CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI CHỢBIÊN GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài Trước năm 1986,thương mại nước ta mang đặc trưng của
Trang 1CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI CHỢ
BIÊN GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Trước năm 1986,thương mại nước ta mang đặc trưng của một nền thươngmại kế hoạch hóa tập trung,hoạt động mua bán trên thị trường chủ yếu do haithành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể thâu tóm ,nó diễn ra theo kế hoạchcủa nhà nước.Nhà nước định lượng bán cho người sản xuất ,định lượng mua chongười tiêu dùng sau đó ghép nối người sản xuất với người tiêu dùng thong quachế độ tem phiếu,giá cả do nhà nước quy định.Do vậy,chợ trong thời gian nàykhông sầm uất ,nhộn nhịp như bây giờ,mạng lưới chợ không phát triển và chợđơn thuần chỉ là nơi trao đổi mua bán ,phục vụ nhu cầu dân sinh hàng ngày làchủ yếu
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa ,mạng lưới chợ biên giới Lạng Sơn đã có nhữngbước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng cũng như chất lượng Mạng lưới chợbiên giới đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc lưu thông hàng hóa khôngchỉ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn mà còn là một mắt xích quan trọng trong mạnglưới chợ của cả nước đối với hoạt động giao thương của Việt Nam với TrungQuốc Không những đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa mà mạnglưới chợ biên giới Lạng Sơn còn đáp ứng tốt nhu cầu dân sinh, là nguồn thu quantrọng của ngân sách nhà nước, đặc biệt tạo công ăn việc làm cho nhiều người laođộng Do nhu cầu trao đổi mua bán của người dân trong địa bàn tỉnh Lạng Sơn
và nhu cầu mua bán của nhân dân biên giới 2 nước Việt Nam – Trung Quốc nênchợ biên giới đã phát triển ồ ạt,nhanh chóng ở nhiều nơi gây mất trật tự an ninh,
Trang 2ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến mỹ quan,gây khó khăn trong công tác quảnlý.
Đặc biệt trong những năm gần đây, mạng lưới chợ đã và đang bộc lộnhững bất hợp lý cần khắc phục như: các chợ tạm mọc lên quá nhiều, trong khi
đó các chợ chính, nhiều nơi không sử dụng hết diện tích kinh doanh, chưa thuhút được người khinh doanh vào trong chợ Nguyên nhân là chưa tổ chức mạnglưới chợ một cách hoàn chỉnh, hợp lý, mạnh lưới chợ chưa đáp ứng được nhucầu của lưu thông hàng hóa, cơ sở hạ tầng của chợ còn rất thấp kém, công tác tổchức quản lý chợ còn nhiều hạn chế
Bởi vậy, việc tổ chức mạng lưới chợ biên giới tỉnh Lạng Sơn là một nhiệm
vụ hết sức cấp bách, nhằm tạo ra một cơ cấu chợ hợp lý gắn với các chức năngkhác như khu dân cư, mạnh lưới giao thông, các yêu cầu tổ chức cơ sở hạ tầng,đảm bảo các diều kiện vệ sinh môi trường, phù hợp với các yều cầu thẩm mĩ vớicảnh quan xung quanh, đảm bảo an toàn và trật tự an ninh trong sinh hoạt của
nhân dân Vì vậy em đã chọn đề tài: “Giải pháp chính sách quản lý nhà nước
về quy hoạch mạng lưới chợ biên giới trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài.
Trên cơ sở nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề em tiến hành nghiêncứu đề tài nhằm đề cập tới những vấn đề sau :
+Thực trạng chợ biên giới hiện nay như thế nào?
+Những nhân tố nào ảnh hưởng tới quy hoạch MLC?
+Việc quy hoạch MLC biên giới có tác dụng gì?
+Các chợ biên giới đã được đầu tư khai thác có hiệu quả chưa?
+Giair pháp nào đưa ra để phát triển MLC biên giới Lạng Sơn?
Thực tế chính sách quản lý nhà nước về chợ biên giới còn có những hạnchế,yếu kém Vậy những hạn chế,yếu kém đó từ đâu? Đó chính là công tác quyhoạch phát triển mạng lưới chợ biên giới; điển hình là việc quy hoạch phát triển
Trang 3cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập nên vấn đề đưa ra các giải pháp nhằm quy hoạchphát mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là hết sức bức xúc Nó phù hợpvới yêu cầu và xu thế phát triển mạng lưới chợ theo sự phát triển kinh tế xã hộicủa tỉnh Lạng Sơn
1.3 Mục tiêu nghiên cứu.
Về mục tiêu lý thuyết: Thông qua nghiên cứu vấn đề về quản lý nhà nước
về quy hoạch MLC biên giới tại tỉnh Lạng Sơn, vận dụng những lý thuyết đãđược học trong trường về kinh tế nói chung và những kiến thức chuyên ngànhkinh tế thương mại nói riêng để hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý thuyếtliên quan tới quy hoạch mạng lưới chợ biên giới Từ đó sử dụng những lý thuyếtnày làm cơ sở cho việc nghiên cứu,áp dụng vào trong thực tiễn quy hoạch chợ để
mở rộng MLC
Về mục tiêu thực tiễn: Dựa trên những lý thuyết, cùng với việc tiến hành phântích, đánh giá thực trạng hoạt động quy hoạch tỉnh Lạng Sơn sẽ là cơ sở để cóthể phát hiện ra những vấn đề còn tồn tại trong quy hoạch chợ Từ dó đưa ranhững giải pháp cấp thiết ở cả tầm vĩ mô và vi mô đóng góp cho sự phát triểncủa chợ nói chung và chợ biên giới Lạng Sơn nói riêng, để khắc phục đượcnhững tồn tại chưa được giải quyết trong thực tiễn hiện nay
Dựa trên cơ sở phân tích thực trạng mạng lưới chợ biên giới tỉnh Lạng Sơn
từ đó nhằm sắp xếp, phân bố hợp lý mạng lưới chợ biên giới để phát triển thươngmại tỉnh Lạng Sơn Đề tài còn đưa ra một số giải pháp, đề xuất và kiến nghị đểhoàn thiện và nâng cao công tác quy hoạch cơ sở hạ tầng mạng lưới chợ biêngiới trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Đặc biệt sẽ đi sâu vào các giải pháp chính sáchquản lý nhà nước phát triển cơ sở hạ tầng cho mạng lưới chợ biên giới
1.4 Phạm vi nghiên cứu.
Về nội dung chuyên đề nghiên cứu về chính sách nhà nước với quy hoạchMLC biên giới Cụ thể đề tài sẽ đi sâu vào vấn đề mở rộng quy mô cũng như
Trang 4tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới chợ biên giới tỉnh LạngSơn.
Về không gian ,trước hết chuyên đề giới hạn phạm vi nghiên cứu tại địabàn tỉnh Lạng Sơn Về đối tượng nghiên cứu MLC biên giới trên địa bàn tỉnhLạng Sơn do đều nằm trên những điểm huyết mạch không chỉ về lưu thông buônbán với Trung Quốc mà còn về tình hình an ninh chính trị của quốc gia vì thế nómang tính đại diện cao cho MLC biên giới ở các tỉnh thành khác trong cả nước
Về thời gian,số liệu về thực trạng quy hoạch chợ biên giới Lạng Sơn đượcnghiên cứu trong khoảng thời gian 2006-2009 Đồng thời đề tài đưa ra các giảipháp thu hút vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng các chợ vùng biên để mở rộng về quy
mô mạng lưới chợ biên giới giai đoạn 2010 - 2020
1.5 Một số khái niệm và phân định nội dung của vấn đề tài.
1.5.1 Chợ
a Khái niệm.
Trong lịch sử phát triển xã hội con người luôn luôn cần có sự giao lưu vềkinh tế,văn hóa,xã hội,nơi hình thành và diễn ra sự giao lưu đầu tiên đó là chợ Chợ ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xãhội ,tính chất xã hội hóa của nền sản xuất ngày càng cao ,sự phân công kinhdoanh xã hội ngày càng sâu sắc thì nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng lớn vàchợ với tư cách là nơi trao đổi hang hóa ,dịch vụ sẽ ngày càng phát triển
Chợ là nơi phục vụ nhu cầu trao đổi mua bán,phục vụ cuộc sống của nhiều tầnglớp khác nhau trong xã hội,là nơi tập trung hoạt động mua bán của nhiều thànhphần kinh tế,dân cư trong xã hội
-Chức năng chính của chợ là nơi diễn ra hoạt động mua bán hay trao đổicác sản phẩm, hàng hóa khác nhau Hàng hóa trong chợ rất đa dạng, từ những
Trang 5loại sản phẩm dùng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người đến các chủngloại sản phẩm khác.
Chợ kinh doanh theo kiểu vừa bán sỉ, vừa bán lẻ nên lượng khách thườngđông vào các ngày cuối tuần Những năm gần đây do đầu tư hàng loạt các cửahàng, siêu thị xung quanh chợ và đặc biệt là khu vực chợ tự phát trên các tuyếnđường Mặc dù các cấp chính quyền nơi đây đã tích cực giải toả song các tuyếnđường này vẫn tụ tập hoạt động vào buổi chiều tối, đã ảnh hưởng đến sức muacủa các hàng trong chợ Bên cạnh đó, thói quen của tiểu thương thường nói tháchquá cao, lôi kéo khách hàng, lấn chiếm diện tích lối đi đã ảnh hưởng không nhỏđến hiệu quả kinh doanh, kể cả an ninh trật tự tại khu vực chợ
-Từ góc độ quản lý Nhà nước chúng ta có thể đưa ra các khái niệm chợ nhưsau:
Chợ là một địa điểm công cộng,có diện tích mặt bằng khá lớn,tập trung cáchoạt động mua bán hàng hóa ,dịch vụ của nhiều chủ thể khác nhau.Chợ được tổchức theo quy luật lưu thong hang hóa,phù hợp với nhu cầu ,đặc điểm,tậpquán,điều kiện kinh tế và được quản lý thống nhất theo pháp luật hiện hành củaNhà nước
Chợ là một bộ phận quan trọng trong tổng thể kết cấu hạ tầng kinh tế xãhội,đồng thời nó chịu tác động của nhiều yếu tố và nó luôn gắn liền với trình độphát triển của nền kinh tế xã hội vì vậy khi đưa khái niệm về chợ nó cần đáp ứngđược những đòi hỏi cơ bản sau :
+ Chợ là loại hình thương nghiệp truyền thống
+ Nó là nơi diễn ra các hoạt động mua bán của nhiều thành phần kinh tếtrong đó đa phần là kinh tế cá thể
+ Đối tượng trao đổi chủ yếu là các hang hóa tiêu dùng hang ngày và nhằmphục vụ cho mọi đối tượng dân cư
+ Địa điểm tổ chức chợ là nơi cố định được chính quyền cho phép
Trang 6+ Mỗi hoạt động phải tuân theo sự quản lý của Nhà nước và địa phương.Như vậy từ việc nghiên cứu các góc nhìn trên tổng hòa lại chúng ta có thểđưa ra một khái niệm về chợ như sau:
“Chợ là một loại hình thương nghiệp có tính truyền thống ,một bộ phận cấu
thành của thị trường xã hội,là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ phong phú của các thành phần kinh tế ,mà đa phần là kinh tế cá thể ,với những mặt hang tiêu dùng hàng ngày là chủ yếu và đối tượng phục vụ là tất cả các bộ phận dân cư sống trên địa bàn Địa điểm xây dựng được chính quyền lựa chọn ,quy định và cho phép hoạt động theo mức độ khác nhau ,tùy theo các hoạt động kinh tế xã hội trong từng thời kỳ”
1.5.2 Chợ biên giới :
Chợ biên giới là chợ nằm trong khu biên giới trên đất liền (gồm xã,phường,thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc giatrên đất liền) hoặc khu vực biên giới trên biển(tính từ biên giới quốc gia trên biểnvào hết địa giới hành chính xã,phường,thị trấn giáp biển,đảo,quần đảo)
(Nghị định số 114/2009/NĐ-CP về sửu đổi,bổ sung một số điều của Nghị định
số 02/2003/ND-CP về phát triển và quản lý chợ)
Đặc thù của chợ biên giới :
-Các chợ biên giới phần lớn nằm ở khu vực vùng sâu,vùng xa đường giao
thông đi lại khó khăn,mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng chợ thấp kém do mứcđầu tư còn hạn chế,phần lớn các chợ ở đây là chợ tạm Phần lớn các chợ ở đâyhoạt động theo hình thức chợ phiên,thời gian họp chợ ngắn
Chưa thu hút được các thương nhân hai biên giới đến đầu tư,kinh doanh ở tạikhu vực chợ
-Mặt khác đời sống của nhân dân các dân tộc vùng cao biên giới còn gặpnhiều khó khăn,thiếu thốn Nhân dân chưa yên tâm sinh sống tại nơi biên
Trang 7giới,chưa thu hút được các nguồn vốn xã hội đến đầu tư kinh doanh tại chợ biêngiới.
