Có thể nói, nhìn một cách tổng quát, những vấn đề con người trong lịch sử tư tưởng nhân loại, quan niệm về con người của Triết học Mác, những ý kiến về phát triển con người trong sự nghi
Trang 1TR ƯỜ NG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ XUÂN
XÂY DỤNG VÀ PHÁT HUY NGƯỔN L ự c CON NGƯỜI
ở HẢI PHÒNG TRONG s ụ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ DAT NƯỚC.
Trang 2CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIÊT TẮT
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH, HĐH
Giáo dục và đào tạo GD - ĐT
Trang 3PHẦN M ỏ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
7 Ý nghĩa của luận văn
8 Kết cấu của luận văn
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: VAI TRÒ CỦA NG U ổN L ự c CON NGƯỜI TRONG s ự NGHIỆP
CỒNG NGHIỆP, HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Nguồrvlực con người đối với sự phát triển xã hội
1.1.1 Quan điểm M ácxit về nguồn lực con người
1.1.2 Vai trò của nguồn lực con người đối với sự ph át triển xã hội
1.1.3 Những yếu tố tác động tới việc hình thành nguồn lực con người 1.2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở V iệ t N am hiện nay và những yêu cầu đặt ra đối với việc bổi dưỡng phát triển ng uổn lực con người ở
Chương 2: THựC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY NGUỔN L ự c CON NGƯỜI ở HẢI PHÒNG TRONG s ự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐAI HOÁ
2.1 Thực trạng nguồn lực con người hiện nay ở Hải Phòng
2.1.1 Những đặc điể m về địa lý - Kinh tế xã hội của Hải P hòng
2.1.2 Thực trạng nguồn lực con người ở Hải P h òng hiện nay
2.2 Những giải pháp phát huy nguồn lực con người ở Hải P h òn g trong
sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.2.1 Những định hướng p h á t triển kinh tế xã hội của T h à n h p h ố
2.2.2 Những giải p háp xây dựng n g u ồ n lực con người ở Hải P hòng đáp ứng yêu cầu C ô n g n g h iệ p hoá, hiện đại hoá
PHAN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 41 Lí do chọn để tài
Thời đại ngày nay đang diễn ra cuộc CM KHCN trên thế giới; tính chất toàn cầu nền kinh tế và nhiều lĩnh vực khác đang ngày càng có xu hướng gia tăng Cuộc cạnh tranh trên thế giới vể lao động, việc làm, xuất khẩu hàng hoá ngày càng trở nên quyết liệt Các quốc gia trên thế giói đã nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của nguồn nhân lực đối với sự phát triển đất nước,
do vậy, đều tập trung cho giáo dục đào tạo và dạy nghề Các nước có đội ngũ lao động lành nghề, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chất lượng cao thường có lợi thế trong cạnh tranh
Việt Nam là một nước có mật độ dân sô vào loại cao trên thế giới, thiên nhiên không thuận hoà, tài nguyên khoáng sán không nhiều v.v Vì vậy, chúng ta muốn đi lên được, muốn giành được ưu thế trong cạnh tranh không
có con đường nào khác là phái quan tâm hơn nữa tới việc bổi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực của đất nước
Để thực hiện được điều đó nghị quyết đại hội lần thứ VIII của Đảng
Cộng sản Việt Nam chỉ rõ “Cù/IÍỊ với K H C N , GD-ĐT là quốc sách hàng đầu
nhằm nân° cao dân trí đào tạo Iihân lực, hồi (lưỡnq nhân tủi” [ 18,tr 107].
Hải Phòng, thành phố cáng, thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam, một trung tâm công nghiệp, du lịch vùng duyên hải Bắc bộ, có m ột đội ngũ lao động đông đảo, năng động; song số lượng lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, chưa đáp ứng được sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay Để phát huy được sức mạnh của mình, khai thác một cách tốt nhất, có hiệu quá nguồn lao động hiện có và chuẩn bị cho tương lai, Nghị quyết đại hội Đáng bộ thành phố Hải
Phòng lẩn thứ XI chỉ rõ: “Tiểu hành khẩn trưoiiq và dồ/iíỊ hộ việc đào tạo lao
động, bồi dưỡng tay nghê, dạy /ìíỊÌìê tỉ)eo chưcMíỊ trình nhằm nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng nhu câu mói, CÌIÍI ỷ đào tạo bồi (ỊườníỊ trình độ ngoại ngữ, tìiì học, tạo điêu kiện tiếp :ậ/i trình độ lao dộìiíỊ tiên tiến của nước ngoài' Ị3, tr.26].
Trang 5Với m ong muốn góp một ý kiến cùng với Đảng bộ và nhân dân, Hải Phòng phấn đấu thực hiện thắng lợi nghị quyết XI của Đảng bộ Thành phố, tôi
chọn vấn đề “Xây dựng và phát huy nguồn lực con người (V Hai Phòng trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề con người, chiến lược phát triển con người vì sự nghiệp CNH, HĐH đất nước được Đáng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Đảng ta đã khẳng định, phát triển con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế -
xã hội Phát triển kinh tế - xã hội không ngoài mục đích vì con người, vì cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc và sự phát triển toàn diện cá nhân con người Vấn
đề con người gắn với quá trình CNH, HĐH là nội dung nổi trội được trao đổi sôi nổi trong nhiều lĩnh vực, trên nhiều phương tiện thông tin với những dung
lượng tri thức khác nhau Giáo sư Trần Đức Thảo: “Vấn đ ề con người vờ chủ nẹỉũa lí luận khô/iiỊ có con /lí^iíờr, đã luận giải khá chặt chẽ vấn đề con người
và bản chất con người theo quan điểm của Mác
Gs Phạm Minh Hạc (1995): “Vân âê con người Việt Nartì trong sư nghiệp CNH, H Đ H '\ NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Đây là một công trình
lớn vể vấn đề con người và phát triển con người ở nước ta Tập thể tác giả đề cập một cách tổng quát, phân tích lí giải một cách khá sâu sắc vấn đề con người với sự nghiệp CNH, HĐH clưới góc độ xã hội học
GS TS Lê Hữu Táng (1997): “V ề động lực phát triển kinh t ế - x ã hội” ,
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Tác giả đã đưa ra và lý giải các động lực của
sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò động lực của con người
Sự phát triển của con người gắn với CNH, HĐH là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu thể hiện trong tạp chí Triết học những năm gẩn đây, trong đó phải
kể đến bài viết của các tác giá như Lê Hữu Tầng, Đặng Hữu Toàn, Phạm Văn Đức, Nguyễn T h ế Nghĩa, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Thanh v.v Những bài viết này vừa thể hiện quan điếm triết học, vừa gắn với đường lối chiến lược của Đảng ta về vấn đề con người, lại vừa gợi m ở được nhiều ý kiến để nghiên cứu thêm
Trang 6Có thể nói, nhìn một cách tổng quát, những vấn đề con người trong lịch
sử tư tưởng nhân loại, quan niệm về con người của Triết học Mác, những ý kiến về phát triển con người trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay đã được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu từ những khía cạnh khác nhau với những mục đích khác nhau Tuy nhiên vấn đề bản chất con người, vấn đề phát triển nguồn lực con người vẫn cần được làm sáng tỏ thêm trên nhiều bình diện của cuộc sống, vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu
Tại Hái Phòng, u ỷ ban nhân dân Thành phố đã có một đề án nhỏ về đào tạo nhân lực phục vụ CNH, HĐH Thành phố giai đoạn 1997-2000, để đáp ứng yêu cầu của hoạt động đối ngoại, hợp tác và đắii tư với nước ngoài Ngoài ra trên b á o Hải Phòng có những bài viết về những giải pháp nâng cao trình độ nghiệp vụ người lao động v.v Trên thực tế cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào ở Hải Phòng nghiên cứu một cách có hệ thống về nguồn lực con người của Thành phố, thực trạng cùng với những giải pháp để phát huy nguồn lực đó, trong sự nghiệp CNH, HĐH Thành phố Hái Phòng
3 Mục đích và nhiệm vụ của để tài
3.1 Mục đích
Trên cơ sở kháo sát thực trạng nguồn lực con người của Hải Phòng giai đoạn hiện nay, trong quan hệ với yêu CÀU của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung, Hải phòng nói riêng; tác giả đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng và phát huy đội ngũ lao động của Thành phố với chất lượng cao, đáp ứng nhũng yêu cầu trong giai đoạn mới của cách mạng
3.2 N h iệ m vụ
Đê đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ quan điểm Mácxít về con người, nguồn lực con người và những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và phát huy nguồn lực con người
- Làm rõ thực trạng nguồn lực con người của Hải Phòng hiện nay so với yêu cẩu của sự nghiệp CNH, HĐH
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những ưu điểm, khắc phục những yếu kém của nguồn lự ' con người Hái Phòng hiện nay
Trang 74.1 Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng nguồn lực con người ở Hái Phòng và các giải pháp nhằm phát huy nguồn lực đó trong sự nghiệp CNH, HĐH của Thành phố
4.2 P h ạ m vi
Tác giả nghiên cứu nguồn lực con người ở thành phố Hải Phòng giai đoạn 1995 đến nay, song có đặt trong mối quan hệ chung của cả nước Luận văn giới hạn việc nghiên cứu dưới góc độ chính trị-xã hội của vấn đề
5 Cơ SỞ lí luận và phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa M ác-L ên in , tư tưởng Hổ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ trương của Đảng bộ thành phố Hải Phòng về con người và nguồn lực con người trong sự phát triển xã hội
- Sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá, thu thập những tư liệu có liên quan tới đề tài
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn đưa ra nhũng phương hướng,đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cáu CNH, HĐH của thành phố Hải Phòng trong giai đoạn mới
7 Ý nghĩa của luận văn
Trên CO' sở làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa nguồn lực con người và
sự nghiệp CNH, HĐH.Luận văn có thê dùng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu giảng dạy về phát huy nguồn lực con người dưới CNXH
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo dạy nghề, các đơn vị sản xuất kinh doanh, các tổ chức chính trị— xã hội nhằm phát huy nguồn lực con người trong đơn vị mình
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phẩn mở đáu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 4 tiết
Trang 8PHẦN NỘI DƯNG
Chương 1
Vai trò của nguồn lực con người trong sụ nghiệp Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở Việt Nam hiện nay 1.1 Nguồn lực con người đối với sự phát triển xã hội
1.1.1 Quan điểm Mácxit về nguồn lực con người
Các nhà triết học trước Mác, khi đề cập đến con người, bản chất con người, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội đều giống nhau ở chỗ, coi bản chất con người là một số đặc tính nào đó vốn có của từng cá nhân riêng biệt, hoặc là một thực thể tinh thần tự ý thức và tự biểu hiện mình theo hình ảnh tuyệt đối của thượng đế, hoặc là một thực thể tự nhiên - sinh vật
thuần tuý Họ chưa thấy đựợc bán chất của con người ở tính chất xã hội, trong
đó tự nhiên là cơ sở sinh học của bán chất con người và xã hội là cơ sỏ' quyết định của bản chất con người
Tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ của triết học tiền bối, vượt lên trên tất cả những hạn chế về mặt lịch sử, xã hội, triết học Mác đã xuất phát
từ phạm trù thực tiễn để lý giải con người, bản chất con người
Trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, dựa trên thê giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, triết học Mác xem xét con người như một chỉnh thể thống nhất của mặt xã hội và mặt sinh học, của bán chất và tồn tại, trước hết là con người sinh vật, rồi sau đó mới là con người xã hội Đó là một thực thể song trừng tự nhiên và xã hội, cái sinh vật kết hợp hữu CO' với cái xã hội
Sự vận động và phát triển của con người không thể tách rời quá trình vận động và phát triển giới tự nhiên C.Mác đã khẳng định giới tự nhiên là môi trường tồn tại và phát triển của con người Trong tác phẩm “Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người” , Ph.Ảngghen cho rằng, lao động là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự chuyển hoá từ vượn thành người Lao động sán xuất là tiền đề đầu tiên cho sự tổn tại của con người và
Trang 9lịch sử Trong quá trình lao động sản xuất với tư cách là chủ thể, con người không chí tác động vào tự nhiên mà còn tác động lẫn nhau giữa người với người trong các mối quan hệ giao tiếp, từ đó hình thành nên các quan hệ xã hội.
