Tư tưởng về nhân quả không phải do Đức Phật là người đầu tiên sáng tạo ra mà được kế thừa một cách chọn lọc từ truyền thống Ấn Độ và được Người trình bày như một quy luật nhân sinh trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ NGỌC HÀ
TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VỀ NHÂN QUẢ
VÀ MỘT SỐ Ý NGHĨA NHÂN VĂN CỦA NÓ
Chuyên ngành : Triết học
Mã số: 602280
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội – 2012
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: ĐH KHXHNV, ĐH Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Thị Thơ
Phản biện 1: GS TS Nguyễn Hùng Hậu
Phản biện 2: TS Phạm Quỳnh
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
khoa Triết học, ĐH KHXH NV, ĐH Quốc gia Hà Nội vào hồi 14h ngày 16 tháng 2 năm 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm thư viện Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 3Trang
1.1 Tiền đề tư tưởng Ấn Độ về vấn đề nhân quả trong thời kỳ cổ
1.2 Phật giáo Ấn Độ tiếp thu và phát triển nhân quả trên tinh
thần nhân văn mới
42
1.2.1 Nhân quả Phật giáo từ lập trường tôn giáo có tính vô thần 43 1.2.2 Nhân quả Phật giáo từ lập trường tôn giáo nhân văn 47
Chương2: Một số nội dung trong tư tưởng nhân quả Phật giáo và một
số ý nghĩa nhân văn của tư tưởng nhân quả Phật giáo
59
2.1 Một số khái niệm, phạm trù cơ bản trong tư tưởng nhân quả
Phật giáo
59
2.1.2 Các phạm trù cơ bản của tư tưởng nhân quả Phật giáo 62
2.2 Một số ý nghĩa nhân văn của tư tưởng nhân quả Phật giáo 75 2.2.1 Ý nghĩa của tư tưởng nhân quả Phật giáo từ góc độ tôn giáo 76 2.2.2 Một số ý nghĩa của tư tưởng nhân quả Phật giáo ở Việt Nam từ khía
cạnh văn hóa, giáo dục, nghệ thuật
79
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo là một trong các tôn giáo quan tâm nhiều đến cuộc đời con người hiện thực, hướng con người đến việc tự giải thoát mình để tự tìm hạnh phúc trong đó nhân quả là một trong những vấn đề tập trung nhiều ý nghĩa nhân sinh ảnh hưởng đến thực tiễn xã hội, lối sống một cách sinh động Tư tưởng về nhân quả không phải do Đức Phật
là người đầu tiên sáng tạo ra mà được kế thừa một cách chọn lọc từ truyền thống Ấn Độ
và được Người trình bày như một quy luật nhân sinh trong hệ thống giáo lý giải thoát vô thần, đầy đủ, rõ ràng và khúc chiết
Chính vì vậy nghiên cứu về tư tưởng nhân quả không bao giờ là muộn và cũng không bao giờ là thừa Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà cả thế giới loài người chúng ta đang phải cùng chung tay nỗ lực giải quyết những vấn đề chung cấp báchthì việc nghiên cứu vấn đề nhân quả càng giúp ích cho chúng ta trong việc nhìn nhận, đánh giá, giải quyết các vấn đề cá nhân cũng như xã hội
Du nhập vào Việt Nam vào khoảng đầu công nguyên, Phật giáo đã nhanh chóng được đón nhận vì giáo lý Phật giáo rất gần gũi với đời sống tâm lí, tình cảm của người Việt Nam Tư tưởng nhân quả của Phật giáo ngay từ đầu đã ăn sâu, bén rễ trong suy nghĩ, tình cảm người dân mọi tầng lớp
Sang thế kỉ 21 Việt Nam hòa cùng xu thế hội nhập với kinh tế thị trường của thế giới và đã có những bước phát triển nhanh và mạnh, tuy nhiên, không tránh khỏi nhiều hiện tượng xã hội tiêu cực và nhức nhối Đặc biệt phải kể đến là sự sa sút về đạo đức và lối sống của bộ phận không nhỏ người dân vì đồng tiền mà bất chấp cả luân thường đạo
lý và luật pháp, chạy theo lợi nhuận bằng nhiều thủ đoạn, người ta dường như không còn biết sợ trước những hậu quả xấu do mình gây ra Trong khi luật pháp được coi là sức mạnh trấn áp từ bên ngoài còn chưa hoàn thiện, còn nhiều kẽ hở và hiệu lực chưa cao thì vấn đề đặt ra là nên phát huy các hình thức tác động, răn đe từ bên trong ý thức mỗi người, mà vai trò cảnh báo, giáo dục ý thức tự giác và khơi gợi ý thức hướng thiện cho con người của nhân quả Phật giáo rất khả thi
