1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thời đại Hồ Chí Minh- bước đầu tìm hiểu nội hàm khái niệm này từ góc nhìn triết học

82 506 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 701,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nhãn quan chính trị sắc bén, Hồ Chí Minh đã nhận ra nền tảng kinh tế của đất nước, hiện thực chính trị của xã hội và đặc biệt là lực lượng xã hội với tư cách là những con người cụ th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của đề tài 9

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 9

8 Kết cấu của luận văn 9

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM CHUNG VỀ THỜI ĐẠI, NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN QUY ĐỊNH SỰ RA ĐỜI TẤT YẾU CỦA THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH 10

1.1.Quan niệm chung về “Thời đại” và “Thời đại Hồ Chí Minh” 10

1.1.1 Về một số thời đại đã qua trong lịch sử xã hội và về một số phát minh có tính vạch thời đại hiện nay .10

1.1.2 Khái quát chung về thời đại 17

1.1.3 Thời đại Hồ Chí Minh 18

1.2 Những nhân tố cơ bản quy định sự ra đời tất yếu của thời đại Hồ Chí Minh .22

1.2.1 Hiện trạng kinh tế và chính trị thời kỳ thuộc Pháp – Nhật 22

1.2.2 Một số phong trào cứu nước giành lại độc lập dân tộc cho dân tộc và sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản .30

1.1.3 Phong trào cứu nước theo con đường cách mạng vô sản do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng và lãnh đạo thành công .34

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH 39

2.1 Nội dung kinh tế và chính trị của thời đại Hồ Chí Minh 39

2.2 Nội dung văn hoá tư tưởng và xã hội của thời đại Hồ Chí Minh 49

Trang 4

2.3 Lộ trình, công cụ, lực lượng và phương pháp triển khai thời đại Hồ Chí

Minh trong hiện thực xã hội Việt Nam 54

2.4 Phạm vi không gian và thời gian tồn tại của thời đại Hồ Chí Minh 60

2.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu thời đại Hồ Chí Minh 67

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Chí Minh đã cống hiến cả cuộc đời mình cho dân tộc ta và nhân loại Vì vậy, trong Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc tại lễ truy điệu trọng thể chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) sáng 9-9-1969 có đoạn viết: “HỒ CHỦ TỊCH đã qua đời! Nhưng Người để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu Đó là thời đại HỒ CHÍ MINH, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc Đó là kỷ nguyên độc lập, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên chủ nghĩa xã hội ở nước ta…”[62, tr.432]

Có thể nói, đoạn văn trên đã khái quát cô đọng mà đầy đủ nhất cống hiến của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc ta và khẳng định tầm vóc của thời đại Hồ Chí Minh

Vậy vấn đề đặt ra là thời đại Hồ Chí Minh bắt đầu từ khi nào? Những nhân tố nào quy định sự ra đời thời đại Hồ Chí Minh? Thời đại Hồ Chí Minh có những đặc trưng cơ bản nào, thời đại đó bao gồm những nội dung gì? Bác Hồ từng nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn

tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [44,tr.379], và như vậy với chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, đất nước ta được hoàn toàn độc lập và thống nhất, vậy phải chăng thời đại Hồ Chí Minh đã kết thúc? Và nếu ở Việt Nam hiện nay vẫn đang là thời đại Hồ Chí Minh thì thời đại đó có những gì khác so với các thời đại trước đó trong lịch sử vận động và phát triển của dân tộc Việt Nam? Điều gì đã làm nên thời đại Hồ Chí Minh?

Để trả lời được những câu hỏi đó chúng ta phải xét toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc Từ đó có thể thấy rằng những tư tưởng về độc lập dân tộc,

Trang 6

quốc gia dân tộc, chính trị nhân nghĩa và đại đoàn kết dân tộc là những tư tưởng cơ bản của chính trị truyền thống Còn thời đại Hồ Chí Minh là thời đại mà dân tộc ta đã bước sang một thời kỳ phát triển cao hơn, đã thiết lập được con đường vững chắc làm nền tảng cho dân tộc Việt Nam vững vàng bước vào kỷ nguyên mới văn minh, hiện đại Với nhãn quan chính trị sắc bén, Hồ Chí Minh đã nhận ra nền tảng kinh tế của đất nước, hiện thực chính trị của xã hội và đặc biệt là lực lượng xã hội với tư cách là những con người cụ thể đã tương tác tạo ra sự vận động và chuyển đổi mang tính cách mạng của một đất nước, một dân tộc để đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân, lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp câu kết với chế độ phong kiến gần 100 năm, giành chính quyền về tay nhân dân, đưa Việt Nam gia nhập đại gia đình vô sản quốc tế, sánh vai các cường quốc văn minh trên thế giới

Kể từ khi Hồ Chí Minh lựa chọn cho Việt Nam con đường cách mạng vô sản và tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta luôn kiên định con đường đó Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, mô hình chủ nghĩa xã hội được triển khai trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã bộc lộ nhiều hạn chế Những nước kiên định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa tiến hành cải cách đổi mới cả

về nhận thức lý luận và thực tiễn Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn và

có ý nghĩa lịch sử Tuy nhiên, sự chuyển đổi trong cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như: phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân… những vấn đề vốn rất mới so với nhận thức trước đổi mới đã khiến không ít người băn khoăn lo ngại về khả năng chệch hướng

xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh như vậy, nghiên cứu và làm rõ tư tưởng

Trang 7

Hồ Chí Minh, sự lựa chọn con đường cách mạng của Hồ Chí Minh để làm nên một thời đại mang tên Người là điều cần thiết Nghiên cứu nội hàm khái niệm thời đại Hồ Chí Minh từ cách tiếp cận của triết học càng cần thiết phải được đặt ra Để từ đó giúp thêm cho chúng ta có được cái nhìn khái quát hơn, sâu sắc hơn và đặc biệt là có niềm tin khoa học vững chắc hơn vào con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn và dẫn dắt cả dân tộc Việt Nam

Với mong muốn góp phần bước đầu nghiên cứu và làm rõ hơn về Thời đại Hồ Chí Minh trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chúng tôi lựa chọn

đề tài: ““Thời đại Hồ Chí Minh” – bước đầu tìm hiểu nội hàm khái niệm này từ góc nhìn triết học” cho luận văn Thạc sỹ triết học chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có rất nhiều những nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, văn hóa…Tuy nhiên, những nghiên cứu trực tiếp đến thời đại Hồ Chí Minh chưa có nhiều

Đã có một số sách và các công trình nghiên cứu liên quan đến thời đại Hồ Chí Minh như:

Tác giả Phạm Văn Đồng “Chủ tịch Hồ Chí Minh tinh hoa của dân tộc lương tâm của thời đại”, Nhà xuất bản Sự thật, 1970

“Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”, Nhà xuất bản Sự thật, 1990

Trung tâm Khoa học Xã hội, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam “Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay: Qua sách báo nước

Trang 8

ngoài”, chủ biên Phan Ngọc Liên, Nghiêm Văn Thái, Đại học Sư phạm Hà Nội I, Viện thông tin Khoa học Xã hội, 1993

Tác giả Bùi Đình Phong “Hồ Chí Minh tầm nhìn thời đại” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000

Tác giả Phạm Xanh: “Hồ Chí Minh dân tộc và thời đại”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002

Tất cả những cuốn sách trên tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định tầm mắt đại dương, nhìn xa trông rộng, xuyên qua lịch

sử, vượt qua không gian, thời gian của Hồ Chí Minh Những nhận xét của các học giả trong và ngoài nước khẳng định Hồ Chí Minh – một nhân cách sống lớn, gần gũi dân chúng với những tình cảm thiết tha Hồ Chí Minh vĩ đại trong sự giản dị của một con người: đại trí, đại nhân, đại dũng

Tạp chí cộng sản 2009 số 797, tác giả Trần Nhâm có bài viết “chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nền tảng lý luận xuất phát của chủ thuyết phát triển của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh”

Trong những công trình nghiên cứu khoa học nói trên các tác giả đi sâu nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời nêu lên giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc cứu nước nói riêng và giữ nước nói chung Các nghiên cứu cũng khẳng định vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam và khẳng định tính tất yếu của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội

Trang 9

Một số luận án liên quan:

“Tìm hiểu quá trình chủ tịch Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin”, tác giả Đức Vương, luận án Phó tiến sĩ khoa học lịch sử, 1985

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, tác giả Vũ Viết Mỹ, luận án Tiến sĩ Triết học,

sự lựa chọn con đường đúng đắn nhất cho cả dân tộc Việt Nam Các luận

án cũng đã lý giải một cách khoa học con đường mà Hồ Chí Minh lựa chọn

là hoàn toàn phù hợp với Việt Nam Ngoài con đường đó, chúng ta không

có sự lựa chọn nào tốt hơn

Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu trực tiếp về thời đại Hồ Chí Minh theo cách tiếp cận triết học, để nhận diện thời đại Hồ Chí Minh đã bắt đầu từ khi nào, có những nội dung gì? Thời đại Hồ Chí Minh trải qua quá trình phát triển ra sao? Thời đại hiện nay có còn là thời đại Hồ Chí Minh nữa hay không?