-Các mặt hàng buôn bán tại chợ chủ yếu là : dầu,muối,nông sản,thựcphẩm,quần áo…phục vụ các nhu cầu thiết yếu của đồng bào các dân tộc địaphương hai bên biên giới
-Hiệu quả hoạt động kinh doanh thương mại của hệ thống chợ bên giớihầu như chưa phát huy được các thế mạnh tiềm năng do các điều kiện về cơ sở
hạ tầng,mức sống dân cư và trình độ dân trí còn thấp,sản xuất tại chỗ còn mangnặng tính tự cấp ,tự túc,chưa có ý thức về sản xuất hàng hóa và kinh tế thịtrường Công tác đầu tư xây dựng chợ chưa được quan tâm đúng mức về điềukiện,thói quen,tập quán sinh hoạt nên có chợ sau khi được đầu tư xây dựng dânkhông tới họp chợ
1.5.3 Mạng lưới chợ (MLC) :
MLC là tập hợp các chợ được xây dựng theo quyết định của UBND tỉnh,thành phố phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trên một địa bàn.Theo khái niệm trên thì các chợ như chợ cóc,chợ tự phát không thuộc mạng lướichợ
Mạng lưới chợ biên giới(MLCBG):” MLCBG là tập hợp các chợ biên giới được
xây dựng theo quyết định của UBND tỉnh,thành phố phù hợp với quy hoạch pháttriển kinh tế trên địa bàn các tỉnh biên giới”
1.5.4 Chính sách quản lý nhà nước về chợ.
Các chính sách, nghị định của chính phủ về quy hoạch và phát triển MLC
cả nước bao gồm :
+ Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về pháttriển và quản lý chợ
+ Quyết định 559/QĐ-TTg ngày 31/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Chương trình phát triển chợ đến năm 2010
Trang 8+ Thông tư số 07/2003/TT-BKH ngày 11/9/2003 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư hướng dẫn lập các dự án quy hoạch phát triển và đầu tư xây dựng chợ
+ Quyết định số 012/2007/QĐ-BCT ngày 26 tháng 12 năm 2007 của Bộtrưởng Bộ Thương mại phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới chợtoàn quốc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” và một số chính sáchkhác
+ Quyết định số 682/QĐ-UB-TCTM ngày 6/5/2005 của chủ tịch UBNDtỉnh Lạng Sơn V/v phê duyệt Đề cương chi tiết và dự toán kinh phí xây dựngQuy hoạch phát triển MLC trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến năm 2010 và địnhhướng đến năm 2020
a Quy hoạch phát triển chợ
- Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của chính phủ về phát triển và quản
lý chợ “Chợ là một bộ phận quan trọng trong tổng thể kết cấu hạ tầng kinh tế
-xã hội ; Từ nay trở đi Quy hoạch phát triển kinh tế - -xã hội từng thời kỳ của địa phương phải bao gồm Quy hoạch phát triển chợ”
Lập quy hoạch nghĩa là “bố trí,sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lýtrong từng khoảng thời gian,làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn”
- Các nguyên tắc lập Quy hoạch phát triển chợ:
+) Phải hình thành hệ thống mạng lưới chợ với quy mô khác nhau phù hợp vớidung lượng hàng hoá lưu thông trên địa bàn, góp phần phát triển sản xuất và đẩymạnh giao lưu hàng hoá; chú trọng phát triển chợ ở các vùng sâu, vùng xa, miềnnúi, hải đảo gắn với yêu cầu giao lưu văn hoá của đồng bào các dân tộc
+) Phát triển các chợ đầu mối theo ngành hàng, đặc biệt là các chợ đầu mốinông sản, thực phẩm để góp phần đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá ở những vùng sảnxuất tập trung về nông, lâm, thuỷ sản
+) Quy hoạch phát triển chợ phải đồng bộ với quy hoạch xây dựng các khudân cư, các Công trình giao thông, điện, cấp thoát nước và các công trình công
Trang 9cộng khác, bảo đảm vệ sinh môi trường; đối với các chợ loại 1 và 2 phải bố tríđầy đủ mặt bằng phạm vi chợ theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định này.
