58 Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI SỰ CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ .... Tuy nhiên, trước sự phát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN TỐ HẢO
NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI SỰ CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN TỐ HẢO
NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI SỰ CHUYỂN
BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT
NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Văn Sao
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
(i) Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi,
(ii) Số liệu trong luận văn được điều tra trung thực,
(iii) Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 3
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI SỰ CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2 Cơ cấu cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và sự cần thiết phải chuyển biến cơ cấu thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế 19
1.3 Vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam 32
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI SỰ CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM 44
2.1 Khái quát về giai cấp công nhân Việt Nam 44
2.2 Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam 51
2.3 Thực trạng vai trò của các nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và những vấn đề đặt ra 58
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN ĐỐI VỚI SỰ CHUYỂN BIẾN CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 77
3.1 Giải pháp đối với Đảng Cộng sản Việt Nam 77
3.2 Giải pháp đối với Nhà nước CHXHCNVN 82
3.3 Giải pháp đối với tổ chức Công đoàn 86
3.4 Giải pháp đối với giai cấp công nhân 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC……… 102
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Sự chuyển biến cơ cấu GCCN Việt Nam theo thành phần kinh tế Bảng 2.2 Sự chuyển biến cơ cấu GCCN Việt Nam theo ngành nghề
Bảng 2.3: Sự chuyển biến cơ cấu GCCN theo trình độ học vấn
Bảng 2.4: sự chuyển biến cơ cấu GCCN theo trình độ chuyên môn nghề nghiệp
Bảng 2.5: Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân phân theo tuổi đời
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, giai cấp công nhân Việt Nam luôn là lực lượng tích cực, đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đóng góp to lớn vào những thành tựu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Cùng với sự phát triển của đất nước, giai cấp công nhân Việt Nam đã có những bước chuyển biến đáng kể về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề nghiệp, xã hội Trong điều kiện xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, giai cấp công nhân Việt Nam sẽ tiếp tục biến đổi và phát triển mạnh mẽ hơn nữa Đặc biệt, sự chuyển biến cơ cấu xã hội – giai cấp trong những năm qua diễn ra liên tiếp và ngày càng đa dạng, tác động đến sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam theo chiều hướng tích cực, từng bước hợp lý góp phần quan trọng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ và toàn cầu hóa diễn ra như một xu thế khách quan, dưới tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về giai cấp công nhân trong đó có vấn đề chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân đòi hỏi phải tập trung nghiên cứu để có cơ sở đề ra những chủ trương, giải pháp đúng đắn nhằm chuyển biến nhanh cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam theo hướng tích cực góp phần xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong giai đoạn mới
Trong quá trình hội nhập quốc tế, sự chuyển biến về cơ cấu của giai cấp công nhân Việt Nam chịu tác động bởi một hệ thống các nhân tố chủ quan và khách quan Trong đó, nhân tố chủ quan có vai trò quan trọng trong chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Đó là vai trò lãnh đạo của Đảng
Trang 8Cộng sản Việt Nam, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Công đoàn Việt Nam và vai trò của giai cấp công nhân khi được tổ chức và lãnh đạo
Thực tế trong quá trình đổi mới vừa qua đã đem lại cho chúng ta nhiều thành tựu to lớn đồng thời cũng phát sinh nhiều vấn đề mới phức tạp
mà chúng ta không thể lường trước Kinh tế thị trường với tác động của
những mặt trái đã làm xuất hiện và gia tăng tình trạng phân hoá giàu nghèo, thất nghiệp, sự lây lan những tệ nạn và tiêu cực xã hội đang ảnh hưởng lớn tới giai cấp công nhân Việt Nam Hiện nay, trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường, của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cơ cấu giai cấp công nhân nước ta đang có sự biến chuyển nhanh và khá phức tạp, khiến cho những hạn chế, nhược điểm của giai cấp công nhân Việt Nam càng có điều kiện để bộc lộ Trong khi những nhược điểm, hạn chế cũ chưa được khắc phục hết thì lại chịu tác động của nền kinh
tế thị trường và khuynh hướng thương mại hoá đang len lỏi vào các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực cơ cấu giai cấp công nhân
Cùng với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp công nhân nước ta là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và Nhà nước Tuy vậy, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân xuất thân từ nông dân chưa được đào tạo
cơ bản và có hệ thống Giai cấp công nhân còn hạn chế trong phát huy vai trò nòng cốt của khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không
Trang 9kinh tế phát triển, nhưng nhìn chung đời sống vật chất và tinh thần cũng như điều kiện làm việc, an toàn vệ sinh lao động của công nhân chưa được cải thiện rõ rệt Thực trạng đó đòi hỏi cần tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu hợp lý, đời sống ngày càng được cải thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế
Tình hình trên đây cho thấy, việc tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu
để phát huy vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng trở nên vô cùng cấp thiết đặc biệt là trong quá trình hội nhập quốc tế
Vì lẽ đó, tôi chọn vấn đề "Nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến
cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" làm
đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về giai cấp công nhân nói chung dưới góc độ lịch sử và lý luận đã được nhiều nhà nghiên cứu, cán bộ khoa học ở Liên Xô (trước đây),
Trung Quốc quan tâm như cuốn “Phong trào công nhân quốc tế - những vấn
đề lịch sử và lý luận”gồm 8 tập của các nhà nghiên cứu lịch sử Xô Viết được
xem là bộ sách trình bày khái quát lịch sử phong trào công nhân quốc tế đầy
đủ nhất cho đến nay Những bài học kinh nghiệm nêu ra trong bộ sách này rất
có ý nghĩa trong việc nghiên cứu và tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn về giai cấp công nhân nói chung và giai cấp công nhân Việt Nam nói riêng
Cuốn “Vị trí vai trò của giai cấp công nhân đương đại” do Nguyễn
