Cùng chung dòng chảy đó, chúng tôi hướng về triết học Hy Lạp cổ đại - một trong những điểm xuất phát quan trọng của toàn bộ lịch sử triết học vì nó đã đặt ra và tìm cách giải quyết hầu h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM QUỲNH TRANG
QUAN NIỆM CỦA XÔCRÁT
VỀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Triết học
Hà Nội-2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM QUỲNH TRANG
QUAN NIỆM CỦA XÔCRÁT
VỀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TRIẾT HỌC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Minh Hợp
Hà Nội-2011
Trang 3MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 9
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC XÔCRÁT 9
1.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của triết học Xôcrát 9
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa 9
1.1.2 Tiền đề tư tưởng 14
1.2 Khái quát chung về triết học Xôcrát 30
1.2.1 Cuộc đời và con người Xôcrát 30
1.2.2 Những nội dung cơ bản của triết học Xôcrát 35
1.2.2.1 Tư tưởng nhân học 35
1.2.2.2 Học thuyết về phương pháp: phương pháp bà đỡ 39
Chương 2 QUAN NIỆM CỦA XÔCRÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TRIẾT HỌC 46
2.1 Cách đặt vấn đề của Xôcrát về đối tượng của triết học 46
2.2 Tư tưởng triết học đạo đức - biểu hiện rõ nhất của quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học 54
2.2.1 Đức hạnh - khái niệm xuất phát của đạo đức học Xôcrát 54
2.2.2 Đạo đức học cá nhân 55
2.2.3 Đạo đức học cộng đồng 61
2.3 Tính chất duy lý của đạo đức học Xôcrát 66
C KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập và tiếp biến văn hoá toàn cầu, những vấn đề về đạo đức đang được đặt ra cấp thiết Các nhà triết học đang nỗ lực đánh giá lại những giá trị tinh thần của quá khứ để hoạch định ra một đường hướng mới cho thời đại mới
Văn hoá đối thoại đã và đang khẳng định ưu thế của mình so với xu hướng đối đầu trước đó Trong chu trình mới ấy, các nền văn hoá nói chung cũng như triết học phương Đông và phương Tây nói riêng cũng tìm thấy trong nhau - qua sự soi rọi - những mặt tích cực và hạn chế, những tiếng nói chung
và những điểm dị biệt, độc đáo
Cùng chung dòng chảy đó, chúng tôi hướng về triết học Hy Lạp cổ đại
- một trong những điểm xuất phát quan trọng của toàn bộ lịch sử triết học vì
nó đã đặt ra và tìm cách giải quyết hầu hết các vấn đề của triết học mà trước hết là vấn đề đối tượng của triết học để rồi sau này các trường phái triết học khác nhau sẽ từng bước giải quyết lại theo yêu cầu của thời đại mình Nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại cùng với quan niệm về đối tượng của triết học, chúng tôi thực sự mặc tưởng về một con người mà bản thân cuộc đời ông là một sự thể nghiệm vĩ đại cho triết học của mình - đó là Xôcrát
Việc chọn đề tài "Quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học"
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình là nhằm làm sáng tỏ hơn điều này ở Xôcrát, đồng thời qua đó góp một phần công sức nhỏ bé của chúng tôi để giữ mãi mạch nguồn bất tận của tư tưởng, của những hạt giống nhân văn đã được ươm mầm từ quá khứ giúp thực tại nở hoa
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Triết học Hy Lạp cổ đại là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử triết học, nó được coi là cội nguồn của triết học hiện đại Chính vì thế triết học
Trang 5và các triết gia thời kỳ này được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới những góc độ đa dạng Với tâm huyết của mình, chúng tôi tiếp cận triết học Hy Lạp cổ đại trên phương diện đối tượng của triết học thông qua một triết gia độc đáo đó là Xôcrát Về Xôcrát có thể kể đến các công trình sau:
