Mục tiêu chung Nghiên cứu sự khác biệt về trình độ phát triển giữa nam và nữ trên thế giớinói chung và của Việt Nam nói riêng, để biết được sự khác biệt về trình độ phát triểngiữa nam và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đề tài: Chỉ số phát triển liên quan đến giới
Trang 2Giáo viên hướng dẫn:
Nguyễn Văn Ngân
Trang 4MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN GIỚI
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
II – Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu sự khác biệt về trình độ phát triển giữa nam và nữ trên thế giớinói chung và của Việt Nam nói riêng, để biết được sự khác biệt về trình độ phát triểngiữa nam và nữ hiện nay và mối liên hệ giữa chỉ số phát triển giới và tăng trưởngkinh tế
2.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 5- Xác định các yếu tố tác động đến chỉ số phát triển giới, nêu ra phương pháp tính cụthể cho từng yếu tố.
- Phân tích thực trạng chung về sự phát triển giới trên toàn cầu (các nước pháttriển, nước đang phát triển và nước chậm phát triển)
- Tình hình chung về sự phát triển giới ở Việt Nam
- Xác định thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức của Việt Nam bị tác độngbởi tình hình phát triển giới
- Nêu lên mối liên hệ giữa chỉ số phát triển giới và phát triển kinh tế nhằm đềxuất giải pháp tạo nên mối quan hệ thuận chiều giữa hai chỉ tiêu này
Trang 6III – Nội dung:
3.1 Tìm hiểu về chỉ số phát triển giới:
3.1.1 Chỉ số phát triển giới:
a Mục đích, ý nghĩa:
Chỉ tiêu đo lường thành tựu trung bình của một quốc gia hay vùng theo cácyếu tố cơ bản về phát triển con người nhưng quan tâm đến sự bất bình đẳng trongviệc đạt được giữa nam và nữ Đây là nội dung trong 5 chỉ tiêu được UNDP sử dụngtrong báo cáo phát triển con người hàng năm
đo lường thành tựu trung bình của một quốc gia hay vùng theo các yếu tố cơ bản vềphát triển con người
là nội dung trong 5 chỉ tiêu được UNDP sử dụng trong báo cáo phát triển con ngườihàng năm
b Khái niệm, nội dung, phương pháp tính
Chỉ số phát triển giới (Gender-related Development Index -GDI) là chỉ sốtổng hợp (bình quân giản đơn) của 3 chỉ số phân bổ công bằng về tuổi thọ, văn hóa
Đô la Mỹ theo sức mua tương đương (PPP_USD)
GDI nhận giá trị trong khoảng 0 đến 1 Khi GDI càng tiến đến giá trị 0 thìmức độ chênh lệch giữa hai giới càng lớn và ngược lại
Công thức tính:
GDI
Trang 7X Nữ: Tuổi thọ trung bình của dân số nữ
X Nam: Tuổi thọ trung bình của dân số nam
27,5: tuổi thọ trung bình tối thiểu của nữ
87,5: Tuổi thọ trung bình tối đa của nữ
22,5: Tuổi thọ trung bình tối thiểu của nam
82,5: Tuổi thọ trung bình tối đa của nam
* Giáo dục:
Trang 8Trong đó:
IGiao_duc_Nu: Tỷ lệ người lớn nữ biết chữ, được tính bằng công thức:
(ANu là số người nữ từ 15 tuổi trở lên biết chữ; BNu là dân số nữ trừ 15 tuổi trở lên)
INhap_hoc_nu: Tỷ lệ nữ nhập học các cấp giáo dục, được tính bằng công thức:
(CNu là tổng số học sinh, sinh viên nữ đang học các cấp giáo dục từ tiểu học đến đại học; DNu là dân số nữ từ 6 đến 24 tuổi)
