Có thể khái quát kết quả nghiên cứu về triết học Cantơ nói chung, nhận thức luận Cantơ và chủ thể nhận thức tiên nghiệm trong triết học của ông nói riêng, thành các nhóm chủ yếu sau: Nhó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
VŨ THỊ HỒNG NHUNG
CHỦ THỂ NHẬN THỨC TIÊN NGHIỆM TRONG TRIẾT HỌC IMMANUIN CANTƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
VŨ THỊ HỒNG NHUNG
CHỦ THỂ NHẬN THỨC TIÊN NGHIỆM TRONG TRIẾT HỌC IMMANUIN CANTƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Vũ Hảo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Vũ Hảo
Tôi cũng xin cam đoan đề tài này không trùng với bất cứ đề tài luận văn nào đã được công bố ở Việt Nam
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài
Hà Nội, tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hồng Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Vũ Hảo là người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập
và hoàn thiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn
đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn được hoàn chỉnh
Tôi cũng chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Học viên
Vũ Thị Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 10
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Kết cấu của luận văn 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI NHẬN THỨC LUẬN CỦA I.CANTƠ 12
1.1.Immanuin Cantơ: con người và tác phẩm 12
1.2 Những điều kiện và tiền đề cơ bản cho sự ra đời nhận thức luận của Cantơ 13
1.2.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời nhận thức luận của Cantơ 14
1.2.2 Những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhận thức luận của Cantơ 18 1.3.Vị trí của nhận thức luận trong hệ thống triết học Cantơ 44
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỎ BẢN CỦA CHỦ THỂ NHẬN THỨC TIÊN NGHIỆM TRONG TRIẾT HỌC I.CANTƠ 2.1 Cuộc cách mạng Côpécníc trong nhận thức luận Cantơ: chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm và chủ thể nhận thức tiên nghiệm 50
2.2 Cấu trúc và những năng lực của chủ thể nhận thức tiên nghiệm trong nhận thức luận của Cantơ 54
2.2.1 Cảm tính 56
2.2.2 Giác tính 64
Trang 62.2.3 Thông giác 72
2.2.4 Lý tính 77
2.3 Chủ thể nhận thức kinh nghiệm và chủ thể nhận thức tiên nghiệm: giới hạn năng lực nhận thức của chủ thể 87
2.3.1 Chủ thể nhận thức kinh nghiệm và chủ thể nhận thức tiên nghiệm87 2.3.2.Giới hạn năng lực nhận thức của chủ thể 90
2.4 Những giá trị, hạn chế và ảnh hưởng của quan niệm Cantơ về chủ thể nhận thức tiên nghiệm 94
KẾT LUẬN 99
PHỤ LỤC 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với tư cách là người sáng lập triết học cổ điển Đức, Immanuin Cantơ
có những đóng góp không nhỏ cho nền triết học thế giới Đánh giá về học thuyết triết học Cantơ, C.Mác đã từng viết rằng: “Triết học Cantơ là học thuyết Đức của cuộc cách mạng Pháp” [32, tr.131] Nhân danh cá nhân và những người đồng quan điểm với mình, Ph.Ăngghen đã từng công khai tuyên bố: “Nếu các thầy giáo của giai cấp tư sản dìm cái ký ức về các triết gia Đức
vĩ đại và về phép biện chứng do họ sáng tạo ra vào vũng lầy của một chủ nghĩa chiết trung buồn thảm, - đến mức mà chúng tôi phải kêu gọi khoa học
tự nhiên hiện đại làm chứng cho rằng, phép biện chứng tồn tại trong thực tế thì chúng tôi, những người xã hội chủ nghĩa Đức, lấy làm tự hào cho rằng chúng tôi xuất thân không những từ Xanh Ximông, Phuriê, Ôoen, mà cả từ Cantơ, Phíchtơ và Hêghen” [35, tr.461]
Ngay từ trong các tác phẩm thời kỳ “tiền phê phán” khi Cantơ chuyên chú về các vấn đề khoa học tự nhiên và triết học tự nhiên, chúng ta thấy rất rõ
quan niệm của ông về sự phát triển trong tự nhiên Trong cuốn “Lịch sử tự
nhiên đại cương và học thuyết về bầu trời” xuất bản năm 1755, được
Ph.Ăngghen đánh giá là tác phẩm thiên tài vì “vấn đề cái hích đầu tiên đã bị loại bỏ, trái đất và tất cả hệ thống mặt trời hiện ra như là một cái gì đã hình thành trong thời gian” [36, tr.466], Cantơ không chỉ giải thích cấu tạo hiện thời của hệ mặt trời mà còn giải thích cả sự xuất hiện và phát triển của nó nữa
Có thể khẳng định rằng, học thuyết của Cantơ về mâu thuẫn đã đặt ra cơ sở cho các hệ thống biện chứng của Phíchtơ, Sêlinh và Hêghen Do vậy, có thể nói, Cantơ là người sáng lập ra biện chứng cổ điển Đức Các tư tưởng biện chứng đã được Cantơ phát triển đặc biệt là trong lôgic học và lý luận nhận thức Cantơ đã đặt ra những nền tảng cho tư tưởng về lôgic biện chứng, về vai
Trang 8trò của các phạm trù, đặc biệt về vai trò của chủ thể nói chung và chủ thể nhận thức tiên nghiệm nói riêng
Cantơ đã làm cuộc cách mạng trong triết học Điều đã khơi dậy cuộc cách mạng này trong đầu óc Cantơ chính là sự quan tâm sâu sắc tới một vấn
đề mà triết học thời ông không thể giải quyết thành công hay thỏa đáng Các yếu tố trong vấn đề của ông được gợi ý từ nhận định mà ông đưa ra: “Tôi càng suy ngẫm nhiều thì có hai điều càng làm cho tâm hồn tôi kinh ngạc và tôn kính hơn là: bầu trời ở trên đầu tôi và quy tắc đạo đức ở trong tôi” [59, tr.757] Tức là, ông bắt đầu quan tâm tới vũ trụ, triết học tự nhiên và đặc biệt
