ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ THÙY LINH QUAN NIỆM CỦA JOHN STUART MILL VỀ CHÍNH THỂ TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” LUẬN VĂN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
QUAN NIỆM CỦA JOHN STUART MILL VỀ
CHÍNH THỂ TRONG TÁC PHẨM
“CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
QUAN NIỆM CỦA JOHN STUART MILL
Hà Nội - 201
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ JOHN STUART MILL VÀ TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” 11
1.1 Bối cảnh lịch sử và tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng John Stuart Mill 11 1.1.1 Tình hình nước Anh nửa đầu thế kỷ XIX 11
1.1.2 Những nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến John Stuart Mill 15
1.2 Khái quát về John Stuart Mill 24
1.2.1 Cuộc đời 24
1.2.2 Sự nghiệp 28
1.2.3 Triết học chính trị của John Stuart Mill 31
1.3 Khái quát về tác phẩm “Chính thể đại diện” 39
1.3.1 Hoàn cảnh ra đời 39
1.3.2 Kết cấu và nội dung chính 41
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA JOHN STUART MILL VỀ CHÍNH THỂ TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” 47
2.1 Về hình thức chính thể 48
2.1.1 Lý luận chung về hình thức chính thể 48
2.1.2 Hình thức chính thể lý tưởng 55
2.2 Những đặc trưng của hình thức chính thể mang tính đại diện……… 62
2.2.1 Bầu cử 62
2.2.2 Nền dân chủ đại diện 69
2.2.3 Nền hành pháp 76
2.2.4 Nghị viện và các cơ quan đại diện địa phương 83
2.3 Những giá trị và hạn chế của quan niệm của John Stuart Mill về chính thể trong tác phẩm “Chính thể đại diện” 93
2.3.1 Giá trị 93
2.3.2 Hạn chế 101
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nhiệm vụ được đặt ra qua các kỳ Đại hội Đảng gần đây, đặc biệt là Đại hội Đảng lần thứ XI của đất nước ta là: “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” [Tài liệu 45] Đây là một mục tiêu lâu dài mà chúng ta cần kiên trì thực hiện từng bước trên mọi lĩnh vực một cách hệ thống và nhất quán Là một người nghiên cứu trong lĩnh vực triết học, chúng tôi luôn ghi nhớ nhận định của Friedrich Engels (1820 – 1895) trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” và coi đó như định hướng, kim chỉ nam cho các nhiệm vụ khoa học của mình: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận…Nhưng tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta có mà thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn phát triển hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [2, tr 489 và 487] Thực tế, việc nghiên cứu các tư tưởng triết học vĩ đại trong lịch sử là hướng đi đúng đắn và đang được đặc biệt khuyến khích trong giai đoạn hiện nay
Cũng trong Đại hội Đảng lần thứ XI, chúng ta đã đề ra một trong tám phương hướng cơ bản là: “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” [Tài liệu 45] Việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một nhiệm
vụ quan trọng quyết định lâu dài thắng lợi của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Vì vậy, nghiên cứu lý luận
về nhà nước đang là một yêu cầu cấp bách của thực tiễn, đòi hỏi chúng ta phải lục tìm trong kho tàng tri thức của loài người để chắt lọc những tư tưởng giá trị, góp phần xây dựng lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 5Trong lịch sử tư tưởng, nhà nước vốn là một chủ đề được các nhà triết học quan tâm nhất Từ thời cổ đại, Plato đã mơ ước về một nhà nước
lý tưởng cùng tác phẩm nổi tiếng “Nền Cộng hòa” hay Aristotle với cuốn sách kinh điển “Chính trị học”;… cho tới các tác phẩm đặt nền tảng cho khoa học Chính trị học hiện đại như “Quân Vương” của Machiavelli,
“Thủy quái” của Thomas Hobbes, “Khảo luận thứ hai về chính quyền của” John Locke, “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu, “Bàn về khế ước xã hội” của Jean-Jacques Rousseau… Qua đó, ta có thể thấy suy tư của các triết gia thường tập trung vào vấn đề nhà nước là gì, vai trò của nhà nước, hình thức nhà nước… và câu hỏi “làm thế nào để thiết lập một hình thức nhà nước đại diện cho mọi người nhằm tổ chức được một xã hội qui củ, đảm bảo hài hòa các lợi ích vốn rất mâu thuẫn của họ?” vẫn chưa có đáp án trọn vẹn
Yêu cầu lý luận và thực tiễn trên đây thôi thúc tôi tìm tòi những tư tưởng giá trị về nhà nước trong lịch sử tư tưởng nhân loại Một nhà tư tưởng khiến chúng tôi đặc biệt quan tâm là nhà tư tưởng nổi tiếng người Anh thế kỷ XIX – John Stuart Mill Những đánh giá tích cực là một cách khẳng định rõ ràng nhất đối với giá trị trong tư tưởng của ông Cựu Thủ
tướng Anh William Gladstone đã gọi ông là “vị Thánh của thuyết duy lý”
J S Shapiro, năm 1943, gọi ông là “người phát ngôn hàng đầu của chủ nghĩa tự do trong thế kỷ 19” Karl Britton - người viết tiểu sử của Mill, viết: “Mill tạo nên một ảnh hưởng đến tư duy triết học trong và ngoài nước
mà ít có nhà tư tưởng hàng đầu nào khác có thể vượt qua được” Leopold von Wiese, nhà xã hội học Đức, gần đây lại cho rằng: “Trong lịch sử tư tưởng Âu Châu hiện đại, chỉ có một số ít các học giả được nhiều ngành khoa học xem trọng như trường hợp của Mill” [Trích theo TL 6, tr 267 – 291] Hay trong cuốn sách “Tư tưởng chính trị của John Stuart Mill” được
nhà xuất bản Đại học Cambridge xuất bản năm 2007 của hai tác giả Nadia Urbinati và Alex Zakaras cũng cho thấy sức nóng hổi trong tư tưởng Mill
Trang 6Bài viết nhận định về cuốn sách này của Glyn Morga (Đại học Harvard) cho rằng, cuốn sách này được viết sau 200 năm kể từ ngày Mill sinh nhưng cuốn sách đã khẳng định rằng cho tới nay, tư tưởng chính trị của Mill vẫn còn thích hợp đối với đời sống chính trị của chúng ta Morga cũng khẳng định, các tác giả đã cố gắng cho chúng ta hiểu rằng Mill đang ảnh hưởng tới chúng ta hơn bao giờ hết Thông qua các tác phẩm của mình, Mill được đánh giá là nhà tư tưởng chính trị thực tế Ông hiểu rõ hơn bất kỳ một nhà
tư tưởng đương thời nào về khả năng ứng dụng từ tư tưởng vào thực tiễn và cũng là một trong số rất ít người nhận thấy những hạn chế của văn hóa và lịch sử Anh quốc [Xem tài liệu 71] Gần đây nhất (Tháng 12 năm 2011), ông Robert D, Kaplan, thông tín viên quốc gia cho tờ Atlantic, ủy viên Hội đồng Chính sách Quốc phòng của Bộ Quốc phòng Mỹ đã từng cho rằng, Mill người soi đường phù hợp cho chúng ta vào thời điểm mà thế giới chính trị có quá nhiều phức tạp như hiện nay [Xem tài liệu 64]
Lựa chọn “Chính thể đại diện” của John Stuart Mill – cuốn sách được coi là tác phẩm kinh điển về nền dân chủ phương Tây, tác giả luận văn muốn làm rõ những giá trị của các quan điểm của J S Mill về chính thể đại diện mà theo ông là hình thức chính thể lý tưởng, cũng như phần nào trả lời cho câu hỏi mà nền chính trị thế giới vẫn đang đặt ra và chưa có cách giải quyết thấu đáo Xét theo khía cạnh cá nhân, hướng nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị của John Stuart Mill một cách hệ thống qua các tác phẩm nổi tiếng của ông là một mong muốn của tác giả Luận văn từ lâu
2 Lịch sử nghiên cứu
Tác phẩm “Chính thể đại diện” ra đời cách đây gần một thế kỷ rưỡi
và được xếp vào Bộ sách “Great Books of the Western World” Có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống về quan niệm của John Stuart Mill, một số công trình được công khai trên mạng Internet toàn cầu được biết đến là:
Trang 7 Luận án Tiến sỹ của John Mercel Robson (Đại học Toronto,
Tháng 12, 1956) với tên đề tài là “The social and political thought of John Stuart Mill” (Tư tưởng xã hội chính trị của John Stuart Mill) [Tài liệu 59]
cũng có nói đến quan niệm của Mill về Chính phủ song chỉ chiếm một lượng rất ít trong công trình này Tác giả chủ yếu đi phân tích những tư tưởng chính trị xã hội nói chung của Mill như Đạo đức học, Phương pháp khoa học hay một số vấn đề xã hội khác
cứu về Lý thuyết chính trị và nghiên cứu về Hy Lạp thuộc Khoa Khoa học Chính trị của Đại học Comumbia, Hoa Kỳ đã viết cuốn “Mill on Democracy: From the Athenian Polis to Representative Government”, được nhà xuất bản Đại học Chicago, Hoa Kỳ xuất bản Frederick G Whelan, người đã viết phần giới thiệu quyển này cho rằng, đây là một nghiên cứu đầu tiên và mang lại những kiến thức sâu rộng hơn về lý thuyết Dân chủ của Mill Ông cũng cho biết, mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về tác phẩm
“Chính thể đại diện” của Mill nhưng mang tính chất chuyên sâu trước đó chỉ có cuốn “John Stuart Mill and Representative Government” của Dennis Thompson (1976) Cuốn sách này chủ yếu bàn về Lý thuyết Dân chủ của Mill, song lại được nghiên cứu so sánh với nền chính trị Atens
Kỳ có một bài báo dài 11 trang viết về “John Stuart Mill's Theory of Bureaucracy within Representative Government: Balancing Competence and Participation” Đây là một bài báo nhỏ nhưng cũng đã đề cập đến
những ý tưởng có ý nghĩa của Mill đối với “Cuộc thảo luận về nền hành chính công hiện nay” (current public administration discussion)
nhà xuất bản Đại học Cambridge xuất bản năm 2007 của hai tác giả Nadia Urbinati và Alex Zakaras đã đưa ra một cách đánh giá lại (theo cách diễn đạt của các tác giả) về giá trị trong tư tưởng chính trị Mill Trong cuốn
Trang 8này, các tác giả cố gắng liệt kê những bài viết đề cao giá trị triết học chính trị của Mill, từ đó các tác giả đưa ra nhận định riêng của mình về sức hấp dẫn của những ý tưởng đặc sắc trong tư tưởng John Stuart Mill [Xem tài liệu 71]
Như vậy, tôi nhận thấy, các tác giả trên thế giới tiếp cận triết học chính trị Mill trong cả hệ thống tư tưởng của ông hoặc là hệ thống các tư tưởng chính trị Những quan niệm của Mill về chính thể chỉ được nghiên cứu đan xen trong các tác phẩm về các hình thức chính quyền hay các công trình nghiên cứu về các chính thể đại diện nói chung
Ở Việt Nam, tác phẩm “Chính thể đại diện” được nhà xuất bản Tri thức xuất bản vào Quý I năm 2008 do tác giả Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích Cho đến nay, ở Việt Nam, những nghiên cứu về tác phẩm mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa
có tài liệu nào nghiên cứu về tác phẩm mang tính chuyên sâu Tiếp cận một
cách trực tiếp tác phẩm chỉ có Lời giới thiệu ngắn của dịch giả Nguyễn Văn
Trọng in cùng bản dịch tiếng Việt “Chính thể đại diện” của John Stuart Mill Đây là bài viết mang tính tổng quát, giới thiệu về tác phẩm Trong bài này, dịch giả cũng đưa ra một số nội dung chủ yếu, đó là:
Như vậy, nghiên cứu quan niệm của John Stuart Mill về Chính thể trong tác phẩm “Chính thể đại diện” vẫn là một hướng nghiên cứu mới mẻ
mà chúng tôi hy vọng góp phần làm phong phú hơn những nghiên cứu về
hệ thống tư tưởng đồ sộ của nhà tư tưởng vĩ đại này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Làm rõ một số nội dung quan niệm của John Stuart Mill về chính thể trong tác phẩm “Chính thể đại diện”, từ đó phân tích những giá trị và hạn
Trang 9chế của tư tưởng John Stuart Mill đối với lịch sử tư tưởng cũng như nền chính trị của nhân loại
Nhiệm vụ:
đại diện”
Mill về chính thể trong tác phẩm “Chính thể đại diện”
Chỉ ra những giá trị và hạn chế cơ bản trong quan niệm của John Stuart Mill về chính thể trong tác phẩm “Chính thể đại diện”
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Quan niệm của John Stuart Mill về chính thể
Phạm vi: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu các nội dung cơ bản trong quan niệm của John Stuart Mill về chính thể trong tác phẩm “Chính thể đại diện” song không cứng nhắc, tách quan niệm này khỏi hệ thống tư tưởng của ông
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên nền tảng quan điểm của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu quan niệm của John Stuart Mill về chính thể, đặc biệt là cách tiếp cận khách quan, biện chứng Đồng thời, kết quả nghiên cứu không tách rời những đánh giá chủ quan của cá nhân tác giả
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu như phân tích và tổng hợp, so sánh, logic - lịch sử, hệ thống – cấu trúc, quy nạp, diễn dịch, nghiên cứu văn bản, đặc biệt là phương pháp của chính trị học so sánh và phương pháp tiếp cận từ góc độ chính trị - đạo lý
6 Đóng góp của Luận văn
Tác giả công trình hy vọng góp phần khẳng định giá trị tư tưởng của John Stuart Mill và phương pháp nhận thức bản chất cấu trúc chính trị của ông, đóng góp một cách hiểu vào nhận thức chung về triết học chính trị, đặc biệt là về lịch sử các hình thức chính thể và chính thể đại diện; đồng
Trang 10thời gợi mở cho những ai tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vấn đề này Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm
7 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, Luận văn gồm
2 chương và 6 tiết
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ JOHN STUART MILL
VÀ TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN”
1.1 Bối cảnh lịch sử và tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng John Stuart Mill
1.1.1 Tình hình nước Anh nửa đầu thế kỷ XIX
Trong suốt thế kỷ XVIII và 30 năm đầu thế kỷ XIX, ở Anh diễn ra cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trong lịch sử nhân loại Cuộc mạng này đã dẫn đến sự thắng lợi của liên minh giữa tư sản và quý tộc mới Trong nền sản xuất xã hội, bước chuyển từ công trường thủ công sang công nghiệp cơ khí diễn ra đã mở đầu cho quá trình công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa và tạo điều kiện củng cố vững chắc thắng lợi của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà giai cấp tư sản mới thiết lập
Có thể nói, nguyên nhân của cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh thế kỷ XVIII là do lực lượng sản xuất có bước phát triển mạnh mẽ Đó là kết quả của sự kết hợp năm yếu tố chính: Thứ nhất là phát minh máy hơi nước và sự phát triển của công nghệ dệt may; Thứ hai là nền nông nghiệp mới cùng sự phát triển về dân số tạo thị trường rộng lớn cho các sản phẩm công nghiệp; Thứ ba là sự rộng lớn của các thuộc địa của Anh thời kỳ này
là nguồn cung cấp nguyên liệu và thị trường vô cùng dồi dào; Thứ tư là sự phát triển về hệ thống giao thông vận tải tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên nhiên liệu và phân phối sản phẩm; Yếu tố thứ năm là nguồn vốn thặng dư lớn luôn sẵn sàng cho sự quay vòng sản xuất đã thúc đẩy nền kinh tế nước Anh phát triển vượt bậc Cùng với năm yếu tố trên, phát minh về đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước đầu thế kỷ XIX khiến cho giao thông trở nên thuận tiện hơn bao giờ hết và lợi thế về địa hình (Anh không bị ảnh hưởng từ các cuộc chiến tranh ở lục địa, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mại) đã trở thành chất xúc tác cho cuộc các mạng này Là một quốc gia được thiên nhiên ưu đãi với
Trang 12lượng than đá khổng lồ và vô số các mỏ sắt, đến năm 1850, Anh đã chiếm một nửa sản lượng sắt và hai phần ba sản lượng than đá của cả thế giới
Có nguồn cung cấp lông cừu dồi dào từ Scotland, nhập bông thuận tiện từ
Mỹ lại kết hợp với phát minh về máy cán bông của Eli Whitney (1793) đã khiến cho nước Anh phát triển nhanh chóng về nông nghiệp
Như vậy, cuộc cách mạng ở Anh nổ ra và tạo ảnh hưởng vô cùng sâu sắc tới mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Cuộc cách mạng này khiến cho mâu thuẫn trong xã hội Anh thời đó ngày càng gia tăng Cuộc sống và điều kiện làm việc của người dân cũng như cấu trúc gia đình và xã hội đã có sự thay đổi lớn
Xã hội Anh sau thời kỳ cách mạng công nghiệp gặp phải nhiều vấn
đề nan giải Làn sóng di cư từ nông thôn lên thành thị khiến cho các thành phố công nghiệp phải đối mặt với ba vấn đề lớn về điều kiện sống, điều kiện làm việc và vấn đề cơ cấu xã hội Chỗ ở đông đúc trong các căn gác, hầm rượu, thậm chí 63 người ở 7 phòng trong một căn hộ Nước sạch chỉ cung cấp cho người giàu khiến tình trạng vệ sinh trở nên thậm tệ Bệnh dịch hoành hành khắp nơi, ô nhiễm không khí và suy dinh dưỡng cùng nạn nghiện rượu, ma túy, tội phạm, mại dâm là kết quả tất yếu xảy ra từ điều kiện sống như vậy
Thời gian đó, công nhân bị bóc lột sức lao động dã man, giờ làm việc có thể lên tới 19 tiếng trong một ngày, sáu ngày trong một tuần An toàn lao động ở tình trạng báo động vì rủi ro xảy ra liên tiếp đối với mạng sống công nhân – ngón tay, bàn tay thậm chí cả cánh tay cũng bị máy móc nghiền nát Những vụ nổ giết chết hàng trăm công nhân… Số người thất nghiệp rất lớn và càng ngày càng có xu hướng tăng lên Điều này khiến cho phụ nữ và trẻ em cũng phải tìm đến các công việc ở nhà máy chỉ để kiếm tiền sống qua ngày
Trang 13Từ thực tế khắc nghiệt này, các nhà tư tưởng theo phong trào cải cách đã cố gắng tìm ra những giải pháp để giải phóng người công nhân khỏi tình trạng này:
nhân như Robert Owen (1771 - 1858) và William Hesketh Lever (1851 -
1925) đã xây dựng mô hình cộng đồng mà ở đó công nhân có thể sống và làm việc
quần chúng bằng cách này hay cách khác Đối với các chính trị gia bảo thủ,
họ cố gắng ngăn chặn cuộc cách mạng xã hội có thể nổ ra từ tình trạng này Một số luật đã được ban hành để dần cải thiện hoàn cảnh của giai cấp công nhân như Luật Nhà máy 1833 (the Factory Act of l833) đã hạn chế việc sử dụng lao động phụ nữ và trẻ em; Luật Nhà máy 1850 (the Factory Act of l850) hướng đến hạn chế thời gian lao động của phụ nữ và trẻ em là ngày làm việc mười tiếng rưỡi
Trong tình trạng này, công nhân đã hình thành công đoàn hay những hiệp hội để hỗ trợ lẫn nhau Một số phong trào đấu tranh cũng nổ ra song không đạt được nhiều thành công Việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ cũng
là một vấn đề quan trọng trong thời gian này bởi họ bị đàn áp và không có quyền được tham gia vào các công việc xã hội Nhiều nhà tư tưởng đã lên tiếng bênh vực cho phụ nữ, ủng hộ quyền bầu cử của phụ nữ… Chính triết
lý của chủ nghĩa tự do đã trở thành cơ sở triết học cho phong trào đòi quyền
đi bầu cử của phụ nữ mà John Stuart Mill là một đại diện
Để hiểu rõ về những suy tư và kiến giải của Mill trong tác phẩm
“Chính thể đại diện” nói riêng và trong toàn bộ triết học chính trị của ông nói
chung, chúng ta cần có một cái nhìn khái quát về chính trị Anh thời kỳ này
Có thể nói, đây là thời kỳ mà liên minh tư sản và quý tộc mới ở Anh
đã giành thắng lợi sau cuộc cách mạng tư sản Từ đây, nhà nước quân chủ lập hiến được thành lập Vua mặc dù là người đứng đầu nhà nước song
Trang 14không điều khiển công việc quốc gia mà thực quyền lại thuộc về nghị viên, trong đó quyền thống trị thuộc về đảng nào chiếm được đa số ghế
Thượng viện nằm trong tay giới đại quý tộc có uy lực hơn Hạ viện
do dân cử ra Cuộc bầu cử Hạ nghị viện cũng tiến hành theo những quy tắc rất hạn chế như trong số 7 triệu dân Anh nhưng chỉ có 25 vạn người có quyền tuyển cử Gần một nửa số nghị viên ở Hạ nghị viện là những người được bầu ra từ những vùng đất ít dân cư mà ở đó việc bầu cử thường diễn
ra theo ý muốn của chúa đất Tất nhiên, nếu chủ cũ bán vùng đất đó cho người chủ mới thì người chủ mới ấy lại trở thành nghị viên đại biểu của nơi
đó Ghế nghị viên được mua đi bán lại, nhà giàu mua chuộc cử tri và có khi mua cả lá phiếu bầu cử, đây là một vấn đề mà Mill đặc biệt nhấn mạnh khi ông đưa ra kiến giải cho tình trạng này Như vậy, quyền chính trị không chỉ
bị tước đoạt ở tầng lớp lao động mà tầng lớp trung gian cũng cùng chung một số phận
Thượng viện là hình ảnh đấu tranh, tranh chấp quyền thống trị giữa Đảng Whig và Đảng Tory - một bên là đại diện quyền lợi cho bộ phận quý tộc giàu có nhờ mua tài sản, đất đai phong kiến trong thời cách mạng và có liên hệ chặt chẽ với đại tư sản thương nghiệp, chủ ngân hàng và chủ đồn điền ngoài nước, một bên là đảng của đại địa chủ Hai đảng này thay nhau quản lý công việc nhà nước, tranh chấp nhau để chiếm ưu thế số ghế trong nghị viện Mặc dù vậy, cả hai đảng đều bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản
và quý tộc, cố gắng duy trì quyền thống trị của giai cấp tư sản Đây chính là hình thức nhà nước quân chủ lập hiến khác hẳn so với nền quân chủ chuyên chế trước đây ở Anh, trong đó Thủ tướng và nội các thuộc về đảng chiếm
đa số trong nghị viện do đảng đó cử ra và ủng hộ Thủ tướng và nội các chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện
Đối với người dân, do cuộc sống nghèo đói khổ cực, họ đã nổi dậy đấu tranh với tần suất và quy mô ngày càng rộng lớn khiến nền chính trị Anh gặp phải nhiều khó khăn lớn Có thể kể đến như:
Trang 15 Cuộc bạo loạn do bất mãn và bị đàn áp 1811-1819
Gần khoảng thời gian Mill viết “Chính thể đại diện” có thể liệt kê những vụ tấn công nổi bật như:
[Xem tài liệu 77]
Tóm lại, bối cảnh nước Anh thế kỷ XIX đã ảnh hưởng rất lớn tới John Stuart Mill – một con người tài hoa, cương quyết đấu tranh cho công bằng, tự do, dân chủ Chính sự mâu thuẫn giai cấp giữa tư sản và công nhân, chính sự khổ cực của người dân lao động, sự đối xử phân biệt đối với người phụ nữ hay tham vọng mị dân của các chính trị gia thời kỳ này nhằm thao túng dân chúng và thực hiện sự chuyên quyền của mình đã khiến cho John Stuart Mill day dứt, băn khoăn Từ đây, ông đã viết một hệ thống các tác phẩm mang tính triết học, chính trị, xã hội rất đồ sộ và có giá trị
1.1.2 Những nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến John Stuart Mill
Nhìn chung, ảnh hưởng của các nhà tư tưởng đi trước đối với sự hình thành hệ thống triết học chính trị - xã hội John Stuart Mill có thể kể đến
Trang 16như: Jeremy Bentham, James Mill, Wilhelm von Humboldt… Đặc biệt, xem xét dưới hệ thống quan điểm của John Stuart Mill trong tác phẩm
“Chính thể đại diện” mà phạm vi nghiên cứu là quan niệm về Chính thể của ông thì không thể không kể đến ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc của các nhà tư tưởng: Saint Simon (1760 - 1825); Taylor Coleridge (1772 - 1834); August Comte (1789 - 1857) và Alexis Tocqueville (1805 - 1859)
Trước hết, tác giả luận văn đi phân tích những nét tư tưởng chính của những nhà tư tưởng tiền bối có ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tư tưởng John Stuart Mill
Jeremy Bentham (1748 – 1832) là một nhà triết học đồng thời là một
luật gia Ông giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử văn hóa tinh thần Anh
Bentham được biết đến là người xây dựng quan điểm vị lợi chủ nghĩa Quan điểm này có tính triết học xã hội và đạo đức học sâu sắc Từ lập trường của chủ nghĩa tự do cấp tiến, ông đã luận chứng nhiều dự án cải cách ngành lập pháp Các tác phẩm chính của Bentham có thể kể tới như
“Những đối thoại của Chính phủ” (1776), “Về các nguyên tắc đạo đức và pháp luật (xuất bản năm 1789), “Cải cách Nghị viện” (1817), “Đạo đức học hay khoa học về đạo đức” (gồm hai tập, được công bố vào năm 1843)…
Bentham cho rằng, tính vị lợi là một sự biểu thị trừu tượng Nó hàm
ý về tính chất hay khuynh hướng của một sự vật nào đó đang cố gắng thoát khỏi cái ác và bảo vệ cái thiện Cái ác được coi là nguyên nhân của sự thỏa mãn Tất cả những điều này đều có tính “khả ước” với tính vị lợi hay sở thích của các cá nhân Những sở thích có định hướng vào việc làm gia tăng tổng số phúc lợi của những cá nhân có sở thích đó
Bentham coi nguyên tắc vị lợi là “tư tưởng tối cao” của nghiên cứu khoa học và cần phải được biểu thị một cách chặt chẽ và chính xác Theo Bentham, đối với người bảo vệ nguyên tắc vị lợi thì đức hạnh chỉ trở thành cái thiện do có sự thỏa mãn sinh ra từ tính vị lợi, còn ngược lại, khi không
có sự thỏa mãn sinh ra từ tính vị lợi thì cái ác sẽ xuất hiện Cái thiện đạo
Trang 17đức được sinh ra nhờ xu hướng bắt nguồn từ sự thỏa mãn thể chất; còn cái
ác đạo đức thì được ra đời từ nỗi đau khổ thể chất Ở đây, Bentham đồng nhất sự thỏa mãn và đau khổ thể chất cùng với sự thỏa mãn và đau khổ về tinh thần Bentham khẳng định rằng, mức độ thỏa mãn được cảm nhận nhờ những cảm giác của con người phụ thuộc vào bốn yếu tố, đó là: cường độ,
độ dài thời gian, tính xác định và tính gần gũi của sự thỏa mãn Chính các yếu tố đó cũng quy định mức độ không thỏa mãn
Từ đó, Bentham cho rằng sự thành công hay thất bại đối với từng cá nhân cũng như trong đời sống chính trị phụ thuộc vào mức độ tính toán chính xác về cái thiện và cái ác Ví dụ, đối với nhà lập pháp thì sự thỏa mãn
và hạn chế sự không thỏa mãn là mục đích duy nhất Như vậy, trong khi J
S Mill coi trọng chất lượng hơn thì Bentham lại quan tâm tới sự chính xác
về số lượng của sự thỏa mãn
Về công bằng, Bentham cho rằng, từ này không có nghĩa khi nó
không được gắn liền với hành vi hiện thực của những cá nhân cụ thể Ông cũng cho rằng nhiều khái niệm chung chung như “sở hữu”, “hôn nhân”,
“nguyên tắc” chỉ được sử dụng để che đậy những sở thích nhất định Ông là người chống lại các nguyên tắc đạo đức trừu tượng
Có thể nói, một mặt Bentham là người bảo vệ chủ nghĩa cá nhân bởi ông đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong sự thỏa mãn hay đau khổ của họ Mặt khác, tính vị lợi theo quan niệm của Bentham không đồng nhất với mức độ thỏa mãn của cá nhân trong sự gắn liền với các hoạt động xã hội
rộng lớn Những quan niệm số học về khoái lạc hay coi sự thỏa mãn về thể chất cũng giống như tinh thần là những điểm yếu ở Bentham mà sau này
được Mill khắc phục Khi còn trẻ, Mill ảnh hưởng rất nhiều từ Bentham Tuy nhiên, khi tiếp xúc với các nhà tư tưởng Pháp và một số nhà tư tưởng Anh tiền bối, ông đã có những ý nghĩ khác xa so với Bentham, đặc biệt là trong quan niệm về chất lượng khoái lạc Mặc dù tiến bộ về nhiều mặt so
Trang 18với Bentham nhưng chúng ta cũng không thể không thừa nhận ảnh hưởng mạnh mẽ từ nhà tư tưởng này tới John Stuart Mill
Người có ảnh hưởng lớn thứ hai được kể đến là cha của J S Mill –
James Mill (1773 – 1836) James Mill là bạn và đồng thời cũng là người
ủng hộ cho học thuyết của Bentham James Mill đã áp dụng cho con trai mình (tức J S Mill) một nền giáo dục khắt khe dựa theo nguyên tắc tâm lý học liên tưởng của Bentham Bản thân John Stuart Mill đã phải cố gắng để phù hợp với hệ thống giáo dục của cha mình, song J S Mill vẫn không tránh khỏi một thời gian mắc bệnh trầm cảm Thêm nữa, cũng bởi nền giáo dục này mà chính tư duy của Mill khi ông còn trẻ cũng không được phát triển tự do
Với James Mill, các dự án cải cách nghị viện của ông cũng căn cứ trên các tư tưởng triết học và đạo đức học của chủ nghĩa vị lợi Ông được biết đến là người bảo vệ học thuyết vị lợi chủ nghĩa, là người đưa ra quan
niệm tâm lý học về nguyên tắc vị lợi (hạnh phúc lớn nhất dành cho nhiều người nhất), cũng như là người truyền bá học thuyết kinh tế học của
và sự đa dạng của các tình huống Trên cơ sở quan điểm này, J S Mill đưa
ra khái niệm về tự do xã hội – ranh giới giữa kiểm soát xã hội và độc lập cá nhân Mill cũng đề ra các nguyên lý về quyền tự do nhằm đạt được sự hài hòa trong quan hệ giữa con người cá nhân với cộng đồng xã hội để hướng tới mục tiêu phát triển
Trang 19Đó là những nhà tư tưởng tiền bối có ảnh hưởng nói chung tới toàn
bộ hệ thống tư tưởng của John Stuart Mill Đối với quan niệm của ông về chính thể được trình bày qua tác phẩm “Chính thể đại diện”, những nhà tư tưởng như Saint Simon (1760 - 1825); Taylor Coleridge (1772 - 1834); August Comte (1789 - 1857); Alexis Tocqueville (1805 - 1859) là không thể không kể đến Những tư tưởng này của họ được coi là những viên gạch nền móng để Mill xây dựng nên hệ thống triết học chính trị của mình
Kể đến trước tiên là Henri de Saint – Simon (1760 – 1825), một nhà
tư tưởng lớn người Pháp Mặc dù sinh ra trong một gia đình quý tộc song Simon căm ghét chế độ nô lệ Tư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành của nhiều trường phái triết học thế kỷ XIX, trong đó có hệ thống
tư tưởng của John Stuart Mill
Nếu như Saint-Simon cho rằng, việc nói về tự do và dân chủ sẽ chỉ làm chúng ta sao nhãng những vấn đề thực tế thì Mill lại nghiên cứu về những chủ đề này như trong truyền thống nhiều nhà tư tưởng đã từng nghiên cứu (như Locke, Montesquieu, Russeau…sẽ được nhắc đến ở phần sau) Trong các công trình của mình, Mill đưa ra những quan niệm về xã hội như
là một tổ chức phức tạp và cố gắng phân tích, mổ xẻ nó Chịu ảnh hưởng của Simon khi cho rằng lịch sử loài người là một quá trình tiến hóa không ngừng, chế độ sau tiến bộ hơn chế độ trước, Mill cũng coi xã hội như một hiện tượng lịch sử mà sự hình thành và phát triển là cả một quá trình lâu dài, biến đổi qua mỗi giai đoạn khác nhau Mill gặp Simon vào đúng lúc Simon được trắng án sau nghi ngờ có liên quan đến vụ ám sát Công tước Berry Trước đó, Mill đã được tiếp cận một tác phẩm nổi tiếng - The Parable (Tạm dịch là Dụ ngôn) của Simon với những giả thuyết và cách lập luận riêng nhằm khẳng định rằng, xã hội bao gồm nhiều tầng lớp khác nhau, đó là: Lớp dưới cùng là những người nông dân và công nhân nhà máy; Lớp trung lưu là các nhà khoa học, triết học hay các nhà công nghiệp; Lớp trên cùng là các chính trị gia cùng các sĩ quan quân đội Theo Simon, tầng lớp trung lưu đóng
Trang 20vai trò quan trọng và khó bị thay thế còn những người ở tầng lớp trên cùng mặc dù chiếm phần lớn của cải và quyền lực nhưng lại đóng góp cho xã hội
ít nhất Ông coi đó là một “Xã hội lộn ngược” Vì thế, nhà tư tưởng người Pháp này cho rằng, một xã hội được kiểm soát bởi những nhà khoa học, nhà công nghiệp sẽ tốt đẹp hơn Quan niệm này về xã hội đã ảnh hưởng nhiều
đến nhà tư tưởng Anh J S Mill, đặc biệt là về tính thay đổi, tính lịch sử của
xã hội khiến Mill rút ra được những cách tiếp cận mới so với Bentham và
người cha James Mill của ông
Tiếp theo phải kể tới một nhân vật được Mill nhắc đến khá nhiều
trong các tác phẩm của mình, đó là Samuel Taylor Coleridge (1772 - 1834)
Coleridge là một nhà thơ, nhà phê bình, nhà triết học người Anh Chịu ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Pháp, Coleridge đã tự nguyện tuyên truyền và đứng về phía những người theo cách mạng Ông đã từng bị đuổi học vì quan điểm “vô thần”, vì in sách hay tạp chí tuyên truyền về chính trị và sáng tác các bài thơ ủng hộ cách mạng Pháp Trong tư tưởng của Coleridge,
ta thấy một sự khác biệt đến đối lập giữa ông và Bentham: Nếu Bentham cho rằng, để đánh giá một ý kiến hay một đề xuất nào đó là đúng hay sai thì cần phải gắn liền với nó những mục tiêu, mục đích của chính bản thân mình, tức là sự tương thích của vấn đề với mỗi cá thể hay mỗi vấn đề riêng biệt sẽ trở thành tiêu chuẩn để đánh giá vấn đề đó Ngược lại, Coleridge cho rằng, một học thuyết được hình thành từ những con người tài năng, thận trọng trong lối suy nghĩ nếu đã được thừa nhận và ủng hộ ở một số quốc gia và qua các thế hệ thì nó cũng đã phần nào chứng tỏ được giá trị và sức sống của nó [Xem: Tài liệu 65] Cũng giống như với Saint Simon, Mill
học được ở Coleridge cách nhìn xã hội trong những giai đoạn nhất định của nó, tức tính lịch sử của xã hội Cách tiếp cận này cho rằng những thay
đổi về phong tục hay thể chế đều đi liền với những sự kiện xã hội, chính trị nhất định Từ đây, Mill đã tìm hiểu những mô hình chính thể trong lịch sử Với công việc này, Mill không chỉ đơn thuần mô tả, miêu tả mà ông đã lý
Trang 21giải một cách sâu sắc rằng cách giải quyết vấn đề nào đó phải gắn liền với điều kiện xã hội và các mối quan tâm, hứng thú của chúng ta ở từng thời
kỳ Tiếp xúc với Simon và Coleridge, Mill đã nhận thức được con đường đúng đắn mình cần phải đi để tìm kiếm những giải pháp cho cuộc khủng hoảng chính trị đương thời
Một người bạn và đồng thời là người được Mill coi như vị tiền bối
của mình, đó là Auguste Comte (1789 - 1857) Ông là một nhà tư tưởng
Pháp Ông là người sáng lập ra ngành xã hội học và cũng là một nhà lý thuyết xã hội nổi tiếng thế kỷ XVIII – XIX Những quan niệm về xã hội của Comte trở thành cơ sở lý luận cho sự phát triển tư tưởng của nhiều nhà
tư tưởng về sau, đặc biệt là John Stuart Mill
Comte quan niệm rằng, xã hội là một hệ thống có cấu trúc gồm cá nhân, gia đình và các tổ chức xã hội Ông cũng là người nghiên cứu chuyên sâu về thuyết thực chứng Comte và Mill có một tình bạn khá thân thiết Cả hai ông đã có thời gian nghiên cứu cùng nhau về “Tôn giáo nhân văn” mới (a new "religion of humanity”) Mặc dù Mill tiếp thu ở Comte phần lớn về phương pháp thực chứng song ông cũng có những sự khác biệt thể hiện lập trường triết học riêng của mình Nếu như Comte quan niệm rằng xã hội học
là khoa học sử dụng các phương pháp khoa học thực chứng để xây dựng và phát triển một khoa học mới mẻ mà ông gọi là Xã hội học hay Vật lý học
xã hội Bởi, Comte coi xã hội học cũng giống khoa học tự nhiên như vật lý học, sinh vật học trong việc vận dụng các phương pháp luận nghiên cứu để tìm hiểu bản chất của xã hội Trong lý luận về nhà nước của mình, Comte cho rằng, ngoài sự phụ thuộc lẫn nhau thì việc tập trung quyền lực vào tay nhà nước cho phép điều hòa, phối hợp và liên kết các bộ phận của hệ thống
xã hội đảm bảo chống lại sức ép của sự phân hóa và phân rã xã hội Mặt khác, trên cơ sở công nhận vai trò của nhà nước, Comte cũng cho rằng yếu
tố trí tuệ và đạo đức, tình cảm của các thành viên xã hội đóng vai trò là nhân tố duy trì sự liên kết giữa các cá nhân và giữ gìn trật tự xã hội
Trang 22Trong khi rơi vào cuộc khủng hoảng tinh thần năm 20 tuổi, Mill đã đọc rất nhiều tác phẩm của Comte Một mặt tán thành với ý đồ xây dựng một khoa học chung cho toàn nhân loại của Comte nhưng Mill cho rằng Kinh tế nên được nghiên cứu như một khoa học riêng biệt Ngoài ra, Mill cũng đi một hướng khác với Comte khi ông quan niệm, trong lĩnh vực xã hội không nên chỉ dựa vào phương pháp kinh nghiệm hay quy nạp bởi lẽ các hiện tượng xã hội rất phức tạp và đan xen với nhau nên cần có những phương pháp đặc thù khác để phân biệt chúng với nhau Tại điểm này, Mill được xem như người sửa những lỗi sai cho chủ nghĩa kinh nghiệm đơn giản (Cách dịch khác: Chủ nghĩa kinh nghiệm tầm thường “casual empiricism”) Theo đó, kết hợp phương pháp quy nạp với sự tôn trọng thực tế cho những
lý thuyết hay ý tưởng, Mill đã đề xuất về phương pháp quy nạp suy luận và
thực hiện phương pháp này trong những nghiên cứu của mình
Đặc biệt, các tư tưởng về dân chủ của Mill hay những ý tưởng về cải
cách của ông chịu ảnh hưởng khá lớn từ nhà tư tưởng người Pháp Alexis de Tocqueville (1805 - 1859) Đương thời, Tocqueville từng là đại biểu Quốc
hội, Phó Chủ tịch Quốc hội và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Pháp Sinh ra trong một gia đình truyền thống quý tộc nhưng từ sớm (chỉ mới 16 tuổi) Tocqueville đã có những ý nghĩ nghi ngờ về vai trò của tầng lớp quý tộc Pháp Năm 1827, ông có thời gian học việc để làm thẩm phán tại tòa án Versailles Chính thời gian này ở ông đã nảy sinh niềm hứng thú mãnh liệt đối với tự do và ông ngày càng tin tưởng rằng sự suy giảm về quyền lực của tầng lớp quý tộc là điều không thể tránh khỏi Cách mạng Pháp nổ ra
đã khiến cho gia đình ông có nhiều thay đổi Bản thân Tocqueville cũng không còn giữ được vị trí, nghề nghiệp của mình nữa Từ đây, ông đã tìm đến Hoa Kỳ như là một mô hình kiểu mẫu về chính trị Với lý do muốn cải cách các nhà tù ở Mỹ, ông đã được phép sang Mỹ và tìm hiểu về chính trị của nước này Ông hy vọng rằng, những điều ông thu lượm được từ nền chính trị nước Mỹ sẽ giúp ích cho nền chính trị Pháp Sau thời gian ở Mỹ,
Trang 23Tocqueville cũng đến Anh để nghiên cứu hệ thống chính trị ở đây Sản phẩm tinh thần mà ông ôm ấp từ lâu chính là cuốn “Democracy in America” (Bản dịch tiếng Việt: “Nền Dân trị Mỹ; Dịch giả Phạm Toàn) được xuất bản phần một vào năm 1835 và phần hai được xuất bản năm
1840 Trong cuốn này, Tocqueville đã đưa ra một lời cảnh báo mối nguy hiểm về sự chuyên quyền của chính phủ Ông cố gắng áp dụng những ý
tưởng của mình và những mong muốn thay đổi đến Pháp song không được chấp nhận Cuốn sách được coi là kinh điển của ông chỉ được nước Anh hưởng ứng, những người thừa nhận và nghiên cứu nghiêm túc trong đó có John Stuart Mill
Cụm từ được Tocqueville nhắc đến mà sau này là Mill sử dụng khá
phổ biến đó là “chuyên chế của đa số” Không giống như trong chế độ độc
tài, quyền tự do tín ngưỡng trong xã hội dân chủ được ủng hộ mạnh mẽ Tuy nhiên, nó cũng có mặt trái, bởi không bị chuyên quyền áp đặt nên dễ
xảy ra có nhiều tranh cãi, bất đồng ý kiến mà phần thắng thường thuộc về
đa số Chính ở điểm này, Mill bị ảnh hưởng từ Tocqueville nhưng Mill lại
đưa ra một đề nghị khác vị tiền bối của mình về việc ngăn ngừa hay hạn chế sự chuyên chế của đa số
Với “Nền dân trị Mỹ”, Tocqueville cho rằng sự giảm bớt một số hoạt động của chính quyền trung ương sẽ là một cách thức để chống lại sự chuyên chế của đa số Nghĩa là, phần việc của chính quyền trung ương sẽ được chia sẻ bớt cho các cơ quan địa phương thực hiện Điều này đã khiến Mill trầm tư ít nhiều bởi ở Anh thời đó, theo ông, các chính quyền địa phương đang tồn tại một cách hỗn độn, thiếu sự rõ ràng và chuyên nghiệp
Tocqueville cũng cho rằng, những truyền thống và sự chuyên nghiệp trong lập pháp một mặt bảo vệ vững chắc những lý do để hình thành luật Mặt khác, khi nó được lan rộng và thừa nhận sâu rộng trong xã hội thì nó lại trở thành yếu tố gây trở ngại đối với những suy nghĩ độc đáo, khác biệt
so với những bộ óc bình thường và gây khó khăn để áp dụng những ý
Trang 24tưởng mới mẻ Do ảnh hưởng từ sự phân tích của Tocqueville về nền văn hóa Hoa Kỳ mà về sau, Mill đã suy nghĩ về mối nguy hiểm của dân chủ chính là sự khác biệt của đa số sẽ đàn áp cá nhân hay thiểu số
Như vậy, với tác phẩm “Nền dân trị Mỹ” nổi tiếng cùng quãng đời hoạt động chính trị theo lập trường dân chủ của mình, Alexis de Tocqueville đã ảnh hưởng đến Mill – nhà tư tưởng người Anh, nơi duy nhất
mà cuốn sách của Tocqueville được hưởng ứng mạnh mẽ thời đó Với Mill, một mặt đam mê với những vấn đề Tocqueville gợi ra và đã có phân tích, mặt khác ông cũng đưa ra những lập trường riêng biệt thể hiện suy nghĩ riêng của mình về vấn đề mà cả ông và Tocqueville cùng quan tâm Đó chính là bước biến chuyển ở nhà triết học chính trị người Anh này
Tóm lại, trên đây là vài nét về các nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn tới John Stuart Mill Xét dưới quan niệm của J S Mill về chính thể, từ sự ảnh hưởng đó, ta thấy được trong bản thân Mill cũng đã có những băn khoăn, day dứt và những biến chuyển về lập trường triết học Việc đưa ra, phân tích những tiền đề tư tưởng trên đây cho chúng ta thấy sự tác động và tính
kế thừa liên tục giữa các nhà tư tưởng trong lịch sử triết học Anh nói chung, mặt khác, khẳng định sự tiến bộ của John Stuart Mill đối với các bậc tiền bối và đồng thời là những giá trị tư tưởng của ông đối với hậu thế
1.2 Khái quát về John Stuart Mill
1.2.1 Cuộc đời
John Stuart Mill là một nhà triết học, kinh tế học, logic học tài ba và
là nhà lý thuyết nổi tiếng về đạo đức học người Anh John Stuart Mill được coi là nhà tư tưởng lỗi lạc của thời đại cải cách xã hội và là triết gia Anh có ảnh hưởng nhất thế kỷ XIX Cho tới nay, giới học thuật vẫn công nhận ông
là người có ảnh hưởng sâu sắc nhất đã bảo vệ thành công chủ nghĩa kinh nghiệm cũng như tự do chính trị, xã hội, văn hóa Nhìn một cách tổng quát, mục tiêu và lý tưởng của học thuyết Mill là hướng đến một xã hội tiến bộ trong đó mỗi cá nhân đều có được tự do
Trang 25John Stuart Mill sinh ngày 20/5/1806 ở Pentonville, London Ông là con trai cả của nhà sử học, kinh tế và triết học James Mill – nhà triết học gốc người Scotland đã chuyển tới sống ở London và trở thành một tên tuổi nổi tiếng với việc tiếp tục triết lý thực dụng của Jeremy Bentham Mẹ của ông là Harriet Barrow, người có ảnh hưởng rất ít tới Mill bởi ông chủ yếu nhận được những kế hoạch học tập và sự giáo dục từ người cha Cha Mill
đã dạy ông với một chương trình rất nghiêm khắc Học vấn của ông bắt đầu
từ tiếng Hy Lạp và môn số học từ năm 3 tuổi, đến năm 13 tuổi, ông đã có được kiến thức tương đương với chương trình đại học toàn phần
Chỉ mới 8 tuổi, Mill đã đọc “Các truyện ngụ ngôn Hy Lạp” của
Aesop, “Cuộc viễn chinh (Anabasis)” của Xenophon và toàn bộ các tác
phẩm của Herodotus Ông đã làm quen với các tác phẩm của nhà văn trào phúng Lucian, nhà lịch sử triết học Diogenes Laertius, nhà văn Isocrates và
6 hội thoại của Plato Ngoài ra, Mill cũng dành thời gian đọc cẩn thận và kỹ lưỡng nhiều tác phẩm lịch sử bằng tiếng Anh Cũng ngay từ khi 8 tuổi, ông
đã bắt đầu học tiếng Latin, hình học Euclid, đại số và dạy học cho các em của mình Lĩnh vực quan tâm chính của ông là lịch sử, ông đã học qua tất
cả các tác giả Hy Lạp và La Mã thường được dạy ở trường, ông đã đọc được các tác phẩm của Plato và Demosthenes một cách dễ dàng khi chỉ mới
10 tuổi Bước sang tuổi 12, ông bắt đầu nghiên cứu sâu về logic trong triết học kinh viện, đồng thời đọc các luận thuyết logic của Aristote Trong những năm tiếp theo, ông bắt đầu học kinh tế chính trị, nghiên cứu các tác phẩm của Adam Smith và David Ricardo Trên thực tế, Mill chịu ảnh hưởng nhiều của James Mill, nhưng điều này đã khiến ông luôn bị mâu thuẫn trong tư duy bởi những suy nghĩ khác biệt so với cha mình Bởi vậy trong ông luôn có những ràng buộc về tư tưởng và sự phát triển tư duy thiếu tự nhiên Thực chất, đây chính là kết quả của cách giáo dục mà James Mill áp dụng theo nguyên tắc tâm lý học liên tưởng của Bentham
Trang 26Từ 5/1820 đến 7/1821, Mill sống ở Pháp, học tiếng Pháp, hóa học, thực vật học và toán học nâng cao Năm 1821 ông trở về và bắt đầu học tâm lý học và luật La Mã Vào năm 1826 khi bước sang tuổi 20, Mill bị rơi vào trạng thái trầm cảm trong nhiều tháng song ông vẫn tiếp tục công việc của mình Chính trong thời gian này, Mill bắt đầu băn khoăn về những điều
mà ông vẫn tin tưởng trước đây Ông tự hỏi mình liệu ông có hạnh phúc hơn nếu mọi cải cách mà ông và cha tin tưởng thành hiện thực và ông kinh hoàng nhận ra rằng câu trả lời là “không” [Xem: Tài liệu 41]
Năm 1828, Mill gặp Gustave d’Eichtahl (1804-1882) – một tín đồ trung thành của Saint Simon Chính sự gặp gỡ này đã gợi mở cho Mill đến với những tác phẩm của August Comte Ông cũng gặp John Sterling – một học trò của Coleridge Thông qua tìm hiểu về tư tưởng của những nhà tư tưởng này, Mill đã nhận ra vai trò đặc biệt quan trọng của các tổ chức xã hội và văn hóa trong lịch sử phát triển của con người Từ đây, ông nhận thấy nhiệm vụ của mình là giúp cho xã hội Anh thoát khỏi tình trạng khủng hoảng mà không chỉ sử dụng hình thức bút chiến đơn thuần như cha ông và Bentham Nghĩa là, một mặt chỉ trích những hình thức tổ chức xã hội cũ, mặt khác cố gắng tìm kiếm một hình thức mới tốt đẹp hơn Trên thực tế, các hình thức cũ đã tồn tại từ rất lâu đời và nó được mặc nhiên cho là đúng qua các thế hệ Thậm chí, mọi ý kiến không công nhận các hình thức ấy đều bị gạt bỏ Như vậy, giai đoạn này, các nhà cải cách xã hội nhận ra rằng: không thể đơn thuần sử dụng những triết lý với những hệ thống tư tưởng đồ
sộ mà cần phải đưa ra những đề xuất cụ thể lấy tư tưởng triết học làm nền tảng mới có thể giúp thay đổi các hình thức cũ Với Mill, ông không từ bỏ những triết lý cũ về vị lợi của mình nhưng đã sử dụng nó khác đi Ông không còn chỉ chỉ trích hay phê bình mà thực tế hơn, ông muốn từ đó có thể phát triển lên để cho phép hình thức mới xuất hiện từ việc kết hợp những điểm tốt nhất của các hình thức cũ Ông cho rằng, quan niệm về dân
Trang 27chủ của các nhà cấp tiến tiền bối đang bị bó hẹp, kiềm chế bởi ý nghĩ về sự nguy hiểm của dân chủ đối với các cá nhân
Năm 1830, Mill gặp Harriet Taylor, người sau này đã trở thành vợ ông đồng thời là người ảnh hưởng tới ông trong suốt quãng đời còn lại
vợ của ông chính là người có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ cũng như hoàn thiện đạo đức của ông Taylor đã khiến ông suy tư về sự phát triển và tiến bộ của các cá nhân trong xã hội mà trong đó phụ nữ cũng như nam giới, công nhân cũng như quý tộc Mill nhận thấy một điều rõ
tới có thể thực hiện được thì con người sẽ đạt được hạnh phúc lớn hơn rất nhiều so với lúc đó Mill thực sự hụt hẫng trước sự ra đi của vợ khi bà bị bệnh nặng và qua đời ở Avignon năm 1858 Sau đó nửa năm, ông sống trong một ngôi nhà gần Avignon để được gần mộ của người vợ yêu quý
Quay trở lại với những công việc, vị trí mà Mill đảm nhận, vào năm
1828 ông trở thành trợ lý thanh tra của văn phòng India House Trong 20 năm, từ 1836 đến 1856, Mill đảm nhận trách nhiệm về mối quan hệ của công ty Đông Ấn với các bang Ấn Độ, và năm 1856, Mill trở thành trưởng văn phòng thanh tra Khi Nghị viện Anh yêu cầu công ty giải thể sau vụ nổi dậy ở Ấn Độ và dù Mill đã nỗ lực bảo vệ công ty song ông không thành công Sau đó ông được đề xuất một vị trí trong Hội đồng tư vấn nhưng ông
đã từ chối Mill nghỉ hưu năm 1858, đó cũng là thời gian vợ ông mất
Năm 1865, Mill được bầu vào Hạ viện Khi làm việc tại Hạ viện, ông thấy mình mâu thuẫn với những suy nghĩ, những mục tiêu của các đại cử tri, ông cũng không muốn thỏa hiệp bởi nếu thỏa hiệp sẽ vi phạm vào những nguyên tắc của mình Bởi thế, ông đã thất bại trong cuộc bầu cử vào năm 1868 do một mực bảo vệ lập trường chính trị đồng thời lên án gay gắt hành động của một quan chức Anh thời đó (Vụ Thống đốc Eyre)
Trang 28Về sau, Mill đã có một cuộc sống rất thoải mái ở Avignon Ngôi nhà của ông chứa đầy sách báo Mill cực kỳ say mê âm nhạc và bản thân ông cũng là một nghệ sỹ piano tài giỏi Ở miền quê Avignon này, ông vẫn thường đọc sách, viết sách, bàn luận, đi dạo và nghiên cứu thực vật Ông cũng đã dành thời gian tìm kiếm, phân loại các loài hoa mùa xuân và hoàn tất một danh mục quần thể thực vật
Tại Avignon, Mill vẫn luôn miệt mài lao động và vẫn luôn dành mối quan tâm sâu sắc đến các vấn đề của xã hội mặc dù ông đang sống ẩn dật Mill đã qua đời ở Avignon ngày 8/5/1873 Chân dung con người vĩ đại này được đúc đồng và được dựng trên đường ven bờ sông Thames ở London
1.2.2 Sự nghiệp
Nói đến sự nghiệp của nhà tư tưởng tài ba này phải nói đến những khởi đầu quan trọng như các bài viết của ông về "Linh hồn của Thời đại" trên tờ “Người thanh tra” vào những năm 1830-1831 Trong những năm
1832 và 1833, ông viết nhiều bài luận một số tờ như Tait's Magazine, The Jurist, và Monthly Repository Đến năm 1835, Mill được giao nhiệm vụ biên tập cho tờ The London Review Về sau ông tiếp tục làm công việc này cho đến năm 1840 khi tờ The London Review sáp nhập với tờ The Westminster năm 1836 Sau đó, Mill cũng đã viết các tác phẩm lớn và xuất bản một số bài báo quan trọng trên tờ The Edinburgh Review Ông say mê nghiên cứu chủ nghĩa nhân đạo theo xu hướng đưa ra một phương pháp chứng minh đáng tin cậy cho đạo đức học và khoa học xã hội Mill phần nào chịu ảnh hưởng của nhà triết học thực chứng người Pháp Auguste Comte và được khơi gợi cảm hứng từ nhà vật lý học và toán học Isaac Newton Từ khi nhận thấy logic mới không đối nghịch một cách đơn giản với logic cũ, ông đã cố gắng tìm kiếm những giải nghĩa cho sự tương đồng giữa hai loại logic này nhưng không có kết quả Đến năm 1837, Mill đã tìm
ra được cách thức rõ ràng và hiệu quả để thiết lập các phương pháp nghiên cứu khoa học và sáp nhập logic học mới vào logic học cũ khi ông bắt gặp
Trang 29và đọc cuốn “Triết học của Khoa học Quy nạp” của William Whewell và đọc lại tác phẩm “Mở đầu về Nghiên cứu Triết học Tự nhiên” của John F.W Herschel Kết quả là, tác phẩm nổi tiếng của ông mang tên “Hệ thống logic” bao gồm hai tập được xuất bản vào năm 1843 Cuốn sách này là sự
nỗ lực của ông nhằm mục tiêu xây dựng một hệ thống logic cho các khoa học nhân văn dựa trên sự giải thích nhân quả Hệ thống đó bao quát nhiều lĩnh vực như lịch sử, tâm lý học và xã hội học
Quá trình nghiên cứu kinh tế chính trị của Mill có thể chia thành ba giai đoạn
Giai đoạn thứ nhất được đánh dấu bằng việc tác phẩm “Bàn về những vấn đề phức tạp của Kinh tế Chính trị” của ông được xuất bản vào năm 1844 Tác phẩm này chứa đựng những bài luận được coi là những lời giải cho các bài toán rắc rối, ví dụ như sự phân chia lợi ích của thương mại quốc tế hay ảnh hưởng của tiêu dùng đối với sản xuất Mill đã kế thừa nhiều hạt nhân hợp lý từ David Ricardo đồng thời đã đưa ra những nhận định sâu sắc hơn
Giai đoạn thứ hai bắt đầu bằng sự xuất bản của tác phẩm “Các nguyên lý của kinh tế chính trị học” năm 1848 Lúc này, Mill thể hiện rõ ràng tính độc lập và sáng tạo trong cách tư duy và cách thức giải quyết các vấn đề so với các bậc tiền bối Vào thời gian này, ông cũng nỗ lực ủng hộ cho việc xây dựng hình thức sở hữu nông dân Đây được coi là một giải pháp cho tình trạng nghèo đói và tình hình bất ổn ở Ireland Từ đây, ông đã nghiên cứu sâu hơn về các nhà văn xã hội chủ nghĩa và thấy rằng các vấn
đề xã hội cũng quan trọng như các vấn đề chính trị Mill không thừa nhận chế độ sở hữu và chủ trương phân tách giữa sản xuất và phân phối Ông không đồng tình với hình thức phân phối khi hình thức này thường xuyên đẩy các tầng lớp lao động vào cuộc sống khốn khó và đói kém
Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn Mill khắc phục những điểm yếu trong hệ thống của mình Nếu như với những nghiên cứu ở giai đoạn trước,
Trang 30ông không đưa ra được một giải pháp khả thi thì ở giai đoạn thứ ba này, ông đã khá thành công trong việc phân tích sâu sắc cách thức làm thế nào
để xây dựng lại xã hội để xã hội đó ngày càng tốt đẹp hơn Trong giai đoạn này, Mill được trợ giúp khá nhiều từ người vợ của mình
Sau khi bà Taylor mất, Mill đã xuất bản một loạt sách về đạo đức học và triết học Đây là những đứa con tinh thần Mill đã nuôi dưỡng từ lâu
và được ủng hộ rất lớn từ vợ mình Các tác phẩm nổi tiếng như “Bàn về Tự do” và “Những suy nghĩ về cải cách Nghị viện” được xuất bản vào năm
1859; Cuốn “Chính thể đại diện” mà chúng ta đang tìm hiểu được xuất bản
năm 1861 Thành công của Mill trong “Chính thể đại diện” là ông đã hệ thống hóa các quan điểm đã từng được trình bày trong nhiều bài báo và tiểu
luận Tác phẩm “Thuyết vị lợi” được xuất bản năm 1863 là những nỗ lực
của Mill một mặt hướng tới trả lời các câu hỏi có xu hướng chống lại lý thuyết đạo đức của ông; mặt khác nhằm loại bỏ những quan niệm sai lầm
về lý thuyết đó
Các bài luận trong tập bốn tác phẩm “Luận án” (1875) của ông nói
về những vấn đề cơ bản như tài sản, đất đai, lao động hay các vấn đề siêu hình học và tâm lý học Ông viết các bài luận này cho tờ Fortnightly Review trong giai đoạn ông tham gia nghị trường Năm 1867, Mill được coi là một trong những người sáng lập tổ chức đầu tiên giành quyền bầu cử cho phụ nữ Năm 1869, ông xuất bản tác phẩm “Sự Khuất phục của Phụ nữ” (The Subjection of Women, viết năm 1861) Tác phẩm này là một tuyên ngôn kinh điển về quyền bầu cử của phụ nữ Sự kiện được coi là hoạt động xã hội cuối cùng của ông liên quan đến mốc ra đời của Tổ chức cải cách sở hữu đất đai
Cuốn “Tự truyện” và “Ba bài luận về Tôn giáo” được xuất bản sau khi ông mất
Cuối cùng, có thể tổng kết các tác phẩm cơ bản của John Stuart Mill như sau:
Trang 31Hệ thống logic (1843), Bàn về những vấn đề phức tạp của Kinh tế Chính trị (1844), Các nguyên lý của kinh tế chính trị học (1848), Bàn về Tự
do (1859), Những suy nghĩ về cải cách Nghị Viện (1859), Chính thể đại diện (1861), Chủ nghĩa công lợi (1863), Sự Khuất phục của Phụ nữ (xuất bản năm 1869, viết năm 1861), Khảo cứu triết học của ngài William Hamilton (1865), Tự truyện (xuất bản 1873), Ba bài luận về Tôn giáo (xuất
bản 1873)
Như vậy, việc điểm lại những sự kiện quan trọng trong cuộc đời cũng như những kết quả từ sự lao động miệt mài của John Stuart Mill đã cho chúng ta hình dung về một con người tài hoa, trách nhiệm và mang trong mình tinh thần nhân văn cao cả Bên cạnh đó, từ đặc thù nghiên cứu quan niệm Mill về “Chính thể”, tác giả luận văn cũng đặc biệt quan tâm đến Triết học chính trị của nhà tư tưởng này
Tóm lại, một điều có thể thấy rằng, từ những đóng góp vô cùng ý nghĩa và sâu sắc của Mill mà cho tới nay, ông vẫn luôn được nhắc đến trong giới học thuật Ông được đánh giá là một nhà tư tưởng can đảm vì dám dấn thân vào những vấn đề nhạy cảm của thời đại bất chấp những cản trở hay sự bất lợi trong sự nghiệp tham chính của mình Mặc dù vậy, con người John Stuart Mill luôn sẵn sàng học hỏi người khác có thể thấy ông đã tiếp thu nhiều ý tưởng hợp lý từ các bậc tiền nhân
1.2.3 Triết học chính trị của John Stuart Mill
Triết học chính trị của John Stuart Mill dựa trên hai nguyên tắc nền tảng là nguyên tắc công lợi và nguyên tắc tự do Đây là hai nguyên tắc cơ bản Mill dựa vào để tiếp cận và nghiên cứu những vấn đề chính trị Là một nhà triết học thực chứng, mọi ý tưởng của Mill đều dựa trên cơ sở các hành vi Mục
đích hành vi được đánh giá theo tiêu chuẩn hành vi đó có đem lại hạnh phúc gì cho những người có liên quan tới nó không? Chuỗi logic Hành vi – Hạnh phúc – Công lợi – Tự do có thể hình dung như một tòa tháp mà viên
gạch sau đặt nền trên viên gạch trước Tòa tháp ấy được hoàn tất bởi những
Trang 32triết lý chính trị, xã hội độc đáo và sâu sắc của Mill tạo thành một hệ thống
đồ sộ, vững chắc và có tầm ảnh hưởng vô cùng rộng rãi
Trên cơ sở đánh giá cao vai trò của việc tự thân phát triển, Mill cho
rằng tự do là quyền cơ bản của con người Nếu như nhiều triết gia khác bàn
về “tự do” một cách trừu tượng về mặt khái niệm, ví dụ như, trong tác phẩm
“Tinh thần pháp luật”, Montesquieu cho rằng: “không có một từ nào lại có nhiều cách định nghĩa theo những lối suy nghĩ khác nhau như là từ “tự do”” [3, tr 98]; từ đó ông đưa ra khái niệm “Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà luật cho phép Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh
ta không còn được tự do nữa; vì nếu để anh ta tự do làm thì mọi người đều được làm trái luật cả” [3, tr 99] Với Mill, ông nói đến tự do là những quyền tự do cụ thể Đó là ba quyền tự do của cá nhân nhất thiết phải được
bảo vệ: quyền tự do tư tưởng, tự do thảo luận; tự do lựa chọn lối sống và tự
do lập hội
Trước hết, về tự do tư tưởng và tự do thảo luận Mill đưa ra hai lý do tại sao không nên hạn chế tính hữu ích của tự do tư tưởng và tự do thảo luận đối với hạnh phúc của tập thể Ông cho rằng, bất cứ người nào cũng có thể mắc sai lầm Lý do thứ hai là về những ý kiến đang hiện hành có thể
không được đông đảo thừa nhận là đúng, cũng có thể ý kiến đó không
quyết định được đúng, sai Như vậy, sự phê phán là có lợi ở chỗ cả quan điểm đúng sai đều có thể bổ sung, điều chỉnh cho nhau
Thứ hai, về tự do lựa chọn lối sống Quan niệm của Mill về tính có thể sai lầm của con người và quan niệm về hạnh phúc cho thấy xã hội không thể giới hạn sự tự do trong việc chọn lựa lối sống và can thiệp vào lĩnh vực riêng tư của cá nhân bởi vì về nguyên tắc xã hội vẫn có thể sai lầm Tất nhiên, cá nhân có thể sai lầm trong lựa chọn của mình, nhưng theo Mill, xác suất ấy thấp hơn nhiều so với xã hội Vì thế, cá nhân phải được quyền theo đuổi quan niệm hạnh phúc riêng của mình mà không có sự can
thiệp của xã hội, miễn là không làm liên lụy đến người khác
Trang 33Mill cho rằng, cá tính chính là thành tố phát triển xã hội như dưới
góc độ là tính độc đáo, thiên tài hay lập dị Chính vì thế, cần phải cho phép
cá nhân được sống, được thể hiện và phát triển để thúc đẩy xã hội ngày càng tiến bộ hơn
Quyền tự do cuối cùng Mill bàn tới là quyền tự do lập hội Ông lập luận quyền tự do tư tưởng, tự do thảo luận và tự do lựa chọn cuộc sống của riêng mình là những tiền đề để con người có quyền tự do lập hội Theo ông, đây là quyền bao gồm quyền tự do tổ hợp giữa các cá nhân được suy ra từ quyền tự do cá nhân và nằm trong cùng giới hạn của quyền tự do cá nhân Bởi vậy mà, lý luận về quyền tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tự do lựa chọn lối sống đồng thời cũng là lý luận về quyền này [Đọc thêm công trình cùng tác giả luận văn, tài liệu 26]
Mill cũng áp dụng nguyên tắc tự do để bàn về các vấn đề bình đẳng,
đặc biệt là bình đẳng giới
Cuốn “Sự khuất phục của phụ nữ” được xuất bản tại Anh năm 1869
là tác phẩm nổi tiếng của Mill mà trong đó ông trình bày nhiều quan điểm bình đẳng của mình Đây được coi là một tác phẩm rất có giá trị trong thời đại Victoria khi các quyền của người phụ nữ còn xa lạ và rất khó để đạt được Đặc biệt, trong lịch sử, người đàn ông vẫn luôn chiếm một vị trí trung tâm Ngay từ phần mở đầu của tác phẩm “Sự khuất phục của phụ nữ”, Mill đã khẳng định, sự bất bình đẳng giới chính là một trong những cản trở chủ yếu của quá trình hoàn thiện con người “Đó là quy tắc điều chỉnh sự tồn tại của các quan hệ xã hội giữa hai phái nam và nữ - sự lệ thuộc về mặt pháp lý của phái này đối với phái kia - tự bản thân nó là sai lầm, và hiện nay, nó là một trong những trở ngại chủ yếu đối với sự phát triển của nhân loại; nó nên được thay thế bằng một nguyên tắc về sự bình đẳng hoàn toàn, nguyên tắc này thừa nhận không có một quyền lực hay đặc
Trang 34quyền nào trong tay phái này để áp đặt cho phái kia”1
[55, tr 1] Ông coi sự bình đẳng giữa nam và nữ là điều hiển nhiên Các nguyên tắc bình đẳng được Mill đề cập tới có thể kể đến là ba nguyên tắc sau: Nguyên tắc cơ hội bình đẳng đối với các phúc lợi xã hội (Equal Opportunity for Welfare);
nguyên tắc ích lợi xã hội (Social Utility) và nguyên tắc các quyền tự do cơ
bản (Basic Liberties) Từ cơ sở này, ông đưa ra lời phản bác đối với những
ý kiến bênh vực sự bất bình đẳng Về ý kiến cho rằng phụ nữ có các phẩm chất yếu kém hơn nam giới, tự nhiên sinh ra đã yếu hơn nam giới, Mill phản đối bằng việc liệt kê nhiều phẩm chất mà phụ nữ có ưu thế hơn nam giới Ông cũng đưa ra quan niệm về hai loại năng lực đó là năng lực thực tế
và năng lực tiềm năng Như vậy, nếu người phụ nữ không được hưởng nền giáo dục tốt như nam giới thì những năng lực tiềm năng của họ không có điều kiện để trở thành những năng lực thực tế Theo đó, Mill ủng hộ một nền giáo dục dành cho tất cả mọi người, nam cũng như nữ, ông ủng hộ các
cơ hội theo đuổi nghề nghiệp của người phụ nữ cũng như quyền bầu cử hay
cơ hội tham gia vào các công việc nhà nước của họ
Cùng với những tuyên bố về tự do và bình đẳng, Mill cũng bàn nhiều
tới Dân chủ Trong tác phẩm “Chính thể đại diện”, ông dành một phần lớn
để nói về nền dân chủ nào là nền dân chủ thực sự và nền dân chủ nào chỉ là dân chủ giả hiệu Nếu như bậc tiền bối của J S Mill là Bentham và James Mill cho rằng dân chủ là hình thức tốt nhất có thể đảm bảo hạnh phúc cho tất cả mọi người thì Mill không hoàn toàn đồng ý Sâu xa hơn, Mill còn nói
về những hạn chế, những ảnh hưởng tiêu cực của nền dân chủ tới con người Về điểm này, ông chịu ảnh hưởng khá nhiều từ nhà tư tưởng người Pháp Tocqueville Mill cho rằng, nền dân chủ sẽ tạo điều kiện cho số đông lạm dụng quyền hạn của mình và tạo ra sự chuyên chế Chính ở điểm này,
1
“That the principle which regulates the existing social relations between the two sexes — the legal subordination of one sex to the other — is wrong itself, and now one of the chief hindrances to human improvement; and that it ought to be replaced by a principle of perfect equality, admitting no power or privilege on the one side, nor disability on the other”
Trang 35Mill đã đưa ra một lời cảnh báo đối với chính thể Anh đương thời Không những vậy, ông còn đề xuất những giải pháp để làm giảm sự chuyên chế
ấy, tạo điều kiện cho những cá nhân tài năng phát triển và tham gia tích cực vào các công việc chính trị của đất nước Nói đến việc thực thi những tư tưởng dân chủ, Mill bàn về cách thức để một ý tưởng tiến bộ được thử nghiệm và áp dụng rộng rãi thông qua ví dụ về việc áp dụng hệ thống của Thomas Hare (1806–1891)
Những quan niệm trên đây của J S Mill về tự do, bình đẳng, dân chủ là những tiền đề để ông xây dựng nên hệ thống triết học chính trị của mình Hệ thống đó xoay quanh những vấn đề về chính phủ, cách thức quản
lý nhà nước, nguyên tắc đa số phiếu, tính thích hợp dành cho các tổ chức xã hội, mối quan hệ giữa trung ương và chính quyền địa phương hay về các chính phủ liên bang
Quan niệm về chính phủ của Mill cũng khác so với những nhà tư
tưởng trước đó Nếu như một số nhà tư tưởng thời trước Mill thường bàn tới Quyền tự nhiên hay Khế ước xã hội, thì Mill lại bàn luận nhiều về hình thức chính thể (hay các loại hình chính phủ) Ông cho rằng, tiêu chuẩn để đánh giá hình thức của chính phủ chính là mức độ mà chính phủ đó cho phép mỗi người dân thực hiện và phát triển theo cách riêng và năng lực của bản thân họ để họ đạt được hạnh phúc và những điều tốt đẹp hơn Sự phát triển đó vừa là mục đích tối hậu của mỗi cá nhân, vừa là cách thức khiến cho cộng đồng phát triển và hướng đến một xã hội phồn vinh, hạnh phúc cho tất cả mọi người Ông là người ủng hộ loại hình chính thể mang tính đại diện, được coi là chính phủ duy nhất là “chính phủ được toàn dân tham
dự là thỏa mãn đầy đủ mọi nhu cầu cấp bách của tình trạng xã hội, rằng bất
cứ sự tham dự nào, kể cả trong chức năng công cộng nhỏ bé nhất, cũng là hữu ích” [23, tr 128]
Về con đường bầu cử hình thành nên Nghị viện trong chính thể đại
diện cũng là một vấn đề mà Mill quan tâm sâu sắc Ông đưa ra đề nghị về
Trang 36nguyên tắc đa số phiếu với yêu cầu về sự mở rộng quyền bầu cử Dù cử tri thuộc đa số hay thiểu số dân chúng thì cũng đều tìm được người đại diện của mình Ông đưa ra quan điểm về lá phiếu bổ sung Đề cao sự hiểu biết của những người có giáo dục, theo Mill, những người này cần được bổ sung thêm lá phiếu hơn so với những người thất học Từ đây, ông đề cao giáo dục, mà đặc biệt là giáo dục chính trị, sẽ khiến cho dân chúng sáng suốt hơn khi lựa chọn những người đại diện cho mình Đồng thời, đây cũng