Con người với tư cách cá thể và xã hội của nó, là một chủ thể có ý thức, con người không tách rời khỏi môi trường tự nhiên, và cũng không thể tách rời khỏi môi trường lịch sử - xã hội Mỗi con người đều phái sinh ra, lớn lên, tồn tại trong một môi trường xã hội lịch sử Theo C.Mác: tiền đề đáu tiên của toàn
bộ lịch sử nhân loại dĩ nhiên là sự tồn tại của cá thể cá nhân con ngươi sống, song cá nhân đó không tách rời khỏi xã hội, cộng đổng Trong xã hội thì cá nhân mới biểu hiện phẩm chất và tài năng của mình Xã hội là môi trường, là phương tiện để phát triển tài năng, tu dưỡng phẩm chất cho mỗi người Trong quá trình hoạt động thực tiễn với tư cách là chủ thể nhận thức và hành động, con người nắm bắt các qui luật khách quan và vận dựng nó vào hoạt động thực tiễn ngày càng hiệu quả hơn Lẽ đương nhiên, tác dụng và hiệu quả của hoạt động sáng tạo lịch sử của con người đến đâu còn tuỳ thuộc vào bản chất chế
độ xã hội mà con người tồn tại trong các quan hệ giai cấp, dân tộc, trong thể chế nhà nước Hoàn cảnh mới, hoàn cảnh do con người và loài người sáng tạo
ra, với tư cách là “ tác phẩm” của con người lại được tiếp tục tác động trở lại con người Chính điều đó giúp con người ngày càng có khá năng nắm bắt được qui luật khách quan và vận dụng nó một cách đúng đắn hon vào thực tiễn
Con người không chỉ là chủ thể của hơcỊt động sản xuất vật chất là yếu tố hàng đầu, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của LLSX, mà còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của tiến bộ xã hội Bằng hoạt động lao động sản xuất, con người đã cải tạo tự nhiên để thoả mãn những nhu cầu của mình, đồng thời cải tạo cả bản thân con người Ph.Ảngghen viết: Lao động là
nguồn gô'c của mọi của cải Lao (ÌỘHÍỊ là điều kiện cơ hàn của ttìùn bộ đời
số n g lo à i n g ư ờ i và I I Ì II Í t h ế ổ ế n m ộ t m ứ c m à tr ê n m ộ t V n ^ h ũ i n à o đ ó c h ú n g ta
phái nói: lao động đ ã sáng tạo ra bản thân con người" [13,tr 261 ] •
Trong hoạt động lao động chinh phục tự nhiên, con người cải biến tự nhiên và trên cơ sở đó sáng tạo ra những điều kiện đàm bảo cho sự tồn tại của
Trang 10bản thân mình, sáng tạo ra lịch sử của chính mình Con người chinh phục, cải biến tự nhiên không phải với tư cách là những cá nhân riêng lẻ mà với tư cách
là những thành viên của cộng đồng xã hội trong mối quan hệ với cộng đổng Con người và xã hội không thể tách rời tự nhiên Nó chỉ có thê tồn tại và phát triển dựa vào tự nhiên và trên CO' sở làm biến đổi tự nhiên Nếu không có tự nhiên và xã hội thì con người không thể tiến hành sán xuất được Song đến lượt mình, sản xuất xã hội lại trỏ' thành điều kiện tiên quyết để con người cải biến tự nhiên, biến đổi xã hội Trình độ sán xuất của con người càng cao thì con người càng có điều kiện để thoả mãn những nhu cầu vật chất của mình và
do đó làm phong phú hơn đời sống xã hội, đời sống tính thần của con người Như vậy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của lịch sử Tuy nhiên, để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện cần phải có một nền kinh tế phát triển cao, một văn hoá tiên tiến, một nền khoa học kỹ thuật hiện đại, một nền giáo dục phát triển Và việc tạo ra những thành tựu
kinh tế - xã hội đó “khôiiiỊ phai chỉ là một phưoitiỊ pháp âê làm tănạ thêm nền
sản xuất x ã hội mà còn lủ một phương pháp duy nhất đ ể sản xuất ra những
con người phát triển toàn diện'\[ 13,tr.688] nguồn nhân lực cho sự phát triển
và tiến bộ xã hội
Tóm lại, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tự nhiên - con người
- lịch sử là một chỉnh thể thống nhất và có mối quan hệ biện chúng với nhau
Tự nhiên là nguồn gốc vật chất sinh ra con người Đổng thời, con người cũng
là sản phẩm của lịch sử, xã hội Khi nói đến con người là nói tới bản chất xã hội của nó Phải xem xét con người trong tính tương quan biện chúng giữa tự nhiên và xã hội Bản chất con người không phải là cái gì đó có sẩn, C.Mác cho
rằng: “bản chất con người không phái ì à cái gì trừu tượng, trong tính hiện thực của nó bản chất co/ì nẹười ì à íổ/iiỊ ìtoà các mối quan hệ x ã hội” [12,tr 493] -
Thấm nhuần quan niệm của C.Mác về bán chất con người, Đảng ta cho rằng, sự nghiệp đổi mới của chúng ta xuất phát từ con người, lấy con người làm trung tâm và trở về với con người trong sự phát triển xã hội Sự phát triển của lịch sử nhân loại được qui định bởi sự phát triển của LLSX, trong đó nhân
tố người lao động giữ vai trò quap trọng Đảng ta đã khảng định rằng con
Trang 11người là vốn quí nhất, chăm lo cho hạnh phúc con người là mục tiêu cao nhất
của c h ế độ ta “ P ln ứ /IIÍỊ hướng IỚII n ia c h ín h sách x ã h ộ i là : p h á t h u y n h â n tô con người trê n co’ sở đảm hảo c ô /iiỊ b ằ iiiỊ, hình đ ẳ n iỊ về n iỊỈiĩa VII và quyên lợ i câng dân, kết hợp tốt tăng trưởniỊ kinh tứ với tiến bộ x ã hội, giữa dời sống vật chất và dời sốiìiị tình thần, giữa đáp ửinỊ /lìm cầu trước mắt và chăm ìo lợi ích
lâu dài, giữa củ nhân với tập tliể và CỘHÌỊ đồniỊ xã //(}/”,[ 18,tr 13].CNH, HĐH
phải hướng tới mục tiêu con người bằng cách không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân lao động, kết họp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội
Vấn đề con người, nhân tố con người luôn luôn ở vị trí trung tâm của nhiều hệ thống quan điểm chính trị-xã hội từ trước đến nay Nhận thức và giải quyêt đúng đắn vấn đề con người, phát huy nhân tố con người là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển và tiến bộ xã hội
Nhưng nhăn tố con người là gì? Cấu trúc và nội dung của nó ra sao? Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì nhân tố con người dưới CNXH là tổng thể những dấu hiệu đặc thù thể hiện vai trò chủ thể của con người trong
hệ thống các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong sự nghiệp xây dụng CNXH Phạm trù nhân tố con người có hai mặt cá thể và xã hội, có sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng Nói đến nhân tố con người, cũng có nghĩa là nói đến tính chất, ý nghĩa của nó như một động lực quan trọng bậc nhất trong các nhân tố liên quan đến sự phát triển xã hội
Nhân tố con người là một khái niệm rộng bao hàm các nội dung sau:
Một là: nhân tố con người là chủ thể tổng hợp của đời sống xã hội bao
gồm các giai cấp, các tầng lóp xã hội khác nhau nhưng liên kết chặt chẽ với nhau, tác động qua lại Và các hoạt động của giai cấp, tầng lớp ấy bảo đảm cho sư phát triển của xã hội
Hai là: nhân tố con người bao gồm tiêu chí về chất lượng, số lượng nói
lên khá năng con người và cộng đổng người như là một tiềm năng cần khai thác và phát huy: học vấn, dân số, mức sống v.v trong quá trình cái tcỊO và xây dựng xã hội
Trang 12Ba là: nhân tố con người còn bao gồm tiêu chí về nhân cách và chức
năng xã hội của con người-những tiêu chí này nói lên khá nâng sáng tạo của con người trong hệ thống các quan hệ xã hội, bao gồm cá năng lực trí tuệ, tư duy chuyên môn, thái độ lao động, ý thức xã hội chính trị, lập trường tư tưởng của cá nhân
Có thể nói, trên một ý nghĩa nào đó nhãn tô' con người nằm ở trung tâm của xã hội, của đời sống xã hội, của hoạt động lịch sử Nhừ có nó, xã hội với
tư cách là một tổ chức vật chất, có cấu trúc-hệ thống phức tạp nhất trở nên sống động Nó phân biệt với các nhân tố khác như nhân tố kinh tế, nhân tố kỹ thuật v.v , nhân tố con người có tính chất lịch sử xã hội, nó là tiềm năng, năng lực, nguồn lực của sự phát triển Nhân tố con người được xét với tư cách
là cộng đồng, có mối quan hệ sức mạnh giưã cá nhân và cộng đồng, gắn với truyền thống lịch sử, với dân tộc, giai câ'p, quốc tế Vì vậy xã hội phải coi trọng phát triển văn hoá đế phát triển con người
Khái niệm nhân tố con người là sự phát triển sáng tạo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của con người với tư cách là người sáng tạo có ý thức, là chủ thể sáng tạo ra lịch sử Trong nhân tố con người, mặt hoạt động thực tiễn là cơ sỏ' quyết định mọi đặc trưng và thuộc tính của nó
Xuất phát từ quan niệm cỈLiy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, việc phân tích nội dung khái niệm nhân tố con người dựa trên những nguyên tắc sau:
- Xét nhân tố con người trong tính hiện thực và cụ thể của nó trong những điều kiện kinh tế-xã hội xác định
- Nhân tố con người với tư cách là người lao động được giải phóng và là chủ thể của quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới Đồng thời xem xét con người không chỉ đơn thuần từ góc độ kinh tế như nhu cầu lợi ích vật chất mà còn tính đến các yếu tố tâm lý, đạo đức, văn hoá v.v Do đó việc nhận thức một cách toàn diện những nội dung của quan niệm nhân tố con người có liên quan đến việc xác định tổng họp các biện pháp thưc tiễn nhằm nâng cao và phát huy vai trò của nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội
Trang 13Phát huy nhân tố con người trong cải tạo XHCN và xây dựng CNXH phải tính đến đầy đủ những nội dung nói trên, từ đó mà hình thành chiến lược về con người trong toàn bộ tiến trình cách mạng XHCN Nhận thức đầy đủ về nội
dung nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới, Đáng ta cho rằng “Nguồ/I
lao động dồi dào, cun người Việt Nam có truyền thống yêu nước cần cù sáng rạo có nền tániị văn ìitìá iỊÌáo (lục, có kìid Iiă/ÌÍỊ nắm bắt nhanh K H - C N v.v
lù nguồn lực quan trong u h ấ f \ [ \ l , tr.8]•
Nguồn nhân lục (hay nguồn lực con người)
Có thể nói, trong thời đại hiện nay, đối với bất cứ quốc gia nào việc xác định một cách đúng đắn và huy động có hiệu quả những nguồn lực có thể huy động, đều được coi là điều có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội
Trước hết, ta có thể hiểu nguồn lực là một khái niệm rộng, có nội dung khác nhau ỏ' những nền văn hoá không giống nhau Nhưng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tô mà mỏi nhAn tô trong hệ thống đó có vai trò riêng nhưng đều tạo ra sức mạnh để làm nên sự phát triển
Gần đây, trong quá trình vận động của nền kinh tế-xã hội việc xem xét nhân tố con người với tư cách là một nguồn lực xã hội của sự phát triển đã dẫn đến việc hình thành khái niệm mới: nguồn nhân lực hay nguồn lực con người.Tìm hiểu các công trình imhiên cứu gần đAy trên thế giới và trong nước, chúng tôi thấy quan niệm về nguồn nhân lực được đề cập tới trên các góc độ sau:
- N g u ồ n nhân lực theo lý thuyết phát triển được hiểu theo nghĩa rộng như nguồn lực con người (Huma Resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ (vùng, tỉnh), là một bộ phận cấu thành các nguồn lực, có khả năng lao động,
quản \ý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội như nguồn lực vật
chất (Physical Resuorces), nguồn lực tài chính (Financial Resources)
- Trọng lý luận vể tăng trưởng kinh tế, yếu tố con người được đề cập đến
với tư cách là một LLSX chủ yếu, sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ ở đây, con
người được xem xét từ góc độ là những lực lượng lao động cơ bân nhất trong
xã hội Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lượng lao động theo nhu cầu của
Trang 14nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch vụ.
- Trong lý luận về vốn người, con người được xem xét trước hết như một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế— xã hội Nơoài ra lý luận về vốn người còn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu về các nguồn lực của phát triển Đầu tư cho con người được phAn tích tương tự như đầu tư vào các nguồn vật chất, có tính đến tổng hiệu quá của đẩu tư này hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ đầu tư đó Cách tiếp cận này được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước hiện nay,[48,tr 138] •
Theo cách tiếp cận trên, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp v.v ) mà mỗi cá nhân sỏ' hữu, ở đây nguồn nhân lực được coi như nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như vốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Việc đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững Vì vậy, nguồn nhân lực đirợc coi là một nguồn vốn đặc biệt
Dựa trên cách tiếp cận này, Liên Hiệp Quốc đưa ra khái niệm nguồn nhân lực và cho rằng, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước Đây là yếu
tố được coi là quan trong bậc nhất trong kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
Ổ Việt Nam, quan niệm cứa các nhà khoa học về nguồn nhân lực được
thể hiện trong chương trình KHCN cấp Nhà nước “Cơ// người Việt Nơm-mục tiêu và độ/ig lực của sự phát triển kinh tế-xã hội” mang mã số KX07 Theo đó
nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất, thái độ và phong cách làm việc,[24,tr.328]
- Một hướng tiếp cận khác về nguồn nhăn lực được xem xét trong mối quan hệ với các nguồn lực khác và nó được xem như nguồn lực cơ bản, quan trọng, làm động lực cho sự phát triển xã hội: “Thông thường nhũng nguồn lực làm cơ sở cho chiến lược phái í l iến của một nước có thổ là nguồn lực tự nhiôn như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, có thể là cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tạo ra trong các giai đoạn trước đó, có thể là nguồn lực ở bên ngoài tự
Trang 15nhiên như vốn công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường, cũng có thể là nơuồn nhân lực v.v và lịch sử cho thấy đây là nguồn lực lâu bền nhất trong
sự phát triển của mọi quốc gia từ trước đến nay Cho nên, dù có những nguồn lực khác mà không có những con người tương xứng đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó, đủ trình độ nắm bắt và làm chủ kỹ thuật và công n^kậhiện đại nhất, nếu không có một môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý và dư luận
xã hội thuận lợi cho con người hoạt động thì khó có thể đạt được sự phát triển như mong muốn” [16,tr.30-31 ]
- Một hướng tiếp cận khác: “Nguồn lực con người là sự kết liỢỊ) thể lực và trí lực, cho thấy khả năng súng tạo, chất lượno hiệu quả hoạt dộng và triển vọng mới.phát triển của con người”.[9, tr 7].
d đ â y , các tác giả mới chỉ nêu ra kết cấu bên trong của nguồn nhân lực bao gồm sức mạnh thể lực và sức mạnh trí tuệ, sự kết hợp hai yếu tố đó tạo thành năng lực sáng tạo của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội
Hai cách tiếp cận trên đây thể hiện hai phương diện xem xét khái niệm nguồn nhân lực Một cách tiếp cận những mối liên hệ bên ngoài của nguồn lực con người Còn một cách tiếp cận mối quan hệ và kết cấu nội tại của nguồn lực con người
Từ một số cách tiếp cận trcn, có thể thấy rằng nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có, sẽ có, mà nó là cả một tập hợp, một đa phức hợp bao gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức khoẻ, kỹ năng làm việc v.v
Trong bài phát biểu, khi gặp gõ' các nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học- công nghệ các tỉnh, thành phố phía Bắc, Thủ tướng Phan Văn Khải nhấn mạnh:
“Nguồn lực con người bao lỊồnt cả sức lao độ/iíỊ, trí tuệ vù tinh thần gắn
với truyền thống dân tộc t a \ [29, tr 1].
Có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn nhân lực thông qua tìm hiểu khái niệm phát triển nguồn nhân lực Theo quan niệm của các tác giả Việt Nam thì phát
triển nguồn nhân lực về cơ bản là quá trình làm “ í> tia tãno giá trị cho con người
trên cúc mặt như đạo cỉửc, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn th ể lực v.v làm cho con
Trang 16người trở thành những nqười lao động có năng lực, pììẩnt chất mới và cao, đáp ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế-xã hội”. [24,tr.285]
T ừ vấ n đ ề n ê u t r c n la c ỏ í he IhAy r ằ n g , n g u ồ n nhAn lực đ ư ợ c đồ c ậ p đ ế n
như một nguồn lực tổng hợp với các yếu tố hợp thành: sức lực và trí tuệ, số lượng cùng với những đặc trưng về chất lượng lao động như trình độ văn hoá,
kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ, phong cách làm việc v.v trong
đó con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế-xã hội, là một yếu tố cơ bản của phát triển sản xuất
Nếu coi nguồn nhân lực là tiềm năng con người nói chung, những tiềm năng mà con người có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội, thì sử dụng nguồn nhân lực chính là khơi dậy và phát huy những tiềm năng đó Phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình khơi dạy những tiềm năng của con người Quá trình sử dụng, phát triển nguồn nhân lực bao gồm nhiều vấn đề như giải quyết việc làm, sử dụng và bồi dưỡng lực lượng lao động, phát huy tiềm năng trí tuệ, phát huy tính sáng tạo, yếu tố dân tộc, tạo ra những kích thích và động cơ lao động v.v Trong đó, giải quyết việc làm và sử dụng lao động chỉ là một nội dung của nó mà thôi
Tóm lại, nguồn nhân lực có nội hàm rộng lớn và phong phú, nó không chỉ đon thuần là nguồn lao động mà còn bao gồm nhiều yếu tố vật chất và tinh thần khác nữa của con người và cộng đổng người Điều đó đòi hỏi quá trình khai thác, sử dụng, phát triển nguồn nhân lực cắn phái chú ý đáy đủ toàn bộ nhũng yếu tố vật chất và tinh thần ở từng con người, cũng như cả cộng đồng
Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp hao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực: trạng thái sức khoẻ, trình độ học vấn
Trang 17trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu đào tạo nghề nghiệp, thành phần xã hội v.v của nguồn nhân lực Trong đó trình độ học vấn là quan trọng nhất, vì nó không chỉ là cơ sở đề đào tạo kỹ năng nghề nghiệp mà còn là yếu tố hình thành phương pháp tư duy, nhân cách, lối sống của mỗi người.