là cấu trúc và những năng lực trong nhận thức của con người với tư cách là chủ thể nhận thức tiên nghiệm Đồng thời, ông cũng đưa ra những định hướng
và cách luận chứng mới cho những vấn đề trên mà các nhà triết học trước ông chưa giải quyết được Với tính chất và nhiệm vụ như vậy cuộc cách mạng trong triết học của Cantơ mà ông gọi là cuộc cách mạng Côpécnic đã để lại nhiều dấu ấn về vai trò và năng lực của tư duy con người đối với các nhà triết học sau Cantơ, đặc biệt là những nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác
Có thể nói, với hệ thống triết học khá đồ sộ mà tập trung chủ yếu trong
ba tác phẩm: “Phê phán lý tính thuần túy” (1781); “Phê phán lý tính thực
tiễn” (1788); “Phê phán năng lực phán đoán” (1790), Cantơ đã có những
đóng góp quan trọng cho triết học cổ điển Đức nói riêng và lịch sử triết học thế giới nói chung Quan niệm của Cantơ về chủ thể tiên nghiệm nói chung và chủ thể nhận thức tiên nghiệm nói riêng có thể coi là xuất phát điểm cho việc xây dựng lý luận nhận thức của triết học Mác sau này Bởi lẽ, khi đánh giá chủ thể của quá trình nhận thức ở mặt này, Cantơ đã đánh dấu bước ngoặt trong nhận thức về con người
Vấn đề chủ thể nhận thức tiên nghiệm trong triết học Cantơ hiện nay,
Trang 9đánh giá trái ngược nhau Điều này đã gây ra khó khăn cho các nhà nghiên cứu trong việc đánh giá vị trí của quan niệm về chủ thể nhận thức trong lịch
sử triết học, đặc biệt là triết học Mác Vì tư tưởng này được các nhà sáng lập
ra chủ nghĩa Mác tiếp thu và phát triển trên cơ sở quan niệm của Cantơ
Hơn nữa, trong thực tiễn ở Việt Nam, vấn đề con người với tư cách là chủ thể nhận thức và vai trò của tư duy con người luôn dành được sự quan tâm lớn Để góp phần nâng cao tri thức, trí tuệ và phát huy nhân tố con người, chúng ta cần đi sâu nghiên cứu vấn đề chủ thể của quá trình nhận thức và vai trò của chủ thể nhận thức
Về phần mình, trong những năm qua, khi học tập và nghiên cứu lịch sử triết học, tôi rất say mê tìm hiểu triết học Cantơ, nhất là vấn đề chủ thể nhận thức tiên nghiệm Bởi lẽ, đó là vấn đề khá thú vị còn chưa được nghiên cứu đúng mức
Vì vậy, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Chủ thể nhận thức tiên nghiệm trong triết học Immanuin Cantơ ” với hy vọng có thể đóng góp phần nào vào việc nhìn nhận những giá trị của triết học Cantơ đối với lịch sử triết học thế giới nói chung và triết học Mác nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, việc giảng dạy triết học Cantơ đã được đưa vào chương trình từ bậc đại học và sau đại học Có khá nhiều nhà nghiên cứu viết về triết học của ông Tuy nhiên, cho đến nay, việc nghiên cứu trực tiếp quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức tiên nghiệm còn ít được đề cập đến và chưa được xem xét đầy đủ Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do: Nghiên cứu
di sản triết học đồ sộ mà ông để lại cho chúng ta, đòi hỏi một sự kiên nhẫn và thời gian dài lâu Triết học của Cantơ được trình bày và diễn đạt bằng một ngôn ngữ “rất Cantơ,” nghĩa là rất khó hiểu ngay cả với những người chuyên sâu vào nghiên cứu triết học của ông
Trang 10Để đánh giá tình hình nghiên cứu quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức tiên nghiệm hiện nay thì việc phân chia các hướng nghiên cứu triết học của Cantơ theo nhóm là cần thiết Có thể khái quát kết quả nghiên cứu về triết học Cantơ nói chung, nhận thức luận Cantơ và chủ thể nhận thức tiên nghiệm trong triết học của ông nói riêng, thành các nhóm chủ yếu sau:
Nhóm thứ nhất, gồm các công trình nghiên cứu chuyên khảo về triết
học Cantơ có thể kể đến các công trình như:
Cuốn “Triết học Kant”(Cantơ) của Trần Thái Đỉnh được nhà xuất bản
Văn Mới xuất bản năm 1974 và nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm
2005 Với kiến thức triết học và nguồn tài liệu phong phú, tác giả đã đề cập và phân tích khá toàn diện hệ thống triết học của I.Cantơ thời kỳ phê phán, riêng đối với nhận thức luận, tác giả cũng đưa ra nhiều luận giải khá sâu sắc Theo
tác giả, Phê phán lý tính thuần túy đã vạch rõ giới hạn của lý tính con người
nhằm chứng tỏ ranh giới của những gì con người có thể biết và không thể biết, rằng không thể sử dụng tri thức kinh nghiệm để đạt tới đối tượng của siêu hình học, rằng không thể có siêu hình học theo kiểu một khoa học thực nghiệm, mà chỉ có thể có khoa học siêu hình xây dựng trên lý tính thực tiễn, tức lý tính đạo đức mà thôi Theo Trần Thái Đỉnh, khi phê phán lý tính thuần túy, Cantơ không nhằm phá hủy siêu hình học mà, trái lại, nỗ lực xây dựng
một siêu hình học mới; và cho rằng, mục đích chủ yếu của Phê phán lý tính
thuần túy là trả lời câu hỏi: “theo khả năng tri thức của con người thì có thể có
khoa học siêu hình không? Nghĩa là con người có thể tri thức về những thực tại siêu hình như linh hồn và Thượng đế không”[13, tr.19]
