Do đó, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người không chỉ nhằm làm rõ những giá trị của di sản tư tưởng quý báu mà còn góp phần vào việc tìm ra biện pháp, giải pháp đúng đắn tro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Chí Bảo
Hà Nội - 2009
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
N ỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
1.1 - Vấn đề con người trong hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1 - Vị trí và vai trò của vấn đề con người trong hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.2 - Nguồn gốc Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
1.2 - Nội dung Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
1.2.1 - Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người
1.2.2 - Quan niệm của Hồ Chí Minh về giải phóng con người
1.2.3 - Quan niệm của Hồ Chí Minh về người cách mạng
1.2 4 - Quan niệm của Hồ Chí Minh về chiến lược xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa
Chương 2: XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
2.1 - Vai trò của con người mới xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp đổi mới
và phát triển ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 - Đổi mới và những vấn đề đặt ra về chất lượng con người
2.1.2 - Con người mới xã hội chủ nghĩa - mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 - Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh là nhà mác xít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam ở thế
kỷ XX Tư tưởng của Người là tài sản vô giá trong kho tàng lịch sử tư tưởng Việt Nam Người để lại những dấu ấn đặc biệt sâu đậm trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam Đối với thế giới, đặc biệt là cách mạng giải phóng dân tộc, cống hiến của Người đã đi vào lịch sử, được thế giới thừa nhận và tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất
Tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất hữu cơ và kết hợp nhuần nhuyễn
“giữa phương pháp và phong cách với đạo đức, lối sống và nhân cách của Người“[7; tr.29] Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và nhân cách của Người là một mẫu mực hiếm có đã để lại tấm gương sáng cho nhiều thế hệ cách mạng
ở nước ta, đồng thời đã có tác động và ảnh hưởng to lớn không chỉ đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà còn đối với cách mạng thế giới
Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam Việc nghiên cứu làm sáng tỏ hơn nữa tính khoa học, tính cách mạng sâu sắc và những giá trị to lớn của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng trước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay là đòi hỏi cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trong hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng con người và giải phóng con người chiếm một vị trí quan trọng nổi bật, thể hiện sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh Đó cũng là
sự tiếp nối và nâng cao những giá trị tinh tuý nhất tư tưởng nhân văn của truyền thống Văn hoá Việt Nam; kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ, của kinh tế tri thức cũng như xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang
Trang 4tác động rất lớn đến chiến lược phát triển của hầu hết các quốc gia Con người có vai trò là nguồn lực nội sinh quan trọng hàng đầu quyết định sự phát triển của mỗi nước Trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội, việc khai thác, sử dụng
và phát triển con người với tính cách là mục tiêu và động lực của phát triển được
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng Do đó, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người không chỉ nhằm làm rõ những giá trị của di sản tư tưởng quý báu mà còn góp phần vào việc tìm ra biện pháp, giải pháp đúng đắn trong việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện con người mới xã hội chủ nghĩa Đó là vấn đề cấp thiết hiện nay trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
2 - Tình hình nghiên cứu đề tài
Với tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng,
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng về con người nói riêng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu Đặc biệt là sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (6/1991), lần đầu tiên ở nước ta đã có một chương trình khoa học cấp Nhà nước (mã số KX.02) nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh Nhiều cuộc hội thảo khoa học về thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã được tổ chức ở các cấp độ quốc gia và quốc tế
Có thể nói, vấn đề con người đã có một lịch sử phát triển liên tục trong lịch sử tư tưởng Triết học Triết học Mác - Lênin đã giải thích con người trên
cơ sở khoa học Trước sự phát triển của lịch sử, vấn đề con người cũng có bước phát triển mới Từ những năm 80 của thế kỷ XX ở Liên xô và các nước
xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã có những đổi mới nhận thức về con người thể
hiện trong công trình: "Con nguời - những ý kiến mới về một đề tài cũ", gồm 2
tập, Nxb Sự thật, 1987, do tập thể tác giả Liên xô và Cộng hòa Dân chủ Đức
(cũ) biên soạn Ở nước ta, Viện Triết học cũng đã có công trình: "Về vấn đề
xây dựng con người mới" do Giáo sư Phạm Như Cương chủ biên, Nxb Khoa
học xã hội, 1978 Sau Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng các hướng nghiên cứu mới về con người đã toàn diện và sâu sắc hơn Có nhiều công
Trang 5trình nghiên cứu tiêu biểu như: Giáo sư Vũ Khiêu: “Trồng cây và trồng
người”, Tạp chí Triết học, số 4/1990; Lê Văn Dương: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người”, Tạp chí nghiên cứu lý luận, 3/1995; Nguyễn Tuấn Dũng:
“Hồ Chí Minh về chiến lược con người trong cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Xây dựng Đảng 5/2000; Thành Duy: “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp
xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện”, Nxb Chính trị quốc gia
(năm 2001); Mạch Quang Thắng: “Một số vấn đề Tư tưởng nhân văn Hồ Chí
Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1/2004; Phạm Bá Lượng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy dân làm gốc”, Tạp chí Triết học số 2/2005
Trong các công trình trên, các tác giả đã tập trung phân tích Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước Các tác giả đã kiến giải về vai trò của quần chúng nhân dân là lực lượng cách mạng đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Vấn đề xây dựng con người, phát huy nhân tố con người và phát triển con người toàn diện trong Tư tưởng Hồ Chí Minh được nhiều nhà nghiên cứu
bàn đến Trong đó có các bài: Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn: “Nguồn nhân
lực trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội”, Tạp chí triết học, 4/1990;
Nguyễn Hữu Công: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn
diện”, Luận án tiến sỹ Triết học (năm 2001); Lê Quang Hoan: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ Triết học
(năm 2001); Nguyễn Huy Quý: “Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội trước hết
cần có con người xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Nghiên cứu con người, 1/2002;
Nguyễn Văn Tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố
con người”, Tạp chí Triết học, số 2/2004
Các tác giả của các công trình nêu trên đã tập trung nghiên cứu Tư tưởng
Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cách mạng và vai trò của trí tuệ con người đối với công cuộc đổi mới, và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 6đất nước Một số công trình đã nêu bật tầm quan trọng của việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, con người toàn diện trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vận dụng vào giải quyết các vấn đề chính trị xã hội vì mục tiêu phát triển con người, Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cũng đã có những công trình tiêu biểu như:
- Bước đầu tìm hiểu những luận đề triết học - xã hội về dân chủ và dân
chủ hoá ở nước ta, Tạp chí Triết học, 4/1990
- Xác định quan niệm và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, Báo chí và
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người trong sách “Hồ Chí Minh -
anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới”, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2002
- Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb lý luận Chính trị, 2005
- Văn hoá và con người Việt Nam trong tiến trình Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006
- Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi mới, Nxb
Chính trị Quốc gia, 2007
Trong các công trình nêu trên Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo đã nghiên cứu một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con người như: sự thống nhất về giáo dục và tự giáo dục, quan hệ giữa đạo đức và năng lực, vai trò của nêu gương đạo đức, vai trò và ý nghĩa của văn hóa, giáo dục đối với việc hình thành nhân cách thế trẻ Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa… Tuy nhiên, việc
Trang 7hội chủ nghĩa thì còn ít các công trình đề cập tới một cách trực tiếp và hệ thống
Vì vậy, tác giả đã chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu luận văn
3 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Luận văn nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người và sự vận dụng vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nội dung rộng lớn, bao quát nhiều vấn đề, lĩnh vực Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một nội dung nổi bật thể hiện sâu sắc tính khoa học, cách mạng và nhân văn Hồ Chí Minh đó là tư tưởng về con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có ý nghĩa rất lớn đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam trước đây và giai đoạn hiện nay Trong giới hạn của đề tài, luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng đó vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
4 - Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Trên cơ sở phân tích, khái quát nội dung cơ bản Tư tưởng Hồ Chí Minh
về con người, luận văn nêu rõ định hướng và giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận của Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
- Nêu lên những nội dung cơ bản Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Trang 8- Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
5 - Phương pháp
Luận văn vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước về con người Đồng thời luận văn cũng kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước có liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin Tác giả luận văn còn
sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Triết học như: phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgic - lịch sử, phân tích, so sánh…
6 - Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hoá những nội dung cơ bản của Tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người
- Luận chứng sự cần thiết, tầm quan trọng và những giải pháp để vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào việc xây dựng con người mới
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
7 - Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và các lĩnh vực khác có liên quan
8 - Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 9Chương 1
NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
1.1 - Vấn đề con người trong hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1 - Vị trí và vai trò của vấn đề con người trong hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh không bao giờ tự nhận mình là một nhà triết học và Người cũng không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng trong
hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về con người là một tư tưởng xuyên suốt, thâm nhập toàn bộ hệ thống, được biểu hiện thật đa dạng và phong phú Vấn đề con người và giải phóng con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi
Nó thấm đượm trong toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người, được tỏa sáng trong từng việc làm, cử chỉ, từng mối quan tâm ân cần đến mỗi con người Vấn đề con người có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Nghiên cứu các tác phẩm của Hồ Chí Minh ta nhận thấy tư tưởng và triết lý của Người, coi con người là trung tâm của quá trình phát triển
Từ trước đến nay, vấn đề con người thường thu hút nhiều sự bàn luận, nhiều kiến giải Những sự bàn luận, kiến giải ấy thường xoay quanh chủ đề: cốt cách, bản chất của con người là gì? Con người có vị trí và vai trò như thế nào trong quá trình sinh tồn và phát triển?