là điều kiện để họ luôn có khả năng bảo vệ các quyền tự do cho mình Mill
là người không ủng hộ bỏ phiếu kín bởi cách thức này sẽ tạo điều kiện cho lạm quyền, tham nhũng và hối lộ gia tăng Nhằm mục đích tránh những điều xấu xa này, Mill ủng hộ một hệ thống bầu cử mở Ông cũng đề cao vai trò của bầu cử trực tiếp hơn là bầu cử hai giai đoạn Theo ông, những lợi ích mà bầu cử gián tiếp đem lại thì bầu cử trực tiếp cũng có được Hơn nữa, bầu cử trực tiếp sẽ nâng cao trách nhiệm của cử tri hơn khi họ thấy mình là người quan trọng đối với kết quả của cuộc bầu cử Cuối cùng, để công việc bầu cử thực sự là một cách thức trao quyền lực cho nhân dân và để họ sử dụng đúng đắn nhất quyền lợi của mình, Mill nhấn mạnh đến nhiệm vụ đặc
biệt quan trọng là giáo hóa tinh thần và trí tuệ chính trị cho người dân
Để bảo vệ quyền lợi cho đông đảo các tầng lớp nhân dân, Mill đã
luận giải về vấn đề: Phản đối sự can thiệp của chính quyền Đây chính là
những ranh giới mà Mill đề ra để chính phủ không thể xâm phạm tới quyền lợi của người dân Điều này được Mill tóm gọn trong ba loại sau:
tốt hơn là để cho chính phủ làm” [22, tr 240] Ở đây, Mill đưa ra vấn đề
“lợi ích”, rằng không ai có thể thích hợp hơn để quyết định những vấn đề liên quan đến lợi ích của chính mình bằng mình
khẳng định “Trong nhiều trường hợp, mặc dù các cá nhân có thể làm một việc đặc biệt nào đó không được tốt bằng, tính trung bình mà nói, so với
Trang 37các quan chức của chính phủ, thế nhưng việc để cho các cá nhân làm vẫn đáng mong muốn hơn là để cho chính phủ” [22, tr 240] Nghĩa là, chính phủ cung cấp cho họ những điều kiện vật chất, tinh thần nhưng không phải
là sự độc đoán, áp đặt mà để cho họ tự do lựa chọn và quyết định Khi đưa
ra luận cứ này, Mill cho rằng, nó còn có ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều, đó là
“là các vấn đề của phát triển”, mục tiêu hướng tới tiến bộ xã hội của Mill
Mặt khác, Mill cũng nhận định, Dân chủ và Chính phủ đại diện cũng đóng góp vào sự phát triển của cá nhân nếu cho phép họ được đóng góp bằng những bài phát biểu tự do và việc thành lập các tổ chức xã hội phù hợp dựa trên nhu cầu của người dân Mill cũng cho rằng, nhà nước có quyền được giáo dục khi các thành viên xã hội tồn tại trong phần sơ kỳ của
họ, nhà nước được phép giáo dục, tạo uy lực dư luận nhưng không được phép ra lệnh, bắt ép Mill ủng hộ phương pháp thuyết phục hơn là phương pháp cưỡng bách, mặc dù phương pháp cưỡng bách đôi khi được chấp nhận cho sử dụng
Một điểm khác biệt nữa so với Bentham và cha ông - James Mill là J
S Mill cho rằng các tổ chức xã hội phải thích nghi và phù hợp với thời gian
và địa điểm nơi chúng hoạt động Ông cũng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các cơ quan chính quyền địa phương Ông rất băn khoăn về tình trạng hỗn
độn của các cơ quan chính quyền địa phương ở Anh thời bấy giờ Ở điểm
Trang 38này, Mill cho rằng, chính quyền trung ương chỉ nên giải quyết những vấn
đề thực sự quan trọng và ảnh hưởng tới toàn thể đất nước Chính phủ nên chia sẻ công việc với các chính quyền địa phương, do đó các công việc này
sẽ được thực hiện tốt hơn nhiều so với khi chính phủ ôm đồm tất cả
Bàn về cách thức tốt nhất để quản lý nhà nước như một chỉnh thể,
Mill đưa ra quan điểm về một chính quyền dựa trên những viên chức chuyên nghiệp Những viên chức chuyên nghiệp này sẽ được tuyển lựa công khai hoặc bổ nhiệm từ những vị thủ trưởng cơ quan (Thủ tướng trong Nghị viện hay Thị trưởng ở các chính quyền địa phương) Đặc biệt, Mill nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa chức năng và vị trí của các viên chức để đem lại kết quả làm việc hiệu quả nhất
Ngoài những quan niệm trên, Mill cũng đề cập tới loại hình chính thể liên bang như một loại hình có thể “vừa để ngăn chặn các cuộc chiến tranh
giữa họ [Các khu vực hay quốc gia khác nhau] với nhau, vừa nhằm mục đích có được sự bảo hộ hiệu quả hơn chống lại các cuộc xâm lăng của những Quốc gia hùng mạnh” [23, tr 433] Ông đưa ra những điều kiện để
có thể thành lập liên bang, đó là: “Thứ nhất là phải có mối thiện cảm qua lại với nhau đủ lớn trong các cư dân” [23, tr 433] Thứ hai là “các bang riêng rẽ phải không quá hùng mạnh để có thể tự tin vào sức mạnh cá thể của mình trong việc bảo hộ chống lại ngoại xâm” [23, tr 434] Thứ ba là
“không có chênh lệch quá nhiều về sức mạnh trong số các bang giao kết với nhau” [23, tr 435] Như vậy, việc hình thành các chính thể liên bang
được coi là một phương pháp tốt để đảm bảo quyền lợi và độc lập cho các thành viên khi có sự hội tụ đầy đủ của các điều kiện mà ông nêu ra Ông cũng khẳng định rằng, khi có được những chính thể liên bang bền vững và
ổn định thì việc mở rộng thành viên là điều rất cho lợi cho nền hòa bình toàn thế giới
J S Mill không quên lưu ý các thành viên liên bang chống lại những âm mưu đồng hóa, trừ khi có sự tự nguyện của các thành viên đối
Trang 39với bất kỳ một tác động nào Tìm hiểu quan niệm của Mill về chính thể liên bang sẽ giúp ích lớn cho các quốc gia hiện đang và sẽ trở thành thành viên cho một liên bang hay một tổ chức khu vực, tổ chức thế giới nào đó
Như vậy, được đánh giá không phải là một nhà lý luận tháp ngà, John Stuart Mill là một trong số những nhà tư tưởng chính trị hiếm hoi trở thành chính trị gia mặc dù sự nghiệp nghị trường của ông khá ngắn ngủi Điều này cũng dễ hiểu khi chúng ta biết được lý do thất bại của ông trong cuộc bầu cử năm 1868 Mill không chọn cách thỏa hiệp khi ông có một số mâu thuẫn với đa số các đại cử tri trong Nghị viện Việc Mill truy tố mạnh
mẽ Thống đốc Eyre khi ngài Thống đốc này có hành động đàn áp dã man một cuộc nổi loạn ở đảo Jamaica năm 1865 mà lý do chỉ vì một người đàn ông da đen đã xâm phạm vào một đồn điền bị bỏ rơi, không còn ai cai quản Cuộc nổi loạn này là do sự sao nhãng của chính phủ khiến cho người dân vùng này bị bần cùng hóa, họ đã lâm vào nạn đói nghiêm trọng Thế nhưng, hàng trăm người da đen và những người qua đường vô tội đã bị bắn hoặc treo lên bất kể phụ nữ hay trẻ em chỉ vì họ cố gắng giải cứu cho người đàn ông da đen kia Hành động bất nhân tính và vô trách nhiệm này của Thống đốc Eyre khiến Mill không thể chấp nhận cho qua Và Mill đã sớm
bị loại khỏi Nghị viện cũng vì tinh thần đấu tranh không khoan nhượng cái
ác của mình Đây là một thực tế chính trị mà Mill luôn băn khoăn và tìm hướng giải quyết, bởi theo ông xã hội phải công bằng, bình đẳng mới mong người dân trong xã hội ấy được hạnh phúc Mill là một tấm gương sáng cho chúng ta về tinh thần đấu tranh chính trị
1.3 Khái quát về tác phẩm “Chính thể đại diện”
Trang 40chân tay đã được thay thế bằng lao động máy móc, việc cơ khí hóa sản xuất
đã làm cho giai cấp công nhân phát triển nhanh chóng Tiềm lực kinh tế của giai cấp tư sản đang rất mạnh Cùng với việc nước Anh đã đạt tới mức độ công nghiệp hóa rất cao thì số lượng công nhân là chiếm đa số dân chúng Phần đa số này phải sống trong điều kiện vật chất thiếu thốn và không được học hành; việc phổ cập giáo dục của nước Anh hồi đó còn chưa có nhiều tiến bộ Mặt khác, đây cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ của nước Anh dưới triều đại Nữ hoàng Victoria với nhiều cuộc cải cách chính trị để thích ứng với trào lưu dân chủ của châu Âu và Hoa Kỳ
Trong bối cảnh đó, John Stuart Mill suy tư và lo lắng cho tình trạng không được tham chính của một lượng thiểu số những con người tài năng được gọi là giới tinh hoa Bởi lẽ, nguyên tắc số đông vẫn là nguyên tắc được tuân theo trong nghị trường mà số đông ở đây lại chính là số lượng lớn bị thất học và dễ dàng bị thao túng bởi các chính trị gia mị dân Thêm nữa, lý tưởng của John Stuart Mill là đem lại sự phồn vinh, công bằng cho tất cả mọi người và cuối cùng là nhằm có được sự tiến bộ xã hội Tất cả những điều trên đã ảnh hưởng tới sự hình thành hệ thống tư tưởng của John Stuart Mill, đặc biệt thể hiện những trăn trở ấy trong tác phẩm “Chính thể đại diện”
Ngay từ “Lời tựa”, Mill đã trình bày lý do trực tiếp nhất khiến ông viết “Chính thể đại diện”, đó là “nhất là các cuộc tranh luận mới đây về việc cải cách Quốc hội – cho thấy rằng những nhà “bảo thủ” lẫn “tự do” (nếu tôi được phép tiếp tục gọi như thế như họ vẫn còn tự gọi chính mình)
đã đánh mất lòng tin vào các tín điều chính trị mà họ vẫn còn trung thành trên danh nghĩa, song, điều này không có nghĩa là cả hai phái đã tìm ra được thứ tốt hơn để thay thế Tôi thiết nghĩ một học thuyết tốt hơn về chính thể đại diện là có thể được, nhưng đó không phải là một sự thỏa hiệp đơn giản, xóa nhòa sự khác biệt giữa hai phái, trái lại, phải là một học thuyết có tính chất bao trùm khiến cho phái “bảo thủ” lẫn phái “tự do” đều có thể