Nhóm thứ nhất là các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học trong
đó có triết học Hy Lạp cổ đại Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả
đã trình bày dưới dạng khái quát những tư tưởng cơ bản của triết học Xôcrát, như phương pháp “bà đỡ”, thuật “mỉa mai”, quan niệm của Xôcrát về “thông thái”, thuyết duy lý về đạo đức của Xôcrát cũng như lập trường chính trị - xã hội của ông Đây là một nguồn tư liệu quan trọng để dựa vào đó, chúng tôi phân tích quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học
Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học Hy Lạp
cổ đại Các tác giả của nhóm các công trình này phân tích triết học Xôcrát theo lược đồ quen thuộc trong việc giới thiệu lịch sử triết học, theo đó mỗi triết gia (trong đó có Xôcrát) được giới thiệu qua các phần chủ yếu, như cuộc đời và sự nghiệp, quan điểm bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức học, nhân học, triết học chính trị - xã hội Tuy nhiên, không một công trình nào nêu trên đã đề cập tới bước ngoặt được Xôcrát thực hiện trong triết học có liên hệ trực tiếp với quan niệm của ông về sự đặc thù của tri thức triết học xét trên các phương diện nội dung và phương pháp, tức là vấn đề xác định đối tượng riêng của triết học cùng với định hướng tìm tòi của nó
Hai nhóm công trình trên giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan nhất về vị trí, vai trò của triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và những đóng góp cơ bản của Xôcrát nói riêng đối với diện mạo và thành tựu của triết học từ quá khứ tới nay
Nhóm thứ ba là những tài liệu sáng tạo và cuộc đời, nhân cách của
Xôcrát qua người học trò của ông là Platôn, Xênôphôn và các nhà nghiên cứu
Trang 6Đây là những cuốn sách có giá trị trực tiếp nhất đối với quá trình nghiên cứu của chúng tôi bởi đó là những đối thoại được ghi chép lại, được dịch giả nhiều kinh nghiệm chú giải và những nghiên cứu trực diện nhất về Xôcrát, về cuộc đời và tư tưởng sống động của ông qua các đối thoại con tương đối hoàn chỉnh của Platôn
Về đạo đức và đạo đức học có thể kể đến các công trình nghiên cứu về đạo đức và đạo đức học của Trần Hậu Kiêm, và một số học giả người Nga đã được dịch sang tiếng Việt trong đó bàn về các phạm trù, khái niệm đạo đức cơ bản cũng như quá trình hình thành và phát triển của đạo đức học gắn với tiến trình của lịch sử triết học cũng như quan niệm của các triết gia về đạo đức
Ngoài ra còn không thể không nhắc đến những bài viết được đăng trên Tạp chí Triết học, Tạp chí Khoa học xã hội, v.v , khoá luận, luận văn về đạo đức và đạo đức học, về triết học Hy Lạp cổ đại và một số khía cạnh có liên quan đến triết học Xôcrát Bên cạnh đó là nguồn tài liệu đa dạng nhưng rời rạc trên mạng Internet
Qua quá trình khái quát các công trình phục vụ cho luận văn, chúng tôi thấy còn một mảng rất lớn các nghiên cứu của các học giả nước ngoài ở các giai đoạn khác nhau nhưng do hạn chế về ngôn ngữ và thời gian nên chúng tôi rất lấy làm tiếc chưa tiếp cận được
Nguồn tư liệu và các trình nghiên cứu càng phong phú, cách tiếp cận càng đa dạng một mặt đem lại cho chúng tôi kiến thức và những gợi ý nhưng mặt khác cũng thu hẹp cơ hội cho chúng tôi Chính vì vậy, để viết về một vấn
đề không phải là quá mới nhưng phải thể hiện được thành quả riêng có, chúng tôi đã thực sự nỗ lực tiến vào chiều sâu, khái quát trên những mặt và làm chặt chẽ hơn những nội dung mà các nghiên cứu khác chưa có được
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 7Mục đích: Phân tích các điểu kiện, tiền đề cho sự hình thành và nội
