thẻ kếtoán chi tiết để lập các Bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếuvới Sổ Cái Số liệu tổng cộng ở Sổ Cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong Nhật
ký - Chứng từ, Bảng kê và các Bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập báocáo tài chính
Hình thức kế toán trên máy vi tính (Sơ đồ số 05): Phần mềm kế toán áp
dụng theo nguyên tắc ghi sổ của hình thức nào trong những hình thức ghi sổtrên mà các sổ kế toán bán hàng được in ra tương ứng