Chính vì lẽ đó em lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn quận Lê Chân, Tp Hải Phòng”.. Chính vì vậy em đi ngh
Trang 1CHƯƠNG MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Những năm gần đây, sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của thế giới đã đemlại thành tựu đáng kể cho con người Tuy vậy bên cạnh mặt tích cực đó chính sự pháttriển này cũng gây ra hậu quả hết sức nặng nề : Ô nhiễm môi trường đang càng ngàygia tăng, thiên tai, hạn hán, lũ lụt,… liên tiếp xảy ra, đặc biệt con người đang phải đốimặt với những nguy cơ gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm, đe dọa nghiêm trọng đếnsức khỏe tính mạng con người Theo tổ chức y tế thế giới WHO, mỗi năm trên thếgiới có khoảng 2,2 triệu người chết do tiêu chảy, ngộ độc thực phẩm, trong đó có 1,9triệu trẻ em Số người mắc bệnh do ăn phải thức ăn độc hại trên thế giới hàng nămước tính vài triệu người và tỷ lệ này nhiều nước đang tăng chóng mặt Đặc biệt ở cácnước đang phát triển và kém phát triển thì VSATTP còn nghiêm trọng hơn rất nhiềukhi cơ sở vật chất còn lạc hậu, trình độ nhận thức của con người còn kém Hậu quả làhàng nghìn người bị tử vong, gây tổn thật hàng nghìn tỷ USD và ảnh hưởng đến uy tíncủa một quốc gia
Tại Việt Nam theo thống kê cục An toàn thực phẩm (Bộ y tế) trong năm 2012trên toàn quốc đã ghi nhận có 164 vụ ngộ độc thực phẩm làm gần 5.400 người mắc,trong đó có 33 người tử vong So với cùng kì năm 2011, tình hình ngộ độc thực phẩm
có chiều hướng tăng về số vụ, số người mắc và số trường hợp tử vong Cụ thể số vụngộ độc tăng 23 vụ, số người mắc tăng gần 1.000 người số người tử vong tăng 7trường hợp, phần lớn thực phẩm nhiễm chất hóa học Nguyên nhân chủ yếu là doVSATTP Tuy nhiên số liệu này chỉ phản ánh một được một phần nhỏ của gánh nặngthực tế do thực phẩm gây ra Thói quen của người Viêt vẫn là tiện đâu mua đấy vàchủ yếu mua bán ở các chợ truyền thống Mà thực tế cho thấy, vấn đề VSATTP tạicác chợ này vẫn chưa có sự chuyển biến nhiều, các vụ vi phạm VSATTP vẫn thườngxuyên xảy ra: sản phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, không an toàn được bày báncông khai ở chợ, hàng nhái, hàng kém chất lượng ngày càng nhiều, thức ăn sống, thức
ăn chin không được để riêng biệt, các vụ ngộ độc thực phẩm ngày càng xảy ra nhiều
Do vậy quản lý VSATTP đang là bài toán khó cho các cơ quan quản lý các cấp Hải Phòng nói chung và Quận Lê Chân nói riêng đang trên đà phát triển kinh tế - xãhội, và trong quá trình phát triển cũng gặp nhiều khó khăn Vấn đề VSATTP trên địabàn chợ của quận Lê Chân cũng đặt ra nhiều thách thức cho các cơ quan quản lý củaQuận: Những yếu kém trong công tác quản lý, thực thi và thi hành; sự bất cập trong
Trang 2các văn bản quản lý nhà nước, sự chồng chéo về chức năng nhiệm vụ của cơ quanquản lý nhà nước, tồn tại nhiều bất cập trong công tác tuyên truyền, giáo dục vềVSATTP.
Thiết nghĩ việc nghiên cứu vấn đề Quản lý nhà nước về VSATTP tại các chợ là
hết sức cần thiết trong thời gian hiện nay Chính vì lẽ đó em lựa chọn đề tài: “Quản lý
nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn quận Lê Chân, Tp Hải Phòng”.
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.
Trong thời gian qua, vấn đề VSATTP đã thu hút sự quan tâm chú ý của cácchuyên gia, các nhà nghiên cứu Qua quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứukhoa học cũng như báo cáo em nhận thấy có một số đề tài, bài viết điển hình có nộidung gần nhất với đề tài khóa luận này như:
- Nguyễn Thị Giang, Bùi Thị Thu Hương – Khoa Kinh tế - Đại học Thương Mại
(2009), đề tài nghiên cứu khoa học “Một số giải pháp trong quản lý Nhà nước đối với
vấn đề VSATTP tại các chợ trên địa bàn Quận Cầu Giấy’’.
Đề tài đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát vấn đề VSATTP tại một số chợ trên địabàn quận Cầu Giấy như chợ Đồng Xa, chợ Nhà Xanh, chợ Nghĩa Tân Từ đó chỉ rađược thực trạng tình hình vi phạm VSATTP, vấn đề QLNN về VSATTP tại các chợnày Trên cơ sở quan điểm định hướng của Nhà nước về vấn đè VSATTP, đề tài đãđưa ra giải pháp, kiến nghị với cơ quan quản lý nhằm thực hiện tốt hơn công tác quản
lý VSATTP ở các chợ
Đề tài nghiên cứu này khá sát với đề tài khóa luận của em Đề tài này nghiên cứuvấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Cầu Giấy Hà Nội, còn đề tàicủa em thì nghiên cứu trên địa bàn quận Lê Chân, tp Hải Phòng Đề tài này thiên vềđưa ra các giải pháp trong quản lý nhà nước, còn đề tài của em chung và bao quát hơn
về vấn đề quản lý nhà nước
- Trần Thị Thúy – Khoa Kinh tế - Đại học thương mại (2009) luận văn tốt
nghiệp: “Tăng cường quản lý nhà nước về VSATTP tại các siêu thị trên địa bàn Hà
Nội’’.