Với tất cả những suy nghĩ trên tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Tư tưởng Phật giáo về nhân quả và một số ý nghĩa nhân văn của nó”
2 Tình hình nghiên cứu
Phật giáo nói chung và nhân quả Phật giáo nói riêng có sức thu hút đặc biệt đối với giới nghiên cứu khoa học xã hội và cả ngoài giới khoa học xã hội Tuy nhiên với mục đích là trình bày một cách có hệ thống tư tưởng nhân quả của Phật giáo trên cơ
sở đó chỉ ra một số ý nghĩa nhân văn của tư tưởng này dưới góc độ triết học Vì vậy tác giả luận văn này có tham khảo một số các tác phẩm, công trình nghiên cứu có liên
quan để phục vụ cho luận văn của mình theo 3 nhóm vấn đề cơ bản
- Về khái niệm nhân, quả trong lịch sử tư tưởng Ấn Độ thời kỳ cổ - trung đại có các nghiên cứu như: Lịch sử triết học Ấn Độ; Tìm hiểu sáu phái triết học Ấn Độ; Kinh
văn của các trường phái triết học Ấn Độ; Veda Upanisad những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ; Áo nghĩa thư
Trang 5
- Về tư tưởng nhân quả Phật giáo có các tác phẩm như: Nguyên thuỷ Phật giáo
tư tưởng luận và Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận; Lý thuyết nhân tính qua kinh
tạng Pali; Phật học khái; Nhân quả triết lý trung tâm Phật giáo
- Về các đánh giá ý nghĩa của nhân quả Phật giáo có các tác phẩm của các tác giả: Nhơn quả luân hồi; Triết lý về nghiệp; Luận về nhân quả; Nghiệp và kết quả;
Những câu chuyện về nhân quả; Lành dữ nghiệp báo; Nhân quả và số phận con người
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn là trình bày một cách có hệ thống tư tưởng nhân quả
của Phật giáo, từ đó rút ra một số ý nghĩa nhân văn của tư tưởng đó từ góc độ triết học
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Tiền đề tư tưởng Ấn Độ của nhân quả Phật giáo
+ Nội dung tư tưởng nhân quả của Phật giáo
+ Một số giá trị của tư tưởng nhân quả Phật giáo
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ giữa Tồn tại xã hội – Ý thức xã hội; tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đạo đức, giá trị nhân văn của tôn giáo; và đường lối chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học xã hội như phân tích, khái quát, so sánh, đối chiếu về lịch sử tư tưởng, kết hợp với các phương pháp liên ngành sử học, tôn giáo học, đạo đức học, văn hóa học
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng nhân quả của Phật giáo từ góc độ lịch
sử tư tưởng triết học trên cơ sở các tài liệu nghiên cứu cũng như kinh điển Phật giáo
về vấn đề nhân quả
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống lịch sử tư tưởng nhân quả của Phật Giáo từ góc độ lịch sử triết học, từ đó nêu bật một số giá trị nhân văn của nó
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần đánh giá lại tư tưởng nhân quả của Phật giáo từ góc độ lịch sử tư tưởng triết học
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn nghiên cứu và nêu bật một số giá trị nhân văn của tư tưởng nhân quả của Phật giáo
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Chương 1: Lịch sử tư tưởng Ấn Độ về vấn đề nhân quả
Trang 61.1 Tiền đề tư tưởng Ấn Độ về vấn đề nhân quả trong thời kỳ cổ - trung đại
1.2 Phật giáo Ấn Độ tiếp thu và phát triển nhân quả trên tinh thần nhân văn mới
Chương 2: Một số nôi dung trong tư tưởng nhân quả Phật giáo và một số ý nghĩa nhân văn của tư tưởng nhân quả Phật giáo
2.1 Một số khái niệm, phạm trù cơ bản trong tư tưởng nhân quả Phật giáo
2.2 Một số ý nghĩa nhân văn của tư tưởng nhân quả Phật giáo
Trang 7B NỘI DUNG Chương 1: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ VỀ VẤN ĐỀ NHÂN QUẢ
1.1 Tiền đề tư tưởng Ấn Độ về vấn đề nhân quả trong thời kỳ cổ - trung đại
1.1.1 Quan niệm nhân quả trong các trường phái chính thống của Ấn Độ
Trường phái amkhya và oga.