Qua khảo sát tình hình nghiên cứu cho thấy đề tài ““Thời đại Hồ Chí Minh” - bước đầu tìm hiểu nội hàm khái niệm này từ góc nhìn triết học” có thể và cần phải được đặt ra

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Nghiên cứu thời đại Hồ Chí Minh từ góc nhìn triết học để bước đầu làm sáng tỏ: tính tất yếu và những nội dung cơ bản của thời đại

Trang 10

Hồ Chí Minh, ý nghĩa của việc nghiên cứu thời đại Hồ Chí Minh cho thực tiễn Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục đích trên luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ:

- Khảo sát các quan niệm về một số thời đại khác nhau trong lịch sử, các quan niệm chung về thời đại để từ đó đưa ra khái niệm “thời đại”

- Chỉ ra tính tất yếu và những nhân tố quy định sự ra đời thời đại Hồ Chí Minh

- Làm rõ nội dung cơ bản của thời đại Hồ Chí Minh Từ đó, một mặt

để thấy rằng sự lựa chọn “con đường cách mạng vô sản” là sự lựa chọn duy nhất đúng ở Việt Nam Mặt khác, cũng thấy rằng ở Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh cũng chỉ mới bắt đầu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

“Thời đại Hồ Chí Minh” trong lịch sử cận hiện đại của Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp kết hợp lịch sử - lôgic, phương pháp phân tích tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, diễn dịch, quy nạp, so sánh trong đó phương pháp chủ yếu là phương pháp kết hợp lôgic - lịch sử

Trang 11

6 Đóng góp của đề tài

Từ góc nhìn triết học, luận văn bước đầu khai thác làm tỏ nội hàm khái niệm “Thời đại Hồ Chí Minh” về mặt lý luận, soi vào thực tiễn Việt Nam và bước đầu nhận diện ra sự tồn tại của nó trong lịch sử cách mạng Việt Nam giai đoạn đã qua và trong tương lai

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn góp phần khẳng định tính tất yếu của thời đại Hồ Chí Minh

ở Việt Nam, sự đúng đắn của đường lối cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã thiết kế trên cương vị là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã góp phần cùng toàn Đảng và toàn dân tộc thi công đường lối này bước đầu tạo dựng ra một thời đại mới trong sự phát triển của dân tộc

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiết

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM CHUNG VỀ THỜI ĐẠI, NHỮNG NHÂN

TỐ CƠ BẢN QUY ĐỊNH SỰ RA ĐỜI TẤT YẾU CỦA THỜI ĐẠI

HỒ CHÍ MINH 1.1 Quan niệm chung về “Thời đại” và “Thời đại Hồ Chí Minh”

1.1.1 Về một số thời đại đã qua trong lịch sử xã hội và về một số phát minh có tính vạch thời đại hiện nay

Khái niệm thời đại mang nhiều nội dung khác nhau chứa đựng những nội hàm khác nhau, thậm chí cách hiểu về thời đại ở mỗi người cũng không giống nhau Tuy nhiên, để được coi là một thời đại mới chỉ khi có một nhân vật, một sự kiện, một hiện tượng mới ra đời làm đảo lộn cuộc sống xã hội, làm người ta từ bỏ phương thức sống cũ, tạo ra hay tìm tới một phương thức sống mới với một hệ giá trị sống mới thay cho hệ giá trị cũ Trên nền tảng những điều kiện vật chất kinh tế thay đổi, quan hệ giữa người với người, giữa người với cộng đồng cũng thay đổi theo hệ giá trị mới đó Như vậy, một thời đại mới ra đời

Theo cách tiếp cận như thế thì trong lịch sử loài người đã từng tồn tại rất nhiều thời đại khác nhau Ví dụ thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại kim khí

là những chiếc rìu “vạn năng” Họ dùng rìu đó để chặt cây, làm vũ khí tự

Trang 13

vệ và tấn công các con thú khi săn bắt, dùng để đào bới cây củ kiếm ăn

“Thức ăn của họ là các loại quả hay hạt” [40,tr.47] Ănghen cho rằng: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người” [39,tr.641]

Ở thời đại đồ đá, loài người còn có một bước tiến lớn lao hơn, một phát minh quan trọng hơn, đó là việc dùng và lấy lửa Con người biết tự làm ra lửa bằng cách cọ xát mạnh hai cành cây khô hay hai hòn đá lửa Đây

là một bước nhảy vọt trong lịch sử loài người Ăngghen viết: “Mặc dầu máy hơi nước đã thực hiện trong thế giới xã hội một cuộc giải phóng vĩ đại, cuộc cách mạng này chưa hoàn thành được một nửa, nhưng điều chắc chắn

là tác dụng giải phóng loài người (trên ý nghĩa lịch sử thế giới) của việc lấy lửa bằng cọ xát còn vượt xa máy hơi nước Vì rằng lửa do cọ xát làm ra khiến con người lần đầu tiên chi phối được lực lượng tự nhiên, và do đó đã tách hẳn con người khỏi động vật” [39,tr.197]

Như vậy, sự xuất hiện của công cụ lao động bằng đá đã làm cho con người thay đổi về phương thức sống Qua lao động, chế tạo công cụ và sử dụng công cụ, bàn tay con người khéo léo dần, cơ thể cũng biến đổi để có

tư thế lao động thích hợp

Thời đại đồ đá với sự xuất hiện của công cụ lao động bằng đá đã đưa con người chuyển từ phương thức sống chủ yếu dựa vào thiên nhiên, thu lượm những gì có sẵn trong thiên nhiên sang một phương thức sống khác, lần đầu tiên con người đã tự sản xuất ra thức ăn, đã biết dựa vào công cụ lao động để trồng trọt, biết chăn nuôi gia súc Cuộc sống của người nguyên thủy dần dần trở nên khá hơn Quả thật: “Lao động bắt đầu với việc chế tạo

ra công cụ lao động…công cụ đầu tiên đó là những cái gì? Đó là những công cụ săn bắn và đánh cá Những công cụ săn bắn đồng thời cũng dùng

Trang 14

làm vũ khí Nhưng sự xuất hiện của nghề săn bắn…đã có bước chuyển từ chỗ ăn thuần thực vật sang chỗ ăn cả thịt nữa, và đó là một bước tiến quan trọng trên con đường chuyển biến thành người” [39,tr.648-649]

Thời đại kim khí:

Lịch sử loài người luôn luôn vận động và biến chuyển Thời đại kim khí xuất hiện thay thế thời đại đồ đá :

Trong suốt thời gian dài, công cụ lao động của con người chủ yếu bằng đá, một thứ nguyên liệu vừa cứng, vừa giòn, vừa rất khó đẽo Nếu muốn cải tiến công cụ lao động dù chỉ là một cải tiến nhỏ trong cách ghè đẽo cũng đòi hỏi hàng nghìn năm tích lũy kinh nghiệm Nhưng khi tìm ra nguyên liệu mới là kim loại thì tốc độ phát triển của xã hội đã tăng nhanh hơn gấp nhiều lần và con người chuyển sang sống theo một phương thức sống mới

Đầu tiên là con người phát minh và biết sử dụng công cụ bằng đồng Đồng được sử dụng để chế tạo ra lưỡi cày, lưỡi cuốc, rìu, dao, liềm…Sau

đó thì đến công cụ lao động bằng sắt - một thứ kim loại cứng và sắc hơn đồng rất nhiều “Sắt cho phép người ta có thể trồng trọt trên những diện tích rộng lớn hơn, có thể khai hoang những miền rừng rú rộng lớn hơn; sắt khiến cho người thợ thủ công có được một thứ công cụ cứng và sắc mà không một loại đá nào hay một loại kim khí quen thuộc nào có thể đương đầu với nó được.” [68,tr.27]

Thời đại kim khí với sự xuất hiện của công cụ lao động bằng đồng và bằng sắt con người đã chế tạo ra được nhiều loại công cụ thích hợp, con người đã biết khai hoang, mở rộng diện tích trồng trọt Con người biết dùng cày có lưỡi bằng kim loại dùng súc vật kéo làm cho năng suất lao động tăng Việc sử dụng nguyên liệu đồng và sắt đòi hỏi nghề thủ công phải

Trang 15

không ngừng tích lũy kinh nghiệm và đi vào chuyên môn hóa để nâng cao chất lượng sản phẩm

Thời đại kim khí đánh dấu sự chuyển biến của lịch sử loài người từ chỗ con người sống bấp bênh dựa vào tự nhiên đến chỗ tìm đủ thức ăn nuôi sống mình Ngay từ buổi đầu thời đại kim khí, sản phẩm làm ra không những chỉ đủ ăn, mà còn dư thừa Có được điều đó là nhờ vào sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự chuyên môn hóa trong sản xuất và trao đổi sản phẩm, thúc đẩy tăng năng suất lao động, tạo ra sản phẩm ngày càng nhiều trong xã hội

Có thể thấy rằng những khái niệm thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại kim khí là những khái niệm dùng để chỉ một giai đoạn lịch sử đặc thù mà toàn bộ những nhân tố kinh tế, xã hội, văn hóa của giai đoạn lịch sử

