1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phép biện chứng siêu nghiệm của I.Kant trong Phê phán lý tính thuần túy

98 962 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 648,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên phương diện đó, Kant được tôn vinh là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức với đóng góp vĩ đại - tư tưởng biện chứng siêu nghiệm - thành tựu đã đưa lịch sử sự hình thành và phát

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU i

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của đề tài 8

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

8 Kết cấu của luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH PHÉP BIỆN CHỨNG SIÊU NGHIỆM CỦA I KANT 9

1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và tiền đề khoa học, lý luận cho sự hình thành phép biện chứng siêu nghiệm của I.Kant 9

1.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội 9

1.1.2 Tiền đề khoa học tự nhiên 14

1.1.3 Tiền đề lý luận 20

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của I.Kant 34

1.3 Tổng quan về triết học siêu nghiệm của I.Kant 40

1.4 Về tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của I Kant 46

Chương 2: NỘI DUNG CĂN BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG SIÊU NGHIỆM TRONG “PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY” CỦA I KANT 52

2.1 Xuất phát điểm của phép biện chứng siêu nghiệm 52

Trang 2

2.2 Các dạng suy luận (suy lý) biện chứng siêu nghiệm 61

2.2.1 Suy luận biện chứng paralogism (ngộ biện tiên nghiệm) 61 2.2.2 Suy luận biện chứng Antinomi (Antinomi của lý tính thuần túy hay luật tương phản) 69 2.2.3 Suy luận biện chứng ideal (Lý tưởng của lý tính thuần túy) 80

2.3 Nhận xét bước đầu về giá trị và hạn chế trong phép biện chứng siêu nghiệm của I Kant 84

KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Triết học cổ điển Đức là một giai đoạn phát triển rực rỡ trong lịch sử tư tưởng nhân loại, gắn với nhiều triết gia vĩ đại như I.Kant, Hêghen, Phoiơbắc… Thành tựu quan trọng nhất của triết học thời kỳ này là xây dựng nên phép biện chứng với tư cách là lý luận về sự phát triển, về nhận thức và lôgíc Trên phương diện đó, Kant được tôn vinh là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức với đóng góp vĩ đại - tư tưởng biện chứng siêu nghiệm - thành tựu đã đưa lịch sử sự hình thành và phát triển phép biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu đối với sự công phá quyết liệt quan điểm siêu hình cả trong triết học lẫn khoa học

Công lao vĩ đại của Kant là làm sống lại phép biện chứng thời cổ đại

mà các nhà siêu hình học thế kỷ XVII – XVIII đã lãng quên, thừa nhận phép biện chứng như là một “thuộc tính” tất yếu của lý tính con người, giải thoát

nó khỏi “cái vẻ bề ngoài độc đoán”, khiến cho nó không còn là một thứ nghệ thuật tranh luận, hùng biện, một thứ triết lý hão huyền như các nhà triết học

cổ đại Hy Lạp quan niệm Ông đã sáng tạo ra một hình thức mới của phép biện chứng - phép biện chứng siêu nghiệm Những tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của Kant chính là con đường trung gian giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, giữa khuynh hướng duy lý và kinh nghiệm, giữa hoài nghi luận và chủ nghĩa tự nhiên khoa học Tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của Kant được thể hiện tập trung, sâu sắc trong “Phê phán lý tính thuần túy” - tác phẩm cùng với “Phê phán lý tính thực hành” và “Phê phán năng lực phán đoán” làm nên bộ ba tác phẩm “Phê phán” vĩ đại của Kant và đem lại tiếng vang, tầm ảnh hưởng lớn lao cho triết học Kant đối với đương đại và sau này

Trang 4

Ngay từ khi “Phê phán lý tính thuần túy” xuất hiện, tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của Kant đã phải đối mặt với nhiều quan điểm, đánh giá, nhận xét khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau của nhiều trường phái trong tiến trình phát triển tư tưởng triết học nhân loại Điều đó chứng tỏ tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của Kant có sức thu hút, tầm ảnh hưởng không nhỏ

Và quả thực, công lao vĩ đại của Kant với việc làm sống lại phép biện chứng

đã ngủ quên suốt thời Trung cổ là điều không thể phủ nhận Và sau Kant, các nhà triết học đã tiếp tục con đường mà ông gợi mở, đặc biệt là Hêghen - người đã đi đến tận cùng của phép biện chứng với quan điểm duy tâm Đó là một trong những nguồn gốc dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng sau này

Triết học Kant đã có ảnh hưởng rất lớn đối với các trào lưu triết học phương Tây Sự thu hút của “Phê phán lý tính thuần túy” không hẳn chỉ bởi những luận điểm phức tạp, đầy mâu thuẫn của Kant, cũng không phải bởi có quá nhiều ý kiến đánh giá trái ngược nhau về tư tưởng triết học này Có thể khẳng định, một trong những nguyên nhân quan trọng của sự trở lại đối với triết học Kant qua bao năm tháng đó chính là khả năng gợi mở, ý nghĩa thời

sự của tư tưởng biện chứng duy tâm siêu nghiệm Tính tích cực của chủ thể nhận thức, năng lực, giới hạn và cấu trúc của lý tính, mâu thuẫn trong quá trình nhận thức, sự tồn tại của linh hồn, Thượng đế, sự tự do luôn là những nan đề có rất nhiều sự kiến giải khác nhau xoay quanh và luôn tìm về với triết học Kant như những luận điểm khai phá có tính lịch sử Kant đã phân biệt lĩnh vực mà con người có thể nhận thức - thế giới hiện tượng với lĩnh vực mà

lý tính của con người bất lực, không thể nhận thức được - thế giới vật tự nó Với những tư tưởng đó, Kant đã phê phán mạnh mẽ sự bất lực của siêu hình học truyền thống, khi nó sử dụng phương pháp, cách tiếp cận của khoa học tự nhiên để nhận thức vật tự nó Theo Kant, triết học với sứ mệnh cao cả là cứu

Trang 5

nguy cho siêu hình học truyền thống, cần phải tiến hành phê phán chính lý tính Lý tính đã mắc phải những mâu thuẫn không thể giải quyết được của chính nó Các mâu thuẫn không thể khắc phục trong lý tính thuần túy chính là động lực để Kant chuyển sang giải quyết chúng trong lĩnh vực thực hành Những tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của Kant đã đặt nền móng cho triết học cổ điển Đức, mở ra một thời đại mới - thời đại huy hoàng với những khám phá lớn lao của triết học Đức nói riêng, tư tưởng nhân loại nói chung

Có thể khẳng định, nghiên cứu những tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của Kant là hết sức cần thiết, là một yêu cầu nội tại của chủ nghĩa duy vật khoa học Qua đó, lịch sử phát triển của phép biện chứng thể hiện như một quá trình đầy phức tạp Nghiên cứu sự phát triển ấy giúp chúng ta có cách nhìn khái quát, chính xác và khoa học về phép biện chứng duy vật

Với những suy nghĩ đó, chúng tôi chọn “Phép biện chứng siêu nghiệm của I Kant trong “Phê phán lý tính thuần tuý”” làm đề tài nghiên cứu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Ngay từ khi ra đời, phép biện chứng siêu nghiệm của Kant đã chiếm một vị trí quan trọng, thu hút nhiều sự quan tâm với những ý kiến, đánh giá trái ngược nhau của nhiều nhà triết học, đặc biệt là Hêghen Một mặt Hêghen

đã nêu bật công lao của Kant: ông đã làm sống lại phép biện chứng, đã phát triển một vấn đề quan trọng của nhận thức luận là ý niệm về “sự thống nhất tiên nghiệm của tổng giác”, tức là sự thống nhất của ý thức trong đó hình thành khái niệm [27, 107; 176] Mặt khác, Hêghen cũng phê phán Kant một cách triệt để Nói như Ph.Ăngghen, “những gì có tính chất quyết định nhằm bác bỏ quan điểm đó thì đã được Hêghen đưa ra, trong chừng mực quan điểm duy tâm chủ nghĩa cho phép” [29, 406] Qua đó, Hêghen đã chỉ ra tất cả những hạn chế trong triết học Kant: chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa tâm lý, tính hai mặt, không triệt để

Trang 6

Từ lập trường duy vật, Phoiơbắc đã phê phán sai lầm của Kant trong vấn đề nguồn gốc của cái tiên nghiệm, trong sự phân biệt siêu hình giữa cảm năng và giác tính Theo Phoiơbắc, Kant đã không biết đến quá trình tổng hợp những tri thức kinh nghiệm trong khái niệm chung rồi từ đó nâng lên thành những phán đoán tổng hợp tiên nghiệm, không hiểu được “lý tính là thực thể tối cao, là kẻ thống trị thế giới, nhưng chỉ ở tên gọi, chứ không phải trên thực tế” [22, 85;87;88]

Ở Liên Xô, triết học Kant và những tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của ông được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trước hết, đó là hai tác phẩm của V Ph Axmut: “Phép biện chứng của Kant” và “I Kant” Theo tác giả, những mầm mống của phép biện chứng, mặc dù đó là phép biện chứng chủ quan, biện chứng của khái niệm được thể hiện trước hết qua học thuyết phạm trù của Kant

Tiếp thu truyền thống của Axmut, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô trong cuốn “Lịch sử phép biện chứng Giai đoạn triết học cổ điển Đức” đã trình bày khá đầy đủ và rõ ràng về phép biện chứng siêu nghiệm của Kant Các tác giả đã chỉ ra một cách cụ thể các ảo tưởng sai lầm trong nhận thức của

lý tính và đánh giá mặt tích cực, tiêu cực của phép biện chứng siêu nghiệm của Kant

Ở nước ta, triết học Kant cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu Về phương diện lịch sử, người đề cập đến triết học Kant sớm nhất là GS Trần Đức Thảo trong tác phẩm: “Lịch sử tư tưởng trước Marx” Ở đây, GS Trần Đức Thảo đã trình bày lần lượt các võng luận của phép biện chứng siêu nghiệm theo kết cấu của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” Tuy nhiên, sự trình bày còn chưa được sâu sắc, sơ lược Song, đó là một quan niệm đánh giá khá đúng đắn, khách quan đối với những tư tưởng triết học của Kant

Trang 7

Năm 1962, Nhà xuất bản Sự thật (Hà Nội) đã cho dịch cuốn “Giáo trình lịch sử triết học - Giai đoạn triết học cổ điển Đức” do Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô biên soạn Bản dịch đã đem đến cho độc giả những nét khái lược về triết học cổ điển Đức, trong đó triết học Kant chiếm một vị trí quan trọng Các tác giả đã nghiên cứu quan niệm của Kant về nhận thức theo ba giai đoạn: cảm tính, giác tính và lý tính Trong đó, các tác giả cũng đã chỉ ra các mâu thuẫn trong tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của Kant, nêu bật lên những đóng góp và hạn chế của triết học Kant đặc biệt là phép biện chứng siêu nghiệm của ông

Trần Thái Đỉnh, trong cuốn “Triết học Kant”, đã nêu lên một cách khá toàn diện các vấn đề trong triết học Kant Riêng đối với triết học lý luận, tác giả cũng đưa ra các luận giải khá sâu sắc Ông cho rằng khi phê phán lý tính thuần túy, Kant không nhằm phá hủy siêu hình học mà trái lại cố gắng xây dựng một siêu hình học mới Tác giả dành khá nhiều tâm huyết trình bày các võng luận trong lĩnh vực nhận thức của triết học Kant Có thể nói đây là một công trình khá đầy đủ và phong phú về triết học Kant tuy nhiên các từ ngữ, thuật ngữ tác giả sử dụng có phần khó hiểu