Chất lượng nguồn nhân lực liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực như: đảm bảo dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ, GD-ĐT, lao động và việc làm gắn liền với tiến bộ KHCN, trả công lao động và các quan hệ xã hội khác
Từ những vấn đề trình bày ỏ' trên chúng ta thấy:
Phát triền nguồn nhân lực chính là sự biến đổi số lượng và chất lượng nguồn nhân lực về các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần v.v cần thiết cho công việc, nhờ vậy mà phát triển được năng lực của họ, ổn định được công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế— xã hội và cuối cùng là đóng góp cho sự phát triển xã hội
Phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực có số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử
Phát triển nguồn nhân lực có liên quan đến giáo dục, đào tạo, sử dụng những tiềm năng con người và tiến bộ kinh tế - xã hội Theo UNDP có 5 điểm
“phát sinh năng lượng” của phát triển nguồn nhân lực là: giáo dục, sức khoẻ, dinh dưỡng, môi trường, việc làm và tự do chính trị —kinh tế Những điểm phát sinh năng lượng đó thâm nhập vào nhau và phụ thuộc lẫn nhau Giáo dục
là cơ sở cho những điểm khác, là nhân tố thiết yếu để cải thiện sức khoẻ và dinh dưỡng, để duy trì một môi trường có chất lượng cao, để mở rộng và cải thiện lao động, để duy trì sự đáp ứng về kinh tế và chính trị [28,tr II]
Tóm lại:
- Khái niệm nhân tố con người rất rộng nói lên cấu trúc toàn diện tạo nên con người, khái niệm nhân tố con người “ tĩnh” hơn so với khái niệm nguồn lực con người Nói tới nguồn lực con người là nói đến tính “động” của yếu tố con người, là mặt hoạt động của nhân tố con người, như là lực lượng tham gia vào quá trình xã hội, tác động đến các nguồn lực khác và cùng với các nguồn lực: tài nguyên, điều kiện tự nhiên, thành tựu KHCN, nguồn đầu tư nước ngoài
Trang 18v.v tạo nên nguồn lực chung của xã hội Nguồn lực con người giữ vai trò quyết định và chi phối các nguồn lực khác.
- Về mặt ngoại diên thì khái niệm nguồn lực con người rộng hơn khái niệm nhăn tố con người, bởi vì, nó còn bao gồm cả những con người chưa bước vào quá trình sán xuất xã hội Nhân tố con người là những chủ thể người
đã bước vào quá trình sản xuất, hoạt động xã hội
1.1.2 Vai trò của nguổn lực con người (lòi với sự phát triển xã hội
ở mọi hình thái kinh tế-xã hội, nguồn lực con người luôn luôn là nhãn tố trung tâm, giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội
và đồng thời là mục đích của nền sán xuất xã hội Trong toàn bộ sự phát triển
xã hội, con người luôn tồn tại với hai tư cách: vừa là chủ thể, vừa là đối tượng
Là chủ thể, con người quyết định sự phát triển xã hội, mà trước hết là phát triển LLSX, là đối tượng con người hưởng thụ những thành quả của sự phát triển
Vai trò của nguồn nhân lực thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
Một là, nguồn lực con người là nhân tố tích cực chủ động sáng tạo, tự
phát huy tính năng để thực hiện các hoạt động cải tạo tự nhiên, cái tạo xã hội Còn các nguồn lực khác: vốn, tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật v.v không
có sức mạnh tự thân, là khách thể chịu sự khai thác cái tạo của con người, phục vụ nhu cầu lợi ích của con người Các nguồn lực này chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn phát huy tác dụng một cách tích cực, thì phải kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người Trong các nguồn lực, chỉ có con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và
ý thức để sử dụng các nguồn lực khác và gắn các nguồn lực lại với nhau tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp cùng (ác động vào quá trình phát triển xã hội Chính con người tạo ra nguồn vốn và nguồn vốn này chỉ trở thành động lực quan trọng và cấp thiết cho sự nghiệp CNH, HĐH, khi con người sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Cho dù tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi đến đâu, thì cũng sẽ không có ý nghĩa, nếu chủ nhân (con người) của nó không có năng lực khai thác một cách có hiệu quả
Trang 19Con người một mặt lă sản phẩm của tự nhiín, mặt khâc lă chủ thể cải tạo
tự nhiín, biến đổi tự nhiín Sự tâc động của con người văo tự nhiín theo hai hướng, đụng qui luật thì tự nhiín ngăy căng phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất vă đời sống của con người (đắp đí, ngăn sông, lấn biển, lợi dụng sức nước, sức gió v.v ), không đúng qui luật tự nhiín, thì sẽ lăm tự nhiín ngăy căng nghỉo đi, cđn bằng sinh thâi bị phâ vỡ, đe doạ sự sống của con người (phâ rừng, ô nhiễm mỏi trường, săn bắt thú bừa bêi, sử dụng chất độc hại v.v )
Trong quâ trình lao động, con người không những có quan hệ với tự nhiín, mă còn có quan hệ với nhau Xê hội chảng qua chỉ lă sản phẩm của quan hệ giữa người vă người Trong những quan hệ đó thì QHSX lă câi quyết định, chi phối những quan hệ khâc (chính trị, đạo đức v.v ) QHSX năy lại phụ thuộc vằ sự phât triển của LLSX Mỗi khi LLSX phât triển sẽ kĩo theo sự phât triển của QHSX vă đi kỉm với nó lă sự phât triển tiến bộ của câc quan hệ chính trị, đạo đức phâp luật v.v ngăy căng hoăn thiện hơn qua câc thời kì lịch sử
Hai /ờ, con người với trí tuệ của mình vă sức mạnh cải tạo tự nhiín, xê hội, cải tạo chính bản thđn con người, lă nguồn lực không bao giờ cạn kiệt, có khả năng phục hổi vă tự tâi sinh ra chính nó, phât huy vă tạo ra nguồn lực khâc Tính vô hạn của trí tuệ con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tự tâi sinh về mặt sinh học mă còn tự đổi mới không ngìmg, phât triển về chất Nếu chăm sóc, bồi dưỡng vă khai thâc nguồn lực con người một câch hợp lí có hiệu quả bởi tri thức của con người “có tính lấy không bao giờ hết” Chính vì vậy mă con người lă nguồn lực qủ nhất, quyết định nhất “nguồn lực của mọi nguồn lực”
Ba lă, nguồn lực con người với tư câch lă mục đích của sản xuất lă đối
tượng phục vụ cua sân xuất với mong muốn nđng cao chất lượng cuộc sống.Trong mọi phương thức sân xuất xê hội, sản xuất câi gì, sản xuất như thế năo? vă sản xuất cho ai? Suy cho cùng đều phục vụ nhu cầu của con người Vì vậy nhu cầu của con người trở thănh nhu cầu sđu rộng, trở thănh tâc nhđn vô
Trang 20cùng quan trọng trong kích thích sản xuất Đây chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền sản xuất phát triển.
Nhu cầu của con nguời rất đa dạng, bao gồm nhiều mức độ khác nhau, phát triển từ thấp đến cao Có nhu cấu vật chất và nhu cầu tinh thần, nhu cầu trước mắt và lâu dài, nhu cầu cống hiến và hưởng thụ v.v Các nhu cầu ấy quan hệ chặt chẽ chi phối mạnh mẽ các hành vi của con người (trước hết là
người lao đ ộ n g ) t r o n g q u a n hệ với tự n h i ê n , x ã hội và t r o n g bá n t h â n m ỗ i c o n
người Đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN mục tiêu hàng đầu, số một là vì sự tiến bộ và phát triển kinh tế, đẩy mạnh tiến bộ khoa học kĩ thuật, thường xuyên nghiên cứu nhu cầu, sở thích và dự đoán sự thay đổi nhu cầu, phát hiện các nhu cầu mới
Với mục tiêu phấn đấu vì con người, nâng cao mức sống con người, loài người luôn luôn hướng tới việc chinh phục tự nhiên, từng bước giải phóng con người làm cho xã hội ngày càng phát triển
1.1.3 Nhũng yếu tố tác động tới việc hình thành nguồn lực con người
Muốn phát triển được nguồn lực con người, phải tính đến những yếu tố
tác đ ộ n g đ ế n nó Dưới đ â y là m ộ t s ố n h ữ n g y ế u t ố c ơ b ả n :
T ìiứ Iihất, G i á o d ụ c và Đ à o tạo:
G D - Đ T là L L S X trực tiếp, nhân tố g ó p p h á n q u y ế t đ ị n h l à m t ă n g t rư ở n g
kinh tê Hơn thế nữa GD-ĐT là con đường và giải pháp cơ bản để phát huy nhân tố con người
Theo quan điểm triết học, GD-ĐT là những hiện tượng đặc biệt chỉ có trong xã hội loài người, ở đâu có con người thì ở đó có giáo dục Khi nào loài người còn tồn tại, thì chừng đó còn GD-ĐT
GD-ĐT đều có chung đối tượng là con người và chung bản chất là sự định hướng của thế hệ trước đối với sự phát triển của thế hệ sau Chúng đều là con đường ngắn nhất, nhanh nhất bằng kinh nghiệm hiểu biết của thế hệ tnrớc dẫn dắt thê hệ sau phát triển bỏ qua những mò mẫm không cần thiết trong cuộc đời GD-ĐT đều nhầm vào mục tiêu chung là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhàn tài
Trang 21GD-ĐT tạo ra cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, giúp cho những người học có tính cơ động cao dễ thích nghi với những chuyển biến của kinh tế thị trường, thị trường sức lao động.
Thứ hai, Hoạt động thực tiễn:
Đây là hoạt động bản chất của con người, nhờ nó mà con người cải tạo thế giới theo nhu cầu của mình Đcặc biệt là hoạt động sản xuất vật chất mà con người biến đổi tự nhiên xã hội đổng thời biến đổi ban thân Điểu kiện quyết định cho sự hình thành con người là lao động Lao động xuất hiện đánh dấu sự chuyển biến từ tổ tiên động vật thành con người Trong lao động con người thường xuyên làm biến đổi những điều kiện tồn tại của mình, cải tạo chúng cho phù họp với nhu cẩu, xây dựng nên thế giới văn hoá vật chất và tinh thần Nền văn hoá này do con người sáng tạo ra như thế nào thì bản thân con người do nền văn hoá ấy hình thành cũng trong chừng mực ấy v ề mặt xã hội lao đông đưa đến sự hình thành những chất mới, chất xã hội của con người như: Ngôn ngữ, tư duy, giao tiếp, định hướng giá trị, thế giới quan
Trong quá trình lịch sử lâu dài của xã hội, qua hoạt động thực tiễn, theo thời gian, trí tuệ, tay nghề, học vấn v.v của con người ngày càng phát triển Đặc biệt, trong điều kiện của cách mạng khoa học kỹ thuật-công nghệ hiện nay, hàm lượng lao động trí tuệ ngày càng cao, làm cho con người trở thành một nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực cơ bản vô tận
Thứ ba, hệ thống chính sách xã hội có tác động trực tiếp đến việc bồi
dưỡng và phát huy nhân tố con người (ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, việc làm, tiền lương, thu nhập, điều kiện sống và lao động, báo trợ xã hội, bảo hiếm xã hội, dân số kế hoạch hoá gia đình v.v ) nhằm đảm bảo lợi ích của người lao động, đảm báo mối quan hệ hài hoà eiữa cá nhân và tập thể, xã hội, khơi dậy tính tích cực sáng tạo trong mọi con người, tạo động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển
Vai trò của chính sách xã hội đối với việc bồi dưỡng và phát huy nhăn tố con người thể hiện ở chỗ: 11Ó điều chinh mối quan hệ giữa các giai cấp táng lóp đảm bảo sự tác động qua lại của các quan hệ đó theo định hướng XHCN
Nó tạo ra khá năng và đề ra những biện pháp cụ thể dể điều chình mức độ phát
Trang 22triển dân số, nâng cao sức khoẻ, trình độ học vấn, trí tuệ của các cộng đồng n<nrò'i trong xã hội, tạo điều kiện cho người lao động tham gia tích cực, tự giác
có hiệu quả vào công cuộc xây dựng CNXH Nó tạo ra khả năng đàm bảo trên thực tế những điều kiện để hình thành và từng bước hoàn thiện nhân cách của con người mới ở mỗi công dân
Để cho mục tiêu của chính sách xã hội được thực hiện một cách có hiệu quả, cần phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo quán lý các quá trình xã hội một cách dân chủ, năng động đối với con người Một cơ chế dân chủ có tác động phát huy tính tích cực chính trị-xã hội của công dân, lôi cuốn họ tham gia đông đáo tự giác vào công cuộc quản lý xã hội, quản lý nhà nước
Thứ tư, việc sử dụng lao động:
Sử dụng là một khâu rất quan trọng để phát huy tiềm năng tri thức và kỹ năng của người lao động đã được đào tạo Sử dụng đúng ngành nghề và trình
độ thì họ sẽ phát huy được tài năng trí tuệ, tay nghề và ra sức phấn đấu vươn lên về mọi mặt, ngược lại, sẽ hạn chế
Việc tạo ra mồi trường phấn đấu cho người lao động cũng vô cùng quan trọng Môi trường phù hợp thì người lao động phát triển nhanh chóng, môi trường không thuận lợi thì phát triển khó khăn, môi trường xấu thì có khi bị thui chột và phải đào tạo lại
Thử năm, Khoa học công nghệ:
Cuộc CM KHCN đã làm thay đổi về chất LLSX Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành nghề thường xuyên biến đổi Nhiều ngành cũ mất đi, nhiều ngành mới xuất hiện Việc đổi nghề, chuyển nghề diễn ra thường xuyên hơn trước đây Trình độ của cuộc CM KHCN ngày càng cao, đòi hỏi trình độ tay nghề của người công nhân ngày càng cao, trình độ tri thức của các nhà trí thức ngày càng uyên thâm Việc đào tạo nguồn nhân lực phải đáp ứng yêu cầu trên
Như vậy, chúng ta có thể thấy, cuộc CM KHCN vừa tạo điều kiện nâng cao năng lực người lao động, vừa dật ra yêu CÀU cao với ngirừi lao động bởi
vì, KHCN thường xuyên thay đổi thì người lao động cũng phái thường xuyên thay đổi theo
Thứ sáu, truyền thống đftn tộc:
Trang 23Sức mạnh của con người Việt Nam đi vào CNH,HĐH không chỉ dựa vào
các giá trị của hiện tại, mà còn dựa vào các giá trị truyền thống của một dân
tộc có 4000 năm lịch sử, không chí bằng KHKT mà còn bằng cá nền văn hoá
Việt Nam
Con người Việt Nam là sự kết tinh của nền văn hoá Việt Nam Vì vậy, quá trình xây dựng nền văn hoá Việt Nam cũng chính là quá trình thực hiện
chiến lược con người, xây dựng và phát huy nguồn lực con người
Cùng với GD-ĐT, các hoạt động văn hoá, văn nghệ có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, làm phong phú đời sống tinh thần của con
người Việt Nam Thông qua hoạt động văn hoá, văn nghệ mà trí tuệ, đạo đức,
tâm hồn, bản chất chính trị con người Việt Nam được năng lên ngang tầm với
sự nghiệp đổi mới của đất nước, bắt kịp với xu hướng phát triển của thời đại
Sự hiểu biết của con người càng rộng, tri thức càng cao,tâm hồn càng
phong phú càng đóng góp nhiều cho xã hội
Sự nghiệp văn hoá ở nước ta hiện nay phái góp phán tích cực vào việc bồi
dưỡng và xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, có ý thức tập thể, đơcàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung, có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân
nghĩa, tôn trọng ký cương phép nước, qui ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ
và cải thiện môi trường sinh thái, lao động chăm chi với lương tâm nghề
nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích bản thân, gia đình, tập
thể và xã hội, thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên mồn,
trình độ thẩm mỹ và thể lực
1.2 Cóng nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay và những yêu cầu đặt ra đối vói việc bổi duững phát triển nguồn lực con nguòi ỏ' nước ta
1.2.1 Quan điếm về Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ỏ Việt Nam hiện
nay
* Tính tất yếu của CNH, HĐH:
Trang 24CNH, HĐH là một quá trình tất yếu mà mỗi dân tộc không sớm thì muộn cũnơ phải trải qua Cách đây hơn 200 năm, nước Anh đã mở đầu quá trình này trên thế giới, từ đó ỏ' những thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau với nhịp điệu và tốc độ khác nhau nhiều nước trên địa cầu đã hoàn thành CNH để trở thành những nước phát triển.
Tuy có sự khác nhau vồ mổ hình, độ dài thời gian thực hiện, nội dung cụ thể, các bước đi và phương cách liên hành, nhưng XỔI vồ mặt thực chất, CNH ở các nước đều là quá trình chuyển từ một kiểu kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp năng suất lao động thấp, tăng trưởng kinh tế chậm sang một kiểu kinh
tế cơ bản dựa vào công nghiệp có năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế cao
Đối với nước ta hiện nay, CNH không chỉ là tất yếu lịch sử mà còn là vấn
đề cấp bách Bởi vì, sau mấy chục năm thực hiện đường lối CNH, thực hiện cải tạo và xây dựng CNXH nước ta vẫn còn là một trong những nước nghèo nhất thế giói, vẫn là một nước nông nghiệp chậm phát triển, v ẫ n biết là một nước nông nghiệp chậm phát triển thì nông nghiệp là vô cùng quan trọng, nhưng nếu không đẩy mạnh CNH thì bản thân nông nghiệp không thể phát triển thành nền nông nghiệp sán xuất hàng hoá lớn và đất nước cũng không thể thoát khỏi vị thế yếu kém và phụ thuộc của một nước nghèo Đã nghèo thì không thể đủ mạnh để giữ vững chủ quyền quốc gia, giữ vững định hướng XHCN trong bối cảnh thế giói mới và do đó, cũng không đem lại mức sống cao và hạnh phúc cho nhân dân CNH là con đường duy nhất tất yếu phải đi qua để đấr nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước trong khu vực, giũ' vững ổn định chính trị-xã hội Từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNH, Đáng ta luôn xác định CNH là nhiệm vụ trung tâm của suốt cả thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH.Đường lối CNH được đại hội toàn quốc lần thứ III của Đáng ta đề ra với nội dung: xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nóng nghiệp và lấy công nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đổng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành
Trang 25một nước có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại Đường lối này có chỗ không hợp lý vì nước ta là một nước nông nghiệp là chủ yếu, hơn nữa nông nghiệp lại hết sức lạc hậu mà chúng ta lại ưu tiên phát triển công nghiệp nặng mặc dù là ưu tiên một cách hợp lý Từ năm 1960 đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, đường lối CNH đã nhiều lần được điều chỉnh theo hướng nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ngày càng được chú ý hơn Đại hội đại biểu lần thứ IV, trong đường lối CNH đã có sự điều chính từ ưu tiên phát triển cộng nghiệp nặng một cách họp lý sang ưu tiên phát triển công nghiệp năng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp thành cơ cấu công— nông nghiệp Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, nội dung CNH được xác định là: tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp lên sán xuất lớn XHCN, ra sức đẩy mạnh công nghiệp hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng trong một cơ cấu công-nông nghiệp hợp lý.