Đề tài này đi sâu vào nghiên cứu nội dung chủ yếu của QLNN là công tác banhành, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, sự phối hợp liên ngành đối vớivấn đề VSATTP tại các siêu thị trên địa bàn Hà Nội Đề tài này cũng có nhiều néttương đồng với đề tài của em, song đề tài của em đi nghiên cứu về loại hình chợ trênmột phạm vi nhỏ hơn với đề tài này
Trang 3- Trần Cầm Giang, Bùi Thị Thanh Huyền, Lê thị Tri – Lớp 06QT2D, KhoaQuản trị kinh doanh – Đại học Tôn Đức Thắng tp Hồ Chí Minh, nghiên cứu khoa học
2010 “Một số giải pháp tăng cường và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm ở tp Hồ
Chí Minh” Đề tài đã hệ thống hóa lại cơ sở lí luận về VSATTP để làm luận cứ cho
việc nghiên cứu Tìm hiểu tình trạng vi phạm VSATTP, công tác kiểm soát, quản lý,tuân thủ của các cơ quan chức năng và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công táckiểm soát đối với vấn đề VSATTP trên địa bàn tp Hồ Chí Minh Đề tài này nghiêncứu về VSATTP chung chung ở địa bàn tp Hồ Chí Minh Đề tài của em nghiên cứu vềQLNN về các hoạt động kinh doanh trên địa bàn chợ trong một phạm vi nhỏ hơn,nghiên cứu thực trạng để đưa ra giải pháp cho chính sách QLNN về VSATTP
Trên đây là một số đề tài có nét tương đồng nhất định với đề tài của em nên emcũng đã tiếp thu thêm nhiều điểm mới trong đề tài đó Ngoài ra còn một số đề tài khácliên quan nhưng đề tài của em cũng có những nét khác biệt nhất định nên em xin đitiếp nghiên cứu vấn đề này
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Từ thực tiễn về vấn đề VSATTP đang diễn ra hết sức phức tạp, đặc biệt ở cácchợ vẫn là nơi cung cấp thực phẩm, lương thực chủ yếu cho các hộ gia đình, cá nhân,tập thể Nó cũng thể hiện các mặt hạn chế trong VSATTP Chính vì vậy em đi nghiên
cứu đề tài: “ Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động kinh
doanh tại các chợ trên địa bàn quận Lê Chân,tp Hải Phòng”
Để làm rõ QLNN về VSATTP trên địa bàn chợ quận Lê Chân, đề tài xin đi tiếpcận từ góc độ quản lý nhà nước về vấn đề này Đối tượng nghiên cứu của đề tài làquản lý nhà nước về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng giới hạn trong hoạtđộng sản xuất mua bán tại chợ với các mặt hàng thực phẩm tại các chợ trên địa bànquận Lê Chân
Nội dung cần làm rõ của đề tài:
- Cơ sở lý luận về an toàn thực phẩm, kinh doanh hàng hóa thực phẩm, quản lýnhà nước về kinh doanh thực phẩm an toàn đảm bảo VSATTP
- Thực trạng quản lý nhà nước về VSATTP trong hoạt động kinh doanh trên địabàn chợ quận Lê Chân trên các mặt: kinh doanh thực phẩm trên địa bàn chợ, ban hànhcác văn bản pháp luật, công tác thanh tra kiểm tra giám sát, công tác tuyên truyền giáodục về vệ vấn đề VSATTP
- Những tồn tại trong cơ chế quản lý về VSATTP về các mặt nhân lực, nguồnlực, công tác tuyên truyền giáo dục, các bất cập về mặt chính sách,…để từ đó tìm ra
Trang 4nguyên nhân và đưa ra giải pháp và đề xuất, kiến nghị với công tác quản lý nhà nước
về VSATTP trên địa bàn chợ quận Lê Chân được hiệu quả hơn
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.
a) Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Quản lý nhà nước về chất lượng vệ sinh an toàn
thực phẩm nhưng giới hạn trong hoạt động kinh doanh với các mặt hàng thực phẩmtại các chợ trên địa bàn quận Lê Chân
b) Mục tiêu nghiên cứu:
- Về mặt lý thuyết: Hệ thống lại các vấn đề lý luận về thực phẩm, thực phẩm an toàn,
kinh doanh thực phẩm, quản lý nhà nước về kinh doanh thực phẩm an toàn, ý nghĩa
và nội dung quản lý nhà nước
- Về mặt thực tiễn: Dựa trên cơ sở các lý thuyết về QLNN về VSATTP sẽ tiến hành đi
vào nghiên cứu thực trạng kinh doanh trên địa bàn chợ, chính sách QLNN nhằm đảmbảo vấn đề VSATTP kinh doanh thương mại ở các chợ trên địa bàn quận Lê Chân
- Qua đánh giá thực trạng, phân tích đề tài sẽ nêu ra những tồn tại còn yếu kém để từ
đó đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường chính sách QLNN nhằm đảm bảoVSATTP nhằm đảm bảo VSATTP trong kinh doanh thương mại ở các chợ trên địabàn quận Lê Chân
c) Phạm vi nghiên cứu.
Về nội dung: Để làm rõ về VSATTP tại các chợ trên địa bàn quận Lê Chân em
xin giới hạn nghiên cứu một số loại thực phẩm như: rau, củ , quả, bánh kẹo, đồ ănchin,…
Về nội dung quản lý nhà nước trên địa bàn quận Lê Chân, em đi tìm hiểu, phân tích
và đánh giá một số nội dung chủ yếu của công tác QLNN về VSATTP: công tác thanhtra, giám sát, xử lý vi phạm, việc ban hành các văn bản luật ngành về VSATTP trongkinh doanh tại các chợ trên địa bàn quận Lê Chân cũng như trong thành phố
Về không gian: Để làm rõ quản lý nhà nước về VSATTP trên địa bàn chợ quận
Lê Chân, em xin giới hạn tìm nghiên cứu vấn đề VSATTP tại một số chợ loại 1 quận
Lê Chân: chợ An Dương, chợ Con, chợ Đôn Niệm
Về thời gian: Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, đề tài đi khảo sát, tìm hiểu các
thông tin VSATTP tại một số chợ trên địa bàn quận từ năm 2011 đến nay, các văn bảnpháp quy của chính phủ đến năm 2012 Các kiến nghị, giải pháp áp dụng cho các cơquan quản lý nhà nước địa phương giai đoạn 2015
5 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 5Để thấy rõ được thực trạng QLNN về VSATTP trong hoạt động kinh doanh tạicác chợ diễn ra như thế nào và tiếp đến đưa các kiến nghị, giải pháp phù hợp, em đã
sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập dữ liệu từ
các bài giảng “kinh tế thương mại đại cương”, “ kinh tế thương mại Việt Nam” của
TS Thân Danh Phúc, TS Ngô Xuân Bình, trường đại học thương mại, bài giảng mônhọc “Quản lý nhà nước về thương mại” biên soạn TS Thân Danh Phúc, PGS.TS HàVăn Sự, đại học thương mại…và các báo cáo tình hình kinh tế ở phòng kinh tế quận
Lê Chân, luật 55/2012/QH12 của Quốc hội về An toàn thực phẩm,…và một số luậnvăn liên quan đến đề tài, tiếp cận một số thông tin liên quan đến chợ truyền thống, cáchoạt động của chợ qua báo chí như Tạp chí kinh tế Việt Nam,…các website nhưtinmoi.vn, Wikipedia.org để chọn lọc và tiến hành nghiên cứu vấn đề vệ sinh an toànthực phẩm ở chợ một cách kỹ lưỡng và xác thực
Phương pháp tổng quan tài liệu: Sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu để
xem xét và đưa ra các chương, tổng quan các lý luận cơ bản về VSATTP, QLNN vềVSATTP, sử dụng phương pháp này để xem xét thực trạng QLNN về VSATTP tạicác chợ trên địa bàn quận Lê Chân để từ đó đưa ra một số các kiến nghị, giải phápnhằm tăng cường QLNN về VSATTP
Phương pháp thống kê, phân tích các số liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp
thống kê, để tiến hành các vụ vi phạm VSATTP, số vụ ngộ độc thực phẩm tại các chợtrên địa bàn quận Lê Chân, từ đó em đi đánh giá việc thực hiện VSATTP tại các chợnày Dữ liệu thứ cấp rất phong phú và đa dạng được thu thập thông qua sách báo, tạpchí, đề tài nghiên cứu về vấn đề VSATTP, báo cáo tổng kết tình hình VSATTP của
Sở Y tế
Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số các phương pháp khác như phương pháp sosánh để tiến hành phân tích đánh giá việc thực hiện VSATTP tại các chợ và công tácQLNN về VSATTP tại đây