IBiet_chu_nam: Tỷ lệ người lớn nam biết chữ, được tính bằng công thức:
=
(ANam là số người nam từ 15 tuổi trở lên biết chữ; BNam là dân số nam từ 15 tuổi trở lên)
INam_nhap_hoc: Tỷ lệ nam nhập học các cấp giáo dục, được tính bằng công thức:
(CNam là tổng số học sinh, sinh viên nam đang học các cấp giáo dục từ tiểu học đến đại học; DNam là dân số nam từ 6 đến 24 tuổi)
Trang 9* GDP:
Trong đó:
YNữ: Là GDP bình quân đầu người thực tế của nữ tính bằng PPP-USD
YNam: Là GDP bình quân đầu người thực tế của nam tính bằng PPP-USD.Các chuyên gia đề nghị sử dụng cách ước lượng GDP bình quân đầu người tính bằng PPP_USD điều chỉnh cho từng giới dựa vào các tiêu chí sau:
- Tỷ trọng dân số là nam và nữ tham gia hoạt động kinh tế
- Tỷ trọng nam, nữ trong tổng số dân
- Quan hệ tiền lương trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp của nữ so với nam
- GDP bình quân đầu người tính bằng PPP_USD có điều chỉnh
* Các bước tính chỉ số phát triển giới
Bước 1: Tính các chỉ số thành phần riêng cho từng giới nữ và nam (các Ii).Bước 2: Tính các chỉ số phân bổ công bằng theo từng yếu tố tuổi thọ, tri thức
và mức sống
Bước 3: Tính chỉ số phát triển giới bằng cách bình quân số học giản đơn giữa
3 chỉ số phân bổ công bằng thành phần
3.2 Chỉ số phát triển giới của thế giới
3.2.1 Chỉ số phát triển giới của các nước phát triển:
Chỉ số phát triển liên quan đến giới (Gender related development index – GDI) là một chỉ số tổng hợp đo lường phát triển con người trong ba lĩnh vực giống như trong chỉ số phát triển con người HDI (tuổi thọ, học vấn và thu nhập) nhưng đã điều chỉnh để xem xét sự bất bình đẳng giới trong những lĩnh vực này
Trang 10Hiện nay, nhu cầu đối với việc tính toán chỉ số phát triển giới (GDI) ngày càng trở nên rõ ràng Đo đạc được chỉ số phát triển giới sẽ cung cấp cơ sở quan trọng để từ
đó các cơ quan chức năng xây dựng các chương trình, chính sách hướng tới sự phát triển của cộng đồng nói chung và cho từng giới nói riêng góp phần thực hiện mục tiêu vì sự phát triển của phụ nữ Việc sử dụng GDI trong đánh giá của các tổ chức của Liên Hợp Quốc về mức thang phát triển của mỗi quốc gia khu vực hiện nay đã trở nên phổ biến Trong các báo cáo phát triển gần đây của Liên hợp quốc đều tồn tại song hành hai chỉ số HDI và GDI Mặc dù hoàn toàn dựa trên cách tính tính toán của HDI nhưng trong một số trường hợp GDI đã thay thế HDI trong các đánh giá phát triển liên quan tới yếu tố giới Đặc biệt là trong thời kỳ hiện nay, khi mức độ phát triển kinh tế đã đưa nhiều quốc gia tới ngưỡng thành công nhất định, nhưng khoảng cách giới ở đó vẫn còn là một bài toán chưa có lời giải đáp hữu hiệu khiến cho việc thực hiện mục tiêu công bằng bình đẳng và tiến bộ chưa thực sự mang lại lợi ích đồng đều cho cả nam giới và nữ giới