đó đều chịu ảnh hưởng có tính quyết định của việc ra đời một loại chất liệu chủ yếu của công cụ lao động mà nhờ sự xuất hiện của công cụ này thì năng suất lao động, thậm chí những phương thức sản xuất đã có những biến đổi căn bản so với những giai đoạn lịch sử trước đó, rồi đến lượt mình sự biến đổi đó lại gây ra những biến đổi khác trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội

Ngày nay, người ta còn có thể dùng khái niệm thời đại để chỉ những biến đổi căn bản của một hay một số lĩnh vực khoa học kỹ thuật nào đó mà những biến đổi này tạo ra những thay đổi căn bản trên một khía cạnh hoặc một lĩnh vực của đời sống Ví dụ thời đại nguyên tử, thời đại Internet…

Thời đại nguyên tử:

Khi nhân loại khám phá ra năng lượng nguyên tử đã đưa nhân loại bước sang một thời đại mới: thời đại nguyên tử

Trang 16

Nhân loại thực sự đã rất vui mừng trước sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật đặc biệt là vai trò của nguyên tử đối với các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống

Khi Wilhelm Roentgen phát hiện ra tia X, các nhà y học đã nhận biết ngay giá trị của phát minh kể trên để áp dụng vào việc tìm hiểu các bộ phận

ẩn khuất trong cơ thể Cùng với các đóng góp của Marie Curie, Albert Einstein, Enrico, Fermi, nguyên tử được cả loài người biết đến

Ở thời đại nguyên tử, “năng lượng nguyên tử phát ra trong phản ứng dây chuyền đã được dùng trong việc chế tạo bom nguyên tử và sản xuất điện năng, còn tác dụng ghép hạch tâm được dùng để cắt nghĩa về nguồn gốc nhiệt lượng và ánh sáng xảy ra trên mặt trời và các ngôi sao, được dùng trong phương pháp nổ bom khinh khí và các nhà vật lý đang tìm kiếm ứng dụng thực tế của tính chất ghép hạch tâm có kiểm soát” [97]

Khi nghiên cứu về nguyên tử, Einstein dự báo: “Trong tương lai rất gần chất Uranium có thể biến thành một nguồn năng lượng mới mẻ và quan trọng… Hiện tượng mới này có thể dẫn tới việc chế tạo bom và có thể tin rằng … chỉ một trái bom loại đó, mang dưới tàu và cho nổ ở hải cảng thì có thể phá toàn thể hải cảng và các vùng phụ cận”[97] Kết quả là ít lâu sau

Mỹ thả bom nguyên tử tàn phá Hiroshima và Nagasaki

Rõ ràng, khi một số lò phản ứng hạt nhân được dùng để sản xuất ra đồng vị có tính phóng xạ dùng trong y học và công cuộc nghiên cứu khoa học thì nguyên tử có đóng góp rất lớn đối với việc chữa bệnh cho con người Đặc biệt khi thế giới đang đấu tranh chống lại biến đổi khí hậu, nguyên tử đã mang đến công nghệ sản xuất điện ít thải khí CO2 hơn so với một nhà máy nhiệt điện sản xuất từ than Cùng với đó là việc ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong nông nghiệp và sinh học để tạo ra những đột biến

Trang 17

trong việc chọn tạo giống cây trồng mới trên các đối tượng là lúa, đậu tương và hoa đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn

Tuy nhiên, thời đại nguyên tử cũng đưa nhân loại đến chỗ lo lắng về một nguy cơ hủy diệt vì sự bùng nổ của bom nguyên tử Hạt nhân nguyên

tử, phóng xạ, năng lượng nguyên tử đang trở thành tác nhân đáng gờm nhất của sự ô nhiễm môi trường và là mối đe dọa lớn nhất cho sự tồn tại của loài người trên trái đất

Thời đại nguyên tử đã đưa nhân loại chuyển sang một giai đoạn mới

mà ở đó việc ứng xử giữa con người với con người, giữa các quốc gia với nhau cũng có sự thay đổi lớn

Thời đại Internet

Thuật ngữ Internet xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974 Hai thập niên sau nhân loại sử dụng nó một cách rộng rãi, một thời đại mới ra đời - thời đại Internet

Internet xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, xã hội…

Internet chứa đựng một kho kiến thức khổng lồ Người ta có thể tìm kiếm mọi thông tin trong tất cả các lĩnh vực trong nước và quốc tế, tin tức mới, cũ Internet trở thành phương tiện giúp việc truyền đạt, trao đổi thông tin, hợp tác giữa các cá nhân, tổ chức ở các quốc gia trên khắp hành tinh diễn ra nhanh chóng và cực kỳ tiện ích Được tự do bày tỏ ý kiến của mình trên diễn đàn, được bình luận ngay cả những vấn đề liên quan đến Pháp luật và quản lý nhà nước

Ở thời đại Internet con người có thể giải trí bằng cách nghe nhạc, xem phim, hài kịch, gặp gỡ những người nổi tiếng Internet giúp mọi người trên toàn thế giới gần gũi nhau hơn

Trang 18

Thời đại Internet con người có thể sử dụng thư điện tử (Email), đây cũng là một lợi ích tuyệt vời từ Internet Thậm chí marketting bằng email

có thể mang đến những đơn đặt hàng ngay sau khi email chào hàng được gửi đi Internet đã tạo ra cơ hội liên kết hợp tác làm ăn trên mạng rất lớn ở phạm vi quốc tế Thông qua Website, các doanh nghiệp không chỉ giới thiệu về doanh nghiệp của mình mà còn cung cấp thông tin cho khách hàng

về sản phẩm, giá cả Rồi lựa chọn mặt hàng, giao hàng tận nơi, mở ra một không gian kinh doanh rộng lớn, tiết kiệm chi phí

Thời đại Internet còn mở ra một hướng mới cho giáo dục đào tạo, các hệ đào tạo từ xa, học trực tuyến qua mạng, học các chương trình đào tạo của nước ngoài thông qua Internet đã mở ra cơ hội học tập cho những người lâu nay thiệt thòi khi phải làm việc theo ca, những người thường xuyên đi công tác, người sống xa trường học, những khó khăn về tâm lý hoặc thể trạng sức khỏe không thể đến trường

Thời đại Internet giúp cho công dân có thể hỏi đáp pháp luật, mối quan hệ giữa Chính phủ và công dân được xích lại gần hơn, đảm bảo tính minh bạch, công khai, tiến lên mục tiêu xây dựng một Chính phủ của dân,

vì dân, vì sự phồn thịnh của đất nước trong môi trường toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Tuy nhiên, ở thời đại Internet cũng khiến con người phải gồng mình đối phó khi mà một số mạng xã hội trực tuyến bị lợi dụng để đưa những thông tin có nội dung tuyên truyền chống phá nhà nước, nói xấu chế độ Rồi những tin tức, hình ảnh đồi trụy, gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức lối sống của thế hệ trẻ Rồi nghiện Internet, chơi Game Online nhanh chóng trở thành loại hình giải trí được giới trẻ yêu thích Các Game thủ đang hao tổn quá nhiều thời gian, sức khỏe, tinh thần vào những trò chơi vô bổ Rồi

Trang 19

quyền tự do cá nhân cũng bị vi phạm khi liên tiếp những Clip hot được tung lên mạng

Như vậy, thời đại Internet đã mở đường cho sự phát triển của nhiều lĩnh vực kinh doanh, thúc đẩy việc xóa mù chữ, khuyến khích mọi người học hỏi và đem mọi người đến gần nhau hơn Có thể nói thời đại Internet ra đời đã làm cho phương thức sống của nhân loại có ít nhiều thay đổi

1.1.2 Khái quát chung về thời đại

Theo từ điển: “Thời đại là một khoảng thời gian dài, được phân chia

ra những sự kiện có đặc trưng giống nhau: thời đại đồ đá, thời đại văn minh.” [85,tr.1591]

Theo giáo trình Triết học Mác – Lênin dành cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không chuyên triết : “Thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử xã hội, phân biệt những nấc thang phát triển của xã hội loài người” [28,tr.200]

Theo nghiên cứu của PGS Bùi Thanh Quất : “Thuật ngữ “Thời đại”

có thể được sử dụng để chỉ một giai đoạn tồn tại và vận động tương đối dài trong đời sống của loài người và xã hội của một quốc gia dân tộc, của một đất nước, với một phương thức sống đặc trưng cho giai đoạn đó, phân biệt giai đoạn này với những giai đoạn trước nó”[75, tr.52-53]

Như vậy: Thời đại là khái niệm để chỉ sự vận động, tồn tại của một

xã hội, một thời kỳ dài trong lịch sử được đánh dấu bằng sự ra đời của một

sự kiện, một hiện tượng hoặc một nhân vật mà trước đấy xã hội vận động, tồn tại theo một phương thức khác và khi sự kiện đó, hiện tượng đó, con người đó xuất hiện đã làm cho phương thức sống của cả xã hội khác về chất so với xã hội trước đó