dung cơ bản của quan niệm Xôcrát về đối tượng của triết học
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Trình bày các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và tiền đề
tư tưởng cho sự ra đời của triết học Xôcrát
- Phân tích các nội dung cơ bản của triết học Xôcrát
- Làm rõ các nội dung cơ bản trong quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được triển khai trên cơ sở lý luận duy vật lịch sử về mối quan
hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, quan điểm Mác - Lênin về lịch sử triết học và đối tượng của triết học
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là các nguyên tắc nghiên cứu lịch
sử triết học của triết học Mác – Lênin, cũng như các nguyên tắc nghiên cứu cụ thể trong nghiên cứu lịch sử triết học, như nguyên tắc thống nhất giữa lịch sử
và lôgíc, giữa phân tích và tổng hợp, đi từ trừu tượng đến cụ thể, quy nạp và diễn dịch, văn bản học, đối chiếu, so sánh, v.v
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học
Phạm vi của luận văn là những tư tưởng của Xôcrát về đối tượng của triết học được để lại trong di sản triết học đã dịch sang tiếng Việt và những công trình nghiên cứu về triết học Xôcrát
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu và hệ thống hoá những biểu hiện cơ bản của quan niệm của Xôcrát về đối tượng của triết học, qua đó làm nổi bật giá trị của các tư tưởng đó
Trang 87 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm tri thức
về các vấn đề của triết học Xôcrát thời Hy Lạp cổ đại và có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy lịch sử triết học, đạo đức học và cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Trang 9B NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC XÔCRÁT 1.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa và tiền đề
tư tưởng cho sự ra đời của triết học Xôcrát
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa
* Kinh tế:
Xôcrát và các trường phái của ông cùng với nguyên tử luận của Đêmôcrít, phái nguỵ biện, học thuyết Platon, hệ thống Aritxtốt đã làm nên diện mạo của triết học cổ điển Hy Lạp - giai đoạn kéo dài gần một trăm năm -
từ năm 430 đến năm 322 TCN Ở thời gian này, những cuộc chiến tranh liên miên đã làm chấn động Hy Lạp trong suốt một thế kỷ - từ năm 431 đến năm
338 TCN Toàn bộ nếp sống nhà nước - thành bang ở Hy Lạp đã phải hứng chịu một cú đòn nghiệt ngã, không chữa lành được Đất đai tập trung vào tay một nhóm ít người, lao động của nô lệ ngày càng đóng vai trò lớn trong sản xuất kinh tế, người làm thuê chiếm số đông trong quân đội Chế độ nhà nước - thành bang lâm vào khủng hoảng Xã hội dựa trên lao động của người tự do dần dần chuyển biến thành xã hội chiếm hữu nô lệ và thiên về các hình thức
tổ chức mang tính quyền uy
* Xã hội:
Năm 337 TCN, hội nghị tất cả các nhà nước - thành bang Hy Lạp đã được tổ chức tại Côranhthơ, tại đây các thành bang Hy Lạp được hợp nhất thành Liên minh Hy Lạp thống nhất do vua Maxêđônia trị vì Như vậy, việc xác lập quyền cai trị của Maxêđônia đối với Hy Lạp đã kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài một thế kỷ vì bá quyền toàn Hy Lạp
Đồng thời từ đây, một thời đại lịch sử lớn đã kết thúc - thời đại hình thành, phát triển và suy tàn của nhà nước - thành bang Cổ đại Tất nhiên, các
Trang 10thành bang Hy Lạp vẫn tiếp tục tồn tại và đời sống bên trong chúng vẫn giữ lại nhiều quy định của thời đại trước Song, nếp sống, mục đích và nội dung nội tại của nó vốn có ở thời đại nhà nước - thành bang cổ điển đã vĩnh viễn đi vào quá vãng
* Chính trị
Thể chế và hệ tư tưởng của nhà nước - thành bang dường như là hạt nhân của nền văn minh Cổ đại, quyết định các đặc điểm cơ bản của mọi lĩnh vực tồn tại của loài người Cổ đại Với đặc điểm cơ bản của nó là: nhà nước - thành bang đảm bảo những điều kiện cho tự do con người ở một chừng mực lớn hơn bất kỳ chế độ xã hội nào khác cho nên nó biến thành nền tảng và động lực của toàn bộ tồn tại xã hội Tự do cá nhân là cơ sở cho mọi thành tựu tinh thần của con người
* Văn hóa
Thế giới quan cổ đại có xu hướng tượng trưng với những bình diện đa dạng Người Hy Lạp cổ quan niệm vũ trụ là một cơ thể sống, vĩnh viễn trẻ Tồn tại đối với người Hy Lạp là một ngôi đền chứa đầy rẫy những bức tượng phát ra ánh sáng của thần linh Người Hy Lạp không phải bao giờ cũng ôn
hoà trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo Nhưng, họ ý thức được độ như
một giá trị Họ coi ý thức như vậy là sự khác biệt cơ bản của thời văn minh so với thời man rợ Đây cũng chính là những tiền đề quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới nhân cách của Xôcrát - một công dân chân chính của nhà nước - thành bang
1.1.2 Tiền đề tư tưởng
Chúng tôi khái quát một cách ước lệ các tiền đề tư tưởng của triết học Xôcrát thành ba nhóm cơ bản sau đây: 1) triết học tự nhiên Hy Lạp sơ kỳ; 2) triết học Đêmôcrít, vì sự mở đầu về mặt tinh thần giai đoạn cổ điển được coi
là sáng tạo của các nhà nguỵ biện đương thời với ông (Prôtago, Gôriát) Nêu
Trang 11bật vai trò của Xôcrát đối với chuyển biến sâu sắc trong toàn bộ tư tưởng triết học thời đại này, người ta đề cập tới "cách mạng Xôcrát" trong triết học Thực chất của nó là ở việc tái định hướng ý thức triết học từ hệ vấn đề nguồn gốc
vũ trụ luận sang đề tài con người Nhân vật quá độ từ một thời đại này sang thời đại khác còn là một người đương thời với Xôcrát, đó là Đêmôcrít - người sáng lập ra nguyên tử luận Học thuyết của ông hợp nhất trong mình hệ vấn đề nguồn gốc vũ trụ luận vốn đặc trưng cho các nhà triết học tiền Xôcrát, với các giải pháp bản thể luận khác về nguyên tắc; và 3) triết học nguỵ biện
* Triết học tự nhiên Hy Lạp sơ kỳ
Triết học Hy Lạp sơ kỳ - bao hàm thời đại từ khi xuất hiện tư duy triết học ở đầu thế kỷ VI TCN cho đến thời đại Xôcrát (cuối thế kỷ V TCN) Triết học Hy Lạp sơ kỳ thường được hiểu là tư tưởng của các nhà triết học tự nhiên (naturphilosophie), tập trung vào nghiên cứu giới tự nhiên Không thể tái hiện quan điểm của từng nhà triết học Hy Lạp sơ kỳ riêng biệt, chúng tôi cố gắng đánh giá khái quát tư tưởng triết học Hy Lạp sơ kỳ với tư cách một trong các tiền đề tư tưởng của triết học Xôcrát như sau: Hàng loạt chủ đề đã xuất hiện
và định hình trong tư tưởng triết học Hy Lạp sơ kỳ, sự hiện diện của chúng cho phép nói tới sự thống nhất về mặt tinh thần của triết học ở thời kỳ tiền Xôcrát Với tất cả những khác biệt và tính độc đáo của các học thuyết tồn tại
ở thời kỳ này thì vẫn có một số các tư tưởng và định hướng tư duy nhất định được các nhà triết học tiền Xôcrát tán thành dưới hình thức nào đó Có thể nêu ra những điểm chung sau đây của triết học Hy Lạp sơ kỳ: 1 Sự giống nhau về đề tài chủ đạo của tư duy Đó là đề tài về nguồn gốc vũ trụ, về sự xuất hiện và cấu trúc của vũ trụ; 2 Quan niệm về sự hình thành vũ trụ từ hỗn loạn (trạng thái bất định và không có trật tự của tồn tại) sang vũ trụ (toàn vẹn
và có trật tự); 3 Tách biệt vấn đề tồn tại đích thực Làm sáng tỏ tồn tại đích thực trong văn cảnh của vấn đề "vạn vật là gì?"; 4 Trực giác về tồn tại đích
Trang 12thực như "một" trong sự khác biệt với vũ trụ hiện có, hữu hình bao quanh như
"nhiều" Tính không đáng tin cậy của "nhiều"; 5 Niềm tin rằng tri thức đích thực chỉ có thể đạt được nhờ tư duy Những biểu tượng trực tiếp, ý kiến và cảm xúc là cái cần được vượt qua; 6 Tư duy triết học và tri thức nó nhận được là cái phục vụ sự hoàn thiện và cải thiện con người, làm trong sạch nó, thúc đẩy phẩm chất đạo đức; 7 Triết học không tách rời khỏi các năng lực khác (tri thức thực chứng), các hình thức tinh thần khác (tôn giáo) cùng không tách khỏi kinh nghiệm sinh hoạt Tất cả những điều nói trên chứng tỏ rằng, triết học Hy Lạp sơ kỳ đã ẩn chứa trong mình mầm mống, tiền đề để sau này, Xôcrát thực hiện sự phản tư về bản chất của tri thức triết học (đối tượng của triết học)
* Đêmôcrít (460 - 371 TCN)
Tư tưởng quan trọng đầu tiên của Đêmôcrít là nguyên tử luận Từ
nguyên tử luận, Đêmôcrít chuyển sang vấn đề thế giới người Trước tiên,
ông suy luận về nguồn gốc và sự phát triển của con người Con người có
nguồn gốc tự nhiên và lúc đầu có lối sống giống như mọi động vật Toàn bộ nếp sống chung (ngôn ngữ, nhà nước, luật pháp) đều được tạo ra theo thoả thuận chung của mọi người, thông qua quyết định tập thể của họ Từ đó suy
ra rằng việc thay đổi các chuẩn tắc và nếp sống hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của con người
Tình cảm chủ yếu dẫn dắt con người trong cuộc sống Chúng ta đề cao những gì giống với chúng ta, né tránh những gì xa lạ, đem lại sự bất tiện và đau khổ Định hướng chung của cuộc sống là thái độ cam chịu, vả lại nếu vượt quá độ, thì cái dễ chịu nhất sẽ trở thành cái khó chịu Mục đích tối hậu
và cái phúc tối cao đối với con người – tâm trạng thoải mái đó là tâm hồn yên tĩnh và cân bằng, không bị một dục vọng nào quấy rầy Tất cả những sắc thái nội dung nhân học triết học Đêmôcrít tất yếu có tác động mạnh mẽ đến định
Trang 13hướng tư duy triết học của Xôcrát vào tất cả những gì có liên quan tới con người, tới cuộc sống hạnh phúc và số phận của con người
* Phái ngụy biện (thời đại Khai sáng Cổ đại)
Vào giữa thế kỷ V TCN xuất hiện tu từ học – nghệ thuật nói hay, các thầy giáo được trả tiền bắt đầu dạy các quy tắc của nó cho những người có
nhu cầu Đời sống của polis thường xuyên đi liền với ngôn ngữ Nó đòi hỏi sự
giao tiếp trực tiếp của con người ở nhiều phương diện, trong mỗi biểu hiện của mình Kỹ năng nói và thuyết phục, trình bày và bảo vệ ý kiến đòi hỏi phải
có trong mọi lĩnh vực đời sống Khả năng nói không tách rời khỏi khả năng tư duy Việc biểu thị lời nói do định hướng và lôgíc nội tại của tư duy quyết định Do vậy, các thầy dạy tu từ học khi đó đồng thời cũng là các thầy dạy sự thông thái Nói, suy luận, tư duy, hiểu biến thành một quá trình và năng lực thống nhất
Có hai thế hệ nguỵ biện: các nhà nguỵ biện thời kỳ đầu và các nhà nguỵ
biện thời kỳ sau Xôcrát cũng nằm trong số các nhà nguỵ biện thời kỳ đầu, ông vừa là nhà ngụy biện nổi tiếng nhất, vừa là người phê phán phép nguỵ biện một cách hăng hái nhất
Phái nguỵ biện biến giáo dục và đào tạo thành một nhiệm vụ độc lập, đòi hỏi những nỗ lực đặc biệt Nó chỉ ra rằng dòng chảy tự nhiên của bản thân cuộc sống là chưa đủ để hình thành trí tuệ và đạo đức của con người Mỗi người đều cần phải bỏ ra những nỗ lực có mục đích rõ ràng để hình thành nhân cách, các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình
Phép nguỵ biện có ảnh hưởng rõ ràng và mang tính quyết định trên nhiều phương diện đến toàn bộ tư tưởng cổ điển thời Cổ đại Trên thực tế, Xôcrát đã tái hiện tất cả các định hướng cơ bản của phép nguỵ biện trong tư duy của mình Các trường phái Xôcrát đã hoạt động hoàn toàn theo tinh thần của phép nguỵ biện, có không ít hơn căn cứ để gọi chúng là các trường phái
Trang 14nguỵ biện Cuối cùng, có thể nói đây là điều quan trọng nhất, - phái nguỵ biện
đã hình thành một sự khu biệt mang tính then chốt giữa hai loại tồn tại: tồn tại
tự nhiên và tồn tại người Sự khu biệt này trở thành cơ sở để xem xét vấn đề đạo đức và công bằng xã hội là vấn đề quan trọng bậc nhất đối với thời cổ điển Hy Lạp Như vậy, sau khi trở thành khởi điểm sáng tạo và cơ sở của Khai sáng Hy Lạp cổ, tư tưởng nguỵ biện đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi hiện tượng tinh thần quan trọng thời cổ điển Hy Lạp
1.2 Khái quát chung về triết học Xôcrát
1.2.1 Cuộc đời và con người Xôcrát
Trên nền văn hoá cổ đại Hy Lạp, Xôcrát xuất hiện như một nhân cách độc đáo, cả cuộc đời ông là một minh chứng cho lối sống triết học Không chỉ nghề đẽo đá của cha mà đặc biệt chính nghề đỡ đẻ của mẹ đã đóng một vai trò quan trọng với tinh thần Xôcrát Ông đã coi đó như là linh hồn của một thủ thuật triết học nhằm tác động cho chân lý ra đời trong quá trình đối thoại
Khác với đa số các nhà triết học đương thời, ông không đi chu du ở các miền đất xa xôi Ông luôn sống ở Aten và rất thích tranh luận với bất
kỳ ai gặp được không phải để thuyết phục họ, mà để tìm tòi chân lý.Cho đến khi kết thúc hành trình cuộc đời ông vẫn một mực bảo vệ cho chân lý
Ông cho rằng: chỉ có lời nói sống động mới có thể biểu thị và truyền tải được tư tưởng Tuy ngoại hình không thực hấp dẫn, song ông lại là hiện thân của một nhà truyền giáo thế tục có tác động đến người khác và có ảnh hưởng không nhỏ đến những biến đổi về đời sống tinh thần của người Aten Ông cũng làm cho một số người bất mãn, đặc biệt là một số công dân có thế lực
Đó cũng chính là lý do chính dẫn tới bi kịch của cuộc đời ông
Chính bởi đề cao giá trị sống động của hội thoại, nên sinh thời ông không viết bất cứ một tác phẩm nào, cho nên việc xác định quan điểm của
Trang 15Xôcrát đối với chúng ta là một nhiệm vụ mang tính kiến tạo Ông không cố gắng làm chủ nhiều kỹ năng mà đặt ra vấn đề sự thông thái nói chung, sự thông thái tự thân nó là gì Nói cách khác, ông tìm kiếm điểm chung trong mọi hình thức kĩ năng Theo Xôcrát, việc làm chủ sự thông thái tự thân nó sẽ cho phép dễ dàng làm chủ sự thông thái trong các lĩnh vực riêng biệt Đó cũng chính là cách tiếp cận của Xôcrát với mọi khái niệm chung: cái thiện và cái
ác, cái đẹp và cái xấu, cái công bằng và cái hợp pháp,v.v Ông đi từ những biểu hiện riêng biệt của một đối tượng đến việc hình thành khái niệm chung
về đối tượng ấy Nhờ phương pháp này Xôcrát đã xây dựng một học thuyết độc đáo và đúng đắn về con người - một phát kiến mà toàn bộ triết học sau này đánh giá rất cao
Là một con người có phong cách khiêm nhường và giản dị trong gia đình cũng như ngoài cuộc sống, ông đã để lại những vang vọng lay động lòng người bởi sự chân thành và niềm rung cảm mãnh liệt khi ông hướng con người ta thoát khỏi thực tại đầy rẫy những lo toan, rối ren Tuy nhiên, ông không coi sự bần cùng là cơ sở của đức hạnh Ông cũng không phải là một người sống khắc kỷ Sự kiềm chế mà ông coi là đức hạnh quan trọng nhất cũng giống với thái độ ôn hoà mà các nhà thông thái Hy Lạp đã ca ngợi từ lâu trước ông
Sau khi nền bạo chính bị lật đổ ông đã bị bắt vì lời tố cáo của Milet với tội danh: Xôcrát báng bổ các thần linh đã được thành phố thừa nhận, tôn thờ các thần linh mới; ông cũng bị buộc tội là làm suy đồi thanh niên, do vậy phải chịu mức án tử hình Xôcrát đã uống thuốc độc chết vào tháng 5 năm 399 TCN Đây cũng là bị kịch của cuộc đời Xôcrát, một con người rất mực yêu
Tổ quốc và rất trung thành với luật pháp của nhà nước Với bản lĩnh chính trực
và thanh khiết, ông đã từ chối cơ hội được chạy trốn cùng với cơ hội được giảm