Sự chênh lệch về tiền lương giữa nam và nữ tăng cao ở các nước phát triển (Cơ quan Bình đẳng giới Úc (WGEA) vừa công bố một số liệu gây chú ý, mức lương chênh lệch giữa nam và nữ đã tốt nghiệp đại học năm 2012 lên đến 5.000 USD ,gấp 1,5 lần so với năm 2011) Trong những năm gần đây nữ giới chiếm phần lớn trong tổng số sinh viên tốt nghiệp đại học Sự chênh lệch mức lương giữa hai giới đang tiếp tục gia tăng và sẽ tác động rất lớn đến thu nhập của những phụ nữ mới
đi làm, trung bình mỗi phụ nữ vừa mới tốt nghiệp ĐH và làm việc trong ngành nha khoa ở năm đầu tiên luôn bị “bạc đãi” với mức lương thấp hơn 14.000 USD so với đồng nghiệp nam
Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này do “văn hóa doanh nghiệp” Có thể thấy cấp lãnh đạo của nhiều tập đoàn lớn đa phần là nam giới và họ thường có xu hướng tuyển dụng nhân viên nam hơn, vì nó mang lại cảm giác thoải mái và giảm xung đột nội bộ Do đó, chúng ta cần điều chỉnh văn hóa công ty để đảm bảo tính công bằng
GDI được UNDP đưa ra và xây dựng cách tính toán từ năm 1995 Về cơ bản GDI vẫn dựa trên những số liệu của HDI nhưng có tính đến sự can thiệp của yếu tố
Trang 11giới để qua đó đánh giá trình độ phát triển giới của mỗi quốc gia Do bất bình đẳng
giới có mặt ở hầu hết các nước nên chỉ số GDI thường thấp hơn so với HDI
So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI một số nước 2007
Tên nước HDIGiá trị Xếp hạng GDIGiá trị Xếp hạng
Phân tích giới là quá trình đánh giá các tác động khác nhau của các chính
sách, chương trình, dự án và luật pháp hiện hành hay đang được đề xuất đối với namgiới và phụ nữ hoàn toàn khác nhau, và rằng cơ hội bình đẳng không nhất thiết là sẽ mang lại các kết quả bình đẳng Hiện nay, bất bình đẳng giới gia tăng ở nhiều nước
làm cho chỉ số GDI ở các nước thấp hơn HDI:
Thụy Điển - quốc gia Bắc Âu đã rơi từ vị trí thứ nhất xuống vị trí thứ 4
trong bảng Chỉ số bình đẳng giới của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) Bản báo cáo mới nhất về tình hình bình đẳng giới ở Thụy Điển đã chỉ ra nhiều vấn đề đáng lo
ngại Cả trong giáo dục và trên thị trường lao động, nam và nữ chưa hoàn toàn được bình đẳng Số phụ nữ giữ vị trí giám đốc điều hành trong các công ty niêm yết chỉ là
8 trong số 269 công ty Tuy Thụy Điển là nước có tỷ lệ phụ nữ có việc làm cao nhất thế giới, nhưng mức thu nhập trung bình của phụ nữ nước này vẫn thấp hơn nam
15%; khoảng 1/3 phụ nữ vẫn phải làm việc bán thời gian, do không tìm được công
việc đầy đủ thời gian, hoặc do phải gánh vác nhiều trách nhiệm trong gia đình
Ngoài ra, ở Thụy Điển cả nữ và nam đều được nghỉ chế độ sinh con và nuôi con 480ngày, nhưng trên thực tế, nam giới chỉ sử dụng 1/5 trong số ngày nghỉ chế độ này
Trang 12Theo một bản báo cáo của Chính phủ, trong số công nhân có 50% phụ nữ làm việc bán thời gian và thường trong điều kiện làm việc không an toàn, trong khi con số này ở nam giới là 9% Thu nhập của phụ nữ thậm chí còn bị giảm hơn nữa khi họ quyết định làm việc ít hơn để sinh con Mâu thuẫn giữa công việc và chăm sóc con nhỏ đã khiến phụ nữ không thể độc lập về kinh tế và điều đó đã củng cố thêm cho quan niệm đàn ông là trụ cột kinh tế chính của giađình.