Về quan niệm nhân quả thì cả oga và Samkhya đều cho rằng sự hình thành, vận động của các sự vật trong vũ trụ là theo chiều hướng “nhân quả vô biệt” nghĩa là trong nguyên nhân đã có kết quả, trong kết quả đã có sự chuyển hóa của nguyên nhân
và lập thành thuyết Hữu quả luận
uan niệm trên chú trọng nhấn mạnh đến nhân quả, đặc biệt bàn khá chi tiết về biện chứng nhân-quả uả luôn có trong nhân, có nhân là sẽ có quả, kết quả luôn từ nguyên nhân nào đó, nhân và quả luôn đi liền với nhau, trong mối quan hệ mật thiết với nhau Tuy nhiên quả không phải là cái hiện hữu một cách sẵn có như vậy, cũng không phải chỉ nhìn là thấy, có sự vật là đã có quả Quá trình chuyển hóa nhân quả không đơn thuần như vậy, nó là quá trình phức tạp gồm nhiều giai đoạn, chịu ảnh hưởng tác động của nhiều yếu tố, đôi khi không phải cứ có nguyên nhân xuất hiện mà hình thành ngay ra kết quả Thậm chí cũng có khi có nguyên nhân đấy mà lại không tạo ra kết quả Vì nếu coi quả có trước, có sẵn trong nhân thì dường như thừa nhận tiền định Nếu như vậy thì không thể giải thích được sự thay đổi vô cùng phức tạp của quan hệ nhân quả
Trường phái imansa và Vedanta
Các nhà triết học của hai phái Mimansa và Vedanta đều thừa nhận vai trò của các đấng thần linh đặc biệt là của rahman trong việc chi phối thế giới Và cũng theo
đó thì tất cả các mối liên hệ nhân quả cũng đều chịu sự điều khiển của các thần Mọi
sự vật, mọi quá trình trong thế giới đều b t nguồn từ nguyên nhân đầu tiên là rahman và vận động, xoay chuyển trong vòng kiểm soát của rahman Con người với tư cách là một phần của vũ trụ cũng vậy Và nguyên nhân hay kết quả của sự hạnh phúc hay khổ đau nơi con người là do biết tuân theo hay do không nghe theo lời chỉ dạy của thần linh
Vaisesika và Nyaya
Điểm gặp nhau trong quan niệm về nhân quả ở hai trường phái trên là thừa nhận sự hình thành nhân quả do sự chi phối và biến đổi của các yếu tố bên trong Và quá trình chuyển hóa nhân quả cũng liên quan đến việc tạo nghiệp hay đoạn nghiệp nơi con người Tuy nhiên quan điểm của Vaisesika và Nyaya v n thuộc nhị nguyên, mang tính duy tâm, dựa theo những lời giáo thị trong kinh Veda Hơn thế nữa dù thừa nhận sự chuyển hóa nguyên nhân từ bên trong nhưng trong quan điểm của Vaisesika
Trang 8và Nyaya thì các yếu tố lại không bị chi phối bởi vô thường vì vậy nguyên nhân căn bản của mọi sự vật hiện hữu không hề có sinh hay diệt Như vậy có thể sẽ vấp phải khó khăn nếu như các nhà Vaisesika và Nyaya muốn giải thích về rất nhiều các sự vật hiện tượng phức tạp Nếu không đứng trên quan điểm vô thường thì sự chuyển hóa nhân quả sẽ rất hạn chế, nghèo nàn và hơn thế nữa nó mang tính cố hữu, tiền định
Trên đây là một số tư tưởng cơ bản của triết học Ấn Độ cổ đại về nhân quả
Tựu chung lại có thể phân các tư tưởng nhân quả trên thành hai loại cơ bản là Tự
nhân quả (nhân quả từ bên trong) và Tha nhân quả (hay còn gọi là nhân quả từ bên
ngoài) uan niệm nhân quả từ bên trong tiêu biểu như quan niệm ở thời k đầu trong các kinh Veda, panisad và trong quan niệm các nhóm phái như Samkya và oga, Vaisesika và Nyaya uan niệm nhân quả từ bên ngoài thể hiện ở quan niệm thời k sau trong các kinh Veda, panisad và trong quan niệm của nhóm phái Mimansa và Vedanta
Tư tưởng Tự nhân quả b t đầu từ thời k đầu tiên trong các kinh Veda và
panisad Tư tưởng này cho rằng may rủi không có chỗ trong sự tiến hóa của thế giới Nguyên lý chuyển động hay phát triển sẵn có ngay trong vật chất và thế giới tiến hóa từ năng lực nội tại của thiên nhiên, sự chuyển động mang tính tự quyết định, một hiện tượng tạo ra một hiện tượng khác từ bên trong chính nó
Có thể thấy dấu vết thuyết tự nhân quả từ ngay trong Rig-Veda [tham khảo 30,
tr.8] Ngay thời k khởi thủy người Ấn Độ đã có những tư tưởng về sự sản sinh trong
vũ trụ từ những chất đầu tiên, vốn có Có thể nói nó có giá trị rất lớn cho việc nghiên cứu nguồn gốc tư tưởng nhân quả bởi vì đây có thể coi là nhân quả luận về vũ trụ Một vài chất căn bản này được coi như nguyên nhân đầu tiên khởi sinh lên các sự vật hiện tượng trong vũ trụ
Trong thời Upanisad các nhà triết học tập trung vào chứng minh và chứng tỏ sự thường hằng của Atman (ngã) hay cũng chính là sự bất diệt của Brahman nên sự đóng góp của Upanisad vào thuyết nhân quả không đáng kể, nó giống với thuyết tự nhân quả của Mahidasa Đáng kể nhất là quan niệm về “hữu” của Uddalaka cho rằng lúc đầu thế giới này chỉ có hữu, chỉ một thôi, không có cái thứ hai Hữu là rễ tự sinh ra cái khác là sức nóng, sức nóng lại là rễ sinh ra nước, nước là rễ sinh ra thực phẩm
đây cũng giống với quan điểm của trường phái Samkhya [tham khảo 30, tr.13 – 14]
Trong các quan điểm của Samkhya, oga, Vaisesika, Nyaya như đã phân tích
ở trên như đã phân tích đều thừ nhận sự chuyển hóa nhân quả mang tính tự thân, do những yếu tố có cố định trong sự vật tác động mà thành
Tư tưởng Nhân quả từ bên ngoài (hay còn gọi là Tha nhân quả hay thuyết Thần Linh sáng tạo)
Thuyết này cho rằng sự vận động phát triển trong chuỗi nhân quả của thế giới
là nhờ sức mạnh của các thần, do các đấng toàn tri toàn năng sáng tạo Chính thượng
đế là đấng quyền năng tiềm ẩn, ngự trị trên tất cả uan niệm về Thượng đế là đấng
sáng tạo trong Veda và Brahmanas xuất phát từ các lý luận tôn giáo trong thời k
muộn của panisad và từ các lập luận tôn giáo
Trang 9Khi trả lời cho câu hỏi bởi ai chủ trì mà con người sống trong những điều kiện sướng khổ khác nhau thì một vài thuyết nhân quả như thời gian, bản tính, bản tính
hay số mệnh bị loại bỏ và các nhà triết học trong Upanisad cho rằng những ai đi theo
thiền định và trừu tượng hóa đã thấy chính quyền năng của Thượng đế ẩn tàng trong các đức tính của ngài Ngài chính là vị ngự trị trên tất cả các nhân này, từ thời gian đến
Sau này Phật giáo đều có sự phê phán và kế thừa nhất định với cả hai loại thuyết trên (sẽ đề cập chi tiết trong phần chương 2) Ví như với thuyết Tự nhân quả cho rằng các yếu tố vật chất được coi là hữu tình, có khả năng tự tạo ra các yếu tố kế tiếp tức tin vào cái hữu mà tin vào cái hữu có nghĩa là rơi vào quan niệm Thường hằng Theo Phật giáo cái hữu không tồn tại, do đó tin vào cái hữu sẽ là vô minh (tức ngu dốt, sai lầm) siêu hình Theo thuyết Tự nhân quả thực tại trong đó có các sự vật
và tiến trình nhân quả là bất động, không g n gì với không gian và thời gian vì nó là vốn có Hơn thế nữa những người theo thuyết Tự nhân quả vì không hiểu được bản chất thực sự của quá trình nhân quả do đó họ dễ dàng chấp nhận việc nhân quả cố hữu trong sự vật dường như là sức mạnh siêu việt cấu thành sẵn trong sự vật trước đó