+)Tất cả các Dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, Sửa chữa lớn, nângcấp chợ phải thực hiện theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt
+)Tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư phát triển mạng
lưới chợ trên phạm vi địa bàn Tỉnh, đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa chợ vàcác loại hình thương mại khác, phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế và
sự gia tăng hoạt động thương mại
+)Tích cực đẩy nhanh quá trình xã hội hoá hoạt động đầu tư để vừa đảmbảo hiệu quả kinh tế – xã hội, vừa nâng cao hiệu quả tài chính trong đầu tư pháttriển mạng lưới chợ
+)Tăng cường quản lý và quản lý thống nhất vốn hỗ trợ đầu tư phát triểnchợ của Nhà nước cả trong quá trình thực hiện đầu tư và trong quá trình khaithác, sử dụng kết quả đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của Nhà nướctrong đầu tư phát triển mạng lưới chợ
+)Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển chợ trên cơ sở khai thác năng lựcphục vụ của mạng lưới chợ
(Nghị định 02/2003/ND-CP về phát triển và quản lý chợ ngày 14/01/2003)
b Quản lý nhà nước về chợ,quy hoạch chợ
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, phương hướng phát triển chợ từng thời kỳphù hợp với quy hoạch, kế hoạch, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội ởtừng địa phương, khu vực, đáp ứng nhu cầu của sản xuất,lưu thông hàng hóa vàtiêu dùng của nhân dân
- Ban hành các chính sách về đầu tư, xây dựng, khai thác và quản lý hoạtđộng chợ
- Quản lý các chợ do Nhà nước đầu tư xây dựng theo quy định về phân cấpquản lý
Trang 10- Chỉ đạo, hướng dẫn các Ban Quản lý chợ, doanh nghiệp kinh doanh khaithác và quản lý chợ về chính sách, nghiệp vụ quản lý chợ.
- Tổ chức công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
và luật pháp của Nhà nước cho mọi người trong phạm vi chợ
- Tổ chức kiểm tra, khen thưởng và xử lý các vi phạm về hoạt động chợ
(Nghị định 02/2003/ND-CP về phát triển và quản lý chợ)
1.5.5 Phân định nội dung của đề tài gồm :
Chuyên đề giải quyết vấn đề liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước vềquy hoạch MLC cụ thể là chợ biên giới tỉnh Lạng Sơn theo khía cạnh mở rộngquy mô cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng MLC biên giới theo hướng bền vững
Để quy hoạch phát triển chợ biên giới thì phải hình thành hệ thống mạnglưới chợ với quy mô khác nhau phù hợp với dung lượng hàng hoá lưu thông trênđịa bàn các chợ biên giới, góp phần phát triển sản xuất và đẩy mạnh giao lưuhàng hoá giữa các đồng bào dân tộc 2 bên biên giới; chú trọng phát triển chợ ởcác vùng sâu, vùng xa, miền núi gắn với yêu cầu giao lưu văn hoá của đồng bàocác dân tộc
Để giải quyết vấn đề này tôi sẽ chú trọng vào đầu tư cơ sở hạ tầng các chợbiên giới với các giải pháp khuyến khích đầu tư vốn cho phát triển mạng lưới chợbiên giới trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Trang 11CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI CHỢ BIÊN GIỚI TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề
Nhằm mục đích xây dựng đề tài một cách có hệ thống,những nội dungnghiên cứu trong đề tài được tiếp cận dựa trên sự kết hợp đồng thời các quanđiểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với những phương pháp nghiên cứuđược sử dụng sau: Thu thập dữ liệu thứ cấp,phân tích dữ liệu,so sánh…