Tại Nhật Bản, một báo cáo chi tiết của cuộc nghiên cứu về khoảng cách giữa
nam giới và nữ giới ở các vị trí điều hành cho thấy, Nhật Bản là quốc gia xếp hạng thấp nhất trong tất cả các quốc gia được khảo sát Phụ nữ Nhật Bản trung bình làm việc toàn thời gian có thu nhập bằng 44% so với nam giới trung bình làm việc toàn thời gian Trong 8 triệu lao động bán thời gian, có khoảng 90% là phụ nữ Một cuộc khảo sát mới đây của Liên hợp quốc phát hiện ra rằng, chỉ có 10,7% các vị trí cấp cao của các công ty Nhật Bản và các tổ chức chính trị được giao cho nữ giới
Tại Canada, một nghiên cứu của WEF đăng trên báo “Thư tín địa cầu” cuối
năm 2012 cho biết, Ca-na-đa đã tụt 3 bậc, hiện xếp ở vị trí 21, sau Phi-líp-pin, vi-a, Cu-ba và Ni-ca-ra-goa, trong bảng xếp hạng về bình đẳng giới Lần đầu tiên kể
Lát-từ khi WEF bắt đầu công bố xếp hạng quốc gia thường niên về bình đẳng giới năm
2006, Ca-na-đa đã ra khỏi tốp 20 nước đứng đầu vì lý do “thiếu các đại diện nữ trong hệ thống chính trị” Yếu tố khiến Ca-na-đa bị tụt bậc là vấn đề trao quyền chính trị cho nữ giới Tỷ lệ phụ nữ Ca-na-đa tham gia trong các vị trí cấp cao của nhà nước, cấp bộ trưởng và nghị sĩ quốc hội ít được cải thiện trong năm qua so với nhiều nước khác Riêng ở khía cạnh này, Ca-na-đa đã tụt xuống vị trí 38, sau Ê-cu-a-đo, Xri-lan-ca và Anh
Hiện nay ở các nước phát triển, phụ nữ đang tận dụng giáo dục để được tham gia lựclượng lao động nhiều hơn, ước tính số lượng phụ nữ đã chiếm tới 40% lực lượng laođộng toàn cầu và 43% số nông dân toàn cầu Hơn nữa, hiện nay ở tất cả các khu vựctrên thế giới, phụ nữ có tuổi thọ cao hơn nam giới
Mặc dù đã đạt được những tiến độ nhất định, xong khoảng cách giới vẫn còn tồn tạitrong nhiều lĩnh vực Tỷ lệ tử vong ở phụ nữ so với nam giới ở nhiều quốc gia thu
Trang 13nhập thấp và trung bình cao hơn tỷ lệ tử vong ở phụ nữ ở các quốc gia giàu có, đặcbiệt là trong độ tuổi thơ ấu hoặc trong những năm sinh đẻ.
Báo cáo Phát triển Thế giới 2012: Bình đẳng giới và Phát triển đã lập luận rằng vấn
đề quan trọng ở đây là xóa bỏ được những khoảng cách giới vẫn còn tồn tại dai dẳngnày Đây là vấn đề quan trọng vì bình đẳng giới là mục tiêu cốt lõi trong quá trìnhphát triển Sau đó, Báo cáo đã đưa tra được 4 lĩnh vực ưu tiên hành động công khai:
• Giảm tỷ lệ tử vong quá cao ở phụ nữ và xóa bỏ khoảng cách về giáo dục ở nhữngnơi còn tồn tại
• Cải thiện khả năng tiếp cận các cơ hội kinh tế cho phụ nữ
• Tăng cường tiếng nói và vai trò làm chủ của nữ giói trong gia đình và xã hội
• Hạn chế việc lặp đi lặp lại hiện tượng bất bình đẳng giới qua các thế hệ
Các chính sách cần tập trung vào các yếu tố quyết định cơ bản khoảng cách giớitrong mỗi lĩnh vực ưu tiên Trong một số lĩnh vực ưu tiên, chẳng hạn như tỷ lệ tửvong quá cao ở nữ giới trong thời còn nằm trong bụng mẹ và trong những năm đầuđời cũng như những năm sinh đẻ - cải thiện chất lượng cung cấp dich vụ (đặc biệt lànước sạch và vệ sinh môi trường, và chăm sóc sức khỏe bà mẹ) là vấn đề quan trọnghành đầu
Gender-related Development Index 2006 ( Chỉ số phát triển liên quan đến giới 2006)
Trang 14Tài liệu tham khảo
http://tapchithue.com.vn/van-hoa-xa-hoi/158-van-hoa-xa-hoi
http://vietbao.vn/Chinh-Tri/Chi-so-phat-trien-con-nguoi-Viet-Nam-tang-hang/
20757206/96/
3.2.2 Chỉ số phát triển giới của các nước đang phát triển
Theo nhà kinh tế học Michael Torado đã đưa ra 6 đặc điểm cho các nước đang pháttriển là: “mức sống thấp; năng suất lao động thấp; tốc độ dân số tăng nhanh; tỉ lệ thấtnghiệp ngày càng tăng; phụ thuộc lớn vào nông nghiệp và xuất khẩu sản phẩm thô;