Năm 1996, Nhà xuất bản Khoa học xã hội cho ra mắt bạn đọc cuốn

“Triết học Immanuen Kant” của PGS TS Nguyễn Văn Huyên Trong cuốn

sách này tác giả đã trình bày những nét tổng quát về triết học nhận thức và triết học thực tiễn của Kant Tác giả đã nêu lên những Antinomien của lý tính con người trong quá trình nhận thức, phân tích cách giải quyết các Antinomien đó và tính biện chứng còn được thể hiện ở mặt hình thức của các mối liên hệ các phạm trù, các nhóm phạm trù

Năm 1997, Viện Triết học và Nhà xuất bản Khoa học Xã hội đã xuất bản cuốn sách: “I Kant - người sáng lập nền triết học cổ điển Đức” Công trình tập hợp 29 bài viết của 14 tác giả nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau

Trang 8

của triết học Kant Trong đó các tác giả đánh giá cao công lao của Kant trong việc đặt ra phép biện chứng siêu nghiệm, khẳng định tính tích cực, năng động của chủ thể nhận thức, đặc biệt khi chủ thể đó được trang bị bằng một hệ thống phạm trù tiên nghiệm

Tại Hội thảo khoa học: “Triết học cổ điển Đức: nhận thức luận và đạo đức học” (do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, tháng 12 năm 2004), đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về nhận thức luận của Kant Những nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau nhưng đều thừa nhận công lao to lớn của Kant trong lĩnh vực nhận thức luận, đặc biệt là tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của ông với rất nhiều vấn

đề mà cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau và có tính gợi mở phong phú, sâu sắc

Trong luận án tiến sỹ triết học “Vấn đề tự ý thức trong lịch sử triết học phương Tây” (Hà Nội, 2003), tác giả Nguyễn Văn Sanh xem triết học Kant là

sự tự ý thức của lý tính Tác giả cũng đã làm rõ ý nghĩa các khái niệm như

“tổng giác tiên nghiệm”, “cái Tôi tư duy”, “tự ý thức thuần túy” là gần gũi về mặt ý nghĩa

Năm 2004, PGS TS Đặng Hữu Toàn với bài viết: “Phép biện chứng tiên nghiệm của I Kant - học thuyết về lý tính con người” (đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội số 5, tr 35 - 45) đã phân tích khá đầy đủ, sâu sắc về phép biện chứng siêu nghiệm của Kant Tác giả đã khẳng định: “Lý tính với tư cách

là khả năng trí tuệ cao nhất của con người được I Kant xác định là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng tiên nghiệm” [53, tr 37]; với quan niệm này

I Kant đã phê phán quan niệm của siêu hình học truyền thống về năng lực lý luận của lý tính, đưa ra nhiệm vụ của lý tính thuần túy, và luận giải ý niệm tiên nghiệm trong các lĩnh vực tâm lý học, vũ trụ học và thần học Đặc biệt, trong bài viết này, tác giả đã trình bày cụ thể sự luận giải của I.Kant về các

Trang 9

Antinomi của lý tính con người, đánh giá những giá trị và hạn chế trong phép biện chứng siêu nghiệm của Kant

Trong cuốn sách “Học thuyết phạm trù trong triết học I Kant” (2007),

TS Lê Công Sự đã cho rằng, “luận điểm xuất phát hay thực chất bước ngoặt

mà Kant muốn thực hiện không phải là cái gì khác ngoài chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm” [48, tr 45] Nguyên nhân dẫn tới điều đó là do Kant đã không hiểu được ý nghĩa và vai trò của thực tiễn đối với quá trình nhận thức nói chung

Có thể nói, nghiên cứu về triết học Kant luôn thu hút được sự chú ý của nhiều học giả Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu riêng về phép biện chứng siêu nghiệm của Kant chưa thực sự nhiều và còn có khá nhiều quan điểm khác nhau Do đó, phép biện chứng siêu nghiệm của Kant vẫn luôn là đối tượng nghiên cứu, luôn là vấn đề có ý nghĩa lý luận cấp bách trong việc khẳng định tính khoa học, bản chất cách mạng của phép biện chứng duy vật

do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin sáng lập

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích: Phân tích phép biện chứng siêu nghiệm của Kant được thể hiện qua các dạng suy luận biện chứng trong “Phê phán lý tính thuần túy” để trên cơ sở đó, bước đầu nhận xét những giá trị và hạn chế của nó

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: phép biện chứng siêu nghiệm của I Kant

- Phạm vi nghiên cứu: phép biện chứng siêu nghiệm của I Kant trong

“Phê phán lý tính thuần túy”

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của triết học Mác - Lênin

về triết học như một hình thái ý thức xã hội Đồng thời luận văn dựa trên những nghiên cứu của các nhà kinh điển Mác - Lênin về lịch sử triết học nói chung, về triết học I Kant nói riêng; các sách, bài nghiên cứu của các tác giả

về triết học cổ điển Đức, triết học Kant như những chỉ dẫn quý báu về mặt phương pháp luận

Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích và so sánh, phân tích tổng hợp, kết hợp lôgíc và lịch sử, diễn dịch, quy nạp…

6 Đóng góp của đề tài

Trên cơ sở phân tích nội dung căn bản của phép biện chứng siêu nghiệm trong “Phê phán lý tính thuần túy” của I.Kant, luận văn đánh giá những giá trị và hạn chế của nó

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn đáp ứng phần nào yêu cầu nghiên cứu ngày một tăng đối với triết học I Kant ở nước ta Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiết

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH PHÉP BIỆN CHỨNG SIÊU NGHIỆM CỦA I KANT

1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và tiền đề khoa học, lý luận cho sự hình thành phép biện chứng siêu nghiệm của I.Kant

1.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội

Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại

xã hội, là sự kết tinh những tinh hoa tinh thần của một thời đại Do đó, sự ra đời và phát triển của mỗi học thuyết triết học luôn luôn chịu sự chi phối và phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội nhất định Đó chính

là tính quy định lích sử, là cánh cửa đầu tiên vô cùng cần thiết và quan trọng

để bước vào nghiên cứu nguồn gốc, nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của một hệ thống triết học

Lịch sử các nước châu Âu thế kỳ XVII – XVIII đã bước sang một giai đoạn mới Đặc biệt là vào nửa cuối thế kỷ XVIII, Tây Âu đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội mới, khẳng định phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đưa giai cấp tư sản lên địa vị thống trị Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phá tan dần các quan hệ kinh tế phong kiến, làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới với các nhu cầu xã hội và cá nhân mới

Cách mạng công nghiệp Anh như một biến cố kinh tế quan trọng nhất trong đời sống kinh tế - xã hội tư bản lúc bấy giờ, đem lại sự phát triển nhảy vọt của sản xuất, làm tăng trưởng mạnh mẽ trình độ, khối lượng và nhịp độ sản xuất Bên cạnh đó, các cuộc Cách mạng xã hội thế kỷ XVII – XVIII mở đường cho sự phát triển các tư tưởng xã hội tiến bộ, đẩy đến cuộc Cách mạng

Tư sản Pháp (1789 - 1794)

Trang 12

Hai cuộc cách mạng trên có ý nghĩa lịch sử rất lớn lao với thời đại

“Cách mạng công nghiệp Anh khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức thế giới, cách mạng Cách mạng Tư sản Pháp thể hiện khả năng cải tạo thế giới, làm rung chuyển cả châu Âu, đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp” [16, 8]

Với ý nghĩa lịch sử lớn lao, hai cuộc cách mạng đó đã có những ảnh hưởng lớn đến phong trào giải phóng ở các nước châu Âu, được đánh dấu bằng một loạt các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra: cách mạng tư sản ở Anh,

Hà Lan, Pháp, Italia…chấm dứt sự thống trị của chế độ phong kiến hàng nghìn năm gắn với hệ thống thần quyền và giáo luật khắt khe, mở đầu cho sự

ra đời và phát triển của chế độ tư bản Chủ nghĩa tư bản ra đời đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử, tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội trước đó Bước chuyển đó đã đem lại cho châu Âu một diện mạo mới với những thành tựu khổng lồ về kinh tế - xã hội và văn hóa mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ bình minh đầy tích cách mạng của chủ nghĩa tư bản Đó là những tiền đề quan trọng thúc đẩy khoa học nói chung và triết học nói riêng phát triển Đặc biệt, đối với triết học, sự chuyển biến được thể hiện rất rõ Trong thời đại tư bản chủ nghĩa, hệ thống thần học như một chiếc áo được khoác lên, che đậy cho chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa kinh viện giáo điều với những lý luận hoàn toàn hướng con người tới một thế giới ảo tưởng, xa rời hiện thực cuộc sống đã bị cởi bỏ và được thay thế bằng chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy lý Triết học thâm nhập khám phá cuộc sống, tìm hiểu những bí ẩn trong lý tính của con người Các nhà tư tưởng tư sản đòi trả lại cho con người những quyền mà hệ tư tưởng phong kiến đang phủ nhận: quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc Con người phải vươn tới trí tuệ và

tự do đích thực

Trang 13

Trong thời kỳ đó, nếu nước Anh nhờ cách mạng tư sản và bước ngoặt công nghiệp mà trở thành quốc gia tư bản lớn mạnh nhất, và nước Pháp nhờ Cách mạng Tư sản 1789, giai cấp tư bản đã tiêu diệt được chế độ phong kiến, đang tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa, cả châu Âu đang phát triển nhanh và mạnh mẽ, thì nước Đức vẫn triền miên trong giấc ngủ mùa Đông - vẫn còn là một nước phong kiến lạc hậu, với chế độ quân chủ chuyên chế phân quyền, bị phân hóa cả về kinh tế lẫn chính trị Triết học Kant ra đời trong điều kiện nước Đức hết sức phức tạp với những mâu thuẫn chồng chéo, gay gắt không thể dung hòa Sau khi thất bại trong chiến tranh nông dân (1525), thế kỷ XVII, nước Đức lại trải qua cuộc chiến tranh 30 năm kéo theo hậu quả nghiêm trọng là sự tàn phá ghê gớm, nặng nề cả về con người và của cải Xã hội Đức cuối thế kỷ XVIII còn là một nước nghèo nàn, lạc hậu, phát triển trì trệ so với các nước Tây Âu chung quanh Tập đoàn phong kiến Đức đang thống trị độc đoán và ngoan cố Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực tế đất nước còn phân thành nhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau với hàng trăm cát cứ phong kiến Đứng đầu mỗi cát cứ là một chúa đất có quyền lực vô hạn đối với thần dân của mình Trong mỗi lãnh địa đều có quân đội, cảnh sát, tiền tệ và thuế quan riêng Sự phân tán về kinh tế chính trị cùng với

sự bảo thủ độc đoán của triều đình Phổ là lực cản lớn của nước Đức trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa

Về kinh tế, nền kinh tế bị ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến

lạc hậu Sự tập trung ruộng đất trong tay địa chủ, những tàn dư của chế độ nông nô, chế độ phường hội, chúa đất, sự phụ thuộc lẫn nhau của nhiều cát cứ nhỏ bé với các thể chế chính trị phản động đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, làm tăng thêm mức độ lạc hậu của nước Đức so với các nước phát triển tư bản chủ nghĩa Đời sống của nhân dân nghèo nàn, khổ sở Toàn cảnh kinh tế của nước Đức bị kìm hãm, manh mún, phân tán với sức phát triển hết sức trì trệ

Trang 14

Về chính trị, đứng đầu triều đình Phổ là Vua Friedrich Wilhem II rất

bảo thủ và độc đoán, tăng cường quyền lực, duy trì chế độ quân chủ phong kiến hà khắc, ngăn cản đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Giai cấp

tư sản Đức còn non nớt, yếu đuối, chưa có đủ điều kiện để giành chính quyền

Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng

Về tư tưởng, hệ tư tưởng thần học chiếm địa vị độc tôn trên vũ đài lý

luận Khoa học còn bị sa lầy trong thần học Chủ nghĩa duy vật mới bắt đầu phát triển nhờ vào thành tựu của vật lý học, sinh học và y học thì đột nhiên bị chững lại Thần học được giảng dạy trong các trường đại học tổng hợp Các khoa học khác và triết học chỉ là công cụ biện hộ và bảo vệ cho thần học Các nhà triết học cổ điển Đức - “các giáo sư chính thức trong các trường đại học của Vương quốc Phổ, do sợ hãi hiện thực cách mạng, thỏa hiệp với giai cấp tư sản, tư tưởng của họ không thể hiện ra thực tiễn cách mạng, họ đã phải phủ ngoài triết học của mình một lớp vỏ thần bí duy tâm tư biện nặng nề, xa rời hiện thực” [16,24] Triết học thỏa hiệp với tôn giáo, nhượng bộ tôn giáo

Có thể khái quát bức tranh toàn cảnh của xã hội Đức đương thời thật u

ám, đen tối như lời đánh giá của Ph Ăngghen: “Đó là thời kỳ nhục nhã về mặt chính trị và xã hội…Không ai cảm thấy mình dễ chịu…Mọi cái đều tồi tệ

và tâm trạng bất mãn bao trùm cả nước Không có giáo dục,,,không có tự do báo chí, không có dư luận xã hội – không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự lợi, lề thói con buôn hèn mạt, xum xoe nịnh hót thảm hại, đã xâm nhập toàn dân Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hi vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi ” [24, 754]

Trước ảnh hưởng như vũ bão của các cuộc cách mạng tư sản trên thế giới, đặc biệt là Cách mạng tư sản Pháp (1789), cùng với bối cảnh kinh tế - xã hội phức tạp, rối ren và đầy mâu thuẫn của nước Đức lúc bấy giờ đã tác động

Trang 15

mạnh tới tư tưởng của giai cấp tư sản Đức Họ đã đặt ra vấn đề cách mạng nhưng không phải trong thưc tế mà chỉ trong tư tưởng mà thôi Giai cấp tư sản non yếu đang trong quá trình tích lũy tư bản vẫn phải dựa vào sự bảo hộ của quý tộc nên cuộc đấu tranh chính trị mạnh mẽ với giới quý tộc là điều mà họ chưa thể nghĩ tới Trước thực tại xã hội đương thời, tầng lớp trí thức Đức đã xuất hiện tình trạng bi quan, bất mãn và bất lực Đó chính là nguyên nhân dẫn tới tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, xuôi chiều, phủ nhận sự cải tạo xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, biện hộ cho sự tồn tại của nhà nước Phổ và xã hội đương thời Họ không dám làm cách mạng trong hiện thực như các nhà tư tưởng khai sáng Pháp, họ chỉ có thể làm cách mạng trong lý luận trừu tượng, trong tư tưởng, suy nghĩ Điều đó thể hiện khá rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng về triết học với sự bảo thủ, cải lương về lập trường chính trị Họ lấy triết học làm vũ khí phê phán và chuyển tải tư tưởng cách mạng Triết học là nơi gửi gắm, thể hiện khát vọng cải tạo hiện thực của con người Sự tìm lối thoát trong triết học ấy đã được Mác nhận xét: “Giống như các dân tộc cổ đại

đã trải qua thời kỳ tiền sử của mình trong tưởng tưởng, trong thần thoại, những người Đức chúng ta cũng vậy, chúng ta đang trải qua lịch sử tương lai của chúng ta trong tư tưởng, trong triết học…Triết học Đức là sự tiếp tục của lịch sử Đức trong ý niệm” [24, 557] “Cũng giống như ở Pháp hồi thế kỷ XVIII, cách mạng triết học Đức hồi thế kỷ XIX cũng đi trước cuộc cách mạng chính trị” [29, 391], nhưng khác với giai cấp tư sản Pháp vốn triệt để cách mạng, giai cấp tư sản Đức ngay từ đầu đã muốn thỏa hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời đó, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước

Tính chất cải lương và thỏa hiệp về tư tưởng chính trị của tầng lớp trí thức Đức đương thời đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới Kant Kant là một người chỉ nghiên cứu khoa học và triết học, bận rộn với công việc giảng dạy, sống

Trang 16

khép kín, ít quan tâm tới chính trị và ngại sự đụng chạm đến chính quyền nhà nước Nhưng ông lại có một tấm lòng nhân đạo cao cả, có thiện cảm với quần chúng lao động nghèo khổ Trong suy nghĩ của nhà triết học diễn ra mâu thuẫn với câu hỏi: cần phải làm gì và làm như thế nào để đạt được hai mục đích: 1) nói lên tư tưởng khoa học, đề cao vai trò của lý tính, phản ánh nguyện vọng muốn thay đổi chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc bằng một xã hội dân chủ tư sản, đem lại quyền lợi đích thực cho mọi công dân xã hội; 2) làm vừa lòng chính thể nhà nước hiện tồn Mâu thuẫn tâm lý đó chuyển thành mâu thuẫn tư tưởng và biểu hiện một cách cụ thể trong học thuyết triết học của Kant, đúng như lời nhận xét của Giáo sư Trần Đức Thảo: “Sự bất lực trong tư tưởng của Kant phản ánh sự bất lực của giai cấp tư sản Đức nằm trong một hệ thống châu Âu đã tiến bộ nhiều, đã hoặc đang làm cách mạng tư sản” [50,390] “Tư tưởng của Kant biểu hiện những ưu và khuyết điểm của cách mạng tư sản một cách đúng đắn” [50, 419] Dưới sự tác động của cả hai sức ép: một bên là sự cổ vũ mạnh mẽ của các nhà khai sáng, cách mạng tư sản Pháp - những tư tưởng tiến bộ; một bên là sức ép chính trị của chính quyền chuyên chế Phổ đương nhiệm với các chính sách trừng trị hà khắc đối với những học giả có tư tưởng chống đối nhà nước, Kant cũng đã chọn con đường cải lương, thỏa hiệp với luận điểm: “Tôi phải dẹp bỏ nhận thức đi để dành chỗ cho lòng tin và thuyết giáo điều trong siêu hình học” [17, 55]

Tóm lại triết học Kant là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh kinh tế - xã hội Đức đầu thế kỷ XVIII, nó phản ánh một cách đúng đắn thực trạng xã hội Đức với những mâu thuẫn phát sinh khó có thể điều hòa trong lòng xã hội đó

1.1.2 Tiền đề khoa học tự nhiên

Bất kỳ một học thuyết triết học nào không bao giờ ra đời trên mảnh đất hiện thực trống không, mà nó còn là sự kế thừa, tiếp tục phát triển những tư tưởng trước đó của nhân loại Triết học Kant không chỉ hình thành trong bối

Trang 17

cảnh lịch sử rối ren, phức tạp của nước Đức thế kỷ XVIII mà còn là sự tiếp thu những tinh hoa tư tuởng của thời đại Trước hết, cần phải đề cập tới những thành quả trong khoa học tự nhiên - những yếu tố tác động trực tiếp tới

sự hình thành thế giới quan, phương pháp luận, quan điểm của các nhà triết học Triết học và khoa học tự nhiên luôn gắn bó song hành với nhau, tác động qua lại với nhau một cách biện chứng, cùng phát triển Những thành tựu, những phát minh, sáng tạo trong khoa học tự nhiên đã cung cấp cho triết học những tư liệu sinh động, những bằng chứng cụ thể làm cơ sở để từ đó triết học khát quát thành những khái niệm, phạm trù, quy luật, nguyên lý, đồng thời khoa học tự nhiên cũng tạo tiền đề để triết học xây dựng những phương pháp nhận thức: siêu hình, biện chứng, quy nạp, diễn dịch…Trong quá trình phát triển, những khám phá, phát hiện mới của khoa học tự nhiên đã đặt triết học trước những vấn đề lý luận mới, yêu cầu phải có những lý giải phù hợp với những phát minh khoa học trong nhận thức và giải thích thế giới Có thể nói, Kant là một minh chứng điển hình cho điều đó Kant nghiên cứu về vật lý học, khoa học tự nhiên và địa chất, ông dạy môn địa lý tự nhiên trong suốt 4 thập niên Nhưng Kant không phải là nhà nghiên cứu khoa học mà là một triết gia về khoa học tự nhiên Hệ thống triết học của ông chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển vượt bậc của khoa học tự nhiên, như chính ông từng khẳng định: “Con đường triết học phải đi là con đường của sự minh triết, đồng thời cũng là con đường của khoa học mà một khi đã được khai phá sẽ không bao giờ để cho bị vùi lấp lại và làm ta lạc hướng” [17, 1185]

“Sự tiến bộ của khoa học tự nhiên, kỹ thuật và y học cũng như sự vén mây ảo thuật của thiên nhiên qua những thành tựu khoa học” [17, XXXII] Sự phát triển của khoa học tự nhiên được mở đầu bởi các nhà thông thái Hy Lạp như Talet, Pitago, Ơclit, Acsimet với các khám phá thiên tài về lĩnh vực toán học, thiên văn học, vật lý học Nhà thông thái đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ

Trang 18

đại đã phát minh ra các định lý hình học rất có giá trị và được Pitago tiếp tục

phát triển Tư duy toán học Hy Lạp đạt tới đỉnh cao trong 13 cuốn “Cơ sở

hình học” của Ơclit đã tạo nên cả một thời đại phát triển rực rỡ của hình học

Đó là những chuẩn mực tri thức có giá trị cho quá trình xây dựng và phát triển khoa học toán học sau này Acsimet là người đã áp dụng những tri thức toán học vào hành động thực tiễn và thấy rằng toán học có vai trò vô cùng to lớn,

là chìa khóa vạn năng giải quyết được mọi vấn đề Những tư tưởng ấy đã đặt nền móng cho toàn bộ hệ thống toán học cũng như khoa học tự nhiên phương Tây I.Kant trong quá trình nghiên cứu toán học đã rất lưu ý đến những tri thức toán học nói trên Ông nhận xét: “Từ thời rất xa xưa mà lịch sử của lý tính con người có thể vươn tới, toán học đã đi con đường vững chắc của một khoa học nơi dân tộc Hy Lạp đáng ngưỡng mộ…một ánh sáng đã lóe lên trong đầu óc người đầu tiên (đó là Thales hay có thể một tên tuổi nào khác) khi ông chứng minh tam giác cân Đó là khi ông thấy rằng không thể dựa vào những gì ông nhìn thấy trong hình tam giác, hay dò theo khái niệm đơn thuần

về nó để từ đó rút ra các đặc điểm, trái lại phải tạo ra hình tam giác từ những

gì tự ông nghĩ ra một cách tiên nghiệm dựa theo các khái niệm, và diễn tả nó (bằng sự cấu tạo - Konstruktion); và thấy rằng để nhận thức chắc chắn về cái

gì một cách tiên nghiệm, ông không cần phải gán cho sự vật những thuộc tính nào khác ngoài những gì được tất yếu rút ra từ cái mà bản thân ông đã đặt vào trong sự vật, phù hợp với khái niệm của ông về nó” [17, 40-41] Nhận xét trên của Kant đã cho thấy ông tin rằng những định lý, tiên đề toán học cũng giống như các khái niệm, phạm trù triết học không phải được khái quát lên từ những kết quả của sự nghiên cứu, khảo sát trong thực tế, từ kinh nghiệm cảm

tính, mà ngược lại đó là những điều tiên nghiệm có sẵn trong giác tính của

con người Kant đã trượt sang con đường của chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm,

xa rời tính chất duy vật được thể hiện trong toán học thời Hy Lạp

Trang 19

Sự phát triển của khoa học tự nhiên thời kỳ tiếp theo có ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng của Kant Những phát minh vạch thời đại của khoa học đã tạo nên những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nhận thức nhân loại Năm

1543 tại Ba Lan, nhà thiên văn học Copernic đã đưa ra tác phẩm “Về sự vận

động của các thiên thể” với thuyết nhật tâm trực tiếp công kích, phản bác lại

thuyết địa tâm do Arixtốt khởi xướng, Ptomele phát triển ở thời cổ đại Thay

vì trái đất là trung tâm, mặt trời và các thiên thể quay quanh trái đất như chúng ta quan sát thấy; thì Copernic đảo ngược lại với quan niệm dựa vào những nghiên cứu khoa học của ông là mặt trời đứng yên và là trung tâm của

vũ trụ, trái đất và các thiên thể khác quay xung quanh mặt trời Phát hiện đó không chỉ có ý nghĩa trong khoa học tự nhiên mà còn làm nền tảng cho bước ngoặt trong sự phát triển của triết học “Trong lịch sử triết học triết học gọi đó

là “cuộc cách mạng Copernic về lề lối tư duy” [17, 41] Kant cho rằng phương pháp của Siêu hình học “đến nay chỉ là sự mò mẫm đơn thuần, và càng tệ hại hơn, chỉ là sự mò mẫm giữa những khái niệm suông mà thôi” [17, 43] Do đó, tư duy triết học cần phải tiến hành một cuộc đảo lộn như Copernic

đã từng làm Ông viết: “Siêu hình học như là các tri thức lý tính, ít ra cũng

nên thử mô phỏng điểm cốt yếu này Lâu nay người ta giả định rằng mọi

nhận thức của ta phải hướng theo các đối tượng; thế nhưng mọi nỗ lực

dùng các khái niệm để xử lý đối tượng một cách tiên nghiệm hầu qua đó mở rộng nhận thức của ta đều đi đến thất bại cũng tại vì giả định này Vì thế hãy thử nghiệm để biết đâu chúng ta có thể tiến lên tốt hơn trong việc giải quyết

các vấn đề của Siêu hình học bằng cách giả định rằng các đối tượng phải

hướng theo nhận thức của ta; nhận thức ấy sẽ phù hợp tốt hơn với khả thể

được đòi hỏi của một nhận thức tiên nghiệm về đối tượng, tức loại nhận thức xác định một cái gì đó về đối tượng trước khi đối tượng được mang lại cho ta

Đó cũng chính là tình hình đã xảy ra với ý tưởng đầu tiên của Copernic”[17,

Trang 20

44] Kant thực sự đã thực hiện một cuộc đảo lộn Copernic trong triết học của mình, đặt nền móng cho sự chuyển hướng trong triết học cổ điển Đức sau này

Sự ảnh hưởng của khoa học tự nhiên tới triết học nói chung và sự lựa chọn đi theo chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của Kant nói riêng đã được ông

đề cập tới trong “Lời tựa cho lần xuất bản thứ hai (1787)” cho cuốn “Phê phán lý tính thuần túy”: “Khi Galilei cho những viên bi có trọng lượng do ông

tự lựa chọn trượt xuôi theo một mặt phẳng nghiêng, hay Torricelli để cho không khí mang một trọng lượng mà ông tự nghĩ ra từ trước ngang bằng với trọng lượng của một cột nước đã biết, hay muộn hơn, khi Stahl chuyển hóa kim loại thành vôi và lại chuyển hóa vôi thành kim loại bằng cách rút bớt đi

và cho thêm trở lại một cái gì đấy nơi chúng, thì cũng có một tia sáng lóe lên trong đầu óc của mọi nhà nghiên cứu tự nhiên Họ hiểu ra rằng lý tính chỉ nhận ra những gì do bản thân nó tạo ra theo phác họa của nó…bắt buộc tự nhiên phải trả lời cho các câu hỏi của nó, chứ không chỉ chịu để cho tự nhiên dẫn dắt” [17, 41-42]

Bức tranh văn hóa - khoa học châu Âu cuối thế kỷ XVIII đã có nhiều khởi sắc, nhiều phát minh khoa học mới ra đời Những tiến bộ đáng kể của khoa học tự nhiên ngày càng chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình thống trị trong tư tưởng Tây Âu suốt thế kỷ XVII - XVIII Năm

1687, nhà toán học, triết học người Anh Niutơn với cuốn “Nguyên tắc toán học” đã đề cập tới sự vận động của các thiên thể trên phương diện toán học, đặc biệt là sự áp dụng động lực học và định luật vạn vật hấp dẫn vào hệ thống mặt trời Điều đó đã ảnh hưởng tới Kant Ông cho rằng, phương pháp của Niutơn là một phương pháp đáng tin cậy - dựa vào kinh nghiệm và hình học Kant nhận thấy triết học cũng giống khoa học tự nhiên phải dựa vào những kinh nghiệm cảm tính, quan sát thực nghiệm và cả lý tính trong đó lý tính

Trang 21

đóng vai trò quan trọng nhất Niutơn (Anh), Đềcáctơ (Pháp), Lepnit (Đức) đã đưa toán học vận dụng vào sản xuất và đời sống xã hội, đối tượng của toán học vượt ra khỏi dạng tĩnh, vươn sang dạng động

Các nhà khoa học đã chỉ ra một cách hệ thống những hình thức vận động của vật chất vượt lên trên cách hiểu cơ học, lý học, hóa học, sinh học Việc phát minh ra điện và sử dụng điện năng đã góp phần tạo ra bước nhảy vọt của phát triển sản xuất từ công trường thủ công tới công trường cơ khí, đồng thời chứng thực những phát triển đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn

và biến hóa năng lượng và vật chất của vũ trụ Lômônôxốp chứng minh bằng thực nghiệm luật “Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng” Nhà hóa học Pháp Lavoarê, dựa vào những phát minh hóa học, bác bỏ quan niệm về sự tồn tại của một vật chất đặc biệt: chất cháy không trọng lượng, đặt nền móng cho sự cháy và ôxy hóa nói chung Sau sự sụp đổ của thuyết chất cháy, khoa học tự nhiên dù chưa bác bỏ hết những “chất không có trọng lượng” khác như “chất nhiệt”, “chất ánh sáng”, “chất âm thanh”… nhưng đã khám phá ra rằng, nhiệt, ánh sáng, âm thanh… đều là những hình thức vận động khác nhau của vật chất Với nguyên lý cấu tạo hóa học khác nhau của vật thể do Đantơn khám phá ở Anh, người ta đã giải thích được rằng những thay đổi về chất của vật thể đều phụ thuộc vào cấu tạo lượng của nó Sự phân tích quá trình hóa học đã làm thay đổi quan niệm máy móc coi vận động chỉ là sự chuyển dịch đơn giản của sự vật

Gơtơ nêu lên nhiều quan niệm tiên tiến về giải phẫu học so sánh và về địa chất học Nghiên cứu vật hóa thạch trong lòng đất, Cuviê chứng minh giới thực vật và động vật đều có sự phát triển theo quá trình địa chất của trái đất Tiến hóa luận của Lamác và Vônphơ bác bỏ “dự thành luận” với quan niệm cho rằng mọi sinh vật sinh ra đều có dự định sẵn, đều nhất thành, bất biến,…cùng với việc phát hiện ra tế bào của Lơvenhúc đòi hỏi phải có cách lý

Trang 22

giải mới về sự sống Sau đó là thuyết tiến hóa của Đácuyn ra đời tạo nên một bước ngoặt trong nhận thức về nguồn gốc các loài Trong sinh học có dự báo

về sự phát triển trong sinh học - bào thai đã mang trong nó mọi dấu hiệu của một sinh vật đã trưởng thành, do đó không có gì mới xuất hiện mà không có nguồn gốc của nó

Vai trò của khoa học tự nhiên đối với sự phát triển của triết học một lần nữa được Ph.Ăngghen đánh giá trong tác phẩm “Lútvich Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”: “Trong suốt thời kỳ lâu dài từ Descartes đến Hegel, từ Hobbes đến Feuerbach, cái thúc đẩy các nhà triết học tiến lên hoàn toàn không phải là sức mạnh của tư duy thuần túy như họ tưởng tượng Trái lại cái thật ra đã thúc đẩy họ tiến lên chủ yếu là sự phát triển mạnh mẽ, ngày càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công nghệ” [29,407]

Các phát minh trên như những đòn đánh mạnh vào siêu hình học thế kỷ XVII - XVIII, dóng một hồi chuông báo hiệu cho ngày tận số của siêu hình học cũ - mở đầu cho kỷ nguyên của phép biện chứng Những thành tựu đó chứng tỏ khoa học tự nhiên đã chin muồi cho sự tổng kết biện chứng, nó cần xây dựng một phương pháp tư duy và khảo sát mới - phương pháp biện chứng

- để có thể phản ánh đầy đủ những quy luật tự nhiên khách quan Điều đó được phản ánh vào trong tư tưởng, trong triết thuyết của các nhà triết học, và

là những tiền đề cho tư tưởng biện chứng thiên tài của Kant Nếu ở thế kỷ XVII, những nhà khoa học tự nhiên bắt đầu từ F.Bêcơn và G Galilê xây dựng một cách tự phát phương pháp siêu hình cho sự nhận thức khoa học, thì ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà triết học Đức bắt đầu từ Kant xây dựng phương pháp biện chứng cho khoa học trên cơ sở duy tâm