Cuốn“Triết học Imanuin Cantơ” của tác giả Nguyễn Văn Huyên do
nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1996 Trong công trình này, tác giả đã phân tích khá sâu những nội dung và đặc điểm cơ bản triết học Cantơ
Trang 11Bên cạnh những công trình nghiên cứu chuyên khảo trên là một số công trình của các tác giả nước ngoài đề cập trực tiếp hay gián tiếp về triết học cổ điển Đức nói chung và triết học của I.Cantơ nói riêng dã được dịch
sang tiếng Việt Chẳng hạn như: Lịch sử phép biện chứng mácxít (tập 3),
Lôgic học biện chứng của E.V.Ilencôv cũng đã ít nhiều đề cập đến vấn đề
nhận thức luận và khả năng nhận thức của chủ thể
Đặc điểm chung của các nghiên cứu này là tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu trong triết học của I.Cantơ như: lý luận nhận thức, triết học thực tiễn, triết học tôn giáo và quan niệm của Cantơ về nhân học…
Nhóm thứ hai, gồm những công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhận
thức luận Cantơ chẳng hạn như:
Cuốn “I.Cantơ - Người sáng lập nền triết học cổ điển Đức” của các tác
giả Viện Triết học được nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1997 Công trình này đã tập hợp những bài viết về những nội dung chủ yếu của triết học Cantơ trong đó có một số bài viết đã ít nhiều đề cập đến vấn đề năng lực
của chủ thể trong quá trình nhận thức, chẳng hạn: “Quan niệm của I.Cantơ về tính tích cực của chủ thể nhận thức” của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn; “Học
thuyết về antinomia và lôgic tiên nghiệm của Cantơ” của tác giả Vũ Văn Viên; “Về học thuyết phạm trù trong triết học Cantơ” của tác giả Lê Công Sự…
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, việc nghiên cứu lịch sử triết học cũng có những bước phát triển nhất định Trong xu hướng chung đó, triết học
cổ điển Đức nói chung và di sản triết học của Cantơ nói riêng ngày càng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Năm 2004, nhân
kỷ niệm 200 năm ngày mất của I.Cantơ, Hội thảo Quốc tế: Triết học cổ điển
Đức - Những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học diễn ra từ 21 - 22/
12/2004 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia
Trang 12Hà Nội (Kết quả của Hội thảo lớn này đã được in thành Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế năm 2006) Trong cuốn Kỷ yếu này đã tập hợp rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề nhận thức luận và đạo đức học của Cantơ, phân tích ảnh hưởng của triết học cổ điển Đức đối với sự hình thành triết học Mác và các trào lưu triết học phương Tây hiện đại khác sau này như: “Quan niệm của Cantơ về bản chất của nhận thức và ý nghĩa của nó” của tác giả Vũ Văn Viên;
“Thực chất “cái siêu việt” của lý tính trong lý luận nhận thức của I.Cantơ và
tư tưởng của ông về một nền triết học khoa học” của tác giả Phạm Văn Chung; “Lý luận nhận thức của I.Cantơ thời kỳ “phê phán” - giá trị và hạn chế” của tác giả Trần văn Phòng…
Nhóm thứ ba, các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn,
có thể kể đến một số công trình như sau:
Bài viết “Tư tưởng của I.Cantơ (I.Kant)về sự thống nhất của lý luận nhận thức, đạo đức trong nhân học” của tác giả Nguyễn Vũ Hảo Xuất phát từ quan điểm của Cantơ coi triết học chính là nhân học và xem xét nhân học tư biện như là lý luận tư biện về chủ thể, về con người, tác giả đã luận giải quan niệm của Cantơ khi nghiên cứu những năng lực nhận thức của chủ thể và làm
rõ cấu trúc bên trong của chủ thể nhận thức dưới góc độ nhân học tư biện
Trong bài viết “Phương thức tư duy chủ thể tính của I.Cantơ (I.Kant)
về những gợi mở của nó đối với đương đại” tác giả Âu Dương Khang đã phân tích nét độc đáo trong triết học Cantơ là ở chỗ ông đã chuyển đối tượng nghiên cứu của triết học từ thế giới bên ngoài vào trong chính bản thân con người (thực hiện cuộc cách mạng Côpécnic), đồng thời chỉ rõ đặc điểm của phương pháp tư duy mang tính chủ thể từ góc độ năng lực, phạm vi và giới hạn của chủ thể, lấy chủ thể làm trục xuyên suốt để giải quyết vấn đề nhận thức luận, đem tính năng động trong nhận biết của chủ thể để giải thích cho
Trang 13Một vài năm trở lại đây, ba trong số các nguyên tác của I.Cantơ trong thời kỳ phê phán đã được dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải cặn kẽ
bằng tiếng Việt Đó là Phê phán lý tính thuần túy (2004), Phê phán lý tính
thực hành (2007), Phê phán năng lực phán đoán (2007) Điều này thực sự là
hữu ích cho những ai quan tâm đến triết học của ông
Ngoài ra, còn có một số các luận án, luận văn nghiên cứu về triết học I.Cantơ nói chung, chẳng hạn như: luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Công Sự:
Học thuyết phạm trù trong triết học I.Cantơ (2004); luận văn Thạc sỹ của tác
giả Hà Huy Tuấn: Quan niệm của I.Cantơ về bản chất của nhận thức trong
tác phẩm phê phán lý tính thuần túy (2005); luận văn Thạc sỹ của tác giả
Khuất Duy Dũng: Chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong nhận thức luận của
I.Cantơ (2006) v.v