bị chèn ép, bị phụ thuộc và dễ bị tổn thương trong quan hệ với bên ngoài”
Bình đẳng giới được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong việc thực hiện các mục tiêuthiên niên kỷ.Chỉ số phát triển giới (Gender-related Development Index - GDI) của nhómnước đang phát triển là chỉ số tổng hợp (bình quân giản đơn) của ba chỉ số phân bổ côngbằng về tuổi thọ, văn hóa và thu nhập Chỉ tiêu đo lường thành tựu trung bình của nhómnước đang phát triển theo các yếu tố cơ bản về phát triển con người nhưng quan tâm đến
sự bất bình đẳng trong việc đạt được giữa nam và nữ Đây là một trong 5 chỉ tiêu đượcUNDP sử dụng trong báo cáo phát triển con người hàng năm
Trang 15Nguồn: Tư liệu kinh tế các nước thành viên Asean, 2004
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điềukiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của giađình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (Luật Bình đẳng giới– 2006) Từ số liệu trên, ta thấy chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam thấp hơncác nước Malaysia, Philipines, Thái Lan Tuy sự bình đẳng giữa nam và nữ của ViệtNam thấp hơn các nước trong khu vực nhưng chỉ số phát triển con người (HDI ) củaViệt Nam tăng từ 0,649 năm 1995 lên 0,688 năm 2003 và 0,725 năm 2009 Chỉ sốphát triển giới (GDI) năm 2007 là 0,732 so với HDI là 0,733, tương đương 99,9%.Trong khi chỉ số phát triển về giới (GDI) của các nước Malaysia, Philipines, TháiLan có xu hướng giảm Chỉ số phát triển giới(GDI) của Thái Lan năm 2001 là 0,776
Trang 16sóc sức khoẻ, cho thấy rất rõ về thành tựu bình đẳng giới Tuổi thọ bình quân củangười Việt nam hiện nay là 72,8 tuổi, phụ nữ là 75,6 tuổi (tăng 5,5 tuổi so với năm1999), nam giới là 70,2 tuổi (tăng 3,7 tuổi so với năm 1999) Tỉ lệ phụ nữ khám thai,được chăm sóc y tế khi mang thai tăng Trong lĩnh vực chính trị, số lượng và chấtlượng phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội và các tổ chức, doanhnghiệp ngày càng tăng Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu nhiệm kỳ 1997-2002 là26,2%; nhiệm kỳ 2002-2007 là 27,3%, nhiệm kỳ 2007-2011 là 25,76%, xếp thứ 31trên thế giới; nhiệm kỳ 2011 – 2016, là 24,40% Trong hơn 15 năm qua,Việt Nam luôn có Phó chủ tịch nước là nữ Trong gia đình, tiếng nói của phụ nữ khiquyết định các vấn đề lớn, quan niệm về con trai, con gái đã có nhiều thay đổi tíchcực Mức độ sở hữu và kiểm soát các tài sản quan trọng của phụ nữ Việt Nam hiệnnay đã được pháp luật bảo vệ.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh thông báo: Sau 10 nămthực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, Việt Nam có chỉ số về bình đẳng giới khá cao sovới các nước có cùng mức độ phát triển và thu nhập Theo báo cáo phát triển conngười năm 2009 của Liên hợp quốc (LHQ), trong số 155 quốc gia, chỉ số liên quanđến giới (GDI) của Việt Nam đứng thứ 94, giá trị tuyệt đối của GDI liên tục tăng: từ0,668 (2004) lên 0,723 (2009) Cũng theo báo cáo này Việt Nam đứng thứ 62 về chỉ
số vai trò của giới (GEM) trong số 109 nước được xếp hạng UNDP đánh giá ViệtNam là nước có tốc độ thu hẹp khoảng cách về giới nhanh nhất khu vực Đông Nam
Á
Bình đẳng trong lao động và việc làm là điều kiện tiên quết đảm bảo vị thếcủa phụ nữ Trong số lao động mới được giải quyết hàng năm, nữ giới chiếm 49%,ước tính đến đến hết năm 2010 tổng số lao động nữ được giải quyết việc làm đạt49,4% Tiền lương bình quân của lao động nữ ngày càng xích đến ngưỡng ngangbằng với lao động nam
Ông Cao Viết Sinh cho biết, thực hiện thành công mục tiêu bình đẳng giới ởViệt Nam, nguyên nhân quan trọng nhất do Chính phủ đã có những tiến bộ về luật