6 Kết cấu khóa luận.
Trang 6Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ
đồ, hình vẽ, danh mục từ viết tắt, tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu như sau:
CHƯƠNG MỞ ĐẦU: TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI TỔNG QUAN CÁC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN, XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ VẤN
ĐỀ NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU,PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, KẾT CẤU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÊNĐỊA BÀN CHỢ
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN
TOÀN THỰC PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC CHỢTRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LÊ CHÂN, TP HẢI PHÒNG
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI CÁC CHỢ TRÊN ĐỊABÀN QUẬN LÊ CHÂN, TP HẢI PHÒNG
Trang 7CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHẤT LƯỢNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN CHỢ
1.1 Một số khái niệm cơ bản quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn chợ.
1.1.1 Khái niệm cơ bản về thực phẩm, thực phẩm an toàn.
- Thực phẩm:
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thực phẩm:
Theo tiêu chuẩn thực phẩm Quốc tế (Codex) thì “thực phẩm là tất cả các chất đãhoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm,hút và các chất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưngkhông bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được dùng như dược phẩm”
Theo Quyết định số 4196/1999/QĐ- BYT trong đó có định nghĩa “thực phẩm lànhững đồ ăn, uống của con người ở dạng tươi, sống, hoặc đã qua sơ chế, chế biến baogồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thựcphẩm” Phạm vi thực phẩm ở đây lại hẹp hơn vì khái niệm này phục vụ cho việc quản
lý nhà nước của Bộ Y tế, thuốc là được quản lý riêng”
Hai khái niệm trên có ý nghĩa trong từng thời ký khác nhau và ngày càng đầy đủhơn về chuyên môn Nhưng nếu trong văn bản quản lý nhà nước để nguyên như vậythì chưa phù hợp vì phải dễ hiểu, đại chúng thì mới có thể tuyên truyền pháp luật đếnngười dân Hiện nay, một số khái niệm được nhiều người công nhận hơn cả là: “ thựcphẩm là những sản phẩm dành cho việc ăn, uống cho con người ở dạng nguyên liệutươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến và các chất được sử dụng trong sản xuất, chếbiến thực phẩm”
- An toàn thực phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Theo điều 2, luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 thì: “An toàn thực phẩm
là việc đảm bảo để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”
Trang 8Theo các chuyên gia của Tổ chức Lương Nông (FAO), tổ chức Y tế thế giới(WHO) thì: “ Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc đảm bảo thực phẩm không gây hạicho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, khôngchứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép,không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại đến sức khỏengười sử dụng” Quan điểm này rất đầy đủ, lột tả được bản chất của vấn đề nhưng đểngắn gọn, dễ hiểu mà vẫn bao hàm được ý nghĩa trong quản lý nhà nước, khái niệmđược chấp nhận hơn là: “Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm khônggây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người, không chứa các tác nhân sinh học,hóa học, lí học quá giới hạn cho phép”.
1.1.2 Khái niệm cơ bản về kinh doanh, kinh doanh thương mại, kinh doanh thực phẩm.
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằmmục đích sinh lợi (trích luật doanh nghiệp Việt Nam)
Kinh doanh thương mại là một lĩnh vực của hoạt động kinh doanh, đó chính là
hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông Theo nghĩa rộng, kinh doanh thươngmại là sự đầu tư tiền của, công sức của một cá nhân hay tổ chức kinh tế vào lĩnh vựcmua bán hàng hóa để tìm kiếm lợi nhuận Theo nghĩa hẹp, kinh doanh thương mại làquá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưuthông hàng hóa
Kinh doanh hàng thực phẩm là một trong số hàng nghìn hình thức kinh doanh,
đây là lĩnh vực kinh doanh hàng tiêu dùng, có những đặc điểm riêng là:
- Người tiêu dùng ít có hiểu biết về hàng hóa có hệ thống: trên thị trường cóhàng ngàn mặt hàng, dù người ta đã tận dụng được nhiều phương pháp giới thiệu hànghóa nhưng người tiêu dùng vẫn chưa hiểu rõ hết được về địa chỉ sản xuất, chất lượng,đặc tính, công dụng và cách thức sử dụng của tất cả các loại hàng hóa
- Sức mua trên thị trường biến đổi lớn, theo thời gian, theo địa phương…ngườitiêu dùng có thể cân nhắc rất kỹ khi cần mua sắm nhất là vào thời điểm có rất nhiềuhàng tiêu dùng có khả năng thay thế lẫn nhau
- Sự khác biệt về người tiêu dùng rất lớn: giữa tầng lớp dân cư, địa vị, các tậpđoàn khác nhau về nghề nghiệp, dân tộc, giới tính, trình độ văn hóa, độ tuổi, tập quánsinh hoạt nên sự hiểu biết và tiêu dùng của họ về các loại sản phẩm về thực phẩmkhác biệt nhau
Trang 9- Nhiều người mua vì hàng thực phẩm gắn với cuộc sống của nhân dân, cácthành viên trong xã hội đều có nhu cầu tiêu dùng nhưng mỗi lần mua không nhiều, lặtvặt và phân tán vì nhu cầu đời sống rất đa dạng.
Ở đây mặt hàng kinh doanh là thực phẩm gắn liền với nhu cầu sinh hoạt của conngười: lương thực, đường, sữa, đồ hộp, dầu ăn, bia rượu, bột mỳ, bánh kẹo,… Nguyênliệu của nó là các sản phẩm của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản,
và một số ngành chế biến khác
1.1.3 Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Theo điều 21, Nghị định 38/NĐ – CP của Chính phủ quy định trách nhiệm quản
lý nhà nước về an toàn thực phẩm (ATTP) gồm các nội dung sau: Phối hợp xây dựngquy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm thực phẩm Quản lý ATTP về nông,lâm, thủy sản, sản xuất muối Quản lý ATTP trong suốt quá trình sản xuất, thu gom,giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanhđối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt; thủy sản và sản phẩm thủy sản; rau, củquả và sản phẩm từ rau, củ, quả; trứng và các sản phẩm từ trứng; sữa tươi nguyênliệu; mật ong và các sản phẩm từ mật ong; thực phẩm biến đổi gen; muối; gia vị;đường; chè; cà phê; ca cao, hạt tiêu; điều và các nông sản thực phẩm; dụng cụ; vậtliệu bao gói; chứa đựng thực phẩm
1.2 Ý nghĩa và nội dung quản lý nhà nước với hoạt động kinh doanh hàng thực phẩm trên địa bàn chợ.
1.2.1 Ý nghĩa của quản lý nhà nước với hoạt động kinh doanh ở chợ.
a) Đặc điểm kinh doanh hàng thực phẩm trên địa bàn chợ.
Chợ là một loại hình thương mại, một hình thức của thị trường,là nơi diễn ra cáchoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa – dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu hàng ngàycủa dân cư Chợ được hình thành và phát triển mang tính truyền thống
Do chức năng chính của chợ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hay trao đổicác sản phẩm, hàng hóa – dịch vụ khác nhau nên chợ thường được hình thành và xâydựng ở những nơi đông dân cư, thường là những trung tâm, đầu mối giao thông
Về mặt hàng thực phẩm kinh doanh: Hàng hóa thực phẩm trao đổi ở chợ chủ yếu
là hàng nông sản(rau, củ , quả,…), thực phẩm đa dạng( thực phẩm chin, thực phẩmsống),…
Về nguồn hàng: Hàng hóa thực phẩm được ở chợ được bày bán với quy mô nhỏ, lẻ
Về nhu cầu: Hàng hóa trao đổi ở chợ đáp ứng nhu cầu thường ngày là chủ yếu,phục vụ tiêu dùng cho đời sống của dân cư
Trang 10Về quan hệ trao đổi: Các giao dịch trong chợ thường mang bản sắc văn hóa địaphương.
b) Đặc điểm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm.
QLNN là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước đểđiều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội( chính trị,khoa học-xã hội,…), giữ gìn trật tự xã hội, và phát triển xã hội theo những mục tiêu
đã định
CSQLNN là một trong các công cụ chủ yếu của Nhà nước sử dụng để quản lýnền kinh tế quốc dân Dưới dạng chung nhất, mỗi chính sách cụ thể là một tập các giảipháp nhất định để thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt đến mục tiêuchung của sự phát triển kinh tế xã hội Một chính sách bất kỳ gồm 2 bộ phận: các mụctiêu cần đạt và các giải pháp áp dụng để đạt mục tiêu
QLNN về VSATTP là hoạt động có tổ chức của Nhà nước Thông qua các vănbản pháp quy, các công cụ, các chính sách Nhà nước sẽ tác động đến tình hình thựchiên VSATTP của các đơn vị sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trên cả nướcnhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về VSATTP.QLNN về VSAATP bao gồm 1 số hoạt động chủ yếu là: công tác hoạch định vàban hành các văn bản, chính sách, các chiến lược, kế hoạch có liên quan đến vấn đềVSATTP và công tác tổ chức thực thi các văn bản, kế hoạch này bao gồm một sốcông việc cụ thể như sau: Tổ chức giáo dục, tuyên truyền, công tác thanh tra và xử lý
vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý
1.2.2 Ý nghĩa của việc quản lý nhà nước về VSATTP.
Trong những năm gần đây vấn đề VSATTP đang diễn ra ngày càng trầm trọng,nhiều vụ ngộ độc thực phẩm diễn ra liên tiếp, gây thiệt hại đến tính mạng của conngười và tiền của nên việc QLNN về VSATTP có ý nghĩa rất quan trọng
Nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liênquan đến VSATTP để có thể hướng dẫn người tiêu dùng và các doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh có định hướng để sản xuất sản phẩm sạch Người tiêu dùng bớt phải
lo âu hơn mỗi khi mua sản phẩm ngoài chợ vì sợ không rõ nguồn gốc, không đảm bảoVSATTP
Việc QLNN về VSATTP mà thực hiện tốt thì sẽ giảm được các vụ ngộ độc thựcphẩm gây thiệt hại đến con người và tài sản Bên cạnh đó lại không giảm nguồn thu từsản xuất trong nước khi khách du lịch không còn e ngại về VSATTP, các Khách sạnlớn không phải nhập khẩu rau, quả, thịt,…ở nước ngoài
Trang 11Người kinh doanh có một môi trường kinh doanh đảm bảo, sạch sẽ được quản lý tốt,không phải kinh doanh ở những nơi không đảm bảo vệ sinh an toàn.
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về chất lượng VSATTP
1.3.1 Nội dung cơ bản về VSATTP nói chung.
Tại điều 42, chương IV, Pháp lệnh VSATTP: Quản lý nhà nước về VSATTP đãghi rõ nội dung QLNN về VSATTP bao gồm:
1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch
4 Quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm
5 Quản lý việc công bố tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, chứng nhận đủđiều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm
6 Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực vệ sinh an toànthực phẩm
7 Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về vệ sinh an toàn thực phẩm
8 Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về
vệ sinh an toàn thực phẩm
9 Hợp tác quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm
10 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm phápluật về vệ sinh an toàn thực phẩm
Ngoài ra chính phủ ban hành rất nhiều văn bản quy định, phục vụ cho công tácquản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Nghị định 41/2005/QĐ –BYT về việc ban hành quyết định điều kiện vệ sinh antoàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ, phục vụ ăn uống, theo đó tất cả các
tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, dịch vụ, và phục vụ ăn uống chấp hànhnghiêm chỉnh các quy định về VSATTP
Nghị đinh 79/ 2008/NĐ –CP quy định hệ thống tooe chức quản lý, thanh tra vàkiểm nghiệm VSATTP Nghị định này quy định rõ trách nhiệm của từng bộ, banngành trong việc quản lý nhà nước về VSATTP
Nghị định số 79/2008/NĐ-CP quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra vàkiểm nghiệm VSATTP Nghị định này quy định rõ trách nhiệm của từng bộ, ban
Trang 12ngành trong việc QLNN về VSATTP, bên cạnh đó còn quy định rõ chức năng của bộphận thanh tra về việc đảm bảo VSATTP.
Thông tư 68/2010TT- BNNPTNT về việc ban hành mức chỉ tiêu giới hạn chophép về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với một số sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc
từ thực vật nhập khẩu, sản xuất lưu thông trong nước thuộc phạm vi quản lý của bộnông nghiệp
Thông tư 16/2012/TT-BYT về việc quy định điều kiện đối với cơ sở sản xuất,kinh doanh thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm viquản lý của bộ y tế
1.3.2 Chính sách của Nhà nước về an toàn thực phẩm.
Theo điều 4, luật an toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 thì chính sách của Nhànước về an toàn thực phẩm gồm:
1 Xây dựng chiến lược, quy hoach tổng thể về đảm bảo an toàn thực phẩm, quyđịnh vùng sản xuất thực phẩm an toàn theo chuỗi cung cấp thực phẩm được xác định
là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên
2 Sử dụng nguồn lực nhà nước và các nguồn lực khác đầu tư nghiên cứu khoahọc và ứng dụng công nghệ phục vụ việc phân tích nguy cơ đối với an toàn thựcphẩm; xây dựng mới nâng cấp một số phòng thí nghiệm đạt chuẩn khu vực, quốc tế,nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hiện có; hỗ trợ đầu tư xây dựng cácvùng sản xuất nguyên liệu thực phẩm an toàn, chợ đầu mối nông sản thực phẩm, cơ sởgiết mổ gia súc, gia cầm quy mô công nghiệp
3 Khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ,
mở rộng quy mô sản xuất, sản xuất thực phẩm chất lượng cao; đảm bảo an toàn, bổsung vi chất dinh dưỡng thiết yếu trong thực phẩm; xây dựng thương hiệu và pháttriển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn
4 Thiết lập khuôn khổ pháp lý và tổ chức thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng
hệ thống thực hành tốt sản xuất (GMP), thực hành nông nghiệp tốt (GAP), thực hành
vệ sinh tốt (GHP), phân tích nguy cơ và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) và các hệthống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến khác trong quá trình sản xuất, kinh doanhthực phẩm
5 Mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh ký kết điều ước, thỏa thuận quốc tế vềcông nhận, thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực thực phẩm
6 Khen thưởng kịp thời tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm antoàn
Trang 137 Khuyến khích, tạo điều kiện cho hội, hiệp hội, tổ chức, cá nhân trong nước,
tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư, tham gia vào các hoạt động xây dựng tiêu chuẩn,quy chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm
8 Tăng đầu tư,, đa dạng hình thức, phương thức tuyên truyền , giáo dục nângcao nhận thức người dân về tiêu dùng thực phẩm an toàn, ý thức trách nhiệm và đạođức kinh doanh của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộngđồng
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
1.4.1 Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên:
Thực phẩm là các sản phẩm rất nhạy cảm, có thời gian sử dụng nhất định, do đó
nó chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các yếu tố tự nhiên Khi môi trường tự nhiên thuận lợithì việc bảo quản, chế biến thực phẩm sẽ dễ dàng hơn, ngược lại nếu điều kiện tựnhiên xấu đi thì sẽ làm cho thực phẩm khó bảo quản và chế biến hơn dẫn đến tìnhtrạng mất VSATTP gia tăng nhiều hơn
Trong thời gian gần đây, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế đã làm chomôi trường tự nhiên đã ngày càng xấu đi: thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trườngkhông ngừng gia tăng khắp nơi Sự biến đổi khó lường của thời tiết, sự ô nhiễm môitrường đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn, vi sinh vật độc hại phát triển
và gây bệnh Đây cũng là 1 trong những nguy cơ gây mất VSATTP
Điều kiện tự nhiên phức tạp, chợ được hình thành ở nhiều nơi với nhiều tậpquán khác nhau, không có quy hoạch hợp lý,…gây khó khăn cho việc đi lại, kiểmsoát, xây dựng các ban quản lý về VSATTP trong kinh doanh ở chợ
Trong khi môi trường tự nhiên luôn thay đổi không ngừng, sự ô nhiễm môitrường chưa được kiểm soát, mức độ ngày càng xấu đi, thì với nguồn lực hạn chế và
cơ sở vật chất còn kém sẽ là cho công tác VSATTP gặp nhiều khó khăn
1.4.2 Nhu cầu về thực phẩm ngày càng gia tăng.
Sự bùng nổ về dân số, kinh tế xã hội ngày càng phát triển, mức thu nhập củangười dân ngày càng được cải thiện, dẫn đến 1 hệ quả tất yếu là nhu cầu tiêu dùng củacon người ngày càng cao trong đó có nhu cầu về thực phẩm Nhu cầu sử dụng thựcphẩm của người dân ngày càng tăng, trong khi tình hình lạm phát, giá cả leo thang,khiến cho 1 lượng hàng hóa không nhỏ kém chất lượng, hàng giả đã được đưa vào thịtrường Rau quả có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng, thủyhải sản có dư lượng kháng sinh, thịt, cá được ướp hàn the giúp bảo quản lâu hơn, Bêncạnh đó, nhiều cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm sử dụng các chất phụ gia, đường
Trang 14hóa học, phẩm màu, hương liệu không rõ nguồn gốc xuất xứ, các loại hóa chất nằmngoài danh mục cho phép trong bảo quản các thực phẩm thực phẩm Chưa kể các cơ
sở không đủ tiêu chuẩn VSATTP nhưng vẫn thực hiện các dịch vụ cung cấp, chế biến,sản xuất thực phẩm, mở cửa hàng kinh doanh ăn uống Như vậy việc ngày càng xuấthiện cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh không đảm bảo được các tiêu chuẩnVSATTP này đã gây khó khăn không nhỏ cho công tác QLNN về VSATTP
1.4.3 Các nguồn lực cho công tác VSATTP tại các chợ.
Để công tác QLNN về VSATTP diễn ra hiệu quả cao thì vấn đề nguồn lực cóảnh hưởng rất lớn Chỉ khi có nguồn lực tốt thì mới tạo được điều kiện thuận lợi choviệc thanh tra, giám sát các hoạt động kinh doanh tại các chợ về vấn đề VSATTP,ngược lại nếu nguồn lực yếu kém sẽ đem lại kết quả không tốt
Nguồn lực cho công tác QLNN về VSATTP hiện nay ở nước ta đang còn thiếu
và yếu Xét về nguồn nhân lực thì còn thiếu về số lượng và yếu về trình độ chuyênmôn; các nguồn lực tài chính, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị còn lạc hậu, chưa đáp ứngđược yêu cầu hiện tại Việc quản lý về VSATTP tại các chợ cần phải được kiểm trathường xuyên do đó đòi hỏi phải có trang thiết bị hiện đại, để đảm bảo tính nhanhchóng và chính xác Chính nguồn kinh phí còn có hạn hẹp, nguồn nhân lực không đủtrình độ, năng lực đã làm cho công tác QLNN về VSATTP gặp nhiều khó khăn
1.4.4 Nhận thức, kiến thức tiêu dùng của người dân.
Đây là một nhân tố quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tácQLNN về VSATTP trong kinh doanh thương mại ở chợ
Trình độ hiểu biết nhận thức của người dân về VSATTP vẫn còn chưa cao, thóiquen sử dụng thực phẩm lạc hậu, không có kiến thức tiêu dùng, cộng với thái độ chủquan trong việc lựa chọn các mặt hàng thực phẩm, nghiễm nhiên sử dụng các loạithực phẩm không an toàn, không rõ nguồn gốc xuất xứ vẫn còn phổ biến Cộng vớinhịp độ cuộc sống đô thị hóa nhanh chóng, con người không có nhiều thời gian quantâm đến chất lượng của các loại thực phẩm mà họ lựa chọn Bên cạnh đó còn có một
bộ phận nhỏ người dân có thái độ thờ ơ, xem nhẹ, hầu như không để ý đến các khuyếncáo về VSATTP
Chính sự kém hiểu biết này của người dân đã tạo điều kiện cho các vụ vi phạmVSATTP gia tăng, gây khó khăn cho công tác QLNN về VSATTP Nếu người tiêudùng biết tự mình lựa chọn được những sản phẩm đảm bảo chất lượng, vệ sinh; sẵnsàng tẩy chay hàng hóa kém chất lượng; thông báo, kiến nghị với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền những trường hợp nghi ngờ vi phạm về VSATTP cần để kịp thời xử
Trang 15lý, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật thì công tác QLNN về VSATTP sẽ đạthiệu quả cao hơn
1.4.5 Vấn đề đạo đức trong kinh doanh và trình độ hiểu biết về VSATTP của các cá nhân, cơ sở kinh doanh ở chợ.
Đối với các nhà kinh doanh thực phẩm trong chợ thì vấn đề hiểu biết về mặthàng kinh doanh, đạo đức trong kinh doanh rất quan trọng Hiện nay, một số nhà kinhdoanh do không hiểu biết đã vô tình tiếp tay cho các loại thực phẩm không đảm bảoVSATTP, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ chạy theo lợi nhuận đã xem nhẹ tráchnhiệm đối với sức khỏe cộng đồng, cố tình bán sản phẩm không rõ nguồn gốc, bánhàng kém chất lượng, sử dụng những hóa chất ngoài danh mục để kéo dài độ tươi củasản phẩm hoặc phẩm màu gây bắt mắt, thay đổi nhãn mác, ngày sản xuất, hạn sửdụng Đáng báo động là hiện nay các hình thức vi phạm ngày càng tinh vi hơn, điềunày đã gây ra nhiều khó khăn cho QLNN về VSATTP
1.4.6 Năng lực của các nguồn cung cấp thực phẩm trong nước, chất lượng quản
lý xuất nhập khẩu
Do kĩ thuật sản xuất lạc hậu, thiếu sự đầu tư, sự yếu kém trong khâu tổ chức,quản lý cũng như quy mô sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ của các doanh nghiệp, cơ sởsản xuất và chế biến thực phẩm trong nước…dẫn đến năng lực của các nguồn cungứng trong nước còn hạn chế, cung không đủ cầu, hệ quả tất yếu là việc nhập khẩu ồ ạtcác loại thực phẩm không qua kiểm soát qua các cửa khẩu, nhập lậu qua biên giới,chủ yếu là Trung Quốc Việc nhập khẩu, nhập lậu không kiểm soát diễn ra từ lâu,song năng lực của cơ quan quản lý xuất nhập khẩu không thể đáp ứng kịp, dẫn đếnthực trạng nguồn hàng kém chất lượng, không đảm bảo VSATTP vẫn được tuồn vềcác chợ Chất lượng thực phẩm nhập khẩu đã gây ra sự bức xúc, bất bình trong dưluận, đặc biệt là các mặt hàng thực phẩm thiết yếu được làm giả một cách trắng trợnnhư rượu pha cồn công nghiệp, trứng gà giả là từ vôi tôi, mực làm từ cao su…Sự nhậpkhẩu ồ ạt, thiếu kiểm soát của các mặt hành thực phẩm chính là một trong nhữngnguyên nhân đã gây ra khó khăn không nhỏ cho QLNN về VSATTP
Trang 16CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN CHỢ
QUẬN LÊ CHÂN- TP HẢI PHÒNG
2.1 Thực trạng kinh doanh thực phẩm tại các chợ trên địa bàn quận Lê Chân.
Việt Nam là một trong các quốc gia ở Đông Nam Á sớm có chợ Hệ thống chợ
ở Việt Nam được hình thành, tồn tại và phát triển khắp các vùng trong cả nước Từthế ký thứ 15 đến 17 đã có nhiều đô thị tập trung nhiều chợ giao thương buôn bán tấpnập như Kinh kỳ Thăng Long, Phố Hiến ở Đàng Ngoài, Hội An ở Đàng Trong đượccác nhà truyền giáo ghi chép lại Trong thời hiện đại có nhiều chợ đã trở thành địadanh lịch sử của truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc như chợ Đồng Xuân
ở Hà Nội, là biểu tượng của một địa phương như chợ Bến Thành của thành phố HồChí Minh Sau năm 1975 cả nước thống nhất, hệ thống chợ ở Việt Nam tiếp tục đượcquan tâm đầu tư phát triển để trở thành một kênh lưu thông phân phối hàng hóa sảnxuất quan trọng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, thúc đẩy sản xuất kinhdoanh dịch vụ phát triển Ngoài lợi ích kinh tế, chợ Việt Nam còn mang đậm nét đẹpbản sắc văn hóa của dân tộc như chợ Viềng Nam Định, chợ Hàng Hải Phòng, chợTình Mộc Châu Sơn La, chợ Tình Sa Pa, chợ nổi ở đồng bằng sông Cửu Long HảiPhòng là một trong những thành phố lớn của Việt Nam với tốc độ phát triển kinh tếnhanh chóng và cũng đạt được nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội Tuy nhiên tronglĩnh vực hoạt động kinh tế của chợ thì còn chậm và lạc hậu nhiều so với các lĩnh vựckinh tế khác của thành phố nói chung và của Quận Lê Chân nói riêng Tại Hải Phòng
có 30 chợ loại 1 và loại 2 cùng với khoảng 40 chợ loại 3 Trên địa bàn Quận Lê Chân
có 07 chợ, trong đó 01 chợ loại 1 (chợ An Dương), 02 chợ loại 2 ( Chợ Con, chợ ĐônNiệm), 04 chợ loại 3 (Chợ Cột Đèn, chợ Máy Đá, chợ Đêm, chợ Hàng), Trong đó 3chợ: Chợ An Dương, chợ Con, chợ Đôn Niệm là các chợ đã có ban quản lý và doUBND quận quản lý 4 chợ còn lại do UBND các phường trực tiếp quản lý Mặc dù
đã có sự quản lý của các cơ quan nhà nước nhưng vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ởcác chợ vẫn còn là điều nhức nhối, khâu quản lý vẫn chưa thực dự tốt Vì thế em sẽ đisâu nghiên cứu thực trạng tình hình kinh doanh thực phẩm của 3 chợ do UBND quậnquản lý là chợ An Dương, chợ Con và chợ Đôn Niệm
