Trong khi tranh luận, không ít người lập luận luẩn quẩn, vòng quanh, khăng khăng khẳng định một điều nào đó mà không chứng minh được tính đúng đắn của nó, hoặc đánh tráo những đối tượng,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ THU
NGỤY BIỆN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ DUY KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ THU
NGỤY BIỆN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ DUY KHOA HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Anh Tuấn Các tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Hoàng Thị Thu
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
8 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1 NGỤY BIỆN - MỘT HÌNH THỨC LỊCH SỬ CỦA LUẬN CHỨNG 8
1.1 Vài nét về luận chứng 8
1.2 Nguỵ biện ở Hy Lạp cổ đại 15
1.2.1 Sự ra đời của ngụy biện ở Hy Lạp cổ đại 17
1.2.2 Một số nhà ngụy biện Hy Lạp cổ đại 22
1.2.3 Vai trò của các nhà ngụy biện trong xã hội Hy Lạp cổ đại 27
1.3 Những đặc trưng của ngụy biện 34
CHƯƠNG 2 TƯ DUY KHOA HỌC VÀ VAI TRÕ CỦA NGỤY BIỆN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NÓ 40
2.1 Tư duy khoa học 40
2.2 Các loại ngụy biện cơ bản 48
2.2.1 Nhóm các loại ngụy biện trong phép chứng minh 49
2.2.2 Nhóm các loại ngụy biện khác 58
2.3 Về vai trò của ngụy biện trong sự phát triển tư duy khoa học 66
2.3.1 Nguỵ biện giúp tư duy khoa học đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề lôgíc-triết học và thực tiễn 67
Trang 52.3.2 Ngụy biện thúc đẩy học tập lôgíc học nhằm nâng cao năng lực tư duy khoa học 73
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nếu lịch sử nhận thức là một hệ thống những vòng khâu thì thuật ngụy biện sẽ là một nấc thang trong chỉnh thể của những vòng khâu đó, vừa thâm nhập đan xen vào mọi nấc thang khác Lịch sử nhận thức đã chỉ ra rằng, con đường nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan không bao giờ là một con đường thẳng tắp, mà thường là đầy khó khăn, phức tạp Nó có những bước thăng trầm, lúc tiệm tiến đi sát đến phản ánh đúng bản chất đối tượng, nhưng
có lúc lại thụt lùi phản ánh sai bản chất, hoặc cũng có lúc tư duy con người lại
cố tình phản ánh xuyên tạc về bản chất của đối tượng nhằm đạt mục đích vụ lợi của mình
Trong nghiên cứu khoa học, cũng như trong cuộc sống hàng ngày con người luôn có nhu cầu tranh luận, kiến tạo cơ sở (luận chứng) Ai cũng cần có kiến thức về suy luận, về chứng minh nhằm tìm ra quy luật khách quan, bản chất đúng của đối tượng và thuyết phục người khác Trong khi tranh luận, không ít người lập luận luẩn quẩn, vòng quanh, khăng khăng khẳng định một điều nào đó mà không chứng minh được tính đúng đắn của nó, hoặc đánh tráo những đối tượng, mối liên hệ, những khái niệm về chúng một cách có chủ đích… Trong những trường hợp đó người ta đã rơi vào ngụy biện
Trong khoa học cũng như trong cuộc sống hàng ngày có thể gặp khá nhiều kiểu ngụy biện Trong lịch sử triết học đã có hẳn những trường phái ngụy biện ở cả phương Tây và phương Đông với những người đứng đầu nổi tiếng như Protago, Gorgias, Prodika, Kallikl, Huệ Thi, Công Tôn Long,… Tuy nhiên, không phải ai cũng có sự hiểu biết khá đầy đủ và hệ thống về ngụy biện, nhất là để chỉ ra được những thuật ngụy tạo cố ý của những người ngụy biện thì nhiều khi rất khó khăn Những loại ngụy biện núp dưới hình thức
“khoa học” thường không dễ nhận dạng nếu chúng ta thiếu kiến thức lôgic học hay thờ ơ với lý lẽ Do đó, điều quan trọng trong nhận thức khoa học
Trang 7cũng như trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn là phải hiểu tại sao chúng sai thì mới có thể bóc trần ngụy biện được Để hóa giải, chỉ ra những sai trái mang tính ngụy biện thì con người cần phải rèn luyện thành thạo các kỹ năng, kỹ xảo tư duy, và luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, nghi ngờ Có như vậy thì việc vận dụng các quy luật, phạm trù, các tri thức lôgic học vào hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn mới thêm hiệu quả Việc nâng cao năng lực nhận diện và bác
bỏ ngụy biện sẽ đảm bảo cho việc xác lập độ tin cậy của các tri thức và đảm bảo cho việc vận dụng chúng vào thực tiễn có hiệu quả cao nhất
Khi nói tới ngụy biện người ta thường hay nghĩ ngay tới những mặt hạn chế của nó là cố ý vi phạm quy tắc suy luận nhằm thay đổi sự thực mà ít đề cập đến vai trò của ngụy biện “thông minh” trong sự phát triển của nhận thức Giống như phép siêu hình đã từng có vai trò đáng kể trong sự phát triển Khoa học thời cận đại và ngày nay nhiều người cực đoan tỏ ra chê bai, dè bỉu nó, nhưng thực ra nó vẫn còn có thể giữ một vai trò xác định trong tư duy khoa học hiện đại, thì phép nguỵ biện “trong sáng” cũng đã từng kích thích tư duy khoa học của nhân loại phát triển ở những thời kỳ đầu chập chững của nó Sự sinh thành và phát triển của nhận thức cá nhân, xét ở khía cạnh phát sinh cá thể, về cơ bản phải lặp lại quá trình mà nhận thức nhân loại đã trải qua (phát sinh loài) dưới dạng cô đặc, rút gọn Vậy thì, lúc nào và làm thế nào khơi gợi được khả năng nguỵ biện tiềm ẩn trong mỗi con người để phục vụ cho sự phát triển tư duy khoa học của họ? Xuất phát từ lý do đó kết hợp với mong muốn
tìm hiểu thấu đáo hơn một vấn đề lôgíc học quan trọng, em đã chọn Ngụy
biện và vai trò của nó trong sự phát triển của tư duy khoa học làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình Hy vọng rằng, việc thực hiện đề tài sẽ góp phần nhỏ vào nghiên cứu giúp bản thân em và những người quan tâm có cái nhìn đầy đủ, hệ thống hơn về vai trò của việc hoá giải và vượt qua ngụy biện nhằm đưa tư duy khoa học tiến lên không ngừng
Trang 82 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề tư duy và tư duy khoa học của con người luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà triết học và lôgic học Đối với các nhà nghiên cứu mácxít “tư duy”, “tư duy khoa học” thường nổi lên là vấn đề có tính thời sự, hiện đại mà việc triển khai nó quyết định đến việc phát triển lôgic học biện chứng mácxít, tới sự hội nhập của dòng tư tưởng mác xít vào thế giới đương đại Tuy nhiên, những công trình chuyên nghiên cứu về tư duy thường rất ít
và chủ yếu là do các nhà lôgic học tiến hành Có thể kể ra đây các tác phẩm của các nhà triết học Liên Xô đã được dịch sang tiếng Việt như hai tác phẩm
của M.M Rôdentan: Những vấn đề về phép biện chứng trong bộ Tư bản của
C Mác [45]; Nguyên lý của lôgíc học biện chứng [46] và được xuất bản từ
đầu những năm 60 thế kỷ trước Tác giả đã khảo sát bản chất của quá trình tư duy và các quy luật của nó, một số chương trong các cuốn sách nêu trên đã được dành riêng để nghiên cứu khá chi tiết các quy luật biện chứng tác động
trong tư duy và vấn đề mâu thuẫn biện chứng trong Tư bản [36] của C Mác
E.V Ilencov là tác giả đã dành sự quan tâm đặc biệt và có công lớn trong
việc triển khai khái niệm “tư duy” Trong cuốn Lôgíc học biện chứng [26],
ông đã trình bày hệ vấn đề lôgíc biện chứng, khảo sát lịch sử phát triển các quan niệm về đối tượng của khoa học lôgíc trong suốt tiến trình tư tưởng thông qua những nhà triết học tiêu biểu Vấn đề “tư duy” được ông khảo sát
kỹ trong Bút ký 8: “Cách hiểu duy vật về tư duy” như là đối tượng của khoa học lôgíc, như là cơ sở để tiếp cận các vấn đề khác của lôgíc học; bút ký 10
“Lôgic của “Tư bản” và 13 “Mâu thuẫn như là phạm trù của lôgic học biện chứng” đề cập trực tiếp đến những quy luật lôgíc, nhất là quy luật mâu thuẫn,
sự phê phán cách hiểu hình thức, siêu hình về nguồn gốc và sự tác động của các quy luật này trong tư duy
A.P Septulin trong cuốn Phương pháp nhận thức biện chứng [47] cũng
đã đề cập đến các nguyên tắc của tư duy biện chứng, các quy luật biện chứng
Trang 9của tư duy và việc áp dụng phương pháp được khái quát từ lịch sử các khoa học vào nghiên cứu tư duy
Bộ sách Lịch sử phép biện chứng [72] của Viện Hàn lâm Khoa học Liên
Xô gồm 6 tập do tập thể các cán bộ Viện Triết học dịch và xuất bản những năm cuối thế kỷ XX cũng là nguồn tài liệu quan trọng nghiên cứu hệ vấn đề
“tư duy” Nói riêng, Bachisev trong cuốn Lịch sử phép biện chứng mác-xít ở
chương 5 “Vấn đề mâu thuẫn biện chứng” [72; 217-245], đã tiến hành phân biệt antinomie với mâu thuẫn, mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng, coi
đó là dấu hiệu quan trọng để phân biệt các loại hình tư duy với nhau
Một số tác giả Việt Nam đã bàn khá sâu về những vấn đề của tư duy, đối tượng của lôgíc học Trước hết phải kể đến các nhà lôgíc học lớp trước như
Tô Duy Hợp [xem: 21 – 23], Bùi Thanh Quất [xem: 43], Vũ Văn Viên [xem:
68 – 71], rồi đến các cán bộ đang nghiên cứu và giảng dạy hiện nay như Nguyễn Ngọc Hà [xem: 14 - 16], Phạm Thái Việt [xem: 74], Nguyễn Anh Tuấn [xem: 58 - 65], Nguyễn Thuý Vân [xem: 66 và 67], Nguyễn Gia Thơ [xem: 51, 52], Lê Hữu Nghĩa – Phạm Duy Hải [xem: 38], Trong các công trình, bài viết đã nêu các tác giả đều đã cụ thể hoá, chính xác hoá cách hiểu mácxít về tư duy, phân biệt các loại hình tư duy và chỉ ra đặc thù của các khoa học về chúng Chúng tôi coi những công trình của họ là điểm tựa về mặt lý luận và phương pháp luận để triển khai nghiên cứu đề tài này