Bắt đầu từ Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ VI, đường lối đổi mới toàn diện, quan điểm về CNH đã được điều chỉnh trong thực tế một cách căn bản cho phù họp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế chung của thời đại Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, nội dung CNH chuyến hẳn từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng sang lấy sán xuất lương thực, thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm Phát triển công nghiệp nặng phải trên cơ sở phát triển các lĩnh vực đó CNH, HĐH, KHCN được coi là nền táng của CNH, là yếu tố có ý nghĩa quyết định để chuyển lao động thủ công lên lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại
Xuất phát từ kết quả hơn 15 năm đổi mới với những tiền đề đã được tạo
ra, Đảng ta nhận định rằng nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước vừa là nhiệm vụ trung tâm lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ, vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt Ngày nay, CNH phải gắn với HĐH, với việc sử dụng rộng rãi những thành tựu KHCN tiên liến của thời đại CNH, HĐH được xác định là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện của các hocỊt động s ả n xuất kinh
Trang 26doanh dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội từ sử dụng lao động cùng với công nghệ, phương tiện tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ KHCN tạo ra năng suất lao động cao.
* Mục tiêu CNH, HĐH ở n ư ớ c ta trong thời kỳ mới là: xủy dựng nước ta thành một nước công nghiệp có sơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế họp lý, QHSX tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng thành công CNXH
Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Đến lúc đó LLSX đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng máy móc Điện khí hoá cơ bản được thực hiện trong cả 11 ước Năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn nhiều so với hiện nay GDP tăng từ 8 đến 10 lẩn so với năm 1990
Phù họp với trình độ tương đối hiện đại của LLSX là một hệ thống QHSX
mà chế độ sỏ' hữu, cơ chế quản lý và chế độ phân phối gắn kết với nhau, phát huy được các nguồn lực, tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội Kinh tế nhà nước thực hiện hiện tốt vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng của nền kinh tế, nhân dân có cuộc sống no đủ, có những điều kiện tương đối về nhà ở, học hành, chữa bệnh, có mức hưởng thụ văn hoá khá Quan hệ xã hội lành mạnh lối sống văn minh, gia đình hạnh phúc
* Mục tiêu CNH, HĐH cho thấy chúng ta thực hiện CNH, HĐH là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và vững chắc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và công bằng xã hội Đó là sự nghiệp CNH, HĐH theo định hướng XHCN Nó đặc biệt coi trọng bổi dưõng nguồn nhân lực để phái huy sức mạnh cùa nhân tố con người chăm lo giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao của nhân dân
Trang 27- Thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, củng cố quốc phòng, báo vệ vững chắc độc lộp, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN.
* Nội dung CNH, HĐH:
Đ i ể m nổ i b ậ t q u á t r ì n h C N H , H Đ H h i ệ n n a y là t r a n g bị v à t r a n g bị lại
công nghệ hiện đại cho tất cá các ngành kinh tế quốc dãn CNH không còn được hiểu đơn giản là quá trình chuyển từ lao động thủ công sang lao động sử dụng máy móc thay cho sức lao động cơ bắp của con người, mà là trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân Do đó, KHCN là động lực của CNH, HĐH
* P h ư ơ n g t h ứ c C N H , H Đ H gi a i đ o ạ n h i ệ n n a y :
Nếu như trước đây CNH được tiến hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện kế hoạch hoá cao độ theo chỉ tiêu pháp lệnh thì bây giờ CNH, HĐH được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm thước đo chủ yếu
Trước đây, CNH thường được xem là công việc của Nhà nước, thông qua khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu thì giờ đây CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân vói sự tham gia tích cực của các thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đổng thời thực hiện đa dạng hoá và đan xen các loại hình sỏ' hữu
CNH, HĐH còn gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế mở cá bên trong
và bên ngoài, tích cực tham gia phân công lao động quốc tế nhằm thu hút vốn, công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở nước ngoài [20 tr 46]
CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là hướng ưu tiên trong thời kỳ đẩu
“ từ nay đến cuối thập kỷ phái rất quan tam đến CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn, lâm, ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến nông lâm, thuỷ sản”.[19,tr 86]
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII có đề ra nội dung
cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập kỉ 90[19, tr 86-87]: đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, phát
Trang 28triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Nâng cấp, cải
tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng kinh tế, trước hết
ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cần trở sự phát triển Xây dựng có
chọn lọc một số c ơ sở c ô n g ng h iệp nặng trọng yếu và hết sức cấ p thiết có điều
kiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả cao Mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ Đẩy mạnh các hoạt động kinh
tế đối ngoại Hình thành dần một số ngành mũi nhọn như chê biến nông, lâm, thuỷ sản, khai thác và chế biên dầu khí, một số ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, du lịch Phát triển mạnh sự nghiệp GD-
ĐT, KHCN
Chúng ta từ một nước nông nghiệp đi lên, do vậy, phải đặc biệt chú ý đến CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn: phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lí về cây trổng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng đảm báo an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong và ngoài nước Thực hiện thuỷ lợi hoá,
* Để quán triệt tốt sự nghiệp CNH, H Đ H cán phái quán triệt và nắm vững những tư tưởng cơ bán của Đáng về CNH, HĐH đó là: đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồn nội lực trong đất nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Xây dựng một nền kinh
tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đổng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước có hiệu quá CNH HĐH
là sự nghiệp của toàn dân của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo
Trang 29Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vũng Động viên toàn dan cần kiệm xfty dựng đất nước, không ngừng tăng tích luỹ đấu tư phát triển Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dấn phát triển văn hoá, giáo dực, thực hiện công bằng xã hội bảo vệ môi trương sinh thái.
KHCN là động lực của CNH, HĐH Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định
L ấ y h i ệ u q u ả k i n h t ế - x ã h ộ i l à m t i ê u c h u ẩ n c ơ b á n đ ể x á c đ ị n h p h ư ơ n g á n
p h á t t ri ể n, lựa c h ọ n d ự á n đ ầ u t ư và c ô n g n g h ệ v.v
Kết họp kinh tế với quốc phòng, an ninh
Trong tất cả các yếu tố tạo nên động lực cho quá trình CNH, HĐH ở nước ta thì nhân tố con người được đặt lên hàng đầu Lên in đã từng chỉ rõ
“LLSX hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là người lao động” [47,tr.430]
Để thấy rõ vai trò quyết định của nguồn lực con người thì không thể không đặt nó trong sự so sánh với các nguồn lực khác Các nguồn lực khác, tự
nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng và chúng chỉ phát huy tác dụng cũng như
có ý nghĩa khi chúng kết họp với con người Thông qua lao động con người kết họp các nguồn lực khác tạo thành sức mạnh tổng hợp, để tác động vào quá trình CNH, HĐH Các nguồn lực khác chỉ là khách thể chịu sự tác động cuả nguồn lực con người và phục vụ nguồn lực con người
So' đồ tổng thể các nguồn lực tác động vào quá trình CNH, HĐH ở nước
Trang 301.2.2 Nhũng yêu cầu đặt ra đối với việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp Cổng nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước và Hải Phòng
Để có thể thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH thì phải có hàng loạt các chính sách và biện pháp như: phát triển nguồn nhân lực, chính sách về vốn, chính sách đối với các thành phán kinh tế, chính sách thị trường, chính sách công nghệ, chính sách khai thác, sử dựng, bảo vệ tài nguyên và bảo vệ môi trường v.v
ở đây dưới góc độ CNXHKH tác giả đi sâu phủn tích những yêu cầu xây dựng nguồn lực con người Việt Nam để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH
Căn cứ vào thực trạng tình hình vận động của các giai cấp, tầng lớp ở nước ta hiện nay và quan điểm, đường lối của Đáng về xAy dựng và bảo vệ Tổ Quốc, Đáng ta xác định những định hướng chính sách lớn đối với các giai tầng
xã hội nước ta như sau:
* Về giai cấp công nhân:
Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường một mặt có tác dụng làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ công nhân, mặt khác đặt ra yêu cầu khách quan bán thăn giai cấp công nhân phải sớm khắc phục những yếu kém để vươn lên về mọi mặt nhanh chóng thích ứng với
cơ chế mới đó
"Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnli vê mọi mặt, pììát triển về sô lượng, giác ngộ về giai cấp, /ìâiiíỊ cao trình độ học vấn và tay /Ií>hề, có /lăng lực ứ/ig dụng vù súng tạo cỏ /1 0 iiíỊÌiệ mới, có tác pìioiiíỊ công nghiệp và ý thức
tổ chức, kỷ luật, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quở ngày càng cao Làm nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh công nhân, nông dân
trí thức và tăno cườnẹ khối đại đoàn kết (lân /()(’” ,[ 19,tr 13].
Ngày nay giai cấp công nhân ở Việt Nam đã trở thành người lãnh đạo toàn xã hội, đòi hỏi phải ra sức phấn đấu về mọi mặt, phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ văn hoá, trình độ tay nghề, ngoại ngữ, tin học, rèn luyện
ý thức tổ chức kỷ luật, bổi dưỡng lí tưởng Cộng sán chủ nghĩa, phát huy tinh
Trang 31thần yêu nước, ý thức tự cường dãn tộc, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hiện tượng tiêu cực, tham nhũng cửa quyền đang còn tồn tại trong một số cán
bộ nhân viên nhà nước hiện nay
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay phải thường xuyên tiếp cận với thị trường,nắm bắt được những yêu cáu của thị trường, nhanh chóng thích ứng vói nhũng sự thay đổi của thị trường
* V ề g i a i c ấ p n ô n g d â n :
Trong công cuộc đổi mới toàn diện, nông dân, nông nghiệp, nông thôn nước ta đang có những biến đổi Giai cấp nông dân cũng đang bị phân hoá thành các bộ phận khác nhau Hiện nay ở nông thôn có thể chia thành ba loại
hộ gia đình:'Hộ tách khỏi nông nghiệp, làm các nghề thủ công nghiệp, dịch
vụ, buôn bán Hộ thuần tu ý sán xuất nông nghiệp (trong trọt, chăn nuôi) Hộ
có một phần sản xuất ở khu vực nông nghiệp và một phẩn là các ngành nghề khác Sự phân hoá này không chí về tính chất lao động, khu vực lao động mà còn phân hoá cả về sự giầu nghèo, về lối sống và làm thay đổi nhanh chóng điều kiện sinh hoạt nông thôn
Chúng ta phái “Xây dựng giai cấp nông dân về mọi mặt đ ể xứng đáng ỉ à
một lực lượng cơ bán trong việc xây dựng nỏ/iíỊ thôn mới, góp phần dắc lực
vào sự nghiệp CN H ”,[\&, tr 9].
Vai trò của nông dân trong lịch sử là vô cùng to lớn Nguyễn Trãi đã từng nói: đẩy thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân Trong lịch sử đấu tranh dụng nước và giữ nước của dân tộc ta, nông dân là lực lượng cách mạng hùng hậu đã góp phần trọng yếu vào sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược, là lực lưcmg có vai trò quyết định trong việc giữ sự ổn định và phát triển đất nước trong mọi thời kỳ cách mạng
Ngày nay để đáp ứng yêu cáu sự nghiệp CNH, HĐH, người nông dân phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ học vấn, đâm báo tiếp thu kỹ thuật công nghệ mới, để có thể chuyển sang lao động dịch vụ, lao độno công nghiệp khi cắn
Trang 32Cần phải khắc phục thói quen, tâm lý của người sán xuất nhỏ tiểu nông, tính ỷ lại, thiếu tinh thẩn chủ động, linh hoạt trong sán xuất; đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn, tập trung, chuyên canh, thAm canh.
Ra sức phát triển ngành nghề, phá thin thê độc canh, xóa dấn số hộ thuần nông, khôi phục nghề truyền thống, đưa công nghệ mới vào ngành nghề truyền thống để nâng giá trị hàng thủ công truyền thống
* V ề đ ộ i n g ũ trí t h ứ c :
Trong mấy thập kỷ qua, cuộc cách mạng KHCN trên thế giới phát triển mạnh mẽ, đẩy nhanh sự phát triển của LLSX, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người Trong cuộc chạy đua trên con đường dẫn đến văn minh công nghệ, kinh tế tri thức, yếu tố trí tuệ có ý nghía quyết định với sự thắng lợi cho mỗi quốc gia Trí tuệ trở thành tài nguyên quí giá nhất trong mọi tài nguyên của đất nước, do vậy, trí thức ngày càng có vị trí quan trọng với mỗi quốc gia
Những năm đầu của thế kỷ XXI, nhiệm vụ của đội ngũ trí thức thật nặng
nề Nếu KHCN được xem như động lực cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH, nếu GD-ĐT được xác định là khâu đột phá trong toàn bộ quá trình đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào khoảng năm 2020, thì với tư cách là một thành viên của liên minh chiến lược công-nông-trí, đội ngũ trí thức phải thực hiện được những nhiệm vụ cơ bán sau đây:
- Tham gia tổng kết và phát triển lý luận, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hình thành đường lối, chủ trương của Đáng, cho việc hoặch định chính sách, pháp luật và các dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước bảo đảm quốc phòng an ninh cho Tổ quốc
- Phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của KH-CN, đi đáu trong việc nghiên cứu, ứng dụng và tiếp nhận kỹ thuật tiến bộ và công nghệ tiên tiến, đổi mới CO’ chế quán lý sản xuất kinh doanh, góp phán tổ chức và hướng dẫn phong trào quần chúng lao động phát huy sáng kiến, cái tiến kỹ thuật, họp lý hoá sản xuất v.v để không ngừng nâng cao năng suất lao động và hiệu quá kinh tế
Trang 33- Đổi mới và nâng cao chất lượng GD-ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bổi dưỡng nhân tài, phục vụ đắc lực yêu cầu phát triển đất nước về mọi mặt.
- Đi tiên phong trong việc báo tồn, phát triển và truyền bá những tinh hoa văn hoá của nhân loại, góp phần xây dựng đời sống tinh thán cao đẹp của nhân dân, xây dựng con người Việt Nam phát triển cả về trí tuệ, nhân cách, đạo đức, thể lực, tình cảm, lối sống v.v xây dựng nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc trong sự hội nhập hài hoà với các nền văn hoá tiến bộ trên thế giới
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, đội ngũ trí thức cần ra sức học tập nãng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tiếp cận với những thành tựu mới nhất của KHCN trên thế giới, quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ đảm báo sự cân đối về ngành nghề, phân bố đồng đều trong các lĩnh vực, các ngành,các vùng của đất nước
* V ề đ ộ i n g ũ c á n b ộ c ô n g c h ứ c n h à n ư ớ c :
Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nhẳm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh vũng bước đi lên CNXH, công tác cán bộ được đổi mới có vai trò quyết định thực hiện mục tiêu đó Mặt khác, quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
là môi trường thực tiễn để rèn luyện, tuyển chọn và đào tạo cán bộ nâng cao phẩm chất, kiến thức năng lực của cán bộ
Chúng ta phải: “Xây dựno đội ngũ cán bộ công chức các cấp từ trung
ương đến cơ sở, dặc biệt ỉ à cán bộ đứ/ìíỊ đầu các cơ quan, đơn vị, có phẩm chất và /lăng lực, có bán lĩnh chính tri vững vàng trên cơ sở lập trường giai
cấp công nhân, đủ về sô' lượng, dồng bộ về cơ cấu, báo đảm sự chuyển tiếp
liên tục và vững vàng giữa các th ể hệ cán bộ nhầm thực Ììiện thắng lợi nhiệm
vụ CNH, HĐH giữ vững độc lập tự chủ di lên C/VA7/”,[6,tr.85].
Như vậy, để đám bảo những yêu cáu đặt ra trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước,đội ngũ công chức Nhà nước cần có các tiêu chuẩn:[6,tr 85-86-87]
Trang 34Tiêu chuẩn chung:
Có tinh thắn yêu nước sAu sắc, lộn tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; có ý thức lổ chức kỷ luật; trung thực, không cơ hội; gắn bó mật thiết với nhản dân, được nhân dân tín nhiệm
Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao
Tiêu chuẩn cụ thể với các loại cán bộ như sau:
- Cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân phải có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sỏ' lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật và tổ chức nhãn dân thực hiện Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Gương mẫu về đạo đức, lối sống Có tác phong dân chủ, khoa học, có khá năng tập hợp quần chúng, đoàn kết nội bộ
Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lý Đã học tập có hệ thống ở các trường cuả Đáng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân
- Cán bộ khoa học, chuyên gia phải có tư duy độc lập, sáng tạo Có ý thức họp tác, say mê trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, bám sát đời sống xã hội, có khả năng tổng kết thực tiễn, hoặch định chính sách chiến lược đầu tư Các chuyên gia đầu ngành phải có khả năng tập hợp và đào tạo cán bộ khoa học
- Cán bộ quản lý kinh doanh phải hiểu biết sâu sắc các quan điểm kinh tế của Đảng Có phẩm chất đạo đức, không lợi dụng chức quyền để tham ô lãng phí, xa hoa Có kiến thức về kinh ;ế thị trường và quản trị doanh nghiệp hiểu
Trang 35biết KHCN, pháp luật và thông lệ quốc tế Có khả năng tổ chức kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế-xã hội.
- Cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang phai tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, sẵn sàng hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, báo vệ Đáng, bảo vệ chế độ XHCN Có ý thức tổ chức kỷ luật giữ gìn bí mật quân sự, bí mật quốc gia Nấm được những vấn đề
cơ bản về quản lý kinh tế-xã hội
* Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Hải Phòng đã có những chuyển biến đáng khích lệ với nhịp tăng trưởng đáng kể, xứng đáng là một trong các cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội-Hải Phòng- Quảng Ninh
Đến năm 2010, Hải Phòng có số dân trên 2 triệu người, sẽ hình thành các khu chế xuất, mậu dịch tự do, các cụm công nghiệp, các trung tâm vui chơi giải trí, sẽ là thị trường tại chỗ đa dạng và có nhu cầu cao về số lượng, chất lượng cả vể hàng hoá và lao động
Nghị quyết đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XII đã chỉ rõ: “Tiếp tục
đẩy nhanh quá trình xây dựng Hài Phòng thành thành phô' cảng văn minh,
hiện đợi, cửa chính ra biển, trung tâm công nghiệp, dịch vụ, tììitỷ sản ở miền
Bắc, cố kinìì tế, vân hoá, GDĐT, K H C N , cơ sở hạ tần í; phát triển, quốc phòng
an tìinìì vữ/ìíỊ chắc, k/iâiiíỊ Hiịừìiiị /lâ/iiỊ cao dời \âhí> nhân dân,”[5, tr.2] •
Để đạt được mục tiêu trên, tư tưởng chỉ đạo của chúng ta là: Tiếp tục đổi mới, phát huy sức mạnh của toàn dân, khai thác mọi tiềm năng, động viên cao
độ mọi nguồn lực, đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển Hải Phòng nhanh, bền vững, gắn với vùng kinh tế động lực Bcắc Bộ và cả nước, phát triển mạnh kinh
tế biển, công nghiệp dịch vụ, kinh tế hướng vào xuất khẩu, có khá năng cạnh tranh cao, tạo năng lực và điều kiện để hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả, thực hiện tốt vai trò là một động lực phát triển kinh tế của vùng và cá nước
Một trong những khó khăn lớn hiện nay đối với Thành phố là nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH, tnrớc hết là yêu cầu của hoạt động kinh tế đối ngoại hơp tác và đầu tư với nước ngoài
Trang 36Phải làm thế nào để nâng cao khả năng đào tạo lao động kỹ thuật cả về
số lượng, chất lượng ngành nghề Trước mắt là đáp ứng đầy đủ nhu cầu nhân lực của các khu chế xuất, khu công nghiệp, và các dự án đáu tư của nước nơoài Đồng thời, xây dựng cơ chế chính sách tạo ra nguồn nhân lực đủ sức thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH Thành phô' thời kỳ 2001-2010 và nhũng năm tiếp theo
Trong xu thế chung của cá nước, để thực hiện tháng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, Hải Phòng cũng cần phải xây dựng một đội ngũ nhân lực đủ về số lượng, cao về chất lượng phù hợp với yêu cầu chung Để làm được điều này, phải căn cứ vào thực trạng của nguồn nhân lực Thành phố, phương hướng phát triển kinh tế-xã hội, để có thể đề ra các giải pháp phù họp nhằm xãy dựng và phát huy nguồn lực con người của Hải Phòng
Phải xây dựng nguồn nhân lực đảm bảo sự cân đôi về ngành nghé, bậc đào tạo, có sự bố trí cân đối giữa các vùng của Hải Phòng Thông qua hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, Thành phô thực hiện việc bô trí, sắp xếp lại nguồn lao động của Hải Phòng
Như vậy là:
CNH, HĐH trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đã khác nhiều điểm với quan niệm CNH XHCN vào những năm 60, khi chúng ta bắt đầu công cuộc xây dựng CNXH, do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hiện nay ở nước ta cũng khấc trước
Sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi phải có đội ngũ nhân lực đạt năng suất lao động xã hội, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao gấp nhiều lần so với hiện nay trên cơ sở sự thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc và các thành tựu KHCN hiện đại Đội ngũ này về cơ bản phải có cơ cấu nòng cốt dẫn đẩu là đội ngũ công nhân lành nghề tiếp thu và làm chủ được công nghệ tiên tiến, trực tiếp sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ đạt chất lượng theo chuẩn mực quốc tế; đội ngũ trí thức có cơ cấu đồng bộ về các lĩnh vực KHCN văn hoá, văn nghệ, quản lý kinh tê, quản lý xã hội, thành thạo về chuyên môn nghề nghiệp v.v Trong lừng lmịi vực kinh tế-xã hội khác nhau, phải hình thành cho được đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượnơ
Trang 37xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, ứng dụng có hiệu quả vào điều kiện nước ta.