Ngọc Lân dịch với các tác giả Liễu Khả Bạch, Vương Mai, Diêm Xuân Chi
có giá trị học thuật và ứng dụng khá quan trọng Thông qua điều tra hiện trạng giai cấp công nhân, cuốn sách đã nghiên cứu những đặc điểm mới, xu thế mới
Trang 10trong quá trình phát triển và biến đổi của đội ngũ giai cấp công nhân, vạch ra những thách thức mới và vấn đề mới mà giai cấp công nhân phải đối mặt
Trong các Văn kiện Đại hội, Đảng ta luôn khẳng định vị trí, vai trò của giai cấp công nhân, quan tâm đến vấn đề xây dựng giai cấp công nhân Việt
Nam Cương lĩnh năm 1991 đã chỉ rõ: “Phát triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng để xứng đáng là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH” Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh: “coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện “trí thức hóa công nhân”, nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới” Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: “Đối với GCCN, phát triển về số lượng, chất lượng và tổ chức; nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn
và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo, tài liệu nghiên cứu về GCCN Việt Nam dưới những góc độ khác nhau và đã đạt được những kết
quả nhất định: Hai công trình nghiên cứu của PTS Bùi Đình Bôn “GCCN Việt Nam - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn” (1997) và “Một số vấn đề về GCCN Việt Nam hiện nay” (1997) đã đề cập đến khái niệm GCCN Việt
Nam và nội hàm của khái niệm đó; những đặc điểm chủ yếu của GCCN Việt Nam hiện nay; thực trạng cơ cấu GCCN Việt Nam hiện nay và dự báo xu hướng biến động cơ cấu GCCN Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH; vai trò của GCCN Việt Nam trong quá trình cách mạng Việt Nam; mục tiêu,
Trang 11đối với GCCN; những chủ trương, biện pháp, chính sách cơ bản và cấp bách nhằm xây dựng GCCN Việt Nam ngang tầm với sứ mệnh lịch sử của nó
Cuốn sách “Về thực trạng GCCN Việt Nam hiện nay” (2001) của các
tác giả: Phạm Quang Trung, Cao Văn Biền, Trần Đức Cường đã đề cập đến thực trạng GCCN Việt Nam trên một số phương diện: đời sống, nghề nghiệp,
điều kiện lao động, tâm tư nguyện vọng Cuốn sách “Xu hướng biến động GCCN Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI” (2001), là kỷ yếu
Hội thảo khoa học, tập hợp bài viết của một số nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo, quản lý Nội dung các bài viết chủ yếu đi sâu vào khía cạnh phân tích luận giải những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến xu hướng biến đổi và dự báo xu hướng biến đổi GCCN Việt Nam
PGS.TS Nguyễn Viết Vượng (chủ biên), trong cuốn “GCCN và tổ chức công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” (2003), đã đề cập đến sự chuyển biến của GCCN và tổ chức công đoàn Việt
Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; dự báo sự phát triển của GCCN và tổ chức công đoàn, phương hướng xây dựng GCCN và tổ chức công đoàn Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI Kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này có thể tham khảo, kế thừa trong nghiên cứu
đề tài
PGS.TS Dương Xuân Ngọc, trong cuốn sách “GCCN Việt Nam trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” (2004), đã đề cập đến: khái niệm GCCN;
những nhân tố tác động đến sự biến đổi GCCN Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng GCCN Việt Nam trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Cuốn sách “Một số vấn đề cơ bản về xây dựng, phát huy vai trò GCCN Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH” (2004) của tập thể tác giả do
Trang 12TS Dương Văn Sao chủ biên, đã đề cập đến những nội dung có liên quan đến đề tài: về khái niệm và đặc trưng của GCCN Việt Nam; thực trạng GCCN Việt Nam; những nhân tố tác động đến xu hướng biến động, phát triển của GCCN Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI; quan điểm, phương hướng và một số giải pháp xây dựng, phát huy vai trò của GCCN Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI Kết quả nghiên cứu của công trình có thể được tham khảo kế thừa trong nghiên cứu đề tài
Cuốn sách “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011”
(2010) do TS Đặng Ngọc Tùng chủ biên đã làm rõ quan điểm, đường lối của Đảng, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, xác định nội dung xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 của Đảng và Nhà nước ta
Ngoài ra, có thể đề cập đến một số công trình như: Đề tài khoa học
“Xây dựng GCCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước hiện nay” (2001) của Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn; Luận án Tiến sỹ Triết học của Trần Thị Bích Liên: “Tích cực hóa nhân tố chủ quan để GCCN Việt Nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình” (2001), Luận án tiến sĩ "Giai cấp công nhân Việt Nam - vai trò và xu hướng biến động về cơ cấu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" của Bùi Đình Bôn, cuốn sách “Một số vấn đề về giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam” của Văn Tạo (1997)
Những công trình nghiên cứu nêu trên tuy đã đạt được những kết quả nhất định, đã khai thác tương đối toàn diện những vấn đề liên quan đến công nhân, xu hướng biến động của nó trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặt khác đã đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công nhân không ngừng lớn mạnh đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,
Trang 13trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với sự phát triển của giai cấp công nhân, đưa ra những giải pháp nhằm phát triển giai cấp công nhân cả về
số lượng, chất lượng, cơ cấu để có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đặt ra Nhưng vấn đề về vai trò của các nhân tố chủ quan trong sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế vẫn chưa được đề cập và phân tích cụ thể, cần phải được làm sáng tỏ hơn Những thành tựu nghiên cứu cũng như những giá trị khoa học của các công trình trên là tài liệu quý cho chúng tôi tham khảo và kế thừa
trong quá trình viết luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Dựa trên cơ sở luận giải các vấn đề lý luận về giai cấp
công nhân, cơ cấu giai cấp công nhân, các nhân tố chủ quan tác động đến sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân, phân tích thực trạng vai trò của các nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tố chủ quan để chuyển biến cơ cấu GCCN Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
- Nhiệm vụ:
- Trình bày một số khái niệm cơ bản có liên quan đến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam, sự cần thiết phải chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của các nhân
tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam
- Phân tích thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế tế
và những vấn đề đặt ra đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam
Trang 14- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu là nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện địa hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của đề tài : Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giai cấp công nhân và vai trò của nhân
tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Phương pháp nghiên cứu : vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể: phân tích và tổng hợp, so sánh, hồi cứu tài liệu…
6 Đóng góp của đề tài
- Hoàn thiện thêm nhận thức về nhân tố chủ quan và vai trò của nhân
tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Phân tích làm rõ thực trạng vai trò của các nhân tố chủ quan đối với
sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam
Trang 15- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương và 10 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận về nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến
cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Thực trạng vai trò của các nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp phát huy vai trò của nhân tố chủ quan đối với
sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 161.1.1 Khái niệm giai cấp công nhân
Các Mác và Ph.Ăngghen là những người đầu tiên đưa chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng vào nghiên cứu lịch sử phát triển của
xã hội loài người, đi sâu nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của họ Trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăng ghen chỉ rõ: “Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động…Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay là
giai cấp những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX”[15, tr.456] Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, trong phần chú thích của mục Tư sản
và vô sản cho lần xuất bản năm 1888, Ph.Ăng ghen định nghĩa: “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất
của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống”[16, tr.596]
Có thể nhận thấy, Mác và Ph.Ăng ghen đã đồng nhất “người công nhân hiện đại” với “người vô sản” trong định nghĩa khoa học của mình Điều đó hoàn toàn đúng trong thế kỷ XIX
Các ông đã sử dụng những thuật ngữ khác nhau để nói về giai cấp công nhân: giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê ở thế kỷ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, công nhân làm thuê hiện đại… “Giai cấp công nhân là giai cấp
Trang 17nghiệp hiện đại” Tuy dùng nhiều tên gọi khác nhau nhưng theo C.Mác và Ph.Ăngghen, giai cấp công nhân vẫn mang hai thuộc tính cơ bản phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác
- Một là, về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là người
lao động trong nền sản xuất công nghiệp Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá ngày càng cao Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân
- Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân; Dưới
chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột Tức là giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt Chính căn cứ vào tiêu chí này mà người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản Như vậy họ không còn là những người vô sản như trước, sản phẩm thặng dư
do họ tạo ra làm nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa
Tiếp tục sự nghiệp của Mác - Ăngghen, V.I Lênin đã nghiên cứu, bổ sung làm hoàn chỉnh và phong phú thêm lý luận về giai cấp vô sản, với những
luận điểm mới về giai cấp vô sản trong điều kiện mới khi đã giành được chính quyền V.I Lênin đã đưa ra khái niệm “giai cấp” tương đối hoàn chỉnh làm
cơ sở khoa học cho nghiên cứu các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó có
GCCN Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, Người viết: “Người ta gọi giai
cấp là tập đoàn người rộng rãi, những tập đoàn này khác nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định do lịch sử quy định, khác nhau về
Trang 18quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) với những tư liệu sản xuất và vai trò của họ trong tổ chức xã hội
về lao động, và như vậy là khác nhau về phương thức hưởng thụ và về phân chia của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được sử dụng Giai cấp là những tập đoàn người, trong đó tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ nhất định của
kinh tế - xã hội”[13, tr.206 – 207] Theo Lênin, khi giai cấp vô sản giành
được chính quyền, thì công nhân không còn là người làm thuê cho chủ tư bản nữa, mà đã là người làm chủ nhà nước, làm chủ tập thể đối với tư liệu sản xuất được công hữu hóa
Như vậy, quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đều
thống nhất khẳng định: giai cấp vô sản hay GCCN đều do nền đại công
nghiệp sinh ra, là những người trực tiếp vận hành các công cụ sản xuất công nghiệp tạo ra của cải vật chất cho xã hội và tồn tại, phát triển cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp Dưới CNTB, công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, có lợi ích căn bản đối lập với lợi ích của giai cấp tư sản
Quán triệt sâu sắc học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa lớn của thế giới, tuy không đưa ra định nghĩa cụ thể về GCCN, song trong nhiều bài viết, nhiều cuộc nói chuyện quan trọng, Người đã chỉ
ra những ai là công nhân, lực lượng nòng cốt trong GCCN là những người
nào? Đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn khẳng định vị trí, vai trò
to lớn của GCCN nói chung, GCCN Việt Nam nói riêng trong quá trình cách mạng
Trang 19Trên cơ sở tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa xã hội khoa học
về các vấn đề giai cấp, và từ thực tiễn cách mạng và đời sống kinh tế - xã hội, có thể nêu ra định nghĩa về giai cấp công nhân như sau:
“Giai cấp công nhân hiện đại là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành
và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại có tính chất xã hội hoá ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong nền sản xuất hiện đại, lao động trong môi trường công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất hoặc tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là giai cấp bị áp bức, bị tước hết mọi quyền sở hữu tư liệu sản xuất, hoặc về cơ bản không
có tư liệu sản xuất; làm thuê trong nền sản xuất công nghiệp tư bản chủ nghĩa, bị giai cấp tư sản thống trị, bóc lột giá trị thặng dư; là giai cấp đối lập với giai cấp tư sản về lợi ích cơ bản; giai cấp có khả năng lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ trong toàn thể dân tộc tiến hành cuộc cải biến cách mạng, thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội
1.1.2 Khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam
Từ khái niệm về giai cấp công nhân hiện đại nêu trên, một vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra là: giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay bao gồm những ai? Cơ cấu và vai trò của nó ra sao?
Nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ là tất yếu khách quan Đó là
Trang 20những vấn đề đã được các Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,
IX, X và XI của Đảng khẳng định
Từ thực tiễn đó và trên cơ sở định nghĩa về giai cấp công nhân hiện
đại, như đã nêu ở trên, có thể nêu lên khái niệm giai cấp công nhân Việt
Nam hiện nay như sau:
Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, đang phát
triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, bao gồm những
người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại
hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, trực tiếp tham gia vào
quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất; là giai cấp có sứ mệnh
lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam;
giai cấp đại diên cho lực lượng sản xuất tiên tiến; đội tiên phong trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Giai cấp công nhân là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH - HĐH
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực
lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, có đóng góp tích cực vào
phong trào công nhân quốc tế và tiến bộ xã hội của toàn thể nhân loại
1.1.3 Khái niệm cơ cấu và cơ cấu giai cấp công nhân
* Khái niệm cơ cấu:
Theo từ điển tiếng Việt, cơ cấu là sự sắp xếp của các yếu tố thành phần
trong một chỉnh thể thống nhất
Nghiên cứu về cơ cấu thực chất là nghiên cứu đến tác động giữa cá thể
và tập thể, giữa bộ phận và toàn thể, giữa thành phần và chỉnh thể Trên cơ
Trang 21phận để có thể phát huy đến mức tối đa chức năng của các chỉnh thể Tìm hiểu khái niệm cơ cấu giai cấp công nhân trước hết cần hiểu rõ khái niệm cơ cấu xã hội – giai cấp Theo quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong mọi thời đại lịch sử, cơ cấu xã hội- giai cấp do nền sản xuất kinh
tế sinh ra và qui định chiều hướng vận động: “trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội- cơ cấu này tất yếu phải do nền sản xuất kinh tế tạo ra- mà cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”.[ 17, tr 509]
* Khái niệm cơ cấu giai cấp công nhân
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự nhảy vọt về chất của tính chất lao động và cơ cấu thành phần xã hội Các ngành sản xuất được chuyên môn hoá cao, lao động có tính sáng tạo ngày càng chiếm địa vị chủ yếu Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tác động nhiều mặt đến số lượng, chất lượng và cơ cấu giai cấp công nhân
Trong từng ngành, số lượng công nhân có thể giảm tương đối do áp dụng công nghệ mới cho năng suất cao nhưng nhìn chung số lượng công nhân vẫn tăng lên do tác động của công nghệ mới làm đa dạng các ngành nghề và dịch
vụ Ở các nước phát triển, cơ cấu của giai cấp công nhân có nhiều thay đổi Trong nhiều ngành công nghiệp truyền thống số lượng công nhân giảm đi trong khi đó số công nhân trong các ngành công nghiệp hiện đại, công nghiệp mũi nhọn, các ngành dịch vụ số lượng công nhân tăng lên Số công nhân các ngành khai thác mỏ, luyện kim, cơ khí chế tạo giảm rõ rệt Số công nhân các ngành vi điện tử, điện tử, máy tính, công nghiệp vũ trụ… lại phát triển mạnh
Trang 22Ở các nước đang phát triển, cơ cấu đội ngũ công nhân cũng có biến đổi song lực lượng công nhân công nghiệp truyền thống vẫn là lực lượng chủ yếu
Ở Việt Nam, tại Hội nghị trung ương Đảng lần thứ Bảy, Khoá VII, đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Ngày nay, đội ngũ công nhân không chỉ là những người lao động sản xuất và dịch vụ công nghiệp thuộc doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã mà còn bao gồm những công nhân lao động khu vực tư nhân cá thể, hợp tác liên doanh với nước ngoài… Xu hướng trí thức hoá công nhân, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc, tăng cường yếu tố trí tuệ và lao động trí óc ngay trong dây chuyền công nghiệp đang tăng lên” Tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII, năm
1998, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã phát biểu: “Giai cấp công nhân có mặt trong công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải….”
Từ lý luận về cơ cấu có thể hiểu khái niệm cơ cấu giai cấp công nhân là khái niệm dùng để chỉ những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành nghề và được xem xét dưới góc độ cấu trúc theo ngành nghề, thành phần kinh tế, trình độ văn hóa, giới tính, độ tuổi… Cơ cấu giai cấp công nhân tuy là một yếu tố thuộc về phạm trù số lượng nhưng cũng phản ánh chính xác chất lượng của giai cấp công nhân Có nhiều dạng cơ cấu của một giai cấp dựa trên các tiêu chí chủ yếu như: ý thức chính trị, ngành nghề, trình độ tay nghề, trình độ văn hóa, giới tính, tuổi tác, tính chất công việc…
1.2 Cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và sự cần thiết phải chuyển biến cơ cấu thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 23Một trong những đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, với nhiều hình thức sở hữu, và những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng Đặc trưng kinh tế ấy chẳng những quy định tính chất phức tạp và đa dạng của cơ cấu xã hội nói chung ở nước ta trong thời kỳ quá độ,
mà còn quy định tính chất đa dạng, phức tạp của cơ cấu giai cấp công nhân nói riêng
Cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam bao gồm những người lao động thuộc mọi trình độ, ngành nghề khác nhau, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế Cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam có thể được xét theo các loại hình cơ bản sau:
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo thành phần kinh tế là cơ cấu biểu hiện ở số lượng công nhân có mặt trong các thành phần kinh tế theo quy định của Nhà nước bao gồm: kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo ý thức chính trị là cơ cấu biểu hiện
ở trình độ giác ngộ giai cấp, sự hiểu biết về giai cấp, dân tộc, nhân loại Đối với giai cấp công nhân Việt Nam, ý thức chính trị được đánh giá bởi khả năng nắm bắt, hiểu biết lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khả năng nhận thức sứ mệnh lịch sử của giai cấp, khả năng hiểu biết đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước…
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo ngành nghề là cơ cấu tỷ lệ công nhân ở các ngành nghề Mỗi ngành nghề đều có yêu cầu đội ngũ công nhân
Trang 24cần có những khả năng riêng Điều này đòi hỏi công tác đào tạo công nhân phải được thực hiện một cách bài bản Ở nước ta hiện nay, các ngành sản xuất công nghiệp được chia theo nhiều nhóm ngành như: công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng hoặc cơ cấu theo từng ngành: ngành thép, điện, than, cơ khí, dày da, may mặc, dịch vụ công nghiệp, lâm nghiệp Theo
