Quan điểm của cá ông về lịch sử triết học có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho việc nghiên cứu phép biện chứng Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là quan điểm sau đây của V.I.Lênin trong Bút
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THANH XUÂN
TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THANH XUÂN
TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC
Trang 3MỤC LỤC
1.1 Các điều kiện và iền đề ch sự hình hàn nền riết học và phép Biện
1.1.1.Cá nền văn minh có giaicấp đầu iên ở miền Đông Địa Trung Hải
1.1.2.Tính đặc hù của chế đ kin ế - xã hộivà đờisống ư ưởng - văn
1.1.3.Sự phân rã của hần hoại Hy Lạp cổ đại Sự xuất hiện của riết học
2.1 Tư ưởng về ính hống nhất vật chất của vũ rụ, về sự vận động, biến đ i
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 82
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 82
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, việc chú trọng hơn nữa đến công tá nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học luôn có một ý nghĩa rất quan trọng đối với sự đổi mới tư duy lý luận nói chung và sự phát triển
c c khoa học triết học nói riêng Ở nước ta, trong suốt một thời gian dài,
do nhiều nguyên nhân khác nhau, công việc này dường như chưa được quan tâm đúng mức Có thể nói, chúng ta chủ yếu mới chỉ biết đến triết học mácxí, mới chỉ nghiên cứu được phần nào lịch sử tư tưởng dân tộc và còn í nghiên cứu về triết học ngoài mácxí, í quan tâm tới lịch sử triết học, đặc biệt là triết học thời cổ đại- cội nguồn của triết học hiện đại, như Ph.Ăngghen đã viết “Từ c c hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học
Hy Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả cá loại thế giới quan sau này”[24, tr 491](*) Tình hình đó hiện nay đã được cải thiện phần nào, nhưng so với nhu cầu phát triển của tư duy lý luận thì điều này vẫn chưa đáng là bao
Ph.Ăngghen đã từng nói “Một dân tộc đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”, nhưng tư duy lý luận ấy
“cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cá h nào khá hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước”[24, tr 487-489], vì “triết học là sự tổng kết tư duy” (Hêghen) Mặt khá , vì lịch sử phát triển của tư duy được tổng kết trong lịch sử triết học,nên chính lịch sử triết học là cơ sở để hình thành phép biện chứng
Phép biện chứng là một khoa học triết học và nếu xét trên nhiều phương diện, nó là hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học Lịch sử phép biện chứng hình thành, phát triển từ khi triết học ra đời, mà đỉnh cao là phép biện chứng má xí Phép biện chứng
(*) Từ đây: - Số đầu à số hứ ự ài iệu ham k ảo.
- Số sau à số ran của ài iệu ham k ảo.
Trang 5má xí dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, vạch
ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khá h quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy Nó là chìa khóa để con người nhận thức và chinh phục thế giới Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật không những là một nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện t ên quyết cho sự sáng tạo của
c c chính đảng cá h mạng
Lịch sử tư tưởng và thực t ễn c ch mạng cho thấy, khi nào chúng ta nắm vững lý luận phép biện chứng, biết vận dụng c c nguyên tắc phương pháp luận của nó một c ch sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, biết lấy
“c i bất biến” ứng vào “c i vạn biến” - như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói - thì vai trò và hiệu lực cải tạo tự nhiên, biến đổi xã hội c ng được tăng cường.Ngược lại, c ch nghĩ, c ch làm chủ quan duy ý chí, siêu hình sẽ dẫn đến sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, gây tổn thất cho cá h mạng và quá trình phát triển xã hội nói chung Thắng lợi của c ch mạng Việt nam trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ Tổ quốc là một minh chứng cho điều đó Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn t ếp tục thực hiện công cuộc đổi mới,
tến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc nắm vững bản chất phép biện chứng duy vật càng là một nhu cầu bức thiết để đổi mới tư duy.Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Má - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng là biện chứng chủ quan phản ánh biện chứng khá h quan của thực t ễn c ch mạng Việt nam.Nó đang là định hướng tư tưởng và là công cụ tư duy sắc bén để đưa c ch mạng nước ta
tến lên giành thắng lợi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, để nắm vững phép biện chứng má xí, không thể không nghiên cứu sự hình thành và phát triển phép biện chứng trong lịch sử, đặc biệt là phép biện chứng Hy Lạp cổ đại - một trong những thời kỳ dài nhất,
Trang 6chói lọi nhất trong sự phát triển tư tưởng biện chứng của nhân loại Việc nghiên cứu phép biện chứng Hy Lạp cổ đại còn cho phép tái hiện quá trình xuất hiện và “vượt bỏ” hợp quy luật của phép biện chứng duy vật mácxínhư là một giai đoạn c o về chất của c c hình thái của phép biện chứng.
Từ những điều trình bày trên, có thể nói, việc nghiên cứu triết học Hy Lạp
cổ đại nói chung, những tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết, vừa mang ý nghĩa lý luận, vừa mang ý nghĩa thực t ễn Chính từ những suy nghĩ như vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp
Triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng luôn nhận nhận được sự quan tâm từ phía cá nhà triết học, đặc biệt là c c nhà triết học má xí Có thể nói, tất cả cá nhà triết học trước khi xây dựng học thuyết của mình, họ đều phải nghiên cứu lịch sử triết học trước đó Ngay từ thời cổ đại, Platôn, Arixtôt đều là những nhà lịch sử triết học Đặc biệt, trong thời kỳ cổ đại, phải kể đến Điôgien La cxơ - nhà triết học Hy Lạp cổ đại sống vào nửa đầu thế kỷ thứ I I trước công nguyên,người duy nhất đã để lại cho chúng ta một tá phẩm đồ sộ gồm 10 tập có giá trị như một công trình về lịch sử triết học, trong đó trình bày t ểu sử và học thuyết của c c nhà triết học Hy Lạp cổ đại, từ cá nhà duy vật đầu t ên thuộc trường phái Miê đến Xếchtút Empiriquýt Gần đây, trong nhiều bộ lịch sử triết học phương Tây đồ sộ, bao giờ cũng có phần dành riêng cho triết học Hy Lạp cổ đại Tuy nhiên, đối với họ, vấn đề phép biện chứng không phải là vấn đề được quan tâm đặc biệt Có thể kể ra đây một số táphẩm có trong thư viện của Viện triết học, chẳng hạn như: Sources of the
Image books, 1962; A history of Western Phi osophy. Vo1 Beginnings to
Trang 7plot nus, Ralph M.McInerny - Chic go: Henry regnery company, 1963;
Cá nhà kinh điển của chủ nghĩa Má - Lênin là những người rất quan tâm tới triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng Quan điểm của cá ông về lịch sử triết học có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho việc nghiên cứu phép biện chứng Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là quan điểm sau đây của V.I.Lênin trong Bút k triết học : “Ủng hộ t nh lịch sử nghiêm khắc trong lịch sử triết học để khỏi gán cho những người thời cổ một sự “phát triển” nào đó của c c ý niệm của
họ, dễ hiểu đối với chúng ta, nhưng trên thực tế chưa thể có ở họ”[18, tr.262]
Ở Liên Xô, từ những năm 20 của thế kỷ XX, vấn đề phép biện chứng
Hy Lạp cổ đại đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà triết học XôviếtM.A.Đưnnhíc (Phép biện chứng của Hêracl t Ephedơ), B.X.Chanưsép (Phái ngụy biện) và V.K.Xêrêgiơnicốp (Khảo luận về lịch sử triết học)
như một hệ thống phương pháp luận để phân t ch lịch sử triết học và lịch
sử phép biện chứng trong Khảo luận về lịch sử triết học ở Hy Lạp thời cổ điển.
Sau đó cá vấn đề của phép biện chứng cổ đại đã được c c nhà triết học Nga nghiên cứu trong rất nhiều ấn phẩm đa dạng,trong số đó có ba táphẩm mang t nh tổng kết của tập thể tác giả: Lịch sử triết học (t.1,
M 1940), Lịch sử triết học (t.1, M.1957) và Từ điển bách khoa triết học
(t.I V, M 1960 -1970), cũng như tác phẩm chuyên về triết học cổ đại của
c c nhà lịch sử triết học lớn của Nga: Lịch sử triết học cổ đại của V.Ph.Asmuxơ (M 1965), Lịch sử lôgic học của A.O.Macôvenxki (M.1967), Lịch sử mỹ học cổ đại (t.I, M 1963; t.I , M 1969) của A.Ph.Lôxép
Trang 8Ở Việt Nam, c c công trình nghiên cứu về lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại không nhiều, có thể kể ra đây một số công trình têu biểu, như Triết học Hy Lạp cổ đại của Thái Ninh (Nhà xuất bản sách giáo khoa Má - Lênin, 1987); Triết học cổ đại Hy Lạp - La mã của Phó giáo sư Hà thúc Minh (Tài lệu lưu hành nội bộ của Viện khoa học xã hội Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh; 1993); Triết học Hy Lạp cổ đại của Tiến sĩ Đinh Ngọc Thạch (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia; 1999).
Đó là những công trình chuyên về lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại.Còn trong cá công trình sau, triết học Hy Lạp cổ đại cũng được bàn tới như một bộ phận cấu thành của nó: Lịch sử triết học phương Tây của Đặng Thai Mai (Nhà xuất bản sá h giáo viên; 1950); Bộ Lịch sử triết học doGiáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Vui làm chủ biên Cuốn sá h đã được tái bản nhiều lần và lần gần đây nhất là vào năm 1998; Lịch sử triết học của Phó giáo sư Bùi Thanh Quất (Nhà xuất bản giáo dục, 2000); Lịch sử triết học
2000); Triết học Tây Âu trước Mác của Tiến sĩ Lê Thanh Sinh (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001); Lịch sử triết học - t.1: Triết học cổ đại do t ến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa và Tiến sĩ Doãn Chính làm chủ biên (Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2002) Tuy nhiên, còn phải kể đến những tác phẩm dịch, đặc biệt là từ t ếng Nga, như Lịch sử triết học phương Tây do Đặng Thai Mai dịch, xuất bản năm 1956; Lịch sử triết học: triết học của xã
này, khi trình bày học thuyết của cá nhà triết học têu biểu trong lịch sử triết học cổ đại, tư tưởng biện chứng của họ cũng được đề cập tới Đặc biệt
là cuốn Lô gích học biện chứng của E.V.Ilencôp do Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn dịch (Nxb Văn hóa thông t n, 2003).Trong cuốn sá h này, Ilencôp đã đưa ra những suy ngẫm sâu sắc về con đường giải quyết nhiệm vụ tạo lập Lôgic học với chữ L viết hoa mà V.I.Lênin đã nói Đó là việc phải làm thế nào, dựa trên những nguyên tắc nào và cần t nh đến những mối l ên hệ
Trang 9lôgic và lịch sử nào để xây dựng, phát triển học thuyết biện chứng duy vật như là khoa học triết học chỉnh thể Điều đó cũng có ý nghĩa định hướng đối với chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này.