Đội ngũ nhân lực có chất lượng mới và cao phù hợp vói yêu càu CNH, HĐH phải là sản phẩm của sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực, trong đó công tác GD-ĐT giữ vai trò nòng cốt Phái giúp cho người lao động thích ứng và cơ động trong thị trường sức lao động, có thể tìm được, lự tạo được việc làm ổn định, có thể chuyển nghề, có trình độ và năng lực tự học liên tục và suốt đời, nhằm thích ứng được với những thay đổi nhanh chóng và những đòi hỏi ngày càng cao cuả sự phát triển kinh tế-xã hội, của CNH, HĐH
Muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi các cấp, các ngành từ Trung ương đến điạ phương phải đổi mới cách nghĩ, cách làm, đổi mới tiêu chuẩn lựa chọn bố trí đánh giá cán bộ, đáp ứng yêu cầu trên Mỗi người dân tuỳ vị trí của mình cũng phải rèn luyện phấn đấu theo những yêu cầu trong giai đoạn hiện nay
Trang 38Chương 2
THỤC TRẠNG VÀ NHŨNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY
NGUỔN L ự c CON NGƯỜI Ở HẢI PHÒNG TRONG s ự
N G H IỆ P CÔNG N G H IỆ P HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
2.1 Thực trạng nguồn lục con nguòi hiện nay ở Hải Phòng
2.1.1 Những đặc điểm về địa lý - kinh tế xã hội của Hải Phòng
* V ề vị trí đ ị a lí:
Hải Phòng là một trong ba Thành phố thuộc địa bàn trọng điểm Bắc Bộ,
là thành phố Cảng biển lớn của Việt Nam cách Hà Nội 102 Km Diện tích tự nhiên là 1.503,4 Km2 Phía Bắc giáp Quảng Ninh dài 54Km; Phía Nam giáp Thái Bình với clìiều dài 34Km; Đông giáp Vịnh Bắc Bộ với chiều dài bờ biển
94 Km; Tây giáp Hải Hưng với chiều dài 98.7Km[30,tr.8]
Hải Phòng là một trung tâm công nghiệp, dịch vụ của tam giác kinh tế
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là đầu mối giao thông quan trọng trong và ngoài nước với lợi thế Cảng biến và cửa ngõ miền Duyên hải Bắc bộ Hải Phòng có đầy đủ các phương tiện giao thông: đường biển, đường sắt, đường
bộ, đường sông, đường hàng không, giúp cho thành phố có điều kiện không chỉ mỏ' rộng liên doanh, liên kết với các địa phương trong cả nước, mà còn với tất cả các nước trong khu vực và thế giới Lợi thế này giúp Hải Phòng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nhanh và với quy mô ngày càng lớn ngành dịch vụ: Dịch vụ phát triển công nghiệp, dịch vụ phát triển nông - lâm - ngư nghiệp, dịch vụ XNK, dịch vụ Cảng biển, du lịch Đây là lợi thế địa lý cho Hải Phòng phát triển các ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu, tiếp tục thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, là nhân tố tác động mạnh đến sự phát triển về số lượng, chất lượng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ công nhân
Hải Phòng có lợi thế so với các tính khác là đã có một lịch sử công nghiệp và đô thị hàng trăm năm diện nay trên toàn thành phố có hàng trăm
cơ sở sản xuất với nhiều ngành nghề truyền thống như: Đóng tẩu thuyền cơ
Trang 39khí luyện kim, vật liệu xây dựng, các ngành công nghiệp nhẹ, chế biến thuỷ hải sản
Hải Phòng còn là một thành phố có thế mạnh về du lịch nằm giữa tuyến
du lịch Hà nội - Vịnh Hạ Long, ngoài Cáng biển quốc tế, có khu nghỉ mát nổi tiếng Đồ Son, có Đảo Cát Bà rộng trên 200 Km2 Với bờ biển dài, 5 con sông lớn chảy qua và ba bãi cá lớn: Bạch Long Vỹ, Long Châu và Cát Bà, Hải Phòng có tiềm năng về nuôi trổng đánh bắt và chế biến Hải sản[27,tr.26].Chế độ triều có vĩ độ cao tạo ra cho Hải Phòng 24.000 ha bãi triều và 5.000 ha mặt nước xung quanh các đảo là cơ sở để nuôi trồng và đánh bắt hải sản,[10, tr 14].Điều này góp phần làm tăng số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực trong dịch vụ du lịch và ngư nghiệp cho Thành phố
Hải Phòng nằm trong khu vực Bắc Bộ rộng lớn, dân số đông, tính từ Bắc khu 4 trỏ' ra vào năm 2010 có khoảng 41-43 triệu dan Đây không chỉ là thị trường rộng lớn tiêu thụ hàng hoá, mà còn là nguồn lao động dồi dào bổ sung cho sự nghiệp CNH, HĐH của Thành phố,[44, tr 1]-
* Về phân bổ dân cư, ngành nghề lao động
Hải Phòng là thành phố lớn thứ hai sau Hà Nội của vùng Bắc bộ Theo số liệu thống kê, năm 1998, dân số là i.718.900 người, khu vực nội thành có 538.100 người Lao động trong độ tuổi có 76 vạn người, tập trung ở nội thành khoảng 30 vạn người (chiêm 37% tổng số)[36,tr 19] Hiện nay Hải Phòng có
4 quận: Hổng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân, Kiến An; Thị xã Đổ Sơn và 8 huyện ngoại thành: Thuỷ Nguyên, An Hái, An Lão, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thuỵ, huyện đảo Cát Hải, huyện đảo BcỊch Long Vĩ
Sự biến động của cơ cấu một số ngành công nghiệp chủ yếu diễn ra như sau: công nghiệp sản xuất kim loại tăng từ 5,9% lên 8,6%, vật liệu xây dựng
từ 24,8% lên 26,1%, chế biến gỗ lâm sản từ 1,5% lên 3%, da giày từ 0,18%
lên 3,3%- Tuy nhiên có một số ngành công nghiệp bị suy giảm hoặc không thay đổi như: luyện kim màu, sản xuất thiết bị máy móc, hoá chất, dệt may v.v [36,ư.35]
Nhìn chung, sự chuyển đổi cơ cấu trong công nghiệp Hài Phòng còn chậm.Nhiều ngành phát triển không ổn định Nhiều phân ngành công nghiệp
Trang 40quan trọng để thu hút lao động và tộn dụng nguyên liệu trong vùng lại bị suy giảm như dệt, may, chế biến lương thực Song có thể dự báo một số năm tới ngành vật liệu xây dựng và luyện kim đen, da giày sẽ tăng đáng kể.
* Về cơ cấu thành phần kinh tế:
Công nghiệp Quốc doanh: Hái Phòng là trung tâm công nghiệp quan trọng với cơ cấu thiên về công nghiệp nặng Nhiều cơ sở sản xuất có qui mô lớn và được xây dựng từ thòi kỳ kế hoạch hoá tập trung đến nay vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế Công nghiệp Trung ương ỏ' Hải Phòng chiểm tỉ
lệ lớn Các cơ sỏ' Quốc doanh Địa phương hoạt động hiệu quả hơn, sản xuất ra khối lượng hàng hoá lớn hơn
Công nghiệp Quốc doanh trong cơ cấu công nghiệp Hái Phòng chiếm một vị trí rất quan trọng trong cơ cấu công nghiệp của Thành phố Chiếm tỷ lệ lớn về số lượng trong công nghiệp là các doanh nghiệp tư nhân Đặc điểm chủ yếu của các doanh nghiệp này là ít lao động và dễ đi vào các ngành nghề mới, kịp thời đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất xã hội và tiêu dùng dân cư, khai thác tối đa các điều kiện thiên nhiên, nguồn nhiên liệu tại chỗ v ề cơ cấu ngành của công nghiệp ngoài quốc doanh thì chỉ riêng ngành hoá chất và phãn bón, vật liệu xây dựng, các sán phẩm khác bằng kim loại và chế biến gỗ đã chiếm tới trên 62% số lượng các cơ sở Tuy nhiên, nếu tính vể mức độ thu hút lao động thì ngoài các ngành trên phái kể đến dệt, da giày, may
Các ngành công nghiệp chính phân bổ như sau: sản xuất các sản phẩm kim loại tập trung ở Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Đổ Sơn, An Lão Hoá chất ở Hổng Bàng, Lê Chân; vật liệu xây dựng và chế biến gỗ tập trung chủ yếu ở các huyện ngoại thành An Lão, Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, [36,tr 37]
Qua phân bố các ngành, quá trình phát triển của các loại ngành nghề có thể thấy là công nghiệp ngoài quốc doanh Hai Phòng những năm gần đây đã
dần thích nghi với cơ chế thị trường, phát triển sản xuất căn bản từ nhu cầu đòi
hỏi thị trường của sản xuất và tiêu dùng Công nghiệp ngoài quốc doanh Hải Phòng có rất nhiều cơ hội để phát triển mạnh trong tương lai