đó đội ngũ công nhân cũng được chia thành công nhân công nghiệp nặng, công nhân sản xuất hàng tiêu dùng, công nhân ngành điện, công nhân ngành than, công nhân cơ khí, công nhân mỏ, công nhân ngành dày da, công nhân lâm nghiệp
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo trình độ chuyên môn, tay nghề, bậc thợ là cơ cấu dựa vào trình độ nghề nghiệp của đội ngũ công nhân Ở nước ta hiện nay công nhân thường được chia làm 7 bậc, những công nhân có bậc 6, bậc 7 được gọi là công nhân bậc cao Trình độ chuyên môn nghề nghiệp của công nhân còn được thể hiện ở các bậc đào tào: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo trình độ văn hoá là cơ cấu dựa vào trình độ học vấn của đội ngũ công nhân, được chia từ tiểu học, trung học cơ
Trang 25và hoàn thành được khác nhau Nhu cầu về ăn, mặc, ở, sở thích, chức năng thiên bẩm cũng khác nhau
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo việc làm là cơ cấu dựa vào tính chất, mức độ công việc: có việc làm thường xuyên, ổn định; không thường xuyên, tạm thời; có hợp đồng dài hạn được tham gia bảo hiểm xã hội hay hợp đồng ngắn hạn, không được tham gia bảo hiểm, hợp đồng không thời hạn, hợp đồng hời vụ
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo mức độ thu nhập là cơ cấu giai cấp công nhân dựa vào thu nhập thực tế của công nhân Thu nhập ở mỗi ngành nghề là khác nhau, ở mỗi loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau, mỗi vùng miền khác nhau Độ chênh lệch giữa công nhân có thu nhập cao và số công nhân có thu nhập thấp không chỉ thể hiện mức sống mà còn là chỉ số cho thấy
sự thuần nhất hay tính chất phức tạp về sự phân tầng trong giai cấp công nhân
- Cơ cấu giai cấp công nhân xét theo vùng lãnh thổ là cơ cấu dựa vào
số lượng công nhân ở các vùng, miền của đất nước: miền núi, nông thôn, đô thị, vùng ven biển, hải đảo, biên giới, trong nước, nước ngoài
Chính sự phức tạp trong cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đòi hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu đề từ đó định ra những chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể để sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam theo chiều hướng tích cực, góp phần vào việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh
1.2.2 Sự cần thiết phải chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
* Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Trang 26Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến trên thế giới, là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế với nhau, “là quá trình liên kết kinh tế có mục tiêu, định hướng cụ thể gắn
với phạm vi, cấp độ cũng như điều kiện cụ thể của mỗi nước”[29, tr 50] Nói
rõ hơn, hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, EU, AFTA và nhiều tam giác phát triển khác cũng do hội nhập kinh
tế quốc tế đem lại Hội nhập kinh tế quốc tế là cách tiếp cận khác của toàn cầu hóa kinh tế
Theo xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đã và đang cố gắng từng bước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như sau này Bởi một nước mà đi ngược với xu hướng chung của thời đại sẽ trở nên lạc hậu và bị cô lập Hơn thế nữa, một nước đang phát triển, lại vừa trải qua chiến tranh tàn khốc, ác liệt như Việt Nam thì việc chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới lại càng cần thiết hơn bao giờ hết
Đại hội lần thứ XI của Đảng đã khẳng định chủ trương “mở rộng, nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế” Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, trong những năm qua nước
ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại:
Trang 27Một là, phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việc tham gia ký Hiệp định Pari (ngày 23-10-1991) về một giải pháp toàn diện cho vấn đề Campuchia, đã mở ra tiền đề để Việt Nam thúc đẩy quan hệ với khu vực và cộng đồng quốc tế Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (ngày 10-11-1991); tháng 11-1992 Chính phủ Nhật Bản quyết định nối lại viên trợ ODA cho Việt Nam; bình thường hóa quan hệ với Hoa
Kỳ (ngày 11-7-1995) Tháng 7-1995 Việt Nam ra nhập ASEAN, đánh dấu sự hội nhập của nước ta với khu vực Đông Nam Á
Hai là, giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan Đàm phán thành công với Malaixia về giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở vùng biển chồng lấn giữa hai nước Thu hẹp diện tranh chấp vùng biển giữa ta và các nước ASEAN Đã ký với Trung Quốc Hiệp ước về phân định biên giới trên bộ, Hiệp định phân Vịnh Bắc Bộ
và Hiệp định hợp tác về nghề cá
Ba là, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có quan hệ chính thức với tất cả các nước lớn, kể cả 5 nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tất cả các nước lớn đều coi trọng vai trò của Việt Nam ở Đông Nam Á
Đã ký Hiệp định khung về hợp tác với EU (năm 1995); năm 1999 ký thoả thuận với Trung Quốc khung khổ quan hệ “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”; tháng 5-2008 thiết lập quan
hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc; ngày
13-7-2001, ký kết Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ; tuyên
bố về quan hệ đối tác tin cậy và ổn định lâu dài với Nhật bản (năm 2002) Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 169 nước trong tổng số hơn
200 nước trên thế giới Tháng 10-2007, Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã bầu
Trang 28Việt Nam làm uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ
2008-2009
Bốn là, tham gia các tổ chức quốc tế Năm 1993, Việt Nam khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thê giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB); sau khi gia nhập ASEAN (tháng 7-1995) Việt Nam đã tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); tháng 3-1996, tham gia Diễn đàn hợp tác kinh
tế Á - Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập; tháng 11-1998, gia nhập tổ chức Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); ngày 11-1-2007, Việt Nam được kết nạp là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiêp thu khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý Về mở rộng thị trường : Nước ta đã tạo dựng được quan hệ kinh tế thương mại với trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 74 nước áp dụng qui chế tối huệ quốc ; thiết lập và ký kết hiệp định thương mại hai chiều với gần 90 nước và vùng lãnh thổ Nếu năm
1986 kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 789 triệu USD, đến năm 2007 đạt 48 tỷ USD; năm 2008 đạt khoảng 62,9 tỷ USD Việt Nam đã thủ hút được khối lượng lớn đầu tư nước ngoài Năm 2007, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt 20,3 tỷ USD; năm 2008 đạt khoảng 65 tỷ USD Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để nước ta tiếp cận những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới Nhiều công nghệ hiện đại, dây chuyền sản xuất tiên tiến được sử dụng đã tạo nên bước phát triển mới trong các ngành sản xuất Đồng thời, thông qua các dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý sản xuất hiện đại