do vậy họ rất dễ ngả về duy tâm Thuyết Tha nhân quả cũng cố g ng lý giải, giải thích nhân quả trong thế giới vô tận mà không chỉ dừng lại ở việc thừa nhận yếu tố vật chất đầu tiên hữu hạn nào đó Tuy nhiên, việc tin tưởng có thần hay tiếp xúc được với thần theo đức Phật chỉ là sự huyễn hoặc hay giả tạo bởi vì nhận thức ngoài giác quan là điều không thể có Không có vị thần nào là Thượng đế tối cao chi phối nhân quả, quyết định đời sống của tất cả vạn vật kể cả sự hạnh phúc và sự khốn cùng của vạn vật, không thể dựa vào kinh nghiệm có được rằng những vị thần ấy là tồn tại thực, cũng không thể dựa vào các phương pháp tu luyện mà tiếp xúc được với thần linh Sau này Phật giáo phê bình rằng tin vào sự quyết định từ bên ngoài là phá hoại
sự tin tưởng vào trách nhiệm luân lý của con người và nó bất lợi cho đời sống tôn
giáo [tham khảo 30, tr.30 - 31] Nếu Thượng đế quyết định sự đau khổ cũng như hạnh
phúc, cả đức hạnh và tật xấu thì con người chỉ thực hiện những mệnh lệnh của Thượng đế Như vậy nếu nhân quả là sản phẩm từ sự tác động bên ngoài thì con người ở đây không có vai trò gì và cũng không có trách nhiệm nhiệm gì cả Con người làm gì sẽ hoàn toàn đổ lỗi cho thần linh, họ sẽ buông thả và sống coi thường luân lý
1.1.2 Quan niệm nhân quả trong các trường phái không chính thống của Ấn Độ
Lokayata thừa nhận thế giới được hình thành từ bốn yếu tố là: đất, nước, lửa và khí Ý thức là cái được sinh ra từ các yếu tố vật chất đó Sau khi chết ý thức cũng mất theo [tham khảo 11, tr.232] Lokayata cho rằng không có linh hồn ngoài thể xác Trên
cơ sở bản thể luận, nhận thức luận đó Lokayata cũng không thừa nhận thuyết
“Nghiệp” nên cũng phủ nhận con đường giải thoát ở kiếp sau và chủ trương tìm cách
giải thoát cho con người ngay trong kiếp này đây Lokayata không thừa nhận tác động nhân quả trong đời sống con người cả ở quá khứ cũng như hiện tại và tương lai nên mọi việc làm để sửa chữa hay thay đổi nhân quả là vô ích Từ đó Lokayata khẳng
Trang 10định Niết bàn là sự tưởng tượng do những người ngu xuẩn hoặc lừa bịp nghĩ ra [tham khảo 11, tr.233]
Phái Jaina lại thừa nhận nguyên nhân, kết quả được hình thành và tác động là
do cả yếu tố từ bên trong và cả bên ngoài Các nhà tư tưởng phái Jaina thừa nhận nhân quả do chính con người gây ra Ngoài ra họ còn thừa nhận tác động của các yếu
tố khách quan như số mệnh, thời gian, thượng đế, tính chất, hành động vv Họ cho rằng ngoài nhân do con người gây ra có thể nhìn thấy được, thì còn có những nhân khác không trực tiếp nhận thấy được Sau này luận điểm này của phái Jaina bị Đức Phật phê phán, cho rằng khi thừa nhận Tự nhân quả nghĩa là nhân quả từ bên trong do Nghiệp tạo ra, các nhà tư tưởng phái Jaina muốn cá nhân chịu trách nhiệm về hành động của mình nhưng khi một ai đó đã tạo ra nghiệp thì nghiệp sẽ hoàn toàn quyết định tương lai của người đó và như thế trở thành một cái ở bên ngoài người đó vì
người đó không thể kiểm soát nó [tham khảo 30, tr.73 - 74]
1.2 Phật giáo Ấn Độ tiếp thu và phát triển nhân quả trên tinh thần nhân văn mới
1.2.1 Nhân quả Phật giáo từ lập trường tôn giáo có tính vô thần
Trong tư tưởng Phật giáo, giáo lý Duyên khởi được coi là thành tựu giác ngộ tối thượng của đức Phật và các sử liệu đều khẳng định điều này1 Đây là vấn đề bản thể luận của Phật giáo đóng vai trò nền móng để Phật giáo xây dựng các quan điểm Tứ Diệu Đế, Thập nhị nhân duyên át Chính Đạo trên đó Và vì Duyên khởi khái quát được bản chất và quy luật tất yếu của thế giới nên nó có giá trị làm nền tảng để phát triển nhân quả hoàn bị hơn các quan niệm khác
Nội dung giáo lý Duyên khởi phản ánh chân lý tất yếu của vũ trụ thế giới Sự khởi lên hay đoạn diệt của các pháp trong giáo lý duyên khởi là mang tính khách quan, vốn có, chi phối trong vũ trụ thế giới, con người có nhận thấy hay không nó
v n cứ tồn tại Tính vô thần được thể hiện rõ trong Thập nhị nhân duyên bởi sự sinh khởi của Vô minh d n đến sự xuất hiện và chuyển hóa của các chi phần tiếp theo là mang tính tự thân, không do thần thánh nào tạo ra hay chi phối Mỗi yếu tố trong 12 chi phần có liên quan mật thiết đến nhau, cái trước sinh ra cái sau, cái sau xuất hiện là nhờ có cái trước tạo tác Chặt đứt bất kì yếu tố nào trong 12 nhân duyên đều khiến cho toàn bộ chuỗi tiếp sau bị đoạn diệt, không thể được sinh ra và chuyển hóa được nữa Như vậy nếu xóa bỏ yếu tố đầu tiên là Vô minh thì có nghĩa đã chặn đứng sự sinh khởi và chuyển hóa của 12 chi phần và khổ không thể tạo tác Vậy không có thượng đế thần linh nào sinh ra hay xóa bỏ được 12 nhân duyên, cũng không có thánh thần nào can thiệp khiến cho 12 nhân duyên xuất hiện, chuyển hóa hay dừng lại
Từ lập trường vô thần này của giáo lý Duyên khởi mà tư tưởng nhân quả cũng được triển khai trên tinh thần đó Phật giáo cũng quan niệm các sự vật nằm trong mối liên hệ nhân quả vô tận Cái trước là nguyên nhân của cái sau, cái sau là kết quả đồng thời là nguyên nhân của cái sau nữa Như vậy cái nào cũng là nhân và cái nào cũng
là quả, sự sản sinh diễn ra vô tận Tất cả là do sự vận động biến đổi của chính bản
1 Kinh Tương ưng nhân duyên (Tương ưng bộ kinh II; tập 12,16, đại 2, 85ª), Kinh Phật tự thuyết (Tiểu bộ kinh I, bản dịch của HT.Minh Châu 1982), Kinh Đại bổn (Trường bộ kinh III) và Kinh Đại duyên (Trường bộ kinh III) là các kinh
Trang 11thân sự vật, bởi sự vật là vô thường không tự sinh ra cũng không tự mất đi, bởi sự vật nằm trong mối liên hệ duyên khởi trùng điệp
1.2.2 Nhân quả Phật giáo từ lập trường tôn giáo nhân văn
Khi giải thích về con người Phật giáo không cho rằng con người là thường hằng bất biến, con người cũng không phải là sản phẩm sáng tạo của một thế lực siêu nhiên nào cả Con người cũng giống như các pháp khác trong thế giới, con người hình thành do sự kết hợp của các yếu tố nhân duyên và cũng sẽ mất đi khi sự kết hợp này không còn
Đạo Phật còn đưa ra thuyết “Tứ thánh đế” (bốn chân lý cao cả) gồm khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế để giải thích về cuộc đời và nguyên nhân đau khổ cũng như khả năng thoát khổ của con người
Đưa ra tư tưởng về khổ, Phật giáo cho thấy khổ này không tự nó xuất hiện Nó
có nguyên nhân của nó và đến lượt nó lại là nguyên nhân sinh ra cái khác Khổ chẳng qua cũng là kết quả do sự kết hợp các nhân duyên mà thành
Tập đế chỉ ra rằng cái gì cũng có nguyên nhân của nó, không có cái gì là tự nhiên hay hư vô Cũng như vậy nguyên nhân của nỗi khổ là do sự vận hành của 12 chi phần nhân duyên và sự khởi sinh của 12 chi phần nhân duyên này là do chính con người, b t đầu từ con người Vì Vô minh là mê hoặc, tối tăm, nhầm l n, ngu dốt, là trạng thái trí tuệ không đúng đ n nên con người không nhận thức được thực tướng bản chất của thế giới và của chính con người, cho nên sinh ra vọng tâm, chấp ngã, cho rằng có một cái Ta trường tồn và trên hết Từ đó sinh ra vị kỷ, tham lam, dục vọng và có những hành động tương ứng
Diệt đế chỉ ra con đường thoát khổ cho con người từ chính việc xóa bỏ nguyên nhân làm khổ khởi sinh Chỉ cần con người không có những hành động sai để cho vô minh chuyển hóa thành chuỗi 12 nhân duyên thì con người không còn khổ, hay con người đang phải chịu khổ rồi thì có thể chấm dứt khổ bằng cách chấm dứt một trong