Qua phần tổng quan tình hình nghiên cứu ở trên, có thể thấy rằng các công trình chủ yếu tập trung vào nghiên cứu nội dung cơ bản trong triết học I.Cantơ nói chung và vấn đề lý luận nhận thức trong triết học của ông nói riêng Còn đi sâu vào nghiên cứu trực tiếp nhằm làm sáng tỏ quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức tiên nghiệm đặc biệt liên quan đến cấu trúc và các năng lực cơ bản của chủ thể nhận thức tiên nghiệm: cảm tính, giác tính, thông giác, lý tính; vấn đề “vật tự nó” và giới hạn năng lực nhận thức của chủ thể thì cho đến nay vẫn còn chưa được khai thác đúng mức Khi tiếp cận vấn đề này, Cantơ đã đánh dấu bước ngoặt lớn so với các trường phái triết học trước ông
Vì vậy, cần phải đi sâu nghiên cứu hơn nữa nhằm làm rõ đóng góp này của Cantơ đối với triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn: Mục đích của luận văn là phân tích làm rõ
quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức tiên nghiệm, từ đó đưa ra những đánh giá về những giá trị và hạn chế của quan niệm này
Trang 14Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Để đạt được mục đích nghiên cứu
trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
Một là: phân tích những tiền đề cơ bản cho sự hình thành quan niệm
Cantơ về chủ thể nhận thức tiên nghiệm, chủ yếu đi sâu vào hai trào lưu triết học Cận đại: chủ nghĩa duy kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý;
Hai là: phân tích một cách có hệ thống, làm rõ quan niệm của Cantơ về
chủ thể nhận thức tiên nghiệm, đặc biệt liên quan đến các năng lực cơ bản của chủ thể nhận thức: cảm tính, giác tính, thông giác, lý tính; vấn đề “vật tự nó”
và giới hạn của nhận thức luận;
Ba là: đưa ra nhận xét và đánh giá về những giá trị và hạn chế của quan
niệm Cantơ về chủ thể nhận thức tiên nghiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: luận văn tập trung trước hết vào
việc phân tích, đánh giá quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức tiên nghiệm, đặc biệt là các năng lực của chủ thể nhận thức tiên nghiệm như: cảm tính, giác tính, thông giác và lý tính
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Do điều kiện hạn chế về thời gian
và tư liệu, luận văn giới hạn chủ yếu ở việc nghiên cứu vấn đề chủ thể nhận thức tiên nghiệm trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Cantơ
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Ngoài tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, luận văn có xem xét, kế
thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhận thức luận, chủ thể nhận thức tiên nghiệm trong triết học Cantơ ở các học giả
đi trước Luận văn dựa trên nền tảng lý luận và phương pháp mácxít nghiên cứu lịch sử triết học
Trang 15Phương pháp nghiên cứu được sử dụng ở đây chủ yếu là phương pháp biện chứng, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh…
6 Đóng góp của luận văn
Đóng góp chủ yếu của luận văn là ở chỗ trình bày một cách có hệ thống quan niệm về chủ thể nhận thức tiên nghiệm trong triết học Cantơ, góp phần làm sáng tỏ những tư tưởng của Cantơ về cấu trúc và năng lực của chủ thể nhận thức tiên nghiệm, từ đó đưa ra những đánh giá về những giá trị và hạn chế của quan niệm trên đối với sự phát triển của lịch sử triết học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 7 tiết
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI NHẬN THỨC LUẬN
CỦA I.CANTƠ
1.1.Immanuin Cantơ: con người và tác phẩm
Immanuin Cantơ (Immanuel Kant) sinh ngày 22/04/1724 ở Koênícxơbéc; mất ngày 12/02/1804 tại Koênícxơbéc
Cantơ chính là nhà triết học sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức Ông
có công rất lớn đối với sự nghiệp phát triển phép biện chứng Triết học của Cantơ nói riêng, và triết học cổ điển Đức nói chung, là một trong những nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác - Lênin Chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm do Cantơ sáng lập đã có một ảnh hưởng rất mạnh mẽ và dài lâu đối với Phíchtơ, Hêghen và cả nền triết học của nhân loại kế tiếp sau này
Cantơ sinh tại nước Phổ, ở Koênícxơbéc trong một gia đình thợ thủ công Năm 1745, ông tốt nghiệp khoa Thần học tại trường đại học tổng hợp Koênícxơbéc Sau khi học tập, nghiên cứu triết học, toán học và Thần học, Cantơ có một thời gian làm nghề gia sư Năm 1755, ông được nhận danh hiệu phó giáo sư và từ năm 1770 được phong hàm giáo sư giảng dạy môn lôgic học và siêu hình học tại trường đại học tổng hợp Koênícxơbéc
Ông sống độc thân suốt đời và chưa bao giờ đi ra khỏi thành phố Koênícxơbéc Đặc biệt là có rất nhiều giai thoại về sự chính xác như một chiếc đồng hồ sống trong sinh hoạt hàng ngày của Cantơ: toàn bộ cuộc sống của ông luôn nhịp nhàng, được tính toán và giống như một chiếc đồng hồ chính xác nhất Vào đúng 10 giờ tốt ông đi ngủ và dậy đúng 5 giờ sáng Trong suốt 30 năm ông không một lần dậy không đúng giờ Ông đi dạo vào đúng 19
Trang 17giờ Người dân Koênícxơbéc chỉnh đồng hồ của mình theo Cantơ [Xem 59, tr.758-759]