Những kiến giải đó xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu về con người, thể hiện quan điểm triết học, tâm lý học, sinh học, xã hội học, chính trị học, kinh tế học, văn hóa học … Trong đó, có quan điểm coi con người sinh thành và phát triển từ sự chi phối, quyết định có sẵn bởi một lực lượng nằm bên ngoài thế giới thực tại Có quan điểm tuyệt đối hóa đặc trưng sinh vật để xem xét bản chất con người Có quan điểm nhấn mạnh về “con người
kỹ thuật”, lấy tiêu chí phát triển từ công cụ sản xuất để xét đoán bản chất con người …
Trang 10Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét con người là sinh vật có tính xã hội - bản chất của con người không phải là cái trừu tượng cô lập ở từng cá nhân; trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa tất
cả các quan hệ xã hội Con người sinh thành, trưởng thành vừa từ những đặc điểm sinh học, chịu sự tác động của các quy luật tự nhiên, vừa chịu ảnh hưởng quyết định của sự tương tác các quan hệ xã hội Đó là, trong quá trình lao động sản xuất con người hình thành và phát triển tình cảm đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ Do đó, con người đối xử có tính người đối với tự nhiên, đối với những người khác và đối với bản thân mình Triết học Mácxít coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển Mục tiêu của quá trình phát triển xã hội là hướng vào việc đáp ứng nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người xã hội nói chung, mỗi con người cá thể nói riêng Đồng thời, quá trình phát triển đó đạt tới sự tăng trưởng và phát triển bền vững lại do sức mạnh của chính con người, của tập thể những con người đó trong đời sống cộng đồng Mỗi con người không thụ động hưởng sự phát triển
mà là chủ thể và động lực của quá trình phát triển
Lý tưởng của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, nhằm đáp ứng một cách hài hòa các nhu cầu của con người về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, nâng cao chất lượng tổng thể của đời sống, đồng thời thường xuyên giáo dục cho mỗi con người có đủ năng lực phẩm chất sáng tạo trong quá trình phát triển xã hội
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong cuộc đời mình, đã có những chỉ dẫn sâu sắc và những việc làm thiết thực về con người Đây là một di sản vô giá mà Người để lại cho đất nước và dân tộc Sinh thời, những lời dạy của Người đã chỉ ra cho dân tộc ta một đường lối đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng con người, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho con người
Hồ Chí Minh có một lý tưởng và hoài bão mà Người gọi là sự ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho Tổ quốc được hoàn toàn độc lập,
Trang 11dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào mình ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn coi trọng và đặt công việc đầu tiên là công việc với con người Người từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”
“Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân” [36; tr.240]
Đây cũng là tư tưởng lớn, nhất quán trong suốt cuộc đời của Hồ Chí Minh Người đã khắc họa sâu sắc vấn đề con người trong nội dung bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh chế độ dân chủ cộng hoà Việt Nam: chế độ mới đảm bảo cho người dân Việt Nam quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do
Thể hiện sự quan tâm và đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trong thư gửi các đồng chí cán bộ, đảng viên, công chức trong bộ máy chính quyền mới (10 - 1945), Người nhấn mạnh: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nhưng nếu độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự
do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc …Việc gì lợi cho dân phải hết sức làm Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh” [36; tr.56 - 57]
Sau ngày tuyên bố độc lập, cùng với nhiệm vụ củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng chính quyền nhân dân, Hồ Chí Minh chú trọng thực hiện những việc cần làm ngay là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, xây dựng đời sống mới Trước mắt, phải xoá đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển "làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu thêm"[37; tr.65] Kinh tế có phát triển đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới cường thịnh
Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định trước sau như một, là chỉ
có chủ nghĩa xã hội mới có đủ cơ sở và điều kiện để thực hiện công cuộc giải phóng con người một cách triệt để và thiết thực Tức là thực hiện được đầy đủ
Trang 12các quyền của con người, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả mọi người
Khi tình thế cách mạng khó khăn, lâm nguy, bị bao vây bốn phía, đe dọa nền độc lập của Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện sách lược hòa hoãn với Pháp cũng nhằm tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, kiến thiết đất nước Ngày 30 - 5 - 1946, trước khi sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Hồ Chí Minh đã nói chuyện với đồng bào Thủ đô, Người khẳng định: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó” [36; tr.240]
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp của
cả dân tộc, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì mục tiêu đã vạch ra, Người xác định nhiệm vụ nội chính của Chính phủ kháng chiến trong thư gửi đồng bào và kháng chiến Nam Bộ ngày 24/1/1947:
“Sau hết chương trình nội chính của Chính phủ và của quân dân ta chỉ
có ba điều mà thôi:
a - Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc đủ ăn
b - Mở mang giáo dục để cho ai nấy đều biết đọc biết viết
c - Thực hành dân chủ để làm cho dân ta ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do” [36; tr.30]
Vào cuối đời, trước khi đi xa, trong Di chúc để lại, Người nhấn mạnh:
“Đầu tiên là công việc đối với con người”
Người dặn dò chu đáo như sau: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị các chế độ phong kiến
và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh Tuy vậy nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái cần cù Từ ngày có Đảng nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng
Trang 13Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [44; tr.511]
Người nhắc nhở Đảng và Chính phủ, mọi người phải tìm mọi cách giúp
đỡ cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong, những người đã dũng cảm hy sinh xương máu để họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, mở những lớp dạy nghề thích hợp để họ dần dần tự lực cánh sinh Cũng ở trong Di chúc, Người căn dặn phải làm nhiều hơn trong cuộc cách mạng đem quyền bình đẳng cho phụ nữ, miễn thuế nông nghiệp một năm cho nông dân, phát triển công tác vệ sinh, y tế, sửa đổi chế độ giáo dục sao cho hợp với hoàn cảnh của nhân dân, có kế hoạch đào tạo tiếp các chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong thành những cán bộ và công nhân
có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc, trở thành những người xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”
Như vậy, suốt đời Hồ Chí Minh đã làm việc, đã đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân, của con người Trong khi đặt niềm tin vào con người, Hồ Chí
Minh cũng tìm mọi cách phát huy mọi tiềm năng trí tuệ và phẩm chất đạo đức
của con người Đó là hai mặt hợp thành nhân cách, tính cách ở một con người,
có mối quan hệ hữu cơ với nhau Chính hai mặt đó đã đặt con người vừa ở vị
trí mục tiêu của sự nghiệp cách mạng vừa ở vị trí chủ thể của cách mạng Cho
nên, nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người, cần phải thấy con
người ở đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Coi con người là
mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa, của mọi chương trình kiến thiết của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh xác định, mọi công việc đều liên quan đến con người, hướng vào phục vụ con người, làm cho con người được phát triển mọi năng lực sẵn có, con người làm chủ, có tự do và hạnh phúc Đồng thời, coi con người là động lực của sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào sức mạnh vĩ đại và năng lực sáng tạo của con người
Trang 141.1.2 - Nguồn gốc Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
* Nhân tố khách quan:
Tìm hiểu nguồn gốc và quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có ý nghĩa quan trọng để hiểu bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với những tinh hoa giá trị của dân tộc và nhân loại Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: mọi học thuyết tư tưởng
ra đời, một mặt là sự kế thừa những tư tưởng, học thuyết trước đó, mặt khác
là sự phản ánh quy luật vận động của hiện thực, đồng thời là kết quả hoạt động nhận thức, sáng tạo của một con người gắn với phẩm chất, nhân cách cá nhân, phản ánh ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc trong một thời đại nhất định Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là kết quả của sự tích hợp truyền thống văn hóa Việt Nam với những giá trị tư tưởng về con người của triết học phương Đông, phương Tây đặc biệt là triết học Mác - Lênin
Hồ Chí Minh đề cao truyền thống yêu nước, yêu độc lập tự do, coi đó là giá trị cao nhất của con người Yêu nước là một truyền thống quý báu, được hun đúc qua hàng ngàn năm đấu tranh kiên cường, bất khuất, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập của dân tộc và bảo tồn nền văn hiến của đất nước, chống mọi âm mưu đồng hóa của ngoại bang
Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là một nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước
và cướp nước … Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung … Chúng
ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng
Có thể nói chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyêt suốt các giá trị truyền thống, là cội nguồn đời sống tinh thần của người Việt Nam Nó thể
Trang 15hiện ý thức về chủ quyền đất nước, khẳng định cái chung về nòi giống, kinh
tế, tiếng nói, lãnh thổ, văn hóa, phong tục tập quán, đặt lợi ích dân tộc lên cao nhất, coi dân tộc, nhân dân, quốc gia làm trọng Truyền thống ấy được Hồ Chí Minh nâng lên một tầm cao mới, yêu nước là “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân ta luôn đề cao vai trò của con người Nhấn mạnh vai trò chủ thể của con người, vai trò sức mạnh của con người, trong các kế sách dựng nước và giữ nước, tư tưởng phải tin vào dân, dựa vào sức dân đã được Trần Quốc Tuấn thể hiện ở việc “phải khoan thư sức dân, để làm kế sâu rễ, bền gốc”, hay Nguyễn Trãi cho rằng “sức dân mạnh như nước, chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân” Đó là tư tưởng trọng dân, tin dân, dựa vào dân, coi dân là gốc của nước Giá trị truyền thống đặc sắc đó của dân tộc ta sau này được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển và nâng lên một tầm cao mới: “xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”
Những giá trị đạo đức nhân sinh, đạo đức làm người của dân tộc ta được hình thành từ rất sớm Đó là hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức trong lối sống, nếp sống, giao tiếp của người Việt Nam, được biểu hiện chủ yếu ở nền văn hóa dân gian, hành vi đạo đức Nội dung đạo làm
người rất phong phú: đạo thờ cúng tổ tiên, thờ người có công với nước, “uống
nước nhớ nguồn”, nhân ái, “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, tiết kiệm, cần cù,
hiếu học, thủy chung, tình nghĩa giữa vợ chồng, anh em, bạn bè, hiếu thảo với cha mẹ; trung thực, mưu trí, dũng cảm Tất cả những giá trị truyền thống đó
đã được tiếp thu và phát huy trong tư tưởng Hồ chí Minh về con người Người coi trọng việc nêu những tấm gương lịch sử, những gương người tốt, việc tốt trong cuộc sống đời thường Đặc biệt, Người quan tâm đến việc thực hành đạo đức, nêu gương không chỉ để giáo dục nhân dân mà còn đối với cả bản thân
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị đạo đức truyền thống theo yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Người là một nhân cách tiêu biểu, một tấm gương mẫu mực về ý chí cách mạng kiên cường, tinh thần độc
Trang 16lập tự chủ, lòng nhân ái, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Người đã đào tạo, dìu dắt nhiều thế hệ lớp người tận trung với nước, tận hiếu với dân, có đạo đức cách mạng, có lý tưởng cộng sản… là hình mẫu con người xã hội chủ nghĩa
Bên cạnh truyền thống văn hóa Việt Nam, truyền thống quê hương, xứ
sở, gia đình có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người nói riêng
Mảnh đất Nghệ Tĩnh - nơi sản sinh ra nhiều phong trào yêu nước, phong trào cách mạng chống xâm lược, chống phong kiến như khởi nghĩa Hương Khê, nổi dậy của binh lính Đô Lương, công nhân Bến Thủy, khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh Quê nghèo nuôi những anh hùng hào kiệt, danh nhân, mảnh đất “địa linh nhân kiệt” đời này qua đời khác, Nghệ Tĩnh cũng là quê hương của nhiều nhà cách mạng tài ba, nhiều anh hùng và nhiều nhà văn hóa lớn như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu…
Nguyễn Tất Thành sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước gần gũi với nhân dân, một gia đình giàu truyền thống cách mạng Cha, anh, chị đều là những người yêu nước, tham gia các phong trào chống Pháp và đã bị tù đầy, giam cầm Cha của Nguyễn Tất Thành là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, một nhà Nho cấp tiến có tinh thần yêu nước, thương dân Năm 1901, sau kỳ thi Hội, đậu Phó bảng, năm 1906, cụ vào Huế nhận chức tri huyện Bình Khê Nhận chức chưa được bao lâu, vốn có tư tưởng, vì yêu nước, thương dân, luôn lên tiếng bênh vực người dân thấp hèn nên cụ bị cách chức Sau đó, cụ vào Nam làm nghề bốc thuốc, chữa bệnh cho dân Trong thời gian làm quan, cụ luôn mang nặng một tâm tư “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (làm quan là nô lệ, trong đám nô lệ lại càng nô lệ hơn) Khi sinh thời, cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng đã nhiều lần đưa Nguyễn Tất Thành đi thăm các di tích lịch sử của các phong trào yêu nước, nơi diễn ra các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm của các bậc tiền bối vừa đau thương vừa hào hùng Hơn ai hết, lòng yêu nước, thương dân và tư tưởng của cha đã ảnh hưởng đến Nguyễn Tất Thành nhiều hơn
Trang 17Hai người phụ nữ gần gũi và thân thiết nhất đã có ảnh hưởng rất lớn đối với Nguyễn Tất Thành đó là mẹ và chị gái Mẹ của Nguyễn Tất Thành, bà Hoàng Thị Loan sinh ra trong một gia đình Nho học, là một người có đầy đủ những đức tính ưu việt của người phụ nữ Việt Nam: nhân hậu, đảm đang, điềm đạm, có bản lĩnh, biết hy sinh cho chồng con Chị của Nguyễn Tất Thành là bà Nguyễn Thị Thanh có trình độ Hán học, hiểu biết rộng; bà tham gia phong trào chống Pháp của Phan Bội Châu, Đội Quyên, Đội Cấn và từng
bị án tù khổ sai 9 năm Hai người phụ nữ: mẹ và chị đã để lại trong lòng Nguyễn Tất Thành những nỗi cảm thương sâu sắc về thân phận người phụ nữ nói chung ở những nước bị xâm lược và đã ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người phụ nữ Khi Nguyễn Sinh Cung mới
10 tuổi đã phải chứng kiến mẹ qua đời và để lại một đứa em nhỏ mới mấy tháng tuổi đang khóc vì khát sữa Trong căn nhà nhỏ sau cổng Đông Ba thuộc khu thành nội Huế, Nguyễn Sinh Cung bồng bế nuôi nấng em Nguyễn Sinh Xin và đón Xuân Tân Sửu trong nỗi đau buồn mất mẹ, vắng cha, vắng anh, vắng chị Những điều bất hạnh ấy của gia đình đã góp phần làm sâu đậm lòng nhân ái của Người
Ngoài truyền thống văn hóa dân tộc, quê hương, gia đình, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Đông (Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo), đã tiếp thu và kế thừa có phê phán tư tưởng dân chủ, nhân văn của văn hóa Phục hưng, của cách mạng tư sản phương Tây
Ngay từ thuở ấu thơ, Hồ Chí Minh đã được học chữ Hán với các nhà Nho yêu nước, tiếp thu triết lý và đạo đức Khổng - Mạnh qua các sách kinh điển của Nho giáo Đạo đức Nho giáo thấm vào tư tưởng, tình cảm của Người không phải những tư tưởng “tam cương”, “ngũ thường” nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến mà là tinh thần “nhân nghĩa”, đạo “tu thân”, sự ham học hỏi, đức khiêm tốn, “ôn hòa”, cách xử thế “có tình có lý” Kế thừa tư tưởng thân dân, coi dân là gốc nước, dân là quý của Nho giáo, sau này, trong tác phẩm “Dân vận” (1949), Hồ Chí Minh viết: “Nước ta là một nước dân chủ: bao nhiêu lợi ích là vì dân… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [37; tr.698]
Trang 18Bên cạnh những nội dung tích cực nhất định, Nho giáo phản ánh tình trạng xã hội phong kiến, phân biệt “quân tử” với “tiểu nhân”, coi thường lao động chân tay; đặc biệt coi khinh phụ nữ,… Trong khi tiếp thu, sử dụng những yếu tố tích cực của Nho giáo, Hồ Chí Minh đã phê phán, loại bỏ những yếu tố thủ cựu, tiêu cực của học thuyết này Người đã chỉ rõ: “Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều Đạo đức cũ như đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [38; tr.320 - 321] Và chính Người đã đảo lại thế đứng đó như Mác - Ăngghen đã cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen, và đặt lại phép biện chứng đó trên cái nền duy vật
Đối với tư tưởng triết học của Lão - Trang, Hồ Chí Minh đã kế thừa học thuyết vô vi, nghĩa là con người sống, hoạt động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không gò ép trái với bản tính tự nhiên của mình Điều này được Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ ràng trong phong cách, nếp sống, xử thế, đó là sự chân thành, nhã nhặn, thân ái, tự nhiên Theo Lão Tử, sống phải
từ ái, cần, kiệm, khiêm tốn, khoan dung Điều đó được Hồ Chí Minh tiếp thu
và thể hiện trong cuộc sống đời thường của Người Đó là cuộc sống thanh tao, thanh đạm, tự tại, hòa đồng với tự nhiên Người khẳng định: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào… Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già, em nhỏ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” [36; tr.161]
Ngoài Nho giáo, Lão giáo, Hồ Chí Minh còn tiếp thu những mặt tích cực của Phật giáo, đó là: từ bi, hỉ xả, bình đẳng, cứu khổ, cứu nạn, khuyên con người tu nhân, tích đức, tránh cái ác, trau dồi cái thiện
Nền văn minh phương Tây nói chung và chủ nghĩa nhân văn phương Tây nói riêng có ảnh hưởng tới Người ngay từ khi còn học ở trường tiểu học Pháp - Việt và trường quốc học Huế Nền văn minh phương Tây với những tư tưởng về tự do, dân quyền, dân ước, dân chủ, bác ái có sức hấp dẫn đặc biệt với Người Người nhớ lại: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên nghe tới ba chữ
Trang 19Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái … và từ thưở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm hiểu những gì ẩn sau những chữ ấy”[33; tr.477]
Trong gần 10 năm bôn ba, khảo sát ở các nước tư bản lớn như Mỹ, Anh, Pháp và thuộc địa của họ, Người đã tìm hiểu qua sách, báo, tài liệu, qua tiếp xúc với các nhà chính trị - xã hội nổi tiếng, … và xem xét thực tế của dân chúng, trực tiếp hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội ở các nước đó, rút ra những nhận xét, đánh giá, để tìm ra những gì là “tinh hoa” tốt đẹp cần tiếp thu và những gì còn hạn chế cần khắc phục
Thời gian dừng chân ở Mỹ khoảng cuối năm 1912 đến cuối 1913, Nguyễn Ái Quốc đã ở Brúclin, đến thăm khu da đen Hacslem, đã chiêm
ngưỡng tượng nữ thần tự do, … Nguyễn Ái Quốc đã đọc bản Tuyên ngôn Độc
lập năm 1776 của nước Mỹ, trong đó đề cập đến “quyền bình đẳng”, “quyền
sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của con người, quyền của nhân dân kiểm soát chính phủ… Người đã kế thừa tư tưởng này, tôn trọng con người, nâng niu các giá trị làm người, đề cao dân chủ Người viết: “Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đập đổ chính phủ ấy đi,
và gây nên chính phủ khác” [34; tr.270]
Pari, thủ đô nước Pháp - nơi Người sống dài ngày nhất, đã để lại cho Người nhiều ấn tượng và bài học sâu sắc trên hành trình tìm đường cứu nước Chủ nghĩa nhân văn, tư tưởng tự do - bình đẳng - bác ái trong các tác phẩm của thời kỳ Phục hưng, của thế kỷ Ánh sáng, của các nhà văn nổi tiếng như Vônte, Điđrô, Môngtétxkiơ, J.J Rútxô và những tư tưởng mới mẻ của Đại Cách mạng Tư sản Pháp năm 1789 đã đem lại cho Nguyễn Ái Quốc những thu hoạch bổ ích Những tư tưởng của bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền đã được Nguyễn Ái Quốc đi sâu nghiên cứu và phân tích rất thấu đáo Điều đó đã có ảnh hưởng quan trọng tới sự hình thành tư tưởng của Người sau này, đặc biệt là tư tưởng về tự do, dân chủ, về giải phóng con người khỏi mọi
Trang 20những quan hệ Phong kiến, Nguyễn Ái Quốc cũng đồng thời phê phán những hạn chế của nó Người xem những cuộc Cách mạng Tư sản là những cuộc cách mạng không đến đến nơi, không triệt để, “trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” Chính vì không thỏa mãn với con đường cách mạng tư sản, Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin
Các tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin tuy không để lại những tác phẩm chuyên nghiên cứu về con người, nhưng ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học đều xuất phát từ những vấn đề của con người và nhằm mục tiêu cuối cùng
là giải phóng con người Tiếp thu có phê phán những tư tưởng về con người trong lịch sử Triết học, Mác - Ăngghen đã dần dần hoàn chỉnh những vấn đề
lý luận hết sức cơ bản, đặt cơ sở vững chắc cho một thế giới quan và phương pháp luận khoa học nghiên cứu vấn đề con người
Học thuyết Mácxít về con người bao gồm nhiều nội dung, song, điểm
nổi bật nhất là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con
người Mác - Ăngghen đã đưa ra hai quan niệm có tính chất điều kiện cho sự
giải phóng con người trong “Hệ tư tưởng Đức” (1845 - 1846)
Một là, khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Do đó, giải
phóng con người bắt đầu từ giải phóng các điều kiện của tồn tại xã hội, qua đó giải phóng tinh thần, tư tưởng con người Các ông xuất phát từ những con người đang hành động hiện thực và cũng chính là xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ [52; tr.277]
Hai là, Mác - Ăngghen đã phân tích mối quan hệ giữa phân công lao
động với chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm xuất hiện các mâu thuẫn
xã hội Quá trình xuất hiện các hình thức sở hữu tư nhân khác tương ứng với
sự phân công lao động và sự phát triển của nền sản xuất cho thấy mâu thuẫn giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ xuất là nguyên nhân xét đến cùng quyết định mâu thuẫn xã hội Giải phóng con người trong xã hội tư bản chính là giải phóng giai cấp công nhân Tư tưởng này được khẳng định trong tác phẩm “Sự khốn cùng của Triết học” (1846 - 1847) Mác viết: “điều kiện giải phóng của giai cấp lao động, đó là xóa bỏ mọi giai cấp” [52; tr.410]
Trang 21Chủ nghĩa xã hội khoa học về thực chất là một học thuyết về giải phóng con người, là giải phóng giai cấp công nhân, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cách mạng Mác - Ăngghen đã chỉ rõ sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với các trào lưu xã hội chủ nghĩa khác ở chỗ: nó đặt lên hàng đầu việc xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và phương thức thực hiện nó là bằng bạo lực cách mạng Cơ sở lý luận cho tư tưởng đó, theo Mác - Ăngghen chính là việc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư của Mác, nhờ đó chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học Giải phóng con người trong xã hội hiện đại được đặt trên cơ sở của sự giải phóng giai cấp Việc giải phóng tất cả các giai cấp trong xã hội hiện đại được quy vào giải phóng giai cấp vô sản, vì giai cấp
vô sản là biểu hiện tập trung những mâu thuẫn thời đại Giai cấp vô sản chỉ có thể được giải phóng khi nó giải phóng toàn thể nhân loại
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy trong đó những chân lý của thời đại Luận cương của Lênin đã đem lại cho Người sự “giác ngộ”, tìm ra lời giải đáp cho cách mạng Việt Nam Vấn đề con người và giải phóng con người phải được đặt trong mối quan hệ với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, đó chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và lãnh đạo đất nước, Hồ Chí Minh và những người cộng sản chân chính ở Việt Nam đã tin tưởng tuyệt đối vào vai trò của quần chúng nhân dân, thường xuyên giác ngộ, giáo dục và tổ chức quần chúng nhân dân Đó là nguồn sức mạnh vô cùng to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, một nước phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, bị chủ nghĩa thực dân xâm lược và nô dịch từ cuối thế XIX Việt Nam vốn là một dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân ái, có nền văn hiến lâu đời Từ khi thực dân Pháp xâm lược, phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân của các tầng lớp nhân dân diễn ra liên tục, sôi nổi nhưng con đường cứu nước đang bế tắc, chưa có lối ra
Thời đại Người lớn lên và hoạt động cũng là thời đại chủ nghĩa đế quốc thực dân bành trướng mạnh mẽ, tranh cướp thuộc địa, thị trường, dẫn đến hai
Trang 22cuộc chiến tranh thế giới, tàn sát hàng trăm triệu người Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản càng mở rộng; mâu thuẫn giữa các nước và tập đoàn đế quốc với nhau càng phát triển; mâu thuẫn giữa nhân dân bị áp bức ở các nước thuộc địa, phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc, thực dân ngày càng gay gắt Từ sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga, đã xuất hiện mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên với hệ thống tư bản chủ nghĩa Thế giới bước vào thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, thời đại của cách mạng vô sản, của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, sau khi phân tích cách mạng Mỹ,
cách mạng Pháp, cách mạng Nga, Người nhận thấy “chỉ có cách mạng Nga là
đã thành công, thành công đến nơi” và rút ra kết luận là phải học tập cách mạng Nga: “Cách mệnh Nga đã dạy ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư
và Lênin” [34; tr.280] (Chủ nghĩa Mã Khắc Tư là chủ nghĩa Mác)
“Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn với trí tuệ sâu sắc, uyên bác, với tư duy độc lập sáng tạo mà những học giả tiêu biểu trên thế giới cũng phải ngạc
Trang 23nhiên, đến kẻ thù cũng phải nể trọng Trí tuệ ấy được kết hợp với vốn sống, kinh nghiệm phong phú mà Người đã trực tiếp nếm trải trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng trên sáu thập kỷ” [7; tr.172 - 173] Trong 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã đi nhiều nơi, đến nhiều nơi, phải hoạt động trong điều kiện bí mật hết sức khó khăn, gian khổ và nguy hiểm Người đã phải làm nhiều nghề: phụ bếp, chạy bàn, xúc tuyết, làm ảnh, viết báo… để kiếm sống Người đắm mình trong lao động và tranh đấu, vừa làm vừa học, bằng con đường tự học mà thâu thái những tinh hoa văn hóa cổ, kim, Đông, Tây Chính thực tiễn phong phú, sinh động đó đã đem lại cho Người vốn sống, vốn hiểu biết về con người hết sức sâu sắc Người luôn quan tâm, gần gũi với nhân dân Hàng trăm lần Người đi thăm nhà máy, công trường, hợp tác xã, bệnh viện, trường học, đơn vị quân đội; tiếp xúc với nhiều tầng lớp người: trí thức, công nhân, nông dân, chiến sỹ, cụ già, thanh niên, phụ nữ, khách quốc tế; dấu chân Người đã để lại ở nhiều địa phương, từ thành phố đến nông thôn, từ đồng bằng đến trung du, từ miền núi đến hải đảo…
“Đặc điểm chủ yếu và cũng là một trong những giá trị chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là quá trình đi từ thực tiễn đến lý luận, từ lý luận đến thực tiễn Tức là
lý luận hóa thực tiễn và thực tiễn hóa lý luận” [31; tr.51] Trước và sau khi đến với học thuyết mácxít về con người, Hồ Chí Minh vẫn luôn tìm tòi, khảo sát các học thuyết, tư tưởng khác để làm phong phú thêm nhận thức của mình
và kết hợp nhuần nhuyễn trong hoạt động thực tiễn Đó là một quá trình tiếp thu, gạn lọc, bổ sung, phát triển gắn liền với nhu cầu thực tiễn cách mạng
Tóm lại, nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người bao gồm nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan Trong đó, nhân tố khách quan đóng vai trò là điều kiện Cần, còn nhân tố chủ quan đóng vai trò là điều kiện
Đủ Để có những kiến giải toàn diện và sâu sắc về con người, Hồ Chí Minh đã
kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, bao dung … cũng như các giá trị tinh hoa văn hóa
về con người của nhân loại Đặc biệt lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, giải phóng con người và ánh sáng của cách mạng Tháng Mười
Trang 24Nga và thời đại mới đã đem lại cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc hơn về con người, về vị trí và vai trò của con người trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam Do đó, nhân tố khách quan được coi là điều kiện Cần, là tiền đề, cơ sở của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Những giá trị tư tưởng về con người của dân tộc và nhân loại muốn hợp lưu được phải thông qua yếu tố nội sinh, đó là tư duy kiệt xuất và sự cống hiến toàn tâm, toàn lực vì con người Việt Nam của Hồ Chí Minh Từ những
cơ sở, tiền đề khách quan đó, Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển và làm sáng
tỏ hơn trong hoạt động thực tiễn cách mạng Xuất phát từ tấm lòng yêu thương con người và ý chí nghị, lực phi thường, Người đã dâng hiến cả cuộc đời mình cho mục tiêu độc lập của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân Chính từ chủ nghĩa yêu nước, người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Chính nhờ có tư duy mẫn tiệp, trí tuệ uyên bác, Người đã kế thừa, thâu thái các giá trị tư tưởng về con người trong di sản tư tưởng văn hóa nhân loại đưa ra những quan điểm, tư tưởng về con người và vận dụng chúng phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam Đó là những nỗ lực sáng tạo của Hồ Chí Minh, thuộc về nhân tố chủ quan tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh Như vậy, sự kết hợp biện chứng giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan đã tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Tư tưởng đó có lịch sử hình thành, phát triển và trải qua thử thách hơn sáu thập kỷ trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Tư tưởng đó đã chứng tỏ sức sống, tính khoa học, tính cách mạng sáng tạo và trở thành một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản và nhân dân Việt Nam
1.2 - Nội dung Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
1.2.1 - Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người
Như đã nói ở trên, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về con người là một tư tưởng xuyên suốt, thâm nhập toàn bộ hệ thống, được biểu hiện thật đa dạng và phong phú
Trang 25Dưới ánh của chủ nghĩa Mác - Lênin và bằng thực tiễn cách mạng giải
phóng dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh quan niệm con người vừa là con
người xã hội vừa là con người sinh vật
Trước hết, con người sinh vật là một thực thể tự nhiên nên luôn chịu sự chi
phối của các quy luật của tự nhiên Hồ Chí Minh nói: “Con người ta đẻ ra, ai cũng lớn lên, già đi và chết” [42; 469] Đó là quy luật sinh học của con người, cho nên “người ta ai cũng ham muốn sung sướng mạnh khỏe” [37; 106] Con người chỉ có thể sinh tồn khi con người được đáp ứng những nhu cầu tối thiểu, chính đáng như ăn, mặc, ở, học tập, việc làm và được khám chữa bệnh khi đau
ốm Người đề cao trước tiên việc đáp ứng nhu cầu vật chất cho con người: “Tục ngữ có câu: Dân dĩ thực vi thiên, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời Lại có câu: có thực mới vực được đạo; nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả” [38; 572] Vì vậy, trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đề cao vấn đề đảm bảo đời sống vật chất cho nhân dân
Trong đường lối lãnh đạo phong trào kháng Nhật cứu nước, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chủ trương phá kho thóc của Nhật, cứu đói cho dân Người nói: “Dân chỉ biết giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được
ăn no mặc đủ” [36; tr.152]
Sau ngày tuyên bố độc lập, Người đề ra những việc cần làm ngay Trong
đó, việc trước tiên có vai trò quan trọng hàng đầu là phát động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để giải quyết nạn đói, làm cho dân “ai cũng đủ mặc,
đủ ăn”
Giải thích chủ nghĩa xã hội là gì, Người đã nêu rõ, chủ nghĩa xã hội “tất
cả mọi người, các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng” [42; tr.317] Điều đó cho thấy, Người rất quan tâm đến việc nâng cao đời sống vật chất cho con người
Sinh thời, với cương vị là chủ tịch nước, khi đi thăm các nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, trường học, Người bao giờ cũng đi thăm nhà bếp, khu nhà
Trang 26ở của cán bộ, công nhân và học sinh … Những cử chỉ quan tâm, ân cần đó của Bác thể hiện sự ưu tiên trước hết đến nhu cầu vật chất của con người
Bên cạnh đó, Người luôn chú trọng đến việc rèn luyện thân thể để có một cơ thể khỏe mạnh Người nói: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là cả nước mạnh khỏe"[36; tr.212] Với tinh thần đó, Người đã tự mình nêu gương sáng về rèn luyện thể dục, thể thao; đồng thời, kêu gọi tất cả mọi người, dù gái hay trai, già hay trẻ, đều phải thường xuyên rèn luyện thân thể, có "luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe" thì muôn việc mới thành công
Con người xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh được biểu hiện là
tổng hòa tất cả các quan hệ xã hội từ hẹp (anh em, họ hàng, bầu bạn …) đến rộng (quan hệ dân tộc, giai cấp, đồng chí, đồng bào …) Người viết: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng hơn nữa là cả loài người.” [37; tr.644]
Con người được biểu hiện như một phức hợp, vừa là con người cá thể, vừa là một cộng đồng xã hội từ gia đình, giai cấp, dân tộc đến nhân loại nói chung Ở phương diện cá thể, con người ai cũng có tốt, xấu, hay, dở cũng như năm ngón tay dài, ngắn khác nhau, có người thế này, thế khác Người cho rằng: “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm” [37; tr.166] và “mỗi người đều có thiện và ác ở trong lòng” [44; tr.558] Như vậy, bản tính con người có những mâu thuẫn, chính sự đấu tranh và giải quyết mâu thuẫn ấy là động lực để con người phát triển Mặt khác, Người tin vào những khả năng làm cho con người trở nên tốt đẹp Để làm được điều đó thì phải phát triển cái tốt, cái thiện, khắc phục và đẩy lùi cái xấu, cái ác trong bản thân nó Người cho rằng, con người “dù là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều
có tình” [39; tr.60] Từ đó, Hồ Chí Minh chủ trương giáo dục con người phải nhằm phát triển cái tốt, cái thiện để khắc phục, đẩy lùi cái xấu, cái ác trong bản thân nó Người còn nhấn mạnh phải thức tỉnh cảm hóa con người, ngay cả với những người lầm lỗi hoặc mắc vào vòng tội lỗi, làm cho họ trở lại với
Trang 27nhân tính, sống đúng đắn, lương thiện giữa cộng đồng Người viết: “Đối với những đồng bào lạc lối, nhầm đường, ta phải lấy tình nhân ái mà cảm hóa họ”, “sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của
nó rộng và sâu”[37; tr.644] Với lòng yêu người, đức nhân từ và trí tuệ, bao dung, Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng vững chắc cho sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất trong Đảng, khơi dậy trong mỗi con người những mầm thiện, niềm tin, sức mạnh vươn lên trong sự giúp đỡ của cộng đồng
Ở phương diện cộng đồng xã hội, con người liên kết lại để đấu tranh diệt trừ mọi áp bức, bóc lột, đề giành quyền lợi chính đáng của mình Người viết:
“dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” [33; tr.266] Như vậy, đứng trên lập trường
và quan điểm của giai cấp công nhân, Người luôn đề cao sự liên minh các giai cấp trong nước và đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc bị áp bức và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đấu tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, không có con người trừu tượng mà
chỉ có con người mạng đậm sắc thái lịch sử cụ thể Trong các bài nói, bài viết
của mình, khái niệm con người được Hồ Chí Minh sử dụng bằng những từ ngữ khác nhau như: người, con người, người ta, dân, nhân dân, quần chúng, đồng bào … để diễn đạt nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo hoàn cảnh điều kiện, nội dung cụ thể của từng thời kỳ cách mạng Trong những năm 20 của thế kỷ
XX, Hồ Chí Minh thường dùng các khái niệm “người bản xứ”, “người nô lệ”,
“người cùng khổ”, “người vô sản ở thuộc địa”… để chỉ thân phận con người mất nước của bản thân, của toàn thể dân tộc Việt Nam và tất cả con người của các dân tộc bị chế độ thực dân đàn áp, bóc lột trên thế giới
Từ sau cách mạng tháng Tám, đất nước ta đã có độc lập, nhân dân ta từ chỗ là con người nô lệ, mất nước đã trở thành những con người tự do Vì vậy,
Hồ Chí Minh thường sử dụng các khái niệm “đồng bào”, “nhân dân”, “quốc dân”, “dân” … Ở đây, con người được đặt trong mối quan hệ gắn bó với khối
Trang 28đoàn kết thống nhất của cộng đồng dân tộc, nhằm tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi
Trong giai đoạn miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh dùng những khái niệm phù hợp với những quan hệ xã hội mới như: “lao động chân tay”, “lao động trí óc”, “nông dân tập thể”, “người chủ tập thể”, “công nhân” …
Hồ Chí Minh nhìn nhận con người có vai trò quyết định đối với hoạt
động sáng tạo ra đời sống xã hội, đối với văn minh, tiến bộ và phát triển của lịch sử Con người vừa là mục tiêu và là động lực trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội Vai trò ấy được thực hiện bởi những đóng góp của từng người và tất cả cộng đồng, của những người lao động Do đó, với Hồ Chí Minh, “dân”, “nhân dân”, “đồng bào”, “quần chúng” là lực lượng, là sức mạnh xã hội của con người và cách mạng là sự nghiệp của họ Chủ nghĩa xã hội đem lại chân giá trị Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho họ cũng do họ sáng
tạo, xây dựng mà nên Người nói: “Vô luận điều gì, đều do người làm ra, và
từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” [37; tr.241]
Không có nhân dân thì cách mạng không có lực lượng, không có sức mạnh Không có dân giúp đỡ thì dù có tài giỏi mấy chúng ta cũng không làm được gì Mọi lợi ích, quyền hành và lực lượng đều thuộc về dân và ở trong dân Muốn xây dựng, kiến thiết chế độ mới thành công thì phải dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân Đó
là cách làm tốt nhất theo quan điểm nhân dân Vì vậy, Người luôn căn dặn:
“Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, phải hết sức tránh Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [36; tr.56-57]
Con người là vốn quý nhất là một nội dung bao trùm trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người có ý nghĩa như một tiền đề xuất phát Một tư tưởng chủ đạo đồng thời là mục đích của tư tưởng: bắt đầu từ con người, vì con người, cho con người và trở về với con người
Trang 29Con người là vốn quý nhất thể hiện nhân dân nói chung, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội… tức là quần chúng nhân dân lao động (trừ bọn Việt gian, phản động …) Người nói: “Nhân nghĩa là nhân dân Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân” [40; tr.276] “Chúng ta phải quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội” [41; tr.373] “Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta” [42; tr.313] Theo Hồ Chí Minh, dân (nhân dân lao động - công nhân, nông dân, trí thức, …) là chủ thể tích cực của lịch sử, dân cũng là giá trị quý báu nhất, cao nhất Tài dân, sức dân là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển Không có dân ủng hộ, giúp đỡ thì cách mạng không có sức mạnh, không thể thành công Không có dân thì Đảng không có lực lượng Có dân, được dân tin, dân yêu, dân phục, lại có đường lối đúng đắn để dẫn đắt đấu tranh thì việc khó mấy cũng giải quyết được
“Dễ mười lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong”
Tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” của Nho giáo là một giá trị tích cực nhưng thực ra đối với giai cấp thống trị phong kiến thì “dân” không phải
để chỉ người dân lao động Khái niệm “Nhân” khác với khái niệm “Dân”
“Nhân” là con người của giai cấp quý tộc phong kiến: thánh nhân, hiền nhân, hiền giả, quân tử, trượng phu, … ngay cả tầng lớp “sĩ” cùng nằm trong tứ dân:
sĩ, nông, công, thương, còn “Dân” chỉ là một đại lượng người có tên gọi khác nhau: lê dân, tiện dân, thứ dân, miêu dân, … Nên thực chất “Dân chỉ là đối tượng để “chăn dân”, “trị dân”, “hưởng dân”, và “nhận dân” của giai cấp thống trị Hồ Chí Minh, trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã đem lại nội dung mới, khoa học và cách mạng cho khái niệm dân Trong bài “Dân vận”, Hồ Chí Minh viết: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến chính phủ
Trang 30trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [37; tr.698]
Chỉ có 73 chữ trong đoạn văn vừa dẫn, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh chữ “dân”, mà “dân” lại ở địa vị cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xã hội: lợi ích, quyền hạn, công việc, trách nhiệm, chính quyền, đoàn thể, quyền hành và lực lượng, đều nhằm vào mục tiêu: vì dân, của dân, do dân, ở nơi dân Nó xác định vai trò của dân: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Dân vừa là người chủ, vừa thực hiện công việc làm chủ, vừa lãnh đạo vừa bị lãnh đạo, vừa là chủ thể vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam Theo
Hồ Chí Minh trong mọi hoạt động của mình, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây đời sống mới, tiến lên chủ nghĩa xã hội, phải bắt
đầu từ vốn con người, nếu xem khinh việc sử dụng vốn con người sẽ là một sai lầm rất to, có hại, có quan hệ đến thành hay bại của cuộc cách mạng
Con người là vốn quý, cho nên Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của con người trong các hoạt động thực tiễn: trong lao động sản xuất, đấu tranh chính trị - xã hội và sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần Hồ Chí Minh nói: “Tất
cả của cải trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn và phát triển” [39; tr.203] Vai trò ấy không phải “vài ba cá nhân anh hùng nào” mà của quần chúng nhân dân vì: “lực lượng dân chúng nhiều vô cùng … dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”[37; tr.295] “Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người”[40; tr.494] Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là vốn quý, tư tưởng đó là sự thống nhất hữu cơ lý luận với thực tiễn
1.2.2 - Quan niệm của Hồ Chí Minh về giải phóng con người
Trang 31Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu và động lực của cách mạng Do
đó, sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm mục tiêu cao nhất là giải phóng con người Vấn đề dân tộc, giai cấp và vấn đề giải phóng con người gắn bó hữu cơ với nhau Con người chỉ được giải phóng khi dân tộc, giai cấp được giải phóng Không có độc lập dân tộc thì giai cấp không có tự do, con người không có tự do Theo
Hồ Chí Minh, đối với một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam thì không phải giải quyết vấn đề giai cấp rồi mới giải quyết được vấn đề dân tộc như các nước tư bản phát triển phương Tây Ngược lại, chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp và tạo tiền đề cho giải phóng giai cấp, giải phóng con người Cống hiến vô giá của Hồ Chí Minh, thể hiện năng lực sáng tạo và tư duy độc lập của Người là ở chỗ, Người đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc với dân chủ, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp Đó
là đặt vấn đề giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, theo ý thức hệ tiên tiến của thời đại, của giai cấp công nhân cách mạng, vượt qua ý thức hệ Phong kiến lẫn ý thức hệ Tư sản
Ở Việt Nam, cùng với sự tồn tại của mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nội bộ dân tộc, nổi lên mâu thuẫn dân tộc và đấu tranh dân tộc giữa toàn dân tộc với chủ nghĩa thực dân đế quốc, bè lũ tay sai Do đó, theo Người: Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước và đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh của giai cấp công nhân với nông dân và trí thức là một chiến lược cách mạng, là lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam “Chủ nghĩa dân tộc” theo Hồ Chí Minh, hoàn toàn không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc phong kiến, tư sản hay của Quốc tế II, mà là chủ nghĩa dân tộc chân chính, theo lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin gắn dân tộc với quốc
tế, dân tộc với giai cấp, hướng tới triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Theo Người, quyền lợi dân tộc không được giải quyết thì quyền lợi giai cấp, bộ phận không bao giờ thực hiện được Do đó,
Trang 32trước năm 1945, Người và Đảng ta luôn đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu trong đường lối, chiến lược của cách mạng Việt Nam
Sau khi giành chính quyền, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng vẫn phải giải quyết vấn đề dân tộc, dân chủ Tuy nhiên lúc này không phải là giành độc lập mà là bảo vệ độc lập dân tộc, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền Cách mạng hai miền có nhiệm vụ khác nhau: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Nhưng hai nhiệm vụ đó đều có mục tiêu chung là thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc
Hồ Chí Minh cho rằng, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người thống nhất với nhau Người quan niệm, giải phóng dân tộc cũng là nhằm để dân có tự do, hạnh phúc Theo Người, xây dựng chủ nghĩa
xã hội không chỉ là điều kiện để bảo đảm cho nền độc lập dân tộc và giải phóng giai cấp khỏi áp bức, bóc lột mà còn chính vì "không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa", chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người
có công ăn, việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xoá bỏ… tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội.” [42; tr.591]
Ngay sau cách mạng Tháng Tám 1945, khi vừa giành được chính quyền, trong Tuyên ngôn độc lập, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chế độ mới đảm bảo cho người dân Việt Nam quyền bình đẳng quyền sống, quyền sung
Trang 33sướng, quyền tự do” Với Hồ Chí Minh để giải phóng con người, độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do hạnh phúc cho con người, trước hết ở việc hướng vào giải quyết những nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc, ở, học tập, việc làm và được chữa bệnh khi đau ốm Do đó Người nhấn mạnh: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nhưng nếu độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” [36; tr.56]
Tư tưởng này còn được Hồ Chí Minh nhắc lại trong bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu Kế hoạch kiến quốc: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không để làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân có ăn
2 Làm cho dân có mặc
3, Làm cho dân có chỗ ở
4 Làm cho dân có học hành”[36; tr.152]
Theo Hồ Chí Minh, giải phóng con người để phát triển con người, đưa con
người tới địa vị người chủ và làm chủ, thực hiện lý tưởng Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc Như vậy, thực hiện dân chủ, đó là bản chất của xã hội mới xã hội chủ nghĩa và còn là cơ sở giải phóng con người triệt để
Hồ Chí Minh luôn đề cao địa vị và vai trò của dân Người nói: “Dân
chủ là dân là chủ và dân làm chủ “Như vậy là, Người nhấn mạnh tới vị thế và
hành động của dân, vị thế (là chủ) và hành động (làm chủ) của người chủ xã
hội” [7; tr.206]
Con người có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc là những quyền tự nhiên, thiêng liêng, không thể bị xâm phạm Do đó, “giải phóng con người ra khỏi tình trạng áp bức, bóc lột và nô dịch là đòi hỏi bức
Trang 34xúc, tất yếu, làm cho con người thực sự được sống xứng đáng với cuộc sống của con người chứ không phải bị cầm tù giam hãm như nô lệ” [7; tr.207]
Bản Tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc trước quốc dân đồng bào vào ngày 2 - 9 - 1945, để khai sinh cho chế độ dân chủ cộng hòa ở nước ta đó là tuyên ngôn về dân chủ gắn liền với tự do, bình đẳng và công bằng xã hội Thực hiện dân chủ là phải đảm bảo sự thực hiện quyền lực của đa số người trong xã hội Người đặc biệt nhấn mạnh địa vị của dân trong xã hội và sự cần thiết phải xây dựng chế độ dân chủ, thể chế chính trị và thể chế nhà nước dân chủ Thể chế nhà nước và các thiết chế dân chủ khác đều hướng vào việc thực hiện lợi ích, quyền lực của nhân dân
Người xác định rõ ràng: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ” [38; tr.515] Người cũng khẳng định: Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là một chế độ trong đó nhân dân là người chủ, quyền lực thuộc
về nhân dân Như vậy, “Nhà nước được xây dựng thành cơ quan quyền lực với chức năng quản lý, điều hành toàn diện các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội để thực thi quyền lực nhân dân Lợi ích, ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hóa thông qua Hiến pháp và pháp luật của nhà nước” [7; tr.208] Hồ Chí Minh từ rất sớm đã nhận thấy vai trò của luật pháp, đó là linh hồn của nhà nước dân chủ - pháp quyền Trong yêu sách gửi Hội nghị Vécxây, sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc (1914 - 1918), Người đã nhấn mạnh một trong những điểm then chốt: “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật” [33; tr.436] Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi bàn về các nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người nhấn mạnh: “Trước chúng ta đã bị chế
độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” [36; tr.8] Về vai trò Hiến pháp, Người xác định: “Hiến pháp bảo đảm được quyền tự do
Trang 35dân chủ cho các tầng lớp nhân dân, trên cơ sở công nông liên minh và do giai cấp công nhân lãnh đạo Nó phải thật sự bảo đảm nam nữ bình quyền và dân tộc bình đẳng” [40; tr.322]
Hồ Chí Minh cho rằng, Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương
do dân cử ra và nhiệm vụ của Chính phủ là phải làm người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân Với chức năng điều hành, quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Chính phủ phải hành động vì lợi ích của dân để xứng đáng với sự ủy thác, tin cậy của nhân dân
Việc đảm bảo quyền hành và lợi ích cho nhân dân lao động là bản chất
ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên điều quan trọng là phải
“thực hiện cho được những điều tốt đẹp trong thực tế, biến dân chủ từ khát vọng thành hiện thực” [7; tr.209] Khi nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân” và “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” thì đồng thời Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”[40; tr.276]
Mối quan hệ giữa nhân dân và nhà nước là mối quan hệ giữa “chủ thể quyền lực và chủ thể thực hiện sự ủy quyền” [7; tr.209] Một mặt nhà nước được nhân dân ủy quyền để thay mặt nhân dân thực hiện quản lý, điều hành toàn diện các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội để thực thi quyền lực nhân dân Mặt khác, phải để nhân dân trở thành chủ thể tự giác, tích cực, chủ động thực hiện quyền làm chủ của mình.“Nhân dân là người chủ nên bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân Quyền hành lực lượng đều ở nơi dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân Trong những quyền và nghĩa vụ đó, Hồ Chí Minh gắn liền trọng trách Nhà nước phục vụ dân chúng và dân chúng phải có trách nhiệm xây dựng Nhà nước của mình” [7; tr.209-210] Mọi thành viên trong xã hội đều bình đẳng, có trách nhiệm đạo đức và nghĩa vụ pháp lý Từ người ở cương vị cao nhất như chủ tịch nước đến người công dân bình thường, tất cả đều giống
Trang 36nhau ở mục đích phấn đấu và trách nhiệm là làm việc cho dân, phục vụ dân Nếu không làm được việc cho dân thì dân không cần đến nữa Người đòi hỏi mọi cơ quan, mọi tổ chức nhà nước và mọi công chức viên chức phải có tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ, bổn phận trước cuộc sống của dân chúng Người nói: “Chính phủ Cộng hòa dân chủ là gì? Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng Dân là chủ thì Chính Phủ phải là đầy tớ Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài Nếu Chính Phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính Phủ Nhưng khi dân dùng đầy tớ, làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính Phủ Nếu Chính Phủ sai thì phải phê bình” [37; tr.60]
Người nêu ra những luận điểm về thực hành dân chủ của dân mà đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự Người hướng vào việc nâng cao nhận thức, ý thức của dân, làm cho dân có hiểu biết về dân chủ để từng bước sử dụng quyền dân chủ của mình và góp sức xây dựng chế độ do mình làm chủ Người viết: “Nước ta là một nước dân chủ Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm (…) khi ai có điều gì oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy” [48; tr.439] Theo Người, mục đích của “thực hành dân chủ để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền tự do” Như vậy, thực hiện dân chủ là nhằm giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của dân chúng:
“Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân, đưa cách mạng tiến lên” [41; tr.592] Do đó, mà dân chủ trở thành động lực của tiến bộ, của phát triển: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” [44; tr.249]
Trong nhiều năm ở cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta, Người đã nêu gương thực hành dân chủ, luôn luôn chủ động đến với dân, gần dân, lắng nghe ý kiến của dân Người cũng tự mình nêu gương sáng tự phê bình và phê bình, đề cao nguyên tắc, đề cao kỷ luật với tinh thần trọng pháp gắn liền với trọng đức và ra sức khuyến khích tài năng
Trang 37Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, qua thực tiễn suốt mấy chục năm bôn
ba khắp thế giới, Hồ Chí Minh càng thấm sâu chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; và trong tư tưởng, tình cảm và hành động, Người
luôn thể hiện nhất quán chân lý ấy Quần chúng có vai trò to lớn đối với sự
nghiệp cách mạng đấu tranh chống đế quốc, thực dân, phong kiến để giải phóng con người Quần chúng cách mạng chính là các tầng lớp nhân dân
nước ta mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy sức mạnh to lớn ở họ Cơ sở của quan điểm tư tưởng ấy là lòng tin vào con người của Hồ Chí Minh Người cho rằng, nhân dân rất thông minh, sáng tạo; nhân dân là lực lượng đông đảo của toàn xã hội; nhân dân là người hiểu biết tất cả; nhân dân là nguồn sức mạnh
vô tận ở mọi nơi, mọi lúc Chính vì thế, Người cho rằng nhân, nghĩa là nhân
dân và trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng của nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của nhân dân được hình thành trên
cơ sở tổng kết những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Những thành công hay thất bại của các phong trào ấy đều được Người nghiên cứu, rút ra những bài học cần thiết cho việc hình thành tư tưởng về sức mạnh của nhân dân
Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, nhưng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân đông đảo Người nhắc nhở công tác dân vận của Đảng phải tìm mọi cách giải thích cho từng người dân hiểu rõ việc mình làm là vì lợi ích của chính họ, nên họ phải hăng hái làm cho
kỳ được Người cũng chỉ rõ làm bất cứ việc gì cũng phải bàn với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành Đảng phải lãnh đạo để nhân dân đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm chủ Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạnh của nhân dân Nhân dân mới chính là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ thể của lịch sử, là người làm nên lịch sử Người nhấn mạnh: Cá nhân dù có tài giỏi
Trang 38mấy cũng không thay thế được nhân dân Rõ ràng, trong những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng về sức mạnh của nhân dân là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn rất quan trọng, lâu dài
Quần chúng có vai trò to lớn đối với sự nghiệp cách mạng đấu tranh chống đế quốc, thực dân, phong kiến để giải phóng con người Cho nên, trong
sự nghiệp cách mạng giải phóng con người phải phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân và tiết kiệm sức dân
Để phát triển sức dân, cần phát triển kinh tế, bởi vì kinh tế phát triển là điều kiện quan trọng hàng đầu để con người có thể cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mình Người nói: “hết sức chăm lo đời sống nhân dân Phải phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng, hợp lý, từng bước cải thiện ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khỏe
và giải trí của nhân dân” [44; tr.482]; “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người
đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm Người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” [37; tr.65] Việc coi trọng và tiết kiệm sức người không chỉ là quy luật tồn vong của một chế độ mà phải trở thành một đường lối, một chính sách trị nước tích cực của mọi thời đại, mọi chế độ chính trị
Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm tiết kiệm sức người hết sức sâu sắc Theo
Hồ Chí Minh, tiết kiệm sức người bao gồm: tiết kiệm sức lao động, sử dụng hợp lý sức lao động của nhân dân Người viết: “Phải biết quý trọng sức người
là vốn quý nhất của ta, chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng hợp lý sức lao động của nhân dân ta” [42; tr.313-314] Theo Người, tiết kiệm sức dân là “giảm sự đóng góp của nhân dân:, “ra sức bảo vệ sản xuất, bình ổn vật giá” … đặc biệt “phải bồi dưỡng lực lượng cho dân nhiều hơn yêu cầu đóng góp” [38; tr.464] Tiết kiệm sức người còn thể hiện trong việc tiết kiệm tiền công, của công, thời gian, nguyên vật liệu, giấy bút, máy móc, ruộng đất,
Trang 39đặc biệt là tiết kiệm sinh mạng con người trong khởi nghĩa giành chính quyền, trong chiến tranh giải phóng dân tộc và trong mỗi trận đánh …
Như vậy, trên cơ sở đề cao vị trí và vai trò của con người, Hồ Chí Minh
đề ra nhiệm vụ về giải phóng con người Đó cũng là mục đích mà suốt đời Người đã tranh đấu Muốn giải phóng con người trước hết phải giải phóng dân tộc, nước có độc lập thì dân mới được tự do Giải phóng con người là phấn đấu xây dựng xã hội bình đẳng, không có người bóc lột người, một xã hội mà trong đó mọi người được sống một cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc và được tạo điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân Vì thế, giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức, đô hộ của thực dân mới chỉ là bước đầu, mục đích lâu dài là phải đem lại cho con người một cuộc sống mà trong đó họ được làm chủ bản thân và làm chủ xã hội Dân chủ là động lực và là mục tiêu của chế
độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Tư tưởng ấy của Người có ý nghĩa thời sự đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Đó là luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước trước những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các hoạt động đe dọa nền hòa bình và an ninh của đất nước Bên cạnh đó giữ vững nền độc lập là bảo vệ chế độ, bảo vệ những thành quả đã đạt được của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời gian qua Đồng thời, xây dựng và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đó là mục tiêu và là bản chất của chế độ, do
đó đối với các cơ quan thuộc hệ thống chính trị phải luôn thực hiện dân chủ, tôn trọng, đảm bảo và tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân Nâng cao nhận thức cho nhân dân để họ ý thức, có trách nhiệm và có năng lực thực sự trong việc thực hiện quyền làm chủ của mình Hiện nay, Đảng ta đã và đang xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân nhằm huy động sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân thực hiện dân chủ rộng rãi phấn đấu mục tiêu xây dựng đất nước “công bằng, dân chủ và văn minh”
1.2.3 - Quan niệm của Hồ Chí Minh về người cách mạng
Trang 40Để sự nghiệp cách mạng đi tới thành công thì cần có người cách mạng,
trước hết đó là người có trí tuệ và đạo đức
Người cho rằng, đạo đức cách mạng cần thiết cho con người trong tu dưỡng cá nhân và trong đấu tranh cách mạng vì hạnh phúc của nhân dân Người xác định đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính và chí công vô
tư Đây là những giá trị, những chuẩn mực để trau dồi đạo đức của cá nhân, là nguyên tắc ứng xử của cá nhân đối với xã hội, biết quên mình cho sự nghiệp chung
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức thì không thành người” [37; tr.631]
Trong tác phẩm Đường Cách mệnh viết vào năm 1927, việc đầu tiên mà
Người đề cập tới chưa phải là lý luận, học thuyết, chủ nghĩa mà là “Tư cách của người cách mệnh” Đạo đức cách mạng trong sáng, toàn vẹn, toàn tâm, toàn ý vì sự nghiệp chung, cứu dân, cứu nước trở thành điều kiện tiên quyết
Đề cập tới “Tư cách của người cách mạng”, Người nêu ra ba mối quan hệ chủ yếu Với tự mình (đối với mình), với người (người khác), với đoàn thể (tổ chức và công việc) Ở đó, bảng giá trị đạo đức được sắp xếp thành 23 điểm, rành mạch, chặt chẽ, cụ thể như những yêu cầu ứng xử Người nhấn mạnh rằng, với mình thì nghiêm, với người phải rộng lòng khoan thứ, với đoàn thể phải phục tùng và giữ nghiêm kỷ luật, với công việc phải tận tụy, chu đáo Người coi đạo đức là gốc, là hàng đầu, là quyết định, trong mối quan hệ không tách rời với năng lực Người nhấn mạnh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy