1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề triết học cơ bản trong duy thức học

84 368 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 811,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự nghiên cứu về tâm thức của Duy thức học đã làm nảy sinh hai vấn đề quan trọng: một là hệ thống tâm lý học; hai là nhận thức luận dẫn đến sự ra đời của các tác phẩm kinh điển về nhận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài 5

6 Đóng góp 5

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 5

8 Kết cấu của luận văn 6

B NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ DUY THỨC TÔNG 7

1.1 Khái lược về Duy thức tông và hệ thống Duy thức học 7

1.1.1 Khái lược về Duy thức tông 7

1.1.2 Hệ thống Duy thức học 15

1.2 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học 17

1.2.1 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học ở Ấn Độ 17

1.2.2 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học ở Trung Hoa 21

1.2.3 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học ở Nhật Bản 26

1.2.4 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học ở Việt Nam 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ BẢN THỂ LUẬN, NHẬN THỨC LUẬN VÀ LOGIC HỌC TRONG DUY THỨC HỌC 34

2.1 Vấn đề bản thể luận 34

2.2 Vấn đề nhận thức luận 43

2.3 Logic học 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77

C KẾT LUẬN 78

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Duy thức tông là một trong hai trường phái lớn của triết học Đại thừa Phật giáo được hai anh em đại sư Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu) sáng lập Các học giả ngày nay đã có ý kiến cho rằng chính Ứng thân Bồ Tát Di Lặc khởi xướng trường phái này ở thế kỷ thứ IV sau Công nguyên Du già hành tông (Yogàcàra) là tên gọi tại Ấn Độ của Duy thức tông hay Thức học, triển khai một hệ thống diễn giải các kinh điển Đại thừa Duy thức tông lập luận rằng các sự vật, hiện tượng mà chúng ta nhận thức trong thế giới này trên thực tế chỉ là các cấu trúc tâm thức và những nhận thức đó cũng chỉ là do tâm của chúng ta đặt ra mà thôi; ngoài thức ra không còn một cái gì khác Trong kinh luận Phật giáo thường ghi lại: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” hay “Nhất thiết duy tâm tạo” được xem là tuyên ngôn triết học cơ bản của phái này

Sự nghiên cứu về tâm thức của Duy thức học đã làm nảy sinh hai vấn đề

quan trọng: một là hệ thống tâm lý học; hai là nhận thức luận dẫn đến sự ra đời của

các tác phẩm kinh điển về nhận thức và Logic chưa từng có trong tư tưởng Phật học cũng như tư tưởng triết học Ấn Độ trước đây Một điểm đặc sắc trong các tác phẩm

đó là sự kết hợp chặt chẽ, không tách rời các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận và Logic học Chính sự kết hợp này đã làm cho triết học của Duy thức vượt trội so với các trường phái của Phật giáo đương thời và làm cho Phật giáo Đại thừa ngày càng hoàn thiện hơn

Ở Việt Nam, tuy không hình thành trường phái Duy thức, nhưng tư tưởng về Duy thức học xuất hiện trong rất nhiều các tác phẩm, các cuộc nói chuyện của hàng ngũ Phật giáo Chỉ đến nửa sau thế kỷ XX, nhở ảnh hưởng của Phong trào Chấn hưng Phật giáo, giáo lý của Duy thức được truyển vào Việt Nam nhiều hơn và thu hút được sự chú ý của giới Phật tử Việt Nam cũng như của các nhà nghiên cứu Phật giáo Chính điều này không những đã làm mở rộng và nâng cao trình độ hiểu biết

Trang 5

cho giới nghiên cứu Phật học mà còn đóng góp những công trình nghiên cứu một cách sâu sắc về Duy thức tông Phật giáo

Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nào hệ thống hóa được những nội dung triết học cơ bản của trường phái Duy thức, vì vậy đây là một việc làm cần thiết để có thể hiểu một cách sâu sắc thêm một trong những trường phái quan trọng của Đại thừa Phật giáo

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tại Những vấn đề triết học cơ bản trong Duy

thức học với mong muốn đóng góp một phần công sức vào việc nghiên cứu tông

phái này nói riêng, triết học Phật giáo nói chung

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, việc nghiên cứu trường phái Duy thức tông Phật giáo đã được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu Phật học trên thế giới không chỉ bởi nó là một trong những hệ thống tư tưởng lớn của Phật giáo, mà còn bởi sự hấp dẫn vì giáo lý thâm sâu của nó Một cách khái quát nhất, tôi có thể phân nhóm các lĩnh vực

mà họ đã nghiên cứu với rất nhiều các tác phẩm:

Nhóm thứ nhất là những tác giả có tác phẩm nghiên cứu về nguồn gốc tư

tưởng của Duy thức tông từ những nguồn gốc kinh luận khác Trong đó phải kể đến

cuốn Tìm hiểu nguồn gốc Duy thức học (2006) của Pháp sư Ấn Thuận Đây là tác

phẩm mà tác giả đã dày công tìm hiểu tất cả các hệ thống giáo lý đương thời của từng thời kỳ Phật giáo có liên quan đến sự phát triển về Duy thức học Quá trình nghiên cứu của tác giả trước hết là tìm hiểu tư tưởng của Duy thức trong Phật giáo nguyên thủy, rồi bước qua giai đoạn Phật giáo bộ phái và cuối cùng là Phật giáo Đại thừa

Nhóm thứ hai là những tác giả có tác phẩm nghiên cứu bản chất của Duy

thức tông Phật giáo và so sánh nó với các trường phái khác của Phật giáo Họ là những tác giả có tác phẩm nghiên cứu về từng khía cạnh hoặc từng tác phẩm riêng

lẻ của các luận sư Duy thức, chủ yếu là các tác phẩm: Nhiếp luận (1994) của Trí Quang, Duy thức nhị thập luận thích của Sylvain Levi, Biện trung biên luận của

Yamaguchi… Bên cạnh đó, họ còn là những dịch giả chuyển ngữ lần lượt các tác

Trang 6

phẩm của Duy thức Phật giáo sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Trung Quốc… Họ là những nhà Đông phương học nổi tiếng như Suzuki, Tuệ Sỹ, Lâm Như Tạng,

Đường Đại Viên… Những tác phẩm chủ yếu của họ: Nghiên cứu kinh Lăng già (1998) (Suzuki), Thức thứ tám (2006) (Lâm Như Tạng), Luận thành Duy thức (Tuệ Sỹ)… Trong những tác phẩm này, Thức thứ tám của TS Lâm Như Tạng là

một tác phẩm có giá trị và cần thiết cho những người học và nghiên cứu Duy thức Tác phẩm này là sự nghiên cứu công phu về thức thứ tám, còn gọi là tâm vương,

ông vua của tâm, là thức có quyền năng nhất đối với bảy thức còn lại Luận thành

Duy thức của Huyền Trang do Tuệ Sỹ dịch và chú chính là sự tóm tắt cụ thể những

giáo lý căn bản của Duy thức học

Những học giả này đã thực hiện được những nghiên cứu quan trọng như sau: 1/ tổng quan về Duy thức tông Phật giáo 2/ Nghiên cứu riêng từng tác phẩm của các luận sư Duy thức Các tác giả thuộc nhóm này hầu hết đều là những người tương đối thành thục phương pháp nghiên cứu khoa học phương Tây Vì vậy, họ có nhiều kiến giải, đánh giá khá sâu sắc những vấn đề triết học của Duy thức tông Phật giáo

Riêng ở Việt Nam, theo như tác giả luận văn tìm hiểu, cũng có khá nhiều tác

phẩm nghiên cứu về trường phái Duy thức Đó là: 1/ Giảng luận duy biểu học của Nhất Hạnh, 2/ Duy thức học (1991) của Tì kheo Ni Như Thanh, 3/ Tâm lý học Phật

giáo (2000) của Thích Tâm Thiện cùng với rất nhiều các tác phẩm được dịch từ

tiếng nước ngoài, từ các kinh luận Trung Quốc như: 1/ Vấn đề nhận thức trong Duy

thức học của Huyền Trang do nhà sư Nhất Hạnh dịch, 2/ Duy thức học của dịch giả

Thích Thiện Hoa, 3/ Du già hành tông Yogacara do Thích Nhuận Châu dịch… Và một số bài báo được đăng trên các tạp chí: Triết học, Nghiên cứu tôn giáo, Nghiên

cứu Phật học… như: Duy thức học (tâm lý học Phật giáo) (1999) của hai tác giả là

Thái Huyền – Trịnh Văn Hiến, Một số vấn đề nhận thức trong triết học Phật giáo (2001) của tác giả Phạm Quỳnh, Tâm lý học Phật giáo (Pháp tướng) (2004) của tác

giả Cao Hữu Đính, …

Trang 7

Như vậy, trường phái Duy thức tông Phật giáo đã được nghiên cứu khá nhiều

và ở nhiều tầng bậc khác nhau trên thế giới, từ góc độ lịch sử đến nội dung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: làm rõ những vấn đề triết học cơ bản của Duy thức tông Phật giáo

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Nghiên cứu lịch sử, sự truyền bá và phát triển của Duy thức học

+ Làm rõ một số khái niệm của Duy thức: tâm, thức, sắc, pháp

+ Làm rõ những vấn đề triết học cơ bản của trường phái Duy thức: bản thể luận, nhận thức luận, logic học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: nghiên cứu lịch sử và những vấn đề triết học cơ bản của Duy thức học

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung vào nghiên cứu triết học của Duy thức

5 Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài

- Cơ sở lý luận: đề tài được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, có sự tiếp thu kết quả của những công trình nghiên cứu về Duy thức trong và ngoài nước

- Phương pháp luận của đề tài: luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, sử dụng chủ yếu các phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp

6 Đóng góp

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề của triết học Phật giáo

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: luận văn góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề triết học của Duy thức nói riêng và Phật giáo nói chung

Trang 8

- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu cho việc học tập, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến triết học Duy thức tông Phật giáo

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương và năm tiết:

Chương 1 Khái lược về Duy thức học

1.1 Khái lược về Duy thức tông và hệ thống Duy thức học

1.2 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học

Chương 2 Vấn đề bản thể luận, nhận thức luận và logich học trong Duy thức học

2.1 Vấn đề bản thể luận

2.2 Vấn đề nhận thức luận

2.3 Logic học

Trang 9

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ DUY THỨC HỌC 1.1 Khái lược về Duy thức tông và hệ thống Duy thức học

1.1.1 Khái lược về Duy thức tông

Duy thức tông là một trong hai trường phái của Đại thừa Phật giáo Ấn Độ, một hệ thống tư tưởng lớn của Phật giáo đã gây sự kinh ngạc đối với các nhà nghiên cứu Phần lớn các nhà nghiên cứu Phật học đều đồng ý rằng trường phái Duy thức được hình thành từ thế kỷ thứ IV sau Công nguyên do hai anh em ngài Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu)

Các học giả ngày nay đã có ý kiến cho rằng, nguồn gốc chủ thuyết của Duy thức tông lại là do Maitreyanatha (Bồ tát Di Lặc) sống trước đó gần một thế kỷ (khoảng 270 – 350) Di Lặc là thầy của ngài Vô Trước, về sau truyền lại giáo nghĩa cho Vô Trước Trong Kinh A Hàm viết: Di Lặc hiện đang ở Đâu suất thiên, sẽ đến đất này thành Phật để độ chúng sinh Đến Long Thụ lại dẫn “Di Lặc thành Phật kinh” và “Di Lặc hạ sinh kinh”…

Căn cứ theo “Bà tẩu bàn đậu Pháp sư truyện” (tức Thế Thân truyện của Chân

Đế) ba anh em Vô Trước đều sinh ra ở nước Phú lâu sa phú la (Purusapura, tức Pêsava ngày nay) miền Bắc Ấn Độ trong một gia đình Bàlamôn, anh cả là

Vô Trước, thứ hai là Thế Thân, em thứ ba là Tì lân trì Bạt bà, đều xuất gia ở Nhất thiết Hữu bộ - một bộ phái Tiểu thừa Lúc bấy giờ, nước Phú lâu sa phú la là nơi văn hóa quan trọng của Bắc Ấn Độ [22, tr 407] Học thuyết của Nhất thiết Hữu bộ

là một thứ học thuyết thuộc loại tân tiến và rất được phát đạt

Ngài Vô Trước (310 – 390) chú tâm tu tập để chứng ngộ được tính Không của Long Thọ nhưng không đạt được Đang lúc thất vọng thì một vị A la hán tên là Tân đầu la đến dạy Sư giáo lý của Tiểu thừa Sư theo học và đạt được kết quả nhưng vẫn không thỏa mãn Sư định từ bỏ mục đích thì Bồ tát Di Lặc hiện ra đưa ngài lên cung trời Đâu suất Ở đó, Bồ tát Di Lặc dạy cho Ngài giáo lý Đại thừa qua

Thập thất địa, tức là 17 quyển của Du già sư địa luận Sau đó, Sư lại mời Di Lặc

đến nhân gian thuyết pháp, do đó có được những luận thư tương truyền là do Di Lặc

Trang 10

soạn ra và được gọi là Di Lặc ngũ luận, đó là: Du già sư địa luận (Yogàcàrabhumi sàstra), Đại thừa trang nghiêm kinh luận tụng (Mahàyàna sùtralankàra), Biện trung

biên luận tụng (Madhyàntavibhàga), Hiện quán trang nghiêm luận tụng

(Abhisamayālankāra-śāstra), Năng đoạn Kim cương Bát nhã Ba la mật đa kinh luận

tụng (Vajraprajnà pàramità sùtra sàstra) [4, tr 73]

Một học giả Phật học người Nga là E Obermiller cho rằng thuyết xem Vô Trước nhờ thần lực của Bồ tát Di Lặc trên cung trời Đâu suất mà tạo ra các bộ luận chỉ là truyền thuyết Học giả E.Lamotte thừa nhận thuyết này và bổ sung thêm rằng, các bộ luận này dựa vào thánh ngôn để tăng thêm uy tín, nên ông hoài nghi về tính chất lịch sử có thật của Di Lặc

Một học giả Nhật Bản khác là Vũ Tỉnh Bá Thọ lại phản đối thuyết trên, ông chủ trương luận sư Di Lặc là nhân vật lịch sử thực sự [18, tr 409], đã tạo ra thuyết

Du già Đại thừa, và tạo ra các bộ luận kể trên, rồi Vô Trước sao chép lại chúng

Vô Trước ngoài việc tuyên truyền nhiều luận thư dưới danh Di Lặc, còn truyền nhiều luận thư dưới tên của mình Trong những luận thư này, Sư bắt đầu trình bày

tất cả giáo lý Đại thừa Duy thức qua những tác phẩm quan trọng như: Hiển dương

thánh giáo luận, Nhiếp Đại thừa luận, Đại thừa A tỳ đạt ma tập luận, Đại thừa kinh trang nghiêm luận, Thuận trung luận, Kim cương Bát nhã kinh luận… [18, tr 412]

Những nhà Phật học ngày nay đều nhất trí rằng, Đại thừa Phật pháp là sự phát triển của các giáo lí mà Đức Phật Thích ca từng tuyên thuyết nhưng không hẳn là chính lời của vị này Trong thời của Vô Trước, giáo lí Đại thừa bị nhiều trường phái Tiểu thừa chỉ trích, cho là Dị giáo, là giáo lí của tà ma, ngoại đạo Sư cũng đứng trước vấn đề này và đã tìm cách chứng minh tính chất phù hợp, tiếp nối, phát triển của

giáo lí mới, nêu ý kiến của mình trong Nhiếp đại thừa luận Ngài Vô Trước căn cứ nơi Nhiếp Đại Thừa Luận đã chủ trương rằng, tất cả cảnh giới để hiểu biết đều được

thiết lập và nương tựa từ nơi thức A lại da và thức thứ 7 – Mạt na Sư còn nhấn mạnh rằng ý nghĩa được trình bày trong Đại thừa không nhất thiết theo ngôn ngữ trình bày trên giấy mực; nó chính là cái cốt tuỷ nằm sau những lời văn này Người

ta không thể thâm nhập huyền nghĩa nếu chỉ chú tâm, bám chặt vào văn tự

Trang 11

Theo thuyết của Cao tăng Tây Tạng Taranatha, Sư đến nhiều vùng tại Ấn Độ

và giảng giải giáo lý Đại thừa Duy thức, thành lập khoảng 25 tu viện Thời gian truyền bá tư tưởng Duy thức của Sư được xem là nằm trong thế kỉ thứ IV, đặc biệt

là trong những vùng Tây Bắc Ấn Độ, bây giờ thuộc về Pakistan

Vasubandhu có nghĩa là vị thân thuộc của Thiên Đế Thích, nên dịch ra tiếng Việt là Thế Thân Thế Thân (320 – 400), cũng được dịch là Thiên Thân, là người

em cùng mẹ khác cha của ngài Vô Trước Có nhiều giả thuyết về con người Thế Thân, trong đó Erich Frauwallner, một nhà Phật học người Đức cho rằng có hai

người tên là Thế Thân, một là luận sư của Nhất thiết Hữu bộ, là người soạn A tỳ đạt

ma Câu xá luận nổi danh của phái này; người kia là em của Vô Trước, đã soạn bộ Duy thức nhị thập luận Bộ luận này là sự tổng kết quan điểm của Duy thức tông,

được dịch ra tiếng Hán và Tây Tạng [13, tr 608]

Thế Thân lúc đầu cũng theo học giáo lý Tiểu thừa tại trung tâm Kashmire (trung tâm của Nhất thiết Hữu bộ), thuộc Bắc Ấn Đây là một trung tâm phồn thịnh truyền bá tư tưởng của Nhất thiết Hữu bộ và những ai không thuộc về Hữu bộ thì không được vào học tại trung tâm này Nhưng sau đó, Thế Thân đã cải trang thành học trò của Hữu bộ và theo học giáo nghĩa này Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Kashmire, Ngài đã viết một bộ sách mang tính bách khoa về giáo pháp mình tu

học và đã trở thành một tác phẩm tiêu biểu cho thế giới quan Phật giáo, đó là A tỳ

đạt ma Câu xá luận A tỳ đạt ma Câu xá luận phản ánh sự tiếp nối của giáo lý từ

Tiểu thừa đến Đại thừa và cũng là tác phẩm nền tảng của các tông phái Phật giáo

Ấn Độ A tỳ đạt ma Câu xá luận ra đời nhằm phê bình những khuyết điểm trong học

thuyết của phái Nhất thiết Hữu bộ Ban đầu, Sư đả kích Phật giáo Đại thừa, cho rằng Đại thừa không phải do Phật nói Về sau, nhờ Vô Trước khuyến dụ, Ngài mới

tỏ ngộ giáo lý của Đại thừa, nên tin tưởng phụng hành Từ đó, Ngài biên soạn nhiều tác phẩm khác trình bày cuộc hành trình của mình sang Duy thức, tác phẩm nổi

tiếng nhất của thời kỳ này là Đại thừa trang nghiêm luận và Đại thừa ngũ uẩn luận

Sau khi Vô Trước mất, Sư viết rất nhiều luận thư Đại thừa để giải thích các kinh Đại thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Duy ma… Tác phẩm do Thế Thân viết

Trang 12

rất nhiều, tương truyền có 500 bộ luận Tiểu thừa, 500 bộ luận Đại thừa, cho nên có danh hiệu “Luận sư nghìn bộ” [22, tr 426] Một số tác phẩm quan trọng của Thế

Thân: A tỳ đạt ma Câu xá luận, Duy thức tam thập tụng, Duy thức nhị thập tụng,

Nhiếp Đại thừa luận thích, Biện trung biên luận (Madhyàntavibhàga), Thập địa kinh luận, Ngũ uẩn luận, Bách pháp minh môn luận… Ngoài ra, về nhân minh học,

Thế Thân còn có ba tác phẩm là Luận quĩ, Luận thức và Luận tâm, nhưng rất tiếc

không còn nữa

Các tác phẩm của Vô Trước và Thế Thân được xếp loại từ dạng tinh yếu

bách khoa toàn thư đồ sộ của Phật học như Du già sư địa luận, Nhiếp Đại thừa

luận… đến những bài kệ súc tích, ngắn gọn như Duy thức tam thập tụng, Tam vô tính luận thích, đến những chuyên luận có hệ thống tập trung vào chủ đề Duy thức

như Nhị thập duy thức luận, Trung biên phân biệt luận, cho đến chú giải những

kinh văn Đại thừa nổi tiếng như kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cương, Thập địa kinh, Thắng tư duy Phạm thiên sở vấn kinh

Duy thức được biết qua Phạn ngữ bằng ba từ:

1/ Cittamàtra (duy tâm): chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều do tâm, duy tâm và do vậy, không một hiện tượng nào tồn tại ngoài tâm

2/ Yogàcàra: gồm hai từ Du già và hạnh, đề xướng phương pháp thực hành thiền quán, tức là tìm hiểu tâm trạng của hành giả khi hành động và ý nghĩa của hành giả khi thực hiện hành động đó

3/ Vijnanaptivàda (duy thức): học thuyết cho rằng tất cả vạn vật đều từ thức

mà sinh ra, không có gì nằm ngoài thức

Cả ba từ này được dùng cùng nghĩa với nhau, tuy rằng về sau do các bộ luận chuyên về “duy thức” của Thế Thân, Vijnanaptivàda được dùng phổ biến hơn và được chấp nhận như là tên gọi cho triết thuyết của tông này Trong khi đó, Cittamàtra hầu như không còn được nhắc tới, còn Yogàcàra được dùng xen lẫn với Vijnanaptivàda như là đồng nghĩa và được Vô Trước sử dụng

Trang 13

Theo ba từ này, Duy thức tông dưới con mắt của các học giả phương Tây là một triết học mang tính duy tâm chủ nghĩa vì nó lấy sự thông giải ý nghĩ, tâm trạng của con người làm điểm xuất phát

Thức tạo nên mọi tác dụng của sự vật, cho nên luận về thức gọi là Duy thức luận Môn học về thức được gọi là Duy thức học, lấy sáu bộ kinh và mười một bộ

luận làm căn cứ Theo Duy thức thuật ký quyển 1 của Từ Ân chép: “Thành Duy thức

luận viên dẫn lục kinh, sở vị Hoa nghiêm, Thâm mật, Như Lai xuất hiện công đức trang nghiêm, A tỳ đạt ma, Lăng già, Hậu nghiêm Thập nhất bộ luận: Du già, Hiển dương, Trang nghiêm, Đại thừa bách pháp minh môn luận, Nhiếp luận, Thập địa, Phân biệt du già, Nhị thập duy thức, Duy thức tam thập tụng, Biện trung biên, Đại thừa A tỳ đạt ma tạp tập luận” Nghĩa là: luận này (Thành Duy thức luận) viện dẫn

sáu kinh: Hoa nghiêm, Thâm mật, Như Lai xuất hiện công đức trang nghiêm, A tỳ

đạt ma, Lăng già, Hậu nghiêm Mười một bộ luận: Du già, Hiển dương, Trang nghiêm, Đại thừa bách pháp minh môn luận, Nhiếp luận, Thập địa, Phân biệt du già, Nhị thập duy thức, Duy thức tam thập tụng, Biện trung biên, Đại thừa A tỳ đạt

ma tạp tập luận làm chứng

Trước hết, sáu kinh đó là:

1 Hoa Nghiêm kinh (Avatamsakasùtra)

Tên chính xác và đầy đủ là Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh Kinh này là thánh điển có tính chất một bộ luận thư Kinh Hoa Nghiêm có hai bản dịch là cựu dịch và tân dịch Cựu dịch toàn bộ gồm có 60 quyển do ngài Phật Đà Bạt Đa La dịch; tân dịch gồm 80 quyển do ngài Thực Xoa Nan Đà dịch Trong kinh Hoa Nghiêm nói: “tam giới hư vọng, đãn thị nhất tâm tác, thập nhị nhân duyên phân, giai y nhất tâm”, nghĩa là những sự hư vọng trong ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới đều do tâm tạo ra, 12 nhân duyên cũng đều do tâm ấy mà có Nói khác đi, kinh này cho rằng tất cả mọi cái của tam giới đều do tâm phát động, do vô minh mà

có thế giới hư vọng hiển hiện

2 Giải thâm mật kinh (Sandhinirmocanasùtra)

Trang 14

Kinh Giải thâm mật có hai bản dịch: Thậm thâm giải thoát kinh (5 quyển) do

Bồ Đề Lưu Chi dịch và Giải thâm mật kinh (5 quyển) do Huyền Trang dịch Nội

dung của kinh này là một tư tưởng rất trọng yếu của Duy thức tông Tư tưởng đó có

ba điểm quan trọng: tư tưởng về A lại da thức, thuyết tam tướng, tam vô tính

3 Như Lai xuất hiện công đức trang nghiêm kinh (如來出現 功德莊嚴經)

Bộ kinh này không có tên dịch giả

4 Đại thừa A tỳ đạt ma kinh (Abhidharmasùtra)

Kinh này chứa đựng các bài giảng của Đức Phật và các đệ tử với các bài phân tích về tâm và hiện tượng của tâm

5 Lăng già kinh (Lankàvatàrasùtra)

Gồm ba bản dịch Hán văn: Lăng già A bạt đa la bảo kinh (4 quyển) do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch, Nhập Lăng già kinh (10 quyển) do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch, Đại thừa Nhập Lăng già kinh (7 quyển) Thực Xoa Nan Đà dịch Vì vậy việc

nghiên cứu kinh này có tài liệu rất hoàn chỉnh, nhưng nội dung của nó khá lộn xộn Nói về tư tưởng của kinh này, quan niệm chủ yếu của nó là nói về ngũ pháp, tam tự tính, bát thức, nhị vô ngã Ngũ pháp là danh (nàma), tướng (nimitta), phân biệt (samhàlpa), chính trí (samyagjnàna) và như như (tathatà, chân như) Ba tính là vọng

kế tự tính, duyên khởi tự tính và viên thành thực tính Ba tính này quan hệ mật thiết với năm pháp Tám thức là A lại da thức, ý, ý thức và tiền ngũ thức Hai vô ngã là nhân vô ngã và pháp vô ngã

6 Đại thừa Mật nghiêm kinh (Ghanavyùhasùtra)

Gọi tắt là Mật nghiêm kinh, cũng còn gọi là Hậu nghiêm kinh gồm ba quyển

do Địa Bà Ha La đời Đường dịch Nội dung của bộ kinh này nói về nhận thức của con người phân ra là nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt

na thức và a lại da thức

Sáu bộ kinh trên được Duy thức tông lấy làm kinh điển chính, nhưng không phải dựa vào toàn bộ nội dung của mỗi bộ mà chỉ dẫn chứng những đoạn văn thích hợp của mỗi bộ để cung cấp phần tài liệu cho việc tổ chức giáo lý

Trang 15

Tuy nhiên, tông phái này có dựa vào thuyết “tam giới duy tâm” của kinh Hoa

Nghiêm, nhưng sự giải thích thuyết đó lại khác với lập trường của các học giả Hoa

Nghiêm tông và Thiên Thai tông; dựa vào thuyết “vạn hữu duy tâm” của kinh Lăng già nhưng gốc là từ ở chỗ giải thích về Như Lai tạng duyên khởi Như vậy, dù sao tông Duy thức cũng chỉ căn cứ vào từng bộ phận của mỗi kinh, nhưng không ngoài

kinh Giải thâm mật và kinh Lăng già Hai bộ kinh này đã đưa ra những nội dung

triết lý rất tinh vi của Duy thức như A lại da thức, tam tự tính, duy thức… nên được dùng làm cơ sở chính của Duy thức

Mười một bộ luận:

1 Du già sư địa luận (Yogàcàrabhumi sàstra)

Nội dung của bộ luận này ghi lại tất cả những lời thuyết giáo của Đức Phật, tổng hợp học thuyết của các bộ phái Tiểu thừa Đặc biệt, luận này còn nói về bốn thứ Cảnh, Hành, Quả, Giáo của Du già, giảng giải đạo lý “vạn pháp duy thức,

tâm ngoại vô pháp” Các vị tiền bối xưa cho bộ luận này ngang hàng với kinh Giải

thâm mật

2 Nhiếp Đại thừa luận (Mahàyànasamgraha)

Luận này là để giải thích Nhiếp Đại thừa phẩm của kinh A tỳ đạt ma Đại

thừa, là tác phẩm tiêu biểu cho tư tưởng của Vô Trước Nội dung của luận gồm 10 chương, nói về mười loại thù thắng và có ý muốn nói Phật giáo Đại thừa là Phật thuyết thật Mười tướng thù thắng có thể phân làm ba loại: duy thức cảnh, duy thức hành, duy thức quả trên lập trường Duy thức học Luận này là một bộ sách khái luận thống nhất toàn bộ Phật giáo Đại thừa

3 Đại thừa trang nghiêm kinh luận (Mahàyàna sùtralankàra)

Gồm 13 quyển, tương truyền do Bồ tát Di Lặc nói, ngài Vô Trước ghi chép lại, do Ba La Phả Mật Đa La đời Đường dịch Luận này chủ trương Đại thừa do Phật thuyết, và bàn về sự phát tâm tu hành của Đại thừa

4 Duy thức tam thập tụng (Trimsikà sàstra)

Trang 16

Luận này bao gồm ba mươi bài tụng, chia thành ba chương lớn: 1) Duy thức tướng: nói về giới hiện tượng của vũ trụ 2) Duy thức tính: nói về bản thể của sự vật 3) Duy thức vị: nói về trình tự vị biệt của tu hành chứng quả

5 Hiển dương thánh giáo luận (Prakaranàryavàkà sàstra)

Gồm những bài kệ của Vô Trước, được Thế Thân chú giải, là bộ luận xuất phát từ Du già sư địa luận Luận này chủ yếu đề cập đến những chủ đề chính của Duy thức tông như bát thức, tam tính, bách pháp… do Huyền Trang dịch sang tiếng Hán năm 645 – 646

6 Biện trung biên luận (Madhyàntavibhàga)

Là bộ luận tinh yếu của Duy thức tông, gồm hai bản dịch Hán văn: một là bản dịch của Huyền Trang gồm ba quyển, hai là bản dịch của Chân Đế gồm hai quyển Bộ luận này nêu cao tư tưởng trung đạo, hết thảy mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều là duy thức biến hiện, và bàn về trung đạo của Duy thức

7 Duy thức nhị thập tụng (Vimsátika sàstra)

Ngài Thế Thân muốn phá chấp kiến ngoài tâm tồn tại của Tiểu thừa ngoại đạo đương thời, nên ngài mới tuyên dương nghĩa lý của Duy thức vô cảnh

8 Đại thừa A tỳ đạt ma tạp tập luận (Abhidharmasamuccaya)

Nội dung của bộ luận này kế thừa tư tưởng của Hiển dương thánh giáo luận

và Du già sư địa luận

9 Phân biệt Du già luận (Dharma-dharmatā-vibhāga)

Bộ luận này tương truyền do Bồ tát Di Lặc thuyết, là một bộ trong năm bộ luận lớn, nhưng không có tên dịch giả

10 Đại thừa bách pháp minh môn luận (Mahàyànasatadharmavìdyàdvàra sastra)

Nội dung của bộ luận này là thuyết minh và phân tích về một trăm pháp Mọi

cấu trúc của các pháp được phân thành năm loại: tâm, tâm sở, sắc, tâm bất tương

ưng hành pháp, và vô vi pháp Mỗi loại này được phân ra một cách tinh tế: tâm có

8, tâm sở có 51, sắc có 10, tâm bất tương ưng hành 24, vô vi có 6 Tổng cộng là 100 pháp Bộ luận này lấy thuyết Nhị vô ngã mà khái quát giáo nghĩa Đại thừa, luận này

là trước tác quan trọng nhất của tông Pháp tướng của Phật giáo Trung Quốc

Trang 17

11 Thập địa kinh luận (Àryadasabhùmi vyàkhyàna)

Nội dung bộ luận này là giải thích phẩm Thập địa của kinh Hoa Nghiêm, tức

là đem tư tưởng “tam giới duy tâm” của kinh Hoa Nghiêm làm tư tưởng căn bản

Trong mười một bộ luận trên, bộ luận mà Duy thức dựa vào chủ yếu là Du

già sư địa luận Bộ luận này có 100 quyển, thâu tóm lời thuyết giáo của đức Phật,

được gọi là một đại luận hay “quảng thích chư kinh luận”

Nói tổng quát về học thuyết của Duy thức thì Thành Duy thức luận là bộ luận

trung tâm để nghiên cứu, một bộ luận hoàn bị cho pháp môn của một tông, một bộ luận khảo về giáo nghĩa của Duy thức tông một cách rõ ràng, minh bạch

Một trong những trung tâm quan trọng của Duy thức tông là Đại học Nalandà

ở Bắc Ấn Độ Vào thế kỷ thứ V – VI, tư tưởng của Duy thức học được lan truyền rộng rãi sang các nước khác nhau trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Việt Nam…

1.1.2 Hệ thống Duy thức học

Sự ra đời của trường phái Duy thức được xem là tiếp thu và phát huy triết lý Đại thừa, nhưng tư tưởng căn bản của nó bắt nguồn từ truyền thống sớm nhất của Phật giáo, tức ngay vào thời Đức Phật tại thế (thời kỳ Phật giáo nguyên thủy), khi Ngài dạy trong kinh Pháp cú rằng “Tâm làm chủ, Tâm dẫn đầu, Tâm tạo tác tất cả các pháp”, rằng Thức vốn có bản tính thanh tịnh… Tâm do đó rất quan trọng trong Phật giáo ngay từ thời nguyên thủy

Giáo lý Duy thức tông được tóm tắt trong thuật ngữ Vijnanaptivàda, có nghĩa

là “tất cả chỉ là sự biểu hiện của thức” cho nên những vấn đề triết học của tông phái này xoay quanh những vấn đề của thức: ngũ vị bách pháp, tam cảnh (bản thể luận), bát thức, tam tính, tứ phần (nhận thức luận)… nhân sinh quan, thiền định, tâm lý học phân tích (phân tâm học), phương pháp nhận thức qua kinh luận, nhân minh học (Logic học)… Trong đó, vấn đề bản thể luận, nhận thức luận và Logic học được xem là những vấn đề triết học cơ bản, nổi trội nhất Vấn đề bản thể luận và nhận thức luận là nền tảng của logic học

Trang 18

Thay thế cho quan niệm truyền thống của Phật giáo là vạn pháp duy tâm, Duy thức tông nêu ra tư tưởng vạn pháp duy thức Có nghĩa là thế giới khách quan,

bao gồm vũ trụ, vạn vật và con người không phải là có thật mà đều do thức sinh ra

Khái niệm “thức” có hai cách hiểu Theo nghĩa hẹp, “thức” là sản phẩm của quá trình nhận thức, nghĩa là chủ thể nhận thức tác động vào đối tượng nhận thức thì thu được một tri thức về đối tượng, tri thức ấy gọi là thức Có thể hiểu đó là một hình ảnh, một biểu tượng, một thuộc tính về đối tượng Thứ hai, theo nghĩa rộng, khái niệm thức là tên gọi chung cho ba khái niệm tâm (citta), ý (manas) và ý thức (manovijnana) Trong Duy thức tông, ba khái niệm này là một thể thống nhất, tuy nhiên chúng tuyệt đối không phải là một Tâm thường được dùng khi nói về bản chất, nguồn gốc của vạn vật; ý thức thường được sử dụng khi muốn nói đến tác dụng của nhận thức, phân biệt, cảm thụ… các hoạt động nhận thức, tâm lý; ý được

sử dụng khi muốn nói đến động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức

Khái niệm “thức” cũng là khái niệm đại diện cho tám loại thức (bát thức) khác nhau tương ứng với bốn quá trình nhận thức trong mỗi cá nhân, gồm: 1) 5 thức giác quan (tiền ngũ thức) đại diện cho quá trình nhận thức cảm tính; 2) ý thức đại diện cho chặng đầu tiên của quá trình nhận thức lý tính; 3) ý là động lực phân biệt chủ thể và khách thể nhận thức; 4) a lại da thức là thức bản thể duy trì sự tồn tại của

cá nhân và hoạt động nhận thức của cá nhân đó, nói khác đi, a lại da thức được xem

là thức căn bản của mọi hiện tượng, thức này chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần

Triết học trong Duy thức là chuyển thức thành trí, hay một sự chuyển y, tức

là thay đổi toàn bộ nền tảng cơ cấu nội tại của tâm thức, giải trừ các hạt giống tạp nhiễm trong diễn biến tâm lý của chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức Đó là cái cơ cấu được thiết lập bởi dục vọng, chấp thủ, tham ái… Trong hệ thống tám thức, Tàng thức (A lại da thức) được xem như là bản thể của sự vật; Mạt na thức, ý thức và năm thức giác quan là biểu hiện của sự vật đó Về mặt hiện tượng, tám thức được phân loại theo chức năng; nhưng về mặt bản thể, bảy chuyển thức (Mạt na

Trang 19

thức, ý thức và năm thức giác quan) đều là biến hiện của Tàng thức Do đó, hệ thống tám thức được xem như là một tổng thể, không tách rời nhau

1.2 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học

1.2.1 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học ở Ấn Độ

Ở Ấn Độ, sau khi Thế Thân viên tịch, học thuyết Duy thức được toàn bộ giới triết gia đều tán thưởng và khâm phục Học thuyết này tại Ấn Độ không chỉ là một thứ học phái có thế lực rất lớn ở phương diện Phật học, lại còn có địa vị không nhỏ

ở phương diện triết học Ấn Độ mặc dù bị chèn ép từ một số tông phái khác Từ tư tưởng “cảnh và thức đều không” của Vô Trước và Thế Thân đã nảy sinh đến ba dòng truyền thừa của Duy thức tông

Dòng đầu là truyền chi Trần Na (Dignàga, 480 - 540) thế kỷ thứ V, Vô Tính (Agotra) và Hộ Pháp (Dharmapàla, 439 – 507); trung tâm dòng này là đại học Nalandà Giới Hiền (Sĩlabhadra, 529 - 645), gốc người Nalandà và vị đệ tử Trung Hoa là Huyền Trang thuộc dòng này

Dòng thứ hai là truyền chi Đức Huệ (Gunamati) và An Huệ (Sthiramati) mà nơi truyền thừa dường như là ở đại học Valabhi; Chân Đế, sáng tổ Nhiếp luận tông

ở Trung Hoa thuộc dòng này

Dòng thứ ba là truyền chi của Nan – đà (Nanda), người mà giáo nghĩa được Chân Đế theo đuổi và Thắng Quân (Jayasena) là người đã từng giảng dạy nhiều vấn

đề cho Huyền Trang Dòng truyền thừa cuối này không phát triển mấy ở Ấn Độ và dường như sớm biến mất sau đó

Mặc dù phân chia thành các dòng khác nhau, nhưng khuynh hướng chủ yếu

của Duy thức học vẫn là nhân minh nhận thức luận và tâm lý học Hai khuynh

hướng này hoàn toàn không tách rời nhau, nhiều luận sư Phật giáo đã sáng tác, luận giải nhiều vấn đề góp phần làm phong phú nội dung tư tưởng cho cả hai khuynh

hướng này Chẳng hạn như ngài Trần Na, ngoài những tác phẩm về Nhân minh

Luận lý học, ngài còn viết luận giải về A tỳ đạt ma Câu xá luận của ngài Thế Thân

Điểm thống nhất của hai khuynh hướng này là sự quan tâm sâu sắc về tiến trình nhận thức, nghĩa là phân tích tư duy, nhận thức của con người như thế nào

Trang 20

Cả hai đều xem những vấn đề căn bản của con người là nhận thức sai lầm cần được điều chỉnh

Ngài Vô Trước và Thế Thân, khi còn tại thế đã khởi xướng ra thuyết A lại da

duyên khởi, tức là hết thảy mọi pháp ở trong thế gian đều không ngoài tâm thức của

con người mà có và cũng là thuyết “vạn pháp duy thức” Nhưng nguồn gốc năng hiện của mọi pháp là A lại da thức Vì vạn pháp đều dựa vào thức này nên gọi là A lại da duyên khởi Thuyết này đã được hai ngài tổ chức thành một hệ thống duy tâm Phật giáo và là một trong hai hệ thống lớn có thế lực nhất của Phật giáo Ấn Độ lúc đương thời Hệ thống này được truyền bá khắp Ấn Độ Sau khi hai ngài nhập tịch, các luận sư Duy thức tiếp tục phát triển giáo lý này như ngài Thân Thắng lược thích

bộ Duy thức nhị thập tụng, ngài Đức Huệ trước tác bộ Tùy tướng luận, ngài Trần

Na hoàn thành Nhân minh nhập chính lý luận Ở thế kỷ thứ VI, ngài An Huệ chú thích bộ Duy thức tam thập tụng và trước tác các bộ như Đại thừa Trung quán thích

luận, Đại thừa A tỳ đạt ma tạp tập luận để tuyên dương giáo nghĩa Duy thức…

Mười vị đại luận sư nổi tiếng sau Thế Thân đã biên soạn cuốn Thành Duy

thức luận và Duy thức tam thập tụng là Thân Thắng (Bandhusri), Hỏa Biện

(Citrabbana), Đức Huệ (Gunamati), An Huệ (Sthiramati), Nan – đà (Nanda), Tịnh Nguyệt (Suddhacandra), Hộ Pháp (Dharmapàla), Thắng Hữu (Visesamitra), Tối Thắng Tử (Jinaputra), Trí Nguyệt (Jnanacandra)

Các bậc luận sư kể trên đều là những người tuyên dương giáo nghĩa Duy

thức, nhưng về quan điểm có sự khác nhau Chẳng hạn như, về Chủng tử luận, ngài

Nan – đà đề xướng thuyết tân huân chủng tử (tất cả mọi chủng tử đều do huân tập

mà thành), ngài Trí Nguyệt chủ trương chủng tử vốn có sẵn (bổn hữu chủng tử), đến ngài Hộ Pháp, ngài dung hòa tất cả các thuyết khác nhau và chủ trương thuyết bản hữu sở huân hòa hợp mà sinh ra

Hay về thuyết các phần của thức (tâm thể), ngài An Huệ giữ thuyết nhất

phần (chỉ có tự chứng phần là thực tại), ngài Đức Huệ chỉ thành lập nhị phần là kiến phần và tướng phần Còn ngài Trần Na, Vô Tính chủ trương tam phần là kiến phần, tướng phần và tự chứng phần Ngài Hộ Pháp thì chủ trương tứ phần: kiến phần,

Trang 21

tướng phần, tự chứng phần và chứng tự chứng phần Trong đó, luận của ngài An Huệ, Hộ Pháp lập ra có sức thuyết phục mạnh nhất Thuyết này đã để lại ảnh hưởng rất lớn cho đời sau Cái gọi là “An, Nan, Trần, Hộ; nhất, nhị, tam, tứ” là chỉ quan điểm phân tích tâm thể của bốn luận sư

Tông phái của ngài Hộ Pháp được Huyền Trang truyền dịch vào đời Đường

Thành Duy thức luận thuật ký, quyển 1 có ghi về ngài Hộ Pháp: “danh tiếng đức độ

lẫy lừng, những điều nói ra đều đạt chỗ tột cùng trong nghiên cứu suy tầm, các

nghĩa lý ấy phần nhiều đều là kim chỉ nam” Nên tuy Thành Duy thức luận là bộ

thích luận hợp soạn của Mười vị đại Luận sư, nhưng lại lấy học thuyết của ngài Hộ Pháp làm trung tâm

Trong các bộ luận thích của Mười vị trên, hiện nay chỉ lưu truyền bộ

Tam thập tụng thích luận của ngài An Huệ bằng tiếng Sanskrit và tiếng Tây Tạng

của bộ luận này đều vẫn còn Dịch sang tiếng Nhật có bản của Vũ Tỉnh Bá Thọ, bản

dịch tiếng Trung Quốc có bản của Hoắc Thao Hối nhan đề là An Huệ tam thập Duy

thức thích nguyên điển dịch chú

Lý luận về nhân minh học (logic học hay luận lý học) của Duy thức học đạt đến đỉnh cao vào thời kỳ Trần Na và Pháp Xứng Chính Trần Na là người đã thực hiện cuộc cách mạng trên lĩnh vực logic học ở Ấn Độ lúc bấy giờ và là người khai

mở một Duy thức mới Ông đã đưa vào trong Duy thức học của Vô Trước và Thế Thân yếu tố luận lý học (logic học) và nhận thức luận Sử dụng luận lý học của mình, Trần Na trình bày một cách tường tận và minh bạch giáo nghĩa của Duy thức Rất nhiều các tác phẩm của Duy thức tông chỉ có thể được đọc dưới ánh sáng của

luận lý học Nhân minh do ông đề xướng Hai tác phẩm Tập lượng luận (Pramànasamuccaya) và Nhân minh chính lý môn luận (Nyaya pravesa) của ông đã

cải cách nhân minh cũ (được gọi là cổ nhân minh) của Ấn Độ Mục đích của cổ nhân minh với hệ thống ngũ chi tác pháp (tôn – nhân – dụ - hợp – kết) là giải quyết vấn đề kỹ xảo tranh luận nhằm phân biệt thắng thua trong tranh luận, nên đối tượng chủ yếu của cổ nhân minh là quá trình biện luận Vì vậy, nội dung của cổ nhân minh

là phương pháp suy lý, nhưng là những suy lý loại tỷ giản đơn Đến Trần Na, ông

Trang 22

coi mục đích của nhân minh học là xác lập quy tắc tư duy, xây dựng những mệnh đề mang giá trị chân thực

Trần Na là người đã có công hệ thống hóa và xây dựng thành lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về logic học Phật giáo với luận tam chi tác pháp nổi tiếng Với tiếng tăm của ông, Duy thức Phật giáo được truyền bá rộng rãi lúc bấy giờ Ông đã đẩy luận pháp nhân minh lên một bậc bằng 100 tác phẩm luận lý học, tiêu biểu là những

tập: Tập lượng luận (Pramànasamuccaya), Nhân minh chính lý môn luận, Quán sở

duyên duyên luận, Nhập Du già, Chưởng trung luận, Câu xá luận chú yếu nghĩa đăng… Nghĩa Tịnh nói rằng các bộ luận của Trần Na về luận lý học được dùng

làm sách giáo khoa thời ông đến Ấn Độ

Sau, đệ tử của Trần Na là Thương Yết La Chủ (Sankarasvàmin) soạn bộ

Nhân minh nhập chính lý luận (Nyàyadvàratàraka sàstra) thuyết minh về nhân minh

của ngài Trần Na, ngài Hộ Pháp cũng chú thích nhiều bộ luận về Nhân minh học,

ngài Vô Tính (450 – 530) còn truyền đến nay bộ Nhiếp Đại thừa thích luận, gồm 10

quyển do Huyền Trang dịch Sang thế kỷ thứ VIII, Pháp Xứng kế thừa phương pháp luận lý của Trần Na mà tìm ra sự chuyển động liên tục của sát na Sát na không phải

là bất động mà cứ lần lượt chuyển vận chu lưu, mỗi nấc của sát na qua đi là một mẫu của đời sống con người xuất hiện và cũng là một đầu mối liên tục chồng đắp nên ý thức Nhân minh học đã trở thành một nội dung rất quan trọng trong việc truyền bá và phát triển tư tưởng Phật giáo Duy thức tông

Duy thức tông phát triển ở Ấn độ từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ XII, phát triển ma ̣nh nhất trong thế kỉ thứ VI Mô ̣t trong những trung tâm quan tro ̣ng của Duy thức tông là Đa ̣i ho ̣c Na lan đà ở Bắc Ấn Độ Nơi đó, Hô ̣ Pháp đã chủ trương mô ̣t quan điểm duy thức tuyê ̣t đối Song song với Na lan đà cũng có một trung tâm khác không kém quan tro ̣ng ta ̣i Valabhi được mô ̣t Đa ̣i luâ ̣n sư khác của Duy thức tông là Đức Huệ sáng lập Đa ̣i diê ̣n xuất sắc nhất của trường phái Duy thức này là An Huê ̣,

mô ̣t môn đê ̣ của Đức Huê ̣ Trần na và Pháp Xứng hệ thống hóa và xây dựng Nhân minh ho ̣c - cách tranh luâ ̣n bằng logic Đến thế kỷ thứ XII trường phái này suy tàn

Trang 23

giáo xâm lăng Ấn Độ, các đạo quân Hồi giáo lan tràn tới đâu thì các tăng ni Phật giáo bị sát hại tới đó Chùa chiền tự viện đều bị san bằng

1.2.2 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học ở Trung Hoa

Duy thức tông khi được truyền bá sang Trung Hoa có tên là Pháp tướng tông

do nhà sư Huyền Trang và vị đệ tử xuất sắc là Khuy Cơ lập nên Tông này mang tên Pháp tướng vì chuyên nghiên cứu về tướng của các pháp Chữ “tướng” là chỉ về thế giới hiện tượng Pháp ở đây chỉ các sự thể thuộc vật chất và tinh thần (sắc và tâm), bởi vì đối tượng chính của tông phái này là nghiên cứu về bản chất của mọi sự vật

Tiền thân của Pháp tướng tông là Nhiếp luận tông, do sư Chân Đế (Paramàrtha, 499 – 569) tạo dựng Sư người Ấn Độ, đến Trung Hoa năm 548, và trong khoảng thời gian từ đó đến năm 557 đã dịch rất nhiều các tác phẩm quan

trọng của Duy thức tông ra tiếng Hán, trong đó nổi tiếng có Nhiếp Đại thừa luận

của Vô Trước viết vào thế kỷ V (được Ngài Thế Thân chú giải) là bộ luận đầu tiên phát biểu học thuyết Duy thức Bản dịch này là căn bản cho Pháp tướng tông ở Trung Hoa Nhiếp luận tông kể từ đời Đường đã được hòa nhập vào Pháp tướng tông [24, tr 35]

Ngoài ra, hai bản dịch Bồ-tát địa của ngài Pháp Hộ (Dharmarakna) (385 -

433) và ngài Cầu-na-bạt-ma (còn gọi là Công Đức Khải Gunavarman) (367 - 431) được cho là những tác phẩm sớm nhất của Pháp tướng tông

Huyền Trang (596-664), còn mang danh hiệu là Tam Tạng Pháp sư, là người tinh thông kinh điển Phật giáo (Tam tạng: Kinh tạng, Luận tạng và Luật tạng) Tên thật của ngài là Trần Vĩ, sinh ra ở huyện Hầu Thị, châu Lạc Xuyên (nay là huyện Uyển Sư, tỉnh Hà Nam) Trung Quốc Xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, cha là Trần Huệ đã từng làm huyện lệnh ở Giang Lăng, các thành viên trong gia đình đều là những Phật tử thuần thành, ngài có bốn anh em, người anh thứ hai là Trần Tiệp xuất gia ở chùa Tịnh Độ (Lạc Dương) Có lẽ do những điều thuận lợi như thế nên ngài Huyền Trang đã sớm có cơ hội gần gũi Phật pháp ngay trong thời thơ ấu

Trang 24

Khi còn rất trẻ Sư đã nghiên cứu nhiều kinh điển Phật giáo, trong đó có kinh điển của Duy thức Đại thừa có giá trị Ở quê hương, Sư đã cùng nghe các buổi

giảng thuyết về Đại thừa Nhiếp luận với rất nhiều luận sư khác nhau Ông là một

học giả rất nhiệt tâm với Duy thức tông Tuy nhiên, ý kiến của các thầy của ông quá khác nhau và mâu thuẫn khiến ông tò mò, ông bèn quyết định Tây du với hy vọng tìm được một luận sư tài ba Cuộc Tây du khởi hành từ Trường An năm 629 Cùng năm đó, ông chỉ đến ở Karakobjo, xứ Tây Khương Mãi đến năm 632 hay trễ hơn nữa mới đến Nalanda – một trung tâm học địa của Phật giáo đương thời, gần thành Vương xá nơi mà Giới Hiền, bấy giờ đã 106 tuổi, đang là thủ tòa của đại học này

Huyền Trang được Giới Hiền truyền thụ tất cả các học thuyết quan trọng của Phật giáo nói chung và Duy thức tông nói riêng, trước tiên là Duy thức học do Thế

Thân cải tổ qua bộ Luận Duy thức (Vijnaptimàtratà), kế đến là Thực tại luận của cùng tác giả qua bộ A tỳ đạt ma Câu xá (Abhidharmakosa) Trong thời gian lưu lại

Ấn Độ, Huyền Trang còn theo Như Lai Mật, Sư Tử Nhẫn học Nhân minh, lại học

Duy thức quyết trạch luận với Thắng Quân Sư đã viết 1600 bài tụng nêu cao giáo

nghĩa Đại thừa, trong đó nổi tiếng là bài tụng Chân dung thức lượng không một ai

có thể bình luận hay phản bác lại gì Sư cũng đã viết một bài luận giải bằng tiếng Phạn với ba ngàn câu kệ nói về “Điểm không khác biệt giữa Trung quán và Duy thức” mà ngày nay không còn Huyền Trang là người biện luận giỏi, nhiều lần thắng đại diện của phái Tiểu thừa cũng như phái Bàlamôn Danh tiếng của Sư trở nên lẫy lừng, nhiều vua chúa mời Sư giảng dạy Chính vì vậy, tiếng tăm Huyền Trang cho mãi đến ngày nay vẫn được các học giả Ấn Độ kính trọng ngợi ca

Sau 17 năm trường du học tại Ấn Độ, Huyền Trang hồi hương năm 645, mang về rất nhiều kinh sách của Duy thức tông Theo sử chép, “Huyền Trang tây du lấy kinh trong 17 năm, đã đi qua hơn 110 quốc gia và khu vực, hành trình hơn năm vạn dặm, mang về 520 cặp, 257 bộ Phật điển Đại thừa và Tiểu thừa” Với sự hỗ trợ của triều đình và nhiều đệ tử, Sư đã dịch những kinh văn này sang tiếng Hán, trong

đó có Thành Duy thức luận (Vijnaptimàtratasiddhi) Tác phẩm này lấy Duy thức

tam thập tụng của Thế Thân làm cấu trúc bộ khung Trong tác phẩm này, Sư tổng

Trang 25

kết quan niệm của Mười đại Luận sư về giáo nghĩa của Duy thức tông Luận này bao gồm những nội dung như luận về tâm thức, bách pháp (một trăm pháp), tam tự tính, thuyết duyên sinh Phật giáo…

Trong các tác phẩm dịch thuật của Huyền Trang, bộ kinh duy nhất vẫn thông

dụng, được đọc tụng hàng ngày trong các chùa chiền là Bát nhã tâm kinh Một số tác phẩm quan trọng của Sư là: Hiển dương thánh giáo luận tụng, Đại thừa A tỳ đạt

ma tạp tập luận, Đại Đường Tây vực ký, Nhân minh nhập chính lý luận, Duy thức tam thập tụng, Bách pháp minh môn luận, Phật địa kinh luận, A tỳ đạt ma câu xá luận, Thành Duy thức luận, Biện trung biên luận tụng, Duy thức nhị thập luận…

Ngoài Phật học ra, Huyền Trang còn kể lại cuộc đời mình trong cuốn Đại

Đường Tây vực ký Cuốn sách đã kể la ̣i quá trình du ngoa ̣i hơn 100 nướ c trong mười mấy năm của ông , có nội dung phong ph ú và đến nay vẫn là tư liệu quý báu trong nghiên cứu đi ̣a lý li ̣ch sử của các nước Áp-ga-ni-xtan, Pa-ki-xtan, Ấn Độ cũng như khu vực Trung Á thời cổ Có học giả nói : "Người Ấn Độ biết được lịch sử của nước mình trước thế kỷ thứ VII , là nhờ sự ghi chép của ngài Huyền Trang " Từ thế

kỷ XIX, Đại Đường Tây vực ký đến nay đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Pháp ,

lịch sử thời cổ Ấn Độ và Trung Á , thu đươ ̣c thành quả rực rỡ Sự ảnh hưởng văn hóa của Huyền Trang đã vươ ̣t xa mu ̣c đích chủ quan và hiê ̣u quả trực tiếp trong viê ̣c

đi Tây Trúc thỉnh kinh , có vị trí quan tro ̣ng trong li ̣ch sử văn hóa Trung Quốc nói

riêng và phương Đông nói chung Cũng từ bộ này mà tác phẩm Tây du ký của Ngô

Thừa Ân ra đời

Huyền Trang có rất nhiều đệ tử xuất sắc Điển hình có Thần Phương, Gia Thượng, Phổ Quang và Khuy Cơ Tuy nhiên, người làm cho Pháp tướng Duy thức tông trở nên rạng danh và có quy mô lớn lại chỉ có Khuy Cơ mà thôi

Khuy Cơ (632-685), vị đệ tử xuất sắc của Huyền Trang, dường như là người độc nhất truyền thừa học thuyết Duy thức Sư năm 17 tuổi vâng lệnh vua xuất gia làm đệ tử của Pháp sư Huyền Trang ở Chùa Quảng Phước, sau dời đến chùa Từ Ân, theo ngài Huyền Trang học tiếng Phạn và kinh luận Phật giáo

Trang 26

Khuy Cơ dành phần lớn thời gian sống và làm việc của mình tại chùa Đại Từ

Ân nên thường được gọi là Từ Ân đại sư Ngài có công truyền bá tư tưởng Duy thức học nên Pháp tướng tông còn được gọi là Từ Ân tông Có thể nói, Pháp tướng tông là do Khuy Cơ hệ thống hóa và chính yếu sáng lập nên Ông cùng với người thầy của mình là sư Huyền Trang dịch rất nhiều tác phẩm trọng yếu của Duy thức học Ngài Khuy Cơ tổ chức sắp xếp học thuyết của Huyền Trang thành hệ thống mạch lạc, biên soạn rộng rãi các chú giải của Pháp tướng Duy thức, càng mở ra

thêm phần tinh hoa độc đáo Hai sáng tác quan trọng của Khuy Cơ, Đại thừa pháp

uyển nghĩa lâm chương và Thành Duy thức luận thuật ký, là căn bản của

tông phái này Những tác phẩm của Khuy Cơ tổng cộng gồm 43 thể loại, hiện còn

31 loại Ngoại trừ những chú giải kinh điển của ngài như Kinh Kim cương Bát nhã,

kinh Pháp Hoa Kinh Thắng Man, còn lại đều là những biên soạn, chú giải, ngài đều

dùng bản dịch của ngài Huyền Trang

Khuy Cơ có một đệ tử xuất sắc là Huệ Chiểu, Huệ Chiểu lại truyền bá tư tưởng Duy thức cho đệ tử của mình là Trí Châu (Chishu) Các tác phẩm của Trí

Châu là Thành Duy thức luận diễn bí, Thành Duy thức luận xu yếu, Thành Duy thức

luận liễu nghĩa đăng được xem là tài liệu học tập quan trọng của môn đệ Duy thức

Pháp tướng tông Ngài Trí Châu có một đệ tử người Triều Tiên là Trí Phong, một đệ

tử người Nhật Bản là Huyền Phảng, vào thế kỷ thứ VII, đem các luận giải của ngài Khuy Cơ truyền sang Nhật Bản, lập nên Pháp tướng tông Nhật Bản

Khi Huyền Trang và Khuy Cơ còn tại thế, học thuyết Duy thức rất thịnh hành Sau đó, các tông Hoa Nghiêm, Thiền tông, tông Thiên Thai của Phật giáo dần trở nên hưng thịnh Học thuyết Duy thức Pháp tướng tông dần dần tiêu trầm Lại trải qua binh loạn, năm Thiên Bảo (năm 845) về sau, Đường Vũ Tông diệt pháp, các tác phẩm của ngài Khuy Cơ bị mất một phần Bên cạnh ấy, việc phê bình, đánh giá của Hoa Nghiêm tông về “Duy Thức tông”, xem nó chỉ cao hơn “Tiểu thừa”, nhưng thấp hơn “Thiền tông”, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông cũng là nguyên nhân khiến tông này mất sự ủng hộ của tín đồ Nhưng quan trọng hơn cả là triết lý của tông này với sự phân tích chi ly và các thuật ngữ quá khó hiểu là lý do khiến những

Trang 27

bộ óc đầy tính thực dụng của Trung Hoa sớm quay lưng với nó để ủng hộ những tông phái với giáo lý đơn giản và trực tiếp hơn như Thiền tông và Tịnh Độ tông Năm 1023, thời Tống Nhân Tông, Thiên Thánh sơ niên, triều đình đưa từ trong kho

ra 14 loại tác phẩm của ngài Khuy Cơ, 43 quyển khắc bản gỗ Về sau dựa vào những bản này truyền bá giáo lý Pháp tướng tông Trong số các luận sư kế thừa giáo nghĩa của Pháp tướng tông, nổi tiếng có ngài Anh Biện (1247 – 1314) và Chí Đức (1245 – 1322)

Thời nhà Minh, chùa Giảng là nơi Pháp tướng Duy thức chuyên thuyết giảng kinh giáo cho tu sĩ và cư sĩ cầu học Do các triều vua Minh nhiệt tình ủng hộ, và bảo trợ; một phần do xuất hiện khá nhiều các bậc danh tăng, giáo đoàn sinh hoạt kỷ cương, nền nếp nên giáo lý Pháp tướng đã đánh dấu một bước phát triển mới Ngài

Ngẫu Ích Tri Húc (1599 – 1655) trước tác Duy thức quán tâm pháp yếu (18

quyển)… Tuy nhiên, dần dần về sau môn học Pháp tướng Duy thức bị mờ nhạt do những bản in khắc giáo nghĩa của tông phái này bị mất mát thất truyền

Thời cận đại, Phật giáo Trung Hoa đã phục hưng, đề xướng phong trào Chấn hưng Phật giáo là các cư sĩ tại gia mà không phải là tăng nhân xuất gia như Dương Văn Hội, Đàm Tự Đồng, Lương Khải Siêu, Chương Thái Viên, Hàn Thanh Tịnh… Chủ lưu phục hưng của Phật giáo là Pháp tướng Duy thức tông thịnh hành trong đời Đường Đàm Từ Đồng xem trọng thuyết Duy thức của Phật giáo, tuyên truyền thuyết “tam giới duy tâm” là chân lý, “cảnh giả, tâm tạo Mọi cảnh vật đều hư ảo, duy chỉ có cảnh do duy tâm tạo ra là thật” Tiếp đến là Như Thái cũng rất tán dương Duy thức, ông nổi tiếng với “Tân Duy thức luận”, sửa đổi và bổ sung “chủng tử” của Phật giáo Duy thức tông… Từ đây, Pháp tướng Duy thức được giới Phật học Trung Hoa quan tâm và nghiên cứu một cách rộng rãi hơn

Hiện đại, có nhiều vị học giải Trung Hoa cũng đóng góp vào Duy thức học như Châu Từ Ca, Đường Đại Viên, Thái Hư Đại Sư,… Thái Hư Đại Sư đã nói rằng “con đường dễ nhất cho người Tây phương đi vào Phật giáo là con đường Duy thức học”

Trang 28

1.2.3 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học ở Nhật Bản

Duy thức tông được truyền bá sang Nhật Bản với hai nhánh dưới tên gọi là Pháp tướng tông

Đạo Chiêu (Dôshô, 628 – 700), một tăng sĩ Nhật Bản, dưới triều Thánh Đức, được gửi sang Trung Hoa năm 653; ông thọ pháp với Huyền Trang hơn mười năm Thời đó, Huyền Trang từ Ấn Độ trở về tiếng tăm lẫy lừng Pháp tướng Duy thức mà Huyền Trang truyền bá là tư tưởng Phật giáo mới nhất đương thời Huyền Trang đặc biệt dạy ông pháp thiền quán, truyền thụ giáo lý Duy thức Đêm hôm trước buổi khởi hành, ông được Huyền Trang tặng cho nhiều bộ kinh, luận và luận sớ viết về Duy thức luận Hồi hương, Đạo Chiêu khởi sự truyền bá Duy thức tông tại chùa Gwangôji (Nguyên Hưng tự) Đến cuối đời, Sư đi tuần du khắp các nơi, dốc sức cho

sự nghiệp công ích xã hội như đặt thuyền bắc cầu ở bến sông, đào giếng cạnh đường, đi khắp Nhật Bản giáo hóa quần chúng Đệ tử của ông là Hành Cơ (Gyôgi,

667 – 748) Hành Cơ theo Đạo Chiêu học Pháp tướng, rồi sau đó cũng đi chu du khắp nơi, chuyên tâm làm các công việc xã hội như giáo hóa dân chúng, xây dựng chùa chiền, thiết lập đê điều, dựng cầu cống… nên mọi người tôn xưng ông là Hành

Cơ Bồ Tát Dòng truyền thừa thứ nhất này được gọi là Nam tự truyền, cũng gọi là Phi Điểu truyền

Dòng thứ hai do Trí Thông (Chitsù) và Trí Đạt (Chitatsu) theo sắc lệnh của nhà vua lên thuyền của Tân La (Triều Tiên) sang Trung Hoa năm 654 cầu pháp Hai ông cùng với Đạo Chiêu nhiệt tâm học pháp với Huyền Trang và Khuy Cơ Sau khi về Nhật, Trí Thông xây chùa Quan Âm Tự ở Bình Thành, truyền bá mạnh mẽ giáo nghĩa Pháp tướng

Dòng thứ ba do Trí Phụng (Chihô) là tăng sĩ Triều Tiên, gốc người Tân la, cùng với đồng đạo là Trí Loan (Chiran) và Trí Hùng (Chio) vốn đã ở Trung Hoa một thời gian, và học pháp với Huyền Trang Cả ba đến Nhật năm 703 truyền học thuyết Duy thức cho Nghĩa Uyên (Giyen) Tương truyền, ông là người sáng lập Long Cái Tự, Long Môn tự và Long Uyên Tự Đệ tử của Nghĩa Uyên có rất nhiều,

Trang 29

nổi tiếng là Pháp Hải, Hành Tốn, Thắng Ngu… Họ đều là những nhân vật xuất chúng đã hoạt động tích cực trong giới Phật giáo thời kỳ Nại Lương (715 – 806)

Dòng thứ tư do học giả Huyền Phảng (Gembô, ? - 746) đến Trung Hoa năm

716 và học giáo lý của Duy thức tông với Trí Châu (688 – 723), một đệ tử của Khuy

Cơ Tương truyền, trước đó ông đã từng theo học Pháp tướng với Nghĩa Uyên ở Đại Hòa Cương Tự Ông ở Trung Hoa gần 20 năm và cũng nhận được sự bảo trợ của Hoàng đế Đường triều Đến năm 735 trở về quê hương, Sư mang theo một số tượng Phật, hơn 5000 quyển kinh Phật và thuyết giảng học thuyết này tại chùa Kôbukuji (Hưng phúc tự) Ông truyền pháp cho Huyền Tông (Genjù, 723 – 797) là người tận tụy phổ bá học thuyết này Dòng này được gọi là Bắc tự truyền, hay Ngự lập truyền

và được xem như là dòng truyền chính thống

Nhưng giữa Nam tự và Bắc tự còn có các phái Pháp tướng tông khác truyền dạy là Dược sư tự với tên tuổi của luận sư Hộ Mạng; chùa Đông Đại tự, trụ trì là Đại sư Lương Biện với đệ tử là Minh Nhất; Tây Đại tự có luận sư Thắng Ngu Các ông đều tận lực truyền bá giáo lý Pháp tướng tông

Nhờ sự bảo hộ của dòng họ Đằng Nguyên – một dòng họ có thế lực thời đại bấy giờ, và nhờ sự xuất hiện của các bậc học lỗi lạc và đức độ ở những ngôi chùa lớn, nên Phật giáo Pháp tướng tông đã trở thành đại biểu cho Phật giáo vùng Nam

Đô Kể từ khi Huyền Phảng qua đời, học thuyết của tông này bị đả kích rất nhiều, thậm chí sau đó giáo học của Pháp tướng bị chịu ảnh hưởng của giáo học vốn giống với Phật giáo mới được truyền đến lúc ban đầu

Tông Pháp tướng là hạt nhân của sáu tông thời kỳ Nại lương, lấy các bộ kinh

luận như Giải thâm mật kinh, Thành Duy thức luận… làm điển cứ cho rằng tất cả

mọi sự tồn tại đều không thật, do tâm tạo ra, ngoài A lại da thức ra thì không có gì tồn tại cả Ở Nhật Bản, các nhà sư tập trung nghiên cứu về Nhân minh học dựa vào

bộ Nhân minh Đại sớ Khởi đầu là Thiện Châu (723 – 797) ở Thu Tiểu tự Chính sự nghiên cứu về Nhân minh học của các luận sư Pháp tướng Duy thức Nhật Bản đã trở thành yếu tố cần thiết cho việc phán quyết về chính trị của các nhà vua làm cho

Trang 30

tông phái này càng có địa vị quan trọng trong xã hội lúc bấy giờ Nguyên hưng tự, Hưng Phúc tự và Dược sư tự là những ngôi chùa trung tâm phát triển rực rỡ của tông phái này

Học giả nổi tiếng của tông Pháp tướng thời kỳ Nại Lương có rất nhiều Dưới Hành Cơ có Pháp Hải, Hành Tốn, Thắng Ngu Dưới Thắng Ngu có Từ Bảo, Thái Diễn, Hộ Mệnh… Dưới Huyền Phảng có Thiện Châu, Hành Hạ… Ngoài ra, những

đệ tử khác của Nghĩa Uyên cũng được đào tạo là Thần Duệ, Đức Nhẫn, Huyền Tân… Đáng kể nhất, trong những người nói trên, Hộ Mệnh và Thiện Châu có nhiều tác phẩm nhất Thần Duệ và Đạo Từ là hai nhận vật lớn của giáo giới Hộ Mệnh và Đức Nhất là hai kình địch trong cuộc luận chiến với nhà sư Tối Trừng của tông Thiên Thai Tóm lại, dưới thời kỳ Nại Lương, tông Pháp tướng xuất hiện nhiều nhân tài, hình thành dòng phái lớn nhất của tư tưởng Phật giáo đương thời

Vào thời kỳ Bình An (806 – 1190), tuy Pháp tướng tông bị suy vi nhưng vẫn duy trì được truyền thống dạy học Đến cuối thời kỳ Bình An, xuất hiện các danh sư như Đức Nhất, Tạng Tuấn và Giác Hiến Đệ tử của Giác Hiến là Trinh Khánh đã trung hưng tông Pháp tướng Tạng Tuấn có đệ tử là Pháp Nhiên, cũng theo ông học Pháp tướng nhưng về sau theo Tam Luận tông Trinh Khánh tu tại chùa Hưng Phúc

chuyên nghiên cứu giáo nghĩa Pháp tướng Tác phẩm tiêu biểu của ông là Duy thức

đồng học sao, gồm 62 quyển nhằm chú giải Duy thức luận Kết tinh tư tưởng của

ông còn thể hiện qua các tác phẩm: Ngu mê phát tâm tập, Tâm yếu sao…

Thời kỳ Liêm Thương (1192 – 1333), nhiều nhà sư Nhật Bản đến Trung Quốc và giảng dạy giáo lý Duy thức ở đây, trong đó phải kể đến nhà sư Trừng Giác

và Khoan Kiện giảng Duy thức luận ở Lạc Dương, Trường An

Vào cuối thế kỷ XIX, các luận sư của Trung Hoa và Nhật Bản cũng sưu tập được các bản luận giải về Duy thức, lần lượt san định góp phần chỉnh lý nghiên cứu

và ấn hành

Hiện nay, Pháp Tướng tông vẫn còn hưng thịnh ở Nhật và những người theo học đều là bậc thông minh, tài trí Ở Nhật Bản, Pháp Tướng tông có trên 40 cảnh chùa, 700 nhà sư, và 10.000 người thỉnh thoảng đi nghe kinh lạy Phật

Trang 31

1.2.4 Sự truyền bá và phát triển Duy thức học ở Việt Nam

Theo truyền sử Phật giáo ở Việt Nam, tông Duy Thức không được thành lập nhưng tư tưởng Duy Thức được manh nha từ khi Phật giáo du nhập vào và được các

bậc Cao Tăng dùng dạy cho đệ tử Theo Nguyễn Lang trong “Việt Nam Phật giáo

sử luận”, có thể Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma, 470 - 543) – tổ thứ 28 của dòng

Thiền Ấn Độ, cùng với một vị sư Ấn khác là Pháp Thiên (Dharmadeva) sang Giao

Châu giảng giải giáo nghĩa của Kinh Lăng già, và tư tưởng Duy thức học [21, tr 134]

Vào cuối thế kỷ thứ VII đầu thế kỷ thứ VIII, có nhiều nhà sư Việt Nam đã qua Ấn Độ cầu pháp học tập như Vận Kỳ, Giải Thoát Thiên, Thanh Biện, Định Không, La Quý An… trong đó nổi bật nhất có Ðại Thừa Ðăng (625 – 685), còn

được gọi là Đại Thừa Quang Cuốn du ký Đại Đường Tây vực cầu pháp cao tăng

truyện của nhà sư người Trung Quốc Nghĩa Tịnh (682 – 727) đã ghi lại như sau:

“Đại Thừa Đăng thiền sư vốn người Giao Chỉ (Ái Châu), tên tiếng Phạn là Mạc Ha

Dạ Na Bát Địa Dĩ Ba (tức Mahàyànapradìpa, nghĩa là Chiếc đèn của cỗ xe lớn, tiếng Đường là Đại Thừa Đăng), lúc nhỏ theo cha mẹ đi thuyền đến cư trú tại thành Kushinagar (nay là Kashia, thuộc bang Utta pradesh, Ấn Độ, là nơi Đức Phật Thích

ca nhập Niết Bàn)” Ông xuất gia ở Dvararati, Ấn Độ Đại Thừa Đăng, sau đó theo

sứ thần nhà Đường là Diêm Tự về Trường An Tới chùa Từ Ân, ông gặp pháp sư Huyền Trang và xin thọ pháp về giáo nghĩa Đại thừa Duy thức Trong thời gian này, ông cùng với Khuy Cơ được xem như là hai đại đệ tử đã cộng tác với Huyền Trang

trong công trình dịch thuật các bộ luận về Duy thức ở chùa Từ Ân như Duy thức

Nhị thập tụng, Duy thức Tam thập tụng, cho thấy tài năng của một đại sư Việt Nam

mà tên tuổi chưa được giới học thuật Phật giáo Việt Nam trước đây chú ý Ông đã

để lại một số tác phẩm quan trọng như Câu xá luận ký, Đại thừa bách pháp minh

môn luận chú, Duy thức chỉ nguyên… Có thể nói, chính Đại Thừa Đăng là người đã

đặt nền móng cơ bản cho Phật giáo Đại thừa Việt Nam trong những thế kỷ đầu

Giáo lý của Duy thức còn được nhắc đến rất nhiều trong các tác phẩm của các trường phái thiền như Tỳ ni đa lưu chi, Trúc Lâm Yên Tử… Tiêu biểu, Thiền sư

Trang 32

Thường Chiếu (? – 1203) của Thiền Kiến sơ đã đề cập đến phạm trù quan trọng của Duy thức học trong một số bài kệ của mình như:

Tại thế vi nhân thân

Tâm vi Như Lai tạng

Chiếu diệu thả vô phương

Tầm chi cánh tuyệt khoáng

(Thân tuy sống trên đời

Tâm là Như Lai tạng

Chiếu rạng cả mười phương

Nhưng tìm thì biệt dạng)

Thường Chiếu chủ trương sự tu học chứng ngộ cần được căn cứ trên một nền tâm học vững chãi mới có thể thành tựu được Ông nói: “Hiểu thế nào là tâm mà tu đạo thì dụng sức ít mà dễ thành công Không hiểu tâm mà tu đạo thì phí công vô ích” [51, tr 149] Thấy được tâm mình ở đây là thấy được sự liên hệ giữa chủ thể và đối tượng nhận thức Tâm học ở đây có nghĩa gần như tâm lý học, đó là Duy thức học Một vị đệ tử của Thường Chiếu có hỏi: “Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức xúc tiếp nhau thì sự việc xảy ra thế nào?” (Vật ngã phan duyên thời như hà?) Thường Chiếu đáp, trong tinh thần chính thống của Duy Thức học: “Khi ấy,

cả chủ thể và đối tượng nhận thức không còn Tâm thức của ta vô thường, thay đổi sinh diệt trong từng sát na, thì làm sao có một chủ thể thường tại mà tiếp xúc với đối tượng? Tuy vậy, sinh là các hiện tượng sinh, diệt là các hiện tượng diệt; còn đối tượng chứng ngộ thì không bao giờ sinh diệt” (Vật ngã lưỡng vong! Tâm tính vô thường, dị sinh dị diệt, sát-na bất định, thùy thị phan duyên? Sinh vi sinh vật, diệt vi diệt vật, bỉ pháp sở đắc thường vô sinh diệt [21, tr 43]

Thiền sư Hương Hải (1627- 1714) có viết:

Thấy vật liền thấy tâm

Không vật tâm không hiện

(Kiến vật tiện kiến tâm

Vô vật tâm bất hiện) [22, tr 98]

Trang 33

Tâm và cảnh có cùng chung một thể tính Đối tượng của nhận thức và của chủ thể nhận thức nương vào nhau mà hiện hữu

Thiền sư Thanh Đàm thuộc phái Trúc Lâm, trong tác phẩm Pháp hoa Đề

cương, ông có nêu lên hai câu kệ về thức thức tám như sau:

Lục căn hư vọng, vô phi bồ đề diệu tâm

Thất đại biến thu, tận thị Như Lai tạng tính

(Sáu căn hư vọng, mà căn nào cũng là diệu tâm giác ngộ

Bảy đại trải khắp, đều là tạng tính Như Lai) [22; tr 135]

Nhìn chung, những tư tưởng Duy thức học vẫn chỉ là tản mạn, là sự nghiên cứu riêng lẻ, và vẫn chưa được tập hợp thành một hệ thống, một luận thuyết

Đầu thế kỷ XX, Phong trào Phục hưng Phật giáo ở Trung Hoa không ngừng ảnh hưởng tới Việt Nam và đưa lại động lực cải cách mới cho một số nhân sĩ Phật giáo Việt Nam có tri thức Do đó, vào những năm 20 của thế kỷ XX trên một số báo chí Việt Nam có đăng một số tin tức về Phật giáo Việt Nam cần cải cách, ví dụ như

các bài về Phật giáo lược khảo đăng trên tờ Đông Pháp thời báo thể hiện yêu cầu

phải đổi mới Phật giáo

Đến những năm 30, tình hình có sự chuyển biến Trên lãnh thổ Việt Nam xuất hiện Phong trào Chấn hưng Phật giáo, các nơi trong nước đều có Hội nghiên

cứu Phật giáo và đưa ra những tạp chí riêng Ở Nam kỳ thành lập Hội Nam kỳ

Nghiên cứu Phật học (1930), lấy chùa Linh Sơn làm trụ sở, cho xuất bản các tạp chí Duy tâm, Bát nhã, Từ bi âm Ở Trung kỳ, thiền sư Giác Tiên tập họp các học giả

nghiên cứu Phật giáo và với sự cộng tác của một số cư sĩ như Lê Đình Thám,

Nguyễn Khoa Tân… thành lập hội An Nam Phật học (1932) đặt trụ sở tại chùa Trúc Lâm và xuất bản tạp chí Viên âm Đến lượt Bắc kỳ, các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng

và Tâm Bảo lập hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934) Hội lấy chùa Quán sứ làm trụ sở và xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ Sự có mặt của các tạp chí bằng tiếng quốc ngữ trên và một số kinh sách phổ thông về Phật học (Phật giáo sơ học, Phật giáo vấn đáp… và những kinh bản như kinh Kim Cương, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa…) đã làm cho việc

học giáo lý Phật giáo trở nên dễ dàng đối với quần chúng

Trang 34

Lúc bấy giờ, đảm đương nhiệm vụ tuyên truyền cho cải cách Phật giáo là những người thuộc thế hệ mới của giới Phật giáo Họ là bác sĩ, giáo viên, công chức nhà nước; có tri thức khoa học mới, tư tưởng xã hội mới, có vốn ngoại ngữ mới, biết Hán văn, Pháp văn, và thậm chí cả Anh văn; đó là phương tiện để họ tiếp xúc được với tư tưởng mới được truyền vào Thông qua họ, Phật giáo Việt Nam có sự phát triển mới

Phong trào Phục hưng Phật giáo ở Trung Quốc đã ảnh hưởng tới Phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam đương thời Một trong những nội dung chủ yếu của Phong trào Phục hưng Phật giáo ở Trung Hoa là phục hồi và phát huy tư tưởng Duy

thức học Một trong những tạp chí của phong trào này là Hải triều âm do thiền sư

Thái Hư chủ biên liên tục được đưa vào Việt Nam, là một trong những cơ quan ngôn luận Phật giáo có ảnh hưởng tới nền Phật giáo phục hưng tại đất Việt Các nhà

Phật học Việt Nam đã lựa chọn một số bài nghiên cứu quan trọng trên Hải triều âm,

một số tác phẩm quan trọng của Pháp sư Thái Hư, của các nhà Phật học Chương Thái Viên, Trần Duy Đông, Tưởng Duy Kiều… dịch ra Việt văn, đăng trên sách báo, hoặc giới thiệu trong các buổi sinh hoạt Phật học Đồng thời, một số đoạn

trong tác phẩm kinh điển của Duy thức học là Duy thức nhị thập luận của Thế

Thân, cùng những chú, sớ của Huyền Trang và Khuy Cơ được dịch ra Việt văn và

ấn hành

Dựa vào Duy thức tông, các nhà lý luận của Phong trào Chấn hưng Phật giáo

đã trình bày quan niệm về thế giới trên bình diện nhận thức luận, chứ không phải duy tâm luận Ngoài ra trong lập luận của các nhà sư và cư sĩ lúc bấy giờ đã có ý thức sử dụng nhân minh học, một lý luận chú ý đến logic của tư duy và nhận thức luận trong việc lý giải mọi sự vật, hiện tượng

Phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX là một tiến bộ lớn trong lịch

sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam Nguồn gốc của tình hình này, một phần là do trình

độ tư duy đương thời đã cao hơn trước, mặt khác do việc tiếp thu và vận dụng tri thức của Duy thức học phái lúc bấy giờ Và từ đây, tư tưởng của Duy thức đã được tiếp thu và vận dụng ở nước ta một cách rộng rãi

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thế Thân và người anh là Vô Trước được xem là hai khuôn mặt vĩ đại, đã chủ xướng, hệ thống hóa và phát triển triết lý Duy thức khiến chỉ trong một thời gian ngắn, học phái này đã được phổ biến rộng rãi và lôi cuốn một số luận sư tài danh khác đương thời, cũng như các thế kỷ sau nhập cuộc và khởi đầu cho một số luận sớ, sớ giải…; hoặc tán thành và triển khai thêm, hoặc biện bác, phủ quyết… với học thuyết này

Giáo lý Duy thức tông dựa vào 6 bộ kinh và 11 bộ luận, chủ yếu là kinh Giải

thâm mật và luận Thành Duy thức Luận Thành Duy thức do Mười vị đại luận sư

soạn ra, song giảng giải giáo nghĩa Duy thức chính xác hơn cả chỉ có ngài Hộ Pháp

Đệ tử cao học bậc nhất của ngài là Giới Hiền hồi thế kỷ thứ VI Chính ngài là người truyền lại cho Huyền Trang toàn bộ các kinh luận và đạo lý Huyền Trang trở về Trung Quốc năm 645 và tiến hành dịch kinh trong 19 năm Đệ tử của ngài là Khuy

Cơ, là người có công lớn trong việc mở mang và truyền bá Pháp tướng tông ở Trung Hoa Pháp tướng tông được truyền qua Nhật Bản bởi Đạo Chiêu, là bạn đồng môn với Khuy Cơ năm 653 và Huyền Phảng qua thụ giáo nơi đệ tử của Huệ Chiểu đầu thế kỷ thứ VIII

Trước thế kỷ XX, người Việt Nam còn ít biết đến Duy thức tông, nhưng sau

đó nhờ Phong trào Chấn hưng Phật giáo của Trung Quốc đã đưa lại một động lực mới cho các học giả Phật giáo Việt Nam nghiên cứu và hiểu biết sâu hơn về Duy thức tông

Trang 36

CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ BẢN THỂ LUẬN, NHẬN THỨC LUẬN VÀ

LOGIC HỌC TRONG DUY THỨC HỌC

2.1 Vấn đề bản thể luận

Bản thể luận là một trong những vấn đề cơ bản của mọi hệ thống triết học nói chung và triết học Phật giáo nói riêng Nó là nền tảng để giải quyết các vấn đề khác của triết học Quan niệm về bản thể của triết học Phật giáo là một quan niệm mang tính đặc thù phương Đông, trong đó nổi trội hơn cả là vấn đề bản thể luận trong hệ thống Duy thức học Vấn đề bản thể trong Duy thức học tập trung nghiên cứu các vấn đề: thế giới là gì?, thế giới được hình thành như thế nào?, sự vận động của thế giới ra làm sao?…

Toàn bộ thế giới, theo Duy thức học là do một trăm pháp (bách pháp) tạo thành, một trăm pháp được chia làm năm nhóm, được gọi là Bách pháp ngũ vị:

(I) Tâm pháp (hay còn gọi là tâm vương): là nguồn sống, là chủ mọi hành động của con người; nguồn gốc sản sinh ra thế giới, bao gồm 8 pháp hay 8 thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức và a lại da thức Tám thức này còn được gọi là Bát thức tâm vương, vì tất cả các pháp đều tùy thuộc vào sở hữu của tâm này

(II) Tâm sở hữu pháp:

Tâm sở xuất phát từ câu “Tâm vương chi sở hữu pháp” để chỉ cho các pháp

đó là pháp sở hữu của tâm vương Tâm sở hữu pháp là tất cả những hiện tượng được gọi là cuộc sống nội tâm, bao gồm 51 pháp, được phân làm 6 nhóm:

1 Biến hành tâm sở: gồm 5 pháp: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng và Tư

2 Biệt cảnh tâm sở: gồm 5 pháp: Dục, Thắng giải, Niệm, Định và Tuệ

3 Thiện tâm sở: có 11 pháp: Tín, Tàm, Qúy, Vô tham, Vô sân, Vô si, Tinh tấn, Khinh an, Bất phóng dật, Hành xã và Bất hại

4 Căn bản phiền não: có 6 pháp: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác kiến (bất chính kiến)

5 Tùy phiễn não: có 20 pháp, được chia làm 03 loại:

Trang 37

a Tiểu tùy: có 10 pháp: Phẩn, Hận, Phú, Não, Tật, San, Cuống, Xiểm, Hại, Kiêu

b Trung tùy: có 2 pháp: Vô tàm, Vô quý

c Đại tùy: có 8 pháp: Trạo cử, Hôn trầm, Bất tín, Giải đãi, Phóng dật, Thất niệm, Tán loạn, Bất chính tri

6 Bất định: gồm 4 pháp: Hối, Miên, Tầm, Tư

(III) Sắc pháp: là là những yếu tố thuộc về các hiện tượng cảm tính, tức là tất

cả những gì mà trong cuộc sống hàng ngày gọi là vật chất, bao gồm 11 pháp:

1 Năm căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỵ căn, Thiệt căn và Thân căn

2 Sáu trần: Sắc trần, Thinh trần, Hương trần, Vị trần, Xúc trần và Pháp trần

(IV) Tâm bất tương ưng hành pháp: là các yếu tố tạo tác và hỗ trợ cho quá trình của thức nhưng lại lưu chuyển độc lập với thức, không nhập vào nội dung của thức Thuộc nhóm này, trước hết phải kể đến các yếu tố sinh, trụ, dị, diệt; bao gồm

24 pháp: Đắc, Mạng căn, Chúng đồng phận, Dị sinh tính, Vô tưởng định, Diệt tận định, Vô tưởng báo, Danh thân, Cú Thân, Văn thân, Sinh, Trụ, Lão, Vô thường, Lưu chuyển, Định dị, Tương ưng, Thế tốc, Thứ đệ, Thời, Phương, Số, Hòa hiệp tính

và Bất hòa hiệp tính

(V) Pháp vô vi: là pháp dẫn tới giải thoát, bao gồm 6 pháp: Hư không vô vi, Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Bất động diệt vô vi, Tưởng thọ diệt vô vi, Chân như vô vi [37, tr 146]

Trang 38

Hết thảy các pháp lược có 5 loại:

có đầu, thân, tay chân, v.v , thì đầu là một pháp; đầu gồm có mắt, mũi, miệng, tóc, chân mày, v.v., thì mắt là một pháp, tai là một pháp; mắt gồm có vành mi, tròng trắng, tròng đen, lông nheo, v.v , thì tròng trắng, lông nheo, v.v , lại cũng là pháp, v.v Và cứ thế mà chia chẻ ra cho đến tận cùng, đến chỗ không còn có thể chia chẻ được nữa, mà khoa học gọi là nguyên tử Những nguyên tử này là những thực thể hiện hữu liên hệ với nhau, tạo nên bản tính của thực tại Cho nên, mỗi một pháp là

do tâm thức tạo thành theo một chuỗi các sự cố liên hợp

Trong giáo lý Phật giáo, pháp là một khái niệm phổ biến nhưng cũng là khái niệm khó diễn đạt nhất Theo Từ điển Phật học, Pháp là tự thể nhậm trì, quỹ sinh vật giải (任持自性、軌生物解); nghĩa là tất cả những gì cụ thể hay trừu tượng có đặc điểm riêng của nó, phạm vi riêng của nó để có thể cho ta một khái niệm về đối tượng đó Pháp là phép tắc, là quy củ, là luật pháp Theo ngài luận sư Giác Âm thì Pháp có 4 nghĩa như: thuộc tính; giáo pháp; thánh điển và sự vật (bao gồm vật nhìn thấy

và không nhìn thấy) Còn đối với Phật giáo nguyên thủy thì pháp bao gồm: Hiện tượng

và tâm lý; như ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hay duyên khởi cũng là pháp Các pháp đại biểu cho quy luật trật tự vũ trụ, mà không thuộc về trật tự của thần thánh Mỗi pháp tồn tại độc lập và hiện hữu, không những là các pháp hữu vi, mà cả các

Trang 39

pháp vô vi “Bất cứ một cái gì có khả năng duy trì tự tính của nó vào trong một số hình tướng để khi nhìn đến, ta liền nhận ra gọi là pháp” [24, tr 457] Xét ra, mọi sự vật trên đời đều là pháp Pháp trên thực tế vừa đa dạng, vừa hay biến đổi Thế giới khách quan có bao nhiêu loại pháp thì có bấy nhiêu loại chủng tử Chủng tử là “hạt giống”, mang ý nghĩa “khả năng” hoặc “nguyên nhân” của thế giới khách quan Các chủng tử thông qua các giác quan mà biểu hiện thành thế giới bên ngoài

Một trong những quan điểm tiêu biểu của người Trung Quốc cổ đại về bản thể luận là quan điểm về Đạo của Lão Tử - người sáng lập ra trường phái Đạo gia Đạo là cái nguồn gốc nguyên thủy của vũ trụ vạn vật, là cái chi phối sự sinh thành, biến hóa của trời đất; là cái mà tất cả mọi sự vật được sinh ra từ nó; là cái tồn tại tiềm ẩn đằng sau những thay đổi của vạn vật Đạo có sức sáng tạo vô cùng lớn lao,

có thể bao quát, ngự trị trời đất, nhờ đạo mà vạn vật hiển hiện ra trong vũ trụ bằng muôn loại hình dạng khác nhau Đạo là cái gốc của muôn vật, là hạt mầm chứa lẽ sống chưa hiển lộ Điểm này cơ bản tương đồng với quan điểm bản thể của Duy thức Phật giáo, bản thể là căn bản tự thể của các pháp, mà pháp là từ chỉ chung hết thảy mọi sự vật, hiện tượng, dù là to nhỏ, hữu hình, vô hình, chân thực, hư vọng Sự vật cũng là vật, đạo lý cũng là vật, tất thảy đều là pháp cả Chính trong quan niệm

về đạo đã thể hiện một trình độ tư duy khái quát cao về những vấn đề bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của nó

Trong thế giới, vạn pháp không có tự tính (không có bản chất riêng) mà chỉ

là sự hòa hợp của các nhân duyên, nói cách khác, bản chất của vạn pháp là không có thật Với triết học Duy thức, không có pháp nào tồn tại vĩnh cửu, mà tất cả đều tuân theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt (thành, trụ, hoại, không) Toàn bộ vạn pháp đều chi phối bởi luật nhân quả, biến hóa vô thường, không có cái bản ngã cố định, không có cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn cả Tất cả đều biến đổi không ngừng và chỉ có sự biến hóa ấy là vĩnh viễn Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra được mà thành quả, quả lại nhờ có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại thành quả Cứ thế nối nhau vô cùng vô tận mà thế giới, vạn vật cứ sinh rồi lại mất

Trang 40

Trong quá trình giải thích sự biến hóa vô thường của vạn vật, từ quá khứ tới hiện tại, từ hiện tại tới tương lai, Phật giáo đã xây dựng nên giáo lý Duyên khởi:

Do cái này có mặt nên cái kia có mặt

Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt

Do cái này sinh nên cái kia sinh

Do cái này diệt nên cái kia diệt

Giáo lý Duyên khởi được sắp đặt thành chuỗi xích 12 nhân duyên, bắt đầu với vô minh (là cái không sáng suốt, mê muội) và chấm dứt bằng một tổ hợp khổ đau như sinh, lão tử Mười hai nhân duyên được hiểu như là hệ thống nhân quả để giải thích thực trạng của thế giới hiện sinh của con người, nó được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn, không bao giờ ngừng Mối quan hệ nhân – duyên là mối quan hệ biện chứng trong không gian và thời gian giữa vạn vật Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giới không tính đến cái lớn nhỏ, không tính đến sự giản đơn hay phức tạp Một hạt cát nhỏ được tạo thành trong mối quan hệ nhân quả của toàn vũ trụ Cả

vũ trụ hòa hợp tạo nên nó Vạn vật sinh hóa vô cùng là do ở các duyên tan hợp, hợp tan nối nhau mà ra, nên vạn vật chỉ tồn tại ở dạng tương đối, trong dòng biến hóa vô tận vô thường Như thế, thế giới này là tự nó, không sinh ra và không tự mất đi, mà chỉ chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác

Con người trong thế giới này cũng vậy, cũng luôn luôn thay đổi, biến dịch từng giờ, từng phút, cũng do nhân duyên kết hợp mà thành Như vậy, mọi sự vật hiện tường đều nằm trong mối liên hệ chằng chịt, không có gì là tồn tại độc lập tuyệt đối

Duy thức tông cho rằng, tất cả mọi hiện tượng con người cảm nhận được đều

là "duy thức" chỉ là thức; mọi hiện tượng đều là cảm nhận của thức, không có đối tượng độc lập, ngoài thức đang cảm nhận thì không có gì là thật Như thế, thế giới bên ngoài thuần túy chỉ là thức vì khách quan không có thật và chủ quan cũng không có thật nốt Sự cảm nhận chỉ là quá trình của một tưởng tượng, một ảo ảnh của một khách quan bị tưởng lầm là có thật Qúa trình này được giải thích bằng khái

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Minh Đức Triều Tâm Ảnh (2008), Sử Phật giáo thế giới, tập 1, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử Phật giáo thế giới, tập 1
Tác giả: Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hóa
Năm: 2008
2. Nguyễn Duy Cần (1992), Phật học tinh hoa, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học tinh hoa
Tác giả: Nguyễn Duy Cần
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
3. Thích Minh Châu (1973) (dịch), Thắng pháp tập yếu luận, Viện Đại học Vạn Hạnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thắng pháp tập yếu luận
4. Thích Nhuận Châu (2003) (dịch), Du già hành tông Yogacara, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du già hành tông Yogacara
Nhà XB: Nhà xuất bản Tôn giáo
5. Edward Conze (2007), Tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, Nhà xuất bản Phương Đông, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Phật giáo Ấn Độ
Tác giả: Edward Conze
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông
Năm: 2007
6. Lưu Trường Cửu (2009), Nền văn hóa Phật giáo Trung Quốc, Nhà xuất bản Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền văn hóa Phật giáo Trung Quốc
Tác giả: Lưu Trường Cửu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đồng Nai
Năm: 2009
7. Lý Việt Dũng (2008), Tóm tắt 300 bộ kinh luận Phật giáo danh tiếng, tập 1, Nhà xuất bản Phương Đông, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt 300 bộ kinh luận Phật giáo danh tiếng, tập 1
Tác giả: Lý Việt Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông
Năm: 2008
8. Thích Quảng Đại (2006) (dịch), Tìm hiểu nguồn gốc Duy thức học, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguồn gốc Duy thức học
Nhà XB: Nhà xuất bản Tôn giáo
9. Thích Trí Độ (1995), Giới thiệu Nhân minh học, Trường cơ bản Phật học Hà Tây xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Nhân minh học
Tác giả: Thích Trí Độ
Năm: 1995
10. Thích Quảng Độ (1969) (dịch), Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận
11. Cao Hữu Đính (2004), “Tâm lý học Phật giáo (Pháp tướng)”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3, trang 18 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Phật giáo (Pháp tướng)”, Tạp chí "Nghiên cứu Phật học
Tác giả: Cao Hữu Đính
Năm: 2004
12. Thích Mãn Giác (2007), Lịch sử triết học Ấn Độ, Nhà xuất bản văn hóa Sài Gòn, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Ấn Độ
Tác giả: Thích Mãn Giác
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa Sài Gòn
Năm: 2007
13. Thích Nhất Hạnh (1969), Vấn đề nhận thức trong Duy thức học, Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhận thức trong Duy thức học
Tác giả: Thích Nhất Hạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lá Bối
Năm: 1969
14. Thích Nhất Hạnh (2005), Giảng luận duy biểu học, Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng luận duy biểu học
Tác giả: Thích Nhất Hạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lá Bối
Năm: 2005
15. Thích Thiện Hoa (2006), Duy thức học, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duy thức học
Tác giả: Thích Thiện Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Tôn giáo
Năm: 2006
16. Thái Huyền – Trịnh Văn Hiến (1999), “Duy thức (tâm lý học Phật giáo)”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 2, trang 15 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duy thức (tâm lý học Phật giáo)”, Tạp chí "Nghiên cứu Phật học
Tác giả: Thái Huyền – Trịnh Văn Hiến
Năm: 1999
17. Jean Francois Revel & Mathieu Ricard, Đối thoại giữa triết học và Phật giáo, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại giữa triết học và Phật giáo
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
18. Thích Thanh Kiểm (2006), Lược sử Phật giáo Ấn Độ, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Phật giáo Ấn Độ
Tác giả: Thích Thanh Kiểm
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2006
19. Giải Minh (soạn dịch) (2011), Thuật ngữ Duy thức học, Nxb Phương Đông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Duy thức học
Tác giả: Giải Minh (soạn dịch)
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2011
20. Giải Minh (soạn dịch) (2012), Duy thức triết học, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duy thức triết học
Tác giả: Giải Minh (soạn dịch)
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2012

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w