Hơn thế nữa trong các công trình đó có các tác giả bằng những cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau đã góp phần chính xác hóa thêm các khái niệm, thuật ngữ, quy luật của lôgic học Có thể kể ra đây một số tác giả tiêu biểu như: Vũ Văn Viên (2006), “Tư duy lôgic – bộ phận hợp thành của tư duy
khoa học" [xem: 71], Lê Hữu Nghĩa – Phạm Duy Hải (1998), Tư duy khoa
học trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ [xem 38] Nguyễn Ngọc
Long (1988), “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy” [35]
Trang 10Ngoài những công trình chuyên biệt nghiên cứu về tư duy, tư duy khoa học còn có những công trình khác của các tác giả Trung Quốc nghiên cứu chuyên sâu hơn về ngụy biện, thuật ngụy biện Có thể kể đến:
Nhà triết học Hồ Thích trong tác phẩm Lôgic học tiên Tần [50] đã
phân tích sâu sắc về nguỵ biện của Huệ Thi, Công Tôn Long ở Trung Hoa cổ
đại Hồ Vệ Hồng trong cuốn Những cuộc đối thoại tinh tế phương Tây và lời
bình (2004) [19] đã sưu tầm một loạt những câu chuyện đối đáp của người
phương Tây và lời bình của tác giả đã giúp cho người đọc thấy được sự khôn khéo trong cách lập luận để giành chiến thắng Triệu Truyền Đống trong công
trình Phương pháp biện luận, thuật hùng biện (2002), [xem 10] đã hệ thống
hóa những cách thức, chiến thuật và mưu mẹo giành chiến thắng trong tranh luận, trong đó có đưa ra các ví dụ cụ thể minh họa cho việc phản bác ngụy biện và chỉ ra những sai lầm trong cách lập luận đó
Nhóm các tác giả nghiên cứu vấn đề này trong khuôn khổ ngôn ngữ
học và lôgic học chủ yếu gồm có Nguyễn Đức Dân trong giáo trình Nhập môn
lôgic hình thức và lôgic phi hình thức (2005) [9], và tác giả Phạm Đình
Nghiệm trong cuốn sách chuyên khảo Nhập môn lôgic học (2005) [42],… đều
đã phân tích một số trường hợp ngụy biện, đặc biệt chỉ ra khá chi tiết phương pháp bác bỏ ngụy biện, từ đó các tác giả đã khái quát một số kiểu ngụy biện thường gặp trong khoa học, trong sinh hoạt đời thường của con người
Một số tác giả đề cập đến vấn đề mà luận văn quan tâm chủ yếu thông
qua phương pháp hùng biện Trương Ái Châu trong tác phẩm Thi hùng biện,
phép biện luận, [2]; Nguyễn Trường Giang trong cuốn sách thường thức Lôgic trong tranh luận (2000), [13]; Liên Chí Trung trong Phương pháp hùng biện (2000) [56],… cũng đều đã nghiên cứu khá kỹ các thủ thuật giành chiến
thắng trong tranh luận, qua đó chỉ ra một số lỗi thường mắc trong tranh luận
Có thể thấy vấn đề ngụy biện đã được nhiều tác giả quan tâm, tìm hiểu Song, do mục đích khác nhau mà mỗi tác giả có một hướng tiếp cận riêng
Trang 11Hầu hết các tác giả chưa tiến hành hệ thống hóa, khái quát hóa về mặt lý luận vấn đề này trên cơ sở cách hiểu về tư duy, tư duy lôgíc và tư duy khoa học Mặt khác, sự vận động, phát triển của tự nhiên – xã hội và tư duy ngày càng diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi phải vạch chỉ ra được các lỗi ngụy biện trong nhận thức khoa học, trong tranh luận, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhận thức con người nói chung
Những nghiên cứu trên đã ít nhiều ở khía cạnh này hay khác đề cập đến vấn đề chúng tôi quan tâm, và do đó sẽ là những gợi ý quan trọng cho chúng tôi đi sâu triển khai đề tài đã chọn một cách hệ thống hơn Bên cạnh đó những kết quả đã đạt của những người đi trước sẽ được chúng tôi chọn lọc, thu lượm
để trình bày khái quát hơn vấn đề ngụy biện, từ đó chỉ ra vai trò của nó trong
sự phát triển của tư duy khoa học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ khái niệm luận chứng, vị trí của nguỵ biện và tư duy khoa học trong kết cấu của nó, luận văn khảo sát lịch sử, phân tích nội dung ngụy biện ở phương Tây, và vai trò của chúng trong sự phát triển của tư duy khoa học
- Nghiên cứu phân nhóm các loại hình ngụy biện cơ bản và vai trò của
nó trong sự phát triển của tư duy khoa học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ngụy biện và vai trò của ngụy biện trong sự
phát triển của tư duy khoa học
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu: Các loại ngụy biện tiêu biểu thường gặp đã được
nêu trong sử sách từ thời cổ đại ở Phương Tây đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên các nguyên lý phát triển và liên hệ phổ biến, quan điểm mác xít về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về lôgic của tư duy
- Luận văn sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, thống nhất lịch sử - lôgic trên tinh thần kết hợp lý luận - thực tiễn
6 Đóng góp của luận văn
- Về cơ bản chỉ ra được bản chất của nguỵ biện trong lịch sử hình thành phép luận chứng và mối liên hệ của nó với tư duy khoa học
- Bước đầu hệ thống hóa các loại ngụy biện trong đời sống, vai trò của chúng trong phát triển tư duy khoa học và học tập lôgic học
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn xem xét những vấn đề căn bản của tri thức
lôgic học: tư duy nói chung và ngụy biện nói riêng trong qua trình luận chứng, những quy luật và vai trò của nó, việc hiểu rõ những vấn đề này là cơ
sở và sự gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo trong lôgic học
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục
vụ nghiên cứu, học tập môn lịch sử triết học và lôgic học
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết
Trang 13CHƯƠNG 1 NGỤY BIỆN - MỘT HÌNH THỨC
LỊCH SỬ CỦA LUẬN CHỨNG
1.1 Vài nét về luận chứng
Trong cuộc sống và hoạt động hàng ngày từ người dân bình thường đến các chính khách, nhà khoa học luôn phải đưa ra ý kiến, bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề nhất định Đưa ra ý kiến hay nêu quan điểm là một việc không mấy khó khăn, mà cái chính là phải biết bảo vệ nó, giữ vững niềm tin của mình, thuyết phục người khác tính đúng đắn và hợp pháp của nó Nhưng
để làm được điều đó một cách đầy đủ thì những ý kiến, quan điểm của mình phải có cơ sở, rồi từ cơ sở đó chúng ta phải biết dùng lý lẽ để luận chứng cho mọi điều hệ quả được rút ra
Theo nghĩa rộng nhất luận chứng là nghệ thuật đưa ra các nguyên cớ và
luận cứ, chứng minh và bác bẻ, tìm kiếm những cơ sở chắc chắn cho việc đánh giá, đưa ra các quyết định tin cậy Giá như mọi người đều rõ mọi chuyện, tất cả đều hiểu nhau từ nửa lời và chia xẻ được các mong muốn, lợi ích và quan niệm của mình về cuộc sống, thì đã không cần đến các nỗ lực thực hiện luận chứng Sự rõ ràng minh bạch về thực chất của các tình huống đời sống, về tính đúng đắn của các quyết định và hành động không phải bỗng dưng tự thân đến, mà có thể, nảy sinh bất ngờ, hay là kết quả quá trình lâu dài suy nghĩ và luận đoán, hơn nữa thường là suy nghĩ cùng nhau của nhiều người Thường sự thông hiểu rõ ràng diễn ra chính vào khi con người chia sẻ vấn đề của mình với ai đó, bổ sung cho nhau, loại trừ khiếm khuyết của nhau, bởi vì người đối thoại của ta nhìn mọi thứ theo cách của mình, thường không hiểu, phản đối ta Muốn hay không ta cũng phải kiên nhẫn lựa chọn ngôn từ
và bằng chứng để giải thích, luận giải, làm cho thông hiểu và, có thể tiếp thu ý kiến của ta, tức là, ta đã thuyết phục được họ Nhưng để làm việc đó có hiệu quả nhất cần phải có những phương pháp phù hợp với từng loại quan điểm
Trang 14được đưa ra, với hoàn cảnh cụ thể Trong khoa học và lôgíc học từ lâu đã dần dần hình thành một bộ môn nghiên cứu về những cách thức và phương pháp như thế có tên gọi là lý thuyết luận chứng, và nó còn thường được gọi là
phương pháp luận thuyết phục
Thuyết phục không phải là sự gán ép bằng bạo lực ý chí của mình cho người khác Trong tu từ học và lý thuyết luận chứng cổ điển thuyết phục mang nghĩa duy lý – nó là kết quả thảo luận các nguyên cớ trí tuệ, là thành tựu thông hiểu lẫn nhau và sự đồng thuận quan điểm về vấn đề cùng quan tâm Quá trình đạt tới đồng thuận các ý kiến và hình thành sự chịu thuyết phục về tính chân thực của quyết định giải quyết các tình huống xung đột bằng con đường hoà bình, nhân văn Văn hóa tiến hành luận chứng và tư duy phê phán được kỳ vọng giữ vai trò kiến tạo hoà bình trong sự hình thành cộng đồng toàn thế giới các dân tộc và các nền văn hóa, ở đó tất cả gắn kết và phụ thuộc lẫn nhau Luận chứng, do vậy, là hoạt động rộng hơn đáng kể so với những gì chúng ta vẫn hiểu trong lôgíc học Nói cách khác, lôgíc học với tư duy là đối tượng nghiên cứu chung nhất, mới là một bộ phận quan trọng nhờ
đó xây dựng nên lý thuyết luận chứng, chứ tuyệt nhiên chưa phải là tất cả
Tìm hiểu kỹ hơn có thể thấy, lý thuyết luận chứng, tuy ở phần lôgíc dựa trên các học thuyết lôgíc truyền thống và hiện đại, nhưng vẫn có đối tượng và những nhiệm vụ riêng biệt Mục đích cơ bản của lý thuyết luận chứng là
nghiên cứu các thủ thuật và hình thức suy đoán có cơ sở Điều này đòi hỏi
giải quyết các nhiệm vụ kiến tạo cơ sở khá rộng: đưa ra các luận điểm có cơ