Với hệ thống triết học khá đồ sộ, các tác phẩm chủ yếu của I Cantơ có thể
kể đến như: Lịch sử đại cương về tự nhiên và lý thuyết về bầu trời (1755) hay
là thử phác thảo từ nguồn gốc cơ học về toàn bộ vũ trụ, theo các nguyên tắc
Niutơn; Thuyết đơn tử vật lý (1756); Phê phán lý tính thuần túy (1781); Sơ
luận về bất kỳ môn Siêu hình học tương lai nào muốn có thể xuất hiện như một khoa học (1783); Phê phán lý tính thực tiễn (1788); Đặt cơ sở cho Siêu hình học về đạo đức (1785); Phê phán năng lực phán đoán (1790)…
Theo thông lệ, người ta phân biệt hai giai đoạn trong triết học của ông: giai đoạn tiền phê phán (tới đầu những năm 70, thế kỷ XVIII) và giai đoạn phê phán được thể hiện với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của ông trong các tác phẩm chính đã nêu ở trên
1.2 Những điều kiện và tiền đề cơ bản cho sự ra đời nhận thức luận của Cantơ
Vấn đề nhận thức luận được đặt ra từ rất sớm trong lịch sử triết học Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Đó là câu hỏi được đặt ra trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại Để lý giải câu hỏi đó, các nhà triết học, từ thời Cổ đại đến nay đang đi tìm câu trả lời, song
do những điều kiện và tiền đề khác nhau, nên trong mỗi thời kỳ lịch sử cách luận chứng cũng khác nhau
Đối với I Cantơ, lý luận nhận thức có thể coi là đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống triết học của ông Ở đó, ông đưa ra nhiều câu hỏi nhằm hướng đến giải quyết một câu hỏi lớn nhất: Con người là gì? Cantơ nhấn mạnh đến
vị trí của con người với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức, là trung tâm của mọi hoạt động Chính vì vậy, ông phê phán triết học trước mình là chỉ hướng về giới tự nhiên, coi giới tự nhiên chứ không phải con người là đối
Trang 18tượng của triết học Vậy, bối cảnh nào đã dẫn đến những nhận định đó của I.Cantơ, cũng như những tư tưởng nào ảnh hưởng trực tiếp đến sự luận giải đó của ông?
1.2.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời nhận thức luận của
Cantơ
Đến cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập ở một loạt các nước Tây Âu như Italia, Anh, Pháp…đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội trước đó Sự phát triển kinh tế tư bản đã phá tan quan hệ sản xuất cát cứ phong kiến trên cơ sở xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới, làm thay đổi phương thức tổ chức lao động, thay đổi kết cấu giai cấp và đời sống
xã hội nói chung Điểm nhấn của quá trình này là các cuộc cách mạng xã hội Nếu cách mạng tư sản lần đầu tiên nổ ra ở Hà Lan (thế kỷ XVI) báo hiệu thời
kỳ Trung cổ đã suy tàn, thì cách mạng tư sản Anh (1640 - 1660) là cuộc cách mạng đầu tiên có ý nghĩa lớn đối với quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản trên phạm vi châu Âu và thế giới Cơ sở kinh tế của cuộc cách mạng này là các ngành công nghiệp ở Anh đã phát triển rất mạnh mẽ, những phát minh về
kỹ thuật, nhất là những hình thức tổ chức mới trong lao động, đã làm cho năng suất lao động ở các công trường thủ công ngày càng tăng Trong đó, ngành len dạ rất phát triển đã mở ra cuộc xâm thực của công nghiệp đối với nông nghiệp, làm thay đổi kết cấu giai cấp và các nhóm xã hội Tômát More (1478 - 1535) - nhà văn nhân đạo chủ nghĩa, nhà hoạt động chính trị, quốc vụ khanh nước Anh - đã mô tả: "những con cừu xưa kia ngoan ngoãn hiền hậu biết bao, bây giờ đều trở thành những con vật hung hãn, tham lam Cừu ăn thịt người, phá hoại ruộng vườn, nhà cửa và thành thị" Tình trạng "cừu ăn thịt người" thực tế là sự tước đoạt ruộng đất của nông dân do nhà tư bản công
Trang 19nghiệp và địa chủ liên kết tiến hành, nhằm "biến đồng lúa thành đồng cỏ" dành cho việc chăn nuôi cừu phục vụ ngành dệt len”
Ngành thương nghiệp ở Tây Âu cũng không ngừng mở rộng, nhất là ngoại thương, cùng với chế độ thực dân xâm chiếm thuộc địa Một loạt các công ty thương mại lớn ra đời như: công ty châu Phi (1553) chuyên buôn vàng, ngà voi, nô lệ da đen; công ty Moscow buôn bán dọc sông Vônga vào
Ba Tư và Ấn Độ; công ty Tây Ban Nha (1577); công ty phương Đông (1579) buôn bán ven biển Ban Tích; công ty Thổ Nhĩ Kỳ (1581), công ty Đông Ấn (1600) cạnh tranh với thương nhân Hà Lan và Pháp Sở giao dịch của Trung tâm mậu dịch và tài chính khu City (London) cũng được thành lập từ khá sớm vào năm 1568 để đáp ứng nhu cầu phát triển trao đổi hàng hoá Thương nghiệp đã góp phần quan trọng vào quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản và hình thành chủ nghĩa thực dân
Sự bành trướng hệ thống thuộc địa đạt tới mức độ cao chưa từng có trong thế kỷ XVII-XVIII, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, cùng với cách mạng ruộng đất ở Anh; điều đó đòi hỏi một khối lượng sản phẩm công nghiệp lớn mà nền sản xuất công trường thủ công không đáp ứng nổi Xuất phát từ yêu cầu khách quan của xã hội và những điều kiện sẵn có, nước Anh bước vào giai đoạn cách mạng công nghiệp Khởi điểm của cuộc cách mạng này là sự xuất hiện máy móc cơ khí, là sự nhảy vọt từ lao động thủ công sang lao động bằng máy móc dựa trên những thành tựu số học, cơ học, vật lý học, hoá học và động lực học kết hợp với trình độ phân công lao động, chuyên môn hoá khá hoàn thiện của nền sản xuất Mở đầu là các phát minh trong ngành bông vải sợi Năm 1733, nhà kỹ thuật Giôn Kay (John Kay) phát minh
ra thoi bay làm cho năng suất sợi tăng gấp đôi Năm 1735, Abraham Đácbi phát minh ra phương pháp nấu than cốc từ than đá để luyện gang, góp phần phát triển ngành luyện kim và cơ khí Năm 1765, người thợ dệt Giêm Hácrivơ
Trang 20phát minh ra máy kéo sợi có 16 đến 18 cọc suốt so với xa kéo sợi một cọc suốt thủ công trước đây Năm 1769, máy kéo sợi chạy bằng sức nước ra đời mang tên áccraitơ sau đó được công nhân Xamyen Crơmtơn cải tiến tới trình
độ cao hơn Nhưng hạn chế của loại máy kéo sợi này là phải xây dựng nơi sản xuất gần nguồn nước Cùng năm đó, một thực nghiệm viên là Giêm Oát (James Watt) (1736-1812) tìm ra nguyên tắc máy hơi nước mở đường cho việc giải phóng sức lao động Vài năm sau, máy dệt chạy bằng hơi nước ra đời có năng suất tăng gấp 39 lần Nhờ có những phát minh vĩ đại ấy, lao động bằng máy đã thắng lao động bằng chân tay ở hầu hết các ngành công nghiệp chủ yếu của nước Anh Cách mạng công nghiệp có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội, làm phân hoá kết cấu giai cấp, thay đổi nhận thức của con người đối với giới tự nhiên và xã hội
Những thành tựu kinh tế và văn hóa thời kỳ này, mà đỉnh cao là cách mạng công nghiệp ở Anh, càng khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới Cùng với cách mạng tư sản Pháp làm rung chuyển cả Châu Âu, chúng đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại Trong khi đó, ở nước Đức vẫn còn trong tình trạng lạc hậu cả về kinh tế lẫn chính trị: nền kinh tế bị ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, sự tập trung ruộng đất trong tay địa chủ, những tàn dư chế độ nông nô, chế độ phường hội trong thành thị đã làm năng suất lao động thấp, đời sống của đại đa số quần chúng nhân dân trở nên nghèo nàn cùng cực Hơn nữa, sự phân chia lãnh địa của hàng trăm cát cứ phong kiến và cùng với đó là sự phân chia về kinh tế và chính trị đã cản trở nước Đức phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng, như Ph.Ăngghen nhận xét: “Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn đã bao trùm cả nước Không có giáo dục, không
Trang 21có dư luận xã hội, thậm chí không có buôn bán tương đối lớn với các nước khác - không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự lợi; lề thói con buôn hèn mạt, xun xoe, nịnh hót thảm hại, đã thâm nhập toàn dân Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi”[33, tr.754] Có thể coi đây là một trong những thời kỳ yếu hèn nhất trong lịch sử nước Đức
Thêm vào đó, những tiến bộ đáng kể của khoa học, nhất là các ngành khoa học tự nhiên, ngày càng chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình thống trị trong tư tưởng Tây Âu suốt thế kỷ XVII, XVIII Việc phát minh ra điện và sử dụng điện năng góp phần tạo ra bước nhảy vọt trong sự phát triển của sản xuất từ công trường thủ công tới công nghiệp cơ khí, đồng thời chứng thực những phát triển đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn và biến hóa năng lượng và vật chất của vũ trụ Phát minh của Lavoariê ra ôxi và bản chất của sự cháy đã đánh đổ thuyết nhiên tố, mở ra giai đoạn phát triển mới của hóa học Những công trình nghiên cứu của Lamác, Linnơ, việc phát hiện
ra tế bào của Lơvenhúc…đòi hỏi phải có cách lý giải mới về bản chất của sự sống
Bối cảnh lịch sử đó ở Tây Âu và nước Đức đặt trước các nhà triết học nhiều vấn đề: siêu hình học thế kỷ XVII (với các đại biểu chính như Đềcáctơ, Lépnít, Xpinôda…) từng đóng vai trò to lớn trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hóa tri thức con người đã không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển và tư tưởng Tây Âu thế kỷ XVIII, khi mà hàng loạt các khoa học đã
đủ sức phát triển tách ra khỏi cái nôi triết học của mình, trở thành những lĩnh vực nghiên cứu độc lập Ngay từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện nhiều xu hướng xét lại siêu hình học và các giá trị tư tưởng truyền thống Tuy nhiên, triết học Tây Âu Phục hưng và Cận đại (ngay cả triết học khai
Trang 22sáng Pháp thế kỷ XVIII) từng là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản trong thời
kỳ bình minh đầy tính cách mạng của nó, về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi quan niệm cơ học về thế giới, đồng thời bất lực trong công việc lý giải bản chất của thực tiễn xã hội đang diễn ra cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỳ XIX Trong tình hình đó, Cantơ đã nhìn thấy rõ những điểm hợp lý trong các triết học trước ông, song ông còn thấy rõ hơn tính chất giáo điều của triết học duy lý và tính chất hoài nghi thiếu cơ sở trong triết học theo kinh nghiệm luận Những hạn chế này, theo Cantơ, đã trở thành “căn bệnh trầm kha” trong lĩnh vực tư tưởng