1.1.3 Tiền đề lý luận

Trang 23

Nằm trong lòng của thời Cận đại nước Đức với những điều kiện kinh tế

- xã hội kém phát triển nhưng “triết học Kant đã xuất hiện với ánh sáng tân kỳ của một tư tưởng “tân tiến” [17, L - Dẫn luận, Thái Kim Lan] Lịch sử tư tưởng chứng minh rằng, các học thuyết tư tưởng tiến bộ có thể nảy sinh trong lòng một nước có trình độ kinh tế lạc hậu hơn, nếu nó biết tiếp thu thành tựu mọi mặt của các nước tiến bộ khác Ở Pháp vào thế kỷ XVIII, nền kinh tế kém phát triển hơn Anh, nhưng lại hình thành chủ nghĩa duy vật F H Honbach, C A Henvetiut, R Điđrô…do dựa trên những thành tựu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII và chủ nghĩa duy vật Hà Lan (Xpinôza) Nước Đức cũng nằm trong sự phát triển tư tưởng vượt thời đại ấy Kinh nghiệm lịch

sử của cuộc Cách mạng Anh thế kỷ XVII, cũng như của Cách mạng Pháp thế

kỷ XVIII, đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nước Đức cuối thế

kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Triết học cổ điển Đức đã tiếp thu di sản tư tưởng phong phú của triết học nhân loại: sự thông thái trong triết học Hy Lạp, tư tưởng của các nhà khai sáng Anh và Pháp, khắc phục những sai lầm về hàng loạt phương diện vốn có ở họ Chính điều này đã trở thành một trong những tiền đề quan trọng nhất cho sự phát triển phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức mà người khởi xướng là Kant Kant đã phát triển triết học của ông như là kết quả của quá trình tiếp thu và phê phán nhiều trào lưu triết học trong quá khứ và đương thời

Triết học Hy Lạp cổ đại là điểm khởi nguồn, gợi mở ra nhiều vấn đề làm cơ sở lý luận cho triết học phương Tây nói riêng và toàn bộ triết học sau này Đặc biệt là những tư tưởng biện chứng sơ khai đầu tiên đã được các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đưa ra tuy có tính tự phát nhưng thực sự là những tiền

đề lý luận quan trọng cho sự phát triển của tư tưởng biện chứng trong tiến trình lịch sử nhân loại

Trang 24

Tư tưởng biện chứng có nguồn gốc lịch sử từ học thuyết của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại “Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát bẩm sinh” [28, 34] Có thể nói, phép biện chứng Hy Lạp

cổ đại phải là một giai đoạn mang tính xuất phát điểm đối với sự phát triển của triết học Tây Âu trong quá trình lý giải về môn khoa học về các quy luật phổ biến, về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người Định hướng biện chứng tự phát của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại cũng thể hiện

rõ ở việc lý giải tự nhiên về thế giới con người với tư cách là kết quả của sự kết hợp khác nhau giữa các mặt đối lập

Triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra các tư tưởng biện chứng sâu sắc nhất trong suốt toàn bộ lịch sử triết học cổ đại Đây là giai đoạn triết học tự nhiên thấm đượm tinh thần của phép biện chứng ngây thơ, khi mà thế giới, giới tự nhiên được xem như là một chỉnh thể không thể phân chia, tức là như nó đã thể hiện ra qua sự quan sát trực tiếp…dường như đã chứa đựng những mầm mống cho học thuyết cơ bản sau này về các bản nguyên và những yếu tố đầu tiên của tự nhiên

Platon (427 - 347TCN) là nhà triết học duy tâm khách quan, học thuyết

về ý niệm của ông chứa đựng những nội dung sâu sắc Học thuyết về ý niệm của Platon có những đóng góp cho tư tưởng biện chứng siêu nghiệm của I Kant Platon đã thể hiện một bước vô cùng quan trọng trong bước chuyển triết học từ tư duy ẩn dụ tới tư duy khái niệm Thế giới ý niệm và thế giới các sự vật (hay thế giới có trước và thế giới có sau) trong triết học duy tâm khách quan của Platon có những nét tương đồng so với thế giới vật tự nó và thế giới hiện tượng trong triết học duy tâm chủ quan tiên nghiệm của Kant Platon cho rằng ý niệm là những tri thức vốn có sẵn của tư duy loài người và không phụ thuộc vào kinh nghiệm cảm tính Còn với Kant, ý niệm được hiểu là giai đoạn phát triển cao nhất của khái niệm, ý niệm là các phạm trù của lý tính và ý

Trang 25

niệm cao nhất trong triết học Kant chính là Linh hồn, Thượng đế, Tự do - thuộc về thế giới vật tự nó

Aristote (384 – 322 TCN) - bộ óc toàn thư của triết học cổ đại Hy Lạp, người đầu tiên khám phá ra những quy lật sơ đẳng của tư duy biện chứng Aristote phê phán mạnh mẽ học thuyết của Platon về các ý niệm Ông cho rằng các ý niệm của Platon không thể là công cụ để nhận thức thế giới bởi vì chúng hoàn toàn biệt lập với quá trình sinh thành, vận động, phát triển của sự vật cảm tính Theo Aristote, thế giới hiện thực vốn rất phong phú và đa dạng nhưng con người có thể khái quát, quy sự đa dạng đó thành các phạm trù chung Ông đã xây dựng hệ thống 10 phạm trù: bản chất, số lượng, chất lượng, quan hệ, không gian, thời gian, tình trạng, sở hữu, hành động, chịu đựng Đặc biệt hai phạm trù không gian và thời gian sau này được Kant đề cập tới rất nhiều và mang tính tiên nghiệm Aristote đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nhận thức Dựa trên quan điểm duy vật, ông đã nhận thấy mối quan hệ giữa hiện thực khách quan và phạm trù, coi phạm trù như là công cụ và hình thức để nhận thức thế giới Và chính điều đó đã được Kant kế thừa và phát triển trong học thuyết của mình

Thời kỳ Trung cổ, những yếu tố biện chứng sơ khai ban đầu dần bị bỏ quên, triết học khoác lên mình chiếc áo siêu hình học, giáo điều Vấn đề về mối quan hệ giữa cái chung (khái niệm, phạm trù) - cái riêng (sự vật cảm tính)

đã tạo nên cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học duy danh và triết học duy thực xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học Trung cổ Đứng trước cuộc luận chiến giữa chủ nghĩa duy danh và chủ nghĩa duy thực, Tômát Đacanh (1225 - 1274) đã đứng trên lập trường chiết trung để giải quyết mối quan hệ giữa khái niệm (cái chung) và các sự vật cảm tính (cái riêng) Theo ông, khái niệm

có trước các sự vật cảm tính trong ý tưởng của Thượng đế tồn tại như là những khuôn mẫu có sẵn, lý tưởng của các sự vật cảm tính; khái niệm hiện

Trang 26

hữu trong chính bản thân các sự vật cảm tính như chính bản chất tồn tại của chúng; các khái niệm có sau các sự vật cảm tính, chúng được tạo ra trong trí tuệ con người bằng con đường khái quát hóa, trừu tượng hóa các sự vật cảm tính đó Có thể nhận thấy trong tư tưởng của Tômát Đacanh vừa tiếp thu theo

tư tưởng của Platon, bảo vệ các giáo lý cơ đốc giáo, vừa tiếp thu tư tưởng duy vật của Aristote Tư tưởng của ông vừa là duy tâm khách quan vừa là duy vật Tômát Đacanh giải quyết mối quan hệ giữa triết học và thần học, giữa lý trí

và lòng tin, phân định rõ ràng ranh giới nhưng không đối lập giữa triết học và thần học “chân lý tôn giáo không phải là điểm yếu mà triết học có thể xâm nhập vào được” [61, 229] Điều này đã ảnh hưởng tới quan điểm của Kant, được thể hiện khi ông viết: “tôi phải dẹp bỏ nhận thức đi để dành chỗ cho lòng tin” [17, 55]

Triết học thời kỳ Trung cổ gần như bế tắc trước vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa khái niệm (cái chung) và sự vật cảm tính (cái riêng) Hoặc họ tuyệt đối hóa cái chung hoặc cái riêng, hoặc họ chiết trung hai phái Tuy nhiên, những cách giải quyết của họ đều không triệt để và không nhất quán Chính điều đó đã làm nảy sinh trong lòng triết học cận đại hai khuynh hướng: chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm Tới Kant, cuộc luận chiến dai dẳng đó vẫn có sức ảnh hưởng lớn Kant đứng giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm Và ông đã chọn phương án chiết trung như Tômát Đacanh

Triết học Cận đại phát triển với hai khuynh hướng: chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm Ông tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm trong triết học Cận đại chính là Phranxis Bacon (1561-1626) Bắt đầu

từ Bacon triết học Tây Âu bước sang một giai đoạn mới với những màu sắc riêng Bacon khẳng định sức mạnh vĩ đại của tri thức khoa học, dựa vào tri thức khoa học con người có thể thống trị và làm chủ được tự nhiên “tri thức là

Trang 27

sức mạnh” [theo 61, 267] Ông đề cao khoa học và cho rằng cần phải xây dựng một khoa học mới và công cụ mới dựa trên cả hai yếu tố là kinh nghiệm

và lý tính Theo Bacon, kinh nghiệm là giai đoạn khởi đầu của nhận thức, lý tính là giai đoạn thứ hai, tái tạo sắp xếp các tư liệu cảm tính do kinh nghiệm mang lại Ông cho rằng phương pháp nhận thức tối ưu là phương pháp quy nạp và do đó, “khoa học là khoa học kinh nghiệm, và thực chất đó là áp dụng phương pháp hợp lý vào trong các tư liệu cảm tính” [dẫn theo 61, 278] Tư tưởng đó thể hiện Bacon muốn chống lại quan điểm cực đoan của cả chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý Từ đó đặt ra mối liên hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhưng ảnh hưởng bởi quan điểm siêu hình nên Bacon chưa nhận ra mối quan hệ biện chứng giữa chúng mà chỉ coi

đó là sự tiếp nối máy móc và rời rạc Tuy nhiên, quan điểm của Bacon cho rằng khoa học cần cả kinh nghiệm cảm tính lẫn tư duy trừu tượng thực sự là một định hướng khoa học gợi ý cho Kant, khi ông nghiên cứu vấn đề nhận thức luận nói chung và tư tưởng biện chứng siêu nghiệm nói riêng “Nếu Bêcơn có tham vọng đưa khoa học tự nhiên từ đêm tối của sự mò mẫm ra ánh sáng bằng phương pháp thực nghiệm và tự nhận mình là người đầu tiên tiến hành cuộc “cách mạng tư duy” thì Kant muốn tiếp bước để làm bùng nổ cuộc cách mạng ấy trong siêu hình học và triết học nói chung bằng phương pháp

“phê phán siêu nghiệm”[17, 69]

Chủ nghĩa duy vật của Bacon được hai nhà triết học người Anh nổi tiếng là Hobbes (1528 - 1679) và Locke (1632 - 1704) kế thừa và phát triển sang chủ nghĩa duy ngã (cảm giác luận duy tâm chủ quan) Hobbes đã nhận thấy tính chất mâu thuẫn giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý trong vấn đề phương pháp và bản chất của nhận thức Để giải quyết mâu thuẫn này, nhà triết học người Anh đã đưa ra một giải pháp dung hòa, coi trọng cả vai trò của kinh nghiệm cảm tính và lý tính Nhưng khi giải thích mối

Trang 28

quan hệ giữa hiện thực khách quan và các khái niệm, phạm trù thì ông trượt sang chủ nghĩa duy lý, phủ nhận tính hiện thực khách quan của các khái niệm, phạm trù, coi chúng như những hình thức thuần túy chủ quan Nhận thức đó của Hobbes đã có những ảnh hưởng nhất định tới Kant Kant cũng là một người sùng bái khoa học tự nhiên Ông đặc biệt đánh giá cao vai trò của toán học và phương pháp tổng hợp và phân tích, tổng hợp của môn khoa học này Đồng thời, Kant cũng nhận ra rất rõ tính chất hợp lý và phi lý cả chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý Do đó, Kant muốn mở ra một khuynh hướng triết học mới: khuynh hướng chiết trung

Đại biểu duy cảm điển hình của chủ nghĩa duy vật Anh John Locke (1632 - 1704) đề cao vai trò của kinh nghiệm trong quá trình nhận thức của con người Theo Locke, cảm giác và phản xạ là hai nguồn gốc của tri thức, từ

đó mọi ý niệm được hình thành Phê phán lý tính, John Locke được Kant xem

là “người đi những bước đi đầu tiên” John locke đã đề ra mục tiêu giống hệt như Kant “là khảo sát nguồn gốc, sự vững chắc và phạm vi của tri thức con người” Kant cho rằng John Locke đã “đi một bước quyết định để mở đường cho lý trí” Locke đã đề ra những tiêu chuẩn hoàn toàn mới mẻ Ông phê phán học thuyết thừa nhận sự tồn tại của các tư tưởng bẩm sinh của các học thuyết duy tâm và tìm cách chứng minh sự vô lý của nó Ông cho rằng toàn bộ các tri thức, chân lý là kết quả nhận thức của con người chứ không phải là bẩm sinh Locke đưa ra nguyên lý “tabularasa” (tấm bảng sạch): “linh hồn chúng ta khi mới sinh ra, có thể nói như một tờ giấy trắng không có một ký hiệu hay ý niệm nào cả” [trích theo 61, 288] Mọi ký hiệu hay ý niệm đều được hình thành nhờ kinh nghiệm cảm tính Vì thế mà “không có cái gì có trong lý tính

mà trước đó lại không có trong cảm tính” Locke chia ý niệm thành hai dạng: 1) Ý niệm cảm tính đơn giản, là ý niệm chỉ bao hàm những tri giác và biểu tượng đơn nghĩa, gồm hai loại Thú nhất, ý niệm phản ánh các đặc tính hay

Trang 29

các chất có trước, chúng hiện diện khách quan trong các đối tượng Thứ hai, ý niệm phản ánh các đặc tính hay các chất có sau, chúng không hiện diện khách quan trong bản thân các đối tượng, mà chỉ có trong cảm giác chủ quan của con người 2) Ý niệm phức tạp là những ý niệm được hình thành từ các ý niệm đơn giản nhờ sự hoạt động tự thân của trí tuệ con người Tư tưởng của Locke cho thấy ông đã nhận ra sự đa dạng, phức tạp của các sự vật, hiện tượng trong thế giới và tương ứng với đặc tính đó của thế giới hiện thực là tính đa dạng, phức tạp của ý niệm hay khái niệm Sự nhận thức của con người

về thế giới cũng là một vấn đề hết sức phức tạp thể hiện vừa mang tính khách quan (phản ánh các đặc tính có trước) lại vừa mang tính chủ quan (đặc tính có sau) Từ đó nảy sinh mầm mống của chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa duy tâm chủ quan sau này Berkeley và Hume phát triển Và đến Kant, chủ nghĩa hoài nghi được nâng lên một mức độ cao hơn, trở thành thuyết bất khả tri, còn chủ nghĩa duy ngã thì được chuyển thành chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm

Berkeley (1685 - 1753) từ sự dao động của Locke trong việc phân chia đặc tính của các sự vật thành đặc tính có trước (khách quan) và đặc tính có sau (chủ quan), Berkeley đã tìm cách chứng minh cả các đặc tính có trước của

sự vật cũng mang tính chủ quan Toàn bộ nhận thức luận của ông được xây dựng trên một mệnh đề nổi tiếng: Esse est percipi (tồn tại là được cảm nhận) Bằng mệnh đề đó ông đã phủ nhận và lý giải khái niệm cơ bản nhất của chủ nghĩa duy vật: khái niệm vật chất Ông phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới hiện thực, phủ nhận các ý niệm với tư cách là sự phản ánh thế giới

đó Theo ông, các khái niệm, phạm trù trừu tượng chỉ là sự bịa đặt của trí tuệ con người mà không biểu hiện một cái gì trong hiện thực Những phạm trù như vật chất, vận động, không gian, thời gian là vô nghĩa, giả tạo vì ta không thể cảm nhận được chúng Chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Berkeley ảnh hưởng trực tiếp tới Hium và gián tiếp tới Kant

Trang 30

Hume (1711 - 1776) đã xuất phát từ toàn bộ những yếu tố duy tâm trong nhận thức luận của Locke, chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Berkeley, kết hợp với thuyết bất khả tri, xây dựng học thuyết của mình theo hướng đáp ứng nhu cầu thực tiễn tinh thần của giai cấp tư sản Anh thế kỷ XVIII Mối quan hệ giữa ấn tượng và ý niệm trong nhận thức của con người là nội dung chính trong nhận thức luận của Hume Theo ông, ấn tượng là yếu tố có trước,

là nguyên nhân của ý niệm Ý niệm là kết quả hoạt động sáng tạo của trí tuệ con người Ông viết: “mọi ý niệm là sự mô phỏng của ấn tượng” Triết học Hume là chất xúc tác đặc biệt trong sự hình thành quan điểm phê phán của Kant, ảnh hưởng tới triết học Kant Kant đã tiếp nhận quan điểm hiện tượng luận trong lý luận nhận thức của Hume Hume cho rằng các hiện tượng của khách thể được cảm nhận bằng các giác quan cảm tính của con người không tồn tại khách quan mà tồn tại một cách chủ quan trong ý thức Kant tiếp nhận thuyết hoài nghi và bất khả tri của Hume trên tinh thần phê phán và phát triển Hume cho rằng toàn bộ các hiện tượng trong thế giới là bí ẩn đối với con người thì Kant phát triển thành thế giới hiện tượng là thế giới có thể nhận thức được và thế giới vật tự nó là thế giới con người không thể nhận thức được

Kant tiếp nhận quan điểm duy tâm của Hume về các phạm trù của không gian và thời gian Trong triết học Hume, không gian và thời gian được hiểu như những phương thức điều chỉnh tri giác của con người, là điều kiện cho mọi cảm giác, xúc cảm diễn ra Kant đã phát triển quan niệm này lên một mức độ duy tâm cao hơn Kant cho rằng không gian và thời gian là những hình thức tiên thiên có sẵn trong ý thức con người, chúng có chức năng sắp xếp các cảm xúc phức tạp, đa dạng thành một hình hài (không gian) và trật tự

kế tiếp nhau (thời gian) Nhờ vậy, chúng ta mới có thể cảm nhận được thế giới như nó vốn có trong thế giới hiện tượng

Trang 31

Quan điểm của D Hume về nguyên tắc nhân quả đã làm Kant phải suy nghĩ Chính Hume là người đã đánh thức Kant ra khỏi cơn mơ ngủ giáo điều

và đưa triết học của ông vào một hướng mới Kant muốn nói đến ý tưởng chủ đạo của Hume: nếu chúng ta liên kết hai sự kiện xảy ra bằng tương quan nguyên nhân - hậu quả, thì ta không thể thấy được tính tất yếu của sự liên kết này, như siêu hình học từ trước đã thường chấp nhận như thế về nguyên tắc nhân quả…Đó là một sự nhầm lẫn khi siêu hình học cổ điển nói về tính tất yếu của nguyên tắc nhân quả cho rằng tất cả phải có nguyên nhân trước sau,

và siêu hình học đã dựa vào đó để chấp nhận có một nguyên nhân đầu tiên là Thượng đế

Hume suy luận như sau: kinh nghiệm không có tính tất yếu, mệnh đề nhân quả khởi từ kinh nghiệm như thế thì nó không tất yếu Tất cả các phán đoán kinh nghiệm cũng như thế Do đó, khoa học chỉ là niềm tin Kinh nghiệm đơn thuần theo Hume không mang theo bên mình tính tất yếu và giá trị phổ quát Kant không từ chối điểm đó, nhưng nếu tất cả khoa học kinh nghiệm chỉ dừng lại là một niềm tin thì Kant không đồng ý với tình trạng như thế Kant muốn cứu khoa học siêu hình và do đó, đã tìm cách cứu phán đoán tổng hợp tiên thiên (tiên nghiệm) Kant muốn tránh những hậu quả lập luận của Hume cho nên ông muốn diễn tả khái niệm kinh nghiệm bằng một cách khác Từ đó Kant thiết lập một tổng hợp giữa thuyết duy lý và thuyết duy nghiệm Từ thuyết duy lý Kant rút ra khoa học phải thiết lập những mệnh đề

có giá trị phổ quát và tất yếu; từ thuyết duy nghiệm, Kant lấy luận cứ cho rằng khoa học phải nhờ đến kinh nghiệm giác quan Kant suy luận kinh nghiệm không có tính tất yếu, nhưng mệnh đề nhân quả thì lại là tất yếu, do đó nó không thể xuất phát từ kinh nghiệm, vì thế, cần phải tìm ra được nền tảng tính tất yếu này cho nó và cho những mệnh đề kinh nghiệm khác Nền tảng này và

Trang 32

những hình thức của nó nếu không được tìm thấy trong kinh nghiệm thì nó phải được tìm thấy trong chính tâm thức của con người

Kant tin rằng, ông có cơ sở khách quan để chấp nhận có những phán đoán tổng hợp tiên nghiệm Nền tảng khách quan này đã có sẵn trong toán học thuần túy và vật lý học thuần túy Dựa vào những định đề toán học và vật

lý học cũng như thành quả của thời cận đại, Kant cho rằng ông có đủ lý do để cứu vãn khoa học kinh nghiệm mà với Hume khoa học này đã mang mối hoài nghi cho rằng tất cả tri thức kinh nghiệm đều chỉ căn cứ vào lòng tin Kant cho đây là một khám phá quan trọng của ông

Có thể nói chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy tâm chủ quan trong triết học Anh thế kỷ XVI – XVIII đã cho thấy những quan điểm về nhận thức luận của hệ thống triết học này đã có ảnh hưởng cả gián tiếp và trực tiếp đến nhận thức luận của Kant, làm tiền đề lý luận cho phép biện chứng siêu nghiệm của ông “Các nhà triết học Anh thuộc cả hai phái duy vật và duy tâm

đã đi những bước ban đầu có tính chất mở đường cho sự hình thành hiện tượng luận, chủ nghĩa hoài nghi, thuyết bất khả tri” [48, 65] sau này Kant phát triển

Chủ nghĩa duy lý hình thành và phát triển gắn liền với toán học, với các đại biểu như Descartes (1596 - 1650), Spinoza (1632 - 1667), Leibniz (1679 - 1754) Descartes - nhà bách khoa toàn thư vĩ đại người Pháp đã cùng với Bacon “Descartes đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học” [trích theo 61, 293] Tây Âu cận đại Descartes đánh giá cao vai trò của tri thức khoa học xác thực và phương pháp nhận thức để đạt được tri thức đó Ông bắt đầu từ việc phê phán mạnh mẽ các tư tưởng của giáo hội và kinh viện, đặt tất cả mọi tri thức mà con người đã đạt được từ trước tới giờ dưới sự phê phán của lý tính Descartes cho rằng phải coi lý tính, trí tuệ con người là toàn án thẩm định và đánh giá mọi tri thức, quan niệm mà nhân loại đã đạt

Trang 33

được, nghi ngờ mọi cái mà thường ngày vẫn cho là đúng Nhưng nghi ngờ để tìm ra chân lý, đó là tiền đề chứ không phải là kết luận Xuất phát từ mệnh đề

“Cogito ergo sum” (Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại), Descartes xây dựng toàn bộ tòa nhà thế giới quan của mình như một chỉnh thể Descartes không coi toàn

bộ thế giới chỉ là sản phẩm tư duy của ông, cũng như không có ý định chứng minh tính ý niệm của toàn bộ thế giới hiện thực Cogito chỉ là phương tiện, để thông qua đó Descartes kết luận vật này hay vật khác là có thực hay không; còn bản thân ông vẫn khẳng định sự tồn tại khách quan của chúng bên ngoài chúng ta Nhìn chung tinh thần của “Cogito ego sum” là đề cao vài trò tích cực của con người đối với thế giới, coi con người là trung tâm của các vấn đề triết học Việc Descartes đặc biệt coi trọng trí tuệ của con người, đề cao tư duy khoa học lý luận thực sự là một quan niệm cách mạng trong bối cảnh lịch

sử thời đó Với cách nhìn của một nhà duy lý, Descartes đặc biệt đề cao vai trò của lý tính, đòi hỏi con người phải đi xa hơn nhận thức cảm tính Phương pháp luận của Descartes là hướng tới hoàn thiện và phát triển khả năng trí tuệ của con người, đặc biệt là lumen naturale (ánh sáng tự nhiên - trí tuệ cao nhất của con người có thể tạo lập các mệnh đề khoa học tự nhiên mà không cần đến kinh nghiệm và sự minh chứng bằng thực tế), coi đó là điều kiện để thúc đẩy nhận thức khoa học Tuy nhiên, để giải thích khả năng lý tính có thể tạo lập được tri thức đó Descartes đã nhờ đến học thuyết tôn giáo về sự bất tử của linh hồn và sự chứng minh của thần học trung cổ về sự tồn tại hợp lý của Chúa Trời Điều này đã thể hiện tính chất nhị nguyên luận trong tư tưởng của Descartes Mặc dù có những hạn chế, nhưng tư tưởng triết học của Descartes vẫn có những giá trị và ảnh hưởng tích cực đến các nhà triết học đương thời

và sau này, đặc biệt là triết học Kant

Thứ nhất, bằng sự hoài nghi của mình, Descartes đã chống lại mọi tư

tưởng giáo điều, mọi giáo lý của nhà thờ thời đó dù ông vẫn chịu ảnh hưởng

Trang 34

từ một số quan niệm thần học Tư tưởng này đã tác động tới Kant với quan niệm phải dẹp bỏ tri thức để nhường chỗ cho niềm tin

Thứ hai, “Cogito ego sum” thể hiện sự đề cao vai trò đặc biệt của lý tính, trí tuệ của con người, coi đó là chuẩn mực để đánh giá mọi suy nghĩ và hoạt động của con người Đồng thời, ông cũng rất coi trọng toán học và phương pháp diễn dịch xem đó như chìa khóa vạn năng để khám phá thế giới

Tư duy toán học là tưu duy điển hình của ý niệm bẩm sunh, các tiên đề, định

lý toán học là sản phẩm sáng tạo của lý tính, trí tuệ con người Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng với sự hình thành chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong nhận thức luận của Kant: đặc biệt đề cao và tuyệt đối hóa vai trò của toán học và lý tính, mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức và quá trình nhận thức, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình nhận thức

Spinoza nhà triết học lỗi lạc người Hà Lan, chịu ảnh hưởng trực tiếp của triết học Descartes, ông tự coi mình là sự kế tục và phát triển những khuynh hướng duy vật của nhà triết học vĩ đại Pháp Ông cho rằng, giới tự nhiên tồn tại như một thực thể hoàn toàn độc lập, tự nó sinh ra, do vậy để giải thích giới tự nhiên phải xuất phát từ chính bản thân nó Ông chia nhận thức

thành ba giai đoạn: Nhận thức cảm tính cho phép chúng ta cảm thụ được tính

sinh động và đa dạng của sự vật, tuy nhiên nó chỉ cho phép chúng ta hiểu về

các sự vật đơn nhất; Nhận thức giác tính giúp ta nhận thức bản chất của sự vật

này thông qua những sự vật khác nhờ sự tương đồng trong quan hệ nhân quả

giữa chúng; Nhận thức trực giác lý tính là khả năng khám phá ra chân lý đồng

thời là tiêu chuẩn của chân lý từ chính bản chất của sự vật Ba cấp độ nhận thức này của Spinoza đã ít nhiều ảnh hưởng tới sự hình thành ba giai đoạn nhận thức của Kant: cảm tính, giác tính và lý tính Nếu Spinoza đề cao vai trò của lý tính, thì Kant nhấn mạnh vai trò của giác tính để đạt tới các khái niệm, phạm trù

Trang 35

Nhà triết học, nhà toán học, vật lý học lỗi lạc người Đức - G V Leibniz (1646 - 1716) là một đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy lý cận đại với luận điểm: “chủ thể phong phú hơn khách thể, lấy trí tuệ con người làm thước đo để phán xét mọi cái” [trích theo 61, 325] Ông thừa nhận ý niệm bẩm sinh, linh hồn con người như một viên đá trắng trong đó tiềm ẩn vô số những đường vân Quá trình nhận thức đóng vai trò như những nhà điêu khắc, khai thác những tri thức đã tiềm ẩn sẵn trong linh hồn con người Ông đề cao vai trò nhận thức của lý tính với mệnh đề: “không có cái gì trong cảm tính,

mà trước đó lại không có trong lý tính, trừ chính bản thân lý tính” Có nghĩa hoạt động của lý tính độc lập với các khả năng cảm tính Đây cũng là một khuynh hướng dung hòa giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý mà sau này Kant đã tiếp thu

Bối cảnh Tây Âu và nước Đức Cận đại đã đặt các nhà triết học trước nhiều vấn đề: Siêu hình học thế kỷ XVII (với các đại biểu như Đềcáctơ, Xpinôza, Lépnit…) từng đóng vai trò to lớn trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hóa tri thức con người đã không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của thực tiễn và tư tưởng Tây Âu thế kỷ XVIII – khi mà hàng loạt các khoa học đã đủ sức phát triển tách ra khỏi cái nôi triết học của mình trở thành những lĩnh vực nghiên cứu độc lập Ngay từ cuối thế kỷ XVII đầu thế

kỷ XVIII đã xuất hiện nhiều xu hướng xét lại siêu hình học và các giá trị tư tưởng truyền thống Tuy nhiên, triết học thời đại đó vẫn chưa thoát khỏi quan niệm cơ học về thế giới, đồng thời, bất lực trong việc lý giải bản chất của thực tiễn xã hội đang diễn ra cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Những bậc tiền bối của triết học cổ điển Đức là nhà triết học – toán học Pháp R Đềcactơ, nhà vật lý học Anh Niutơn, nhà triết học duy vật Hà Lan B Xpinôza, các nhà triết học khoa học Đức như: G.V Lepnit, C.Vônphơ, những nhà khai sáng Đức G.F Lexinh, G.V Gơtơ…Các học thuyết của họ chứa đựng những tư tưởng

Trang 36

biện chứng sâu sắc được Kant nghiên cứu, kế thừa và phát triển Qua Kant

“khuynh hướng tư duy của Anh và Pháp đã được chuyển tải vào nước Đức Trong lúc Tây Âu thấm nhuần tư tưởng phê bình của Descartes chủ xướng đã chiếm lĩnh dần dần tất cả những lãnh vực triết học: tâm lý, đạo đức, triết lý pháp chính, lý thuyết xã hội học va triết học tôn giáo, thì ở Đức, mặc dù có sự

cố gắng của Thomasius và đồ đệ của ông tư tưởng Khai sáng vẫn còn chưa phát triển Ngay cả Christian Wolff và trường phái của ông vẫn còn trong tình trạng triết học kinh điển nhà trường theo Leibniz Kant đã hoàn thành sự nối kết một cách rộng rãi với thế giới bên ngoài Tư tưởng của D Hume và J J Rousseau được nới rộng và hệ thống hóa Với công việc ấy triết học Đức đã

lật ra một chương mới” [17, LI, Dân luận – Thái Kim Lan] Và có thể khẳng

định Kant là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức Kant phát triển triết học của ông như là kết quả của quá trình tiếp thu và phê phán nhiều trào lưu triết học trong quá khứ và đương thời

Có thể khẳng định, những điều kiện kinh tế xã hội, những tiền đề lý luận là những động lực, nền tảng không thể thiếu của triết học Kant Chính những điều kiện, tiền đề đó đã tạo nên diện mạo của triết học Cổ điển Đức nói chung và triết học Kant, đặc biệt là phép biện chứng siêu nghiệm những nét độc đáo, riêng biệt, thực sự là những bước phát triển mới trên chặng đường tư tưởng của nhân loại

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của I.Kant

Kant “được những người say mê triết học đánh giá là khuôn mặt kiệt xuất nhất nổi lên trong địa hạt này kể từ sau những triết gia Hy Lạp cổ đại”[4,164], là người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức J.Hirschberger

nhận xét “Kant được xem là triết gia Đức lớn nhất, hơn nữa là triết gia lớn

nhất của thời cận đại, là triết gia của nền văn hóa tân thời và của nhiều lãnh vực khác nữa Dù người ta có đánh giá Kant gì đi nữa, điều không thể chối cãi

Trang 37

là ít nhất Kant đã nâng triết học Đức tiến lên một giai đoạn mới Danh tiếng của ông đẩy lùi tất cả những gì đi trước ông vào bóng tối và tỏa sáng lên

những gì đi sau” [17, XXVIII]

I Kant (Immanuel Kant) sinh ngày 22.4.1724 trong một gia đình thợ thủ công không mấy giàu có, gốc Scotland tại Konigsberg - một thành phố nhỏ thuộc vùng đông bắc nước Phổ, nay là Kaleningnad nước Đức Thời thơ

ấu, Kant chịu ảnh hưởng sâu đậm tình cảm của người mẹ - một thánh giáo Đức có tấm lòng nhân ái, yêu lao động và sự thật Bà có một đức tin mãnh liệt

và lối sống ngăn năp, nề nếp, điều này đã tạo nên ấn tượng trong suốt cuộc đời Kant Thoạt đầu, bố mẹ Kant muốn ông trở thành mục sư nên đã gửi Kant vào trường trung học Latinh Ở đó, người ta dạy các ngôn ngữ cổ Kant nghiên cứu và biết tiếng Latinh rất tốt, ông say mê các nhà văn La Mã và có ý định trở thành một nhà ngôn ngữ học

Nhưng như một định mệnh, lòng say mê khoa học và triết học đã trỗi dậy ở Kant làm ông quyết định chuyển hướng các môn học Năng lực khoa học của Kant được bộc lộ khá sớm và mọi người trong gia đình ông đều nhận thấy, đều tạo điều kiện để ông có học vấn nghiêm túc Sau khi tốt nghiệp trung học, vào mùa thu năm 1740, (lúc 16 tuổi) từ dự định học văn học cổ điển, Kant đã chuyển sang học triết học, tại trường Đại học tổng hợp Konisgberg dưới ảnh hưởng của một giáo sư danh tiếng là Martin Knutzen Ngay từ những năm trong trường ông đã rất quan tâm và tỏ ra có năng khiếu

về các môn toán học, vật lý học, cơ học và vũ trụ học…Tại đây, Kant có dịp làm quen với cơ học, thiên văn học, toán học của các nhà khoa học nổi tiếng đương thời như Niutơn, Đềcáctơ, Leibniz, Wolff và tư tưởng chính trị của các nhà khai sáng Pháp Ông nghiên cứu kỹ các hệ thống triết học của tiền nhân Ông đặc biệt quan tâm tới các nhà triết học Anh như Lốccơ và Hium Ông tìm hiểu hệ thống triết học Lépnit và nghiên cứu kỹ các tác phẩm của Vônphơ

Trang 38

Những tư tưởng của các triết gia này có ảnh hưởng sâu sắc trong hệ thống triết học của ông sau này

Năm 1746, Kant tốt nghiệp đại học vào loại xuất sắc với luận văn:

“Những suy nghĩ về sự đánh giá đúng đắn của lực sống”, trong đó ông đã trình bày nguyên tắc sống của mình: “Đối với chúng ta điều đáng quý nhất không phải là đi theo những lối mòn đã có, mà phải biết đi theo con đường mà loài người cần đi” [xem 48, 24] Suốt đời Kant sống theo nguyên tắc đó và ông đã khá thành công trong sự nghiệp Sau khi tốt nghiệp đại học, Kant phải làm gia sư cho các gia đình quý tộc ở ngoại ô 10 năm Đây là khoảng thời gian quý giá để ông tích lũy kiến thức cho sự nghiệp khoa học sau này

Năm 1755, sau 10 năm chuẩn bị, Kant bảo vệ thành công ba luận án

tiến sĩ Một trong số đó là đề tài đề cập tới lửa, nhưng tác phẩm này không để

lại dấu ấn trong cuộc đời và sự nghiệp của ông Với đề tài “Cách nhìn mới vê các nguyên tắc của tri thức siêu hình” (tháng 9 năm 1755), ông đã bước vào

nghiên cứu siêu hình học triết học mang tính kiểm nghiệm đối với ông và luận văn thứ ba về “Đơn tử luận vật lý” Sau đó, ông nhận được danh hiệu Phó

giáo sư của Trường đại học tổng hợp Konisgberg Và nhờ những tác phẩm độc đáo của mình, ông đã có một vị trí đặc biệt trong triết học, trong đổi mới

tư duy triết học Vừa bảo đảm thời gian lên lớp, ông vừa làm thủ thư cho Thư viện Hoàng gia Konisgberg trong vòng 15 năm với số lương ít ỏi là 52 thaler một năm Mãi tới năm 1770, khi đã 46 tuổi, Kant mới được bổ nhiệm làm giáo sư logic và siêu hình học của Trường Đại học Tổng hợp Konisgberg Ở đây, với bầu nhiệt huyết và sự cần mẫn, ông đã giảng dạy nhiều môn khoa học khác nhau Ông là một giảng viên rất được yêu thích và mến mộ Và cũng trong thời gian này, ông hoàn thành nhiều tác phẩm triết học cơ bản trong sự nghiệp nghiên cứu của mình Ông đã để lại cho nhân loại một hệ thống triết học độc đáo và sâu sắc nhất Chính vì thế, ông đã được giới triết học thừa

Trang 39

nhận Đầu tiên là triết học gắn với khoa học tự nhiên, rồi sau đó triết học của ông ngày càng quan tâm tới những vấn đề con người Kant biểu thị thái độ kinh ngạc của ông trước bầu trời đầy sao và quyền lực của quy tắc đạo đức đối với con người - và đó là bí ẩn ông muốn giải đáp trong hệ thống triết học của mình, được bắt đầu từ tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”

Năm 1797, Kant về nghỉ hưu để có nhiều thời gian dành cho việc hoàn thành các dự định khoa học của mình Ông được tặng thưởng rất nhiều danh hiệu, nhưng ông từ chối tất cả những lời tiến cử từ bên ngoài Ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 12 tháng 2 năm 1804 với một nụ cười trên môi và một lời nhận xét: “Thế là tốt rồi” Ông mất ở tuổi 80, trong khi đang viết một tác phẩm khác nằm trong số những công trình lớn của mình Nghe tin ông mất thì mọi người thuộc các tầng lớp khác nhau đã vội vã đến căn nhà riêng của ông

để được nhìn thấy con người vĩ đại đó lần cuối Cả thành phố, trường Đại học tổng hợp và nhân dân đã tổ chức lễ an tang cho ông như một ông hoàng mà thành phố Konisgberg yên tĩnh cho tới lúc bấy giờ chưa từng được chứng kiến Có thể nói, vào lúc Kant mất, ông “là nhà triết học nổi tiếng nhất tại Đức, và được cả châu Âu đọc sách của ông, dù không hiểu” [9, 468] Bùi Văn Nam Sơn trong “Chú giải dẫn nhập” cho Lời tựa cho lần xuất bản thứ nhất (1781) đã nhận xét: “Suốt cho đến cuối đời, Kant là một huyền thoại sống, chiếm lĩnh mọi giảng đường đại học Châu Âu và ảnh hưởng của ông kéo dài sâu đậm mãi đến ngày nay…đọc Kant là một sự vất vả cần thiết, hiểu biết ít nhiều về Kant là hành trang bắt buộc phải mang theo trong mọi nẻo đường suy tưởng” [17,17-18]

Trong sự nghiệp khoa học, Kant là người gặt hái được nhiều thành công: năm 1786, ông được bầu làm Viện sĩ hàn lâm khoa học Hoàng gia Phổ tại Berlin; năm 1794, ông trở thành viện sĩ danh dự Viện hàn lâm khoa học

Trang 40

Saint Peterburg; năm 1798, cả Viện hàn lâm khoa học Itallia và Viện Hàn lâm khoa học Paris đều bầu ông làm viện sĩ của viện mình

Trong khi các tác phẩm của Kant là một cuộc cách mạng về thế giới triết học, thì đời sống cá nhân của ông khá êm đềm, thậm chí có phần nhàm chán và hầu như không thay đổi Trong đời sống thường ngày, Kant là một con người bình dị có phần lập dị của một học giả, trầm lặng có một lối sống ngăn nắp, điều độ Trọn cuộc đời, ông chưa một lần đi ra khỏi thị trấn Konisgberg - quê hương ông Sự cầu kỳ và chính xác trong việc sắp xếp thời gian biểu của Kant làm cho mọi người phải kinh ngạc Cả cuộc đời, ông chỉ

có hai lần làm sai thời khoa biểu đó là khi đọc Rutxo và khi nghe tin cách mạng tư sản Pháp Ông không lấy vợ, và cuộc sống bề ngoài của ông rất đơn điệu, không có biến cố gì đáng nói - người dân Konisgberg có thể chỉnh đồng

hồ khi thấy ông xuất hiện bên ngoài cửa sổ nhà họ trong những cuộc đi dạo mỗi ngày của ông “Nhưng như chúng ta thấy ông không phải là một gã đần độn như hình ảnh này gợn lên Ông rạng rỡ và sang trọng khi đứng trước mọi người và trò chuyện dí dỏm; ông thích bầu bạn và không bao giờ ăn cơm một mình Những bài giảng thông tuệ của ông đã trở thành huyền thoại Mặc dù không ra khỏi thành phố quê hương nhưng ông vẫn nổi tiếng khắp thế giới lúc sinh thời” [4, 164] Arsenij – người viết tiểu sử Kant hay nhất trong thời gian qua đã nhấn mạnh sự tương phản lạ lùng giữa cuộc đời và sự nghiệp của Kant:“Cuộc sống của ông đơn điệu bao nhiêu thì tư tưởng của ông lại đa dạng

và đa diện bấy nhiêu; cuộc sống giản dị, khiêm tốn nhưng tham vọng học thuật lại rất to tát: muốn lý giải bí nhiệm của con người bằng một quy luật phổ quát chi phối mọi tư duy và hành động của bản thân con người; cuộc sống bình lặng, thiếu vắng mọi biến cố riêng tư hay tình ái lại gây những chấn động chưa từng có trong đời sống tinh thần của Tây phương kể từ thời khai nguyên

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên, Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên, 1997), I. Kant - người sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: I. Kant - người sáng lập nền triết học cổ điển Đức
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên, Đặng Hữu Toàn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
3. Quang Chiến (chủ biên, 2000), Chân dung triết gia Đức, Viện triết học - Trung tâm Khoa học xã hôi và nhân văn quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung triết gia Đức
4. Bryan Magee (2003), Câu chuyện triết học,(Dịch: Huỳnh Phan Anh – Mai Sơn; Hiệu đính: Phạm Viêm Phương) Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện triết học
Tác giả: Bryan Magee
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
5. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Lịch sử triết học phương Tây, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
7. Trần Thái Đỉnh (1974), Triết học Kant, Nxb Văn mới, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Kant
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn mới
Năm: 1974
8. Lưu Phóng Đồng (1994) Triết học phương Tây hiện đại, gồm 4 tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
9. Forrest E. Baird (2006), Tuyển tập danh tác triết học từ Platon đến Derrida, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập danh tác triết học từ Platon đến Derrida
Tác giả: Forrest E. Baird
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
10. Ted Honderich (2001), Hành trình cùng triết học, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình cùng triết học
Tác giả: Ted Honderich
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
12. Nguyễn Vũ Hảo, Đỗ Minh Hợp (2009), Giáo trình triết học phương Tây hiện đại (Tập bài giảng) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học phương Tây hiện đại (Tập bài giảng)
Tác giả: Nguyễn Vũ Hảo, Đỗ Minh Hợp
Năm: 2009
13. Đỗ Minh Hợp (1994), Vai trò của triết học Kant đối với sự phát triển của triết học, Tạp chí Triết học, (số 4), tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của triết học Kant đối với sự phát triển của triết học
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 1994
14. Đỗ Minh Hợp (1996), “Vấn đề tính chủ quan trong triết học phương Tây hiện đại”, Tạp chí Triết học, (Số 1), tr.29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tính chủ quan trong triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 1996
16. Nguyễn Văn Huyên (1996), Triết học Imanuin Kant, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Imanuin Kant
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
17. Immanuel Kant (2004), Phê phán lý tính thuần túy (Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê phán lý tính thuần túy
Tác giả: Immanuel Kant, Bùi Văn Nam Sơn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
19. Đỗ Văn Khang (2004), Immanuen Kant và nhận thức luận hiện đại. Trong: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Triết học Cổ điển Đức – nhận thức luận và đạo đức học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004, tr. 264 – 270 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Immanuen Kant và nhận thức luận hiện đại
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Triết học Cổ điển Đức – nhận thức luận và đạo đức học
Năm: 2004
20. Phạm Minh Lăng (1996), Cái tiên nghiệm trong triết học Kant, Tạp chí triết học, (Số 2), tr.53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tiên nghiệm trong triết học Kant
Tác giả: Phạm Minh Lăng
Năm: 1996
21. V. I. Lênin (1980), Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1980
22. V. I. Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981
23. Lịch sử triết học (1991), gồm 3 tập, Nxb Tư tưởng - Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học
Tác giả: Lịch sử triết học
Nhà XB: Nxb Tư tưởng - Văn hóa
Năm: 1991
24. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
25. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w