Thực hiện công việc đó cũng có nghĩa là người ta phải nhận thức đối tượng vận động từ đơn giản đến phức tạp, từ trừu tượng đến cụ thể, từ nhận thức bản chất cấp một đến bản chất cấp hai…
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
HOÀNG THỊ TÂM
KHÁI NIỆM “HÌNH THỨC CHUYỂN HÓA”
TRONG LÔGIC HỌC BIỆN CHỨNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHÀNH TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Anh Tuấn
Hà Nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1
2 Tì ì g ê ứu 4
3 Mụ í v ệm vụ g ê ứu 7
4 Cơ sở l luậ v p ươ g p áp g ê ứu 8
5 Đố ượ g v p ạm v g ê ứu 8
6 Đó g góp ủa luậ vă 8
7 Ý g ĩa ủa luậ vă 8
8 Kế ấu ủa luậ vă 8
Chương 1 Một số quan niệm về “nội dung” và “hình thức” trong triết học phương Tây trước Mác 9
Qua ệm v “ ộ u g” v “ ì ứ ” r g r ế p ươ g Tây ừ Hy ạp Cổ ạ ế ờ Cậ ại 9
2 Qua ệm v “ ộ u g” v “ ì ứ ” r g r ế Cổ ể Đứ 24
Chương 2 Quan điểm duy vật biện chứng về “hình thức chuyển hoá” 44
2 Sự p ê p á ủa Má ố vớ qua ệm ủa Hêg e v “ ộ u g” v “ ì ứ ” ủa ư uy 44
2 2 Sự p ê p á ủa Má ố vớ ậ ứ luậ ủa ô ơ ư l ơ sở p ươ g p áp luậ ủa k ế í rị ổ ể 50
2 3 K á ệm “ ì ứ uyể óa” r g Tư bả 58
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 4MỞ ĐẦU
1 tài
Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Hêraclit đã từng nói “không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” Câu nói ấy ngay từ thu bình minh của loài người đã chứa đựng mầm mống phôi thai của nguyên lý phát triển trong chủ nghĩa duy vật biện chứng sau này Chính sự vận động, biến đổi liên tục của thực tiễn đã chứng minh “vạn vật không ngừng sinh ra và mất đi giống như ngọn lửa không ngừng bùng cháy rồi lụi tàn” Nguyên lý này đã tr thành quan điểm quan trọng nhất khi nghiên cứu bất k một hiện tượng nào của tự nhiên, xã hội và tư duy
Quán triệt quan điểm phát triển trong nghiên cứu sự vật hiện tượng cũng chính là phải hiểu sự vận động, phát triển của một sự vật là một quá trình lịch sử
tự nhiên Quá trình ấy không phải là đường thẳng mà là một vòng tròn xoáy ốc, mỗi vòng xoáy là một giai đoạn phát triển của đối tượng và được chia thành những vòng xoáy to nhỏ khác nhau Mỗi vòng xoáy nhỏ được bao bọc b i những vòng xoáy lớn hơn Mỗi vòng xoáy là một nấc thang phát triển vẫn thường xuyên tái tạo lại kết cấu giản đơn ban đầu của toàn bộ sự vật trên cơ s cao hơn Tuy nhiên, qua từng giai đoạn phát triển “kết cấu ban đầu” đó ngày càng bị bao phủ
b i những yếu tố khác biệt, dị thường và bản chất thường bị che mờ b i những hình thức ngẫu nhiên bề ngoài Chính vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức khoa học
là phải vạch ra bản chất, cái cốt l i của đối tượng đã bị che lấp và được ghi lại những hình thức khác nhau vốn đã phủ định và vượt bỏ chính mình Thực hiện công việc đó cũng có nghĩa là người ta phải nhận thức đối tượng vận động từ đơn giản đến phức tạp, từ trừu tượng đến cụ thể, từ nhận thức bản chất cấp một đến bản chất cấp hai… Tất nhiên, quá trình nhận thức không diễn ra đâu khác ngoài trong thực tiễn, mà chủ yếu nhất là trong quá trình lao động sản xuất vật chất Quá trình đó sẽ giúp chúng ta nhận thức đối tượng qua từng thang bậc vận động, các trạng thái, dạng hình khác nhau đã che giấu bản chất của đối tượng
Trang 5Các dạng hình giả tư ng đó lần đầu tiên trong “Tư bản” được Mác gọi là các
“hình thức chuyển hóa”
Khái niệm "Hình thức chuyển hóa" sau Mác đã được một số nhà triết học
sử dụng để nêu đặc trưng cho cấu tạo và phương thức vận hành của các hệ thống phức tạp (trong trường hợp của Mác hệ thống đó là xã hội tư sản) Khái niệm này cho phép nghiên cứu các mối phụ thuộc và hiệu ứng giả tư ng thể hiện trên bề mặt hệ thống hữu cơ với tư cách của cái mà Mác gọi là “… hình thái hiện thực của nó hay đúng hơn là hình thái tồn tại hiện thực của nó” [24, III, 678]1
Hình thức tồn tại như thế là sản phẩm chuyển hóa các quan hệ bên trong của hệ thống phức tạp diễn ra một trình độ xác định của nó và che đậy tính chất thực tế cũng như mối liên hệ lẫn nhau trực tiếp của chúng bằng những biểu hiện gián tiếp Các biểu hiện đó, trong khi là sản phẩm và tích tụ sự chuyển hóa hành vi của các mối liên hệ của hệ thống, đồng thời vẫn tồn tại trong hệ thống dưới dạng hiện tượng, “đối tượng” riêng rẽ, hoàn chỉnh về chất cùng với các đối tượng khác
Như vậy, không phải ngay từ đầu đã có quan niệm về “hình thức chuyển hóa” một cách nguyên hình với tất cả sự phong phú và đa dạng của nó Quan niệm này cùng với các quan niệm về nội dung và hình thức như những phạm trù triết học cũng có một quá trình sinh thành, vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn, nhiều thay đổi các thời k lịch sử khác nhau Do vậy, để đến được với cách hiểu duy vật biện chứng về "hình thức chuyển hóa" chúng ta không thể không nghiên cứu lịch sử triết học để thấy ra sự hình thành, vận động và phát triển của quan niệm về "hình thức chuyển hóa" từ dạng mầm mống phôi thai cho đến khi phát triển chín muồi thành một khái niệm hoàn chỉnh Quá trình khảo cứu bắt đầu từ trong lịch sử triết học Hy Lạp Cổ đại, qua thời k Cận đại, tiếp tục các nhà triết học cổ điển Đức và đỉnh cao là triết học Mác Tất nhiên,
1 Từ đây tr đi các số trong dấu ngoặc vuông biểu thị: số thứ nhất là số thứ tự của tài liệu trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo, số thứ hai (La Mã - nếu có) là tập (phần) của tài liệu, số thứ ba là trang của đoạn trích
dẫn Ví dụ như trên là: C Mác và Ăngghen: Toàn tập, tập 26, phần III, trang 678
Trang 6những thời k đầu quan niệm về "hình thức chuyển hóa" chưa được định hình một cách r ràng, nó mới lấp ló dạng những tư tư ng sơ khai về mối quan hệ giữa “nội dung” và “hình thức” của tư duy Đến Mác với cách nhìn duy vật biện chứng thì quan niệm về "hình thức chuyển hóa" của các hiện tượng kinh tế tư bản chủ nghĩa mới phát triển đầy đủ và được thể hiện r rệt nhất trong khi phân tích nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa này
Nói rộng ra, nhiệm vụ nghiên cứu và vượt bỏ những di sản của lịch sử triết học để đạt đến cách hiểu duy vật biện chứng về "hình thức chuyển hóa" sẽ có ý nghĩa lớn trong việc hiểu sự hình thành, vận động và phát triển hệ thống các khái niệm, phạm trù - bộ máy công cụ của nhận thức khoa học nói chung Đặc biệt, hiểu biết đó còn giúp nghiên cứu tốt hơn sự vận động của thực tiễn Sự biến đổi của thực tiễn xã hội với việc xuất hiện vô vàn các sự kiện, hiện tượng mà chúng
ta khó phân biệt được thật, giả từ đầu, không thể hiểu ngay được bản chất thật sự của nó đằng sau những vỏ bọc bên ngoài ngụy trang kín đáo đã và đang làm đau đầu mỗi chủ thể nhận thức Vì vậy, việc nghiên cứu những "hình thức chuyển hóa" của sự vật, hiện tượng không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn, nó giúp chúng ta tìm ra bản chất của đối tượng trong vô vàn biến thiên của thực tiễn, từ đó có cái nhìn đúng đắn cũng như phương pháp hành động có hiệu quả để cải tạo thực tiễn đó
Vai trò và ý nghĩa của khái niệm đã nêu trong nhận thức và thực tiễn lớn
là vậy nhưng hiểu biết của chúng ta về nó còn quá mỏng, thậm chí chúng tôi chưa tìm thấy khái niệm này trong các sách giáo khoa triết học Việt Nam, bản thân thuật ngữ được lấy nguyên xi từ trong “Tư bản” của Mác, không r có được các nhà nghiên cứu và công chúng triết học nước ta chấp nhận hay không Vì lý
do đó tôi chọn vấn đề “khái niệm hình thức chuyển hóa trong lôgic học biện
chứng” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn cao học của mình
Trang 72 Tì ì g iê ứu
Nhìn chung đây là một vấn đề hầu như chưa được bàn đến nhiều trong sách báo, tạp chí, các bài nghiên cứu của các học giả, mà thường khi bàn đến các vấn đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng họ mới chủ yếu nói đến cặp phạm trù
“nội dung” và “hình thức”, còn khái niệm “hình thức chuyển hóa” chưa có tài
liệu nào bàn đến một cách đầy đủ chi tiết Trong “Bút ký triết học” [14] V.I
Lênin đã đưa ra 16 yếu tố của phép biện chứng trong đó có đề cập đến cặp phạm trù “nội dung” và “hình thức” Còn trong giáo trình Triết học Mác - Lênin giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng chỉ phân tích phạm trù nội dung và hình thức như là một nội dung quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong các tài liệu lôgic học biện chứng cũng chưa thấy có phần riêng bàn về khái niệm
“hình thức chuyển hóa”
Tuy chưa có tài liệu chuyên biệt nào viết về khái niệm "hình thức chuyển hóa", nhưng thông qua các công trình nghiên cứu triết học và lôgic học biện chứng thì vấn đề này cũng được các học giả bàn đến ít nhiều và có hé m những gợi ý quý giá để học viên bước đầu mạnh dạn tìm hiểu nghiên cứu vấn đề
Trước hết, việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khái niệm
"hình thức chuyển hóa" không thể không dựa vào các sách viết về lịch sử triết học từ cổ đại đến trước Mác Đây chính là kho tàng tri thức quý giá trong sự phát triển của nhận thức nhân loại Trong đó mặc dù khái niệm "hình thức chuyển hóa" chưa được định hình chặt chẽ nhưng ít nhiều nó đã tồn tại dưới dạng tư
tư ng mầm mống phôi thai thông qua những cách hiểu biện chứng ngây thơ của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, hay cái nhìn duy vật siêu hình, máy móc thời cận đại về thế giới các sự vật, hiện tượng và đặc biệt là trong triết học duy tâm
cổ điển Đức Các tài liệu lịch sử triết học được học viên dùng làm cơ s để khảo
sát là: Lịch sử triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên [42]; Lịch sử triết học của Bùi Thanh Quất và Vũ Tình chủ biên [27], Lịch sử triết học cổ đại Hy – La do
Trang 8Nguyễn Quang Thông và Tống Chung biên soạn [30, 31]; hay cuốn Đại cương
lịch sử triết học phương Tây do Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh và Nguyễn Anh
Tuấn biên soạn [8] Ngoài ra, để có một cái nhìn tổng thể về phép biện chứng
trong triết học phương Tây trước Mác, thì bộ sách Lịch sử phép biện chứng, gồm
6 tập của Viện Triết học Liên Xô trước đây biên soạn cũng là một tài liệu rất hữu ích [36 - 39]
Trong bộ Lịch sử phép biện chứng nêu trên đáng chú ý đối với người nghiên cứu “Tư bản” là tập 4 với tiêu đề Lịch sử phép biện chứng Mác xít từ khi
xuất hiện chủ nghĩa Mác đến giai đoạn Lênin do nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva
ấn hành năm 1988 được in thành một quyển riêng Trong tài liệu này các tác giả
đã phân tích chi tiết phương pháp của Mác trong “Tư bản” Đi theo hướng này
còn có một số bút ký trong cuốn Lôgic học biện chứng của E.V.Ilencov [11] khi
phân tích về sự hình thành đối tượng lôgic học (chữ L viết hoa) đã đề cập đến những quan niệm khác nhau của các nhà triết học trong lịch sử về tư duy, nội dung và hình thức của nó, qua đó cung cấp những gợi m đầu tiên cho học viên giải quyết vấn đề này Những bút ký của E.V Ilencov viết về lôgic của bộ “Tư bản” và một số khái niệm chủ yếu như “cái trừu tượng”, “cái cụ thể”, “cái lôgic”,
“cái lịch sử”, “cái phổ biến”, “mâu thuẫn”… thực chất là sự phân tích chuỗi chuyển hóa của các khái niệm trong “Tư bản” của Mác, từ việc phân tích khái niệm kh i điểm ban đầu là “hàng hóa” cho đến những khái niệm kế tiếp làm nên một hệ thống các khái niệm cơ bản phản ánh sự vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Mặc dù chưa đưa ra khái niệm "hình thức chuyển hóa" nhưng E.V.Ilencov đã chỉ ra được nguyên tắc cơ bản được dùng trong “Tư bản” là
“nguyên tắc tương thích giữa tư duy và hiện thực, điều đó buộc phải phân tích tư duy không phải một cách tự nó, tức là tách rời hiện thực mà trong quá trình chuyển hóa nó vào tư tư ng” [11, 406] Và nguyên tắc tương thích giữa tư duy
và hiện thực đó đạt được thông qua quá trình phát triển mâu thuẫn biện chứng
Trang 9của các khái niệm, các phạm trù Như vậy ít nhiều E.V Ilencov đã hướng đến lý giải sự chuyển hóa của các khái niệm trong “Tư bản” với tư cách là sự phản ánh lại những thay đổi của các hiện tượng khách quan được các khái niệm đó tái tạo lại trong tư duy, mặc dù chính ông cũng chưa đâu gọi đích danh nó là "hình thức chuyển hóa"
Ngoài ra còn có những cuốn sách nghiên cứu về “Tư bản” của các học giả trong và ngoài nước đã được dịch sang tiếng Việt ít nhiều cũng được học viên tham khảo để hiểu thêm những phân tích của Mác về nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa như cuốn Những vấn đề về phép biện chứng trong bộ Tư bản của
Rôdentan [29]… Tuy nhiên, đây cũng chưa thấy nói gì về "hình thức chuyển hóa" Riêng về các tác phẩm kinh điển triết học, học viên cũng chưa có điều kiện đọc hết những gì đã dịch sang tiếng Việt mà chỉ mới bước đầu tìm hiểu một số tác phẩm của các nhà triết học Cổ điển Đức qua bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn
như: Phê phán lý tính thuần túy của Kant [12] và Khoa học lôgic (Tiểu lôgic)
của Hêghen [10], thì cũng chưa thấy ai trong số họ sử dụng thuật ngữ như trong tiêu đề của luận văn này Nhưng chúng vẫn thực sự là những nguồn tư liệu quan trọng giúp học viên nghiên cứu vấn đề đã nêu trong lịch sử triết học
Thực sự, thuật ngữ này được Mác sử dụng đầu tiên khi nghiên cứu giá trị
và giá cả sức lao động Mác viết: “Bây giờ, trước hết chúng ta hãy xem giá trị và
giá cả sức lao động đã biểu hiện ra như thế nào dưới hình thức chuyển hóa của
nó là tiền công” [21, 760] Trong toàn bộ “Tư bản” Mác đã dành thời gian để phân tích các yếu tố của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, từ đó rút ra mối liên hệ
và sự móc nối giữa các khái niệm và phạm trù cơ bản phản ánh nền sản xuất đó như: hàng hóa, giá trị, giá cả sức lao động, giá trị thặng dư, lợi nhuận, tiền công… Hay như phần phân tích về tiền công, Mác đã khẳng định tiền công là hình thức chuyển hoá của giá trị và giá cả sức lao động, hay “tiền công tính theo sản phẩm là "hình thức chuyển hóa" của tiền công tính theo thời gian” [21, 780]
Trang 10Mác đã khá nhiều lần dùng cụm từ "hình thức chuyển hóa" nhưng chưa đưa ra một khái niệm chính xác nào về hiện tượng mà nó dùng để gọi tên Trên cơ s những phân tích, luận chứng của Mác học viên đã mạnh dạn lựa chọn một trong những kết luận của Mác làm cơ s cho hướng nghiên cứu và cũng là để gợi m cho giải quyết vấn đề xác định nội hàm của khái niệm "hình thức chuyển hóa"
Đó là kết luận của Mác sau khi Người phân tích giá cả và giá trị sức lao động:
“Người ta có thể hiểu được tầm quan trọng quyết định của sự chuyển hóa của giá
cả và giá cả sức lao động thành hình thức tiền công, tức là thành giá trị và giá cả
của bản thân sức lao động Trên hình thức biểu hiện ấy - hình thức che giấu mối
quan hệ thật sự và trình bày cái trực tiếp đối lập với mối quan hệ ấy - đã xây dựng lên tất cả mọi khái niệm pháp quyền của người công nhân cũng như nhà tư bản, tất cả mọi sự thần bí hóa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tất cả mọi
ảo tưởng về tự do của nó…(học viên in nghiêng)” [21, 762]
Như vậy, đến Mác và cụ thể là trong bộ “Tư bản” thì khái niệm “hình thức chuyển hóa” đã có cơ hội được hiện nguyên hình thông qua rất nhiều phân tích kinh tế Do đó, để đạt đến cách hiểu duy vật biện chứng và làm r khái niệm
"hình thức chuyển hóa" học viên đã chọn hướng nghiên cứu cụ thể là khảo cứu trực tiếp cách hiểu của Mác trong bộ “Tư bản” về nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng Tất cả những tài liệu dẫn ra trên đây đều là những gợi m và
tr thành nền tảng kiến thức quan trọng để học viên bước đầu thực hiện mục đích
và nhiệm vụ nghiên cứu sẽ nêu ra dưới đây
3 Mụ í và iệm vụ g iê ứu
- Mục đích: Phân tích các tiền đề lý luận của sự hình thành khái niệm
"hình thức chuyển hóa" và cách hiểu duy vật biện chứng về khái niệm này
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Khảo sát quan niệm về “nội dung và hình thức” một số nhà triết học từ
Hy Lạp Cổ đại đến Cổ điển Đức
Trang 11+ Khảo sát bộ “Tư bản” của C Mác và phân tích một số phần của nó để đi đến cách hiểu duy vật biện chứng về khái niệm "hình thức chuyển hóa"
4 Cơ sở l luậ và p ươ g p áp g iê ứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên các nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa
duy vật biện chứng về phát triển, thực tiễn, và quan điểm biện chứng duy vật về mâu thuẫn, bản chất, cái phổ biến…
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp thống nhất
logic - lịch sử, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương pháp phân tích
và tổng hợp
5 Đối tượ g và p ạm vi g iê ứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cách hiểu duy vật biện chứng về "hình thức
6 Đó g góp ủa luậ vă
- Luận văn bước đầu nêu ra nội dung khái niệm "hình thức chuyển hóa" và cách hiểu duy vật biện chứng về "hình thức chuyển hóa", ý nghĩa của nó trong việc nghiên cứu một số vấn đề của thực tiễn
7 Ý g ĩa ủa luậ vă
- Luận văn góp phần làm r quá trình hình thành và phát triển quan điểm
về "hình thức chuyển hóa" và làm r khái niệm "hình thức chuyển hóa"
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học ngành triết học, chuyên ngành lôgic học và lịch sử triết học
8 Kết ấu ủa luậ vă
- Ngoài phần m đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 12C ươ g 1 MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ “NỘI DUNG” VÀ “HÌNH THỨC”
TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY TRƯỚC MÁC
1.1 Qua iệm v “ ội u g” và “ ì t ứ ” tr g triết p ươ g Tây từ Hy ạp Cổ ại ế t ời Cậ ại
“Phương pháp triển vọng hơn cả để giải quyết vấn đề khoa học bất k là cách tiếp cận lịch sử đến nó” [11, 23] Thực chất của cách tiếp cận này là quay
tr lại với lịch sử để thấy được sự phát sinh, hình thành và phát triển của vấn đề
và đối tượng của nó Thoạt nghe có thể nhầm tư ng đây là một nghiên cứu lịch
sử “Nhưng những xung đột lịch sử của việc thực hiện “sự nghiệp lịch sử” không phải là mục đích mà chỉ là chất liệu thực tế để xuyên suốt qua nó dần hiện ra những vòng khâu rạch ròi hơn của lôgic sự việc” [11, 22] Với cách tiếp cận này thì điểm đến đầu tiên là triết học Hy Lạp Cổ đại Đây vẫn được coi là cái nôi của triết học thế giới, là kh i nguồn của triết học và sự phát triển về sau của rất nhiều khuynh hướng, trường phái triết học phương Tây Sự ra đời của triết học Hy Lạp
Cổ đại gắn liền với sự hình thành phép biện chứng “ngây thơ tự phát” Các nhà
tư tư ng Hy Lạp Cổ đại đã bước đầu nhận thức thế giới trong tính đa dạng của
nó nhưng lại dừng trước sự đồng nhất nó một cách phiến diện, ngây thơ Học thuyết về bản nguyên của thế giới là một minh chứng cho điều đó Học thuyết này “chưa đạt đến trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên cho nên hãy còn quan niệm giới tự nhiên như là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thế ấy” [19, 491] Mặc dù vậy tư duy của người Hy Lạp đã có những yếu tố của tư duy lý luận, tư duy hướng đến nhận thức thế giới trong tính chỉnh thể Thế giới tự nhiên là đối tượng của nhận thức triết học, đó là tư duy hướng đến thực tiễn, tuy nhiên thực tiễn đây mới chỉ đơn thuần là thế giới tự nhiên xung quanh con người Suy tư của họ trước hết là những băn khoăn, những trăn tr trong việc đi tìm trả lời câu hỏi: Bản nguyên thế giới là gì? Thế giới được sinh
Trang 13ra từ đâu và được cấu tạo bằng gì? Chính những câu hỏi này đã đưa các nhà triết học lên những con đường và khuynh hướng tìm lời giải khác nhau cho những bài toán bí ẩn này
Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại từ Talet đến Đêmôcrit đưa ra “phép biện chứng theo nghĩa đen” mà đó thực thể vật chất đã đồng nhất một cách trừu tượng với ý thức, tư duy đồng nhất với tồn tại Trong khi kiến giải thế giới từ nguồn gốc vật chất của nó các nhà triết học Hy Lạp Cổ đại đã đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể như nước Talet, lửa Hêraclit và cao hơn nữa là nguyên tử Đêmôcrit Từ cái nhìn trực quan về thế giới các nhà triết học Hy Lạp
Cổ đại đã đồng nhất tư duy với tồn tại một cách trừu tượng cảm tính Thế giới tự nhiên đa dạng thống nhất nhưng là thống nhất tại một dạng vật chất cụ thể, đó nước của Talet cũng giống như lửa của Hêraclit và cũng giống như apâyrôn của Anaximandrơ… đều là những dạng vật chất cụ thể cần thiết đối với con người Các nhà triết học thời k này đã nhận thấy tầm quan trọng của các yếu tố tự nhiên đối với đời sống con người, do đó họ coi chúng như là những yếu tố đầu tiên quyết định cấu tạo và sự vận hành của vũ trụ Chính vì vậy họ chưa có cái nhìn khái quát, tổng hợp để thấy ra sự khác biệt ngay trong cái bản chất chung ấy của các yếu tố Tương ứng với những bản chất chung đó thì hình thức của sự vật cũng chỉ là những hình thức giản đơn, hình thức bề ngoài, hình thức đó có thể nhận biết được bằng các giác quan Hình thức ấy thể hiện như là tính xác định không - thời gian của các đối tượng B i lẽ các đối tượng phân biệt với nhau kích cỡ, hình dạng, vị trí trong không gian Tính xác định không - thời gian là cơ
s duy nhất đảm bảo tính bền vững và thường xuyên lặp lại trong quá trình kinh nghiệm cảm tính của con người Hình thức ban đầu này đều có tất cả các sự vật đơn nhất trong thế giới Nó là kết quả của sự khái quát những dấu hiệu bề ngoài, cảm tính, là sự tồn tại chiếm một vị trí xác định trong không gian và cũng là điểm khác biệt bề ngoài mà dựa vào đó con người có thể phân biệt các sự vật với
Trang 14nhau Và khi đó khái niệm ghi nhận bản chất giản đơn của đối tương cũng chỉ là
“khái niệm nói chung” Như vậy cấp độ cái phổ biến trừu tượng thì hình thức mới chỉ là hình thức chung, hình thức bề ngoài, hình thức chưa thể hiện sự khác biệt bên trong bản chất của đối tượng Hình thức đó chưa nêu được mối liên hệ bên trong giữa các đối tượng, do vậy sự vật mới chỉ tồn tại dưới dạng “tự nó”
Nếu dừng lại Hêraclit thì chúng ta mới chỉ hé m cánh cửa để đến với triết học Hy Lạp Cổ đại, con đường ấy phải được tiếp tục b i những bước đi đến với trường phái triết học Êlê Hêghen đã nói “chúng ta thấy đây kh i nguồn của phép biện chứng” [trích theo: 14, 266] Người được coi là kh i đầu của xu hướng này là Pácmenit với luận điểm “tồn tại có, không có không tồn tại” Tồn tại là bản chất chung của thế giới, nó tồn tại vĩnh viễn và không thể mất đi, tồn tại chỉ một tồn tại Tư duy của con người cũng là tư duy về chính tồn tại Tồn tại đây bao gồm khía cạnh vật chất và tinh thần và chúng ta chỉ có thể nhận thức chúng bằng lý tính Mọi tư tư ng của con người đều là tư tư ng về một cái gì đó đang tồn tại, không thể có tư tư ng về cái không tồn tại Như vậy tư duy Pácmenit đã hướng đến một đối tượng cụ thể đó là “tồn tại”, nhưng ông cũng chưa phân biệt được cụ thể đâu là tồn tại vật chất, đâu là tồn tại tinh thần Thế giới vật chất hiện lên vẫn là những gì trừu tượng, chung chung, cái thế giới thực tiễn tự nhiên và hoạt động lao động sản xuất của con người vẫn chưa xuất hiện trong những gì “tồn tại” của Pácmenit Tuy nhiên, đây tư duy triết học đã bước thêm một bước trên con đường khái quát thành các khái niệm, phạm trù tồn tại
và không tồn tại
Quan điểm của Pácmenit đã được chính người học trò của mình bảo vệ Bằng việc đưa ra các nghịch lý Dênon cố gắng bảo vệ quan điểm “tồn tại là duy nhất và bất biến” Thông qua việc phân tích các nghịch lý Dênon đã chỉ ra các mâu thuẫn trong việc phản ánh các quá trình hiện thực bằng khái niệm Ông đặt
ra vấn đề tư duy con người phải thường xuyên biến đổi để nhận thức thế giới
Trang 15Với yêu cầu đó thì “các nghịch lý của Dênon bao hàm các yếu tố giữ chức năng như “đèn đỏ” báo hiệu khẩn cấp, cảnh báo rằng cần m ra các con đường mới cho nhận thức lý luận về hiện thực” [36, 165] Cần phải thấy rằng Dênon hoàn toàn không có ý nghĩ phủ nhận sự vận động coi như “tính xác định cảm tính”,
mà ông chủ yếu xem xét sự vận động một cách khách quan, biện chứng, nghĩa là xem xét sự vận động một cách tự nó và không cần có một ý niệm tiền đề nào cả Dênon dựa vào tính vốn có của vận động để xem xét đối tượng qua đó bộc lộ những quy định đối lập nhau và lột bỏ nó Ở đây tư duy đã có sự phản ánh lôgic
về vận động dẫn đến những mâu thuẫn hình thức qua đó bác bỏ tính khách quan
bề ngoài của vận động Tuy nhiên “vấn đề không phải là sự vận động có tồn tại không mà là thể hiện nó như thế nào trong lôgic của các khái niệm” [14, 271]
Tư duy của Dênon cố vươn tới diễn tả sự vận động của đối tượng trong khái niệm Khái niệm là hình thức của tư duy diễn tả sự vận động của tư duy khi phản ánh đối tượng “khái niệm không bất động mà luôn vận động, chuyển hóa từ cái
nọ sang cái kia, tràn từ cái nọ sang cái kia, không như vậy chúng không phản ánh đời sống sinh động” [14, 267] Có thể nói Dênon đã bước đầu vạch ra con đường biện chứng của tư duy Ông chính là người “kh i xướng ra phép biện chứng”
Với quan điểm cho rằng bản nguyên thế giới là nguyên tử, Đêmôcrit chính
là kh i nguồn của một trong hai đường hướng triết học Hy Lạp Cổ đại - Đường hướng Đêmôcrit (duy vật) Mặc dù cũng như nhiều nhà triết học Hy Lạp Cổ đại khác, Đêmôcrit cũng chỉ có cái nhìn trực quan cảm tính, song ông đã thấy được
sự khác biệt trong bản chất của đối tượng, sự khác biệt đó thể hiện trong cấu trúc của sự vật, dựa vào sự khác biệt cấu trúc, dạng hình các nguyên tử, mức độ tập trung hay phân tán của chúng trong không gian Sự tích tụ và phân tán các nguyên tử tạo nên các vật hữu hình trong thế giới Ở đó, các phạm trù tồn tại và không tồn tại thể hiện như là cái đầy đủ và cái hư vô Cái đầy đủ là tổng thể các nguyên tử tích tụ với nhau, cái hư vô là sự thiếu vắng chúng Đêmôcrit đã phân
Trang 16biệt bản chất triệt để hơn, vạch ra các mặt đối lập giữa tồn tại và không tồn tại nhưng cũng chỉ dừng lại sự khác biệt bề ngoài, thuần túy về lượng Mặc dù
“Đêmôcrit đã diễn đạt một cách r rệt hơn sự khác nhau giữa những vòng khâu của tồn tại tự nó và tồn tại vì một cái khác” [14, 283], nhưng sự khác nhau đó chưa biểu hiện r ra là sự chuyển hóa trong bản chất của đối tượng, do đó cái hình thức ghi lại sự khác nhau đó cũng đơn thuần là hình thức bề ngoài
Đường hướng thứ hai (duy tâm) trong triết học Hy Lạp Cổ đại được kh i xướng b i chính nhà tư tư ng kiệt xuất Platon Khác với Đêmôcrit, nhận thức của Platon vượt lên trên nhận thức cá nhân để vươn tới nhận thức cái phổ biến, nhận thức cái chung cho cả thế giới tự nhiên Trong khuôn khổ phương pháp tư duy đặc thù thời cổ đại ông đã khái quát và giải quyết những vấn đề do sự phát triển tư tư ng trước đó đặt ra Platon đã nhận thấy rằng những hạn chế của các nhà duy vật cổ đại kể cả Đêmôcrit là luôn giải thích thế giới từ một dạng vật chất
cụ thể và từ các nguyên nhân vật lý Việc nhận thức theo cách ấy không làm r được bản chất của đối tượng, vì vậy nên “nhận thức buộc phải xoay tròn vô bổ trong vòng tròn khép kín, chính điều này là nguồn gốc của mâu thuẫn không thể giải quyết được thường xuyên nảy sinh” [8, 127] Từ đây Platon đã xây dựng cách tiếp cận mới về phương pháp mà ông so sánh với việc “khi gió đứng im cánh buồm tr nên vô dụng, những người thủy thủ phải gắng sức chèo thuyền” [8, 127] Platon hướng đến giải quyết những mâu thuẫn của triết học trước đó bằng những nỗ lực trí tuệ con người chứ không phải bằng sức mạnh bên ngoài
Kh i đầu của công việc này là Platon phân chia thế giới thành “thế giới các ý niệm” và “thế giới các sự vật cảm tính” Thế giới các ý niệm là thế giới siêu cảm tính, tách rời với thế giới hữu hình Thế giới các sự vật cảm tính có thể cảm nhận được bằng giác quan, thế giới này không phải là hiện có chân thực và đúng đắn vì nó luôn vận động, thay đổi, sinh ra và chết đi, không bền vững và không hoàn thiện, nó là vật chất thuần túy không có hình hài cố định Thế giới ấy
Trang 17giống như thế giới vật chất của Hêraclit thường xuyên biến đổi trong không gian
và thời gian Vật chất thuần túy không tồn tại thực, nó chỉ là một bộ phận của tồn tại Để có thể tr thành bộ phận của tồn tại thực vật chất phải “hấp thụ” ý niệm
Ý niệm là nguyên nhân của vật chất, thế giới ý niệm là vô hình, phi vật thể và không nhận thức được bằng trực quan cảm tính mà chỉ có thể nhận thức được bằng lý tính, bằng trí tuệ tối cao
Platon cố gắng tìm nguyên nhân để tạo nên bước chuyển từ vật chất nói chung và thế giới ý niệm sang thế giới các sự vật cảm tính, và ông tìm thấy nó việc kết hợp vật chất thuần túy với ý niệm Ý niệm là mô hình hoàn hảo, là nguyên mẫu mà các sự vật cảm tính phải khuôn theo Mỗi sự vật cảm tính đều có một hình ảnh của riêng mình và hình ảnh đó là bản chất của sự vật Do vậy “sự vật là bức sao chụp không hoàn hảo của ý niệm, còn ý niệm là khuôn mẫu không đạt tới được mà vật hướng tới như là giới hạn của mình, nhưng không bao giờ đạt tới được” [8, 134] Như vậy, Platon đã đặt ra và giải quyết vấn đề mối quan
hệ giữa vật chất và tinh thần trên lập trường duy tâm khách quan Song trí tuệ tinh thần Platon không phải bất động, khô cứng và đồng nhất với “tồn tại thuần túy” như các nhà triết học trước đó quan niệm mà nó linh hoạt, thường xuyên vận động để hòa mình vào với tồn tại Ý niệm là điểm đầu của vận động và là bản chất của thế giới vật chất Bản chất của đối tượng Platon không còn là hành vi của con người nhận thức chính mình nữa mà nó là bản chất chung phổ biến cho toàn xã hội Bản chất đó là các ý niệm Ý niệm là các hình thức lôgic đã khái quát các sự vật đơn lẻ thành các khái niệm giống loài Tất nhiên không có
sự đồng nhất hoàn toàn giữa vật chất và ý niệm, giữa chúng vẫn có một “ranh giới” mà việc ghi lại ranh giới đó là nhiệm vụ của hình thức bên ngoài Tuy nhiên, để có thể nhận thức được sự khác nhau trong bản chất của sự vật đòi hỏi
tư duy phải vận động theo những thang bậc ý niệm khác nhau Tư duy nhận thức từng thang bậc của ý niệm là đang leo thang theo từng cấp độ của nhận thức
Trang 18Càng lên cao, càng ít ý niệm Mỗi thang bậc của ý niệm gắn với một cấp độ sự vật, vật chất thuần túy giả định hình thức thuần túy, nhưng các quá trình sau đó
nó vẫn thường xuyên được tái tạo các hình thức cao hơn Vật chất thuần túy và
ý niệm thuần túy như là nền tảng ban đầu cho sự phát triển lên cao của các ý niệm Ở vị trí cao nhất là ý niệm tuyệt đối - gắn với dạng vật chất cao nhất, vật chất lý tư ng, hình thức khi đó là hình thức tuyệt đối Hình thức tuyệt đối là sự thống nhất giữa hình thức bên trong và hình thức bên ngoài Nhưng để đạt được
sự thống nhất đó Platon đã phải nhờ đến đấng sáng thế thường là nghệ nhân tài
ba, là trí tuệ tinh thông của loài người Đấng sáng thế không tạo ra vật chất và hình thức mà làm một nhiệm vụ cao cả là đưa vật chất vào trong khuôn mẫu của
ý niệm theo một kế hoạch lý tư ng
Như vậy, Platon đã hướng đến giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tư duy Việc tìm hiểu sâu hơn cho thấy, vấn đề “hình thức chuyển hóa” dường như đã bắt đầu lấp ló trong tư tư ng của Platon R ràng ý niệm, theo một nghĩa nào đó không phải bất động, khô cứng mà còng vận động
để hòa vào trong vật chất vẫn thường xuyên vận động biến đổi Tuy nhiên, Platon đã đứng trên lập trường duy tâm khách quan khi xem xét vấn đề mối quan
hệ giữa vật chất và ý niệm, b i ông đã coi kh i nguồn của vận động là từ ý niệm Ông không nhận thấy được ý niệm chính là sự phản ánh hiện thực khách quan Hiện thực trong quan niệm của Platon là bị động, chưa phải là bản chất của đối tượng, do đó nó vẫn là “bị động” trong các hình thức của ý niệm, mặc dù các ý niệm đòi hỏi phải linh động để hòa vào vật chất Chính vì hạn chế này nên các hình thức cũng chỉ rập khuôn máy móc theo các mô hình của ý niệm, nó chưa thể chuyển mình để phản ánh đúng hiện thực khách quan
Là bộ óc bách khoa nhất trong số các nhà triết học Hy Lạp Cổ đại, Arixtôt
đã sáng tạo ra học thuyết mà sau này tr thành cội nguồn lý luận chung cùng một lúc cho nhiều trào lưu triết học khác nhau Chúng vẫn đều coi triết học của ông
Trang 19như là nguyên mẫu chưa phát triển của chính mình Với phương châm “thầy là quý nhưng chân lý còn quý hơn” Arixtôt đã làm nên bước ngoặt phát triển của triết học trong cách hiểu vấn đề triết học về mối quan hệ giữa vật chất và hình thức Ông đã nhận thấy hạn chế trong tư tư ng triết học của thầy mình, mặc dù vẫn tiếp tục theo hướng ấy nhưng ông lại rẽ sang một lối đi khác Ông coi đối tượng của nhận thức là tồn tại, nhận thức tồn tại diễn ra trong khái niệm, đó là sự hợp nhất giữa hình dạng và một dạng vật chất cụ thể Hình dạng là bản chất, là khái niệm của sự vật và là tính quy định của đối tượng Hình dạng có thuộc tính phổ quát và vĩnh cửu, là cái chung cho tất cả, b i lẽ hình dạng mang lại cho các
sự vật cảm tính một hình thức xác định Không có vật chất tuyệt đối xa lạ với các hình dạng Arixtôt thừa nhận có nhiều dạng vật chất tồn tại, nhưng đó chỉ là “tồn tại tự nó”, đó là những dạng vật chất đầu tiên, nó có khả năng tồn tại hiện thực nếu được kết hợp với hình dạng Ở đây nảy sinh mối quan hệ giữa vật chất và hình thức Vật chất không chỉ là sự sinh thành nói chung mà là sự sinh thành rất cần cho việc hiện thực hóa các hình dạng Quá trình hiện thực hóa hình dạng thực chất là sự thống nhất hai mặt đối lập mà đó hình dạng là yếu tố quyết định Hình dạng của Arixtôt là cái thường xuyên không đổi trong dòng biến đổi của tồn tại vật chất, là cái cung cấp cho tồn tại ấy sự bền vững và xác định Hình dạng đóng vai trò quyết định so với vật chất, nó mang tính tích cực và chủ động, khi liên kết với vật chất sẽ tạo nên toàn bộ thế giới hiện thực Hình dạng của Arixtôt vừa mang ý nghĩa bản thể luận vừa mang ý nghĩa nhận thức luận Hình dạng của Arixtôt không còn là những “ý niệm lơ lửng trên không trung” như của Platon mà nó đã hạ xuống mặt đất, và ra nhập vào thế giới vật chất, nó tr thành yếu tố quyết định đối với mọi tồn tại của sự vật hiện tượng, hình dạng ấy đã hiện thực hóa mình trong vật chất để tr thành các hình thức của tồn tại hiện thực Trong quá trình hiện thực hóa hình dạng thì vật chất và hình dạng luôn biến đổi,
Trang 20chúng không được xác định trước, cho nên không thể kết hợp tùy tiện mà luôn phải xác định nhê chất liệu của sù hiện thực hóa
Có thể thấy Arixtôt đã tiến hơn thầy mình một bước trong cách hiểu về vật chất và hình dạng, đã tiến gần hơn đến quan niệm duy vật về vật chất và hình thức Tuy nhiên, trong hình thức được thần bí hóa Arixtôt thực hiện không gì khác ngoài sự nghiên cứu các quy luật phát triển của toàn bộ nền văn hóa tinh thần có trước ông của người Hy Lạp, “nghiên cứu những xung đột, những mâu thuẫn mà trong sự triển khai, giải quyết chúng quá trình nhận thức lý luận về hiện thực luôn được thực hiện” [11, 31] Như vậy, hiện thực mà Arixtôt bàn đến đây cũng chỉ dừng lại là những hoạt động văn hóa tinh thần của con người mà thôi, còn hiện thực lao động, sản xuất vật chất vẫn chưa là đối tượng được đưa ra xem xét như là yếu tố quyết định đời sống và tư duy con người Arixtôt dừng lại đây, sau này chính Hêghen là người đã quay về với Arixtôt trong cách hiểu về phạm trù và các hình thức của tư duy và ông đã giải quyết vấn đề này có hệ thống hơn Vì vậy mà “lôgic học của Arixtôt là nhu cầu, là sự tìm tòi tiếp cận đến lôgic học Hêghen” [14, 326]
Có thể thấy, Arixtôt là người kết thúc một chặng đường phát triển xác định của tư tư ng triết học Hy Lạp Cổ đại Từ việc đi tìm bản nguyên thế giới các nhà triết học đã đồng nhất tư duy với tồn tại B i vậy các hình thức tư duy ban đầu cũng là hình thức của tồn tại, hình thức đó chưa ghi lại sự khác biệt bên trong của sự vật mà chỉ là sự khác nhau thuần túy về lượng Về cơ bản, giai đoạn lịch
sử này nhận thức mới chỉ đạt đến mức độ tìm kiếm những khái niệm chung, có sẵn, là sự khái quát dựa trên những thuộc tính chung giống nhau từ các đối tượng cảm tính mà không phải dựa trên những thuộc tính bản chất bên trong của đối tượng Các khái niệm là “kết quả của trực giác trực tiếp chưa được chứng minh
về mặt chi tiết” [19, 491], b i lẽ đây là thời k mà sự phát triển của triết học trùng với những hiểu biết trực quan, đơn giản, ngây thơ về thế giới - thời k mà
Trang 21“đối tượng của triết học trùng hoàn toàn với đối tượng của tư duy nói chung”, cho nên những tri thức về thế giới chỉ dừng lại tính chất ngây thơ, mộc mạc, sơ khai với cái nhìn trực quan cảm tính Tuy nhiên với cái nhìn ấy “tư duy biện chứng đã xuất hiện với tính chất ngây thơ, thuần phát tự nhiên của nó, chưa bị khuấy đục b i những tr ngại mà chính chủ nghĩa duy vật siêu hình… đã tự tạo
ra cho mình và dùng để ngăn chặn con đường của mình tiến từ sự hiểu biết cá biệt đến sự hiểu biết cái toàn thể, đến sự thấu suốt mối liên hệ phổ biến của sự vật” [19, 491]
Sang thời Cận đại, lịch sử phương Tây bước sang một trang mới với những tiến bộ về xã hội cũng như khoa học kỹ thuật Thực tiễn lịch sử đã đặt ra những vấn đề mới cho tư duy và nhận thức của nhân loại Sự phát triển của khoa học với những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực đã chứng minh sức mạnh của con người Trong bối cảnh đó các nhà khoa học đều đi sâu phân tích mổ xẻ thế giới với mong muốn nhận thức chi tiết tỉ mỉ về thế giới Bản thân các nhà khoa học cũng ý thức được việc phải trang bị cho mình những phương pháp cụ thể làm bệ đỡ cho nhận thức Thêm vào đó là triết học thời k này bắt đầu đảm nhận nhiệm vụ vạch ra những quy luật của tư duy mà nhờ đó lý tính của con người có thể nhận thức được tự nhiên, xã hội và tư duy, “nhiều nhà tư tư ng đã ý thức được sự cần thiết phải xây dựng được một triết học thực tiễn, nhờ đó con người hiểu biết sức mạnh… của tất cả các sự vật khác xung quanh ta cũng như công việc của những người thợ thủ công, bằng cách đó chúng ta có thể sử dụng nó trong hoạt động của mình, đồng thời biến thành chủ nhân và chúa tể của giới tự nhiên” [42, 247]
Mặc dù đã cố gắng phát triển những quan điểm duy vật thời Cổ đại nhưng các nhà duy vật thời Cận đại cũng chưa thoát khỏi tính trực quan, kinh nghiệm trong những suy tư của mình Những thành tựu khoa học tự nhiên đã đưa các nhà triết học đến với hiện thực khoa học, nhưng nó cũng ảnh hư ng
Trang 22không nhỏ đến lối tư duy của các nhà triết học thời k này là tạo ra và củng cố lối tư duy siêu hình Các nhà triết học Cận đại đã hướng đến thực tiễn, coi đó
là đối tượng của nhận thức, và là cơ s cho việc giải quyết các vấn đề triết học của mình Tuy nhiên, đó không phải là thực tiễn lao động sản xuất mà là thực tiễn thực nghiệm khoa học
Điều này thể hiện trước tiên trong toàn bộ hệ thống triết học của ông tổ chủ nghĩa duy vật Anh là Ph Bêcơn Bêcơn đã lấy vật chất làm nền tảng và nguyên tắc triết học căn bản của mình Ông cho rằng để giải thích tính muôn màu muôn vẻ của thế giới chỉ cần vật chất là đủ, vật chất là tính thứ nhất của thế giới đa dạng, luôn vận động và tạo nên các cấu trúc hay các vật thể khác nhau có hình dạng xác định Vật chất gắn liền với hình dạng, không có vật chất phi hình dạng Hình dạng là bản thân sự vật, là bản chất hoàn toàn khách quan của sự vật
Từ đây ông phân chia vật chất thành các nhóm khác nhau, tương ứng với đó là các hình dạng cũng được phân chia thành những nhóm tương ứng với trình độ cấu trúc của chúng Các hình dạng riêng tương ứng với các sự vật cảm tính Vật chất có cấu trúc phức tạp sẽ tương ứng với hình dạng chung, hay theo cách gọi của Bêcơn là “hình dạng lớn” Hình dạng chung là tổng số các hình dạng riêng nên muốn tìm được hình dạng chung cần xuất phát từ các hình dạng riêng Có thể nói Bêcơn đã dao động giữa hai lập trường Một mặt ông coi hình dạng là bản chất bên trong quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật, mặt khác hình dạng là khái niệm chung, diễn tả đặc tính của sự vật Như vậy, hình dạng hay hình thức của sự vật Bêcơn là hình thức vật chất nhưng chưa có nội dung hiện thực, đó chỉ là dạng hình thức khô cứng, hình thức đó chỉ vận động theo sự vận động cơ học của sự vật, chưa đạt đến “vận động xã hội” Bêcơn mới chỉ nghiên cứu sự vật trong khoa học, trong lát cắt “tĩnh” mà chưa đặt sự vật trong tính hiện thực của nó, gạt ra ngoài tất cả sự phong phú, đa dạng, tính muôn màu muôn vẻ của nó, cô lập nó trong một trạng thái mà không thấy sự vận động chuyển hóa
Trang 23của nó Do vậy các hình thức của hiện thực ấy cũng khô cứng và bị bó hẹp trong khuôn khổ của thực tế khoa học thực nghiệm
Những hạn chế của Bêcơn được Hôpxơ và Lôccơ tiếp tục giải quyết, tuy nhiên họ cũng không thể thoát khỏi những hạn chế của lịch sử đương thời Mặc
dù đã hiểu được thế giới tồn tại khách quan không phải do Chúa sáng tạo ra nhưng Hôpxơ lại cho rằng trong thế giới chỉ tồn tại các sự vật đơn lẻ, mọi khái niệm thực ra cũng chỉ là tên gọi của chúng Ông đã tách cái riêng ra khỏi cái chung, tuyệt đối hóa nó trong trí tuệ rồi quy nó về các khái niệm, phạm trù Do
đó các khái niệm hoàn toàn không có nội dung hiện thực mà hoàn toàn trống rỗng Đối với ông “giữa tên gọi và sự vật chẳng có sự giống nhau nào cả” [42, 232], hình thức tư duy cũng chỉ là những hình thức ngôn từ hay những ký hiệu khác nhau của đối tượng, chỉ thuần túy là hình thức bên ngoài Sau này Lôccơ cũng dừng lại điểm này
Là những người đi sau, Đềcactơ và Xpinôda đã cố gắng giải quyết những vấn đề mà những người đi trước chưa làm được Nhưng ngay cả phương pháp luận toán học của Đềcactơ cũng không thể giúp ông thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn mà các nhà triết học trước đó đã rơi vào Với phương thức kiến giải hiện thực khách quan một cách hình học trừu tượng, Đềcactơ cũng đứng trước nhiều khó khăn to lớn Khó khăn đó xuất phát từ việc kiến giải mối quan hệ giữa tri thức và đối tượng, ông băn khoăn không biết giữa tri thức và đối tượng có cái gì
là điểm chung hay không, thế giới bên trong tư duy và thế giới bên ngoài có tương đồng với nhau hay không? Phải tìm đâu ra cái điểm chung để gắn kết chúng lại với nhau? Đềcactơ thấy rằng “nếu sự tồn tại của các sự vật được xác định thông qua quảng tính và các hình thức không gian - hình học của các sự vật
là những hình thức duy nhất khách quan của sự tồn tại của chúng ngoài chủ thể, thì tư duy lại khộng thể được vạch ra thông qua sự mô tả của chúng trong hình thức không gian Đặc trưng không gian của tư tư ng hoàn toàn không có bất k
Trang 24mối quan hệ nào với bản chất đặc thù của nó” [11, 43] Từ đã ông đi đến kết luận
tư duy và quảng tính là hai thực thể tách rời nhau, tồn tại hai thế giới khác biệt, một là thế giới các sự vật quảng tính và một nữa là thế giới các sự vật trong tư duy Kết luận này đã đẩy Đềcactơ vào khó khăn khi muốn tìm dấu hiệu chung giữa hai thế giới này, như vậy thì làm sao có thể suy lý một cách hợp lý từ tư duy đến tồn tại Đây chính là vấn đề lớn đặt ra cho Đềcactơ, và ông không còn cách nào khác là phải nhờ đến một “thế lực thứ ba” là Chúa Chúa là hoàn hảo, là mắt khâu trung gian liên kết giữa tư duy và quảng tính
Việc áp dụng phương pháp toán học vào nghiên cứu tự nhiên đã tạo đà cho sự phát triển mạnh của khoa học thế kỷ XVII - XVIII nhưng nó lại bất lực khi nghiên cứu hình thức vận động cao nhất của vật chất là vận động xã hội, tư duy và nhận thức của con người Cuối cùng thì tư duy cũng chỉ là năng lực tâm
lý chủ quan của cá nhân con người, hoạt động nhờ bộ não và được hiện thực hóa nhờ từ ngữ, hiện thực khách quan vẫn “nằm ngoài tầm với” của tư duy, tư duy không thể hòa nhập vào thực tiễn xã hội, mà bó mình trong thực tiễn của khoa học thực nghiệm Do đó, mọi vận động, biến đổi của thực tiễn xã hội vẫn không thể được hiện thực hóa trong các hình thức của tư duy Những hình thức như khái niệm, phạm trù cũng chỉ là những hình thức “trần trụi”, không có nội dung hiện thực và chỉ là hình thức của ngôn từ
Sau này Xpinôda đã có những kiến giải khác hơn so với Ph Bêcơn và Đềcactơ Mặc dù chịu ảnh hư ng nhiều của triết học Đềcactơ nhưng ông không
đi theo con đường của bậc tiền bối Ông cũng “hoàn toàn xa lạ với phương hướng phổ biến hóa trực tiếp những hình thức và phương pháp tư duy riêng rẽ chỉ thích hợp trong khuôn khổ của khoa học tự nhiên toán - cơ” [11, 51] Xpinôda cũng “gần như là người duy nhất trong số các nhà tư tư ng vĩ đại kỷ nguyên trước C Mác đã kết hợp những hình mẫu tư tư ng biện chứng sâu sắc với nguyên tắc duy vật được dẫn dắt một cách nhất quán trong cách hiểu tư duy
Trang 25và mối quan hệ của nó với thế giới bên ngoài - trong không gian ngoài cái đầu bên ngoài con người” [11, 52]
Khắc phục quan điểm nhị nguyên luận của Đềcactơ, Xpinôda khẳng định
tư duy và quảng tính không phải là hai thực thể độc lập mà là hai thuộc tính của một thực thể Hai thuộc tính này không phải là của Chúa hay Thượng đế mà là thuộc tính của giới tự nhiên, thế giới hiện thực vô tận trải dài trong không gian Thông qua con người mà giới tự nhiên thực hiện r nhất hành vi tư duy của mình Xpinôda đã tiến gần đến cách hiểu biện chứng về tư duy Tư duy gắn liền với hiện thực - hiện thực được biểu hiện mình trong tư tư ng Đây chính là điểm
mà Xpinôda đã vượt qua được các vị tiền bối của mình
Mặc dù Xpinôda đã khảo sát tư duy và quảng tính như những mặt đối lập nhau của một thực thể và là “cách đo” hai hình thức của một nội dung, nhưng chóng chưa tr thành những mặt mâu thuẫn thực sự, chưa tr thành động lực của
sự phát triển Do vậy, bản chất của sự vật là bất động, cứng đờ, không phát triển Tương ứng với điều đó thì tư duy và quảng tính vẫn chỉ là những đặc điểm khác biệt bề ngoài của sự vật Tư duy về hình thức là mang tính khách quan nhưng nó vẫn dừng lại tư duy cá nhân trừu tượng Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, và hoàn toàn bị động, chịu sự tác động của giới tự nhiên Con người tách
ra khỏi các mối quan hệ xã hội và hoàn toàn bị cô lập với các hoạt động lịch sử
xã hội Giới tự nhiên chỉ “tồn tại tự nó” - tồn tại như nó vốn có, tồn tại có trước lịch sử loài người Và tư duy vận động trong giới hạn chật hẹp của tự nhiên với những điều kiện có sẵn
Sau một thời k dài bị bao bọc b i vỏ bọc của thần học Thiên chúa giáo trong đêm dài Trung cổ, triết học Hy Lạp cổ đại đã bị biến hình, phép biện chứng ngây thơ, chất phát đã tr thành thứ triết học kinh viện, giáo điều Phải đến thế
kỷ XVI - XVIII với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên và những thành
Trang 26tựu rực rỡ của nó triết học Hy Lạp cổ đại mới trút bỏ được vỏ bọc thần bí của thần học và được khôi phục lại trên cơ s cao hơn
Triết học phương Tây Cận đại đã xây dựng được một bộ máy hình thức cho tư duy khoa học và phần nào giải quyết triệt để hơn vấn đề mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tư duy Triết học đã không ngừng đặt ra những nhiệm
vụ cho tư duy là phải thường xuyên bám sát đối tượng trong tính hiện thực và trong từng giai đoạn phát triển Song do bị chi phối b i lối đi chung của thời đại nên các nhà triết học Cận đại vẫn không thể thoát ra khỏi lối tư duy siêu hình Chính vì vậy mà họ không thể thấy được các mối liên hệ qua lại lẫn nhau giữa các sự vật, giữa tự nhiên và xã hội Đồng thời cũng không thấy được sự vận động, phát triển liên tục của hiện thực khách quan bên ngoài, thế giới hiện thực đây chỉ dừng lại trong các hoạt động khoa học thực nghiệm khảo sát các hình thức vận động cơ học B i vậy nên tư duy chỉ phản ánh hiện thực một cách bị động, cứng đờ, còn hình thức chỉ là hình thức trống rỗng, ghi lại sự khác nhau bề ngoài của sự vật
Mặc dù vậy, triết học Cận đại đã đạt đến cách hiểu sự khác biệt giữa các đối tượng, và phần nào sự khác biệt ngay trong chính bản thân đối tượng, “chẳng hạn chất vô cơ khác chất hữu cơ không đơn giản là về hình thức mà còn về cả cấu trúc và thành phần hóa học… Nói cách khác hình thức của chất hữu cơ cũng như chất vô cơ được thiết định b i nội dung vật chất của nó” [37, 43] Công bằng mà nói, triết học thế kỷ XVI - XVIII đã tạo nên tiền đề chuẩn bị cho phép biện chứng cổ điển Đức ra đời Phải đến triết học Cổ điển Đức, với việc đưa phép biện chứng vào trong quá trình nhận thức như một phương pháp tư duy khoa học thì nhân loại mới có cái nhìn biện chứng lên giới tự nhiên, xã hội và tư duy Từ đó mới thực sự thấy được sự vận động biến đổi, chuyển hóa của hiện thực khách quan cũng như của tư duy con người Tình hình đó phần nào được
Trang 27ghi lại trong những hình thức của tư duy những “vòng khâu chuyển hóa” và tại những “điểm nút” của sự phát triển
1.2 Qua iệm v “ ội u g” và “ ì t ứ ” tr g triết Cổ iể
Đứ
Những thành tựu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX mà đỉnh cao là cách mạng công nghiệp Anh đã khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới khách quan Hiện thực lịch sử đó ngày càng đặt ra cho nhận thức và tư duy nhiều vấn đề mới mẻ Nhận thức con người thường xuyên phản ánh sự vận động, phát triển của thế giới đồng thời chiêm nghiệm chính mình bằng năng lực phản tư thực sự Thêm vào đó, những thành tựu của khoa học nhất là khoa học tự nhiên ngày càng chứng tỏ hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình đã thống trị trong tư tư ng triết học Tây
Âu ngay trước đó Đồng thời, hệ thống triết học thế kỷ XVII (với các đại biểu như Đềcactơ, Xpinôda, Lépnit…) đã từng đóng vai trò to lớn trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hóa tri thức con người đã không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của thực tiễn và bất lực trong việc giải quyết thỏa đáng các vấn đề của thực tiễn xã hội đang diễn ra trong những thập niên cuối của thế
kỷ này Vấn đề đặt ra là phải thay đổi cách nhìn về thực tiễn đang chuyển biến hàng ngày hàng giờ Đặc biệt là sự biến đổi của thực tiễn lao động sản xuất làm cho đời sống kinh tế xã hội phương Tây có không ít biến động Bối cảnh đó đòi hỏi tư duy triết học phải không ngừng vận động phản ánh thực tiễn lịch sử xã hội trên cơ s phủ định biện chứng những giai đoạn trước nhằm vạch ra kết cấu ban đầu trong lòng những yếu tố mới Khảo cứu sự vận động của thực tiễn cũng chính là cách tiếp tục phát triển các quan niệm về nội dung và hình thức, trong
đó có quan niệm về "hình thức chuyển hóa"
Thực ra trong suốt chiều dài lịch sử từ triết học Cổ đại đến Cận đại vấn đề này đã không ngừng được đặt ra và giải quyết theo những phương thức khác
Trang 28nhau Tuy nhiên do những hạn chế về mặt khách quan mà toàn bộ triết học trước
đó vẫn chưa nêu được một quan niệm đầy đủ về vấn đề, cùng lắm cũng chỉ mới nêu ra một số tiền đề, điều kiện để triết học Cổ điển Đức tạo nên một bước nhảy vọt về chất Bước nhảy đó tập trung việc đưa phép biện chứng vào trong nhận thức như là một phương pháp khoa học, mang lại cho con người cách nhìn mới
về thế giới, đồng thời nâng khối tri thức triết học lên một tầm cao mới Vậy nên sau này “trong lĩnh vực lôgic học chữ hoa nhân loại chịu ơn rất nhiều triết học
Cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, quá trình đáng kinh ngạc về tốc
độ phát triển chín muồi tinh thần được đánh dấu b i những tên tuổi Kant, Phictơ, Sellinh, Hêghen” [11, 108] Triết học Cổ điển Đức đã xây dựng được một phương pháp nhận thức mang lại hiệu quả cao trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến thực tiễn lịch sử xã hội loài người Từ đây hiện thực được nhận thức dưới một cách nhìn đa chiều hơn, đồng thời sự vận động và phát triển của thực tiễn đã được ghi lại những vòng khâu chính yếu nhất của sự phát triển Tư duy cũng từ đó mà chủ động sáng tạo trong việc “đồng hành” cùng sự vận động của hiện thực, và tại những thời điểm chuyển mình quan trọng của hiện thực thì các điểm đặc trưng của nó còng không ngừng được ghi lại trong những khái niệm, phạm trù xác định Điều này còn liên quan tới những hiểu biết ban đầu về
“hình thức chuyển hóa”
Kant là người đầu tiên bắt tay vào việc khắc phục những hạn chế của thời trước trong việc kiến giải mối quan hệ giữa vật chất và hình thức Tuy nhiên, đây thực sự không phải là một công việc dễ dàng, b i lẽ xung quanh vấn đề này có quá nhiều những “bức tường” mà Kant phải vượt qua Trước hết Kant đã nhận thấy những khó khăn và điểm dừng của chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy
lý trước đó Chủ nghĩa kinh nghiệm với luận đề nổi tiếng của J Lôccơ “không có
gì có trong giác tính nếu trước đó không có trong giác quan” đã quy mọi nhận thức vào kinh nghiệm bên trong hoặc bên ngoài, phủ nhận mọi nhận thức thoát
Trang 29ly khỏi kinh nghiệm Các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa cho rằng nội dung cảm tính
và chất liệu kinh nghiệm là nguồn gốc của các khái niệm, phạm trù Kant đã nghi ngờ điểm này của phái duy kinh nghiệm, ông đặt ra câu hỏi liệu rằng có hay không những khái quát chỉ rút ra trên cơ s kinh nghiệm rời rạc đối với khách thể đã cho, những khái niệm rút ra từ đó có đảm bảo là bộ công cụ cho khoa học,
và những khái niệm đó có chứa đựng những dấu hiệu đặc trưng, bản chất của đối tượng mà sẽ không bị phủ định b i những dữ kiện cảm tính mới nảy sinh hay không? Ngược với quan điểm của phái duy kinh nghiệm, phái duy lý lại cho rằng kinh nghiệm cảm tính không có vai trò gì đối với nhận thức, không thể là cơ s
và ranh giới cuối cùng của nhận thức Chỉ có lý tính mới khắc phục được những hỗn loạn, hời hợt của kinh nghiệm để đi tới chân lý Thấy được điều này, Kant
đã không khinh miệt hay k thị những vấn đề mà những người đi trước đã đặt ra, ông không tham gia cuộc tranh cãi này bằng cách không đứng về phía nào cả Chính những xung đột mâu thuẫn của hai trường phái này đã đưa Kant đến đặt vấn đề theo một hướng khác
Kant đã tìm ra một phương cách mới là thiết lập “một tòa án” để phán xét công minh “cuộc chiến bất phân thắng bại” đang diễn ra Công việc của tòa án này là phê phán lý tính thuần túy, tức là “phê phán quan năng lý tính nói chung đối với tất cả mọi nhận thức muốn vươn tới độc lập với kinh nghiệm” [12, 8] Trên con đường mới này, Kant đã ủng hộ quan điểm của D Hium khi cho rằng các phạm trù không có nguồn gốc từ bên ngoài mà có nguồn gốc từ trong lý tính con người Các phạm trù là các hình thức phổ biến và là phương thức gắn kết các biểu tượng khác nhau, đảm bảo sự thống nhất chúng trong đa dạng Phạm trù của Kant là những hình thức có sẵn trong đầu, không có nội dung hiện thực, tự nó đã
có sẵn tính phổ biến và tất yếu trong tư duy, chứ không phải phổ biến trong đối tượng hiện thực “Phạm trù là những hình thức hoạt động phổ biến của chủ thể
mà nhờ chúng những kinh nghiệm cảm tính liên kết để tr thành có thể, tức là
Trang 30những trực quan gián đoạn, đứt quãng được ghi lại dưới dạng tri thức” [11, 130] Phạm trù là điều kiện của tính có thể của kinh nghiệm cảm tính và vì thế được ứng dụng “tiên nghiệm” đến tất cả các đối tượng kinh nghiệm vì “chúng ta không thể suy nghĩ về các đối tượng một cách khác ngoài nhờ đến phạm trù” Các phạm trù của Kant là những sơ đồ lôgic thuần túy của hoạt động trí tuệ gắn kết những dữ liệu kinh nghiệm cảm tính thành những khái niệm, phán đoán mang tính khách quan Bản thân phạm trù là trống rỗng, không có nội dung hiện thực, không có hình mẫu của các sự vật cảm tính Phạm trù chỉ là những đặc trưng của tư tư ng, không chịu ảnh hư ng gì của các sự vật tồn tại thực B i vậy các phạm trù hoàn toàn không tính đến chuyện các sự việc ngoài thế giới kinh nghiệm diễn ra như thế nào
Thế nhưng với phương châm “tư tư ng không có nội dung thì trống rỗng, trực quan không có khái niệm thì mù quáng” [12, 200], Kant đã cố gắng để liên kết các khái niệm, phạm trù với nội dung hiện thực Tuy nhiên, Kant lại không thể vượt qua được “vật tự nó” do chính ông đặt ra Đối với Kant nhận thức của chúng ta chỉ dừng lại thế giới các hiện tượng và không thể đạt được đến bản chất của đối tượng Bản chất của thế giới là “vật tự nó” mà lý tính con người thì không thể bước qua đó được Ông đã tìm chất liệu đó từ trong hoạt động trực quan thuần túy, hoạt động đó mang lại chất liệu cảm tính cho các phạm trù theo quy luật không gian - thời gian Không gian, thời gian được Kant lý giải là hai
mô thức của trực quan cảm tính, nó là hình thức đã bị tước đi tính khách quan,
nó không phải là hình thức của tồn tại bên ngoài sự vật Nó là những mô thức thuần túy của tư duy Không gian, thời gian không phải là những khái niệm được rút ra từ những kinh nghiệm bên ngoài, không phải là vốn có của sự vật mà đã tồn tại tiên nghiệm và là cơ s cho mọi trực quan bên ngoài một cách tất yếu Kant đã xem xét không gian và thời gian không phải là hính thức của thế giới bên ngoài mà là hình thức thuần túy của tư duy đã bị tước hết nội dung cảm tính
Trang 31Đó là những hình thức của trí tuệ con người làm nhiệm vụ sắp xếp những tài liệu cảm tính Giờ đây, giác tính không phải là quá trình trực quan thụ động mà nó chủ động xử lý các chất liệu của cảm giác và tri giác theo quy luật không gian - thời gian Đến đây, có thể thấy Kant đã cố gắng khắc phục những hạn chế của triết học trước đó Phần nào ông đã làm được điều đó khi tìm nội dung cho các khái niệm, phạm trù từ trong cảm tính và lý tính Có thể thấy hình thức và nội dung Kant đã có sự phân tách, một mặt nó được bổ sung chất liệu cảm tính, mặt khác nó lại có nguồn gốc từ trong giác tính Tuy nhiên, đó chỉ là những hình thức hình thức, hình thức chưa đạt đến sự chuyển hóa biện chứng để gắn với nội dung hiện thực xác định Hình thức của Kant vẫn không thể vươn mình tới hiện thực, nó chỉ “tắm mình” trong những chất liệu mà tư duy mang lại, nó vẫn chưa thể hòa mình vào thực tiễn đang vận động biến đổi bên ngoài, nó chưa thể vượt qua cánh cửa “vật tự nó” để được tự do tắm mình trong hiện thực
Sau Kant, Phichtơ kiên quyết gạt bỏ “vật tự nó” của Kant vì trong chính khái niệm này đã chứa đựng những mâu thuẫn tư ng chừng như không thể giải quyết được Khi thừa nhận khái niệm “vật tự nó” tức là thừa nhận sự vật tồn tại trước và ngoài kinh nghiệm Khái niệm như vậy không thể có về mặt lôgic nên không thể coi là nền tảng cho sự phát triển của toàn bộ hệ thống vì nó chứa đựng những mâu thuẫn có thể bùng phát làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống Do đó Phichtơ kiên quyết gạt bỏ khái niệm “vật tự nó” của Kant nhưng ngay sau đó ông gặp ngay phải một vấn đề là tư duy lấy nội dung từ đâu? Phichtơ không tìm nội dung đó đâu khác mà ngay trong chính tư duy Ở Phichtơ tất cả đều xuất phát
từ “cái tôi”, từ hành vi “tôi tư duy” Việc Phichtơ tìm một nguồn gốc chung của nhận thức đã phá bỏ “hai nhánh nhận thức” và nhị nguyên luận nhận thức Kant Nếu như Kant quy hình thức về lĩnh vực giác tính, còn nội dung về lĩnh vực cảm tính thì Phichtơ cho rằng cả nội dung và hình thức của nhận thức đều sinh ra từ hoạt động của trực giác trí tuệ Đối tượng và khái niệm như là hai hình
Trang 32thức khác nhau của một và chính một cái tôi, như là kết quả của sự phân đôi cái tôi Ở Phichtơ “đã có sự đồng nhất ban đầu của khái niệm và đối tượng, chính xác hơn là quy luật mà theo đó thế giới trực quan cảm tính được xây dựng, và các quy luật theo đó thế giới tư tư ng, thế giới khái niệm được xây dựng, đã chứa đựng trong sự đồng nhất của chủ thể” [11, 163] Tiếp theo Phichtơ phải đi tìm cội nguồn của “cái tôi”, và đây ông gặp ngay vấn đề kh i điểm vì muốn nghiên cứu mọi cội nguồn thì phải tìm ra nguyên lý kh i điểm của sự vận động
đó Kh i điểm của Phichtơ chính là hoạt động ý thức biểu hiện ra trong hành vi
“tôi tư duy” Trước tiên từ hành vi “tôi tư duy” sản sinh ra “cái tôi” đó là một thời đoạn của hoạt động trí tuệ của chủ thể mà nhờ đó cá nhân tạo ra hiện thực của riêng mình hay chính là “sự phản tư chính mình” “Cái tôi” nhất thiết giả định chính mình, giả định sự tồn tại của mình Hoạt động thuần túy của chủ thể
đi kèm với những hoạt động khác, tuy nhiên chủ thể không thể suy nghĩ về bất
k điều gì khác nếu không suy nghĩ về chính mình Điểm đồng nhất của cái tôi với kết quả hoạt động của nó thể hiện bằng công thức “tôi là tôi” - đó chính là sự
tự ý thức Hành vi tự ý thức chính là cái mà đó hành động và kết quả, chủ thể
và khách thể là một, “mọi ý thức có thể có - với tư cách là khách thể của một chủ thể nào đó đều giả định một ý thức trực tiếp mà đó chủ thể và khách thể tuyệt nhiên chỉ là một Nếu không ý thức sẽ tuyệt đối không thể đạt được Người ta tìm kiếm không mệt mỏi các mối liên hệ giữa chủ thể và khách thể, và sẽ tìm kiếm một cách uổng công nếu không đạt tới chúng một cách trực tiếp trong sự thống nhất kh i thủy của chúng… ý thức trực tiếp này là trực quan về cái tôi vừa mới được mô tả, đó cái tôi phải tất yếu giả định chính mình, do vậy chủ thể và khách thể là một nó” [trích theo 38, 164-165] Đây chính là nguyên lý xuất phát của toàn bộ hệ thống triết học Phichtơ - sự đồng nhất của “cái tôi”, sự đồng nhất không phải có sẵn mà là sự đồng nhất trong quá trình
Trang 33Tiếp theo, Phichtơ phân tích hoạt động của "cái tôi" sáng tạo ra hiện thực
Từ hành vi “tôi tư duy” ông tách ra yếu tố phủ định "cái tôi" trong sự vận hành của chính mình "Cái tôi" mà lúc đầu là hoạt động sản sinh chính mình (tôi là tôi) được xem như là cái gì đó tích cực, sáng tạo thì ngay trong chính mình đã chứa đựng tính tất yếu của mình biến thành cái khác - cái “không phải tôi” Nói cách khác "cái tôi" luôn đụng phải sự hiện hữu của cái “không phải tôi” Cái “không phải tôi” được xác định như toàn bộ hiện thực vì vậy nó luôn đối lập với "cái tôi" Hoạt động xác định của "cái tôi" là quá trình có ý thức và ý thức nói chung được thực hiện khi chủ thể luôn giả định mặt đối lập của chính mình - tức là tồn tại khác của nó hay đó chính là “không phải tôi” Như vậy, tư duy tìm thấy hoạt động của mình từ trong hiện thực và trong chính mình Phichtơ đã tách biệt hai mặt đối lập của quá trình tư duy, tư tư ng này đã tiến gần đến quan niệm biện chứng về tư duy
Tuy nhiên, sau khi phân tách hai mặt đối lập của tư duy thì Phichtơ phải đi tìm mối liên hệ giữa chúng Trên thực tế "cái tôi" hoạt động giả định cái đối lập với mình - cái “không phải tôi”, vậy thì bằng cách nào để chúng hoạt động hướng vào nhau mà không thủ tiêu lẫn nhau Một câu hỏi lớn đặt ra cho Phichtơ
là: có thể kết hợp trong tư duy tồn tại và không tồn tại, thực tại và phủ định, làm
thế nào để chúng không phá hủy và tiêu diệt lẫn nhau? Phichtơ đã tìm thấy cơ s
cho sự thống nhất đó hoạt động của “cái tôi tuyệt đối” Cái “tôi tuyệt đối” như
là cơ s của hành vi “tôi tư duy” và là điều kiện tồn tại của ý thức nói chung Có thể thấy "cái tôi" trong triết học Phichtơ có tính hai mặt Một mặt nó là "cái tôi" kinh nghiệm hữu hạn đối diện với cái “không phải tôi” Mặt khác là “cái tôi tuyệt đối” - cơ s cho toàn bộ tư duy Tư duy là khâu trung gian để "cái tôi" và “không phải tôi” tác động lên nhau và thống nhất với nhau Sự thống nhất đó là thống nhất các mặt đối lập, được thực hiện trong “cái tôi tuyệt đối” Với cách đặt vấn
đề và giải quyết như vậy, ta thấy dường như hiện lên sự phân đôi của các hình
Trang 34thức là “cái tôi” Ở đó hình thức đã đi đến khám phá nội dung hiện thực, đồng thời hình thức đó luôn luôn vận động song hành cùng hiện thực ấy Nhưng hạn chế của Phichtơ cũng thể hiện khá r , hiện thực mà ông nói đến đây là hiện thực của của cá nhân con người chứ không phải hiện thực lịch sử xã hội đang vận động biến đổi bên ngoài Do đó, tư duy cũng chỉ luẩn quẩn trong giới hạn của những gì thuộc về cá nhân con người, và các hình thức cũng chỉ là hình thức hình thức, hình thức giản đơn của sự vật, chưa có một chút gì của hiện thực khách quan bên ngoài Hiện thực khách quan vẫn như là “vật tự nó” mà tư duy chỉ hướng đến mà không làm gì được
Những nỗ lực của Kant và Phichtơ đã dọn đường cho Sellinh bước tiếp Nối sau Phichtơ, Sellinh cố gắng khắc phục những hạn chế của những người đi trước Cũng giống như Phichtơ ông cũng mải mê phân tích các năng lực trí tuệ nhưng con đường ông đi không hoàn toàn giống Phichtơ, “Sellinh không chỉ chịu dung hòa với với luận đề về sự tồn tại hiện thực của thế giới bên ngoài mà còn xây dựng học thuyết nhận thức về nó” [11, 188 -189] Thật ra Sellinh cũng bắt đầu từ nơi mà Phichtơ bắt đầu, đó là “sự đối lập giữa chủ thể và khách thể cũng được ông kiến giải như là sự đối lập bên trong ý thức con người” [11, 191] Nhưng nếu như Phichtơ tìm sự đối lập đó trong "cái tôi" và chưa thể vươn ra được thế giới bên ngoài thì Sellinh nhận ra rằng đã đến lúc phải tìm ra “cái gốc chung” cho hai nửa sinh thể con người mà từ đó chúng lớn lên và có thể, “cả hai hình thức hoạt động của "cái tôi” đã đến lúc phải hiểu như hai nhánh mọc từ duy nhất một thân cây” [11, 196] Biết là không thể đi theo con đường của Phichtơ, Sellinh đã đòi hỏi một sự thống nhất tuyệt đối giữa vật chất và tinh thần, giữa khách quan và chủ quan Vì thế Sellinh đã m rộng hoạt động của "cái tôi" tuyệt đối ra khỏi phạm vi chủ thể cá biệt, m rộng không chỉ cho thế giới bên trong mà
cả thế giới tự nhiên bên ngoài
Trang 35Ngay từ đầu Sellinh đã dành một sự quan tâm cho giới tự nhiên và những hình thức của đời sống văn hóa xã hội truyền thống Sellinh lấy sự phát triển của
tự nhiên làm xuất phát điểm của tư duy Sự phát triển của tự nhiên đồng thời cũng là sự sinh thành của tinh thần Giới tự nhiên được xem “như một chỉnh thể, dưới dạng các quá trình năng động mà trong tiến trình của nó mỗi nấc thang hay giai đoạn kế tiếp lại phủ định giai đoạn trước đó, tức là sẽ chứa trong mình đặc trưng mới’ [11, 204] Tự nhiên được suy nghĩ như cái gì đó chỉnh thể vốn có từ ban đầu Cách xem xét này đã có từ rất sớm trong triết học Hy Lạp cổ đại, đặc biệt sau này Xpinôda Nhưng nếu Xpinôda tự nhiên hiện ra như là “thực thể - khách thể” thì Sellinh nó đã hiện ra như là “thực thể - chủ thể” Điều này cho thấy Sellinh vẫn rất trung thành với nguyên tắc của triết học cổ điển Đức, đó là tìm sự thống nhất của tự nhiên và tinh thần hoạt động của chủ thể
Sellinh coi sự phát triển của tự nhiên làm xuất phát điểm của tư duy, sự phát triển của tự nhiên đồng thời cũng là sự sinh thành và phát triển của tinh thần trạng thái vô thức của nó đến những hình thức tư duy siêu nghiệm cao nhất Thông qua sự phát triển này tự nhiên và tinh thần thể hiện ra như là sự thống
nhất các mặt đối lập - tự nhiên như tinh thần biểu hiện ra và tinh thần như tự
nhiên ẩn giấu Sự thống nhất không phải sự thống nhất xoay quanh vòng tròn
không khác biệt luôn là không tiến bộ, thiếu sức sống mà là sự đồng nhất năng động và sáng tạo” [38, 263] Sellinh tìm sự thống nhất đó “cái tuyệt đối” vốn được hiểu như là đấng tối cao sáng tạo ra tự nhiên và xã hội loài người, đồng thời là sự đồng nhất giữa tinh thần và vật chất, giữa chủ thể và khách thể Ông chia hoạt động của "cái tuyệt đối" thành ba giai đoạn, mỗi giai đoạn khác nhau tương ứng với sự phát triển của tự nhiên và tinh thần các trình độ khác nhau
Ở giai đoạn thứ nhất ông giải thích sự phát triển của giới tự nhiên thông qua những thành tựu khoa học mới nhất Giai đoạn này là giai đoạn hoạt động của tinh thần giới tự nhiên Ông tìm nguồn gốc sự phát triển của sự vật các
Trang 36lực đối cực trong từng vật thể Chính sự đấu tranh của chúng đảm bảo cho các vật thể tự nhiên cùng phát triển Ông áp dụng nguyên tắc này cho tất cả các hiện tượng thực tất cả các giai đoạn phát triển của chúng Đối với Sellinh sự phát triển của tự nhiên đồng thời cũng là sự sinh thành của tinh thần cho nên nguyên tắc đồng nhất cũng được áp dụng cho cả sự đối lập vật chất và tinh thần Sự tương tác giữa chúng có đặc điểm là giới tự nhiên vận động từ vô cơ đến ngày càng được tinh thần hóa hơn, còn tinh thần ngày càng tiến gần đến tự nhiên hơn Tuy nhiên, sự tinh thần hóa giới tự nhiên hữu cơ cũng chỉ dừng lại mức độ vô thức vì các hình thức mà nó hiện thực hóa không có tính phản tư Ngay cả con người với tư cách là sự phát triển cao nhất của tự nhiên cũng chỉ dừng lại trình
độ sinh học và kế thừa những đặc điểm mà động vật vốn có Như vậy, giới tự nhiên vẫn tồn tại tự nó, còn tinh thần chưa chiêm nghiệm được chính mình tức là chưa có sự phản tư Do đó tự nhiên được gọi là tinh thần hóa đá