số 12 nhân duyên để các yếu tố sau không theo đó mà sinh được nữa Vậy thì con người ai cũng có thể nhận thức được điều này để quyết định lấy chính cuộc đời mình
Đạo đế chỉ ra phương pháp để con người có thể chấm dứt nỗi khổ cho mình ằng các phương pháp trên ai cũng có thể có hạnh phúc không phân biệt cao thấp, giàu nghèo Đức Phật chỉ ra cho con người biện pháp thực tế và tích cực để con người làm theo Đặc biệt các phương pháp này không có gì cao siêu, khó khăn, nó phù hợp với mọi đối tượng và dù là ai ở đâu cũng làm được
Khi nghiên cứu về nhân sinh, Phật giáo còn đề cập đến vấn đề Luân hồi và giải thoát cũng đặt trong mối quan hệ nhân quả với các vấn đề nhân sinh trên Khi đưa ra qua điểm về Luân hồi khác với nhiều trường phái khác cho sự tái sinh của con người vài các kiếp sống khác như định mệnh từ Nghiệp quả gây ra, cũng có người cho rằng qua điểm này của Phật giáo là duy tâm, hoang đường nhưng thực chất nó v n nằm tron mạch chảy của các vấn đề và v n kiên định trên lập trường duy vật vốn có Phật giáo nhấn mạnh rằng Luân hồi chẳng qua là nhân quả liên tục nhưng vì khi nó biến, khi hiện, khi lên, khi xuống, khi thay đổi hình dạng nên tưởng chừng như gián đoạn
và không ảnh hưởng chi phối l n nhau Luân hồi không phải chỉ có ở con người mà
Trang 12có ở tất cả các sự vật, muôn loài vì nhân quả là quy luật chung của vũ trụ Vũ trụ có
sự biến đổi không ngừng, vậy thì tái sinh chẳng qua là chuyển sang một trạng thái khác, do sự kết hợp của nhân khác tạo ra quả khác mà thôi Như bản thân con người sau khi chết phần vật chất tức thân tứ đại dó sự kết hợp trước đó của các yếu tố không còn thì thân tứ đại này bị tan rã chuyển sang trạng thái khác (hòa nhập vòa đất vào môi trường, đi vào sự vật khác) thì phần tinh thần cũng chuyển sang trạng thái khác (các cõi khác nhau) Tương tự như vậy, khi đưa ra tư tưởng Luân hồi Phật giáo hay
g n nó với tư tưởng giải thoát vì đây mới là mục đích cao nhất của Phật giáo a khỏi Luân hồi đấy chính là giải thoát hay nói cách khác giải thoát nghĩa là không còn chịu tác động của nhân quả, giải thoát là diệt hết vô minh, hết tham ái, hết chấp thủ Như vậy giải thoát là do chính con người làm cho mình, không dựa vào một lực lượng nào khác nên ai cũng có thể tự giải thoát cho mình không phân biệt giàu nghèo, sang hèn
uá trình giải thoát nhanh hay chậm là do quá trình tu dư ng của mỗi cá nhân con người (nhận thức và hành động) Khi giải thoát được thì con người đã đạt tới trạng
có nhân và quả là do các yếu tố bên trong sự vật khởi phát, chi phối hay còn gọi là Tự
nhân quả (tiêu biểu như quan niệm ở thời k đầu trong các kinh Veda, panisad và
trong quan niệm các nhóm phái như Samkya và oga, Vaisesika và Nyaya, Jaina) Và quan niệm cho rằng nhân quả là do sự chi phối của các yếu tố bên ngoài hay còn gọi
là Tha nhân quả, mà chủ yếu là do sự chi phối của thần linh mà thành (thể hiện ở
quan niệm thời k sau trong các kinh Veda, panisad và trong quan niệm của nhóm phái Mimansa và Vedanta, Jaina)
Từ mối quan hệ nhân quả này mà Phật giáo thấy được tính nhân văn sâu s c của nhân quả với tinh thần khuyến thiện, yêu thương, tin tưởng, đề cao con người Phật giáo cho rằng con người gây ra đau khổ cho mình thì chính con người cũng có thể xóa bỏ được khổ đau ấy bằng trí tuệ, đạo đức và niềm tin (Giới – Định - Tuệ), và khẳng định cơ hội giải thoát, cơ hội n m lấy hạnh phúc là như nhau là bình đẳng ở tất