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
Được thu thập chủ yếu thông qua tài liệu sách báo; tài liệu qua internet;các văn bản,quy định,nghị định; đề án…
2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Trang 12c Phương pháp khác
Nhằm nâng cao hiệu quả của đề tài, trong quá trình phân tích và tổng hợp
dữ liệu, đề tài còn sử dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu vềquy hoạch phát triển chợ các giai đoạn khác nhau
Việc sử dụng các phương pháp đó để thấy rằng hiệu quả hoạt động của cácchợ biên giới trên địa bàn tỉnh LS còn nhiều hạn chế do dân cư phân tán,sản xuấtnhỏ lẻ,năng suất thấp Các chợ biên giới hoạt động còn kém hiệu quả do điềukiện về giao thông không thuận tiện,xa các trung tâm vì thế chợ biên giới LSchưa được khai thác đúng tiềm năng của nó
2.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môt trường đến vấn đề quy hoạch mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
2.2.1 Thực trạng mạng lưới chợ Lạng Sơn.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi,có 11 huyện,thành phố với 226 xã,phường,thị trấn (135 xã vùng cao, miền núi) Trong đó có 55 xã thuộc diện đặcbiệt khó khăn; dân số toàn tỉnh là 758.991 người với 7 dân tộc chủ yếu,trong đódân tộc Tày và dân tộc Nùng chiếm đa số Lạng Sơn có 2 cửa khẩu quốc tế (cửakhẩu Hữu Nghị-Đường bộ và cửa khẩu Đồng Đăng- đường sắt), 2 cửa khẩuchính là Chi Ma và Bình Nghi,một số cửa khẩu phụ cùng các cặp chợ biêngiới.Trong những năm qua ,UBND tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo các huyện,thànhphố và sở Công Thương tổ chức củng cố lại hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Năm
2006, Lạng Sơn đã xây dựng được bản Quy hoạch phát triển MLC ,siêu thị,trungtâm thương mại trên địa bàn.Năm 2009 hoàn chỉnh dự án điều chỉnh bổ sung quyhoạch phát triển thương mại trên địa bàn đến 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
Theo số liệu thống kê ở Biểu 2 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện có 74
chợ/226 xã phường, thị trấn, bình quân có 0,33 chợ/xã, phường, thị trấn Trong
đó, có 2 chợ loại 1 chiếm 2,70 %; 9 chợ loại 2 chiếm 12,16% và 63 chợ loại 3chiếm 85,14% Mật độ chợ chung toàn tỉnh bình quân 0,975 chợ phục vụ 10.000
Trang 13dân So với bình quân vùng Đông Bắc và cả nước (1,5 chợ và 1,08 chợ/10.000dân) thì mật độ chung toàn tỉnh là thấp.
Biểu 2 Tình hình phân bố chợ trên địa bàn tỉnh
xã,phường,TT Số chợ
Chợ TT huyện,TP
Chợ xã, cụm xã
Theo số liệu khảo sát ở Biểu 3 chợ của tỉnh năm 2006 và đầu năm 2008,
về tính chất công trình, mạng lưới chợ của tỉnh có 24 chợ xây dựng kiên cốchiếm 32,43% ; 18 chợ bán kiên cố chiếm 24,32% ; 22 chợ ngoài trời chiếm29,73% và 10 chợ lều quán chiếm 13,52% Bên cạnh đó số chợ tạm, chợ lềuquán và chợ chưa được xây dựng trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều.Tỷ trọng chợtạm( chợ lều quán) tuy thấp hơn bình quân chung của cả nước và vùng đôngbắc ,nhưng tỷ trọng chợ chưa xây dựng trên địa bàn tỉnh lại quá cao(32,34%)vượt xa mức bình quân chung của cả nước (22,3 %) Số hộ kinh doanh tại chợthường xuyên là 7.215 hộ/65 chợ chiếm 42,51%/tổng số hộ đăng ký kinh doanhthương mại - dịch vụ trên toàn tỉnh
Biểu 3 phân loại chợ theo mức độ xây dựng