2.1.1 Thương nhân.
Chợ An Dương là 1 trong 3 chợ loại 1 của Thành phố Hải Phòng và là chợ lớn
nhất của quận Lê Chân Song đặc điểm chính của chợ là kinh doanh các mặt hàng
Trang 17nông sản thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng thông thường phục vụ cho nhu cầu tiêudùng của người lao động trung bình tại quận và các huyện ngoại thành liền kề
- Nhóm nông sản thực phẩm: gạo, hàng khô, đường sữa, bánh kẹo, thực phẩm tươisống, gà vịt, cá, hải sản, giò chả, hoa quả, ăn uống, giải khát có 205 hộ kinh doanh
- Nhóm hàng công nghiệp có 172 hộ kinh doanh
(Nguồn: Phòng Kinh tế quận Lê Chân)
Doanh thu của các hộ kinh doanh thực phẩm trên địa bàn chợ An Dương không
có sự thay đổi lớn trong các năm từ 2009 đến 2012 Năm 2010 doanh thu về kinhdoanh thực phẩm là lớn nhất: 10.866 trđ Và doanh thu đạt thấp nhất vào năm 2009 là:10.252 trđ
Về đăng ký kinh doanh: Thực hiện nghị định 02/CP của Chính Phủ về đăng kýkinh doanh, về mặt hàng thực phẩm đã có 110/205 hộ có giấy phép đăng ký kinhdoanh còn lại là thu phí
Chợ Con là chợ loại 2 có quy mô nhỏ, nằm trên trục đường mang tên Chợ Con
nối giữa tuyến đường Hồ Sen và đường Hàng Kênh Số lượng hộ kinh doanh trungbình tại chợ là 200 hộ, thời gian kinh doanh hàng ngày trong tuần, song chủ yếu tậptrung đông vào buổi sáng, tầm trưa và cuối giờ chiều, các hộ kinh doanh chuyển ra vỉa
hè, cổng chợ, lòng đường để buôn bán điều này cũng gây ra mất vệ sinh an toàn thựcphẩm
Trang 18Chợ Con có 168/213 hộ kinh doanh thực phẩm trong đó:
(Nguồn: Phòng Kinh tế quận Lê Chân)
Trong đó có 75 hộ kinh doanh thực đăng ký kinh doanh còn lại thu phí
Chợ Đôn Niệm là chợ loại 2 đô thị hoạt động hàng ngày song thực chất chỉ đông
vào buổi sang từ 7 giờ đến 10 giờ và cuối buổi chiều khi người lao động đi làm về từ
17 giờ đến 18 giờ hàng ngày
Thời điểm hiện tại, chợ có 200 hộ kinh doanh thường xuyên và buôn bán các mặthàng, về mặt hàng thực phẩm có 123/200 hộ kinh doanh trong đó:
2.1.2 Môi trường kinh doanh.
Mặc dù đã có những cố gắng trong quản lý cũng như nâng cao ý thức về vệ sinh
an toàn thực phẩm nhưng do nhiều hạn chế về nguồn vốn và đầu tư cải tạo từng phầnnên các chợ trên địa bàn quận đã xuống cấp không đáp ứng được chất lượng vệ sinh
an toàn thực phẩm trong kinh doanh thực phẩm
Chợ An Dương được xây dựng từ thập kỷ 60 có diện tích mặt bằng 6.564m2, mặthàng kinh doanh chủ yếu là nông sản thực phẩm tọa lạc tại ngã tư An Dương là giaođiểm của các trục đường chính nên kinh doanh các mặt hàng thực phẩm rất có lợi thế ,giao lưu buôn bán rất tiện lợi Nhưng hiện nay trong quá trình sử dụng đã lạc hậuxuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu mua sắm của nhân dân, đặc biệt là nền chợ,
hệ thống cấp thoát nước, vệ sinh Hiện tại chợ An Dương xả nước thải sinh hoạt vàchế biến thực phẩm, hải sản trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung của thành phốkhông đảm bảo, ô nhiễm môi trường Rác thải hữu cơ từ phế thải của gia súc, gia cầm,
Trang 19tôm cá, rau củ quả được tập kết vào một địa điểm lộ thiên đến cuối buổi mới đượcchuyển đến nơi thu gom rác chung Như vậy là không đảm bảo vệ sinh an toàn thựcphẩm khi có dịch bệnh gia súc, gia cầm.
Chợ Đôn Niệm thành lập từ năm 1980 trên cơ sở quy hoạch giải tỏa nút điểmgiao thông ngã ba Đôn là điểm giao giữa trục đường Trần Nguyên Hãn và đườngThiên Lôi Chợ bán những những mặt hàng nông sản tươi sống, rau quả với giá bìnhdân phù hợp với tài chính của cộng đồng dân cư, chợ kinh doanh thường xuyên hàngngày nhưng chỉ tập trung đông vào buổi sáng và cuối buổi chiều Do không được cấpnhiều kinh phí để sửa sang lại chợ nên cơ sở hạ tầng của chợ xuống cấp nhiều và vẫnchưa đảm bảo được vệ sinh an toàn thực phẩm Nước thải sinh hoạt và sơ chế hải sản,giết mổ gia cầm được xả ra hệ thống ống thoát nước nội bộ chợ sau đó đổ ra hệ thốngthoát nước chung của toàn khu vực Do không được xử lý nên nguy cơ ô nhiễm môitrường cao, nhất là khi dịch bệnh gia súc gia cầm phát triển, hộ kinh doanh phải kinhdoanh trong môi trường ô nhiễm không hợp vệ sinh Rác thải được thu gom vàchuyển ra xe rác mỗi ngày 1 lần Điểm thu gom rác thải tạm thời trong khi chuyển ra
xe rác không được che kín nên có nhiều ruồi, nhặng, bốc mùi khó chịu, đặc biệt trongmùa hè nên không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Chợ Con được hình thành từ 100 năm nay và là nơi trao đổi, mua bán của ngườitiêu dung từ các phường Hàng Kênh, Đông Hải, Trại Cau, Hồ Nam Chợ chủ yếu kinhdoanh các mặt hàng rau quả, thực phẩm tươi sống và chỉ họp vào buổi sáng hàngngày Chợ Con gồm nhiều dãy nhà mặt tiền trông ra đường Chợ Con hai tầng, phíatrong là các dãy nhà bán hàng mái tôn, vỉ kèo, cột sắt, không có tường vây, nền chợláng xi măng theo khuôn viên các dãy bán hàng Hệ thống thoát nước mặt kết hợp vớiđường cống ngầm xả ra ga gom nước chung của thành phố Nhìn chung cơ sở vật chất
hạ tầng của chợ đã xây dựng từ lâu, lại chắp vá không đảm bảo các tiêu chuẩn về ánhsáng, nhà vệ sinh cần cải tạo nên vẫn chưa đảm bảo được vệ sinh an toàn thực phẩm
2.1.3 Sản phẩm thực phẩm
Mặt hàng chủ yếu ở các chợ là mặt hàng nông sản thực phẩm: gạo, hàng khô,đường sữa, bánh kẹo, thực phẩm tươi sống, gà vịt, hải sản, giò chả, hoa quả, ăn uống,giải khát,…Phần lớn người buôn bán thực phẩm, đặc biệt thực phẩm tươi sống như:rau xanh, thịt gia súc, gia cầm, thủy sản đều không quan tâm tới Luật ATTP, kháiniệm ATTP chỉ đơn giản hiểu là không bị ngộ độc Khi đoàn thanh tra của Quận đikiểm tra VSATTP tai các chợ thì thấy hầu hết các mặt hàng đều không rõ nguồn gốcxuất xứ, hết hạn sử dụng vẫn được ngang nhiên bày bán, các thức ăn chín được bàybán không tủ đựng, được bày bán cạnh các thực phẩm sống Đối với các quán cơm,
Trang 20quán bún việc chế biến thực phẩm cũng hết sức mất vệ sinh, chế biến thức ăn gần cáccống rãnh nước thải, các nguyên liệu để chế biến không rõ nguồn gốc được mua vớigiá rẻ, thớt để thái thực phẩm sống và chín không phân biệt,…Bản thân người thamgia sản xuất thì không đeo găng tay, không có bảo hộ lao động, làm trong một môitrường vô cùng mất vệ sinh Việc ăn các loại thực phẩm này sẽ ảnh hưởng xấu đếnngười tiêu dùng Bên cạnh đó việc nhập hàng loạt thực phẩm từ Trung Quốc vào cácchợ: An Dương, Con, Đôn Niệm rau, hoa quả, gia cầm đặc biệt là bánh kẹo đượcnhập giá rẻ, kẹo cân bán tràn lan tại các cửa hàng, không rõ ngày sử dụng Người tiêudùng vẫn biết vậy nhưng vẫn mua vì giá nó rẻ Qua đây có thể thấy việc vi phạmVSATTP tại các chợ trên vẫn diễn ra thường xuyên và phức tạp Việc này đòi hỏi các
cơ quan tổ chức liên quan đến việc bảo vệ VSATTP trên địa bàn Quận quan tâm đếnvấn đề này
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn quận Lê Chân,tp Hải Phòng
2.2.1 Cơ chế quản lý của cơ quan nhà nước về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh trên địa bàn chợ ở Việt Nam
Hiện tại, việc quản lý nhà nước về chất lượng VSATTP được phân công, phâncấp cho các bộ và địa phương theo pháp luật về VSATTP Tại mỗi bộ có đơn vị đầumối là cục hoặc vụ giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chấtlượng VSATTP đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của bộ Ban chỉđạo liên ngành VSATTP trung ương được thành lập để chỉ đạo việc phối hợp hoạtđộng giữa các bộ trong các vấn đề liên ngành về VSATTP Ở địa phương, UBND cấptỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng VSATTP trong phạm vi địaphương Tham mưu giúp UBND tỉnh là Sở Y tế, Sở Nông nghiệp - PTNT, các sở,ban, ngành hữu quan khác Ban chỉ đạo liên ngành VSATTP các cấp có trách nhiệmchỉ đạo, phối hợp hoạt động liên ngành tại địa phương
Theo quy định của pháp luật về VSATTP, Bộ Y tế chịu trách nhiệm quản lý Nhànước về vệ sinh an toàn thực phẩm lưu thông trên thị trường, giới hạn các chất gây ônhiễm thực phẩm; quy định điều kiện, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn trong sản xuất, kinhdoanh thực phẩm có nguy cơ cao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu tráchnhiệm quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp,ngư nghiệp; trong giết mổ và kiểm dịch động vật sống; trong chế biến sau thu hoạchđối với sản phẩm nông nghiệp, kiểm dịch thực vật Bộ Công thương quản lý và chịutrách nhiệm về chất lượng vệ sinh an toàn trong thương mại thực phẩm Theo đó, các
Trang 21văn bản quản lý sẽ do bộ, ngành ban hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ quản lýcủa từng bộ, ngành và một số văn bản liên ngành
Song, hiện nay quy định của pháp luật hiện hành về phân công phối hợp chưa rõ
ràng, còn nhiều chồng chéo gây khó xử và bất cập trong quá trình triển khai, phối hợp
thực hiện, cũng như đùn đẩy trách nhiệm khi sự việc xảy ra trong quản lý vệ sinh antoàn thực phẩm
Phân công quản lý nhà nước về VSATTP còn chồng chéo giữa Bộ Y tế với Bộ
NN&PTNT Cụ thể: điểm a Khoản 3 Điều 43 Pháp lệnh VSATTP quy định “Việc
quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất do các bộ, ngành quản lý chuyên ngành chủ trì phối hợp với Bộ Y tế, các bộ, ngành có liên quan thực hiện” Tuy nhiên, khoản 2 Điều 16 Nghị định 163/2004/NĐ-CP lại quy định cơ
quan có thẩm quyền kiểm tra, chứng nhận điều kiện đảm bảo VSATTP đối với thựcphẩm có nguy cơ cao như thịt và các sản phẩm từ thịt, các loại rau, củ, quả tươi sống
ăn ngay là các cơ quan y tế nhà nước được Bộ Y tế phân cấp Khoản 2 Điều 16 Nghịđịnh 163/2004/NĐ-CP cũng không còn phù hợp với Khoản 1 Điều 2 Nghị định
79/2008/NĐ-CP: “Bộ NN&PTNT chủ trì thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về
VSATTP đối với nông, lâm, thuỷ sản và muối trong quá trình sản xuất từ khi trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch, đánh bắt, giết mổ động vật, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển đến khi thực phẩm được đưa ra thị trường nội địa hoặc xuất khẩu”.
Việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực thủy sản cũng có vấn đề Nghị định số128/2005/NĐ-CP ngày 11.10.2005 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính tronglĩnh vực thủy sản tại Điều 16, Khoản 1, Điểm c quy định hành vi sử dụng các loạithuốc thú y, hóa chất, phụ gia chế biến bị cấm sử dụng không được phép lưu hành ởViệt Nam hoặc sử dụng không đúng quy định của pháp luật thì bị phạt từ 3- 5 triệuđồng
Trong khi đó, Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 6.4.2005 của Chính phủ về xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế được quy định tại Điều 15, Khoản 5, Điểm
c thì có cùng hành vi là sản xuất kinh doanh thực phẩm hoặc sản phẩm chế biến từ thịtgia cầm, gia súc, thủy sản, rau quả bị bệnh, bị ngộ độc, chết không rõ nguyên nhânhoặc bị ngâm tẩm các chất hóa học không được phéo sử dụng thì mức phạt tiền từ 10-
15 triệu đồng
Bên cạnh đó, Bộ Y tế quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm nhưng Bộ Khoahọc và Công nghệ quản lý nhà nước về chất lượng thực phẩm Đặc biệt, cùng một sảnphẩm thực phẩm như quả cam, quả táo nhưng phải chịu sự quản lý của các bộ: BộKhoa học và Công nghệ quản lý về chất lượng, tiêu chuẩn và nhãn mác; Bộ Nông