sở hay các giả thuyết, những câu trả lời được luận chứng cho các câu hỏi, tìm kiếm các cơ sở cho hành vi có mục đích và sự đánh giá giá trị, kiến tạo cơ sở cho các tiêu chuẩn lựa chọn các quyết định trái chiều, tính có cơ sở và tính được chứng minh của các lập luận Lý thuyết luận chứng xem xét một cách khoa học khá nhiều các văn cảnh và các tình huống ngôn từ sống động, được gọi là các tranh tụng vốn không được hình thức hoá hết bằng các phương tiện
Trang 15lôgíc học Đó là những lập luận triết học, luật học, xã hội học, sử học và của các bộ môn khoa học nhân văn khác, đó còn là những suy đoán thường ngày
Yêu cầu về tính gắn kết và có tổ chức của các tư tưởng là rất cần được thoả mãn, và đó là nhiệm vụ mà môn lôgíc học giúp giải quyết, nhưng không hẳn bắt buộc; còn trong các tình huống sáng tạo yêu cầu đó đơn giản là bất khả thi Là bộ môn phương pháp luận, luận chứng chưa có được sự chặt chẽ như toán học hay lôgíc học: không phải mọi dạng kiến tạo cơ sở đều mang tính lôgíc và cũng không thể gọi mọi thủ pháp luận chứng là chứng minh Ngoài thành tố lôgíc trong luận chứng còn có các thành tố tu từ học, nhận thức luận, tâm lý học, đạo đức học, giá trị học Nhưng trong nghiên cứu và luận chứng khoa học yếu tố lôgíc phải giữ vai trò then chốt hàng đầu, vì thế cần rèn luyện và phát triển tư duy lôgíc-khoa học
Mục đích của việc học luận chứng là tiếp thu và rèn luyện thói quen tư duy nghiên cứu dựa trên sự quan sát, tính chứng minh, trí tưởng sáng tạo và đối thoại Luận chứng như là thủ pháp nêu giả thuyết, kiến tạo cơ sở của nó và
sự thảo luận chung có phê phán, gắn liền với nghiên cứu Nghiên cứu đòi hỏi đặt vấn đề, các mục đích, lựa chọn các định hướng giá trị, phân tích và xây dựng các kịch bản dự báo Tất cả đều đòi hỏi kiến tạo cơ sở phù hợp với cá nhân cụ thể Đến lượt mình cũng không thể thực hiện luận chứng mà thiếu nghiên cứu
Lý thuyết luận chứng là phương pháp luận thuyết phục có cơ sở Có thể
phát biểu nhiệm vụ cơ bản của nó dưới dạng câu hỏi: “Làm thế nào để ý kiến của mình có cơ sở và thuyết phục người khác về điều đó?” Kiến tạo cơ sở và thuyết phục không chỉ là nguyên tắc nền tảng của luận chứng, mà còn làm cho
nó trở nên có tính chất hai mặt Một mặt, luận chứng cần phải dựa trên phương pháp luận lôgíc, bởi vì sự được chứng minh là điều kiện bắt buộc khi nêu ra và bảo vệ lập trường cả trong nghiên cứu khoa học, lẫn trong các cuộc tranh thảo công khai Mặt khác, luận chứng bao gồm cả các thành tố tu từ và
Trang 16tâm lý do tính chất giao tiếp của hành động chứng minh, tính định trước địa
chỉ của kiến tạo cơ sở cho người khác, cho giảng đường Trong các tình huống đời thường người luận chứng buộc phải sử dụng các quy luật lôgíc chặt chẽ, cũng như các hình tượng sắc nét, đầy cảm xúc
Thiếu luận chứng thì không thể có tranh luận, đàm phán, không có cả những cuộc trao đổi ý kiến thông thường nhất Những cuộc tranh thảo mang
tính luận chứng ở thời cổ đại đã được gọi là biện chứng pháp, mà thường vẫn
hiểu là nghệ thuật tương tác ngôn từ, trò chơi trí tuệ hỏi đáp Cách hiểu như
thế về biện chứng pháp khác với sự cải vã thô thiển (khẩu chiến) Cãi nhau
nảy sinh do xung đột các ý kiến và thường diễn ra như trò chơi không quy tắc, khi các bên cãi nhau trong trạng thái tức giận không thể đi đến điều gì tích cực Ngược lại, biện chứng pháp giả định với tư cách là điều kiện tất yếu những chuỗi, nối kết lôgíc mang lại cho tư tưởng sự gắn bó và tính tổ chức Quá trình biện chứng pháp hướng đến tìm kiếm tri thức hay đạt được thoả thuận Nhưng việc khám phá cái chưa biết và đạt được thoả thuận không là công việc dễ dàng Công nghệ tranh thảo hiện đại đều tránh các thái cực của cãi vã thiếu nền tảng và tính hình thức của các thủ thuật, các phương pháp tích cực hoá trực giác trong chúng kết hợp với tư duy nghiêm cẩn, phê phán
Biện chứng pháp cổ đại không chỉ là trò chơi trí tuệ hỏi đáp Arixtot, người đã cống hiến nhiều cho sự hình thành lôgíc học như bộ môn khoa học, cũng được coi là nhà sáng lập cả lý thuyết luận chứng Ông còn thêm cho biện chứng một nghĩa nữa: là nghệ thuật lập luận đúng (hoặc xác suất-biện chứng), tức là những lập luận tương hợp với ý kiến đã được thừa nhận chung (ý kiến
số đông, nhóm xã hội…) Tranh luận thực sự là dạng lập luận như thế: vì nếu tất cả đều rõ, thì đã không còn gì để tranh thảo nữa
Các khái niệm chứng minh, luận chứng và kiến tạo cơ sở là nền tảng
đối với khía cạnh lôgíc của luận chứng
Chứng minh ở nghĩa chặt chẽ khá khác với luận chứng Chứng minh ở
Trang 17theo kiểu các phương pháp toán học Chứng minh (chính xác hơn là chứng minh hình thức) trong lôgíc học là quá trình (phương pháp) xác lập chân lý, kiến tạo cơ sở cho tính chân thực của phán đoán Chứng minh hình thức là các chuỗi suy luận được xây dựng theo các quy tắc chặt chẽ đảm bảo tính chân thực của kết luận từ tính chân thực của các tiền đề Phát biểu ngôn từ và nội dung của các tiền đề và kết luận đều đã được biết trước Tuỳ thuộc vào kiểu
hệ thống hình thức (nối kết lôgíc) được lựa chọn mà khái niệm chứng minh sẽ
có định nghĩa và sự chính xác hoá phù hợp
Lý thuyết luận chứng sử dụng khái niệm chứng minh ở nghĩa rộng, theo đó các thuật ngữ “chứng minh’ và “luận chứng” là đồng nghĩa Theo nghĩa rộng chứng minh thường được hiểu là tất cả những gì thuyết phục được tính chân thực của điều gì đó, bao gồm (nhưng không nhất thiết) cả những hệ thống suy luận có ý nghĩa một cách trực giác từ các tiền đề (luận cứ) Trong
Bách khoa thư triết học mới (Nga) có định nghĩa như sau: “Luận chứng là
nghệ thuật tạo cơ sở cho hành vi hay tư tưởng nào đó (kiến tạo cơ sở của chúng), là phương thức thuyết phục người khác nhờ các luận cứ có ý nghĩa nhằm công khai bảo vệ chúng, khơi gợi ý kiến xác định về chúng, công nhận hoặc giải thích chúng” [74, t.1, tr 162]
Luận chứng luôn mang tính đối thoại và vượt khỏi khuôn khổ chứng minh hình thức, mà về thực chất vốn là phi nhân cách và mang tính độc thoại Luận chứng cuốn vào mình không chỉ kỹ thuật tư duy (nghệ thuật tổ chức lôgíc cho tư duy), mà còn kỹ thuật thuyết phục (nghệ thuật làm đồng thuận các tư tưởng, tình cảm và ý chí những người đối thoại)
Những khía cạnh cơ bản của luận chứng là dữ kiện (thông tin về các dữ kiện được dùng với tư cách các luận cứ), tu từ (các hình thức và phong cách tác động ngôn từ và cảm xúc), đánh giá (sự lựa chọn mang tính giá trị các luận cứ), đạo đức (tính chấp nhận được về mặt đạo lý hay tính cho phép được của các luận cứ), lôgíc (tính nhất quán và tính phi mâu thuẫn của các luận cứ,
Trang 18sự tổ chức chúng thành suy luận chấp nhận được về mặt lôgíc, tính nối kết hệ
thống), thẩm mỹ (nghệ thuật đối thoại như cuộc chơi trí tuệ, thẩm mỹ giao
tiếp, sở thích nghệ thuật trong các trò chơi sáng tạo)
Kiến tạo cơ sở là khái niệm then chốt của lý thuyết luận chứng đã được
sinh ra trong lòng sâu triết học Tất cả tập hợp các giả thuyết và luận cứ triết học về các cơ sở của tồn tại và nhận thức đều khởi nguồn từ vấn đề kiến tạo
cơ sở Kiến tạo cơ sở đòi hỏi sự hiện hữu các bước phê phán theo diễn trình suy tư về bản chất của đối tượng được thảo luận Nhưng tư duy phê phán trong các hành vi kiến tạo cơ sở không nhất thiết dẫn đến mức chứng minh chặt chẽ Kiến tạo cơ sở bao gồm hai khía cạnh: nội dung hay khía cạnh chứng minh, và khía cạnh giao tiếp, hay thuyết phục Ở khía cạnh lôgíc kiến tạo cơ sở yếu hơn chứng minh Cùng với các kiểu kiến tạo cơ sở một cách duy
lý, lý thuyết luận chứng hiện đại còn cho phép cả việc viện dẫn đến kinh nghiệm cá nhân và các hiện tượng tự ý thức Kinh nghiệm cá nhân cùng với các thành tựu, các sai lầm, bài học của nó, đối với con người là tiêu chuẩn tự nhiên, gần gũi, đáng tin cậy và thuyết phục hơn cả
Tóm lại, bản chất của luận chứng ngay từ đầu đã mang tính hai mặt Mặt nội dung-khách quan là ở tính được chứng minh, mặt giao tiếp-chủ quan
- ở tính thuyết phục Tính được chứng minh trong khoa học (trong khuôn khổ một hệ chuẩn, một trường phái khoa học) trùng với tính thuyết phục, mà trong trường hợp này thoả mãn tính rõ ràng Các nhà triết học nghiên cứu các luận chứng, trong đó có những tương quan khác nhau giữa tính được chứng minh
và tính thuyết phục Nếu luận chứng hay chứng minh ở nghĩa rộng (trả lời câu hỏi “vì sao?”) đòi hỏi phải có các luận cứ, thì đối với kiến tạo cơ sở (trả lời câu hỏi “trên cơ sở nào?”) sự viện dẫn vào tình hình sự việc trong hiện thực, vào truyền thống, vào quy định xã hội, trải nghiệm bản thân… cũng đã là đủ Đối với các tranh luận duy lý yêu cầu về tính có cơ sở và tính được chứng minh của các phán đoán và đánh giá là bắt buộc Và đây cũng là yêu cầu nhất
Trang 19thiết của tư duy khoa học đã được chú ý ngay từ khi con người bắt đầu suy tư
về thế giới xung quanh, về bản thân mình
Thật vậy, nghệ thuật luận chứng xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ I TCN và gắn liền với sự phát triển của tư duy lôgíc Nghi lễ tổ chức lên cuộc sống của các cộng đồng cổ truyền, vì thế thuyết phục trước hết là ở hành vi, chứ không phải ngôn từ chứng minh Nhu cầu về nghệ thuật đảm bảo tính thuyết phục của lời nói bắt đầu rõ rệt cùng với sự phát triển của các nền văn minh lớn Mối quan tâm tới lập luận chính như tới quá trình và sự ngạc nhiên trước các khả năng khám phá chân lý bằng phương thức đó đã xuất hiện ở khắp các khu vực văn minh cổ đại (Ai Cập, Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp…) Ở
Ai Cập tu từ học được đưa vào giáo dục chung Tính đúng đắn của lời nói, sự nối kết, tính nhất quán và tính được chứng minh của nó lần đầu tiên được
Đêmôcrit gọi là tính lôgíc
Từ “lôgíc” ở cách dùng hiện nay có nhiều nghĩa Thường chúng ta hay dùng ở ba nghĩa sau:
1) Chỉ mối liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu giữa các đối tượng của hiện thực khách quan; và khi đó ta nói về lôgíc của các sự kiện, lôgíc của các quan hệ kinh tế hay lôgíc của đấu tranh chính trị…
2) Chỉ mối liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu giữa các ý nghĩ, tư tưởng (các khái niệm), nhờ đó nhận thức được bản chất các sự vật và chân lý,
và khi đó là nói về lôgíc của nhận thức
3) Chỉ sự chứng minh hoặc bác bẻ Việc vạch thảo các hình thức chứng minh chặt chẽ là một trong những nhiệm vụ cơ bản của lôgíc học hình thức
Cả những người theo trường phái Pitago, người Trung Hoa, Ấn Độ cổ đại đều đã chú ý đến tính lôgíc như là mối liên hệ giữa các khái niệm Tư tưởng về tính lôgíc như là mối liên hệ giữa các phán đoán trong chứng minh
đã đưa Arixtot đến phát minh ra lý thuyết lôgíc đầu tiên – tam đoạn luận Một trong những nhiệm vụ của nó là giải mã bí ẩn của trò chơi trí tuệ thời thượng
Trang 20Theo Arixtot, chính Dênôn là người phát minh ra phép biện chứng
Ông đưa ra một số bài toán khó – các aporia, mà thời nay vẫn đang còn là đối
tượng bàn thảo Xocrat và Platon là những nhà biện chứng tinh xảo Biện chứng hỏi và đáp cần phải phục vụ một mục đích – làm rõ thực chất vấn đề, trợ giúp tìm kiếm chân lý Arixtot đã làm phép biện chứng thành bộ môn lôgíc tuân thủ những quy tắc và thủ pháp xác định “Topic” (Nghệ thuật tranh luận) của ông là một trong số các tác phẩm cơ bản về phép biện chứng
Sự yêu thích chu du trí tuệ và các cuộc trò chuyện triết học ở những người Hy Lạp cổ đại đi kèm với khát khao tự hoàn thiện Như vậy, lôgíc học
và phép biện chứng đã gắn bó chặt chẽ với những quan niệm về đạo đức Ở thời cổ đại thuần khiết khoa học đạo đức xuất hiện như là sự nghiên cứu các phẩm chất người khác nhau Các phẩm chất đó không chỉ mang tính đạo đức theo cách hiểu ngày nay, mà còn bao gồm cả những tư chất xã hội, chiến binh
và trí tuệ Và mặc dù thời cổ đại hậu kỳ đề cao ý nghĩa của đức tính hợp tác, thì sức nặng của các từ then chốt như đức hạnh, phẩm chất, hào hiệp, khảng khái, dũng cảm, kiên cường… là ở chỗ, chúng chỉ ra tính ưu trội xã hội Con người phẩm hạnh theo nghĩa đen là kẻ thực hiện trên vũ đài đời sống xã hội Xixeron diễn đạt ngắn gọn thực chất của những khao khát, khi định nghĩa đức hạnh như là bản chất được đấy đến sự hoàn thiện Từ đó trong quan niệm của dân chúng Athen cả lôgíc học, lẫn phép biện chứng đều dành để nghiên cứu
ưu thế trong các lập luận, tìm kiếm chân lý
1.2 Ngụy biện ở Hy Lạp cổ đại
Hoạt động và thực tiễn của các nhà ngụy biện đã ảnh hưởng rất lớn đến
sự phát triển của nghệ thuật luận chứng Các nhà ngụy biện Hy Lạp cổ đại là những bậc thầy đầu tiên về nói lời thuyết phục Họ là người đưa vào khái niệm luận cứ, xây dựng thủ thuật bác bẻ bằng cách dẫn dụ đến điều phi lý, bác
bẻ bằng cách rút ra những hệ quả phản diện mâu thuẫn, đưa vào các luận cứ liên quan đến con người, sở thích Dựa trên thực tiễn tranh cãi đối thoại, các
Trang 21nhà nguỵ biện đã biến kỹ thuật tranh cãi thành đối tượng dạy học, giới thiệu
nó như là nghệ thuật “khéo léo dùng ngôn từ” Họ ra sức phát triển khẩu chiến
– tranh cãi nhằm giành chiến thắng, khác với biện chứng có mục đích tìm kiếm tri thức và chân lý Trong tu từ học truyền thống khẩu chiến được đánh đồng với nguỵ biện Từ Platon đến Arixtot đã không phân biệt khẩu chiến với ngụy biện Nhiều nhà khoa học không tán đồng sự bất phân biệt đó Trong điều kiện có nhiều thế giới quan và bức tranh thế giới người ta buộc không phải ít lần chứng tỏ quyền bảo vệ lập trường và các lợi ích của mình và bằng cách đó đấu tranh đến kết cục thắng lợi Trong các tình huống cụ thể cùng những thủ thuật luận chứng khẩu chiến có thể là tốt đẹp, cũng có thể là không Thời nay đối thoại luận chiến tương ứng với khẩu chiến cổ đại Các nhà ngụy biện nghi ngờ việc đạt chân lý nhờ tranh cãi Đối với họ, mục đích của thảo luận là đánh bóng tên tuổi mình để thu được mối lợi thực tiễn Những cuộc ngao du khẩu chiến có tác dụng tích cực quan trọng là giáo dục tư duy độc lập
và những phẩm chất tráng sĩ của người tranh cãi
Các nhà ngụy biện nghiên cứu các thủ thuật khơi gợi tư duy và trí tưởng sáng tạo mà ngày nay ngành sư phạm đổi mới vẫn sử dụng tốt Lôgíc học như là tư duy trật tự từ trong truyền thống đã đối lập với ngụy biện khiêu khích, nhưng sự đối lập đó lại rất có hiệu quả cho sự phát triển các khía cạnh khác nhau của tư duy Giai đoạn đầy tai tiếng của các nhà ngụy biện đã làm gia tăng mối quan tâm đến mặt kỹ thuật của đối thoại và đến việc nghiên cứu các thủ thuật lập luận, mà về sau các nhà lôgíc học gọi là các sai lầm lôgíc -
ngộ biện (sai lầm không phải do cố ý) và ngụy biện (sai lầm cố ý) Arixtot đã
viết tác phẩm lôgíc “Về các bác bẻ nguỵ biện” chuyên vạch trần các phương thức lập luận của các nhà ngụy biện Hy Lạp cổ đại trước ông Như vậy, ngụy biện (Chữ Hy Lạp cổ σουιστική (τέχνη)) có các nghĩa: 1) Lập luận (suy luận, chứng minh) dựa trên sự vi phạm có chủ đích các quy luật và quy tắc lôgíc hình thức, trên việc sử dụng các chứng cứ và luận cứ giả dối (nhưng lại cứ
Trang 22tảng lờ coi là đúng); 2) là một trào lưu triết học ở Hy Lạp cổ đại Tuy nhiên, cũng phải phân biệt ngụy biện với “điều ngụy biện” (tiếng Hy Lạp – mánh khoé, mưu mẹo) vốn gắn với vấn đề “chứng minh giả tạo” và phần nào xuyên tạc nó, trong đó sự luận chứng kết luận gắn với các lỗi sai được che đậy khéo léo Trước hết luận văn khảo sát ngụy biện ở nghĩa thứ hai của từ
1.2.1 Sự ra đời của ngụy biện ở Hy Lạp cổ đại
Hệ vấn đề đầu tiên được người Hy Lạp cổ đại suy ngẫm, kể từ khi có triết học, là tự nhiên Vì thế thời kỳ đầu tiên của triết học Hy Lạp cổ đại (khoảng năm 600 – 450 TCN) được gọi là thời kỳ triết học tự nhiên Nhưng khoảng gần năm 450 TCN đồng thời với sự hình thành nền dân chủ Athen đã diễn ra sự thay đổi đối tượng của các suy tư triết học Sự thay đổi đó do cả các bối cảnh chính trị-xã hội, lẫn xung lực phát triển nội tại của triết học Hy Lạp
sơ kỳ, gây ra
Để hiểu các nhà ngụy biện, họ là ai, cần chú ý đến thành bang Hy Lạp cùng các thiết chế của nó Đến thế kỷ VI TCN xã hội Hy Lạp đã bước vào thời kỳ chiếm hữu nô lệ với nền kinh tế bao gồm nông nghiệp, thủ công nghiệp và giao thương buôn bán hàng hải đã tương đối phát triển Thành bang
Hy Lạp, như đã biết, không lớn về mặt dân cư cũng như về diện tích lãnh thổ Những điểm đặc biệt đó cùng với một số yếu tố khác tạo điều kiện vào thế kỷ V-IV TCN xuất hiện ở Athen nền dân chủ trực tiếp Tất cả mọi công dân Athen tự do (khoảng 40 nghìn người/300 nghìn dân) có quyền tham gia hội họp thành bang 15 – 20% số công dân đó giữ từ một đến vài chức vụ ở các hội đồng và uỷ ban khác nhau Do đó, có thể thấy nhiều công dân Athen đã tích cực tham gia hoạt động chính trị
Người Athen cho rằng, bản thân họ, dân chúng, đã có khả năng điều khiển mình Vì thế họ không có nhu cầu phải được đào tạo chuyên môn về chính trị Chính trị là bộ phận cấu thành đời sống thường nhật Nó liên quan đến từng người và là công việc của từng công dân Athen Dân chủ Athen
Trang 23không chỉ là hiện tượng mới, mà còn là minh chứng cho việc, dân chủ trực tiếp chỉ có thể được thực hiện trong những điều kiện xác định Sự vận hành của dân chủ Athen phần nhiều giống với sinh hoạt của gia đình đông con nhiều cháu, mà trong đó mối liên hệ giữa các thành viên với nhau mang tính chất bề ngoài và chỉ bao quát lĩnh vực hoạt động của nó
Còn tiếp theo đây là những nguyên nhân bên trong của sự biến đổi đối tượng các suy tư triết học Trước khi ngụy biện ra đời triết học đã có một thế
kỷ rưỡi truyền thống, trong đó tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Một số trong chúng mâu thuẫn với nhau, nhưng tất cả đều tranh giành ngôi soái chủ chân lý Có gì đó ở đây không ổn – đó là phản ứng rất tự nhiên của bất kỳ ai đứng trước tình hình đó Vì trong trường hợp tốt nhất thì cũng chỉ có một trong số các học thuyết đang tồn tại là chân thực mà thôi Nhiều nhà thông thái ở thời đó cũng nghĩ như vậy Những người nghiên cứu triết học dần trở thành các nhà hoài nghi chủ nghĩa, tức là trở nên nghi ngờ tính có cơ sở của bất kỳ quan điểm nào Không dưng sao lại có nhà triết học khẳng định rằng, khởi điểm đầu tiên là nước, người thứ hai cho là apeiron, kẻ thứ ba cho là lửa, người thứ tư cho là nguyên tử Một số nhà triết học dạy rằng, có một bản nguyên khởi đầu, số khác lại cho rằng, số lượng đó là vô hạn Trong trường hợp tốt nhất thì cũng chỉ có một trong số các khẳng định đó là đúng mà thôi Vậy thì những người còn lại sai ở chỗ nào?
Các luận điểm không tương thích nhau về cùng một vấn đề đều do tư duy mang lại Vì vậy, để hiểu vì sao và điều đó xảy ra như thế nào, thì cần phải biết xem thế nào là tư duy? Kết quả những suy tư như thế khiến cho tâm điểm chú ý triết học đã chuyển từ tự nhiên sang tư duy con người Vấn đề về các điều kiện thu nhận tri thức chân thực đã được đặt ra
Như vậy, là đã diễn ra bước chuyển từ những tư biện triết học tự nhiên cảm tính và thường được luận chứng rất yếu sang sự phê phán mang tính hoài nghi đối với tri thức và lý luận nhận thức, từ bản thể luận (học thuyết về tồn
Trang 24tại) sang tri thức luận (học thuyết về tri thức) Con người không chỉ đơn giản ngắm nhìn khách thể, mà sau đó còn phát biểu các ý kiến Con người trở thành vấn đề đối với chính mình Tư duy hướng về phía chính mình Con người bắt đầu phản tư, tức là nghiên cứu mình và tư duy của chính mình
Vào nửa sau thế kỷ V TCN đời sống tinh thần Hy Lạp trở nên sống động trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nền dân chủ chủ nô ở một
số thành bang khác nhau Điều đó trước hết diễn ra ở Athen, nơi mỗi công dân đều tự cảm nhận được nhu cầu về tri thức Sau đó sự quan tâm đó đã xâm nhập vào mọi ngõ ngách của xã hội Hy Lạp: tất cả đều muốn biết các kết quả
mà khoa học đã đạt được Nếu trước kia khoa học chỉ được biết đến trong các giới nhỏ hẹp, thì giờ đây nó hiện diện rộng khắp vào đời sống thực tiễn và xã hội Bằng những phát minh và sáng chế của mình nó thẩm thấu vào ý thức chung trước hết nhờ các tác phẩm văn học Đồng thời, đã xuất hiện cả những người lấy việc thông báo cho dân chúng các thành tựu của khoa học làm niềm đam mê, thậm chí khai sáng Đó là các nhà ngụy biện – những người thầy dạy thông thái được trả công
Nhưng trong số các nhà ngụy biện cũng nhanh chóng xuất hiện những người thông thái đặc biệt Chân lý khách quan không làm họ bận tâm Điều chủ yếu mà họ dạy dỗ là nghệ thuật chiến thắng đối thủ trong các cuộc tranh luận cãi vã, bởi vì việc biết nói và thuyết phục trong các cuộc họp nhân dân
và trong các phiên toà trở thành điều kiện tối cần của hoạt động hiệu quả Vì thế từ “ngụy biện” dần có ý nghĩa tranh biện kiện tụng Người ta trở nên hiểu nguỵ biện là việc biết chứng minh bằng mọi giá sự đúng đắn của mình, biết biến đen thành trắng, và trắng thành đen… Tuy nhiên, để xét xem trên thực tế
ai là nhà nguỵ biện như thế nào, cần phải lùi xa một chút khỏi cách hiểu do họ gán ép về trường phái triết học này để tái dựng lại nghĩa đích thực của nó
Nhà nguỵ biện là những dị nhân kiệt xuất dạy sự thông thái để lấy tiền, còn từ “nhà ngụy biện” có nghĩa là “nhà thông thái” Họ là những người
Trang 25truyền bá ánh sáng Hy Lạp Ngao du khắp đất nước, họ truyền cho các học trò những tin tức khoa học thuộc các lĩnh vực tri thức khác nhau, khơi dạy và nuôi dưỡng ở các học trò năng lực hoạt động khác nhau, tính thực tiễn, kỹ năng làm các công việc xã hội và nhà nước Ngoài ra họ còn dạy toán, vật lý, thiên văn, âm nhạc…
Người dân vui mừng tiếp đãi và trả công họ hậu hĩnh Các nhà ngụy biện giữ vai trò tích cực trong sự phát triển tinh thần Hy Lạp Họ là những nhà
lý luận tu từ học Họ cũng có công lao lớn trong lĩnh vực lôgíc hình thức Ngay khi vi phạm các quy luật của tư duy, họ vẫn thúc đẩy việc khám phá các quy luật lôgíc Trong triết học các nhà ngụy biện dành sự quan tâm cho vấn
đề con người và xã hội Trong nhận thức luận họ có chủ đích đặt vấn đề: tư duy con người có thể nhận thức thế giới hiện thực không?, tức là vấn đề về tính nhận thức được của thế giới Các nhà ngụy biện phủ nhận khả năng đó ở con người Họ cho rằng, thế giới khách quan là không thể nhận biết Do vậy,
họ là những nhà bất khả tri luận đầu tiên phủ nhận chân lý khách quan
Rất khó đánh giá học thuyết của các nhà ngụy biện, vì thực tế các tác phẩm của họ đều đã bị thất truyền Nhưng rất có thể là, một số nhà nguỵ biện
cố xây dựng một hệ thống chỉnh thể các tri thức, truyền nó lại cho các học trò Lấy nguyên tắc tương đối được quy định bởi việc lựa chọn hệ quy chiếu làm
cơ sở cho nhận thức, nhiều nhà nguỵ biện đã tự đóng khung học thuyết của mình bởi những lập trường nhận thức luận chủ quan Đối với họ con người trở thành thước đo của vạn vật Có thể nói về lớn bé so với tầm vóc của con người Có thể nói về nóng lạnh so với thân nhiệt con người Và cứ thế với mọi thứ còn lại Nhưng vì tất cả mọi người đều khác nhau và mỗi người cảm nhận thế giới theo cách của mình, cho nên tất yếu có nhiều ý kiến Và cái đối với một người này là tốt, với người khác lại có thể là xấu Và vì tất cả các ý kiến của con người đều đúng, cho nên cả những phán đoán mâu thuẫn, loại trừ nhau, cũng đều đúng cả Ở các bậc tiền bối trước họ tất cả đều khác, vì chính
Trang 26các quan điểm khách quan mới là hệ quy chiếu Và mặc dù các phán đoán về thế giới mang tính mâu thuẫn do trong nhiều trường hợp hiện thực được suy ngẫm đồng thời từ hai lập trường, thì mâu thuẫn đó vẫn mang tính khách quan Ví dụ, có thể coi ấm áp là thứ mâu thuẫn vì so với nóng bỏng thì nó là lạnh lẽo, còn so với lạnh thì nó lại là nóng rực
Học thuyết cho rằng, tất cả trong thế giới đều tương đối, là chủ nghĩa tương đối Trong nhận thức luận nó có nghĩa là, chân lý luôn tương đối và phụ thuộc vào các quan điểm được chọn lựa: vào các điều kiện, nơi và lúc, hoàn cảnh, vào con người Vì thế, những nhà ngụy biện khư khư lập trường tương đối luận chủ quan không phải không có cơ sở cho rằng, mỗi người đều
có chân lý của riêng mình Ai cảm nhận thế nào thì sẽ là như vậy trên thực tế Dần dà trong lĩnh vực đạo đức, chủ nghĩa tương đối của một số nhà ngụy biện vốn trình bày các chứng minh của mình dựa vào lừa dối, chuyển thành thuyết
hư vô đạo đức, bởi vì theo học thuyết của họ không thể có tiêu chuẩn khách quan của thiện và ác Cái gì đó với ai có lợi thì cái đó là tốt, là thiện
Trong các tác phẩm của mình Platon đã mỉa mai các nhà ngụy biện như những kẻ lừa dối và bịp bợm Chẳng hạn, ông dẫn ra chuyện một nhà nguỵ biện đã khôn khéo bắt nạt một người ngây thơ: nào hãy nói cho biết, nhà mày
có chó không? Có, và rất dữ Thế chó đó có đàn con không? Có chứ, và cũng rất dữ Và bố của chúng, dĩ nhiên, cũng là chó chứ? Tất nhiên, người bị hỏi trả lời Tiếp theo, rõ ra là, cả bố của bầy chó con cũng thuộc về người đó Kế tiếp là kết luận: “Có nghĩa, bố đó là của mày, suy ra, bố mày là chó và mày là anh em của bầy chó con”
Dễ thấy trong ví dụ trên sự ranh mãnh của các nhà ngụy biện định hướng rõ ràng việc lựa chọn vị thế Họ rất khéo léo, mặc dù quá tuỳ tiện di chuyển các quan hệ giữa một số sự vật này sang những sự vật khác, chuyển từ
vị trí quan sát này sang những vị trí khác
Trang 27Nếu ở thời kỳ tồn tại đầu tiên triết học hướng đến thu nhận tri thức khách quan về thế giới, thì với sự xuất hiện của các nhà ngụy biện triết học đã chuyển sang suy ngẫm về con người Có sự hiểu biết phong phú và nghệ thuật
ăn nói khéo léo, các nhà ngụy biện đã luận chứng cho những quan điểm bất thường nhất hoặc phủ nhận những chân lý tưởng chừng như vững chắc nhất Thông qua các nhà ngụy biện tư tưởng thế giới quan triết học Hy Lạp cổ đại
đã đóng vai trò mới, khi nêu ra chân lý chủ quan, mở ra hướng mới trong lý luận nhận thức Nơi nào xuất hiện các nhà ngụy biện, nơi đó chủ nghĩa giáo điều, sự hoài cổ về quá khứ bị đẩy lùi Nhưng khi phủ nhận sự tìm kiếm chân
lý khách quan, họ bằng cách đó lại xuyên tạc nhận thức nói chung Với năng lực tự thân sáng tạo không đáng kể các nhà nguỵ biện đã dồn hết sức lực của mình cho việc đại chúng hoá những tri thức đã biết
Các nhà nguỵ biện thường được chia ra thành các thế hệ tiền bối và hậu bối Lớp tiền bối gồm có Protago, Gorgia, Hippia, Prodika… Tất cả họ đều sống đồng thời với Dênon, Epidocl, Anacxago và Lơxip Nói vậy, nhưng học thuyết của các nhà nguỵ biện không thống nhất Các quan điểm của họ khác nhau thậm chí về những vấn đề cơ bản Luận văn sẽ giới thiệu một số nhà nguỵ biện Hy Lạp cổ đại điển hình nhất
1.2.2 Một số nhà ngụy biện Hy Lạp cổ đại
Protago (481-411 TCN - “Con người - thước đo của vạn vật”) là thầy
giáo chuyên dạy tu từ học và nghệ thuật tranh luận, một trong những người đầu tiên lấy tiền công dạy học Phần lớn các trước tác của ông đều đã thất truyền Theo những gì Platon và Xect-Empiricl ghi chép lại thì tư tưởng chủ đạo của Protago bao gồm, tính tương đối và tính linh động là thuộc tính cơ bản của vật chất Ở điểm này, rõ ràng Protago đã dựa trên phép biện chứng Heraclit, nhưng chỉ lấy từ đó phần chủ nghĩa tương đối “không gì là tự thân,
mà tất cả đều luôn nảy sinh gắn với cái gì đó” Nhìn chung học thuyết của Protago được hình thành trên cơ sở xử lý lại trên tinh thần tương đối chủ
Trang 28nghĩa các học thuyết của Đemocrit, Heraclit, Parmenit và Empidocl Về cơ bản Protago là nhà duy vật và dạy về sự linh động của vật chất và về tính tương đối của tất cả các tri giác và ông đã áp nguyên tắc này cho chủ thể nhận thức, khi tuyên bố: “con người là thước đo vạn vật” – đó là sự luận chứng bởi Protago chủ nghĩa tương đối và chủ quan của các nhà ngụy biện
Ngoài ra, còn có thêm một luận chứng nữa cho chủ nghĩa tương đối
Đó là: tất cả những gì tồn tại trong thế giới thường xuyên biến thành mặt đối lập với mình Điều đó có nghĩa, chẳng hạn như, trắng có thể thay đổi thành không phải màu như đã định, mà chỉ thành đen Nếu nói, chẳng hạn như về xám, thì sự chuyển sang đen hoặc trắng dù gì cũng được hiểu như là sự chuyển thành mặt đối lập Bởi lẽ, so với đen thì xám là quá trắng, còn so với trắng thì xám lại quá là đen Vì thế mọi sự vật chỉ có thể biến đổi thành cái khác của mình
Mặc dù Điogen Laetxki cho rằng, chính Protago là người “đầu tiên nói rằng, về từng sự vật có thể có hai ý kiến trái ngược nhau” Nhưng từ những nguyên tắc nêu trên có thể thấy không chỉ Protago, mà tất cả các nhà triết học trước ông đều kết luận tương tự Khi xem xét bất kỳ sự vật hay quá trình nào
so với hai mặt đối lập đều dễ dàng đi tới kết luận chính là như vậy Hêraclit
đã hành xử như thế khi khẳng định, “nước biển vừa sạch vừa bẩn: cá sống và uống nước đó, còn con người bị đầu độc và chết trong nước đó”
Khi tin vào khả năng hai ý kiến trái chiều nhau về một sự vật hay quá trình, Protago đã rút ra kết luận đúng, nhưng quá bạo liệt đối với lẽ phải thông thường: “tất cả đều chân thực” Đối với những người đương thời Protago khẳng định đó khá phổ biến Lại là chuyện khác việc thuyết phục mọi người tính đúng đắn của nó Nhưng đấy chính là công việc dạy dỗ của các nhà nguỵ biện Protago làm mê hồn mọi người bằng lời hiệu triệu đến với những ý kiến
và thói quen chung, bằng những ví dụ và trích thơ, bằng trình độ ngữ pháp ngôn từ điêu luyện
Trang 29Lại là việc khác đối với các nhà triết học hậu bối hơn Đặc biệt là đối với những người nghiên cứu các vấn đề lôgíc học Chính họ phê phán luận điểm “tất cả đều chân thực” của Protago Và không chỉ luận điểm đó Nhưng
ở đây chúng ta đã đi vào lĩnh vực các quy luật tư duy lôgíc hình thức, chứ không phải các quy luật của tồn tại Tồn tại có thể mâu thuẫn, bởi vì mọi trạng thái trung gian so với cái lớn thì sẽ là bé, còn so với cái bé thì sẽ là lớn Vì thế suy tư về tồn tại cần phải xác định và đơn nghĩa, mà điều đó chỉ có thể khi các bên tham gia tranh luận hay đối thoại phải ở cùng một lập trường nhận thức luận, có cùng một góc nhìn
Theo Platon, Protago đúng ở luận điểm về tính chủ quan của các cảm giác, nhưng lại sai khi khẳng định, tất cả chúng đều chân thực Tiêu chuẩn chân lý, theo Protago, như vậy, chỉ là cái có lợi Cái gì với ai đó có lợi, thì đó
là chân lý
Protago còn hướng chủ nghĩa tương đối và hoài nghi của mình chống lại mọi loại giáo điều, trong đó có cả giáo điều tôn giáo Tuy nhiên, kết cục Protago vẫn cho rằng, tin vào thần linh vẫn tốt hơn là không tin (kiểu có thờ
có thiêng, có kiêng có lành) Như một trào lưu triết học các nhà nguỵ biện đại diện cho một hiện tượng hoàn toàn không thuần nhất Điểm đặc trưng hơn cả, chung nhất cho toàn bộ nguỵ biện là luận điểm về tính tương đối của tất cả các khái niệm của con người, của tất cả các chuẩn mực và đánh giá đạo đức, được diễn đạt theo kiểu Protago “con người là thước đo vạn vật”
Ngược với Protago, Gorgia (483 – 373 TCN - “Tất cả đều giả dối?”)
lại cho rằng, tất cả đều giả dối Thầy dạy trực tiếp của ông là Empidocl Ông
là một diễn giả xuất sắc, biết thuyết phục, văn phong trào phúng, đưa đẩy có thể đánh gục mọi đối thủ Trong tác phẩm “Về tự nhiên hay Về không tồn tại” ông lập luận rằng, không-tồn tại không hiện diện, và nếu không hiện diện thì không nắm bắt được, không nắm bắt được thì không có gì để mà nói, mà không gì để nói thì cũng không lý giải được gì Và đúng là như vậy thật Vả
Trang 30lại, đây không chỉ nói về khái niệm không-tồn tại, mà mọi không phải-A đều không nắm bắt và không lý giải được Mà không phải-A đó rộng đến mức không thể diễn đạt nó bằng ngôn từ, bởi lẽ nó bao gồm toàn bộ sự đa dạng của thế giới chỉ loại trừ mỗi khái niệm A Còn nếu nói về không-tồn tại như khái niệm mâu thuẫn với khái niệm tồn tại, tức là về hư vô, thì diễn đạt nó bằng ngôn từ còn khó hơn nữa
Gorgia đi xa hơn Parmenit, khi chú ý đến phán đoán không-tồn tại tồn tại Phán đoán này khẳng định rằng, một cái gì đó cần phải vừa tồn tại vừa không tồn tại Và Gorgia kết luận, hoàn toàn vô lý một cái gì đó đồng thời vừa có vừa không Suy ra, luận đề không-tồn tại tồn tại là giả dối
Nhưng theo khẳng định của Gorgia cũng không thể chứng minh cả việc tồn tại tồn tại, mặc dù phán đoán đó đã không mâu thuẫn nữa Vì thế ông chứng minh tính giả dối của luận đề một cách gián tiếp bằng cách chỉ ra tính không thể giải được của những vấn đề gắn liền với tồn tại Nhưng khi đó hoá
ra là, không thể nói rằng, tồn tại tồn tại và không-tồn tại Từ đó Gorgia kết luận “không tồn tại gì cả” Như mọi nhà ngụy biện, Gorgia cũng là người theo thuyết tương đối Tuy nhiên, học thuyết của ông về tính tương đối và tính chủ quan của chân lý giao thoa với chủ nghĩa hoài nghi Trong hội thoại Gorgia thường làm nản lọng đối thủ bằng lối nói mỉa mai, bằng sự chuyển từ giọng điệu cười cợt sang nghiêm túc
Prodika như mọi nhà ngụy biện khác cũng truyền giảng sự thông thái,
kiếm sống bằng cách đó Prodika nghiên cứu ngôn ngữ Ông cho rằng, trước khi triết lý gì đó, thì cần học sử dụng các từ cho đúng xuất phát từ quan hệ này hay khác giữa các sự vật Chẳng hạn, Prodika nói rằng, đam mê nằm ở trung gian giữa khát vọng và cuồng nhiệt, bởi lẽ đam mê là khát vọng được nhân đôi, còn cuồng nhiệt là đam mê được nhân đôi Điều đó có nghĩa là, ông xuất phát từ việc thừa nhận một điểm trung gian, và khi đó khát vọng và cuồng nhiệt sẽ thể hiện như là các mặt đối lập, khác nghĩa-khác âm
Trang 31Prodika biết nhìn lên sự vật cả từ quan điểm, lập trường khác, chính xác hoá và phân biệt các sắc thái khác nhau của nó (ví dụ dũng cảm và can trường), theo mức độ gia tăng hoặc giảm sút cường độ thể hiện của thuộc tính này hay khác Là nói về đồng âm khác nghĩa, về sự suy tư về hiện thực từ lập trường tương quan, tức là từ các lập trường thái cực này hay khác Xocrat là học trò của Prodika, do thầy mình khác với các nhà ngụy biện khác đã đánh giá cao các nguyên tắc đạo đức, nghiên cứu sự đa dạng ý nghĩa các từ
Một nhà nguỵ biện thế hệ tiền bối cũng khá nổi tiếng là Hippia Trong
sự mô tả của Platon ông hiện ra như người tự tin, vô nguyên tắc và lắm lời, người đã huyênh hoang với Xocrat rằng, kiếm được khối tiền trong khoảng thời gian ngắn truyền giảng Nhưng cũng có chỗ Platon mô tả ông ở diện mạo khác như một nhà khoa học tự nhiên nghiêm cẩn có nhiều học trò vây quanh Hippia nghiên cứu thiên văn học, âm nhạc và hình học Nối tiếp các nhà nguỵ biện trên ông đã bước đầu hình thành yêu cầu của quy luật phi mâu thuẫn (nhưng bản thân lại vi phạm có chủ ý) Đó là, trong các suy luận, lập luận có khẳng định hoặc phủ định cái gì đó thì phải khẳng định và phủ định trong cùng một quan hệ và cùng một thời gian
Trong số các nhà ngụy biện hậu bối (cuối thế kỷ V - đầu thế kỷ IV
TCN) thì nổi tiếng và thú vị hơn cả là Kallikl Ông phân biệt tự nhiên với tập
quán Theo ông các luật định được thiết lập bởi những người yếu, mà họ thì chiếm số đông Liên quan đến triết học, ông cho rằng, nó thú vị đối với những
ai đã biết làm quen với nó từ thời trẻ, nhưng lại là kinh hãi đối với những người phản bội nó
Như vậy, các nhà ngụy biện trước hết là những người truyền bá khai sáng Hy Lạp Tuy nhiên, khi đánh mất niềm tin vào chân lý khách quan, phổ biến, được tất cả cùng thừa nhận, thì ngụy biện tất yếu rơi vào hoài nghi luận phủ nhận khả năng của mọi nhận thức Rốt cuộc là tất cả điều đó cùng dẫn đến sự rã đám của khoa học Điều đó là đặc biệt nguy hiểm trong lĩnh vực đạo
Trang 32đức, nơi mà chân lý chủ quan bị quyết định bởi các uy tín mỗi kẻ một ý đã dẫn đến ly tán trong lĩnh vực các quan hệ dân sự và đạo đức
1.2.3 Vai trò của các nhà ngụy biện trong xã hội Hy Lạp cổ đại
Ngoài bước ngoặt tri thức luận nêu trên dẫn đến sự ra đời và hoạt động của nguỵ biện, thì ở thời kỳ thế kỷ V – IV TCN còn có đặc điểm khác nữa gắn với việc triết học hướng đến con người và thể hiện ở việc đặt ra một cách rõ ràng các vấn đề đạo đức-chính trị Con người trở thành vấn đề cho chính mình
không chỉ ở tư cách kẻ tư duy, mà còn ở tư cách kẻ hành động
Cụm từ “đạo đức-chính trị” được viết qua dấu gạch ngang nhằm nhấn mạnh rằng, trong thành bang cổ đại, đã thành thông lệ là, đạo đức và chính trị rất gắn bó với nhau Sự chú ý đến các vấn đề đạo đức-chính trị liên quan đến những thay đổi chính trị trong xã hội Hy Lạp Nhờ sự di cư từ chính quốc và thành lập các thuộc địa, người Hy Lạp đã va chạm với các dân tộc khác vốn
có những tập tục và truyền thống khác
Con người hiện đại, khi biết về các tập tục hoàn toàn không thể chấp nhận được từ quan điểm của họ, hầu như đã không tiến hành tranh cãi đạo đức-chính trị với những chủ nhân của chúng Các nhà nghiên cứu và người du lịch khi gặp các văn hóa bất thường đối với mình cũng ít hỏi về tính có cơ sở của những tập tục và đạo đức riêng của mình Nhưng chính người Hy Lạp cổ đại là những người đầu tiên đặt ra những câu hỏi đớn đau như thế Điều đó đã chứng tỏ văn hóa của họ khác lạ đến mức nào Và thường thì phản ứng phổ biến hơn cả là người ta muốn tiêu diệt “những người ngoại bang theo các tập quán quái dị” và không giống chúng ta! Ít nhất cũng cần phải chế riễu những
kẻ xa lạ! Tuy nhiên, những người Hy Lạp ứng xử không tầm thường Họ đặt vấn đề, rất có thể chính họ sai, chứ còn những dân tộc khác không sai Và cái chính là họ bắt đầu thảo luận vấn đề đó theo cách rõ ràng và khách quan
Mặc dù sự giao tiếp với các dân tộc khác đã do các nguyên nhân chính trị gây ra, nhưng năng lực thảo luận một cách duy lý lại là di sản của truyền
Trang 33thống triết học một thế kỷ rưỡi trước đó Đến năm 450 TCN những người Hy Lạp đã học được cách thảo luận rõ ràng và nhất quán những vấn đề phức tạp
Như những nhà triết học Hy Lạp đầu tiên đã đặt câu hỏi về khởi điểm không đổi trong mọi biến đổi, về sự thống nhất trong đa dạng, thì các thế hệ
kế tiếp cũng suy tư về một đạo đức có ý nghĩa chung phổ quát và về một lý tưởng chính trị có ý nghĩa rộng lớn ẩn náu đằng sau sự đa dạng các phong tục
và tập quán Một cách hình thức chúng chỉ là một câu hỏi Tuy nhiên, câu trả lời lại rất khác nhau Một số cho rằng, chỉ có một đạo đức có ý nghĩa chung phổ quát và một lý tưởng chính trị Chúng được thiết lập bởi Chúa hoặc tự nhiên Số khác lại cho rằng, đạo đức do xã hội hoặc con người riêng biệt sinh
ra, và rằng, không có một đạo đức và một lý tưởng chính trị phổ quát và duy nhất đúng Đến cuối thời kỳ con người là trung tâm (khoảng năm 400 TCN) luận điểm, đạo đức và pháp quyền đều tương đối theo nghĩa là trong việc giải quyết các vấn đề gắn với chúng không hề có tiêu chuẩn khác ngoài ý kiến cá nhân của từng người riêng biệt, đã trở nên thông dụng Đạo đức và pháp quyền khác nhau đến mức như các suy đoán về mùi vị khác với âm thanh
Những người triệt để bảo vệ quan điểm đó chính là các nhà ngụy biện
Họ thường bị nguyền rủa, vì nhà cầm quyền cho rằng, quan điểm như thế có thể phá hoại những nền tảng của xã hội Trong bối cảnh đó các nhà ngụy biện
đã giữ vai trò gì trong xã hội Hy Lạp?
Trước hết cần phải nhấn mạnh rằng, những cuộc tranh thảo về đạo đức
và pháp luật do các nhà ngụy biện khởi xướng đã nhanh chóng làm lộ rõ nhiều vấn đề và các cách giải quyết chúng mà hiện nay con người hiện đại vẫn đang vướng phải Một trong các ví dụ là vấn đề luận chứng cho đạo đức
và pháp luật vốn có những luận điểm mang tính chất chuẩn mức, tức là thể hiện những quy định hay nghĩa vụ Trong việc luận chứng cho một chuẩn mực đạo đức (tức là một phán đoán chuẩn mực nào đó) theo cách diễn dịch, thì cần phải có với tư cách là xuất phát điểm phán đoán chuẩn mực theo nghĩa
Trang 34xác định ở cấp độ cao hơn Khi đó có thể luận chứng cho chuẩn mực đó, nhưng phán đoán chuẩn mực nền tảng vẫn chưa được luận chứng Khi cố luận chứng nó, thì chính tình huống đó vẫn lặp lại… cứ thế mãi Tất cả cứ giống như ta đuổi theo cái bóng của mình Trong mọi trường hợp chuẩn mực tối cao
mà ta cuối cùng phải dựa vào vẫn cứ là không được luận chứng Nói cách khác, luôn có thể đặt câu hỏi về tính được luận chứng của chuẩn mực xuất phát điểm Cần phải thấy rằng, điều này luôn xảy ra với mọi phương thức luận chứng diễn dịch, chứ không chỉ đối với những luận chứng gắn với việc kiến tạo cơ sở cho các chuẩn mực
Hơn thế nữa, các phán đoán liên quan đến đạo đức và pháp luật không thể được luận chứng nhờ tri giác và quan sát tương tự như làm thế nào để xác nhận các phán đoán mô tả và giải thích Phán đoán “cô A tóc vàng” chỉ có thể được luận chứng (được thừa nhận là chân thực) hoặc phủ chứng (chứng tỏ là giả dối) bằng cách đơn giản là nhìn vào đầu cô A đó Tuy nhiên, phán đoán
“cô A cần đi chợ” lại không thể luận chứng hoặc phủ chứng bằng cách quan sát bất kỳ cái gì Nói cách khác, cả cách tiếp cận của các khoa học hình thức (diễn dịch), lẫn tiếp cận của khoa học thực nghiệm (tri giác và quan sát) đều
là không đủ để thảo luận các chuẩn mực đạo đức-pháp luật và những vấn đề nảy sinh gắn liền với chúng Tuy nhiên, những ý đồ luận chứng các phán đoán chuẩn mực nhờ diễn dịch, tri giác và quan sát thất bại lại càng làm dễ hiểu hơn các luận điểm của nhiều nhà nguỵ biện rằng, đạo đức và pháp luật phụ thuộc vào các hoàn cảnh xã hội và cá nhân khác nhau, tức là tương đối
Các nhà nguỵ biện dạy học lấy tiền nên chỉ những người giàu mới có
cơ hội nghe họ giảng bài Nói theo ngôn ngữ bây giờ thì các nhà nguỵ biện đồng thời là thầy giáo, là nhà báo, là trí thức Họ phổ biến tri thức và văn hóa trong nhân dân, trước hết là cho những công dân tích cực hoạt động chính trị
có khả năng trả công cho họ Với tư cách là những nhà nghiên cứu họ quan tâm đến các vấn đề tri thức luận và đạo đức-chính trị Nhiều trong số các nhà
Trang 35nguỵ biện hậu bối nghiêng về phía chủ nghĩa hoài nghi trong các vấn đề tri thức luận (“chúng ta không thể biết bất kỳ cái gì xác định”) và về phía chủ nghĩa tương đối trong các vấn đề đạo đức-chính trị (“không có pháp quyền và đạo đức được công nhận phổ quát”) Nhiều nhà ngụy biện khẳng định rằng, cái gọi là pháp quyền và công bằng chỉ thể hiện cái mà truyền thống đã có hoặc do quy định ngẫu nhiên của nhà cầm quyền buộc phải chấp nhận một cách tuỳ tiện Không tồn tại thứ được gọi là pháp quyền Thứ mà chúng ta gọi
là pháp quyền, một cách hiện thực chỉ luôn phục vụ kẻ mạnh Sức mạnh tạo ra pháp quyền Cũng có thể nói rằng, “pháp luật” là thứ mà số đông những người yếu thế dùng để cố bảo vệ mình Một số nhà ngụy biện nói rằng, con người gọi “pháp luật có đạo đức” là thứ mà một cách dấu diếm biểu thị cái mà anh ta hướng đến Mà những người khác nhau thích những thứ khác nhau, nên
“đạo đức tốt” có thể được xác định theo cách khác nhau Suy ra không có đạo đức đúng đắn được tất cả công nhận Chỉ có những thiện cảm và phản cảm ích
kỷ khác nhau mà thôi
Tuy nhiên, không chỉ vì những phán đoán tương đối như thế mà các nhà nguỵ biện dần đánh mất sự kính trọng Công việc mà nhờ đó các nhà nguỵ biện nhận tiền công, là huấn luyện người ta luận chứng và dẫn dắt tranh luận Các nhà nguỵ biện dạy nghệ thuật luận chứng bảo vệ hoặc chống lại cùng một luận điểm, như các luật sư giàu kinh nghiệm thường làm Rồi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh một số học trò (thậm chí một người) của họ có thể quan tâm luận chứng một luận điểm cụ thể, còn số khác lại phủ chứng nó Mục đích của kỹ năng luận chứng lĩnh hội được ở các nhà ngụy biện là thắng cuộc tranh luận hoặc tranh tụng án xử, chứ tuyệt không phải là tìm kiếm câu trả lời đúng hay công bằng Vì thế các thủ thuật luận chứng mà các nhà ngụy biện truyền thụ cần phải thích ứng để đạt được mục đích đó Điều này giải thích vì sao họ thường dạy các mánh khoé và mưu mô có thể sử dụng được trong các cuộc tranh cãi, hơn là nghệ thuật luận chứng hợp lý Rốt cuộc họ biến thành
Trang 36những tay chơi chữ sành sỏi, tức là thành “nhà ngụy biện” ở nghĩa hiện đại của từ này
Bản thân thuật ngữ “nhà ngụy biện” bắt nguồn từ tên của nữ thần thông thái là Sophie Thông thái ở thời Hy Lạp cổ đại được hiểu không phải là có nhiều kiến thức, biết mọi thứ, mà biết lập luận, vậy nên các nhà ngụy biện mới được coi là những nhà thông thái Ngụy biện nghiên cứu cơ chế nói năng hùng hồn, thuyết phục Vả lại, nội dung câu nói, các tâm thế đạo đức của người thuyết trình là không quan trọng Người ta có thể sử dụng các thủ thuật nguỵ biện vào mọi mục đích, không đếm xỉa gì đến đạo đức Các nhà ngụy biện thường biết đè bẹp ý chí của người nghe Mỗi nhà ngụy biện lại xây dựng riêng một “công nghệ” nói năng của mình Nhiều nhà hoạt động chính trị Athen là học trò của các nhà ngụy biện
Cống hiến lịch sử của các nhà ngụy biện ở chỗ, họ là những người đầu tiên vạch thảo các thủ thuật lôgíc, ngôn ngữ và tâm lý trong việc thuyết phục
và kháng cự lại các tác động thuyết phục Họ có biệt tài không thua gì các nhà triết học chân chính chứng minh ngay được những điều phi lý rất hiển nhiên
Trong các điều kiện dân chủ từ tất cả các hình thức hùng biện nổi lên hàng đầu là luận chiến Để phát triển hình thái thực tiễn tu từ này đã tách biệt
ra phép biện chứng dạy cách tiến hành tranh cãi bằng các phương pháp trung thực, và khẩu chiến - nghệ thuật chiến thắng trong tranh luận bằng mọi giá Khai sinh ra hai mặt đối lập đó xong ngụy biện vẫn không biến mất Nó bắt đầu chuyên môn hoá vào độc thoại – hình thức cơ bản của hùng biện chuyên chế, và chính nhờ đó mà nó vượt qua thời kỳ những chế độ độc tài Ngay cả sáng tác nguỵ biện thành công nhất vốn đưa người phát minh ra nó đến chiến thắng, sau khi bị vạch trần cũng vẫn chịu thảm bại Vì thế hệ thống các thủ thuật nguỵ biện phải thường xuyên được làm mới, những mánh khoé bị lật tẩy được thay thế bằng những mánh khoé mới Hêghen đã lý giải ngụy biện như
là hình thức sơ khai của việc nắm bắt hệ vấn đề lôgíc Nói riêng, nhiều điều
Trang 37ngụy biện (“kẻ nói dối”, “đống thóc”…) trên thực tế là những nghịch lý - tức
là hình thức đặt ra quan trọng nhất những vấn đề lôgíc và toán học
Ngụy biện là lôgíc bề ngoài Nhà ngụy biện chỉ dùng những thủ thuật không trung thực mà những người không chuyên nghiệp ngây thơ mới tưởng
là hợp pháp Về nguồn gốc - đó là những sai lầm phương pháp luận “trong sạch chất phác” mà bản thân những người thiếu chuyên nghiệp hay mắc phải ngay cả khi suy tư một mình về vấn đề, nhưng được tách ra dưới dạng thuần tuý, được nâng lên tầm nghệ thuật chuyên nghiệp Vì thế cuộc đấu tranh với nguỵ biệt được tách thành hai thời kỳ: nghiên cứu lý thuyết về các quy luật của tư duy mà nó vi phạm, và tuyên truyền phổ biến các quy luật đó
Nguỵ biện vẫn chưa phải là bậc hủ bại đạo đức thấp nhất trong việc cố gắng đạt mục đích bằng mọi giá Đứng thấp hơn nữa là thói mị dân cố tình xuyên tạc có chủ đích các sự kiện, lừa dối, hứa suông vô tội vạ…
Ngụy biện và tôn giáo
Một khi các nhà ngụy biện phủ nhận sự tồn tại của cái thiện chung và đặt con người vào tâm điểm, thì không phức tạp lắm để đoán ra được quan điểm của họ về tôn giáo là như thế nào Phần lớn họ là người vô thần theo thuyết không thể biết, khi cho rằng, không thể có sự tồn tại hay không tồn tại của Thượng đế Một số cấp tiến nhất từ chối thẳng thừng sự tồn tại của thượng đế Bởi vì từ giác độ thần thoại Hy Lạp cổ đại, người ta sùng bái nhiều hiện tượng tự nhiên (mặt trời, các con sông), các nhà ngụy biện cho rằng, chính lợi ích của chúng đối với con người là nguyên nhân làm cho chúng được tôn thờ Chẳng hạn, mặt trời sưởi ấm và chiếu sáng, vì thế cần phải sùng bái Tuy nhiên, thái độ như thế đối với niềm tin, theo quan điểm các nhà nguỵ biện, là dấu hiệu của sự vô học trong xã hội Vì thế pháp luật thường truy đuổi các nhà nguỵ biện do những quan điểm vô thần và bất khả tri của họ, về phần mình họ càng nghĩ rằng, tôn giáo là do nhà nước bịa đặt ra để nô dịch dân chúng và quản lý xã hội Một số ít các nhà ngụy biện khác, vì thế, cho rằng,
Trang 38tôn giáo là một phương thức gìn giữ trật tự xã hội Tức là, tổ tiên những người
Hy Lạp nghĩ ra các thần thánh nhằm buộc mọi người thực hiện các hành vi tốt
và kiềm chế gây tội lỗi, bởi trong xã hội sơ kỳ việc điều tiết hành vi thực sự là vấn đề lớn Ngoài ra con người thường có khả năng rơi vào sự cám dỗ và bí mật thực hiện hành vi nhằm tránh trừng phạt Để không xảy ra điều đó đã phải nghĩ ra mắt nhìn thấy mọi thứ của các thần thánh Một số nhà ngụy biện cho rằng, phát minh ra thần thánh là việc có lợi
Như vậy, nhiều nhà ngụy biện không chỉ tin chắc rằng, không có các vị thần, mà còn cố gắng tìm nguyên nhân khiến đầu óc tưởng tượng của người
Hy Lạp cổ đại nghĩ ra chúng Rõ ràng, tình hình như thế cùng với sự chấp nhận nó một cách tương đối bình thản trong xã hội là minh chứng rõ rệt cho tình trạng khủng hoảng của thế giới quan thần thoại ở Hy Lạp cổ đại thời đó
Nhưng ngụy biện như là khoa học tồn tại không lâu Rất nhanh nó buộc
bị loại ra và nói chung bị chìm khuất trong tầng lớp khoa học nền tảng chính xác với lôgíc thép Trong suốt lịch sử đời sống nhân loại sự quan tâm đến nguỵ biện đã bùng lên không phải là một lần Người ta bị cuốn hút bởi khả năng chứng minh hoặc bài bác mọi thứ trên đời Những điều ngụy biện rất được các trí tuệ từ tầng lớp quý tộc ưa dùng Người ta thích giải trí bằng cách chứng minh những thứ phi lý nhất
Việc đánh giá ngụy biện chỉ nên theo các biểu hiện cụ thể của nó và nếu theo ý hướng chủ quan thì không bao giờ có hình dung đúng về vai trò của nó trong lịch sử tư tưởng Mà vai trò đó được xác định bởi, về thực chất mỗi sự dịch chuyển mạnh mẽ trong phương thức tư duy đều diễn ra sau sự phát triển náo động của ngụy biện Sự luận chứng ngụy biện đã có từ trong cái nôi của phương thức tư duy châu Âu, trong khi là một trong những yếu tố chủ yếu của sự tái định hướng chung mối quan tâm từ thần thoại sang hình thức
và mối liên hệ lôgíc, mà giờ đây đã trở thành tác nhân chủ yếu của các mối liên hệ của chỉnh thể Thông qua phê phán ngụy biện xã hội cổ đại đã bước
Trang 39vào quan niệm về thế giới hoàn toàn mới, một cách lôgíc mà vẫn sống động
từ bấy đến nay Quan niệm đó dựa trên quan niệm về sự đồng nhất tư duy và tồn tại, hình thức và cái được hình thức hoá, tức là sự tổng hợp của khởi điểm chất, đang được định hình bền vững với khởi điểm lượng, linh động, đối lập với nó Bước chuyển đó kết thúc ở Arixtot và được củng cố trong Kito giáo, nhưng các tiền đề và một số kết quả riêng biệt của nó đã xuất hiện từ sớm hơn rất nhiều, trước hết nhờ hoạt động của các nhà ngụy biện Phương thức tư duy châu Âu đã được đặt nền móng trong những cánh rừng ngụy biện Nhưng không chỉ có châu Âu, dường như đã thành một tính quy luật trong sự phát triển của tư tưởng triết học, gần như cùng thời gian đó ở phương Đông – châu
Á – Trung Hoa nguỵ biện cũng đã làm không biết bao người mê hoặc
1.3 Những đặc trưng của ngụy biện
Từ sự khảo sát lịch sử liên quan đến vấn đề luận chứng cho các tri thức khoa học, tiết này của luận văn sẽ phải trả lời câu hỏi “ngụy biện là gì?",
“ngụy biện có bản chất và đặc trưng như thế nào?” Câu trả lời sẽ đúng hơn khi tính đến ý kiến của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tức là có sự kết hợp thống nhất lịch sử và lôgic
Trước hết, để hiểu rõ hơn mối tương quan giữa phép biện chứng và ngụy biện cần chú ý tới nhận xét của Lênin như sau: “Tính linh hoạt toàn diện, phổ biến của các khái niệm, tính linh động đến mức đồng nhất các mặt đối lập, - đấy là thực chất Tính linh hoạt đó áp dụng một cách chủ quan = chủ
nghĩa triết trung và ngụy biện Tính linh hoạt áp dụng một cách khách quan,
nghĩa là phản ánh tính toàn diện của quá trình vật chất và sự thống nhất của quá trình đó, thì đó là phép biện chứng, là sự phản ánh chính xác sự phát triển vĩnh viễn của thế giới” [30; 117 – 118] Tuy nhiên, luận điểm này không có nghĩa là tất cả những ai được gọi là nhà ngụy biện đều là đại biểu của “phái ngụy biện” theo nghĩa trên, theo nghĩa áp dụng chủ quan tính biến đổi, linh động, linh hoạt biện chứng của các khái niệm Hoạt động của các nhà ngụy
Trang 40biện là cuộc thực nghiệm ngôn từ - tư tưởng có quy mô to lớn và tầm quan trọng lịch sử đặc biệt nhằm mục đích làm sáng tỏ những khả năng và giới hạn, những hình thức và con đường của tư tưởng được định hình bằng ngôn từ
Trong tiến trình thực nghiệm đó vẫn tiếp tục phát triển các phương thức
tư duy biện chứng vốn đã được sử dụng từ trước và các quan niệm về thế giới, đặc biệt là về con người dựa trên chúng, thực hiện việc vạch ra những sai lầm điển hình của tư duy, khi tư tưởng đúng đắn và đầy thuyết phục bỗng dưng lại dẫn đến kết luận phi lý rành rành Họ cũng rất chú trọng xây dựng các suy lý
và bác bẻ chứa đựng các sai lầm lôgic khác nhau và thường dùng chúng với mục đích lừa dối có chủ đích hoặc để luyện tập năng lực tinh tường và thông minh Hoạt động của các nhà ngụy biện phản ánh toàn bộ sự đa dạng của tư duy cổ đại: phép biện chứng ngây thơ của vũ trụ và chủ nghĩa tương đối đã và đang nảy sinh trong khuôn khổ của nó, nghệ thuật tranh biện – biết đặt câu hỏi – và đối thoại, phản biện và nghịch lý, mỉa mai và phản công, và tất cả những cái đó nằm trong sự biến đổi, trong dòng chảy không hồi kết, trong sự thay thế các trạng thái, các hình thức, thủ thuật tư duy
Các nhà ngụy biện không quan tâm đến chân lý mà mục đích của họ ở đây là dạy cho người ta nghệ thuật chiến thắng đối phương trong các cuộc tranh luận, đàm đạo và kiện tụng Như Platon đã nhận xét: Các tòa án chẳng biết chuyện đúng sai gì cả, điều quan trọng là thuyết phục người khác đến đâu Các nhà ngụy biện chỉ lo làm sao có thể đánh đổ được quan điểm của đối phương trong khi bàn cãi, mặc cho đối phương của mình phải hay trái Họ đặc biệt nhấn mạnh đến tính tương đối của chân lý, theo họ thì mỗi người đều có một chân lý riêng của mình, ai cho cái gì đúng thì là đúng, cho rằng sai là sai, điều quan trọng ở đây là phải biết thuyết phục người khác Do vậy, mọi tri thức của con người theo các nhà ngụy biện chỉ có tính tương đối mà thôi Điển hình như trong các vấn đề đạo đức các nhà ngụy biện lập luận rằng, không có tiêu chuẩn khách quan về cái thiện và cái ác Đơn giản là cái gì có