cả mọi người Từ nhân quả luận tiến bộ, Phật giáo tin rằng cuộc đời thật ra cũng chỉ
là chuỗi nhân quả nối tiếp nhau, nguyên nhân hay kết quả thế nào là ở chính nơi con người quyết định Phật giáo đặt niềm tin vào ý chí và sức mạnh tự giải thoát nơi mỗi con người
Trang 13Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN QUẢ PH T
GI V MỘT SỐ Ý NGH A NHÂN VĂN C A TƯ TƯỞNG NHÂN QUẢ
PH T GIÁO 2.1 Một số khái niệm, phạm trù cơ bản trong tư tưởng nhân quả Phật giáo
2.1.1 Khái niệm nhân quả của Phật giáo
Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả Mọi sự vật, hiện tượng đều được nảy sinh
từ những sự vật, hiện tượng khác, trong đó cái sản sinh ra cái khác gọi là nguyên nhân, và cái được sinh ra từ đó là kết quả Giữa quá trình chuyển hóa nhân thành quả
có sự tác động của yếu tố duyên, nên nói đầy đủ phải là nhân – duyên – quả Cứ có nhân và hội đủ duyên là tạo quả Chính vì vậy mà các sự vật hiện tượng nằm trong mối tương quan nhân quả trùng điệp, mỗi sự vật hiện tượng có thể vừa là nguyên nhân lại vừa đồng thời là kết quả Vì vậy mà quan hệ nhân - duyên - quả mang tính tất yếu khách quan, phổ biến và rất đa dạng
2.1.2 Các phạm trù cơ bản của tư tưởng nhân quả Phật giáo
Khi nói đến nhân Phật giáo cho đây là yếu tố chính, có trước, sản sinh ra cái
khác Nhân ở đây là cái làm khởi lên, tạo ra cái khác tuy nhiên Phật giáo nhấn mạnh nhân phải được hiểu là tổng nhân, hợp nhân
Hầu hết các nhánh phái Phật giáo đều thừa nhận vai trò không thể thiếu của yếu tố duyên Duyên là các điều kiện cần và đủ đi kèm với các nguyên nhân khác như
là nguyên nhân chính Duyên có vai trò rất quan trọng tác động đến sự hình thành quả cũng như chuỗi nhân quả Tuy nhiên mỗi phái lại có quan niệm và cách phân loại riêng đối với duyên Tuy cách chia có thể khác nhau nhưng thường thì hầu hết các trường phái kể cả trong và ngoài Phật giáo đều thừa nhận bốn loại duyên cơ bản:
nhân duyên, đ ng vô gián duyên, sở duyên duyên và tăng thư ng duyên và sự chia
tách thành nhiều loại duyên chẳng qua chỉ là sự triển khai từ bốn loại duyên cơ bản này mà thành
Cùng với nhân và duyên, Phật giáo cũng phân tích về quả và sự tạo quả Tùy vào tác động của yếu tố duyên vào nhân mà quả cũng có thể rất đa dạng, phong phú Hầu hết các trường hợp khi quả ra đời nó thường ở cùng một cấp độ với nhân ví dụ con gà thì chỉ đ ra trứng gà mà không thể có chuyện đ ra trứng vịt Hay trứng gà chỉ
nở ra con gà mà không nở ra con vịt [tham khảo 58, tr.281] Tuy nhiên trên thực tế từ
nhân đến quả còn có các yếu tố duyên xen vào nên tuy quả cùng cấp độ với nhân nhưng v n khác nhân Cũng không nhất thiết một nhân tất yếu đưa đến quả, hay quả phải giống nhân Tùy thuộc sự can thiệp mạnh yếu của các duyên trung gian, thuận chiều hay nghịch chiều phát triển của nhân mà quả có thể hình thành sớm hay muộn hay cũng có khi không hình thành Chính vì vậy nếu có một cái hoàn toàn mới ra đời
mà lại khác hoàn toàn với nhân thì đó là do sự tác động của yếu tố duyên đến nhân
trong quá trình tạo quả [tham khảo 58, tr.282] Ví dụ như khi gieo hạt thóc xuống đất
thì tùy điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, nước, chất dinh dư ng mà hạt thóc có thể biến đổi theo những chiều hướng khác nhau Hạt thóc ban đầu là nhân, các yếu tố môi trường (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, nước, chất dinh dư ng ) là các duyên Nếu như các duyên này đầy đủ và phù hợp thì hạt thóc có thể trong thời gian ng n nảy mầm