Nếu như giai đoạn thứ nhất Sellinh nghiên cứu sự hình thành con người như sinh thể tự nhiên thì giai đoạn thứ hai Sellinh nghiên cứu sự hình thành con người như một sinh thể tinh thần Giai đoạn thứ hai này là giai đoạn phát triển của ý thức con người Cũng như Phichtơ, Sellinh cũng lấy "cái tôi" làm điểm xuất phát của triết học siêu nghiệm và lấy trực giác trí tuệ làm công cụ chủ yếu của tự ý thức Nhưng nếu Phichtơ cho rằng trực quan thuần túy phát triển độc lập với các điều kiện khách quan thì Sellinh “cái khách quan” (giới tự nhiên)
đã tr thành bộ phận không thể thiếu với tư cách là nguồn gốc của ý thức Điều
đó thể hiện trước tiên chỗ, ông tìm cho mỗi hiện tượng ý thức một hiện tượng tương ứng bên ngoài giới tự nhiên rồi sau đó vạch ra cơ s trí tuệ chung của chúng Sellinh khẳng định con người có thể tái tạo có ý thức mọi thứ diễn ra vô thức và trong tự nhiên Điều này cho phép ông kết luận cơ s của mọi hoạt động của con người và giới tự nhiên là những quy luật tự nhiên Sellinh đã tìm thấy nguồn gốc của ý thức từ tự nhiên và cố gắng tìm mối liên hệ giữa chúng Vì vậy,
Trang 37ông thiết lập sự đồng nhất giữa các hình thức tự nhiên và các cấu hình tư tư ng của ý thức Vậy nên trong triết học Sellinh tồn tại hai hệ thống khái niệm Hệ thống thứ nhất là những hình thức hoạt động chủ quan đặc thù người mà trong bất k tình huống nào cũng không thể gán cho tự nhiên tồn tại ngoài con người Ngược lại, hệ thống thứ hai cố gắng khám phá tính khách quan thuần túy được
nỗ lực làm sạch những gì mà hoạt động ý thức của con người mang vào cho khách thể tự nhiên Nếu phân định rạch ròi như vậy thì r ràng trong triết học tự nhiên và triết học siêu nghiệm không có một khái niệm nào được định nghĩa chung cả Nhưng Sellinh đã khẳng định trong bản thân các khái niệm đó đã có cả cái khách quan và chủ quan, nghĩa là các mặt đối lập đó đã có sự đồng nhất trực tiếp từ trước Mặc dù vậy Sellinh vẫn phủ định sự giao nhau giữa tự nhiên và triết học siêu nghiệm, đây là hai mặt đối lập, phủ định và không chuyển hóa cho nhau Vì thế không thể có cái thứ ba là cái chung của thế giới bên trong và bên ngoài ý thức Dù đã cố gắng nhưng Sellinh vẫn không thể tìm thấy sự chuyển hóa giữa cái khách quan và cái chủ quan, vì vậy mà không luận giải được sự vận động của hình thức vô hạn đến các sự vật hữu hạn một cách có nội dung, tất cả đều dừng lại hình thức bề ngoài Đối tượng bên ngoài và hình thức tinh thần con người không có sự giao cắt nhau
Sau khi xây dựng xong triết học tự nhiên và triết học siêu nghiệm trong đó các mặt đối lập bị phân tách một cách tuyệt đối, Sellinh nhận thấy tất yếu phải xét tới sự chuyển hóa của các mặt đối lập Ông thừa nhận các mặt đối lập chuyển hóa vào nhau Tuy nhiên, việc đó không thể thực hiện được trong tư duy khoa học và lôgic học b i các quy luật đồng nhất và phi mâu thuẫn là rào cản ngăn cấm điều này Ông đã tìm thấy cơ s của sự chuyển hóa đó trong hành vi sáng tạo, mà cụ thể là trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật với những “mẫn cảm sáng tạo”, những “linh cảm thẩm mỹ” Đó chính là đối tượng của triết học nghệ thuật
- giai đoạn phát triển thứ ba của "cái tuyệt đối" Sellinh lấy nghệ thuật làm trung
Trang 38gian để liên kết các mặt đối lập là sự sáng tạo của người nghệ sĩ và biểu hiện ra
ra của nó các tác phẩm nghệ thuật chân chính Những tác phẩm nghệ thuật đó
là sự thống nhất dạng hoàn bị nhất của nội dung và hình thức Nhưng sự thống nhất đó có được sau sự phân tách nội dung và hình thức, điều đó cũng có nghĩa
kh i điểm sáng tạo người nghệ sĩ đã thấy ngay cái chỉnh thể trọn vẹn nhưng lúc
đó anh ta chỉ sáng tạo ra từng bộ phận riêng lẻ Cái chỉnh thể đó là tiền đề cho mọi sự sáng tạo về sau của người nghệ sĩ và nó được tái tạo lại tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh nhất, đó cái chỉnh thể ấy đã có sự hài hòa hơn so với với chỉnh thể “thô ráp” ban đầu
Có thể thấy, đây Sellinh đã tiến gần đến tư tư ng về "hình thức chuyển hóa", hình thức ấy đã được xét đến trong nội dung hiện thực và đã có sự chuyển hóa qua các giai đoạn phát triển của sự vật Tuy nhiên, Sellinh vẫn chưa đạt đến quan điểm biện chứng trong chuyển hóa các mặt đối lập, vì không có sự “vượt bỏ” hiện thực khi chúng triển khai hoạt động có thể gắn kết nội dung với hình thức, vật chất với tinh thần Hoạt động đó chính là hoạt động thực tiễn lao động sản xuất vật chất của con người Vì vậy hình thức Sellinh cũng chỉ dừng lại hình thức hình thức mà thôi Mọi sự đối lập tư ng chừng như đã chấm dứt trong triết học Sellinh nhưng kết quả lại không như vậy, mà ngược lại phép biện chứng các mặt đối lập có phần nào đó tr nên thần bí hơn Điều này đã được Hêghen nắm bắt và triển khai trong hệ thống triết học của mình
Tiếp tục giải quyết vấn đề còn tồn tại Sellinh, Hêghen không ngần ngại bắt tay ngay vào nghiên cứu để tìm ra một con đường mới Ngay từ đầu ông đã kịch liệt phản đối Sellinh đã lấy tinh thần vô thức làm xuất phát điểm và làm yếu
tố quyết định của tư duy Ông cho rằng, Sellinh phải chuyển trọng tâm nghiên cứu khoa học từ triết học về nghệ thuật không phải vì khoa học không có đủ khả năng giải quyết các vấn đề triết học cao nhất mà do khoa học về tư duy chưa đủ phát triển Từ đây ông nỗ lực xây dựng triết học của mình thành khoa học nghiên
Trang 39cứu về tư duy Tư duy và quá trình vận động của nó tr thành đối tượng của triết học Hêghen Cơ s của việc phân tích tư duy Hêghen là nhận định về giới tự nhiên, xã hội và tinh thần như là những quá trình không ngừng vận động và phát triển Nhận định này đã thể hiện được hai nguyên lý của phép biện chứng là nguyên lý phát triển và nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Hêghen đã dựa vào nhận định này để chứng minh việc đạt tới chân lý của tư duy Hêghen đã vứt bỏ những “thành kiến cổ kính” về tư duy đã có từ trước đó Theo Hêghen tư duy không phải là quá trình suy lý chủ quan diễn ra bên trong với những sơ đồ có sẵn, tư duy còn bộc lộ mình trong những công việc hiện thực Hêghen đã xem xét các hình thức của sự vật được tạo ra bằng hoạt động của con người, đó là các hình thức hóa thân vào vật liệu, được cải biến trong chất liệu hoạt động của con người Hoạt động đó không chỉ nhờ bộ não mà còn nhờ đôi tay, không chỉ làm thay đổi tri giác cảm tính mà còn cả thế giới bên ngoài Chính vì thế hoạt động của tư duy mang tính khách quan, tương ứng với các quá trình đó thì toàn bộ lịch
sử loài người được bộc lộ ra ngoài sức mạnh tư tư ng như là quá trình hiện thực hóa các ý niệm, kế hoạch của con người Hêghen đã “tiến gần đến chủ nghĩa duy vật chân chính - thông minh, đến việc hiểu một điều là tất cả các hình thức lôgic
là các hình thức phổ biến được phản ánh vào ý thức con người và được kiểm chứng bằng lịch sử hàng ngàn năm phát triển của hiện thực ngoài tư duy” [11, 232] Các hình thức của tư duy không phải có được từ hoạt động của các cá nhân riêng lẻ mà từ hoạt động trí tuệ của cả tập thể, nó thuộc về lao động tinh thần
Hêghen hiểu lao động có tính hai mặt Một mặt con người hướng đến thế giới bên ngoài nhằm cải biến giới tự nhiên theo mục đích của mình Ở đây lý tính tác động trực tiếp đến giới tự nhiên thông qua các kế hoạch, mục đích chủ quan của con người Mặt khác trong khi hoạt động hướng đến tự nhiên thì tư duy phải chiêm nghiệm chính mình Tư duy lấy lao động làm cơ s không chỉ là cải biến các ý niệm theo nghĩa chủ quan mà là cải biến một cách đối tượng “Quá
Trang 40trình ấy bao chứa trong mình với tư cách là giai đoạn của mình cả hành vi hiện thực hóa tư duy trong vật thể, còn thông qua hành động trong các hình thức của các sự vật và các sự kiện ngoài ý thức” [11, 233] Khi phân tích tư duy, Hêghen
đã vạch ra hai trình độ phát triển của tư duy là “tư duy tự nó” và “tư duy cho nó”
S dĩ như vậy vì tư duy trước hết là hoạt động, là sự phủ định thường xuyên các hình thức hiện tồn, sự biến đổi vượt bỏ bằng những hình thức mới
“Tư duy tự nó” được hiểu là tư duy như nó biểu hiện ra trong thế giới hoạt động của con người, nó chưa ý thức được quy luật và sơ đồ hoạt động của mình
Nó thể hiện ra là hoạt động tinh thần thuần túy của toàn xã hội, tức là lao động trí óc của những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và khoa học
Tư duy lúc đầu được hiện thực hóa trong toàn bộ sự đa dạng bên ngoài mình Hình thức tư duy đó còn “chất đầy các chất liệu tư tư ng, hình mẫu và các quan niệm cảm tính được lọc bỏ trong chúng và theo đó đứng đối lập với tư duy
có ý thức như là hình thức của hiện thực bên ngoài” [11, 238] “Tư duy tự nó” được hiện thực hóa qua toàn bộ đối tượng văn hóa phong phú của con người, nó
là thuộc tính không tách rời của hoạt động con người, kể cả thế giới ngôn từ lẫn thế giới các sự vật Nói cách khác “tư duy và hình thức của tư duy không như các hình thức hoạt động của riêng nó mà như hình thức của sản phẩm, của tri thức cụ thể, của các hình mẫu và khái niệm của trực quan và các quan niệm như
là hình thức của công cụ lao động…” [11, 238-239] “Tư duy tự nó” được hiện thực hóa trong toàn bộ thế giới vật thể để tr thành toàn bộ hiện thực
“Tư duy cho nó” là “tư duy đã ý thức được các sơ đồ nguyên lý, các hình thức và quy luật của công việc riêng của mình và hoàn toàn có thể ý thức phù hợp với chúng, ý thức được đầy đủ r ràng chuyện nó làm gì và làm như thế nào” [11, 259] “Tư duy cho nó là tư duy phản tư, hướng vào nhận thức chính quá trình tư duy, là cái khách quan chuyển hóa vào cái chủ quan dưới hình thức các quy luật và bản chất tạo ra các phạm trù - hình thức văn hóa nhân loại phổ