Ngoài ra, còn những bài viết đăng trên Tạp chí Triết học của Phó giáo
sư, Tiến sĩ Đặng Hữu Toàn, chẳng hạn như: Học thuyết về “dòng chảy”
1năm 2002); Bức tranh nguy n tử về thế giới trong triết học Đêmôcrí (số
8 năm 2002); Khái niệm Logos trong triết học Hêracl t (số 4 năm 2004) Cũng đã có một số công trình chuyên bàn về một vấn đề nào đó của một
tá gia nào đó trong triết học Hy Lạp cổ đại, như: Arixtôt với học thuyết
Đương nhiên, triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng còn được trình bày trong những tác phẩm bàn về cánhà tư tưởng lớn thời cổ đại với c ch tếp cận khá như: Câu chuyện triết học của Wil Durant do Trí Thảo và Bửu Đính dịch (Nxb Đà nẵng, 2000);
Minh do Phong Đảo dịch (Nhà xuất bản Văn hóa - thông t n, Hà nội,2003); Triết học Đông - Tây (Viện Thông t n khoa học xã hội, 1996) .Như vậy, có thể nói, ở Việt Nam ta đã có một số công trình nghiên cứu về triết học Hy Lạp cổ đại, song trong số cá công trình đó, chưa có một công trình nào chuyên sâu về vấn đề tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại, trừ tập 1 Phép biện chứng cổ đại nằm trong bộ bốn tập
Viện Hàn lâm khoa học Liên xô cũ xuất bản Tập sách này đã được Tiến sĩ
Đỗ Minh Hợp dịch sang t ếng Việt, Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng hữu Toàn hiệu đính Đây là bộ sá h có tầm quan trọng bậc nhất của bộ môn lịch sử triết học mà lần đầu t ên đã được dịch trọn bộ ra tếng Việt Nó cung cấp nhiều thông t n hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử phép biện chứng nói
Trang 10chung, lịch sử phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng Tuy nhiên, ở đó
c ch t ếp cận của c c nhà triết học Nga là theo từng trường phái, từng triết gia Khác với cá h t ếp cận đó, chúng tôi muốn đưa ra một c ch nhìn mới,
c ch nhìn theo t ến trình phát triển những tư tưởng biện chứng xuyên suốt triết học Hy Lạp cổ đại
tưởng biện chứng cơ bản trong triết học Hy Lạp cổ đại để trên cơ sở đó,chỉ ra những mặt t ch cực và hạn chế của những tư tưởng biện chứng sơ khai này
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ mà luận văn này phải giải quyết là:
- Phân t ch những t ền đề cho sự ra đời triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng
- Phân t ch một số tư tưởng biện chứng cơ bản trong triết học
Hy Lạp cổ đại
- Đưa ra một số đánh giá về những tư tưởng này
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào cá vấn đề về phép biện chứng được đặt ra ở giai đoạn cổ điển,hay còn gọi là giai đoạn Hy Lạp hóa - La mã trong lịch sử Hy Lạp cổ đại.Bởi vì, chính giai đoạn này, bắt đầu từ Talét và kết thúc ở Arixtốt (khoảng
từ đầu thế kỷ thứ VI đến cuối thế kỷ IV tr.CN), triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra c c tư tưởng biện chứng sâu sắc nhất trong suốt toàn bộ lịch sử triết học cổ đại Mặc dù, tư tưởng biện chứng vẫn được t ếp nối trong nhiều thế
kỷ cho tới tận thế kỷ V-VI
Trang 11Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng lý luận là quan điểm của
c c nhà sáng lập triết học Má - Lênin về lịch sử triết học nói chung,triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng, đồng thời kế thừa, tham khảo có chọn lọc c c công trình của những nhà khoa học có l ên quan đến đề tài
pháp nghiên cứu của lịch sử triết học, cụ thể là: phương pháp lôgic kết hợp với phương pháp lịch sử,phân t ch và tổng hợp,hệ thống hóa và so sánh
Đây là luận văn đầu t ên ở Việt nam tập trung phân tch và luận giải một số tư tưởng cơ bản trong phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Trên cơ sở
đó, sơ bộ đánh giá những mặt tch cực cũng như những hạn chế trong cá
tư tưởng biện chứng này
học Hy Lạp cổ đại nói chung,phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng
phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học nói chung, lịch sử triết học nói riêng
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục cá công trình khoa học đã công bố của tá giả lên quan đến đề tài luận văn và danh mục tài lệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tết
Trang 12Lịch sử Hy Lạp cổ đại và nền văn hóa của nó là một bộ phận không thể tá h rời với lịch sử c c nước Cận Đông Địa Trung Hải Không những nguồn gốc, mà cả sự phát triển tếp theo của văn hóa vật chất, đặc biệt là văn hóa t nh thần của nó chỉ được nhận thức đúng đắn khi t nh đến nhưng ảnh hưởng to lớn và sự giao lưu với c c nền văn hóa Ai Cập, Babion,Phini và c c nền văn hóa Cận Đông khác.
Trong c c nguồn tài lệu sử học má xí , người ta thường gọi hình thái
có giai cấp đầu tên đã xuất hiện ở đây là hình thái chiếm hữu nô lệ Thuộc
về hình thái này, trước hết C.Má kể đến “chế độ nô lệ kiểu gia trưởng hướng vào việc sản xuất ra tư lệu sinh hoạt trực tếp” Chế độ xã hội có giai cấp í bị phân hóa, sơ khai này đã tồn tại ở Sumerơ và Akađơ ở Ai Cập, Babion và c c nước Cận Đông khác Ở cá nước này, việc mở mang lãnh thổ và phát triển sản xuất đều nhằm phục vụ cho c c giai cấp thống trị Mọi lên minh nhà nước đều được kích thích bởi nhu cầu tưới t êu để
c nh tác nằm ở cá lưu vực sông Tigơrơ, Eprtơ, Nin
Cơ sở kinh tế của c c nhà nước có giai cấp đầu tên đó là nền nông nghiệp sử dụng công cụ bằng bạc Mặc dù chúng ta gọi c c nhà nước đó là
c c nhà nước chiếm hữu nô lệ, song lao động của người nô lệ ở đây vẫn chưa phải là hình thức lao động cơ bản, mà lao động giữ vai trò cơ bản ở đây là lao động của c c thành viên tự do về mặt hình thức sống trong nhiều công xã nông thôn Còn c c tầng lớp thượng lưu tập hợp xung quanh ngai
Trang 13vàng nhà vua chủ yếu sống nhờ sự bóc lột một cá h trực t ếp và phi kinh tế đối với c c thành viên có tự do hình thức trong những công xã nông thôn.Nền kinh tế của c c nhà nước phương Đông cổ đại đầu tên chủ yếu mang t nh chất tự nhiên, vai trò của buôn bán là không đáng kể Vai trò đó hoàn toàn phù hợp với t nh chất bảo thủ của quan hệ kinh tế - xã hội, với
t nh trạng thủ công nghiệp mới bắt đầu tá h ra khỏi nông nghiệp, với sự phát triển chưa đáng kể của đời sống thị thành Tính chất bảo thủ đó thể hiện rõ nhất ở t nh ổn định của công xã nông thôn tại cá nước phương Đông cổ đại, nơi mà cá công xã kiểu đó tạo thành những đơn vị sản xuất,
c nh tá lúa nước và gắn lền với thủ công nghiệp, đã tồn tại hàng thế kỷ
và thậm chí hàng nghìn năm dưới một hình thức í nhiều không thay đổi.Cho nên, sở hữu c nhân ở cá nước này cũng kém phát triển
Trong điều kiện chế độ nhà nước về cơ bản vẫn mang t nh chất công
xã, buôn bán chưa phát triển, nền kinh tế tự nhiên ổn định, phương thức cưỡng bức và bóc lột mang t nh chất phi kinh tế, thì quan hệ giữa người với người, theo C.Má , chưa được vật hóa ở mức độ đáng kể, nó còn mang
t nh chất trực t ếp, tự nhiên, không phải vật chất, mà dường như là mang
t nh chất c nhân
Phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội của cá nhà nước phương Đông
cổ đại đó là đời sống tnh thần của họ, mà trước hết là c c quan niệm về thần thoại Đó là hình thái đầu t ên, chưa có sự phân hóa, hình thái thống nhất của ý thức xã hội, và trong điều kiện tan rã của chế độ bộ tộc nguyên thủy và sự chuyển hóa của nó thành chế độ nhà nước có giai cấp Dựa trên
cơ sở của hình thái đó, ở nó đã xuất hiện hình thái phân hóa hơn của ý thức
xã hội,như trường ca, sử thi
Thần thoại xuất hiện với tư c ch là sự phản ánh giới tự nhiên và đời sống xã hội vào ý thức của con người nguyên thủy Nhưng đó không phải
là sự phản ánh trực tếp về giới tự nhiên và đời sống xã hội của con người nguyên thủy, mà là sự nhận thức được đặc trưng bởi cá mối quan hệ mang
Trang 14t nh chất lên tưởng - cảm t nh Sự nhận thức đó trước hết được thực hiện bằng con đường so sánh giữa môi trường xã hội mà trực t ếp và chủ yếu là quan hệ huyết thống với c c hiện tượng tự nhiên đầy bí ẩn Cần phải nhấn mạnh rằng, sự nhận biết và quan sát trực t ếp về giới tự nhiên và quan hệ huyết thống như vậy đã diễn ra không phải với một ý thức bất biến nào đó,
mà với một ý thức đang biến đổi, dù là rất chậm chạp của con người cổ đại Qua đó, lịch sử thần thoại không những phản ánh quan hệ luôn biến đổi giữa con người với tự nhiên, mà nó còn phản ánh cả những sự biến đổi mang t nh t ến bộ trong bản thân ý thức của “con người có lý t nh”, trong
tư duy mà nội dung biểu cảm của nó ngày một t ch tụ thêm cá yếu tố lôgíc - khái niệm ở “con người có lý t nh” đó
Tuy nhiên, trong nền văn hóa cổ đại của c c nước Cận Đông, bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa đó là tri thức khoa học mà lần đầu tên,
đã xuất hiên ở chính nơi đây Đương nhiên, tri thức mà nhân loại đạt được qua thưc t ễn nhiều nghìn năm cũng đã tham dự vào thế giới quan thần thoại, vì thiếu tri thức thì về thực chất, không thể có một thế giới quan nào
cả Song, việc tch lũy kinh nghiệm thực tế ở Sumerơ, Babion và Ai Cập gắn lền với việc c nh tá lúa nước, với c c công trình xây dựng trên hầu khắp lãnh thổ, như cá đền đài lớn, c c kim tự tháp khổng lồ và cùng với việc đáp ứng c c nhu cầu khác, đã làm cho một số môn khoa học xuất hiện
và phát triển Một tền đề quan trọng của quá trình đó là sự xuất hiện chữ viết Chữ viết xuất hiện đã góp phần duy trì kinh nghiệm cộng đồng và duy trì tri thức của con người một c ch có hiệu quả hơn nhiều so với trí nhớ và
Trang 15nhiên, ở đó cũng đã có mầm mống của môn toán học chứng minh, suy diễn
- lý luận
Như vậy, có thể nói, trong nền văn hóa t nh thần của Babion và Ai Cập đã có sự phát triển đáng kể của tư duy trừu tượng, khi mà thế giới quan thần thoại cụ thể vẫn là thế giới quan phổ biến nhất, chung nhất của
c c nền văn hóa đó Nhưng điều đó không có nghĩa là thế giới quan triết học đã xuất hiện ở đây, mặc dù theo một số tài lệu được ghi bằng chữ phương Đông cổ đại đã cho thấy có những chuyển biến đáng kể trong thế giới quan thần thoại truyền thống
Giống như toàn bộ nền văn hóa t nh thần Cận Đông cổ đại, nền văn hóa Sumerơ - Babi on và nền văn hóa Ai Cập rút cục vẫn chưa chín muồi cho sự xuất hiện triết học với tư cá h một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,đặc thù Chính cá nguyên nhân mang t nh ý thức hệ - xã hội đã cản trở sự xuất hiện đó
Sự xuất hiện khoa học ở cá nước Cận Đông đã dẫn tới việc tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay và hình thành nên một lớp người đặc biệt với tư cá h là c c đại biểu của lao động trí óc Đó là những người xuất thân từ tầng lớp tăng lữ và sau khi trở thành những người lao động trí óc,
họ đã dần dần hình thành một đẳng cấp đặc biệt Tuy nhiên, sự nghiên cứu khoa học và việc điều hành công việc sản xuất chỉ là một dạng hoạt động,hơn nữa không phải là dạng hoạt động quan trọng nhất trong những dạng hoạt động của giới tăng lữ Dạng hoạt động quan trọng nhất trong giới tăng
lữ là thực hiện cá chức năng ý thức hệ - tôn giáo, thờ cúng - c c chức năng được thiết định bởi t nh tất yếu phải duy trì và củng cố xã hội có giai cấp bóc lột Trong điều kiện chế độ nhà nước ngày một trở nên cồng kềnh thì lĩnh vực cái siêu nhiên, yếu tố sùng bái tôn giáo trong thế giới quan thần thoại cũng tăng lên Việc xây dựng c c kim tự tháp Ai Cập cổ đại nổi
tếng và cá đền thờ ở Sumerơ - Babion khổng lồ, vươn lên tận trời xanh dưới dạng những cái tháp có thang bậc, là những minh chứng cho điều đó
Trang 16Việc xây dựng c c đền thờ thần thánh đó đã cho thấy, khi đó khoa học phải phục vụ tôn giáo Trong c c nhà nước thần quyền ở phương Đông cổ đại, cùng với sự ổn định đặc biệt của công xã nông thôn và c c hình thức
xã hội khác, cùng với sự thần thánh hóa cá vị Hoàng đế và cá lãnh chúa khá - những người tượng trưng cho chính quyền nhà nước một cá h vô điều kiện, thì truyền thống có hàng nghìn năm tồn tại đã thể hiện ra như một lưc lượng có quyền sai khiến và ban phát Nó loại trừ việc hợp lý hóa thế giới quan - là c i đưa tới chỗ làm cho triết học xuất hiện
Tuy nhiên, nội dung t ến bộ của nền văn hóa cổ đại ở cá nước Cận Đông đã không hoàn toàn biến mất khỏi kho báu t nh thần của nhân loại.Nền văn hóa Hy Lạp cổ đại đã không thể có được nếu không khai thác nó
tưởng - văn hóa ở Hy Lạp cổ đại
Lịch sử nhà nước có giai cấp ở Hy Lạp cổ đại bắt đầu từ thời đại Kri ô - Miken - thời đại có lẽ đã xuất hiện vào cuối thiên niên kỷ thứ ba -
là nền văn hóa thuộc kỷ nguyên bạc Cá tài lệu khảo cổ học đã cho thấy mối quan hệ giữa nền văn minh này với dân tộc Ai Cập và cá dân tộc Cận Đông khác đã xuất hiện ngay từ thiên niên kỷ thứ hai Vào cuối thiên niên
kỷ này, nhiều bộ lạc ở Bắc Hy Lạp đã di chuyển xuống miền Nam và hình thành nên c i gọi là cuộc chinh phạt của người Đôriên Nó đã têu diệt cánhà nước Kriô - Akhây và mở ra một thời đại mới trong lịch sử Hy Lạp cổ đại mà người ta quen gọi là thời đại Hôme, với cá tá phẩm sử thi nổi
tếng của ông là Il át và Ôđixê
Tính phát triển không đồng đều của lịch sử đã tăng lên ở thời đại này,
xã hội chiếm hữu nô lệ được định hình ở Hy Lạp cổ đại lúc đó bắt đầu sản xuất và sử dụng c c công cụ bằng sắt - thứ công cụ có hiệu quả hơn nhiều
so với công cụ bằng bạc - đã mở ra khả năng to lớn để phát triển nông nghiệp Đây là điều hết sức quan trọng đối với cư dân Hy Lạp cổ đại, nơi
mà đất đai khô cằn và không thuận tện đối với việc tưới têu Các công cụ
Trang 17bằng sắt đã đem lại cho người Hy Lạp cổ đại một uy quyền đối với tự nhiên lớn hơn một c ch đáng kể so với người Ai Cập và người Sumerơ - Babion.
Quá trình tan rã của chế độ bộ lạc nguyên thủy, quá trình hình thành
xã hội có giai cấp và đời sống nhà nước ở Hy Lạp cổ đại kéo dài vài thế kỷ (vào khoảng từ thế kỷ XI VI I tr.CN) Song dẫu sao thì quá trình đó vẫn diễn ra ở đây nhanh hơn so với ở cá nước phương Đông cổ đại Và, điều quan trọng là ở đây, những quá trình đó đã dẫn tới c c hậu quả kinh tế - xã hội khác Một trong những hậu quả đó là việc giảm đang kể vai trò t nh ổn định của công xã nông thôn Vai trò của sở hữu tư nhân, trước hết là sở hữu của giới qúy tộc nông nghiệp và của giới qúy tộc dòng dõi ở Hy Lạp
cổ đại là lớn hơn nhiều so với ở c c nước phương Đông cổ đại Tương ứng với hậu quả đó là sự tan rã nhanh chóng của công xã nông thôn ở Hy Lạp
cổ đại Gắn lền với quá trình đó là quá trình hình thành nên vô số nhà nước - thị thành ở Hy Lạp cổ đại Vai trò của thành thị trong đời sống kinh
tế - xã hội, trong quá trình hình thành và phát triển chế độ nhà nước ở Hy Lạp cổ đại là lớn hơn và mang tnh quyết định hơn nhiều so với c c nước phương Đông cổ đại Lý do cơ bản của nó là việc sử dụng c c công cụ bằng sắt trong sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủ công nghiệp thoát khỏi hoạt động sản xuất nông nghiệp trên một quy mô rộng lớn mà
c c nước phương Đông cổ đại không hề biết đến
Cá thị thành Hy Lạp cổ đại đã đi đến chỗ đối lập với nông thôn một
c ch gay gắt hơn nhiều so với cá thị thành phương Đông cổ đại.Buôn bán trở nên sôi động ở trong lòng nhà nước - thị thành, giữa cá công xã cũng như trên quy mô cả nước và giữa cá nhà nước thị thành với nhau Các nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ VI I VI tr.CN trải rộng khắp miền Đông Địa Trung Hải (một phần miền Tây, Nam Itala và Xixin) đã duy trì quan hệ buôn bán, văn hóa, với cá thị thành - mẫu quốc ở chính
Hy Lạp, ở quần đảo Êgin và ven biển phía Tây bán đảo Tiểu á ( ôni) Bản
Trang 18thân vị trí địa lý của thế giới Hy Lạp - Êgin, thế giới nằm giữa c c nước Cận Đông cùng với chế độ nhà nước và nền văn hóa nhiều thế kỷ của nó,
đã khiến cho nó cùng với c c nước phương Tây bừng tỉnh và hòa nhập vào cuộc sống lịch sử, đồng thời biến c c thị thành Hy Lạp cổ đại thành trung tâm buôn bán và sản xuất hàng hóa hết sức sôi động vào thời kỳ đó
Mức độ buôn bán và sản xuất hàng hóa sôi động đó có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự xuất hiện đồng t ền vào thế kỷ VI tr.CN Quá trình phát triển việc trao đổi hàng hóa ở một số nước phương Đông cổ đại cũng đã dẫn tới việc sử dụng cá thỏi hợp kim làm đơn vị chung để đo giá trị Nhưng đó là một hiện tượng còn í nhiều mang
t nh ngẫu nhiên, và không dẫn đến sự tan dã đáng kể của nền kinh tế tự nhiên Sự xuất hiện đồng t ền có quốc huy đã thể hiện rõ c c thành tựu to lớn về sự phân công lao động, cường độ sản xuất hàng hóa trong xã hội
Hy Lạp cổ đại
Tất cả những điều đó cho thấy sự khác biệt về nguyên tắc của nền văn minh Hy Lạp cổ đại so với nền văn minh ở cá nước phương Đông cổ đại.Cùng với quá trình phát triển kéo dài vài thế kỷ (vào khoảng thế kỷ VI I
VI tr.CN) cái có ý nghĩa ngày một gia tăng ở nhà nước - thị thành Hy Lạp
cổ đại là quan hệ trao đổi và như C.Mác đã nói,quan hệ vật chất - giữa cá
c nhân mà địa vị xã hội được xác định bởi giá trị tài sản của họ
Bước t ến lớn trong quá trình phát triển của c nhân con người cũng
đã được thực hiện ở chính thế giới Hy Lạp cổ đại, và hơn nữa, trước hết là nhờ sự t ến bộ của quan hệ vật chất “Càng đi ngược lại dòng lịch sử,chúng ta c ng thấy cá nhân - và do đó c nhân sản xuất cũng vậy - thể hiện
ra là bị lệ thuộc, là một thành viên của một tổng thể lớn hơn: lúc đầu cnhân đó gắn lền một c ch hoàn toàn tự nhiên với gia đình và với gia đình
đã phát triển thành thị tộc; sau đó thì gắn lền với công xã dưới những hình thái khá nhau, sản sinh ra do sự đụng độ và hợp nhất giữa c c thị tộc”[23,
tr.855]
Trang 19Đương nhiên, t nh chỉnh thể của cộng đồng vẫn được duy trì ở mọi thời đại trong quá trình phát triển lịch sử tếp theo và ngày một phức tạp hơn theo tến trình lịch sử nhân lọai Nhưng bản chất của t nh chỉnh thể đó
đã thay đổi đáng kể Nó đem lại sự tự do ngày một lớn hơn cho sáng kiến
c nhân (đương nhiên, trước hết là cho c c c nhân thuộc giai cấp thống trị
về mặt kinh tế và chính trị) Thậm chí ở giai đoạn sơ khai của nó, giai đoạn được ghi lại trong Il át và Ôđixê, chúng ta còn bắt gặp một sự phát triển hết sức đa dạng của cá nhân Ở đây có thể thấy không những c t nh mạnh
mẽ của tầng lớp qúy tộc, vua chúa và tướng lĩnh, mà cả những hình ảnh giàu sắc thái của những người tự do bình thường, thậm chí của cả những người nô lệ So với xã hội phương Đông cổ đại, xã hội Hy Lạp cổ đại bị phân hóa một cá h đáng kể Thời đại Hôme đã để lại một tầng lớp đông đảo, bao gồm những người t ểu nông, c c thành viên tự do của công xã nông thôn, và đối đầu với họ là tầng lớp qúy tộc dòng dõi bao gồm cá chủ điền lớn, cá nhà qúy tộc - những người cố gia tăng sở hữu của mình nhờ
c c chủ điền nhỏ và công xã của họ Cơ cấu xã hội đó trở nên phức tạp hơn nhiều trong điều kiện nhà nước - thị thành Sản xuất thủ công nghiệp, buôn bán, cuộc sống đô thị đã có ảnh hưởng mang t nh phá hủy đối với công xã nông thôn, và những người nông dân bị phá sản đã trở thành nguồn bổ sung cho thành phố Tầng lớp thợ thủ công đông đảo được hình thành ở đây, tầng lớp thủy thủ và những người có nghề nghiệp khác tạo thành cánhóm thị dân đông đảo Lớp thị dân giàu có, chủ nhân cá xưởng thủ công nghiệp, thương nhân, v.v bắt đầu giữ một vai trò to lớn Đấu tranh giai cấp khốc lệt là nét đặc trưng cho nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại và xét về phương diện này thì nó khá xa với c c nước phương Đông cổ đại.Vào khoảng thế kỷ VI I tr.CN, tầng lớp dân tự do dưới sự lãnh đạo của bộ phận giàu có nhất và được những người nông dân ủng hộ đã t ến hành c c cuộc đấu tranh chống lại c c nhà nước - thị thành ở Hy Lạp cổ đại Vào thế kỷ V tr.CN, Aten đã trở thành trung tâm kinh tế, đặc biệt là
Trang 20trung tâm văn hóa - t nh thần dường như của toàn thế giới Hy Lạp cổ đại.Ngay từ cuối thế kỷ VI tr.CN, ở đây, người ta đã ghi chép và mã hóa c i gọi là “tập quán pháp” mà dân cư của Nhà nước thị thành Aten đã chấp nhận và đưa vào cá mối quan hệ về tài sản cũng như cá mối quan hệ khá của họ Khi đó, trong quá trinh mã hóa, người ta đã áp dụng một số đạo luật cần thiết để điều tết c c mối quan hệ xã hội mới, trước hết là quan
hệ sở hữu
Việc mã hóa luật pháp và sự kiện xuất hiện bộ luật thành văn có một
ý nghĩa xã hội to lớn mà nhờ đó, sự chuyên quyền của tầng lớp qúy tộc đối với tầng lớp dân tự do của nhà nước (đặc biệt là đối với nông dân) bị hạn chế đáng kể Vào đầu thế kỷ t ếp theo (thế kỷ VI tr.CN), c c cải cá h của Sôlông đã góp phần hoàn thiện quá trình đó Nhờ có những cải c ch này
mà địa vị nô lệ do vay nợ đã bị thủ t êu, đất đai bị bọn qúy tộc chiếm đoạt
đã được hoàn trả lại cho chủ nhân trước đó của nó, việc sử dụng những công dân Aten làm nô lệ cũng bị cấm Cá cải c ch của Sôlông cũng như
c c cải cá h sau đó của Klxphen vào cuối thế kỷ VI đã có một ý nghĩa mang t nh nguyên tắc không chỉ đối với Aten, mà còn đối với nhiều nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại khá
Cá cải c ch đó đã biến Aten thành nhà nước thị thành têu biểu ở Hy Lạp cổ đại Vốn là một dạng xã hội thu nhỏ của Hy Lạp cổ đại, trong toàn
bộ lịch sử của mình, Aten dường như đã trải qua mọi hình thức tổ chức chính trị vốn đặc trưng cho nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại Khá với
c c nước Cận Đông thời đó, nét đặc trưng nhất cho cả Aten lẫn nhiều nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại khá là sự thống trị của tầng lớp dân tự do -
đó là đại bộ phận nhân dân (trừ những người nô lệ), những người luôn thể hiện ở mức độ cao t nh tch cực chính trị của mình Cho nên, nó được gọi
là chế độ dân chủ
Sức mạnh và thế mạnh của c c nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại đã thể hiện rõ trong giai đoạn diễn ra cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư vào
Trang 21thế kỷ V tr.CN khi mà Aten, Spá và cá nhà nước thị thành Hy Lạp cổ đại khác đã giáng cho nền quân chủ Ba Tư hùng mạnh - một trong cá
“siêu cường” của thế giới cổ đại - những đòn thất bại nặng nề Thắng lợi trong cuộc chiến tranh đó không những đã bảo đảm cho sự độc lập chính trị cho c c nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại, mà nó còn góp phần tếp tục làm tăng thêm sức mạnh về kinh tế của chúng Nhờ đó, chế độ dân chủ
đã được hoàn thiện ở Aten và nhiều nhà nước thị thành khá
Một điểm khác biệt cơ bản trong cơ cấu kinh - xã hội của nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại so với c c nhà nước phương Đông cổ đại là lao động cưỡng bức của người nô lệ gữi vai trò to lớn hơn nhiều Nghiên cứu đặc điểm này, Ph.Ăngghen đã dưa ra một đánh giá nổi tếng về ý nghĩa lịch sử của hình thái chiếm hữu nô lệ ở đây: “Chỉ có chế độ nô lệ mới làm cho sự phân công lao động có thể thực hiện được trên một quy mô rộng lớn giữa nông nghiệp và công nghiệp, và do đó, mới có thể có thời kỳ hưng thịnh nhất của thế giới cổ đại, tức là nền văn minh Hy Lạp Không có chế
độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học
Hy Lạp; không có chế độ nô lệ thì không có Đế chế La Mã Mà không có
c i cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và Đế chế La Mã thì không có Châu
Âu hiện đại Chúng ta không bao giờ được quên rằng tền đề của toàn bộ
sự phát triển kinh tế,chính trị và trí tuệ của chúng ta là một trạng thái trong
đó chế độ nô lệ cũng hoàn toàn cần thiết giống như nó được tất cả mọi người thừa nhận Theo ý nghĩa đó chúng ta có quyền nói rằng: không có chế độ nô lệ cổ đại, thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại”[24,tr 254].Tuy nhiên, ở giai đoạn sơ khai trong lịch sử Hy Lạp cổ đại, không phải mọi người dân đều trở thành nô lệ Nô lệ hoàn toàn bị loại ra khỏi đời sống chính trị của nhà nước - thị thành Trong giai đoạn này, c i có t nh quyết định ở đây là cuộc đấu tranh giữa cá nhà nước - thị thành và giữa
lên minh cá nhà nước đó Trong vài chục năm cuối thế kỷ V tr.CN, giữa
lên minh c c nhà nước - thị thành Aten và l ên minh c c nhà nước - thị
Trang 22thành Spá đã diễn ra cuộc chiến tranh được biết đến với tên gọi là cuộc chiến tranh Pôlôpône Sự thất bại của Aten trong cuộc chiến tranh này đã dẫn tới chỗ lên minh của nó bị tan rã Sau đó cá lên minh tương tự như vậy đã nhiều lần xuất hiện Cuộc chiến tranh lên miên giữa cá lên minh này rút cục đã làm cho c c nhà nước - thị thành đều bị suy yếu Quá trình phân hóa dân cư thành đa số người nghèo khổ và thiểu số người giàu có ngày một tăng lên trong c c nhà nước - thị thành đó Sự phân hóa này đã gây nên những tổn thất hết sức nặng nề, tạo nên sự khủng hoảng ngày một trầm trọng hơn vào khoảng thế kỷ IVtr.CN, khi mà một lực lượng mới - chế độ quân chủ Maxêđônia (Me édoine) giành chiến thắng trước một lên minh mới giữa c c nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại - còn chưa bước lên
vũ đài lịch sử Nhưng c c sự kiện đó đã đã dẫn tới sự xuất hiện của lên minh Hy Lạp- Maxêđônia và chiến dịch xâm lược c c nước Cận Đông của Alếchxanđrơ Maxêđônia
Cá đặc điểm nêu trên của chế độ kinh tế - xã hội ở nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại đã đem lại một t nh chất rất độc đáo cho một nền văn hóa phong phú, nền văn hóa đã trở thành một trang quan trọng trong lịch
sử phát triển t nh thần của nhân loại
Một trong c c nguyên nhân quyết định sự hưng thịnh của nền văn hóa này là mức độ tách biệt cao của lao động trí óc khỏi lao động chân tay.Điều này có lên quan mật thiết với sự tến bộ chung đã đạt được trong sự phân công lao động Vai trò ngày một tăng của lao động nô lệ - những người phải gánh vá một khối lượng lao động cơ bắp nặng nề nhất - cũng
đã góp phần tá h lao động trí óc khỏi lao động chân tay và góp phần thúc đẩy quá trình phân chia đó phát triển So với cá nước Cận Đông, ở Hy Lạp cổ đại tầng lớp trí thức không còn bị ràng buộc với hoạt động phụng
sự tôn giáo, còn tầng lớp tăng lữ thì không có một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội Điều đó chủ yếu là do họ thường không hoàn thành cáchức năng của nhà khoa học Cá nhà khoa học đã xuất hiện từ tầng lớp thị
Trang 23dân khá giả,từ tầng lớp thương gia, chính khách v.v Thực ra, điều này gắn
lền với sự xuất hiện của triết học với tư cá h một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, nhưng bản thân sự xuất hiện đó đã không thể có được nếu như không có sự phát triển cao mà lao động trí óc đã đạt tới ở c c nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại
Vai trò của lao động trí óc cũng tăng lên nhờ quá trình phổ biến chữ viết ở người Hy Lạp cổ đại mà xét về phương diện này hơn hẳn cá dân tộc phương Đông cổ đại Việc phổ biến chữ viết sở dĩ diễn ra ở Hy Lạp cổ đại
là do bảng chữ cái đã xuất hiện ở đây vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất tr.CN
Sự phát triển chữ viết ở cá nước Cận Đông đã xuất hiện bảng chữ c i ở Phiniki Bảng chữ cái Phiniki đã được sửa đổi chút í và được hoàn thiện ở
Hy Lạp cổ đại bên cạnh cá phụ âm cấu thành toàn bộ bảng chữ c i Phiniki, người Hy Lạp đã bổ xung cá chữ cái tạo thành cá nguyên âm và nhờ đó, bảng chữ cái trở nên l nh hoạt hơn
Đương nhiên, bảng chữ c i tự nó không thể sáng tạo ra c c áng thi ca,
sử thi và c c tá phẩm triết học, khoa học ở Hy Lạp cổ đại, song bản thân khả năng ghi chép lại c c tác phẩm đó đã kích thích sự sáng tạo của trí tuệ
và biến c c kết quả sáng tạo đó thành một hiện tượng í nhiều mang t nh đại chúng
Ý nghĩa của hoạt động trí tuệ đặc biệt tăng lên cùng với sự phát triển nhân c ch của c nhân trong nền văn hóa t nh thần của người Hy Lạp cổ đại, nền văn hóa đã phản ánh c c đặc điểm của đời sống kinh tế - xã hội của người Hy Lạp cổ đại Ảnh hưởng của yếu tố truyền thống trong đời sống t nh thần con người ở c c nhà nước- thị thành Hy Lạp cổ đại so với
c c nước phương Đông cổ đại ngày c ng giảm cùng với quá trình gia tăng mức độ cải biến cá mối quan hệ xã hội Vai trò của quan hệ buôn bán và
c c quan hệ khá giữa người Hy Lạp cổ đại với chính cá dân tộc Cận Đông và c c nước khác là rất lớn trong quá trình tăng độ cải biến c c mối quan hệ xã hội đó Mặt khá , truyền thống bao giờ cũng là yếu tố vững
Trang 24vàng hơn khi mà con người chưa biết đến c c trật tự xã hội, cá phong tục
và c c t n ngưỡng khác
triết học với tư cách một hình thái đặc thù của ý thức xã hội
Như E.V Ilencốp - nhà triết học Xô - viết đã khẳng định: “Triết học được sinh ra trong cuộc đối thoại tranh luận nhiệt thành với hệ thống cá
c ch nhìn nhận thần thoại - tôn giáo về thế giới Những cái nhìn t ch cực riêng của nó được hình thành trực t ếp trong tến trình tái suy ngẫm có phê phán và cải biến chất lệu tnh thần mà mọi người đã kế thừa trong di sản phát triển trước họ Lẽ tự nhiên là, ở những khoảng thời gian đầu t ên triết học bị giới hạn bởi những chất lệu ấy, nằm trong sự phụ thuộc nặng nề,mặc dù là phủ định đối với nó”[14, tr 24] Theo dõi quá trình xuất hiện của triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại nói riêng chúng ta càng thấy rõ điều đó
Cái có ý nghĩa đặc biệt đối với sự xuất hiện của triết học ở Hy Lạp cổ đại là ở chỗ, nó không những bị quy định bởi t nh đặc thù của của thần thoại Hy Lạp so với thần thoại phương Đông, mà chủ yếu là ở “t nh chín muồi” của thần thoại Trong cá tác phẩm của Hôme và Hêxiốt,đặc biệt là
ở Ilát và Ôđixê - những tác phẩm sử thi lớn nhất ở Hy Lạp cổ đại, hành động của Thượng đế, của cá vị anh hùng và của con người đan xen lẫn nhau trong vô số t nh huống được mô tả Cả hai sử thi này không những là những di tch cổ xưa nhất của thần thoại Hy Lạp cổ đại, mà còn là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật rất xa lạ với niềm t n tuyệt đối vào c c nhân vật thần thoại Hôme đã tỏ rõ thái độ phê phán đối với c c vị thần trên đỉnh
Ôl mpia truyền thống Khi người hóa c c nhân vật thần thoại của mình và gán cho cá nhân vật đó nhiều khiếm khuyết của con người, ông đã làm giảm bớt t nh không thể vươn tới của cá vị thần trên đỉnh Ôl mpia của chúng và làm cho chúng trở nên gần gũi với con người Bên cạnh sự người hóa đó, một số vị thần mà Hôme miêu tả giống như là những nhân vật
Trang 25không phải là đại diện cho một cái gì đó, đã càng trở nên giống như cáhình tượng tự nhiên.
Hình tượng quan trọng nhất trong số đó là thần Đại dương - một dòng sông nước ngọt khổng lồ, bao quanh toàn bộ trái đất, không những nuôi dưỡng c c dòng sông khác, cá mạch nước ngầm, c c giếng nước, mà cả
c c biển nước mặn.Mọi thứ hiện hữu trên trái đất đều sinh ra từ chính thần Đại dương và vị hôn thê của ngài là thần Têphia Tại sao chính nước ngọt
ở Hy Lạp, nơi mà biển bao bọc xung quanh lại được coi là cơ sở đầu t ên sinh ra cả nước mặn ở cá biển lớn? Theo c c nhà nghiên cứu thần thoại và triết học thì quan niệm này được người Hy Lạp cổ đại tếp thu từ thần thoại Sumerơ - Babion, nơi mà vai trò của cơ sở đó hoàn toàn được giải thích qua điều kiện tự nhiên của dải đất nằm giữa hai con sông Tigơrơ và Epratơ, điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của cư dân ở đó
Mặc dù cái ẩn náu đằng sau vô số hiện tượng tự nhiên và hoạt động của con người là hoạt động có mục đích của thần Dớt và cá vị thần khác với tư cá h là những c nhân siêu tự nhiên, nhưng ở Hôme, c c sự kiện vẫn diễn ra theo con đường tự nhiên Biểu tượng về t nh tất yếu đã được pháhọa một c ch mờ nhạt dưới dạng số phận mà thường là do hình ảnh về thần Moira thể hiện Vị thần này không phải bao giờ cũng phục tùng thần Dớt,
và có sức mạnh thậm chí còn đứng trên thần Dớt Điều được coi là hết sức quan trọng đối với sự xuất hiện sau này của triết học là việc trí tuệ (noas,noys trong thổ ngữ At i) được lệt kê vào số ba năng lực của ý thức con người bên cạnh tâm hồn (psychê) và t nh thần (thymos)
Nét đặc trưng rõ ràng hơn cho t nh chín muồi của thần thoại Hy Lạp
cổ đại là hai sử thi của Hêxiốt, đặc biệt là Teôgônia (Gia phả hay nguồn gốc cá thần) Khác với c c tác phẩm thi c có tnh nghệ thuật cao của Hôme, sử thi của Hêxiốt thấm nhuần t nh thần lý trí Nó đã cố gắng trình bày và hệ thống hóa cá quan niệm thần thoại đã trở nên phổ biến ở người
Trang 26Hy Lạp cổ đại dưới vô số biến thể Việc giải quyết vấn đề này chứng tỏ quá trình phân rã đã bắt đầu diễn ra trong c c quan niệm mà từ chỗ, cákhá h thể trong niềm t n cộng đồng chưa có được sự phản tư đã biến thành khá h thể của sự suy tư ban đầu Khi phác họa sự xuất hiện tuần tự của cánhân vật thần thoại, Hêxiốt đã chú ý đặt ra cho mình nhiệm vụ giải thích,trình bày một cá h tỷ mỷ cái đã tồn tại, cái đang tồn tại và cái sẽ tồn tại.
Ở Hêxiốt, Têôgônia đã biến thành nguồn gốc vũ trụ luận Hêxiốt đã tuyên bố cơ sở cho quá trình nảy sinh vũ trụ là trạng thái hỗn mang mà thực chất là không gian, là diễn đàn cho vở kịch vũ trụ t ếp theo Một trong
c c vấn đề cơ bản và về thực chất, là vấn đề biện chứng của thế giới quan thần thoại - đó là vấn đề về sự phát sinh Vấn đề này đã được diễn đạt qua chính tên gọi của sử thi Sự quan tâm của Hêxiốt chủ yếu hướng vào việc làm sáng tỏ “trái đất của chúng ta đã ra đời như thế nào, tếng rì rầm của biển cả vô bờ là do đâu, sông ngòi, c c thiên thể mang ánh sáng và bầu trời mênh mông trên đầu chúng ta đã ra đời như thế nào, ai đã sinh ra từ những người quan sát nguồn của cải bất tận đó” Song điều hết sức quan trọng đối với sự xuất hiện sau này của triết học- đó là “vực thẳm vĩ đại”(chasma),tức là chính cái trạng thái hỗn mang đó “Vực thẳm vĩ đại” hay c i trạng thái hỗn mang đó đã được mô tả như cơ sở mang t nh thực thể vì “ mọi thứ
ở đó cả đầu lẫn đuôi, cả c i khủng khiếp lẫn c i tăm tối đều nằm cạnh nhau, đều được sinh ra từ trái đất tối tăm, từ thần Tá tarơ khuất chìm trong bóng tối, từ đáy biển sâu thẳm, từ bầu trời đầy sao”[Dẫn theo: 51, tr 38-39] Ở đây, một lần nữa lại hiện ra hình ảnh về tnh tất yếu tự nhiên trong tương lai
Đương nhiên, sự xuất hiện của triết học không phải nảy sinh ra một
c ch tự phát từ thần thoại, mà triết học với tư c ch một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, một biến thể đặc thù của hoạt động t nh thần của con người, chỉ xuất hiện sau khi hoạt động đó dựa vào c c khái niệm được hình thành trên cơ sở tch lũy kinh nghiệm sản xuất, hoạt động xã hội và đạo
Trang 27đức phong phú của người Hy Lạp cổ đại Không phải ngẫu nhiên mà người
Hy Lạp cổ đại gọi c c nhà hiền triết (sophos) là c c nhà hoạt động lỗi lạc của họ, những người mà họ coi là tá giả của nhiều châm ngôn - cái được coi là kết quả tổng hợp sự thông thái, sự anh minh sáng suốt của nhân dân (chẳng hạn, “ hãy đừng làm gì quá mức”, “hãy tự hiểu chính mình”, v.v ).Trong số “7 nhà hiền triết” thì bao giờ họ cũng kể đến nhà triết học, nhà khoa học Hy Lạp cổ đại đầu t ên - Talét, nhà hoạt động chính trị, nhà thơ người Aten - Sôlông
Triết học tá h ra khỏi thần thoại cùng với quá trình hình thành khái niệm mà nếu thiếu nó không thể có nguyên tắc luận chứng duy lý, nguyên tắc nhận thức duy lý về thế giới tự nhiên và con người Tuy nhiên, không nên coi quá trình này là một hành vi ngắn ngủi nào đó, mà trên thực tế, nó bao trùm toàn bộ giai đoạn phát triển ban đầu của triết học Hy Lạp cổ đại,bắt đầu từ cuối thế kỷ VI tr.CN và kéo dài đến giữa, thậm chí đến nửa sau thế kỷ V tr.CN - thời đại của cá nhà triết học lừng danh, như Pá mêní,Dênông, Đêmôcrí và Xôcrát
Cá hình tượng - quan niệm thần thoại là đa nghĩa, mơ hồ, không xáđịnh Triết học đã cố gắng biến đổi c c hình tượng đó thành c c khái niệm.Thế nhưng, một thời gian dài, triết học vẫn chưa có đủ khả năng khắc phục được tnh đa nghĩa, mơ hồ đó, mặc dù nó đã giảm làm đi một cá h đáng kể
t nh đa nghĩa, mơ hồ trong c c hình tượng thần thoại ấy Đặc trưng vốn có
Đương nhiên, quá trình duy lý hóa thế giới quan, quá trình đưa tới sự xuất hiện của triết học mà trong đó, c c yếu tố của khái niệm dần dần đã chiếm ưu thế so với hình tượng và biểu tượng thần thoại là quá trình dựa vào tri thức khoa học mà Talét, sau đó là nhiều nhà triết học, nhà khoa học
và hiền triết Hy Lạp cổ đại khá đã tếp thu ở người Ai Cập, Babi on và
c c dân tộc cổ đại khác ở Cận Đông.Nhưng ở cá nhà hiền triết Hy Lạp cổ
Trang 28đại, c c chân lý toán học và thiên văn học đã có được một hình thức khác.Điều này trước hết có l ên quan tới vai trò đặc biệt to lớn của toán học trong quá trình duy lý hóa thế giới quan Công lao lớn nhất ở đây thuộc về trường phái Piago Nhờ hoạt động của trường phái này, toán học đã trở thành lĩnh vực tri thức lý luận, tri thức có sự luận chứng quan trọng nhất.Cũng chính Pi ago là người đầu t ên sử dụng thuật ngữ triết học, thuật ngữ
mà sau đó xuất hiện ở nhiều nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại - những người sử dụng nó để nhấn mạnh khát vọng về chân lý và mong muốn nghiên cứu
Bản thân sự xuất hiện của thuật ngữ đó gắn lền với cả một cuộc c ch mạng trong thế giới quan Người Hy Lạp cổ đại đã sử dụng từ “sự thông thái” (Xôphia) để chỉ mọi kỹ năng, kỹ xảo thực tế đã đạt tới trình độ nghệ thuật Và sự thông thái chính trị - đạo đức mà “7 nhà hiền triết” đã đấu tranh đến cùng vì nó cũng là sự thể hiện cao nhất của sự thông thái được quan niệm như là nghệ thuật hiện thực Còn sự xuất hiện của thuật ngữ
“triết học” với tư c ch “yêu mến sự thông thái” đã đánh dấu của sự xuất hiện tri thức thuần túy lý luận Đối với c c nhà triết học thì công việc suy xét, tư duy trở thành công việc chủ yếu trong cuộc sống của họ Theo đó,thuật ngữ “triết học” đã mang một sức tải thuần túy thế giới quan
Những tư tưởng triết học được c c nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại phát triển là hết sức phong phú Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Má - Lênin
đã nhiều lần đánh giá cao sự phong phú đó Theo Ph.Ăngghen,chính là “từ
c c hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mầm mống
và đang nảy nở hầu hết tất cả cá loại thế giới quan sau này”[24, tr.491].Trong cá loại thế giới quan đó, trước hết cần phải lưu ý tới sự hình thành của chủ nghĩa duy vật Nó được củng cố trong cuộc đấu tranh với thế giới quan thần thoại, khi hướng tới sự giải thích tự nhiên và c c hiện tượng diễn ra trong tự nhiên Tuy nhiên, với toàn bộ sự tự đối lập mình với thần thoại, một thời gian dài chủ nghĩa duy vật vẫn còn mang sắc thái lệ thuộc
Trang 29vào thần thoại Tình trạng đó kéo dài tới tận chủ nghĩa duy vật trong học thuyết của Đêmôcrí, sau đó là Êpiquya và Lucrêxi (thế kỷ I tr.CN ở La Mã
cổ đại), khi mà chủ nghĩa duy vật còn chưa đạt tới sự trưởng thành ở mức tối đa có thể có trong điều kiện cổ đại, cho tới khi nó chưa trở nên mâu thuẫn gay gắt với thế giới quan thần thoại - tôn giáo Mặt khá , chủ nghĩa duy tâm được hình thành tới mức hoàn hảo trong c c tác phẩm của Platôn,cũng đã phát triển Mối l ên hệ với thế giới quan thần thoại - tôn giáo đã được duy trì và thậm chí còn được phát triển sâu sắc thêm trong chủ nghĩa Platôn cũng như trong c c hình thức khá của chủ nghĩa duy tâm
CỔ ĐẠI VÀ CỘI NGUỒN CỦA NÓ
Những quan niệm và tư tưởng biện chứng đã chiếm một vị trí đáng kể trong thế giới quan triết học của người Hy Lạp cổ đại Về thực chất, những quan niệm và tư tưởng biện chứng đó đã xuất hiện cùng với triết học Xét
về nhiều phương diện, có thể đánh giá phép biện chứng là một hiện tượng
có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn cũng như triết học
Tuy nhiên, nói tới phép biện chứng ở giai đoạn này, cần phải hiểu nó theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó là giai đoạn đầu t ên trong lịch sử nhận thức mang t nh biện chứng về sự phát triển của hiện thực; thứ hai, đó là phép biện chứng theo nghĩa cổ điển của từ này
Theo V.I Lênin, quan điểm biện chứng về sự phát triển dựa trên học thuyết về mâu thuẫn, về cá mặt đối lập, về sự thống nhất và đấu tranh của
c c mặt đối lập đó Khi xá định quan điểm phát triển và khi phân biệt cáquan điểm biện chứng và siêu hình về sự phát triển, V.I Lênin đã coi phép biện chứng của c c nhà triết học Hy Lạp cổ đại là khởi nguyên lịch sử của một hình thái mới
V.I Lênin đã đánh giá phép biện chứng là “học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện .”[17,
tr 53] Với tư c ch là một học thuyết hoàn chỉnh và sâu sắc như vậy, học
Trang 30thuyết này (khá với quan niệm siêu hình về phát triển) xem “sự phát triển coi như là sự thống nhất của cá mặt đối lập (sự phân đôi của c i thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhau giữa c c mặt đối lập ấy) 18, tr 379] “Theo nghĩa đen, phép biện chứng là
sự nghiên cứu mâu thuẫn trong ngay bản chất của các đối tượng” [18, tr.268] “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của cá mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng”[18, tr 240]
V.I Lênin còn định nghĩa “phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành)
chết, cứng đờ, mà là sinh động, có điều kiện năng động, chuyển hóa lẫn nhau” [18, tr.116-117]
Như vậy, có thể nói toàn bộ vấn đề của phép biện chứng là vấn đề lý giải về sự phát triển, về t nh mâu thuẫn của tự nhiên và tư duy, về sự đấu tranh và đồng nhất (thống nhất ) của c c mặt đối lập, về cá vấn đề gắn
lền với nó (vấn đề về sự thống nhất và về mối quan hệ qua lại, về sự phủ định, về t nh chất tệm t ến của sự phát triển, v.v )
Phép biện chứng má xí, khoa học, hiện đại dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng nhiều thế kỷ, bắt nguồn từ phép biện chứng Hy Lạp cổ đại, coi nó với tư cá h là khởi nguyên của mình Hêghen đã nhiều lần viết
về ý nghĩa to lớn của truyền thống này C.Má , Ph.Ăngghen và V.I Lênin cũng đã nhiều lần nói về nó C.Má đã viết về truyền thống này khi ông đánh giá tá phẩm viết về Hêra lt của Látxan Ph.Ăngghen cũng đã đề cập đến vấn đề này trong nhiều tá phẩm của ông, khi xá định phép biện chứng là khoa học “về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”[24, tr 201].Ph.Ăngghen đã nhận thấy nguồn gốc lịch sử của nó trong cá học thuyết của c c nhà triết học Hy Lạp cổ đại và đã khẳng định rằng: “Những nhà
Trang 31triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh ”[24, tr 34].
Dường như phần lớn c c định nghĩa mang tnh tổng quát nêu trên về phép biện chứng đều đã được V.I.Lênin đưa ra khi nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại Bản thân V.I.Lênin cũng đã chỉ ra nguồn gốc lịch sử đó của c c
tư tưởng biện chứng cơ bản Ông đã trích dẫn Hêghen, khảo lược và trình bày lại chính những đoạn mà ở đó, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại được phân tch Khi đánh giá phép biện chứng của Dênông, V.I.Lênin đã xáđịnh “ bản chất của phép biện chứng được thể hiện trong công thức: thống nhất, đồng nhất của c c mặt đối lập” [18, tr 275] Còn khi xem xét quan điểm của c c nhà triết học Hy Lạp cổ đại về “sự chuyển hóa” (tức là
về sự phát triển ), V.I Lênin đã đem quan niệm của Hêrclt- “sự biến hóa của cái này sang cái kia” [18, tr 285] đối lập với quan niệm siêu hình về
“sự chuyển hóa”
Như vậy, với nghĩa đầu t ên, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại phải được coi là một giai đoạn xác định, hơn nữa là giai đoạn mang tnh xuất phát điểm đối với triết học Tây Âu trong quá trình lý giải về sự phát triển lịch sử của môn khoa học về c c quy luật phổ biến, về sự phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy con người
Đương nhiên, bản thân giai đoạn đầu tên đó cũng trải qua quá trình
tến hóa nhất định Thoạt đầu, các tư tưởng biện chứng chủ yếu được phát
của sự nhận thức và của đời sống xã hội dưới dạng phôi thai của chúng đã
có trong c c hình thức ban đầu của tư duy biện chứng, như ở Hêra lt
Thuật ngữ dùng để chỉ phép biện chứng Hy Lạp cổ đại luôn có trong
nó sự kết hợp giữa thuật ngữ “phép biện chứng khách quan”của Hêghen
mà V.I.Lênin cũng chấp nhận với thuật ngữ “ phép biện chứng tự phát” do Ph.Ăngghen đưa ra Thuật ngữ “phép biện chứng khách quan tự phát” có
Trang 32nghĩa rằng, khi phát triển các yếu tố của phép biện chứng trên thực tế, bản thân các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, về mặt chủ quan, đã không ý thức
xây dựng nó thành hệ thống.
Khi phản ánh t nh chất biện chứng của tự nhiên, xã hội và tư duy,phép biện chứng khá h quan tự phát đó của c c nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại luôn tồn tại dưới hai loại hình:
1) Phép biện chứng khẳng định, tức là khẳng định và phân tch c c quy luật biện chứng khác nhau trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội hay tư duy; 2) Phép biện chứng phủ định (mang t nh chất t êu cực), tức là phủ định
tnh chân lý của c i mà trong đó,t nh mâu thuẫn nội tại bộc lộ ra.Vốn là bản t nh bẩm sinh của cá nhà triết học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng khách quan tự phát xuất hiện ngay từ khi triết học cổ đại ra đời
ở cá nhà triết học tự nhiên thuộc trường phái Miê Với tư cá h là phép biện chứng khẳng định, nó được thể hiện rõ nhất ở Hêracl t, còn với tư
c ch là phép biện chứng phủ định, nó được thể hiện ở trường phái Êlê.Tuy phân biệt phép biện chứng Hy Lạp cổ đại theo hai nghĩa đó,nhưng thực ra hai nghĩa này không tuyệt đối biệt lập Ngay từ khi bắt đầu tồn tại, chúng đã lên hệ mật thiết và tá động qua lại với nhau Hơn nữa,nghệ thuật t ến hành tranh luận nhằm phát hiện và chứng minh chân lý ngày c ng thể hiện ra là khả năng nhận thức đối tượng trong những t nh quy định đối lập nhau vốn có ở nó, khả năng qui những tnh quy định đó
về một cái thống nhất, khả năng phát hiện ra sự thống nhất của c c mặt đối lập, tức là ngày c ng trở thành phương pháp nhận thức biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy Và, đương nhiên, kể từ thời Xôcrát, c c nhà triết học đều luôn luôn phát triển phép biện chứng theo cả nghĩa này lẫn nghĩa kia đại
Trang 33Để hiểu một c ch cụ thể t nh chất chung của cả hai loại hình đó của phép biện chứng cổ đại, chúng ta cần phải đặt chúng trong bối cảnh lịch
sử, mà trước hết chúng ta phải trở lại xem xét vấn đề nguồn gốc của nó
Ở trên, chúng tôi đã chỉ ra mối lên hệ mang t nh phát sinh của triết học Hy Lạp cổ đại đối với thần thoại, thể hiện ở sự thống nhất phương pháp nhìn nhận thế giới, phương pháp mang t nh quyết định đối với cáquan niệm thần thoại và đã trở thành một trong những phương pháp cơ bản trong cá hệ thống triết học - vũ trụ luận Phương pháp thần thoại (đương nhiên là không được ý thức) là phương pháp so sánh giữa cộng đồng huyết thống - bộ lạc, thị tộc với con người - với tư cá h là một yếu tố dường như hoàn toàn bị hòa tan trong cộng đồng huyết thống đó và với toàn bộ giới tự nhiên xung quanh con người Phương pháp so sánh đó gắn lền với tri giámang t nh chỉnh thể, không phân hóa về giới tự nhiên xung quanh con người và với sự thống trị của c c quan niệm “nhân t nh hóa” và “mô phỏng
xã hội” trong thần thoại
Cá quan niệm đó đóng vai trò hết sức to lớn trong triết học Hy Lạp
cổ đại, đặc biệt là ở giai đoạn sinh thành của nó Tuy nhiên, trong triết học này sự so sánh như vậy lại xuất phát từ việc con người ngày càng ý thức được cá t nh của mình, ngày c ng trở thành c nhân và từ một xã hội khá
- xã hội đã đổi khá về nguyên tắc so với xã hội bộ lạc - thị tộc Đó là xã hội có giai cấp và hình thức nhà nước - thị thành đã xuất hiện Và, nguyên tắc mang t nh xây dựng của xã hội đó là nền pháp trị mà trong đó, c c cơ
sở đạo đức và pháp lý đã không còn có sự phân biệt một cá h rạch ròi.Vấn đề arkhe, tức là khởi nguyên đã trở thành vấn đề cơ bản trong triết học tự nhiên của Talét, Anaximanđrơ, Anaximen, Kxênôphan,Hêra l t và c c nhà “Phixiôlô” (c c nhà triết học sau này đã gọi họ như vậy) - những người mà tá phẩm của họ thường có cùng một tên gọi “Về
tự nhiên” Khởi nguyên - đó là c i không những tồn tại trước mọi sự vật và hiện tượng tự nhiên, xét về mặt phát sinh, mà còn cấu thành cơ sở hiện
Trang 34hữu, mang t nh thực thể của chúng Như đã nói ở trên, tư tưởng thần thoại của Hôme, đặc biệt là của Hêxiốt, dường như hoàn toàn hướng vào vấn đề
sự sinh thành Tư tưởng về t nh thực thể cũng đã thể hiện rõ trong quan niệm về trạng thái Hỗn mang của Hêxiốt và được phát triển thêm ở c c nhà triết học thời đó Họ đã coi khởi nguyên đầu tên, cơ sở ban đầu là những yếu tố tự nhiên cơ bản, như nước, không khí, đất, lửa Từ những yếu tố không những đã sinh ra tất cả mọi hiện tượng tự nhiên, mà cả vô số cáthần và quỷ dữ trong thần thoại đa thần Hy Lạp cổ đại Việc cá nhà triết học Hy Lạp cổ đại tếp nhận những khởi nguyên khá nhau không những
là kết quả của việc xem xét nội dung thuần túy vật lý của cá yếu tố tự nhiên, mà còn là kết quả của t n niệm cho rằng, trong tự nhiên cũng như trong nhà nước - thị thành, sự thống trị, quyền lực phải thuộc về một trong
c c yếu tố đó
Phương pháp so sánh “nhân hình hóa - mô phỏng xã hội” cũng đã được c c nhà triết học Hy Lạp cổ đại áp dụng khi lý giải t nh quy luật trong tự nhiên.Tính quy luật đó thường gọi là Đik mà trong t ếng Hy Lạp,
nó có nghĩa là “chính nghĩa” hay “sự thật”, và thường được thể hiện qua
Nữ thần chính nghĩa Sau khi nội dung đạo đức - pháp lý được đưa vào,khái niệm “Đike” đã thay thế cho quan niệm thần thoại mơ hồ về số phận với tư cá h là t nh quy luật vũ trụ - xã hội hoàn toàn chưa bị phân hóa và không thể tránh khỏi Hêra lt đã nói mặt trời không thể vượt quá mức độ
đã định trước cho nó, nếu không thì cả mặt trời cũng sẽ bị trừng phạt - sự trừng phạt do “trợ thủ” của thần công lý (Đike) tến hành
Đương nhiên, phương pháp so sánh trong việc xem xét giới tự nhiên không thể là phương pháp duy nhất và toàn diện của triết học đang sinh thành Sự xuất hiện của những khái niệm riêng trong triết học, những khái niệm phản ánh sự định hướng ngày một sâu sắc hơn vào kinh nghiệm và vào tri thức khoa học đang ngày một phát triển, và tất yếu, nó phải gắn lền với sự thâm nhập ngày một tăng vào lĩnh vực triết học của c c phương
Trang 35pháp phân tch Tuy nhiên, theo chúng tôi, đối với triết học Hy Lạp cổ đại thì phương pháp so sánh mới chính là phương pháp chủ yếu khi nó đưa ra một quan niệm chỉnh thể về giới tự nhiên mà con người được coi là một yếu tố không thể tách rời.
Tri giá mang t nh chỉnh thể về giới tự nhiên, trong đó bao hàm cả bản thân chủ thể của sự tri giá đó, về thực chất, là biểu hiện đầu tên của quan niệm biện chứng tự phát về thế giới Định hướng biện chứng này có nguồn gốc từ tư duy thần thoại Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng, ý thức nguyên thủy của thời đại thống trị của thần thoại đã mang tnh biện chứng Bởi lẽ, phép biện chứng đó là một biểu hiện của ý thức triết học.Khác với tri giá thần thoại về tự nhiên, phép biện chứng quan niệm bản thân c i chỉnh thể trong một sự thống nhất nhất định với cá bộ phận ngày một phân hóa của nó
Một đặc điểm khác của sự tri giá mang t nh biện chứng tự phát về thế giới là ở chỗ, nó thừa nhận sự biến đổi không ngừng, có thể thường xuyên quan sát được trong tự nhiên Tư duy thần thoại cũng ghi nhận t nh chất biến đổi như vậy, song dường như nó lại không nhận thấy một yếu tố thực thể ổn định nào
Khi quan sát bức tranh về những biến đổi đó, tư duy triết học và tư duy biện chứng tự phát trong triết học Hy Lạp cổ đại đã cố xá định trong
tự nhiên một tnh ổn định nhất định và cố t m ra một hình thức thực thể cho nó
Vấn đề cụ thể hóa quan niệm về t nh chỉnh thể của tự nhiên và về sự vận động không ngừng của nó là vấn đề xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại Sự cụ thể hóa đó dường như là điều quan trọng nhất trong việc phân tch nguyên lý phát triển, nguyên lý lên kết mọi sự biến đổi trong tự nhiên thành một quá trình thống nhất và xem xét con người cùng với ý thức của nó như một mắt khâu trong quá trình đó
Trang 36Nguyên lý phát triển được c c nhà “Phixiôlô”trong nền triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại, bắt đầu từ Anaximanđrơ, xây dựng nên trong c c hệ thống t nh nguyên học khác nhau, cá hệ thống cố làm sáng tỏ nguồn gốc của c c đặc điểm quan trọng nhất (theo quan niệm của người Hy Lạp cổ đại) trong vũ trụ Ở c c nhà “Phixiôlô”, nguyên lý phát triển không thể
tá h rời quan niệm mang t nh chỉnh thể của họ về tự nhiên, quan niệm về mọi bộ phận, mọi sinh vật, mọi sự vật và hiện tượng của tự nhiên với tư
c ch là những cái có mối lên hệ lẫn nhau Vì đại bộ phận c c nhà triết học
Hy Lạp cổ đại, trước hết là cá nhà triết học duy vật, đều cho rằng con người cùng với ý thức của nó là biểu hiện cao nhất của tự nhiên, nên họ đều khẳng định cần phải chỉ ra cái cơ sở khá h quan cho phép lý giải mọi quá trình tự nhiên, kể cả con người cùng với tư duy của nó, đồng thời t m
ra tất cả c c khâu trung gian giữa con người cùng với ý thức vốn có ở nó
và c c hiện tượng nguyên sơ nhất, í hoàn hảo nhất của tự nhiên Cá nhà triết học giải quyết vấn đề này dựa trên thực trạng của tri thức khoa học tự nhiên thời đó
Arixtốt, một trong c c nhà triết học tự nhiên vĩ đại nhất thời cổ đại, đã nói tới “c i thang lên tục” nối l ền thế giới khoáng vật với thế giới thực vật, thế giới thực vật với thế giới động vật và thế giới động vật với thế giới loài người Tuy nhiên, ở Aixtốt, quan niệm về mối lên hệ phổ biến đó,mối lên hệ thống nhất toàn bộ tự nhiên, đã không được biến thành nguyên
lý về sự xuất hiện cá hình thức hữu cơ cao hơn từ c c hình thức thô sơ, có
tổ chức thấp hơn Nếu Arixtốt, người dao động giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, đã không thể thực hiện được nguyên lý đó, thì nhà duy tâm như Platôn lại càng không thể thực hiên được điều đó
Nhưng nguyên lý phát triển dưới hình thức chung nhất đã được Hêra l t xây dựng nên, và sau đó là c c nhà duy vật cổ đại khá , những người đã gán cho bản nguyên thực thể đầu t ên của thế giới một đặc điểm
có khả năng lý giải được ý thức của con người Ở Hêrclt, cái giữ vai trò
Trang 37bản nguyên như vậy - đó là “ ngọn lửa bất tử” Hêraclt còn gọi cái bản nguyên đầu t ên đó là lôgos - c i đã khiến cho quan niệm về số phận được duy lý hóa về phương diện triết học Học thuyết về lôgos với tư cá h là “ lửa có lý t nh” hay khí lực đã được phát triển ở thời đại Hy Lạp hóa trong trường phái Xtôíc - trường phái đã tồn tại đến cuối giai đoạn Hy Lạp hóa -
La Mã trong lịch sử Hy Lạp cổ đại Giống như Hêrcl t, họ khẳng định rằng, sự phát triển của thế giới diễn ra theo quy luật của logos, trải dài từ
đá đến con người là một chuỗi sự vật khá nhau bởi cường độ khí lực ngày một c o hơn, mà cường độ khí lực c o nhất đã đạt được là ở ý thức con người
Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể gọi một c ch ước lệ quan điểm sinh động đó về tự nhiên là nguyên lý phát triển, bởi thiếu cá tri thức khoa học
tự nhiên, quan điểm đó không thể trở thành một học thuyết có hệ thống về
sự phát triển đang diễn ra trong hiện thực Hạn chế trong quan niệm về sự phát triển của Hêra l t, của trường phái Xtôíc cũng như hàng loạt nhà triết học Hy Lạp cổ đại khá là ở chỗ,theo quan niệm đó, sự phát triển chỉ được thưc hiện dưới một vài dạng thức và, khi các hình thức đó trở nên cạn kiệt,thì giới tự nhiên dường như bị biến mất trong ngọn lửa của “ hỏa hoạn vũ trụ”để rồi sau đó, lại lặp lại một c ch chính xá c c chu kỳ phát triển trước đây
Có nhiều nguyên nhân đã khiến cho c c quan niệm rất có ảnh hưởng
đó ở thời cổ đại trở nên phổ biến và hết sức đa dạng Đương nhiên, một trong những nguyên nhân đó là sự ảnh hưởng của thần thoại đối với tư tưởng triết học Còn sức mạnh của ảnh hưởng đó là t nh hạn chế của tri thức khoa học tự nhiên ở thời kỳ này Ngoài ra, còn có nguyên nhân xã hội, đó là t nh trì trệ của c c quá trình xã hội ở thời cổ đại và tnh tương đối nghèo nàn trong c c hình thức sinh hoạt xã hội của con người so với thời cận đại và hơn nữa, so với thời hiện đại
Trang 38Định hướng biện chứng tự phát của c c nhà triết học Hy Lạp cổ đại còn thể hiện rõ ở việc lý giải theo lối tự nhiên chủ nghĩa về thế giới con người với tư c ch là sự kết hợp khá nhau giữa cá mặt đối lập Mầm mống của những quan niệm như vậy đã có trong tư duy thần thoại Trong
sử thi của Hôme, khởi nguyên đầy sức sống và xán lạn được đối lập với khởi nguyên phá huỷ và đen tối Trong “Trôgôni” của Hêxiốt, nguồn gốc của c c vật thể vũ trụ - tự nhiên quan trọng nhất được xem là hậu quả của
t nh yêu giữa nam và nữ (Hê - đất và Uran - trời) Sau khi triết học xuất hiện trong điều kiện nhà nước - thị thành và trong cuộc đấu tranh giai cấp vốn có ở nó, thì tư tưởng về sự kết hợp c c mặt đối lập được bổ sung thêm bởi tư tưởng về cuộc đấu tranh giữa chúng, bởi tư tưởng về t nh khách quan của c c mâu thuẫn trong tự nhiên cũng như trong xã hội Hêracl t chính là người đầu tên trong số cá nhà biện chứng đó Trường phái
Piago, sau đó là Platôn, Arixtốt và c c nhà triết học Hy Lạp cổ đại khá đã
có công phát triển học thuyết về cá mặt đối lập
Nguồn gốc của phép biện chứng hiểu theo nghĩa thứ hai, nghĩa cổ đại của nó, có nguồn gốc từ triết học Hy Lạp cổ đại Song thuật ngữ “biện chứng”xuất hiện muộn hơn nhiều so với thuật ngữ “triết học” Tư duy của
c c nhà triết học Hy Lạp cổ đại đầu tên đều hướng vào việc lý giải bản chất của giới tự nhiên xung quanh con người Trong đó, bản thân con người thể hiện ra như là một yếu tố không thể tá h rời của tự nhiên Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển ngày một tăng của nền tảng nhân cá h trong đời sống xã hội của người Hy Lạp cổ đại, bản thân tư duy, nhận thức của con người cũng ngày càng trở thành đối tượng của triết học và theo đó,
hệ vấn đề nhận thức luận cũng hiện ra ngày một rõ Về thực chất, ngay từ đầu, chính cá nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã gọi đó là hệ tư tưởng biện chứng
Vấn đề tư duy bằng khái niệm trong triết học Hy Lạp cổ đại sơ kỳ đã được Pá mêní đặt ra một c ch rõ nét và gay gắt nhất Tác giả bài thơ “Về
Trang 39tự nhiên” là người đầu tên đã đối lập khái niệm với tư cá h công cụ duy nhất thích hợp của tư duy đang nhận thức chân lý với hình ảnh cảm t nh,hình ảnh chỉ đưa chúng ta tới lĩnh vực nhận thức theo dư luận Các tư tưởng của Pá mêní đã được học trò của ông là Dênông phát triển với một sức mạnh lôgíc to lớn Trong cá nghịch lý nổi t ếng của mình, lần đầu
tên, Dênông đã đặt ra c c vấn đề triết học sâu sắc về bản chất của vận động, của không gian và thời gian Có lẽ, chính là do c c nghịch lý của Dênông được trình bày dưới dạng hỏi đáp mà Arixtốt đã gọi ông là người khởi xướng phép biện chứng
Tuy nhiên, với c c tài lệu còn lưu giữ được, thì Xôcrát mới thực sự dược coi là ông tổ của phép biện chứng theo nghĩa cổ đại của từ đó Hơn bất kỳ bậc tền bối nào, chính nhà hiền triết Aten này đã cống hiến rất nhiều cho việc xây dựng một phương pháp có hệ thống nhằm đạt tới chân
lý Bản thân Xôcrát đã thường gọi phương pháp đối thoại này là phương pháp “bà đỡ”, tức là phương pháp để làm nhẹ bớt sự ra đời của chân lý đang còn yên giấc trong đáy ý thức (“tâm hồn”) con người và không thể
t m thấy ở tự nhiên bên ngoài Arixtốt đã gọi phương pháp đó là phương pháp suy luận theo lối quy nạp
Tuy nhiên, theo xác nhận của Kxênôphan - học trò của Xôcrát, thì người thày của ông - Xôcrc t - đã gọi phương pháp suy luận và nhận thức chân lý của mình là phương pháp biện chứng (từ động từ dialegesthai).Phương pháp đó có mối l ên hệ trực t ếp với thực t ễn chính trị của chế độ dân chủ trong c c nhà nước - thị thành ở thời đại thịnh vượng của nó.Không phải ngẫu nhiên mà hoạt động của Xôcrát đã diễn ra ở giai đoạn khai sáng ngụy biện, khi mà từ công việc đơn độc ở c c nhà triết học Hy Lạp cổ đại đầu t ên, triết học đã trở thành tài sản của c c tầng lớp nhân dân đông đảo
Người đóng vai trò lớn trong quá trình hình thành sau đó của phép biện chứng là học trò xuất sắc nhất của Xôcrát - Platôn, người sáng lập chủ
Trang 40nghĩa duy tâm cổ đại và cũng là của toàn bộ Tây Âu Chính dựa vào cácuộc đối thoại của ông, mà trong đó, Xôcrát thể hiện ra là nhân vật chính,chúng ta mới có thể phán xét về phương pháp t m kiếm chân lý mà Xôcrát
đã bảo vệ Phương pháp biện chứng của Xôcrát được học trò của ông tếp tục phát triển trên c c bình diện khá nhau nhất
Tuy nhiên, ở thời đại của cá nhà triết học này, cũng như ở cá thời đại sau đó, thuật ngữ “lôgíc” vẫn còn chưa xuất hiện (mặc dù danh từ
“lôgos” mà Hêra lt thường xuyên sử dụng đã trở nên phổ biến) Thực ra,
c i mà họ gọi là biện chứng chính là c i đã trở thành yếu tố hàng đầu của khoa học lôgíc sau này Cả ở Arixtốt - người đã luận chứng một c ch toàn diện cho khoa học đó thì danh từ “lôgíc” vẫn chưa được sử dụng, mặc dù ông đã sử dụng t nh từ “lôgíc” Trong Tôpika, Arixtốt - một trong những học trò của Platôn, đã coi biện chứng chẳng qua chỉ là một dạng suy luận
mà nhờ đó, chúng ta chỉ có thể đi đến c c kết luận có thể có và do vậy,thường là mâu thuẫn với nhau (khác với c c suy luận tất nhiên là c i đem lại c c kết luận xá thực) Mặt khá , c i được gọi là phép biện chứng t êu cực thường bị biến thành thuật ngụy biện Thuật ngụy biện hoàn toàn không hướng vào việc đạt tới chân lý khách quan Nó thường biến thành
“nghệ thuật” suy diễn và tranh luận vô bổ bằng ngôn từ thuần túy (đôi khi còn là sự lừa phỉnh giản đơn) “Phép biện chứng” kiểu đó không dẫn tới lôgíc, mà dẫn tới c i mà bản thân người Hy Lạp gọi là nghệ thuật hùng biện Trong tá phẩm Tôpika, Arixtốt cũng gọi dạng suy luận đó là suy luận theo lối hùng biện hay ngụy biện, suy luận chỉ tạo ra cái vẻ bề ngoài của chân lý
Lần đầu t ên - và hơn nữa là rất thường xuyên - trường phái Xtôic đã
sử dụng thuật ngữ “lôgíc” về mặt tri thức luận là thuật ngữ “biện chứng”(cả hai thuật ngữ đều bắt nguồn từ động từ trong tếng Hy Lạp - legein (nói) Thuật ngữ “biện chứng” được c c nhà Xtôic lý giải là một trong cá phương thức biểu hiện của cái mà bản thân họ gọi là lôgíc (về