Nếu các thời đại trong lịch sử như thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại kim khí gắn với sự xuất hiện của một chất liệu công cụ lao động

Trang 20

mới, nếu các thời đại nguyên tử, thời đại Internet gắn với sự xuất hiện của những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới thì thời đại Hồ Chí Minh lại gắn với

sự xuất hiện của một nhân vật lịch sử, một con người mà sự xuất hiện của

cá nhân đó đã làm cho cả xã hội vận động theo một phương thức sống khác Luận văn này có nhiệm vụ khoa học chủ yếu là xác định nội hàm của khái niệm thời đại Hồ Chí Minh ở những nét khái quát phác thảo đầu tiên, đưa ra những dấu hiệu sơ khai để có thể bắt đầu những nghiên cứu mới

1.1.3 Thời đại Hồ Chí Minh

Cho đến hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về thời đại Hồ Chí Minh Nhưng xung quanh khái niệm này cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau:

Trong Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc tại lễ truy điệu trọng thể chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường

Ba Đình (Hà Nội) sáng 9-9-1969 có đoạn viết: “HỒ CHỦ TỊCH đã qua đời! Nhưng Người để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu Đó là thời đại HỒ CHÍ MINH, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc Đó là kỷ nguyên độc lập, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta…”[62, tr.432]

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: “Hồ Chí Minh đã sáng lập thời đại mới của dân tộc Việt Nam, bộ phận của thời đại mới của loài người, quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới

mở đầu bằng cách mạng Tháng Mười Nga Trong thời đại mới, đang hình thành con người Việt Nam mới, với những giá trị tư tưởng và tinh thần cao quý

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin

và chủ nghĩa quốc tế, những điều lớn lao trước đây chưa từng có ấy trở

Trang 21

thành quen thuộc và thân thiết, nhập vào nền tảng của sinh hoạt xã hội và dần dần giữ vai trò chủ đạo trong nền tảng ấy…

Xã hội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là xã hội đề cao các giá trị tinh thần, các quan hệ đẹp giữa người với người Trong xã hội ấy, những con người tiêu biểu là những chiến sỹ dũng cảm bảo vệ Tổ quốc, những người lao động nhiệt tình xây dựng đất nước, những con người biết chăm

lo cuộc sống và lợi ích chung của nhân dân, đồng thời biết làm cho cuộc sống của cá nhân được đầy đủ và phong phú trong sự hài hòa với cuộc sống

xã hội, những con người có đức tính vị tha, thương yêu đồng bào, đồng chí, không ngừng phấn đấu vươn lên theo phương châm “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người” [21,tr.50-51]

Ở thời đại Hồ Chí Minh, cách mạng là sự vươn lên của cả dân tộc, mỗi người dân Việt Nam đều tìm thấy chính bản thân mình trong cuộc cách mạng vĩ đại đó Chính vì vậy cả dân tộc Việt Nam đã đoàn kết vượt qua tất

cả những thử thách gay gắt, những nguy cơ mất còn Trải qua những cuộc đấu tranh quyết liệt nhưng cả dân tộc lại tìm thấy trong cuộc cách mạng đó niềm vui, không khí tự do, niềm hân hoan khi được góp sức vào một công cuộc lớn lao Dường như cách mạng vừa là sự nỗ lực phi thường của quần chúng nhưng đó cũng là một ngày hội

Tại hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” diễn ra vào sáng 12/5/2010 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trong diễn văn khai mạc, đồng chí Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Thời đại Hồ Chí Minh là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội Tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một tấm gương vô cùng trong sáng và cao thượng, tượng trưng cho tinh hoa văn hóa Việt Nam” [98]

Trang 22

Các nhà khoa học khi nghiên cứu về thời đại Hồ Chí Minh cũng đưa

ra nhiều quan điểm khác nhau:

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo trong bài: “Thời đại Hồ Chí Minh trong lịch sử quang vinh của dân tộc Việt Nam” cho rằng:

“Thời đại Hồ Chí Minh mở đầu cho kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hòa vào dòng chảy lớn của lịch sử thế giới hiện đại, của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

Thời đại Hồ Chí Minh của Việt Nam là đóng góp xứng đáng nhất của cách mạng Việt Nam vào việc khẳng định sức sống và ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, của cách mạng Tháng Mười và của chủ nghĩa hiện thực trong đời sống chính trị của thế giới từ thế kỷ XX đã qua sang thế kỷ XXI hiện nay” [34, tr.590]

Theo PGS Bùi Thanh Quất: “thời đại Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam là giai đoạn mà dân tộc Việt Nam, một mặt bứt phá khỏi tình trạng lạc hậu của một nước nông nghiệp kém phát triển vốn là thuộc địa của thực dân tư bản, để đạt tới trình độ ngang hàng với các nước tư bản phát triển đã từng đối mặt với mình, từng cai trị mình; một mặt khác phải tham gia chủ động vào quá trình cách mạng chung chỉnh thể của giai cấp vô sản quốc tế ở tầm vóc toàn cầu nhằm vươn vượt khỏi, bứt bỏ khỏi trạng thái phát triển tư bản chủ nghĩa của thế giới, đặng đạt tới một xã hội đích thực là xã hội của con Người và cho con Người.”[75, tr.55]

Như vậy, có thể khẳng định: Thời đại Hồ Chí Minh là một giai đoạn trong lịch sử dân tộc Việt Nam Mở đầu bằng thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, là thời đại khác hoàn toàn về chất so với các thời đại trước đó, là thời đại của độc lập tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội hiện đại, khoa học – kỹ thuật tiên tiến, đời sống vật chất và tinh thầncủa

Trang 23

nhân dân ngày càng được nâng cao Với một kết cấu giai tầng tương ứng, một thiết chế xã hội do nhân dân lao động làm chủ với nhà nước của dân,

do dân, vì dân hướng đến mục tiêu cao nhất là dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Có thể khẳng định:

“- Thời đại Hồ Chí Minh, trước hết là thời đại mà dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc độc lập, tự chủ, tự quyết định cuộc sống của mình trong cộng đồng các quốc gia dân tộc toàn thế giới…

- Thời đại Hồ Chí Minh là thời đại mà dân tộc Việt Nam, một cách chủ động, thực hiện các bước phát triển toàn diện đất nước mình cho kịp với trình độ phát triển của những quốc gia dân tộc đã đô hộ mình (đế quốc Pháp và phát – xít Nhật)… Nếu chúng ta chỉ lấy mô hình của các quốc gia

tư sản phát triển đã từng đô hộ chúng ta hoặc đối mặt với chúng ta làm đích hướng tới cho sự phát triển của Việt Nam, thì hóa ra, về chất lượng phát triển đất nước sau khi giành được độc lập, trong so sánh với quốc gia đã đô

hộ mình, chúng ta cũng chưa hơn được cha ông…

- Thời đại Hồ Chí Minh … phải là thời đại mà con người và đất nước Việt Nam một cách độc lập, tự chủ, chủ động quyết định và thực hiện cuộc sống của mình theo hướng, một mặt, vừa nhất thiết phải đạt tới trình độ phát triển – cả về mặt kinh tế - kỹ thuật - vật chất, cả về mặt văn hóa – xã hội – và tinh thần cũng như cách tổ chức vận hành các thiết chế chính trị đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ trong xã hội theo đúng hiến pháp và pháp luật của nhà nước – đạt tới trình độ phát triển tương đương với những quốc gia thực dân tư sản đã từng đô hộ mình Một mặt khác, từng bước chủ động thực hiện có bản lĩnh quá trình xây dựng một trật tự xã hội với một phong cách sống nhân ái, văn minh…”[75, tr.56]

Trang 24

Với những phân tích trên đây, thời đại Hồ Chí Minh mới chỉ đang ở giai đoạn đầu tiên trong sự tồn tại của mình mà thôi? Và như vậy những gì đang chờ đón chúng ta ở phía trước đòi hỏi sự nỗ lực vươn lên dựa trên tinh thần đoàn kết của cả dân tộc Chúng ta phải làm thế nào để khắc phục trạng thái lạc hậu, tụt hậu về kinh tế, xã hội để đạt tới trình độ của những quốc gia tư sản phát triển đã từng thống trị hoặc mong muốn thống trị chúng ta Hơn thế nữa là một xã hội cao hơn về chất so với lối sống mà các quốc gia

tư sản văn minh nhất có thể đạt được “Với tầm nhìn của lãnh tụ Hồ Chí Minh, với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có tuổi đời gần một thế

kỷ, do chính Hồ Chí Minh sáng lập, với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dù trong thời chiến hay thời bình, Việt Nam đã và đang từng bước, dù chậm chạp, vượt qua mọi khó khăn và thách thức, tận dụng mọi

cơ hội và thuận lợi để thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường mà danh nhân văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh đã lựa chọn, theo mô hình mà Người đã thiết kế phác thảo Mười một kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, với 5 bản cương lĩnh mà Đảng đã thông qua và kiên trì lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện hơn 80 năm qua đã chứng tỏ điều này Chúng tôi nghĩ rằng, Thời đại Hồ Chí Minh chính là thời đại mà nhân dân Việt Nam xây dựng và phát triển đất nước theo con đường ấy, theo mô hình xã hội ấy” [75, tr.57]

1.2 Những nhân tố cơ bản quy định sự ra đời tất yếu của thời đại Hồ Chí Minh

1.2.1 Hiện trạng kinh tế và chính trị thời kỳ thuộc Pháp – Nhật

“Từ khi bị Pháp chiếm, đất nước chúng tôi hầu như luôn luôn sống lay lắt ngày này qua ngày khác không hề biết chính quyền muốn dẫn mình

đi đến đâu”[41, tr.6]

Trang 25

Sau nửa thế kỷ Pháp đặt ách thống trị lên đất nước: “Thật đáng buồn thay khi thấy rằng sau 50 năm thống trị mà những người đại diện cho nước cộng hoà Pháp ở Đông Dương vẫn cứ ngoan cố kìm chân người bản xứ trong vòng nô lệ, không cho họ hưởng một chút quyền tư do nào cũng như các quyền khác theo luật pháp”[41, tr.12] Một tình trạng vô vọng, bế tắc bao trùm tất cả

Trong chế độ này, người Việt Nam không còn tồn tại như những con người: “Chủ nghĩa tư bản Pháp đã vào Đông Dương từ hơn nửa thế kỷ nay,

vì lợi ích của nó, nó đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi Từ

đó, chúng tôi không những bị áp bức, bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm…người ta đã làm chết hàng nghìn người An Nam và tàn sát hàng nghìn người khác để bảo vệ những lợi ích không phải của chính họ”.[41, tr.22,23]

Tính mạng của con người An Nam bị rẻ rúng không đáng giá một trinh Người An Nam bị coi là “hạng người thấp kém”, là “nô lệ”, là “lũ ròi bọ” mà chỉ có “ba toong, súng ngắn, súng dài” mới “xứng đáng” với họ Họ

“phải è cổ ra mà chịu công ơn bảo hộ của nước Pháp Riêng người nông dân An Nam lại càng phải è ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách nhục nhã hơn”[41,tr.82] Luôn luôn có sẵn “một kho đầy ắp những hình phạt”[42,tr.90] để giáng vào đầu những con người khốn khổ ấy

“Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác và trắng trợn đến thế” [42,tr.112] Và “để dạy cho mọi người sống cho ra sống, người ta bắt đầu bằng việc giết họ đi đã”[42,tr.33] Mỗi thuộc địa, chủ nghĩa thực dân sử dụng những biện pháp khác nhau để cai trị, nhưng các thuộc địa đều giống nhau ở một điểm “Giữa An Nam với Cônggô, Máctiních hay Tân Đào, không hoàn toàn giống nhau chút nào, trừ sự cùng khổ” [41,tr.63]

Trang 26

Không chỉ có vậy, con người trong bộ máy chính quyền thực dân là

sự dung nạp của tất cả những cặn bã từ chính quốc thải ra, từ viên chức bình thường cho đến nhân vật chóp bu là viên Toàn quyền “Sang Bắc Kỳ, các ông Toàn quyền chỉ nhằm một mục đích là: tìm chỗ bổ dụng bạn bè, con cháu thân thuộc và bọn vận động bầu cử của những bậc thế quyền có thể làm chỗ dựa cho mình” [42,tr.55] “Các viên Toàn quyền lớn, Toàn quyền bé được nước mẹ ký thác vận mệnh xứ Đông Dương, nói chung đều

là bọn ngu xuẩn, bọn đểu cáng”[42,tr.84] Tất cả sự xa hoa, tráng lệ, thừa mứa trong cuộc sống của các quan cai trị thuộc địa đều dựa trên ngân sách được bòn rút từ những người bản xứ nghèo khổ, bị bần cùng hoá đến cùng cực “Quan toàn quyền chưa vừa ý với những lâu đài tráng lệ mà ngài ở tại Sài Gòn và Hà Nội, còn phải cần thêm cho ngài một biệt thự ở bãi biển nữa Ngân sách Đông Dương lại phải è lưng ra gánh ”…Tiền nhà cửa, bàn ghế, điện nước của các vị đó đều do công quỹ đài thọ cả Ngoài ra, những người đánh xe, lái xe, giữ ngựa làm vườn, tóm lại, tất cả những kẻ hầu người hạ của họ đều do nhà nước trả tiền công”[42, tr.71,72]

Có thể thấy: Thuộc địa là một “thiên đường ở trần gian” cho các quan cai trị, nơi mà “cái gì người ta (người châu Âu ở Đông Dương) cũng được phép và có thể làm được”[42, tr.33] Nơi đây “tất cả những ai có tí chút quyền hành trong tay cũng đều sử dụng và lạm dụng quyền hành để thả cửa làm bậy vì họ biết chắc rằng sẽ không bị tội vạ gì hết”[42,tr.57] Nơi đây không có luật lệ và công lý mà chỉ có một thứ luật rừng được các

“nhà khai hoá” sử dụng một cách phổ biến và thường xuyên “Chẳng có luật lệ nào khác ngoài sự tuỳ tiện của bọn nhà đoan” [42,tr.75] Và “khi người ta đã là một nhà khai hoá thì người ta có thể làm những việc dã man

mà vẫn cứ là người văn minh nhất”[42,tr.56]

Trang 27

Bộ máy của chính quyền thực dân còn là bộ máy tham nhũng, quan liêu Trong bộ máy đó tồn tại nhan nhản những “viên chức giữ những chức

vụ vô dụng” và thậm chí còn “dốt đặc” nhưng vẫn nhận những “đồng lương rất hậu” Đây còn là bộ máy vô trách nhiệm và vô cảm khi sử dụng những đồng tiền ngân sách một cách phung phí, tuỳ tiện và bữa bãi: “Hết hành vi điên rồ này đến hành vi điên rồ khác đã phung phí những đồng tiền mà người dân An Nam khốn khổ đã phải đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm được” [42,tr.68]

Bọn thực dân với quyền lực trong tay ngày càng phè phỡn trên máu

và nước mắt của những người bản xứ: “Tất cả bọn chúng chỉ có mỗi cái tài

là phung phí công quỹ, còn người An Nam khốn khổ thì cứ nai lưng đóng góp, đóng góp mãi”[42, tr.71] Tệ tham nhũng đã bòn rút gần như sạch trơn ngân sách chính quyền: “Trong số 12 triệu đồng của ngân sách Nam Kỳ, thì

10 triệu đồng đã tìm cách chui sâu vào túi các ngài viên chức rồi”[42, tr.99]

Hành động của bộ máy chính quyền ấy cũng thật quái đản Để giải quyết nạn đói, chính phủ bắt giam một số đông người đói Và để cho bọn người đó không coi nhà tù là nơi cứu tế, người ta không cho họ ăn gì hết cho đến chết!

Với tội ác kinh tởm của chủ nghĩa thực dân khắp nơi trên thế giới:

“thế giới chỉ có hoà bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thoả thuận với nhau cùng tiêu diệt con quái vật chủ nghĩa đế quốc ở khắp mọi nơi mà họ gặp nó”[41,tr.100]

Ở Việt Nam, nông dân chiếm 90% dân số nhưng chỉ có một phần nhỏ ruộng đất chia manh mún ra thành hàng triệu thửa Bần cố nông là những người không có ruộng đất hoặc có rất ít ruộng đất phải cấy rẽ của địa chủ và nộp tô “Mặc dù nông dân Việt Nam làm lụng ghê gớm, những

Trang 28

thửa ruộng Việt Nam dưới thời thực dân cũng chỉ cho được những năng suất thấp nhất thế giới: 12 tạ 1 hécta” [33,tr.12]

Tổng sản lượng lúa có lên nhưng nông dân ngày càng khổ: “Tổng sản lượng lúa năm 1910 là 4.300.000 tấn, năm 1913 là 4.718.000 tấn (tăng 9%), năm 1937 là 6.316.000 tấn, tăng 47%, trong đó mức tiêu thụ bình quân hàng năm theo đầu người mỗi năm một giảm: 262kg (giảm 14%) và 182kg (giảm 30%) Trái lại số lúa mà bọn thực dân đem xuất thì mỗi năm một tăng: 916.000 tấn, 1.287.000 tấn (tăng 40%) và 1.529.000 tấn (tăng 67%)” [33,tr.13]

Đời sống của nông dân thì rất cơ cực Ăn đói, mặc rách, bệnh tật, mù chữ “Thu nhập trung bình của người nông dân Việt Nam năm 1931 là 49 đồng Đông Dương (490 frăng) trong khi thu nhập của một người nông dân khốn khổ nhất của Marốc là 1.850 frăng, so với thu nhập trung bình của một người Pháp hồi đó là 6.200 frăng” [33,tr.13]

Về công nghiệp: Thực chất chúng ta không có công nghiệp nặng, có

mở mang một số ngành công nghiệp nhẹ như dệt, diêm, thuốc lá nhưng mục tiêu là làm phá sản nông dân để có được nhiều công nhân dùng trong các hầm mỏ và đồn điền Bọn thực dân Pháp đua nhau vơ vét tài nguyên của chúng ta: “Than: 28.154.000 tấn…vàng 2.410kg…” [33,tr.15]

Thực dân Pháp không cho Việt Nam có đồng tiền riêng nào mà lập

ra Ngân hàng Đông Dương và giao cho ngân hàng này độc quyền phát hành một đồng tiền chung cho cả 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia Chúng dùng ngân hàng và đồng bạc này để chi phối toàn bộ nền kinh tế Đông Dương Sự bóc lột của thực dân Pháp với các nước thuộc địa được ví như “là một con bạch tuộc khổng lồ đua vòi ra khắp các ngả để hút máu nhân dân các nước thuộc địa” [33,tr.29]

Trang 29

Nhân dân Việt Nam rên xiết dưới ách thống trị của thực dân Muối là thức ăn không thể thiếu, nhân dân ta tự sản xuất được Tuy nhiên, thực dân Pháp đánh thuế rất nặng, sau đó chúng còn bắt nhân dân ta phải cung cấp muối cho chúng Rồi chúng bán lại cho người bản xứ với giá cao hơn

Chúng đầu độc dân ta bằng rượu và thuốc phiện Chúng nắm độc quyền cả hai thứ này Chúng ép dân ta uống rượu, khuyến khích dân ta hút thuốc phiện Một nghị sỹ Pháp phải thốt lên rằng: “Dưới chế độ thực dân,

số tiệm thuốc phiện nhiều gấp 10 lần trường học” [33,tr.32] Nhân dân quanh năm ăn đói mặc rách trong cảnh bệnh tật, chết chóc

Khi thực dân Pháp tham gia chiến tranh thế giới lần thứ hai 1945), chúng càng tăng cường vơ vét khiến nền kinh tế Việt Nam càng kiệt quệ Chúng lập ra một số nhà máy chế súng đạn sửa chữa các sân bay, hải cảng, đẩy mạnh việc khai thác các mỏ kim khí Chúng còn bắt nhân dân ta trồng các loại cây có dầu để cung cấp cho công nghiệp chiến tranh

(1939-Khi Nhật tràn vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng, Nhật lại thay Pháp làm chủ nền kinh tế Việt Nam “Năm 1943, chúng vơ vét tới 1 triệu tấn gạo ở miền Bắc, dùng gạo để nấu rượu cồn, chạy xe quân sự Đốt thóc, ngô, thay cho than để chạy các nhà máy điện Để cung cấp cho công nghiệp chiến tranh, chúng bắt dân ta nhổ lúa trồng đay (sản lượng từ 970 tấn tăng lên 7.500 tấn) trồng thầu dầu, vừng, lạc…Chúng còn xuất khẩu cả thóc gạo sang Nhật…”[33, tr.35]

Nhân dân đói kém, thêm nữa là nạn mất mùa Nhật – Pháp đã thay nhau gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 “làm 2 triệu đồng bào ta chết đói thảm thương” [33,tr.35]

Với nền chính trị ấy, kinh tế ấy, luật pháp ấy, nhà nước ấy khiến cho người dân không thể sống được buộc nhân dân phải đứng lên đấu tranh để lấy lại đất nước Đó là một trong những nhân tố quan trọng quyết

Trang 30

định sự vận động của xã hội Việt Nam để đƣa tới sự ra đời thời đại Hồ Chí Minh

Chính trong chủ nghĩa Mác mà sau này Hồ Chí Minh có cơ hội tiếp xúc đã một lần nữa khẳng định chắc chắn hơn, con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam không thể là tư bản chủ nghĩa Bởi vì, sở hữu tư nhân, nhất là sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa với tư cách là kết quả của quá trình lao động bị tha hóa đã trở thành nguyên nhân chủ yếu và cơ bản nhất gây ra những tai họa khủng khiếp cho con người, làm tha hóa con người và do vậy, để giải phóng con người, cần phải xóa bỏ thứ sở hữu tư nhân đó

Sở hữu tư nhân và lao động bị tha hóa đã biến lao động của họ thành hoạt động xa lạ, do chủ tư bản quyết định, hoạt động cho nhà tư bản, vì nhà

tư bản và do vậy, nó không chỉ làm cho họ bị què quặt, kiệt quệ về thể xác

và tinh thần, hạ thấp vai trò của lao động từ một phương diện để thể hiện và phát triển những lực lượng bản chất con người xuống ngang bằng hoạt động của các loài động vật, chỉ còn biết dùng lao động để duy trì sự tồn tại của mình, mà còn biến “cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, còn cái có tính người thì biến thành cái vốn có của súc vật” [38,tr.133] Và trong xã hội tư bản, xu hướng ấy ngày càng phát triển, vì

“công nhân càng sản xuất nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng bị mất giá trị, càng bị mất phẩm cách, sản phẩm anh ta tạo ra dáng càng đẹp thì anh ta càng què quặt, vật phẩm do anh ta tạo ra càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man, lao động càng hùng mạnh thì người công nhân càng ốm yếu, công việc anh ta làm phức tạp thì bản thân anh ta càng trống rỗng về trí tuệ và càng bị nô lệ vào giới tự nhiên”[38,tr.131]

Ông chủ thật sự của xã hội tư bản đã biến toàn bộ con người thành con người hàng hóa, thành “một thực thể mất hết tính người cả về tinh thần

Trang 31

lẫn thể xác” Đây chính là tai họa lớn nhất, khủng khiếp nhất mà chế độ tư hữu và lao động bị tha hóa trong xã hội tư bản đã đưa đến cho con người

Ở Việt Nam khi thực dân Pháp du nhập vào nước ta một phương thức sản xuất mới có tính chất tư bản chủ nghĩa, cộng với phương thức sản xuất phong kiến khiến trong xã hội Việt Nam tồn tại đồng thời cả hai phương thức sản xuất: Pháp muốn duy trì phương thức bóc lột phong kiến, bằng cách hạn chế sử dụng các loại máy móc và phương tiện kỹ thuật hiện đại mà chủ yếu là tận dụng sức người và lao động với giá thành rẻ mạt để thu lợi nhuận tối đa Mặt tích cực của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là: đã đưa nền kinh tế Việt Nam dần chuyển biến từ một nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp sang một nền kinh tế mà ở đó các sản phẩm làm ra không chỉ đảm bảo các nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường thế giới: “Sự phát triển của kinh tế Việt Nam thời kỳ này (thời kỳ 1919-1945) có xu thế gắn liền với thị trường nước ngoài, trước hết

là thị trường lúa gạo và nguyên liệu cao su…Sự gia tăng các mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu trước hết là lúa gạo và ngô một mặt góp phần đẩy mạnh sản xuất phát triển, mặt khác chứng tỏ nền nông nghiệp Việt Nam đã dần dần thoát khỏi tính chất tự cung tự cấp, để chuyển sang thời kỳ sản xuất có tính chất hàng hóa” [31,tr.86- 92]

Diện mạo của một khu vực kinh tế hiện đại mang tính chất tư bản chủ nghĩa xuất hiện ngày càng rõ nét trong nền kinh tế Việt Nam dưới sự cai trị của thực dân Pháp Như vậy, “dưới tác động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa do Pháp du nhập vào, nền kinh tế Việt Nam dần dần chuyển biến từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp sang một nền kinh tế thuộc địa – tư bản chủ nghĩa…Nền kinh tế hàng hóa đã bắt đầu hình thành và phát triển ở một số khu vực sản xuất…Nhờ có các hoạt động kinh tế với nước ngoài mà lần đầu tiên nền kinh tế Việt Nam đã vượt

Trang 32

khỏi biên giới quốc gia để tiếp cận và từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới” [31,tr.63]

Tuy nhiên, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa khiến cho hơn 2 triệu dân ta chết đói năm 1945 Điều đó chứng tỏ rằng sự du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam với mục đích chủ yếu là vơ vét tài nguyên thiên nhiên, áp đặt sự thống trị nên người dân Việt Nam chứ không phải là “sự bảo hộ” của người Pháp với người Việt Nam như thực dân Pháp rêu rao

Chế độ thuộc địa đã biến toàn thể nhân dân Việt thành người nô lệ: “Lương của công nhân đã thấp, mỗi ngày đàn ông nhận 32 xu, đàn bà 28

xu, trẻ em 16 xu, họ còn bị bòn rút bằng nhiều cách, như bắt thợ phải mua hàng đắt hơn giá thị trường 10%”.[65,tr.87]

Thực tiễn đó là câu trả lời rõ ràng nhất cho việc phải xóa bỏ chế độ chính trị thực dân - phong kiến ở Việt Nam

Hiện thực xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp – Nhật đã làm cho dân tộc Việt Nam không còn là chính bản thân mình nữa, thể thống nhất ấy đã

bị chẻ chia thành ba xứ thuộc Pháp

Với tư cách là một dân tộc đã có truyền thống mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam không chịu khuất phục, kiên quyết đứng lên đấu tranh Từ Vua quan, trí thức đến dân thường Các phong trào cứu nước diễn ra ở tất cả các giai cấp, tầng lớp

1.2.2 Một số phong trào cứu nước giành lại độc lập dân tộc cho dân tộc và sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản

Thực tiễn lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng đã lần lượt thử nghiệm các con đường cứu nước theo các khuynh hướng khác nhau như: khuynh hướng phong kiến, khuynh hướng dân chủ tư sản và cả con đường cứu nước do những người nông dân khởi xướng…

Trang 33

Theo khuynh hướng phong kiến, phong trào Cần Vương do vua Hàm

Nghi và tướng Tôn Thất Thuyết lãnh đạo là một điển hình Là những người đứng đầu phe chủ chiến trong triều đình, trong dụ Cần Vương Hàm Nghi ngày 06-6-1888 viết: “Trẫm vâng noi đại thống, nối tiếp cơ đồ lớn lao, nhưng vận nước gian truân, bọn giặc thôn tính, thế thậm lan dần, không thể tạm yên Vì thế đã mật triệu các bề tôi vào viện Cơ mật uống máu ăn thề, hẹn trước hết đánh phá tại kinh thành, sau đó đuổi dài vào Gia Định [101]

“Noi đại thống, nối tiếp cơ đồ lớn lao” ở đây chính là tiếp tục chế độ quân chủ cha truyền con nối hàng nghìn năm ở Việt Nam Kêu gọi nhân dân phò vua cứu nước, sau khi giành độc lập lại tiếp tục xây dựng chế độ phong kiến ở nước ta chính là con đường của lãnh tụ Cần Vương

Là một người đứng đầu trong triều đình nhà Nguyễn, trong một nền quân chủ đã có bề dày hàng nghìn năm ở nước ta, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, việc Vua Hàm Nghi muốn hướng đất nước theo mô hình phong kiến sau ngày độc lập là điều dễ hiểu Khi đó, người dân với tư cách

là chủ thể lịch sử sẽ lại hết lòng phò Vua, giúp nước và ông Vua có chăm lo cho người dân thì đó chỉ là vì để bảo vệ và củng cố vị trí của mình.Thêm nữa nếu lựa chọn con đường phong kiến rồi xây dựng đất nước như thời của Ngô Quyền, Lý Công Uẩn, hay Quang Trung – Nguyễn Huệ đã làm thì

rõ ràng chúng ta chưa hơn được cha ông, mặc dù phương thức sống của dân tộc có thể sẽ có những sự khác biệt nhất định

Con đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến của vua Hàm

Nghi và tướng Tôn Thất Thuyết thất bại cũng là sự từ chối của cả dân tộc Việt Nam với phương hướng xây dựng đất nước theo chế độ phong kiến

Một Hàm Nghi bị tù đày, sống lưu vong nơi đất khách quê người: “Những người giúp việc bị chặt đầu và nhà vua bị đưa đi dày ở đảo Rêuyniông ở

Trang 34

Châu Phi” [43, tr.43] Một đả thạch ông – Tôn Thất Thuyết thác nơi xứ người

Có thể thấy trên nền phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển cao hơn hẳn phương thức sản xuất phong kiến thì việc lựa chọn con đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến ở Việt Nam lúc đó hoàn toàn không phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại Và sự thất bại của con đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến là hoàn toàn có thể lý giải được

Con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản của Phan

Bội Châu và Phan Châu Trinh

Trong tư tưởng của Phan Bội Châu vẫn còn một sự vấn vương lưu luyến rõ nét với nền quân chủ đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta Ông chỉ chủ trương khiển trách, trừng phạt những vua tệ, quan hư chứ không chủ trương lật đổ ngai vàng, biểu tượng quyền lực của xã hội phong kiến Phê phán quân chủ song không từ bỏ nó, ông đã giải quyết mâu thuẫn này bằng một mô hình chính thể theo kiểu quân chủ lập hiến của Nhật Bản Trong

mô hình này vừa có vua làm biểu tượng quyền lực quốc gia, mặt khác, vai trò của dân cũng được khẳng định ở mức độ nhất định

Sau này, cũng có lúc ông đã nhận thấy cái hay của dân chủ so với quân chủ nhưng rõ ràng Phan Bội Châu đã không có được niềm tin vào người dân – những chủ thể của lịch sử: “trình độ quốc dân ta còn kém hẳn người Âu…Bây giờ vội vã mà đề xướng một học thuyết không đầu không đuôi, đưa người ta đến giữa ngã ba, ngã bảy, tiếng đó la lên sẽ được bao nhiêu người tán thành”? [25,tr.118]

Phan Chu Trinh đã từng đau đớn trước cảnh đồng bào bị đoạ đày:

“quốc dân đồng bào đương rên xiết bởi cường quyền áp chế ”[19,tr.695] Chế độ quân chủ đặt vua với dân ở vị trí hoàn toàn đối lập, người dân

Trang 35

không được tôn trọng: “Vua tôn như thánh, như thần Phận tôi rơm rác, thân dân trâu bò”[19,tr.290]

Vì vậy, phong trào cứu nước do Phan Chu Trinh khởi xướng đã hướng vào việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, làm cho nước nhà cường thịnh, khôi phục, chấn hưng đất nước Theo ông có làm như vậy mới lấy lại được độc lập cho đất nước Hướng tới độc lập dân tộc song ông không có chủ trương đánh Pháp, thậm chí còn phê phán gay gắt những người có tư tưởng này Theo ông cần ỷ Pháp cầu tiến bộ Ông mong muốn đặt vào lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của Pháp để tiến hành cải cách Ông đã thiết lập mối quan hệ với nhiều người Pháp tiến bộ để thực hiện mục tiêu chính trị của mình

Rõ ràng, ông đã có một sự nhầm lẫn khi xác định đâu là kẻ thù chính Mặt khác, tính ảo tưởng mơ hồ về chính trị cũng được thể hiện trong

tư tưởng chính trị của ông Làm sao một nước đế quốc có thể cho một thuộc địa của nó có tự do, dân chủ? Con đường cứu nước của ông hướng đất nước đến chế độ dân chủ kiểu Pháp- một chế độ dân chủ tư sản, dân chủ cho số ít những kẻ có tiền

Và nếu lựa chọn con đường đó cho dân tộc thì với tư cách là chủ thể lịch sử nhân dân Việt Nam vẫn cứ là “đồ để tế cái ông thần tư bản” Hơn nữa, nếu lựa chọn con đường này thì chúng ta cũng mới chỉ dừng lại ở trình

độ của các nước đi xâm chiếm chúng ta

Con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản thực chất là đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa Thêm nữa, ở Việt Nam tại thời điểm đó, chưa

có sự xuất hiện của giai cấp tư sản bản xứ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh muốn làm cách mạng tư sản trong xã hội không có giai cấp tư sản rõ ràng không thích hợp

Trang 36

Sự thất bại của con đường cứu nước theo khuynh hướng này cũng chính là sự phủ định của cả dân tộc Việt Nam đối với sự lựa chọn con đường tư bản chủ nghĩa cho hướng phát triển lâu dài ở Việt Nam

Con đường cứu nước do những người nông dân yêu nước Việt Nam đứng lên lãnh đạo như: khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám cũng

thất bại, thực sự đó là những người Việt Nam rất yêu nước nhưng cứu nước được rồi và làm ra đất nước ấy thế nào thì những lãnh tụ của phong trào nông dân chưa có khả năng tính tới Con đường cứu nước theo khuynh hướng này thất bại cũng chính là sự chối bỏ của cả dân tộc Việt Nam với sự lựa chọn của những lãnh tụ nông dân này

Sự thất bại của các phong trào yêu nước trước khi có Đảng cộng sản cho thấy sự vận động của xã hội Việt Nam không đi theo con đường trở lại phong kiến là Duy Tân, hay dân chủ tư sản như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, hay theo kiểu của những người nông dân như Hoàng Hoa Thám

Sự thất bại của tất cả phong trào này cho thấy xã hội Việt Nam đã vận động không theo con đường mà Vua chúa, giai cấp tư sản hay nông dân yêu nước lãnh đạo Đó là một nhân tố quan trọng cho thấy xã hội

Việt Nam không vận động theo khuynh hướng này thì sẽ vận động theo

khuynh hướng khác Đó là nền tảng cho sự ra đời của nhân tố thứ ba Con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản

1.1.3 Phong trào cứu nước theo con đường cách mạng vô sản do Nguyễn Ái Quốc khởi xướng và lãnh đạo thành công

Khác với cách mạng tư sản Pháp và cách mạng tư sản Mỹ, cách mạng Tháng Mười Nga đã giải quyết được cùng một lúc cả hai mục tiêu: giành độc lập cho dân tộc đồng thời đem tới no ấm, hạnh phúc cho đông đảo nhân dân lao động Nếu chỉ dừng lại ở độc lập dân tộc như các cuộc cách mạng tư sản mà công - nông vẫn cứ cực khổ thì đó là cách mạng nửa

Trang 37

vời, không đến nơi, không triệt để Từ sự thấu hiểu tư tưởng của Lênin và cách mạng Tháng Mười vĩ đại, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra cho cách mạng Việt Nam một con đường: con đường dẫn tới “một tương lai sáng lạn”, con đường gắn độc lập của nước nhà với hạnh phúc của đông đảo những người lao động, một con đường thực sự “có nghĩa lý” Con đường đó là con đường đi theo cách mạng tháng Mười, theo tư tưởng của Lênin: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [42,tr.268] và lựa chọn con đường cho cách mạng Việt Nam đi theo đó là con đường cách mệnh vô sản

“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [49,tr.314]

Có thể khẳng định con đường cách mệnh vô sản mà Hồ Chí Minh lựa chọn là xuất phát từ tình hình thực tiễn của Việt Nam trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản, đặc biệt là phép biện chứng duy vật Thực chất của sự lựa chọn này là

sự lựa chọn mô hình xã hội trước hết là ngang bằng với các nước tư bản phát triển đã từng đối mặt với mình, từng cai trị mình, mặt khác để có cơ sở

phát triển cao hơn nữa, đạt tới một xã hội đích thực là xã hội của con

Người và cho con Người

Xã hội mà Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng ở Việt Nam là một xã hội mà ở đó đồng bào phải được hưởng hạnh phúc Quyền độc lập dân tộc không tách rời quyền con người, quyền công dân và độc lập dân tộc là điều kiện quyết để mang lại hạnh phúc cho đồng bào: “Cái mà tôi cần nhất trên đời: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập” Ở đó là sự thống nhất biện chứng giữa quyền con người, quyền công dân với chủ quyền dân tộc, là cốt lõi, là hạt nhân của vấn đề giải phóng con người Ở đó sự phát triển tự do cá nhân gắn với sự phát triển tự do của cộng đồng dân tộc, sự

Trang 38

phát triển tự do đầy đủ của cá nhân chỉ có thể có được khi xã hội được giải phóng khỏi mọi hình thức bóc lột, áp bức và nô dịch dân tộc Đó là con đường dựa vào sức dân để giải phóng cho nhân dân, con đường tự giải phóng

Sau khi tìm ra con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tích cực truyền

bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong nước Hệ tư tưởng vô sản được truyền vào Việt Nam thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau, từ đội ngũ Việt kiều tại Pháp đến báo chí cách mạng được chuyển từ bên ngoài vào, nhân dân Việt Nam mà trước hết là giai cấp công nhân đã đón nhận, nghiên cứu

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần

thứ nhất của thực dân Pháp (1897 - 1914) “Giai cấp công nhân có thể thấm nhuần tư tưởng cách mạng nhất, tức chủ nghĩa Mác - Lênin Đồng thời tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác Vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo” [47,tr.212]

Sự xuất hiện giai cấp công nhân Việt Nam là bước ngoặt lớn trong lịch sử cách mạng Việt Nam, “việc tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa

đế quốc tự mình đào hố để chôn mình”[42,tr.361]

Giai cấp công nhân Việt Nam nắm giữ sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm cách mạng của phong trào cộng sản quốc tế, giai cấp công nhân tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”[41,tr.15]

Cùng với sự phát triển của giai cấp công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam cũng phát triển mạnh mẽ Sự phát triển của hai phong trào này

Trang 39

khi được hấp thụ chủ nghĩa Mác – Lênin đã làm xuất hiện nhu cầu có một

tổ chức chính trị đủ sức lãnh đạo phong trào tiến lên

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời từ hiện thực lịch sử đó Đây là bộ

tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, giữ vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng, tối đa hóa sức mạnh dân tộc, giúp thay đổi thế và lực của dân tộc Việt Nam vì sự tồn vong của dân tộc này

Từ sự xuất hiện của Đảng cộng sản Việt Nam đã dẫn đến sự ra đời của các đoàn thể, các tổ chức quần chúng cách mạng như Công hội đỏ,

Nông hội đỏ, mà cao hơn cả là sự xuất hiện của mặt trận Việt Minh

Thứ nữa là xây dựng lực lƣợng vũ trang cách mạng Trước khi

thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với 34 chiến sỹ dưới gốc đa Tân Trào, lực lượng vũ trang cách mạng với tên gọi Cứu quốc quân thành lập sau khởi nghĩa Bắc Sơn Trước cách mạng Tháng Tám, lực lượng

vũ trang cách mạng có đội du kích Ba Tơ và một số đơn vị vũ trang khác Khởi nghĩa nhằm mục đích đánh địch và lấy vũ khí của chúng, tự vũ trang cho mình Lúc đầu là tự phát nhưng sau đó là hoàn toàn chủ động và tự giác xây dựng lực lượng vũ trang để sau này sẽ trở thành lực lượng nòng cốt trong việc giữ gìn, bảo vệ độc lập và giành chiến thắng trong các cuộc khỡi nghĩa tiếp theo Đó cũng là tất yếu về mặt tổ chức, là một trong bốn yếu tố quan trọng cho sự thành công của cách mạng tháng Tám

Như vậy, với bốn nhân tố là hệ tư tưởng vô sản được truyền bá vào Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, các đoàn thể chính trị xã hội và lực lượng vũ trang được xây dựng Tất cả dưới sự lãnh đạo của

Đảng, sự vận động của toàn dân tộc, lấy được sức mạnh của toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đã dẫn tới cách mạng tháng Tám thành công

Trang 40

Thành công của cách mạng cho thấy sự vận động của hiện thực xã hội Việt Nam là vận động theo khuynh hướng cách mạng vô sản và

đúng theo con đường Hồ Chí Minh lựa chọn

Thành công của cách mạng Tháng Tám đã đưa đất nước và dân tộc Việt Nam lên một tầm cao mới Trước hết là cách mạng Tháng Tám đã đem lại nền độc lập cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam - nền độc lập đã bị thực dân Pháp thủ tiêu khi chúng xâm lược và thôn tính đất nước

ta Việt Nam từ một xứ thuộc địa trở thành một nước độc lập Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 đã khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”[44,tr.3] Thắng lợi này là sản phẩm của sự kết tinh truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất không cam chịu thân phận nô lệ và những truyền thống, tinh hoa của người Việt Nam hàng nghìn năm

Sau nữa cách mạng Tháng Tám đem lại giá trị dân chủ cho nhân dân Việt Nam Trong Tuyên ngôn Độc lập đọc 2/9/1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế

độ dân chủ cộng hòa”[44,tr.3]

Cách mạng Tháng Tám đánh dấu sự hồi sinh vĩ đại của dân tộc Việt Nam: từ một dân tộc nô lệ, Việt Nam thành một dân tộc độc lập Với cuộc cách mạng này, lần đầu tiên trong lịch sử hàng nghìn năm, quyền lực nhà nước ở Việt Nam thuộc về tay nhân dân lao động

Như vậy, với thành công của cách mạng Tháng Tám, con đường cách mạng vô sản đã được nhân dân Việt Nam tiếp nhận và ủng hộ Người dân đã thực sự tìm thấy ở đó con đường phát triển cho cả dân tộc – con

đường dẫn tới “một tương lai mới, sán lạn” Và một thời đại mới trong lịch sử vận động và phát triển của đất nước ta và dân tộc ta - thời đại Hồ Chí Minh - đã bắt đầu

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, NXB Văn học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
2. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, NXB Lao động, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
3. Phạm Ngọc Anh, Hoàng Trang (2000) , Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
4. Hoàng Chí Bảo (1993), Chủ nghĩa xã hội hiện thực – khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chủ nghĩa xã hội hiện thực – khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
5. Hoàng Chí Bảo (chủ biên) (2010), Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
6. Hoàng Chí Bảo Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, NBX Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
8. Phan Bội Châu (2000), Phan Bội Châu toàn tập, tập 2, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phan Bội Châu toàn tập, tập 2
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2000
9. Phan Bội Châu (2000), Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập, tập 6
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2000
11. Đảng cộng sản Việt Nam, (2000) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940- 1945, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, 1940-1945
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
12. Đảng cộng sản Việt Nam, (2006) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
13. Đảng cộng sản Việt Nam, (2002) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
14. Đảng cộng sản Việt Nam, (2002) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 17
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
15. Đảng cộng sản Việt Nam, (2002) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 18, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 18
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
16. Đảng cộng sản Việt Nam, (1994) Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946- 1960), NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946-1960)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
17. Trần Bá Đệ (2006), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay
Tác giả: Trần Bá Đệ
Nhà XB: NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
18. Nguyễn Hoàng Giáp (2008) “Thời đại ngày nay - tiếp cận từ quan điểm Macsxit”, Tạp chí Lý luận chính trị và tryền thông, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời đại ngày nay - tiếp cận từ quan điểm Macsxit”, "Tạp chí Lý luận chính trị và tryền thông
19. Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Phan Châu Trinh
Tác giả: Nguyễn Văn Dương
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1995
20. Phạm Văn Đồng (1970), Chủ tịch Hồ Chí Minh tinh hoa của dân tộc lương tâm của thời đại, NXB Sự Thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh tinh hoa của dân tộc lương tâm của thời đại
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1970
21. Phạm Văn Đồng (1975), Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp,NXB Sự Thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1975

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w