ở thời đại ông Điều này, khiến Cantơ tự đặt ra cho mình nhiệm vụ phân tích
có phê phán các trào lưu triết học trước đó, nhằm xem xét và đánh giá lại khả năng nhận thức của con người, giải phóng nhận thức luận khỏi cách tiếp cận đang thống trị lúc đó, mà theo Cantơ là cách tiếp cận giáo điều
Do đó, bằng cách đặt vấn đề hết sức độc đáo của mình, Cantơ đã hình thành triết học phê phán và quan niệm về chủ thể nhận thức tiên nghiệm và khả năng của nó trong nhận thức luận trên cơ sở dung hòa hai trường phái triết học duy lý cực đoan và duy kinh nghiệm cực đoan Có thể nói, trong bối cảnh xã hội Đức có trình độ lạc hậu hơn rất nhiều so với một số nước phát triển tư bản chủ nghĩa đi đầu ở Tây Âu, triết học I.Cantơ là sự khai phá tiến
bộ trên lĩnh vực tư tưởng
1.2.2 Những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời nhận thức luận của Cantơ
a Chủ nghĩa duy kinh nghiệm như là cơ sở lý luận cho nhận thức luận của Cantơ
Bước sang thời kỳ Cận đại, bắt đầu từ thế kỷ thứ XVII, các nước Tây
Âu đã đạt được sự phát triển khá thịnh vượng về kinh tế - xã hội Giai cấp tư sản ngày càng khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong đời sống xã hội Họ tập hợp lực lượng chống lại chế độ phong kiến lỗi thời, và điều này đã
Trang 23đó có triết học, đặc biệt phải kể đến triết học ở Anh Lúc này Anh đã trở thành một cường quốc tư bản lớn và các nhà triết học Anh cũng trở thành ngọn cờ
lý luận của giai cấp tư sản trong cuộc cách mạng tư sản (1642-1648) Không những thế, sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và khoa học thực nghiệm đã có những tác động không nhỏ đến lập trường tư tưởng của các nhà triết học Anh
Họ là những nhà tư tưởng đầu tiên đưa ra các phương pháp khoa học cho việc phát triển tri thức và cố gắng sử dụng các phương pháp này cho hoạt động triết học Do vậy, trong số họ, nhiều nhà triết học thời kỳ này đã đề cao vai trò của thực nghiệm, của cảm tính trong nhận thức và đặc biệt vai trò của chủ thể nhận thức Quan niệm này là sự đúc rút những giá trị hợp lý trong nhận thức luận của các nhà triết học cổ đại như Arixtốt, Đêmôcrit, và phương pháp tư duy khoa học mới của các ông trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ Để hiểu thấu đáo hơn về chủ nghĩa duy kinh nghiệm với tư cách là một trong những tiền đề lý luận cho sự hình thành quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức, cần xem xét cụ thể sự phát triển tư tưởng của một số đại diện tiêu biểu trong thời kỳ này
* Xu hướng duy cảm trong nhận thức luận của Ph.Bêcơn
Ph.Bêcơn (Francis Bacon) (1561-1626) được C.Mác đánh giá là “Ông
tổ của chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm” [68, tr.264] Ph.Bêcơn tự nhận nhiệm vụ cải cách triết học và khoa học Khởi điểm lý luận nhận thức của Bêcơn là sự phê phán của ông đối với lối học truyền thống trong đó theo ông là học thức đã bị ngưng trệ Khoa học bị đồng nghĩa với học thức, và học thức chỉ có nghĩa là đọc các tác phẩm cổ: “Việc học y khoa chẳng hạn, chủ yếu là lối từ văn chương và được thực hành bởi các nhà tu từ, nhà thơ và các giáo sĩ mà trình độ thực hành của họ được đánh giá bằng khả năng trích dẫn Hiporates và Galen Triết học vẫn còn bị thống trị bởi Plato và Aristotle và những lời giảng dạy của họ chỉ là những bóng ma” [53, tr.179]
Trang 24Khi Bêcơn nhấn mạnh lợi ích của học thức coi “tri thức là sức mạnh”, ông đặc biệt bị kích động bởi tính “vô bổ của lối học truyền thống” Cái làm cho lối học này vô bổ đó là khoa học bị pha trộn với mê tín Theo ông, trong đường lối khoa học này thiếu phương pháp thích hợp để khám phá xem thiên nhiên là gì và nó hoạt động ra sao Nhiệt thành ủng hộ sự phát triển của khoa học với hoài bão xây dựng một cách nhìn mới về thế giới thực sự khách quan, ông cũng chỉ ra những hạn chế trong khả năng nhận thức của con người Những hạn chế không phải chỉ dẫn đến những sai lầm vụn vặt và nhất thời,
mà là những sai lầm nghiêm trọng không thể tránh khỏi của con người trong nhận thức Ông gọi chúng ta là những ảo tưởng (idola - theo tiếng Hy Lạp cổ
nó có nghĩa là hình ảnh bị xuyên tạc) từ đó, ông đưa ra cách thức để nhận thức chân lý và khắc phục được các ảo tưởng bằng việc vạch ra cơ chế và bản chất của chúng Trên thực tế, Bêcơn đã nhận thấy được khả năng nhận thức của con người và đã tìm cách khai thác khía cạnh đó, bắt đầu từ việc chỉ ra nguồn gốc và các loại ảo tưởng
Theo ông các ảo tưởng có nguồn gốc hoàn toàn khách quan vì chúng có trong bản chất của trí tuệ con người, một phần xuất hiện trong quá trình lịch
sử nhận thức của nhân loại, một phần nảy sinh trong tố chất sinh lý và nhân cách của mỗi người, đó là những sai lầm trong nhận thức Để khắc phục những sai lầm đó, Ph.Bêcơn đưa ra vấn đề phương pháp
Các phương pháp nhận thức mà Bêcơn đưa ra thực ra là những phương pháp gắn liền với chủ nghĩa duy kinh nghiệm, chủ nghĩa duy cảm duy vật, nhằm hướng tư duy và trí tuệ của con người vào việc khái quát và diễn giải những tư liệu do cảm tính đem lại
Với việc đưa ra những phương pháp nhận thức khoa học có xu hướng duy cảm kinh nghiệm ấy, Bêcơn đã tháo cởi xiềng xích của tư duy kinh viện
Trang 25người một cách khoa học hơn trong đó có người đồng hương và người bạn của ông nhà triết học Tômát Hốpxơ
* Cảm giác với tư cách là khả năng nhận thức trong quan niệm của Hốpxơ
Cũng như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Thomas Hobbs) (1588 - 1679) cho rằng
“tri thức là sức mạnh” do vậy phải tăng cường phát triển các khoa học, nhất là triết học Lý luận triết học phải phục vụ thực tiễn của con người vì nó giúp cho con người hiểu biết về các sự vật Hốpxơ là người hệ thống và phát triển các quan niệm duy vật của Bêcơn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó, vấn đề con người và khả năng nhận thức của con người được coi là tâm điểm trong triết học của ông
Xuất phát từ quan niệm duy vật thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới có trước con người và không phải do chúa trời tạo ra Hốpxơ đã bênh vực chủ nghĩa duy cảm cho rằng chỉ có vật thể đơn lẻ tồn tại Mọi khái niệm như:
“Thực thể”, “vật chất”…đều chỉ là những tên gọi Ông nói: “Trong thế giới chẳng có gì chung cả, ngoài các tên gọi” [68, tr.282], nên điều không tránh khỏi là ông phải giải thích mọi thực tại và mọi quá trình theo kiểu các vật thể chuyển động Ở đây, sự chuyển động, theo ông, không chỉ là sự di dời chỗ mà còn là quá trình biến đổi Các sự vật đơn lẻ trở nên khác, vì bên trong chúng
đã có sự biến đổi ít nhiều Và sự thay đổi này không chỉ áp dụng trong trạng thái tự nhiên của con người, mà còn cả trong khả năng tư duy của con người nữa
Trí tuệ con người hoạt động bằng nhiều cách, từ tri giác, tưởng tượng ghi nhớ đến suy nghĩ Tất cả những cách hoạt động này của trí khôn cơ bản đều giống nhau vì tất cả đều là những chuyển động trong cơ thể chúng ta Hốpxơ đặc biệt thấy rõ điều này Hốpxơ viết: “Tri giác là khả năng chúng ta cảm giác sự vật, nó là hành vi tinh thần cơ bản và các hành vi khác đều phát xuất từ hành vi gốc này” [Trích theo 53, tr.185] Toàn thể cấu trúc và quá
Trang 26trình của tư duy con người được giải thích như là những vật thể chuyển động
và những biến thiên trong hoạt động tinh thần được giải thích bằng cách gắn chỗ cho mỗi loại hành vi này dọc theo một chuỗi nguyên nhân có thể mô tả được Như thế, quá trình tư duy bắt đầu khi một vật thể ở ngoài chúng ta chuyển động và tạo ra một chuyển động trong chúng ta như khi chúng ta thấy một cái cây và việc thấy cái cây được gọi là tri giác hay cảm giác
Khi chúng ta nhìn thấy cái cây, chúng ta thấy cái mà Hốpxơ gọi là một
“huyễn tượng” (phantasm) Một huyễn tượng (phantasm) là hình ảnh tạo ra trong đầu óc chúng ta bởi một vật thể bên ngoài Và hình ảnh này vẫn được thấy khi đối tượng không còn, khi ta nhắm mắt, tuy rằng, chúng ta có thể sẽ
mờ nhạt hơn lúc đầu Hốpxơ gọi sự giữ lại hình ảnh này là trí tưởng tượng Như vậy, tưởng tượng chỉ là một sự phân rã của cảm giác mà Hốpxơ gọi là cảm giác đang phân rã Sau này, khi chúng ta muốn diễn tả sự phân rã này và nói rằng cảm giác đang mờ nhạt dần, chúng ta gọi là trí nhớ: “Vì vậy tưởng tượng và trí nhớ chỉ là một điều duy nhất, được gọi bằng các tên khác nhau để xét về khía cạnh khác nhau” [Trích theo 53, tr.186]
Hốpxơ đã dùng một mẫu máy móc để giải thích về tư duy như việc ông giải thích về cảm giác, cho nên, theo ông, tư duy chỉ là một dạng khác của cảm giác mà thôi Các tư tưởng nối tiếp nhau trong tư duy của con người vì trước hết chúng ta đã nối tiếp trong cảm giác, vì những chuyển đổi đã nối tiếp nhau trong cảm giác, cũng sẽ tiếp tục nối tiếp nhau sau cảm giác
Tóm lại, Hốpxơ quan niệm rằng không gì xảy ra trong tư duy mà không thể giải thích như là cảm giác và trí nhớ
Hơn nữa, Hốpxơ còn cho rằng, khoa học và triết học có thể có được là
vì con người có khả năng tạo ra các từ và câu Cho nên nhận thức có hai dạng, một là nhận thức về sự kiện, và hai là nhận thức về hậu quả Nhận thức sự
Trang 27thuyết hay điều kiện, nhưng vẫn dựa trên kinh nghiệm, vì nó khẳng định rằng nếu A đúng thì B cũng đúng, hay theo ví dụ của Hốpxơ: “Nếu cái hình xem là một hình tròn, thì mọi đường thẳng đi qua tâm nó sẽ chia nó thành hai phần bằng nhau” [Trích theo 53, tr.187]
Bên cạnh đó, Hốpxơ còn khẳng định tri thức khoa học hay triết học chỉ
có thể có được khi con người có khả năng sử dụng các từ và lời nói Các từ và câu chỉ là cách thức hoạt động hiện thực của con người và sự vật Quan hệ giữa các từ với nhau thì dựa trên quan hệ giữa các sự kiện mà các từ đó biểu thị Và ngay cả khi từ “người” không chỉ về một thực tại chung hay phổ quát
mà chỉ về những con người cụ thể, thì Hốpxơ vẫn cho rằng, chúng ta có tri thức chắc chắn, rằng mặc dù: “Kinh nghiệm không kết luận điều gì một cách phổ quát” nhưng khoa học dựa trên kinh nghiệm thì “kết luận một cách phổ quát”, đây là thuyết duy danh của Hốpxơ, dