Đề cập đến vấn đề này có rất nhiều công trình nghiên cứu: về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [5], học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội và lý luận
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trịnh Thị Hiền
Biện chứng của sự lựa chọn con đường phát triển xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Luận văn ThS Triết học : 60 22 80 Nghd : TS Phạm Văn Chung
Trang 2GIAI ĐOẠN ĐẦU TIÊN CỦA SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
11
1.1 Quan điểm về biện chứng của sự lựa chọn con đường phát
1.3 Quan niệm về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam trong giai đoạn từ những năm 20 đến đầu những năm 50 của
thế kỷ XX
20
Chương 2:
LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
TRONG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ MỚI
30
2.1 Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước giai đoạn 1954 -1975 31 2.2 Quan niệm về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa giai đoạn
2.3 Quan niệm về chủ nghĩa xã hội sau khi đất nước thống nhất
Chương 3
LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
53
3.1 Hoàn cảnh lịch sử từ giữa những năm 80 đến nay 53 3.2 Quan niệm mới về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa giai đoạn
3.3 Một số bài học lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp luận Hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng hoạt động của thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy và
là công cụ sắc bén để nhận thức thế giới khách quan, mà còn chỉ ra được những cách thức định hướng đúng hoạt động cụ thể nhằm mang lại hiệu quả cao trong thực tiễn Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật không những là một nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện tiên quyết cho sự sáng tạo của chính đảng cách mạng
Mỗi thời đại lịch sử loài người đều có những nét đặc trưng riêng biệt nào đó, là sự biểu hiện đặc thù của những quy luật chung của sự phát triển
xã hội Chỉ nhờ vào phương pháp biện chứng, với tính cách là phương pháp khoa học duy nhất để nhận thức hiện thực, mới có thể tìm thấy, khám phá, khái quát được cái mới trong xã hội Nghiên cứu vai trò và ý nghĩa của phép biện chứng duy vật nhằm giúp cho việc phân tích một cách khoa học công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Lý luận cũng như thực tiễn cho thấy rằng chủ nghĩa xã hội không ra đời trên mảnh đất trống không, mà từ những cơ sở, tiền đề kinh tế, xã hội,
tư tưởng xác định Cho nên phát triển con đường xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay không thể phủ định sạch trơn cái cũ, trái lại phải biết xây dựng cái mới trên cơ sở kế thừa, bổ sung và phát triển cái cũ, đó là biện chứng của quá trình phát triển
Từ cuối thế kỷ XX, lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 4sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực, sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa các nước Đông
Âu
Trước tình hình đó, công cuộc đổi mới ở nước ta được Đại hội VI của Đảng khởi xướng năm 1986, bên cạnh nhiệm vụ cấp thiết trước mắt là khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nảy sinh từ cuối thập kỷ 70 còn có nhiệm vụ cơ bản lâu dài đó là xây dựng nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và xác định con đường, cách thức đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Qua 20 năm đổi mới, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn Cho đến nay, Đảng ta đã bước đầu hình thành được những nét cơ bản của hệ thống quan điểm, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, làm cơ
sở khoa học cho đường lối của Đảng, góp phần bổ sung và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
Nói tới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, mỗi chúng ta đều đặt ra câu hỏi: chủ nghĩa xã hội là gì ?
và xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào? Đó là những câu hỏi về mô hình và cách thức hiện thực hoá mô hình chủ nghĩa xã hội
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII năm 1991 đã nêu ra những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang từng bước xây dựng và xác định những phương hướng chủ yếu đưa nước ta quá độ tới chủ nghĩa xã hội Có thể xem đó vừa là lý luận về con đường đi tới chủ nghĩa xã hội, vừa là mô hình về chủ nghĩa xã hội ở nước ta Qua thực tiễn đổi mới kinh tế, nhất là với những nhận thức mới về tình hình thế giới
Trang 5trong bối cảnh quốc tế và xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Đảng ta thấy rõ yêu cầu khách quan của việc xây dựng nền kinh tế thị trường và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Từ cơ chế thị trường tới xây dựng thể chế kinh tế thị trường và chủ trương phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một bước tiến rất căn bản trong nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội
Như vậy, chúng ta thấy rằng cái mới trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đạt được là ở chỗ, quan niệm về chủ nghĩa xã hội
đã từ những nhận thức chung, có phần trừu tượng và có khuynh hướng lý tưởng hoá hiện thực, thoát ly thực tiễn đến chỗ hình dung chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể thiết thực, đặc biệt là thấy rõ vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất Nhận thức rõ, muốn đi tới chủ nghĩa xã hội trước hết phải tập trung phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới Nói cách khác chúng ta đã thấy được tầm quan trọng của việc nắm vững quy luật khách quan trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn
Tóm lại, quan niệm, lý luận về con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta
là một quá trình phát triển Nó thể hiện rõ tính biện chứng của sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, của Đảng và nhân dân
ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh Việc nghiên cứu quá trình biện chứng đó là rất cần thiết không chỉ để hiểu, xây dựng niềm tin vào chủ nghĩa xã hội mà còn góp phần chỉ đạo tổ chức thực tiễn quá trình ấy Đó là lý do tôi chọn đề
tài luận văn thạc sĩ: Biện chứng của sự lựa chọn con đường phát triển xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 62 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Về vấn đề phép biện chứng luận văn trực tiếp vận dụng phép biện chứng mácxít đặc biệt là nguyên lý phát triển để nghiên cứu biện chứng của
sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Vấn đề lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam luôn là vấn đề cấp thiết không chỉ trước đây mà ngay trong giai đoạn hiện nay, nhất là khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ Đề cập đến vấn đề này có rất nhiều công trình nghiên cứu: về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [5], học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội và lý luận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta [10], quá trình hình thành và phát triển quan điểm lý luận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội [33], tiến lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam [ 39], mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [41 ], nhận thức thực chất con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta [50], những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [72], về định hướng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [79], chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn những bài học kinh nghiệm chủ yếu [75] Mặc dù những tài liệu này cho thấy các tác giả đã bàn luận rất toàn diện, sâu sắc về lý luận đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhưng không có tài liệu nào bàn trực tiếp đến biện chứng của sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một
số tác phẩm, tài liệu tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề tài
Đầu tiên là tác phẩm “về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
xuất bản năm 2003 do GS Nguyễn Đức Bình chủ biên Nội dung chính của
Trang 7cuốn sách nhằm tổng kết quá trình kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội qua từng giai đoạn lịch sử, bắt đầu từ bước đột phá của Nguyễn ái Quốc
mở ra con đường mới cứu nước đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cả nước cùng quá
độ lên chủ nghĩa xã hội; tổng kết quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ mô hình cũ đến mô hình mới nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết và vạch ra phương hướng và nội dung cơ bản của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Để đạt được mục tiêu nói trên, cuốn sách được trình bày theo kết cấu gồm ba phần:
Phần thứ nhất, đề cập đến con đường cứu nước và giải phóng dân tộc,
trong đó Nguyễn Ái Quốc đã mở ra bước đột phá vượt qua các lối mòn của những người đi trước và đương thời, đưa ra đường lối mới là “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản” Đường lối đó đã dẫn dắt dân tộc ta đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
và của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
Phần thứ hai, tổng kết mô hình cũ về chủ nghĩa xã hội, nêu lên
những thành tựu và hạn chế của mô hìmh này Sau đó trình bày quá trình đổi mới toàn diện từ tư duy đến cách thức tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và đưa ra những nhận xét tổng quát về thời kỳ đổi mới, đồng thời nêu lên những vấn đề cần tiếp tục đổi mới trong giai đoạn sắp tới
Phần thứ ba, là nội dung chính của công trình này, đề cập đến con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay và sự nghiệp đổi mới của chúng ta để trên cơ sở đó vạch ra phương hướng và nội dung cơ bản của
Trang 8Tuy vậy, nội dung của cuốn sách chưa bàn trực tiếp đến sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa trải qua các giai đoạn lịch sử trong tiến trình cách mạng của nước ta và đặc biệt chưa chỉ rõ tính biện chứng trong việc xây dựng
mô hình, phương thức, con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tiếp đó là cuốn sách “chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn những bài học kinh nghiệm chủ yếu” do GS.TS Lê Hữu Tầng chủ biên được
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2003 Cuốn sách là một công trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống và khái quát, có những kiến giải mới, góp phần làm sáng tỏ một phương diện của chủ nghĩa xã hội hiện còn ít được nghiên cứu - phương diện chủ nghĩa xã hội đi từ lý luận đến thực tiễn, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm bổ ích cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng
Bàn về các giai đoạn lịch sử cụ thể của sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gần đây nhất tác giả Phạm Văn Chung với chuyên
đề dành cho nghiên cứu sinh và cao học mang tên “Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội và lý luận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm
2006 đã tập trung xem xét nội dung khoa học của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội và mối liên hệ hữu cơ của nó đối với lý luận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta Từ việc nghiên cứu lịch sử học thuyết Mác về hình thái - kinh tế - xã hội, cuốn sách xác định hai phương diện lý luận và phương pháp luận của học thuyết và chỉ ra một cách cụ thể vai trò phương pháp luận của học thuyết này đối với việc xây dựng nội dung khoa học của lý luận về con đường xã hội chủ nghĩa ở nước
ta, thông qua luận giải một số vấn đề lý luận quan trọng cấp bách như cách gọi tên con đưòng phát triển ở nước ta hiện nay, những yếu tố dẫn đến sự hình thành con đường xã hội chủ nghĩa và đặc điểm xuất phát của nó, về
Trang 9nội dung của con đường phát triển xã hội chủ nghĩa rút ngắn ở nước ta Tuy nhiên, trong khi bàn về các giai đoạn lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta tác giả chưa đề cập đến một cách cụ thể về mô hình cũng như phương thức hiện thực hoá mô hình ấy trong các giai đoạn lựa chọn
Bàn trực tiếp về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tiến trình phát triển lý luận có cuốn sách do Trần Hậu chủ biên [33] Cuốn sách đã vạch ra được những giai đoạn cơ bản trong sự hình thành lý luận về con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta căn cứ vào các cương lĩnh, nghị quyết của Đảng qua các thời kỳ, các bài nói, bài viết của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo của Đảng ta Đây là cuốn sách có ý nghĩa quan trọng về lịch sử lý luận của Đảng Tuy nhiên theo chúng tôi, cuốn sách này chủ yếu đề cập về mặt lịch sử lý luận chứ không bàn tập trung vào vấn
đề biện chứng của sự lựa chọn con đượng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Tiếp theo là cuốn sách của tác giả Dương Phú Hiệp [39] Cuốn sách này có nội dung rất rộng, một chương trình lý luận sâu sắc và có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển ở nước ta hiện nay Có thể nói chương trình này đã bao quát toàn bộ vấn đề của lý luận về chủ nghĩa xã hội Nhưng đi sâu vào một phương diện nhất định của con đường phát triển
xã hội chủ nghĩa ở nước ta cụ thể là vấn đề biện chứng của sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa thì có lẽ do yêu cầu, mục đích đặt ra đối với chương trình mà các tác giả không tập trung vào những vấn đề chi tiết như thế Cho nên lựa chọn của chúng tôi về vấn đề này là nhằm đi sâu, triển khai, cụ thể hơn một phương diện trong hệ thống các vấn đề về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Như vậy, vấn đề sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu, chi phối các hoạt
Trang 10đến nhận thức, ý chí cách mạng mà còn liên quan đến đường lối, chính sách, giải pháp thực hiện Nó chẳng những là vấn đề lý tưởng, mục tiêu của những người cộng sản, phương hướng đi lên của đất nước, mà còn là vấn đề trân trọng quá khứ, kế thừa công lao của các thế hệ đi trước, sự hy sinh của hàng chục triệu con người, của cả dân tộc đã chiến đấu ròng rã trong hơn 70 năm
Nó đang đặt ra nhiều vấn đề phải nghiên cứu, phải lý giải, trả lời Nhìn chung, ở các công trình nghiên cứu trên các tác giả đều đề cập đến sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa mang tính chất tất yếu, cũng như chỉ ra những đặc trưng của con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhất là giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa trình bày một cách chính diện,
có hệ thống nội dung vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Biện chứng của sự lựa chọn con đường phát
triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng, phát
triển quan niệm về chủ nghĩa xã hội, cụ thể là về mô hình chủ nghĩa xã hội
và phương thức để hiện thực hoá mô hình đó xem như là biểu hiện biện chứng của sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu: Nhằm chỉ ra biện chứng của sự lựa chọn con
đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cụ thể là ở quá trình xây dựng quan niệm về chủ nghĩa xã hội và phương thức hiện thực hoá mô hình
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu: Trên cơ sở tìm hiểu, nhận thức đúng đắn nội
dung phép biện chứng duy vật nhất là phép biện chứng của quá trình nhận thức xã hội chủ nghĩa, đề tài thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 11Thứ nhất, Xác định những điều kiện khách quan, chủ quan dẫn đến
hình thành sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa trong những năm 20 đến những năm 50 của thế kỷ XX
Thứ hai, Xác định những yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài quy định
sự lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện lịch sử mới, giai đoạn 1954 - 1975 và giai đoạn 1975 đến đầu những năm 80
Thứ ba, Xác định những điều kiện giữa yếu tố nhân loại và yếu tố dân
tộc đưa đến sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới
5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua các Văn kiện Đại hội Đảng
Các phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu: Quan điểm
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lôgic - lịch sử Trong đó, phương pháp nghiên cứu chủ đạo là
phương pháp lôgic - lịch sử
6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu Biện chứng của sự lựa chọn con đường phát triển xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam không những có ý nghĩa về phương diện lý luận mà còn
có ý nghĩa về phương diện thực tiễn góp phần vào việc làm sáng tỏ quá trình
phát triển nhận thức, quan niệm về con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu để tham khảo cho những nghiên cứu liên quan
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Góp phần làm sáng tỏ quan niệm, nhận thức của Đảng và nhân dân
ta về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cụ thể làm sáng tỏ
Trang 128 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm: phần mở đầu, 3 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1
GIAI ĐOẠN ĐẦU TIÊN CỦA SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1.1 QUAN ĐIỂM VỀ BIỆN CHỨNG CỦA SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Với phương pháp trình bày luận văn là kết hợp giữa trình bày quan điểm biện chứng duy vật với việc trình bày quá trình lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nên luận văn không chia thành một chương về vấn đề thế nào là lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa và biện chứng của sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa đó Tuy nhiên, để giúp cho người đọc có thể theo dõi và hiểu rõ hơn về biện chứng của sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cho nên chúng tôi dành mục này để trình bày những quan điểm về biện chứng của sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa
“Vấn đề lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa được đặt ra với những nước tiền tư bản chủ nghĩa hoặc chưa trải qua hoàn toàn giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, khi trên thế giới chủ nghĩa tư bản không còn là xu hướng duy nhất chi phối, khi chủ nghĩa xã hội đã trở thành một phong trào, một xu hướng đang phủ định trực tiếp chế độ tư bản chủ nghĩa Việc Lênin lựa chọn con đưòng xã hội chủ nghĩa cho nước Nga cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và nhiều nước lựa chọn con đường phát triển ấy, sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi và chế độ xã hội chủ nghĩa ra đời ở nước Nga, đã chứng tỏ điều đó
Trang 13Lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là lựa chọn con đường phát
triển giữa nhiều khả năng, giữa những con đường phát triển khác nhau ở một nước nào đó, trong đó chủ nghĩa xã hội được coi là con đường đúng đắn, tất yếu, phù hợp với những điều kiện, tiền đề phát triển của nước đó, phù hợp với xu hướng tất yếu của thời đại là chủ nghĩa xã hội và sự lựa chọn đó cho phép có thể giải quyết được những nhiệm vụ lịch sử cấp bách, sống còn đang đặt ra cho dân tộc và nhân dân nước đó Lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả một dân tộc con đường đem lại hạnh phúc, tự do cho họ, là xác định cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả một dân tộc con đường phát triển lâu dài, nhằm định hướng cho họ trong hoạt động sáng tạo
ra lịch sử của chính mình” [10, 153]
Như vậy, có thể hiểu sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa có một số điều kiện, tiền đề sau:
Thứ nhất, quốc gia, dân tộc đó phải là những nước tiền tư bản chủ
nghĩa hoặc chưa trải qua hoàn toàn giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Thứ hai, xu hướng, khuynh hướng chủ nghĩa xã hội đang ngày càng
trở thành một phong trào và tiến tới hình thành chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới
Thứ ba, phải có những lực lượng đại diện cho đất nước đứng lên lãnh
đạo cách mạng và lực lượng đó chỉ có thể là giai cấp vô sản
Do đó, khi một quốc gia, dân tộc hội tụ đầy đủ những điều kiện, yếu
tố trên thì có thể lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc mình
Về biện chứng của sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, có thể hiểu
Trang 14hội tác động, biểu hiện trên cơ sở những điều kiện lịch sử và hoàn cảnh thực
tế của từng quốc gia, dân tộc không giống nhau Do đó, mỗi nước trong khi xác định mục tiêu chung và phương hướng chung thống nhất theo lý tưởng chủ nghĩa xã hội lại có những quan niệm riêng về chủ nghĩa xã hội của mình,
về mục tiêu cụ thể, về mô hình, về phương pháp, cách thức, bước đi cụ thể tiến lên chủ nghĩa xã hội Mặt khác, bất cứ quốc gia nào cũng có thể áp dụng các nguyên lý chung, nhưng việc áp dụng chúng phải tuỳ lúc, tuỳ nơi, căn cứ vào điều kiện lịch sử đương thời, vì không thể có chủ nghĩa xã hội trừu tượng nằm ngoài quốc gia, dân tộc Chủ nghĩa xã hội hiện thực sinh thành và phát triển trên mảnh đất mỗi nước, mỗi dân tộc, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước đó Ph Ăngghen đã chỉ rõ: “Mỗi loại sự vật có một kiểu phủ định riêng của nó”[24, 87]
Bên cạnh đó, sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa đối với quốc gia, dân tộc không chỉ diễn ra một lần là xong, mà là một quá trình phát triển không ngừng, trải qua nhiều giai đoạn theo khuynh hướng đi lên Nó
có sự kế thừa, bổ sung, hoàn thiện hơn và luôn luôn dựa trên sự phát triển của thực tiễn, do chính yêu cầu của thực tiễn đặt ra và quay trở lại phục vụ chính thực tiễn Sự lựa chọn ấy đặt ra không chỉ một lần mà trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của đất nước dù hoà bình hay trong chiến tranh, thậm chí một nửa đất nước có hoà bình và nửa kia đang trong chiến tranh
ác liệt thì sự lựa chọn ấy vẫn được khẳng định, tiếp tục và duy trì Tuy nhiên, nó có sự điều chỉnh, thay đổi về mô hình và phương thức, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội sao cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử đặt
ra để cuối cùng nhằm một mục đích duy nhất là đưa đất nước tiến lên con đường chủ nghĩa xã hội
Tóm lại, mỗi quốc gia, dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội theo những nguyên lý, quy luật chung một cách thống nhất, nhưng trong các điều kiện
Trang 15lịch sử cụ thể khác nhau, lại thông qua các con đường, hình thức và biện pháp riêng biệt khác nhau, thậm chí trong một quốc gia, một dân tộc thì trong mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của mình cũng có những con đường , phương thức, mô hình khác nhau phù hợp với giai đoạn lịch sử đó Do vậy, không thể nói tới một khuôn mẫu, mô hình áp đặt cho mọi quốc gia, dân tộc hay cho một quốc gia, một dân tộc trong suốt tiến trình phát triển của
nó, tính đa dạng của mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũng là điều tự nhiên như sự vận động của cuộc sống, của thế giới vốn muôn màu
Đó chính là biện chứng của sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa
Lịch sử dân tộc từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay là lịch sử đấu tranh, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, đã trải qua những bước ngoặt quan trọng, mà ở đó vấn đề lựa chọn con đường phát triển luôn được đặt ra một cách gay gắt, cấp thiết, mang ý nghĩa sống còn Lịch sử đó đã chứng tỏ rằng, trong mỗi bước ngoặt của nó, con đường mà dân tộc, nhân dân ta lựa chọn chỉ có một, đó là con đường phát triển xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong mỗi lần lựa chọn ấy, con đường xã hội chủ nghĩa đều mang những nội dung, bước đi và hình thức
mới Điều đó chứng tỏ rằng con đường ấy không phải là cái gì đó cứng
nhắc, tĩnh tại, là một công thức, sơ đồ duy nhất đúng, vĩnh viễn, mà là một quá trình không ngừng biến đổi Quá trình đó chính là biện chứng của sự
lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [10, 154]
1.2 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC
Bất cứ một quốc gia, dân tộc nào muốn tồn tại, phát triển nhịp bước cùng thời đại, đều phải có một tư tưởng của mình hoặc chọn lấy một tư tưởng thích hợp với mình và đồng thời, kinh nghiệm lịch sử chỉ rõ, sự lựa chọn ấy chỉ được coi là đúng đắn, hợp quy luật khi một mặt phải bắt nguồn
Trang 16của nhân dân, mặt khác phải phù hợp với quy luật của xã hội, với xu thế vận động tất yếu của nhân loại
Sự lựa chọn mục tiêu phát triển của Việt Nam xét từ mọi góc độ không nằm ngoài tính tất yếu ấy Đây là một tiến trình lựa chọn kép đầy khắc nghiệt của lịch sử, từ những cái đã, đang có và chúng đang vận động trong lòng dân tộc, từ những cái đã, đang có và chúng đang vận động trong đời sống nhân loại tiến bộ, được diễn ra trong bầu không khí xã hội Việt Nam ngột ngạt, tiềm tàng đầy giông bão ở những năm 20 của thế kỷ XX
1.2.1 Bối cảnh quốc tế
Từ giữa thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây dần trở thành các nước đế quốc chủ nghĩa, càng ráo riết đua nhau tràn sang phương Đông tìm kiếm thị trường, không chỉ để tiêu thụ hàng hoá mà cả đầu tư và khai thác nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc vì mục đích siêu lợi nhuận của nó Vận mệnh của nhiều dân tộc bị chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây đe doạ
Bước sang thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, phần lớn các nước châu
Á, châu Phi, Mỹ - Latinh đã trở thành thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, thực dân Nhân dân các nước thuộc địa bị chúng chà đạp lên những giá trị văn hoá, tinh thần, tước đoạt quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội Thách thức
lớn nhất của thời đại lúc đó là tìm ra phương sách để giải phóng dân tộc
Sự tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, thực dân đã dấy lên một phong trào thức tỉnh của châu Á cùng với phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từ cuộc cách mạng 1905 ở Nga đã tạo thành một cao trào thức tỉnh các nước phương Đông Những phong trào dân tộc và cải cách dân chủ theo khuynh hướng tư sản trở thành trào lưu phổ biến và nổi bật ở nhiều nước châu Á Hàng trăm triệu người dân hướng tới một cuộc sống mới với ánh sáng tự
do
Trang 17Mặc dù phong trào dân tộc theo khuynh hướng cách mạng tư sản diễn
ra hết sức sôi nổi, nhưng cuối cùng đều bị thất bại Nguyên nhân chủ yếu của sự thất bại là do điều kiện lịch sử hạn chế, lãnh đạo các phong trào đều chưa nhận rõ được nhiệm vụ cơ bản, lực lượng cơ bản của cách mạng Thực tế đó cho thấy, hệ tư tưởng tư sản không thể đủ khả năng lãnh đạo một phong trào đấu tranh mạnh mẽ Đồng thời, các cuộc cách mạng tư sản chỉ nhằm mục đích xác lập và duy trì quyền lực của giai cấp tư sản và bảo
vệ sự tồn tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Chúng chỉ đạt được ý nghĩa tiến bộ và tích cực ban đầu khi giương ngọn cờ chống chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế, tập hợp lực lượng xã hội để chống phong kiến, giải phóng giai cấp tư sản, hình thành dân tộc tư sản và thiết lập chế
độ cộng hoà cùng nhà nước tư sản và nền dân chủ tư sản Độc lập dân tộc giành được trong cách mạng tư sản, chỉ mở đường cho giai cấp tư sản xác lập vững chắc quyền lực thống trị của nó, chứ không giải phóng con người
và xã hội ra khỏi sự bóc lột, áp bức tư sản Do đó, chủ nghĩa tư bản, giai
cấp tư sản và cách mạng tư sản chỉ thực hiện độc lập dân tộc một cách có
giới hạn, không triệt để Độc lập dân tộc tư sản không những không thủ
tiêu áp bức bóc lột, mà còn duy trì và phát triển tới trình độ hiện đại tình trạng áp bức bóc lột của tư sản đối với công nhân, nông dân và mọi tầng lớp lao động làm thuê khác trong xã hội tư sản Chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành chiến tranh xâm lược để tìm kiếm thị trường và thuộc địa Chủ nghĩa
tư bản hiện đại ở thế kỷ XX tuy có những thay đổi về hình thức (chủ nghĩa
đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới), song bản chất không thay đổi
Như vậy, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vấn đề xác định con
đường cách mạng đúng đắn trở thành yêu cầu bức thiết của sự nghiệp giải phóng của các dân tộc trên thế giới Với mục đích triệt để giải phóng giai
cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, chủ nghĩa
Trang 18xã hội yêu cầu xoá bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra, xoá bỏ cơ
sở kinh tế sinh ra áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý thức Do vậy, chủ nghĩa xã hội đã đáp ứng được nguyện vọng của các dân tộc trên thế giới Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga đã khẳng định rõ ràng xu thế tất yếu của thời đại, xu thế phát triển xã hội chủ nghĩa của loài người
có trách nhiệm phải lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến
để bảo vệ nền độc lập của dân tộc, song triều đình nhà Nguyễn không huy động được sức mạnh dân tộc chống xâm lược Mặc dù vậy, nhân dân cả nước đã tích cực hưởng ứng các phong trào của các văn thân sĩ phu yêu nước, chống quân xâm lược ngay từ những ngày đầu chúng xâm phạm bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc
Trang 19Sau khi thực dân Pháp đặt xong ách thống trị của nó thì chế độ xã hội thuộc địa nửa phong kiến cũng hình thành Những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, như mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và bọn thực dân pháp xâm lược, giữa giai cấp công nhân Việt Nam và bọn tư bản, giữa giai cấp nông dân Việt Nam và giai cấp địa chủ phong kiến, đã nảy sinh và phát triển ngày càng gay gắt Tuy nhiên, vấn đề lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, tức
là lựa chọn phương thức giải quyết các mâu thuẫn của xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến chưa trực tiếp được đặt ra Nhu cầu đi tìm con đường cứu nước mới chỉ xuất hiện trong các cuộc đấu tranh của nhân dân
ta chống lại kẻ thù ngoại xâm Mặc dù tất cả những cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân ta chống thực dân Pháp trong giai đoạn này hầu như đều
bị đàn áp đẫm máu và bị thất bại, những tìm tòi của các nhà yêu nước lớn
về con đường giải phóng dân tộc đều không thành công, nhưng tất cả đã chứng tỏ chủ nghĩa yêu nước truyền thống rực rỡ của dân tộc, một sức mạnh được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử Đó là đỉnh cao của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc ta thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Nó xuất phát từ lợi ích, nguyên vọng của toàn thể dân tộc, mưu cầu và hy vọng đem lại tự do, hạnh phúc cho toàn thể dân tộc và luôn bùng cháy lên mạnh mẽ mỗi khi có nạn ngoại xâm Chính những cuộc đấu tranh bền bỉ, lâu dài chống quân xâm lược, đặc biệt là giai đoạn đô hộ của thực dân Pháp, bất chấp những hy sinh, thất bại và đau đớn để bảo vệ Tổ quốc, dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ rằng chỉ có giải phóng đất nước khỏi ách ngoại xâm, giành lại nền độc lập, thì mọi con người Việt Nam mới có thể tự do phát triển và việc giải quyết mâu thuẫn của xã hội Việt Nam không thể chỉ giới hạn ở những điều kiện, tiền đề bên trong của nó mà cần phải kết hợp, tìm được những điều kiện tất yếu bên ngoài và điều quan trọng là phải tìm ra được những điều kiện cho
Trang 20phép có thể giải quyết thắng lợi nhiệm vụ lịch sử cấp bách, sống còn là giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân
Sinh ra và lớn lên ở đất nước bị đế quốc Pháp xâm chiếm, dân tộc bị chìm đắm trong vòng nô lệ, từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam Người chứng kiến các phong trào yêu nước chống Pháp bị đàn áp dã man, biết rút kinh nghiệm thất bại của các con đường giành độc lập theo quan điểm mới Người quyết định sang phương Tây để tìm con đường cứu nước theo phương thức mới Trong gần mười năm bôn ba khắp các châu lục, Hồ Chí Minh đã thấy rõ sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc và cuộc sống khổ cực của những người lao động thuộc mọi màu da Từ đó, ở Người dần dần hình thành ý thức và lập trường của giai cấp công nhân Trong cuộc hành trình này, Người đã đến ba nước đế quốc lớn là Mỹ, Pháp, Anh do đó có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu kỹ cuộc cách mạng Mỹ (1776) và Cách mạng Pháp (1789) Người rút ra nhận xét: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo cách mệnh lần thứ hai” [60, 270] và “công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức” [60, 274] Như vậy, Người cho rằng, việc giải phóng dân tộc không thể đi theo con đường cách mạng tư sản, mà phải đi theo con đường cách mạng khác
Thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười (1917) và việc thành lập Quốc tế cộng sản (1919) có ảnh hưởng quan trọng đến tư
tưởng và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đặc biệt là Sơ thảo lần
thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của
Lênin đã làm bừng sáng lên trong Người những nhận thức mới Bởi vì,
Luận cương đã giải quyết trọn vẹn một vấn đề rất cơ bản mà Người đặc
biệt quan tâm, đó là vấn đề giải phóng dân tộc thuộc địa được đặt ra trong
Trang 21quỹ đạo của cách mạng xã hội chủ nghĩa, chứ không phải trong quỹ đạo của cách mạng tư sản Người tiếp thu Luận cương với niềm cảm động, phấn khởi và tin tưởng biết bao và Người khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ và chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ
có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới Trên diễn đàn Đại hội Đảng xã hội Pháp (S.F.I.O) ở Tua năm 1920, Người cất cao tiếng nói yêu cầu Đảng xã hội phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong các thuộc địa Với trái tim nồng cháy vì độc lập, tự do và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Người gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia quá trình thành lập Đảng cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên Kể
từ đây, Người thực hiện một quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học vào Việt Nam, tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội Quá trình hình thành những nội dung cụ thể về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam cũng chính là quá trình chủ nghĩa Mác - Lênin thấm sâu và chuyển
hoá một cách sống động trong tư duy Hồ Chí Minh, là quá trình hình thành
tư duy biện chứng duy vật ở Hồ Chí Minh
Như vậy, con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh lựa chọn là gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội “Thiên tài của Người chính là ở chỗ
đã phát hiện ra con đường đó Nó tạo ra sức mạnh của Người, sức mạnh của dân tộc, của tất cả chúng ta” [29, 64] Sự lựa chọn này cũng đã được
khẳng định lại trong Luận cương chính trị năm 1930 do đồng chí Trần Phú
khởi thảo Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương (3 - 2- 1930), những cuộc đấu tranh anh dũng có tổ chức của nhân dân ta trong những năm 30 của thế kỷ XX, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước
Trang 22dân chủ nhân dân ra đời, chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu, đó là những bước đi, những thắng lợi quan trọng chứng tỏ sự lựa chọn đầu tiên, mang tính chất của sự lựa chọn khởi đầu về con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta là đúng đắn Cũng từ đây, mô hình và phương thức hiện thực hoá con đường xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ động vận dụng trong từng giai đoạn lịch sử
cụ thể với những nhiệm vụ và phương pháp phù hợp
1.3 QUAN NIỆM VỀ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NHỮNG NĂM 20 ĐẾN ĐẦU NHỮNG NĂM 50 CỦA THẾ KỶ XX
1.3.1 Phác thảo đầu tiên về mô hình chủ nghĩa xã hội
Như chúng ta biết, Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ ra đặc trưng cụ thể cho một xã hội xã hội chủ nghĩa tương lai, chưa vạch ra một cách rõ nét, tỉ mỉ những con đường cụ thể để các quốc gia, dân tộc tiến tới chủ nghĩa xã hội, lại càng chưa có điều kiện chỉ ra điều đó cho một nước lạc hậu ở phương Đông như Việt Nam, chưa trải qua chủ nghĩa tư bản Ngay đến thời đại của mình, khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, chính Lênin cũng mới vạch ra và thực nghiệm mô hình chủ nghĩa xã hội ở một số khía cạnh nào đó, còn những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh vẫn chưa được triển khai một cách đầy đủ Như vậy, vấn đề xác lập
mô hình của chủ nghĩa xã hội là một trong những vấn đề khó khăn, phức tạp nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Do đó, không chỉ một lần V.I.Lênin cho rằng: “Chúng ta không thể nhận định về chủ nghĩa xã hội được; chủ nghĩa xã hội sẽ như thế nào khi nó đạt tới những hình thức hoàn chỉnh của nó, điều đó chúng ta không biết, không thể nói lên được” [45, 82
- 83] Ông còn chỉ rõ: “Chúng ta không kỳ vọng rằng Mác hay những người theo chủ nghĩa Mác đều hiểu biết mọi mặt cụ thể của con đường tiến
Trang 23lên chủ nghĩa xã hội Như thế sẽ là phi lý Chúng ta chỉ biết phương hướng của con đường đó và những lực lượng giai cấp nào dẫn đến con đường đó; còn như về cụ thể và trên thực tế con đường đó ra sao thì kinh nghiệm của hàng triệu con người sẽ chỉ rõ, khi họ bắt tay vào hành động” [44, 152 - 153]
Bởi vậy, việc tìm kiếm, xác lập những đặc trưng của xã hội chủ nghĩa
và sự khai phá, kiến tạo con đường đi tới xã hội đó vốn đã rất khó khăn, đối với Việt Nam lại càng khó khăn
Từ rất sớm, khi vận động mọi người đọc báo Người cùng khổ,
Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người, và
vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau” [57, 461] Theo Người, những người cộng sản đòi hỏi chấm dứt bóc lột thuộc địa, một bộ phận của bóc lột tư bản nói chung, những người cộng sản đấu tranh cho sự giải phóng dân tộc và kinh
tế của thuộc địa, chứ không phải cho những biện pháp tạo điều kiện dễ dàng cho sự cướp bóc Đối với những người cộng sản, vấn đề không phải là cải thiện hệ thống thuộc địa mà phải bãi bỏ nó
Như vậy, Trong giai đoạn này, quan niệm về mô hình chủ nghĩa xã hội
ở nước ta chưa được chỉ ra một cách cụ thể, rõ nét mà chỉ được hình dung ra
là một xã hội mà ở đó con người không có sự phân biệt chủng tộc, ở đó con người luôn có sự đoàn kết, được ấm no, có việc làm và luôn luôn được sống trong vui vẻ, hoà bình
Trang 241.3.2 Bước đầu nhận thức về phương thức thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa
Về phương thức tiến hành con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “đi theo con đường cách mạng vô sản không phải là làm cách mạng vô sản ngay như cách mạng Nga năm 1917 hay sẽ diễn ra như các nước tư bản phát triển… mà phải tuỳ trình độ phát triển kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội mỗi nước để định ra con đường cách mạng của nước mình” [59, 102] Hồ Chí Minh cũng đã phân tích những điều kiện địa
lý, lịch sử châu Á và đi tới nhận định: “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là châu Âu” [57, 35] Trên cơ sở đó, ngay khi
vừa thành lập vào tháng 2 năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt của
Đảng”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định con đường đi lên của cách
mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản” [26, 2] và cụ thể hoá trên ba phương diện xã hội
(dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền,…; phổ thông giáo dục
theo công nông hoá); chính trị (đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn
phong kiến; làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập; dựng ra chính phủ
công nông binh; tổ chức ra quân đội công nông); kinh tế (thủ tiêu hết các
thứ quốc trái; thâu hết sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ)
Đường lối cơ bản này đã tiếp tục được khẳng định và nói rõ hơn trong Cương lĩnh chính trị của đồng chí Trần Phú được thông qua tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ nhất vào tháng 10 năm 1930 Cương lĩnh chỉ rõ: “Trong lúc đầu, cuộc cách mạng Đông Dương sẽ là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền… Thời kỳ bây giờ cách mạng chỉ có tánh chất thổ địa và phản đế
Trang 25Tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng Tư sản dân quyền cách mạng được thắng lợi, chính phủ công nông đã dựng lên rồi, thì công nghiệp trong nước được phát triển, các tổ chức vô sản được thêm mạnh, quyền lãnh đạo của vô sản sẽ thêm kiên cố, sức mạnh giai cấp tương đương sẽ nặng về phía vô sản Lúc đó sự tranh đấu sẽ thêm sâu, thêm rộng, làm cho cách mạng tư sản dân quyền tiến lên con đường cách mạng vô sản Thời kỳ này là thời kỳ cách mạng vô sản toàn thế giới và thời
kỳ kiến trúc xã hội chủ nghĩa ở Liên bang Xô viết; xứ Đông Dương sẽ nhờ
vô sản giai cấp chuyên chánh các nước giúp sức cho mà phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa” [26, 93]
Như vậy, Cương lĩnh một lần nữa khẳng định rằng cách mạng Đông Dương sẽ bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu là làm cách mạng tư sản dân quyền với hai nhiệm chủ yếu là phản đế và phản phong, tiếp theo sẽ là giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, trong văn kiện này đã khẳng định rõ để tiến tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thành công, nhờ sự giúp đỡ của giai cấp vô sản đã giành được chính quyền ở các nước (nhờ “vô sản giai cấp chuyên chánh các nước”), Đông Dương sẽ bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Sự kết hợp yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp được thể hiện ở
sự nối tiếp của hai giai đoạn cách mạng, đồng thời được biểu hiện ở ngay trong giai đoạn cách mạng dân tộc - dân chủ là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập Với việc chỉ ra và giải quyết đúng đắn các mâu thuẫn cụ thể đã làm cho cách mạng Việt Nam bao giờ cũng xác định được mục tiêu cụ thể Đường lối cơ bản này đã được quán triệt một cách kiên định trong suốt quá trình
Đảng ta lãnh đạo cách mạng và nó cũng thể hiện sự nhận thức và vận dụng
một cách linh hoạt, sáng tạo phép biện chứng duy vật của Đảng
Trang 26Theo quan điểm của Stalin và Nghị quyết Đại hội VI Quốc tế cộng sản, hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến phải được thực hiện đồng thời, khăng khít với nhau, nương tựa vào nhau thì cách mạng tư sản dân quyền mới giành được thắng lợi Đảng ta tuy khẳng định chủ nghĩa đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến là hai đối tượng cần đánh đổ trong cách mạng dân tộc - dân chủ, nhưng xuất phát từ thực tiễn của một nước thuộc địa, Đảng không coi hai nhiệm vụ đó nhất loạt phải thực hiện ngang nhau mà đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc, còn nhiệm vụ chống phong kiến, đem lại ruộng đất cho dân cày thì sẽ thực hiện dần từng bước Do đó mà có sách lược tranh thủ nhằm lôi kéo phú nông; trung và tiểu địa chủ… nhằm tập trung lực lượng vào nhiệm vụ đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và bọn phong kiến tay sai Như vậy, phải có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo rất cao, phải biết xử lý và vận dụng đúng đắn mối quan
hệ biện chứng giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, Đảng ta mới đặt
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu chứ không phải tiến hành đồng thời, ngang nhau cùng một lúc cả hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 đã lôi cuốn hàng chục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ, vẫn hăng hái tiến bước cùng giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên thắng lợi cuộc cách mạng Thắng lợi đó đã chứng minh, sáng tỏ tính khoa học đúng
đắn, tính cách mạng sáng tạo, đặc biệt là vận dụng linh hoạt phép biện
chứng duy vật của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hoạch định và chỉ đạo
đường lối chiến lược, sách lược trong cách mạng dân tộc - dân chủ Đây
đồng thời cũng là một quan điểm biện chứng khi giải quyết vấn đề mối
quan hệ giữa cái chung và cái riêng và lực lượng tiến hành cách mạng
được nhìn có chiều sâu và là sự thống nhất giữa cái phổ biến - cái đặc thù -
cái đơn nhất, trong đó, cái phổ biến là toàn thể nhân dân Việt Nam, cái đặc
thù là liên minh công - nông, cái đơn nhất là giai cấp vô sản Đặc biệt, khi
Trang 27Đảng xử lý một cách biện chứng giữa sự phát triển rút ngắn với sự phát
triển mang tính lịch sử - tự nhiên, bằng phương thức độc đáo phù hợp với nước ta, bởi ngay từ sự lựa chọn đầu tiên của lịch sử cách mạng Việt Nam chúng ta đã không chấp nhận sự phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta
Có thể nói, đây thực sự là một sáng tạo hết sức to lớn về lý luận của
Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam, là biểu hiện của một tư duy biện
chứng xuất sắc
Mặc dù, sau khi giành được thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 chúng ta gần như ngay lập tức đã buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ chống thực dân Pháp để bảo vệ độc lập, tự
do cho Tổ quốc Nhưng trước tấm gương của Liên Xô và những thành công bước đầu của các nước dân chủ mới ở Đông Âu và của Trung Quốc, Đảng vẫn giành sự quan tâm nhất định cho việc tìm tòi con đường cụ thể đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam sau khi kháng chiến thắng lợi
Vào tháng 3 năm 1948, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ V đã nêu ra ba điều kiện mà một nước dân chủ mới phải có để tiến lên chủ nghĩa xã hội là: Quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản phải vững chắc; Thành phần kinh tế xã hội hoá ngày càng được mở rộng và đủ khả năng lấn át kinh tế tư nhân; Phải có được sự giúp đỡ của các nước dân chủ mới khác và của những nước đã xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa Nếu có
đủ ba điều kiện đó và lại có chính quyền nhân dân vững mạnh do giai cấp công nhân lãnh đạo thì nước ta không cần tiến hành cách mạng vô sản cũng vẫn có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội, mặc dầu đó sẽ là con đường gian nan, hết sức khó khăn và lâu dài
Tiếp tục và phát triển thêm những tư tưởng cơ bản trên, Đại hội đại
Trang 28rằng, mặc dù cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam chưa vượt ra ngoài khuôn khổ của cuộc cách mạng tư sản, nhưng khi phát triển đến một mức độ nào đó vẫn có thể chuyển lên thành cách mạng xã hội chủ
nghĩa mà “không phải trải qua một cuộc nội chiến cách mạng” như ở một
số nước Quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam là “quá trình từ xã hội có tính chất thuộc địa, nửa phong kiến, qua xã hội dân chủ mới đến xã hội xã hội chủ nghĩa” [13, 111] Đại hội cho rằng quá trình phát triển của cuộc cách mạng này là lâu dài và trải qua ba giai đoạn: hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc; xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ; xây dựng cơ
sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội
Rõ ràng, Đảng đã ý thức khá rõ và rất nhất quán quan điểm chuyển cách mạng dân tộc, dân chủ mới lên cách mạng xã hội chủ nghĩa một khi
có được những tiền đề và có điều kiện nhất định Đây là việc tiến hành cách mạng theo tư tưởng cách mạng không ngừng của V.I.Lênin Điều
này thể hiện tính độc đáo trong quan điểm tiếp thu và kế thừa của Đảng
và nhân dân ta
Để cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp có thêm sức mạnh và cũng là để cho cách mạng có thể chuyển sang được giai đoạn mới thì cần phải thực hiện những nhiệm vụ quan trọng và cơ bản của giai đoạn trước,
đó là đem lại ruộng đất cho dân cày Vì vậy, Cương lĩnh ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam đã được thông qua và ban hành vào tháng 11 năm 1953 Đây là cột mốc, là bước ngoặt hết sức quan trọng trong việc củng cố chặt chẽ hơn khối liên minh công - nông, một trong những điều kiện, tiền đề không thể thiếu đảm bảo cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc cũng như của bước chuyển giai đoạn của cách mạng
Trang 29Như vậy, trước bối cảnh lịch sử của những năm 20 của thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam không có sự lựa chọn nào khác ngoài sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa Sự lựa chọn này dựa trên những cơ sở lý luận và khoa học chắc chắn:
Thứ nhất, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới triệt để giải
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, đem lại vị trí làm chủ chân chính cho người lao động Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ triệt để chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, là nguồn gốc sinh ra tình trạng người bóc lột người, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, cơ sở kinh tế đảm bảo cho nhân dân lao động thoát khỏi đói nghèo, hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh tạo điều kiện giải phóng và phát triển con người toàn diện Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc
Thứ hai, cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917
thắng lợi mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Tính tất yếu của thời đại mới
đã tạo ra khả năng và điều kiện để các dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, đem lại những nhận thức mới trong quan niệm và giải pháp giải quyết vấn đề, giải phóng dân tộc một cách triệt để
Thứ ba, sức mạnh và thành tựu của chủ nghĩa xã hội, tính ưu việt của
chế độ xã hội chủ nghĩa đã thức tỉnh nhân loại, tạo khả năng đoàn kết các dân tộc để giữ gìn hoà bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh huỷ diệt, buộc chủ nghĩa tư bản phải điều chỉnh chính sách có lợi cho người lao động, tạo khả năng hiện thực cho các nước lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
Trang 30Thứ tư, sự lựa chọn ấy bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước chân chính
của dân tộc Việt Nam, được thể hiện trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, kết hợp với chủ nghĩa yêu nước nhân đạo, nhân văn cao cả
để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân Sự kết hợp đó
đã tạo nên con đường cách mạng của nhân dân ta - con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc theo xu hướng xã hội chủ nghĩa Đó là con đường mà dân tộc, nhân dân đã lựa chọn thông qua những người con ưu tú của mình, trước hết là Hồ Chí Minh
Tóm lại, sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa như thế không phải xuất phát từ yêu cầu trực tiếp của công cuộc xây dựng đất nước, mà trước hết từ yêu cầu giành độc lập dân tộc và nó mang ý nghĩa định hướng cho toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam Nó không những chỉ ra triển vọng tươi sáng, mục tiêu lâu dài của cách mạng Việt Nam, mà còn đòi hỏi trong mỗi chặng đường cách mạng phải thực hiện những nhiệm vụ lịch sử cụ thể,
để từng bước đi đến xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa của dân tộc, nhân dân ta thông qua Hồ Chí Minh vào thời gian những năm 20 đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX, là
sự lựa chọn đầu tiên, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử, kỷ nguyên đưa dân tộc và toàn thể nhân dân lao động nước ta vươn lên địa vị người chủ lịch sử chân chính của mình Sự lựa chọn này, xét về lôgíc là một tất yếu khách quan, xét về lịch sử là hoàn toàn phù hợp với sự vận động tiến lên của cách mạng nước ta và xu thế cách mạng thế giới và xét về nhu cầu
là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân lao động Việt Nam Trong giai đoạn này yếu tố biện chứng được thể hiện rõ nét với hai nhiệm
vụ cơ bản đó là: thứ nhất, giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp; thứ hai, vấn đề lựa chọn con đường xã hội chủ
Trang 31nghĩa bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đây cũng chính là
những vấn đề được đặt ra và quán triệt trong toàn bộ quá trình lãnh đạo
cách mạng Việt Nam từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, tuy nhiên những
nhiệm vụ này được giải quyết với những bước đi, cách làm phù hợp với
thực tiễn của từng giai đoạn lịch sử khác nhau của mỗi thời kỳ cách mạng
Trang 32CHƯƠNG 2
LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ MỚI
2.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN
1954 -1975
2.1.1 Bối cảnh quốc tế
Thời kỳ này tình hình quốc tế có nhiều thuận lợi nhưng cũng có nhiều khó khăn Liên Xô và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh về kinh tế và quốc phòng Năm 1955 Liên Xô đã hoàn thành
kế hoạch 5 năm lần thứ 5; năm 1957 đã sản xuất được tên lửa vượt đại dương và đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người, mở
ra thời kỳ mới của công cuộc chinh phục vũ trụ Các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã hoàn thành công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội với quy mô lớn Trung Quốc tuyên bố đã hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 - 1957) Hội nghị quốc tế 64 Đảng Cộng sản và Công nhân họp tháng 11 - 1957 tại Mátxcơva ra tuyên
bố hoà bình và tổng kết những kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác
Bên cạnh đó, phong trào giải phóng dân tộc nổi dậy đều khắp 3 châu:
Á, Phi, Mỹ- La Tinh làm sụp đổ chủ nghĩa tư bản cũ và bước đầu đẩy chủ nghĩa thực dân mới vào cuộc khủng hoảng
Sự lớn mạnh của Liên Xô, của hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng với
sự giúp đỡ hợp tác của hệ thống ấy và sự trưởng thành của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã tạo nên một sức mạnh mới về thế và lực cho cách mạng Việt Nam
Trang 332.1.2 Tình hình trong nước
Ở giai đoạn này miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng khỏi chế độ thực dân - phong kiến, nhưng miền Nam lại rơi vào ách thống trị của bọn xâm lược Mĩ và tay sai của chúng Dân tộc Việt Nam đứng trước thách thức nghiệm trọng: đất nước bị chia cắt, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng sự nghiệp thống nhất nước nhà chưa thực hiện được Tình hình hai miền Nam, Bắc hoàn toàn khác nhau, cho nên đòi hỏi phải xác định con đường, những bước đi thích hợp cho cả nước và cho từng miền
* Tình hình xã hội miền Nam
Thời kỳ này, xã hội miền Nam không chỉ bị phân hoá thành những giai cấp, tầng lớp có địa vị chính trị, kinh tế khác nhau, tạo nên sự đối nghịch giữa kẻ giàu, người nghèo; kẻ bóc lột và ngời bị bóc lột theo phư-ơng thức tư bản chủ nghĩa Xã hội miền Nam còn có sự phân hoá về thái độ chính trị đối với vận mệnh dân tộc, đất nước giữa một bên là các thế lực bằng mọi cách duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới và một bên là đông đảo các tầng lớp, giai cấp: công nhân, nông dân, trí thức, học sinh, sinh viên… ủng hộ cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc Chính sự phân hoá này, tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc của mỗi người dân đất Việt và sự tàn khốc của cuộc chiến diễn ra hàng ngày đã làm cho nhiều người thuộc các tầng lớp trên vẫn tham gia kháng chiến theo cách của họ
Nền kinh tế miền Nam chưa phát triển, do chính sách viện trợ ơng mại hoá của Mỹ nên hàng Mỹ đổ vào miền Nam mỗi năm một tăng Hoạt động nhập khẩu sôi động Năm 1973, miền Nam chỉ xuất được 93 triệu đô la nhưng nhập tới 886 triệu đô la [52, 18] Quan hệ buôn bán mở ra với trên 40 nước Hệ thống thương nghiệp khá phát triển Đứng đầu toàn bộ guồng máy thương nghiệp ở miền Nam là những công ty nặc danh lớn của
Trang 34thư-tư sản nước ngoài hay của thư-tư sản mại bản trong ngành sản xuất nhập khẩu ở Sài Gòn - Chợ Lớn mà đa số là người Hoa
Cuối năm 1954, miền Nam có 10 ngân hàng, trong đó chỉ có hai ngân hàng của tư sản Việt Nam, còn là của tư sản nước ngoài [70, 130] Đầu năm 1975, miền Nam có 105 ngân hàng với mạng lới chi nhành rải rác
ở khắp nơi [74, 132] Để phục vụ âm mưu chiếm đóng lâu dài, Mỹ đã bỏ nhiều tiền của xây dựng sân bay, đường chiến lược, quân cảng, kho tàng… Khi Mỹ tiến hành chiến tranh cục bộ, lính Mỹ và chư hầu ồ ạt kéo vào miền Nam thì ngành xây dựng và dịch vụ ngày càng mở rộng quy mô hoạt động
Trong thời kỳ 1954 - 1975, tư sản trong nước không bị chèn ép nặng
nề như thời Pháp thuộc Chủ nghĩa thực dân mới cần tranh thủ giai cấp tư sản bản xứ nhằm tạo chỗ dựa kinh tế - xã hội cho bộ máy thống trị của nó
và hướng kinh tế miền Nam phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa
Do đó, bộ phận tư sản trong nước tăng số lượng, mở rộng quy mô kinh doanh Đối với giai cấp tư sản miền Nam, hoạt động thương nghiệp có sức mạnh nhất, vì đó là ngành kinh tế không cần đầu tư nhiều vốn nhưng tỷ suất lợi nhuận cao, đồng vốn quay vòng nhanh, xác suất rủi ro thấp
Giai cấp tư sản mại bản miền Nam giai đoạn này khác tư sản mại bản thời Pháp thuộc không chỉ ở chỗ số lượng đông hơn, quy mô kinh doanh lớn hơn mà còn ở chỗ các phương thức hoạt động đa dạng hơn Ngoài việc kinh doanh trong ngành thương nghiệp, họ còn độc quyền trong nhiều ngành kinh tế khác, dẫn đến sự liên kết giữa tư bản ngân hàng với tư bản các ngành sản xuất, kinh doanh
Sự phát triển của các ngành kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa cũng kéo theo sự phát triển của đội ngũ công nhân Giai cấp công nhân không những tăng về số lượng mà đã có một bộ phận có trình độ kỹ thuật khá cao So với thời kỳ Pháp thuộc, thủ đoạn bóc lột của các ông chủ tinh
Trang 35vi hơn Một mặt chính quyền tăng cường bộ máy kìm kẹp công nhân nhằm chống mọi hoạt động đấu tranh kinh tế, chính trị của những người lao động làm thuê, cộng với những tổ chức công đoàn vàng được mở rộng xuống tận
cơ sở nhằm chia rẽ hàng ngũ người lao động, lung lạc ý chí đấu tranh của
họ
Ngoài giai cấp tư sản và công nhân lao động còn có sự tồn tại với số lượng đông đảo của tiểu thương, tiểu chủ, trí thức, công chức, học sinh, sinh viên…
Đồng thời, xâm lược miền Nam, Mỹ phải đối đầu với một dân tộc
đã giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong kháng chiến chống Pháp Đại đa số dân tộc ấy là nông dân Họ đã từng bước được hưởng quyền làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn Do đó, trong suốt hơn
20 năm xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ và tay sai luôn luôn thi hành chính sách “bình định nông thôn” Chính quyền trung ương tăng cường can thiệp vào các làng xã miền Nam, gây xáo trộn trong cơ cấu làng xã cổ truyền Chế độ sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến ở nông thôn miền Nam đã bị tàn lụi và thay vào đó là chế độ sở hữu nhỏ về ruộng đất của những người tiểu nông
Cùng với sự thay đổi về chế độ sở hữu ruộng đất, từ giữa thập kỷ 60,
Mỹ đã cho nhập máy móc, giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu… làm thay đổi tập quán và quy trình sản xuất nông nghiệp Do sự xâm nhập mạnh hơn của những yếu tố tư bản chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế ở nông thôn miền Nam, tiêu biểu là đồng bằng Nam bộ, không chỉ có nông nghiệp mà đã có sự kết hợp giữa nông nghiệp với công nghiệp, thương nghiệp, tín dụng
Như vậy, sự phân hoá xã hội miền Nam (1954 - 1975), trừ những vùng giải phóng, không phải là sự phát triển tự thân mà chịu tác động của
Trang 36cùng với các định chế và chính sách của chính quyền Sài Gòn nhằm phá vỡ quan hệ sản xuất phong kiến và một bên là sự chi phối của điều kiện và mục tiêu chiến tranh, của chính sách thực dân kiểu mới Chính vì thế cơ cấu xã hội, miền Nam có sự chuyển biến khá phức tạp
Tóm lại thời kỳ 1954 - 1975, xã hội miền Nam đã có sự biến đổi, yếu
tố phong kiến của xã hội tư bản thực dân thời Pháp thuộc về cơ bản bị xoá
bỏ Cơ cấu xã hội miền Nam (trừ vùng giải phóng) biến đổi theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa với mức độ khác nhau ở từng vùng Khuynh hướng này chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, của chính sách thực dân kiểu mới Tuy nhiên, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mới ở giai đoạn đầu và xét dưới góc độ kinh tế - xã hội thì sự phân hoá xã hội diễn ra chưa sâu sắc như các nước tư bản phát triển
* Tình hình xã hội miền Bắc
Cũng như tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, xã hội ở miền Bắc
từ 1954 đến 1975 thay đổi không ngừng, chúng ta có thể chia thành hai giai đoạn: thời kỳ 1954 - 1960, đây là giai đoạn giải kết cấu xã hội thực dân - phong kiến, thiết lập xã hội mới; thời kỳ từ 1961 - 1975 là quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa
Từ tháng 7 năm 1954 đến giữa năm 1955 miền Bắc có vị trí đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, trong thời gian tiếp quản miền Bắc, cơ chế xã hội có nhiều biến đổi Năm 1946 - 1954, miền Bắc tồn tại hai khu vực hành chính, hai chế độ chính trị đối lập nhau đó là vùng do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát và vùng tạm chiếm Trong hai khu vực đó, các giai cấp, các bộ phận xã hội khác nhau đều tồn tại tuy nhiên có
sự phân hoá về chính trị Đa số gia đình tư bản ở thành phố về làm ăn ở vùng tự do có tinh thần yêu nước Số địa chủ có tinh thần kháng chiến khá nhiều Con em các gia đình tư sản, địa chủ có tinh thần cách mạng, đã đi
Trang 37theo kháng chiến từ đầu Ở vùng tự do, địa chủ vẫn tồn tại hợp pháp, công khai, song vị trí của tầng lớp địa chủ, phong kiến không còn như trước Uy thế của họ đã suy giảm rõ rệt Ở vùng tạm chiếm, hàng vạn cán bộ chiến sĩ hoạt động bí mật, rất có uy tín trong quần chúng
Ngay sau khi hoà bình lập lại, bộ máy hành chính, quân sự của hai thể chế đối lập trên vẫn tồn tại ở hai vùng khác nhau Trong thời kỳ tiếp quản bộ máy hành chính, quân sự của địch bị giải thể
Như vậy, có thể nói từ tháng 7 - 1954 đến tháng 5 - 1955, ở miền Bắc cũng như cả nước có sự biến đổi chính trị - xã hội sâu sắc Về cơ bản việc đất nước bị chia cắt làm hai miền đã chuyển những thế lực chính trị đối lập nhau từng tồn tại trong các địa phương về hai vùng riêng biệt Miền Bắc thu nhận về phía mình lực lượng kháng chiến, chủ yếu là bộ phận thoát
ly, mà bản thân lực lượng này có nguồn gốc giai cấp, xã hội khác nhau, từng chống Pháp ở phía Nam và mặt khác đào thải về mặt chính trị, xoá bỏ các tổ chức xã hội từng làm công cụ cho thực dân Pháp Đây là bước đầu tiên quan trọng nhất trong tiến trình giải kết cấu xã hội thực dân - phong kiến ở miền Bắc
Trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, các giai cấp tư sản, tiểu thương, tiểu chủ trở thành lực lượng lao động chính Vào cuối năm 1960, ở miền Bắc trên căn bản chỉ còn hai giai cấp công nhân và nông dân đang trong quá trình tập thể hoá Hiện tượng phân hoá giai cấp bị xoá bỏ Giai cấp bóc lột bị thủ tiêu về mặt xã hội Một xã hội đa cực được thu gọn lại trong kết cấu đóng, hai mặt, hoặc ở khu vực kinh tế toàn dân, hoặc ở khu vực kinh tế tập thể
Xuất phát từ tình hình trong nước và quốc tế cùng với những tìm tòi
cả về thực tiễn và lý luận, xuất phát từ thực tiễn cách mạng miền Nam, từ
Trang 38một cách biện chứng mối quan hệ giữa thực tiễn cách mạng ở cả hai miền, đồng thời đánh giá khách quan tình hình thế giới, qua các nghị quyết, các văn kiện, đề cương cách mạng cả nước và từng miền, nhất là qua nghị quyết Trung ương 15 và 16, Đảng ta đã từng bước xác định rõ đường lối cách mạng nước ta trong giai đoạn này
2.2 QUAN NIỆM VỀ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA GIAI ĐOẠN 1954 -1975
2.2.1 Xác định cụ thể hơn mô hình chủ nghĩa xã hội
Trong điều kiện lịch sử phức tạp thời kỳ này, xuất hiện những quan điểm khác nhau về cách mạng miền Nam, về định hướng con đường phát triển của miền Bắc Có ý kiến đề xuất con đường phát triển tư bản chủ nghĩa ở miền Bắc, có ý kiến cho rằng miền Bắc nên dừng lại ở chế độ dân chủ nhân dân, tập trung sức giải phóng miền Nam, sau đó mới tiến lên chủ nghĩa xã hội Ở thời điểm bước ngoặt đó, hướng theo các mục tiêu đã xác định, Đảng ta đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết khẳng định: Trong bất kỳ tình huống nào, miền Bắc cũng phải được củng cố và tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc Tuy nhiên, chúng ta đều biết rằng sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm
1954, vấn đề bước vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trở thành lẽ đương nhiên vì:
Một là, nhân dân lao động nước ta đã từng chiến đấu, hy sinh không
chỉ nhằm mục đích giành lại độc lập dân tộc, mà còn vì cuộc sống ấm no, tự
do hạnh phúc Những yêu cầu đó chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đáp ứng được
Hai là, trong cách mạng dân tộc dân chủ, giai cấp công nhân thông qua
đội tiên phong của mình là Đảng cộng sản lãnh đạo cách mạng, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và phấn đấu vì lý tưởng xã hội
Trang 39chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa Khi giành được chính quyền, để từng bước thực hiện được mục đích nói trên, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng không thể không bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội
Ba là, những năm 50 Liên Xô đã trở thành một cường quốc, cùng với
một loạt nước xã hội chủ nghĩa ra đời, tạo thành hệ thống chủ nghĩa xã hội vững mạnh Đó là sự thể hiện cụ thể phương hướng phát triển của xã hội loài người
Bốn là, toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rõ quy
luật của cách mạng nước ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới giành và giữ được độc lập, tự do cho dân tộc, không gắn giải phóng dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội thì không huy động được sức mạnh của giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động ngay trong quá trình đấu tranh vì độc lập dân tộc Không tiến lên chủ nghĩa xã hội
mà đi con đường tư bản chủ nghĩa có nghĩa là chuyển các thành quả cách mạng vào tay lực lượng khác có lợi ích đối lập với lợi ích của nhân dân Không phải ai khác, chính nhân dân lao động sẽ một lần nữa rơi vào vòng bị
áp bức, bóc lột Đông đảo nhân dân nhất định không chấp nhận điều đó
Trên cơ sở đó, miền Bắc đã thực hiện Cương lĩnh ruộng đất được đề
ra từ tháng 11 năm 1953, Đảng ta đã triển khai phong trào cải cách ruộng đất rộng khắp miền Bắc từ năm 1955 - 1957 Cho đến cuối đợt cải cách ruộng đất đã có 2.124.870 nông hộ với 7.890.766 người được chia ruộng đất, trâu bò, nông cụ và lương thực Bình quân sở hữu ruộng đất của mỗi nhân khẩu thuộc các giai cấp khác nhau trước năm 1945 và sau khi cải cách ruộng đất năm 1955 - 1957 đã tăng lên rất nhiều Đây là giai đoạn khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh đối với miền Bắc Lúc này, theo quyết định của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8,
Trang 40khóa II (tháng 8 năm 1955), công tác cải cách ruộng đất vẫn là công tác trung tâm, nhưng công tác khôi phục kinh tế là công tác rất trọng yếu
Về định hướng phát triển của miền Bắc, Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng tháng 1- 1956 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Từ khi hoà bình lập lại miền Bắc nước ta đã chuyển sang cách mạng
xã hội chủ nghĩa, bắt đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” [63, 164] Trong Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng Sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa tại Matxcơva ngày 16 tháng 11 năm 1957, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi có khả năng xây dựng lại nền kinh tế quốc dân của chúng tôi, phát triển văn hoá, xây dựng cuộc sống mới, dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội” [62, 585] Sau đó, Người nhiều lần khẳng định: nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa
xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa
xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến Chính sách kinh tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là không ngừng phát triển sản xuất để nâng cao mãi đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân
Nếu như trong giai đoạn những năm 20 của thế kỷ XX, mô hình của con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta được đưa ra vẫn còn chung
chung, chưa được cụ thể thì đến năm 1966 Trong bài giảng tại lớp huấn
luyện đảng viên mới do Thành uỷ Hà Nội tổ chức dưới tiêu đề Chủ nghĩa Cộng sản - mục đích lý tưởng của Đảng ta, đồng chí Trường Chinh đã nêu lên mô hình về xã hội cộng sản chủ nghĩa: Tất cả các tư liệu sản xuất là của chung toàn dân, trong đó dưới chủ nghĩa xã hội, chế độ sở hữu công cộng
về tư liệu sản xuất có hai hình thức; sở hữu toàn dân (tức là sở hữu quốc doanh) và sở hữu tập thể (tức là sở hữu hợp tác xã); dưới chủ nghĩa cộng sản, hình thức sở hữu tập thể sẽ chuyển thành hình thức sở hữu toàn dân;