Trang 29Sáu là: từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh
tế vào môi trường cạnh tranh Trong quá trình hội nhập, nhiều doanh nghiệp
đã đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng, không ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển Tư duy làm
ăn mới, lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh làm thước đo và đội ngũ các doanh nghiệp mới năng động, sáng tạo, có kiến thức quản lý đang hình thành
Với những kết quả đó, chúng ta đã từng bước thực hiện được chủ trương kết hợp phát huy nội lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp đưa đến những thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc Trong quá trình hội nhập, với nội lực dồi dào sẵn có cùng với ngoại lực sẽ tạo ra thời cơ phát triển kinh tế Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh
và Nhà nước đề ra:
Trang 30Một là: Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt Nam
Hai là: Giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa
phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại
Ba là: Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế;
cố gắng thúc đẩy mặt hợp tác, nhưng vẫn phải đấu tranh dưới hình thức và mức độ thích hợp với từng đối tác; đấu tranh để hợp tác; tránh trực diện đối đầu, tránh để bị đẩy vào thế cô lập
Bốn là: Mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thê
giới, không phân biệt chế độ chính trị xã hội Coi trọng quan hệ hoà bình, hợp tác với khu vực;chủ động tham gia các tổ chức đa phương, khu vực toàn cầu
Năm là: Kết hợp đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối
ngoại nhân dân Xác định hội nhập kinh tế quốc tế là công việc của toàn dân
Sáu là: Giữ vững ổn định chính trị, kinh tế – xã hội; giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình hội nhập kinh tê quốc tế
Bảy là: Phát huy tối đa nội lực đi đôi với thu hút và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực bên ngoài; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; tạo ra và
sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tám là: Trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập WTO, đẩy nhanh
nhịp độ cải cách thể chế, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước
Chín là: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát
Trang 31trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh đa dạng, phức tạp của thời đại ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam cần có sự chuyển biến theo hướng tích cực Và đó
là điều tất yếu trong quá trình xây dựng giai cấp công nhân Trong những năm đổi mới, giai cấp công nhân Việt Nam tuy tăng nhanh về số lượng, biến đổi mạnh về cơ cấu theo hướng tích cực và chất lượng cũng từng bước được nâng lên song so với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế thì giai cấp công nhân vẫn còn nhiều bất cập Trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, đang mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu công nhân kỹ thuật Tình trạng thừa lao động giản đơn, thiếu công nhân kỹ thuật lành nghề, cán bộ quản lý và những chuyên gia kỹ thuật giỏi đang diễn ra ở mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, tình trạng trên đang ảnh hưởng trực tiếp đến đầu tư đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước
và hội nhập kinh tế quốc tế
Đặc biệt công nhân nước ta đa số xuất thân từ nông dân, chưa được quan tâm đào tạo có hệ thống, nên ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp còn hạn chế, sự am hiểu chính sách, pháp luật, ý thức giác ngộ giai cấp, giác ngộ chính trị còn thấp, ý thức phấn đấu để trở thành Đảng viên, tinh thần tự giác tham gia các tổ chức quần chúng của công nhân chưa cao Trong khi tác động mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đến GCCN nước ta đang tạo ra sự phân hóa giàu nghèo, sự phân tầng xã hội nói chung, phân tầng trong GCCN nói riêng đã đang làm ảnh hưởng đến tính thống nhất trong GCCN, làm ảnh hướng đến phát huy vai trò của GCCN trong sự nghiệp CNH,HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Do
Trang 32vậy chuyển biến cơ cấu GCCN Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế, quốc tế là đòi hỏi khách quan, cấp bách và cần thiết
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện để giai cấp công nhân Việt Nam tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm với các nước Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội để Việt Nam thu hút ngày càng nhiều dự án đầu tư nước ngoài trên nhiều lĩnh vực,các ngành kinh tế ngày càng phát triển, các vùng kinh tế mới hình thành Kinh tế phát triển theo đó giai cấp công nhân nước ta sẽ ngày càng tăng nhanh về số lượng, đảm bảo về chất lượng, có cơ cấu phù hợp với phân công lao động quốc tế, tạo điều kiện cho đội ngũ công nhân rèn luyện tay nghề, kỹ năng làm việc, nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và xây dựng tác phong công nghiệp Lực lượng công nhân được đào tạo có hệ thống, được rèn luyện trong điều kiện sản xuất bằng công nghệ tiên tiến, được trí thức hóa và trở thành lực lượng nòng cốt Nếu cơ cấu giai cấp công nhân hợp lý thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế cũng như góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và ngược lại
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi cao về kỹ thuật và ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, làm cho năng suất lao động
xã hội cao, thu nhập và đời sống của công nhân lao động tăng lên, tạo điều kiện cho công nhân cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần nhưng lại đặt ra vấn
đề xã hội khác là cần phân phối công bằng và tăng cường bồi dưỡng lập trường giai cấp và bản lĩnh cách mạng cho công nhân
Hội nhập kinh tế quốc tế tuy mang lại những thành tựu lớn lao cho đất nước về các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội nhưng cũng đặt ra không
ít những thách thức đối với giai cấp công nhân nước ta hiện nay Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi giai cấp công nhân phải nâng cao tinh thần trách
Trang 33chủ khoa học công nghệ tiên tiến Đó là thách thức lớn đối với giai cấp công nhân Việt Nam vốn sinh trưởng ở một nước nông nghiệp và phần lớn công nhân xuất thân từ nông dân Sự cạnh tranh gay gắt trên các lĩnh vực đòi hỏi
cả dân tộc ta nói chung và giai cấp công nhân nói riêng phải vươn lên không ngừng trên mọi lĩnh vực, đó là động lực thúc đẩy mạnh mẽ giai cấp công nhân phát triển toàn diện Do đặc điểm giai cấp công nhân còn nhiều hạn chế
vì vậy việc giai cấp công nhân Việt Nam phát triển đáp ứng yêu câu của hội nhập kinh tế quốc tế là điều hết sức cần thiết Bản thân giai cấp công nhân Việt Nam đang phát triển, còn có nhiều hạn chế, yếu kém trong đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề và phẩm chất, đạo đức, kỷ luật, tác phong công nghiệp đòi hỏi phải được xây dựng và hoàn thiện trước yêu cầu của việc mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế, phát triển nền kinh tế tri thức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh về mọi mặt, phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, nâng cao trình độ học vấn và tay nghề, có năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, có tác phong công nghiệp và ý thức tổ chức, kỷ luật, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, làm nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc” [6, tr 123]
Để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, đòi hỏi phải có một GCCN phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, có trình độ học vấn, tay nghề cao, có ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp và có cơ cấu hợp lý Đặc biệt tháng 11 năm
2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, sức ép cạnh tranh trong và ngoài nước ngày càng tăng Mặt khác gia nhập tổ chức WTO, đưa đến việc tham gia vào sự phân công lao động trên
Trang 34phạm vi quốc tế, nên việc di chuyển lao động cũng tất yếu diễn ra không chỉ
ở trong nước mà còn ở phạm vi quốc tế Điều này đòi hỏi GCCN phải vững mạnh, đủ năng lực trình độ, bản lĩnh thực hiện được nhiệm vụ CNH,HĐH đất nước và mới có khả năng hội nhập với nền kinh tế thế giới, mới đảm bảo cạnh tranh thắng lợi và mới giữ vững được vai trò lãnh đạo cách mạng của GCCN Việt Nam thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam Do vậy việc chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam theo hướng tích cực, hợp lý là yêu cầu cấp bách và là nhiệm vụ phải được tiến hành thường xuyên liên tục
Trong những năm gần đây, khoa học kỹ thuật đang phát triển với tốc độ ngày càng nhanh và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, kinh tế tri thức đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia Trình độ tri thức, văn hóa của công nhân các nước từng bước được nâng cao, làm xuất hiện ngày càng rõ vai trò của nhóm công nhân - trí thức, đang trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vật chất và giữ vai trò quan trọng trong sản xuất, kinh doanh, đời sống vật chất tinh thần của họ cũng từng bước được cải thiện Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, cạnh tranh trong và ngoài nước ngày càng gay gắt, đối với GCCN, phẩm chất quan trọng nhất là tính linh hoạt, sáng tạo và cơ động về nghề nghiệp Bởi vậy, những yếu tố bắt buộc phải có đối với công nhân, dưới góc độ là lực lượng lao động chủ yếu nhất của xã hội phải có trình độ giáo dục cơ bản vững chắc, kiến thức đào tạo
về chuyên môn phải sâu rộng và trình độ hiểu biết về chính trị, văn hóa, lối sống phải được nâng cao và thường xuyên được bổ sung về kỹ năng và tri thức trong mọi lĩnh vực hoạt động Mà những điều đó đang rất thiếu ở đội ngũ công nhân nước ta Vì thế, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi cấp bách phải
Trang 35lượng, nâng cao về chất lượng và hợp lý về cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển trong xu thế toàn cầu hoá
Để đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏi cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam phải chuyển biến theo hướng tăng tỷ
lệ công nhân có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp cao, có ý thức tổ chức kỷ luật, cơ cấu giai cấp công nhân phải đồng bộ Đó cũng chính là yêu cầu xây dựng giai cấp công nhân nhằm thích ứng được với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
1.3 Vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam
1.3.1 Khái niệm nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan là những khái niệm phản ánh khái quát, tổng hợp những mặt cơ bản nhất của hoạt động con người Dùng khái niệm “nhân tố” là nói lên cái trực tiếp gây ra sự biến đổi Nó vừa là nguyên nhân, vừa là động lực thúc đẩy hoạt động của con người đồng thời định hướng cho hoạt động đó Bất kỳ ở đâu có sự tác động qua lại giữa nhân
tố chủ quan và nhân tố khách quan cũng đều diễn ra những biến đổi nhất định, đều dẫn tới sự vận động và phát triển Vì thế, khái niệm nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan được dùng để phản ánh quá trình biến đổi, vận động và phát triển
* Nhân tố khách quan
Khi nghiên cứu khái niệm nhân tố khách quan thì chúng ta phải hiểu rõ khái niệm có liên quan trực tiếp đến hoạt động của con người, đó là khái niệm: khách thể, cái khách quan Theo đó, khách thể của hoạt động là tất cả những gì mà chủ thể tác động vào Khách thể không phải là toàn bộ hiện thực khách quan nói chung mà chỉ là những hiện thực khách quan (sự vật, hiện tượng, quá trình…) chịu sự tác động của chủ thể Trong quá trình tác động ấy,
Trang 36các sự vật, hiện tượng, quá trình mới bộc lộ những thuộc tính, những mối liên
hệ, những quy luật của mình và trở thành khách thể Trong hoạt động thực tiễn, con người không chỉ tác động vào giới tự nhiên nhằm cải tạo nó mà còn tác động vào các lực lượng xã hội, các quan hệ xã hội nhằm cải tạo các lực lượng và các quan hệ xã hội ấy Do đó, khách thể không chỉ là những vật thể vật chất tự nhiên của hoạt động con người mà còn có cả những khách thể xã hội bao gồm những quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị - xã hội, quan hệ tư tưởng…Khi xem xét một cái gì là khách quan thì phải đặt nó trong mối quan
hệ với chủ thể Không thể đồng nhất cái khách quan với thế giới vật chất, mà cái khách quan nói đến ở đây chính là nằm trong mối quan hệ với hoạt động của chủ thể
Nhân tố khách quan không đồng nhất với cái khách quan nói chung Nhân tố khách quan chỉ là bộ phận của cái khách quan tham gia vào hoạt động của chủ thể Mỗi chủ thể trong hoạt động của mình bao giờ cũng tương tác với những khách thể cụ thể, có ảnh hưởng nhất định tới kết quả hoạt động của chủ thể Những khách thể ấy đóng vai trò là nhân tố chủ quan Vì thế
“nhân tố khách quan là tất cả những gì tồn tại bên ngoài chủ thể, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể và tham gia trực tiếp vào hoạt động của chủ thể” [18, tr 23] Nhân tố khách quan bao gồm: những điều kiện vật chất tồn tại một cách khách quan trong hoạt động của con người, những hiện tượng tinh thần tồn tại với tư cách là cái con người phải tính đến trong hoạt động của mình, những quy luật, những khả năng khách quan trong sự vận động và phát triển của khách thể… Tất cả những nhân tố này đều tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức và ảnh hưởng tới hoạt động của chủ thể
* Nhân tố chủ quan
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù “nhân tố chủ quan” Có
Trang 37có ý kiến đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có ý thức của con người nói chung Những quan điểm này tuy có mặt hợp lý nhưng vẫn còn hạn chế vì chưa làm rõ được đặc trưng của nhân tố chủ quan – tức là những cái thuộc về chủ thể hoạt động bởi vì hoạt động của con người không chỉ phụ thuộc vào nhân tố chủ quan và còn bị quy định bởi các nhân tố khách quan Ngoài các quan điểm trên còn có quan điểm đồng nhất nhân tố chủ quan với ý thức của chủ thể hoạt động A.K.Ulêđốp đã cho rằng “nhân tố chủ quan không phải là
ý thức nói chung (cũng hệt như hoạt động); mà là cái ý thức đã trở thành sự chỉ đạo và phương châm của hoạt động Nói cách khác nó đã biến thành đặc điểm nhất định của hành vi hoạt động của chủ thể” [40, tr 69] Chúng ta không thể đồng nhất nhân tố chủ quan với khái niệm “cái chủ quan” Cái chủ quan là tất cả những gì thuộc về chủ thể và phụ thuộc vào chủ thể Còn nhân
tố chủ quan là những gì thuộc về chủ thể, phụ thuộc vào chủ thể và tham gia trực tiếp vào hoạt động của chủ thể
Vì thế, nhân tố chủ quan bao gồm các yếu tố của cái chủ quan đáp ứng được các yêu cầu: Thứ nhất là trực tiếp tham gia vào hoạt động, thứ hai là chỉ đạo, điều chỉnh, định hướng hoạt động, thứ ba là hoạt động của chủ thể gây ra
sự biến đổi ở chủ thể Như vậy: Nhân tố chủ quan là phạm trù quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc trưng cho hoạt động tích cực, có ý thức của quần chúng nhân dân, của các giai cấp, đảng phái, nhóm xã hội và của từng cá nhân nhằm biến đổi và cải tạo hiện thực xã hội Tất cả những gì thuộc chủ thể, cùng tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động của chủ thể nhằm tác động vào hoàn cảnh khách quan để biến đổi nó đều thuộc phạm trù nhân tố chủ quan
1.3.2 Vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam
Trang 38Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế gắn chặt với sự biến đổi về cơ cấu xã hội, trong đó, sự biến đổi về công nghệ, khoa học, kỹ thuật có ý nghĩa mở đầu, tác động đến sự biến đổi về cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội Có thể nói, sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân gắn liền với sự biến đổi xã hội và nó chịu sự tác động rất lớn bởi các yếu tố xã hội Qua đó ta có thể thấy được các nhân tố tác động đến
sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế có liên quan và được quy định bởi một hệ thống tổng hợp các nhân tố chủ quan và khách quan Các nhân tố này đan xem, thâm nhập vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau theo nhiều chiều, trong mối quan hệ biện chứng Mỗi nhân tố có vai trò, vị trí và những nét đặc trưng riêng Và trong từng thời điểm, nó phát huy tác dụng khác nhau do môi trường, hoàn cảnh cụ thể
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, cơ cấu giai cấp công nhân nước ta cũng có nhiều biến động to lớn Sự biến động đó của giai cấp công nhân liên quan đến đường lối phát triển kinh tế với chính sách sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế trong mỗi giai đoạn của Đảng và Nhà nước, với chủ trương
“mở cửa” và thiết lập quan hệ hợp tác về kinh tế, khoa học - kỹ thuật và lao động với các nước Đồng thời, nó cũng phản ánh rất rõ diễn biến của nền công nghiệp non trẻ của nước ta trong những năm qua Các nhân tố khách quan tác động đến sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam bao
gồm: nhân tố toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế tri thức, tình hình chính trị thế giới, sự tác động của nền kinh tế thị trường và sự phát triển nhan của khoa học công nghệ Hệ thống các nhân tố khách quan trên có ý nghĩa
quan trọng đến sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam Nhưng nhân tố có ý nghĩa trực tiếp biến xu hướng khách quan thành hiện thực là
Trang 39Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ chịu sự tác động của các nhân tố khách quan
mà còn được quy định bởi các nhân tố chủ quan bao gồm: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tổ chức hoạt động Công đoàn và bản thân giai cấp công nhân
Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động Đảng là đội tiên phong của GCCN, là bộ phận tiên tiến nhất, giác ngộ nhất và là tổ chức cao nhất của GCCN GCCN là cơ sở xã hội- chính trị trực tiếp và có tầm quan trọng đặc biệt của Đảng GCCN thông qua Đảng của mình để lãnh đạo cách mạng Đó là nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và là quan điểm cơ bản của Đảng ta Ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, đứng trên lập trường của giai cấp công nhân đề hoạch định đường lối, đề ra chiến lược, sách lược đúng đắn nhằm phát triển kinh tế xã hội Những quan điểm cơ bản, chủ trương về xây dựng giai cấp công nhân được phản ánh trong nhiều văn kiện của Đảng
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng nước ta, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã khẳng định mục tiêu lý tưởng phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ ngày càng nhanh và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, Đảng ta
đã đề ra đường lối, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
Trang 40chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đảng ta đã xác định văn hóa là động lực của phát triển
và giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu Đảng đã đề ra nhiệm vụ xây dựng
và phát triển văn hóa, xã hội, phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, từng bước xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, có lòng nhân ái, khoan dung Bên cạnh đó, Đảng còn lãnh đạo triển khai thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao chất lượng giai cấp công nhân; Đảng lãnh đạo phát huy vai trò của Đảng viên để tiên phong trong thực hiện đường lối, chủ trương Kết quả đó có ảnh hưởng trực tiếp quyết định đến sự biến động số lượng, chất lượng và cơ cấu giai cấp công nhân nước ta
Căn cứ vào những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trong những năm qua về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta càng thấy được vai trò lãnh đạo của Đảng
là nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong các thời kỳ mà biểu hiện rõ rệt nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Với đường lối chỉ đạo đúng đắn và những phương hướng cơ bản được đề ra đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự chuyển biến cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam
* Vai trò quản lý của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Sau khi giai cấp công nhân đã giành được chính quyền, Nhà nước là công cụ chủ yếu của giai cấp công nhân để tiến hành cách mạng XHCN Nhà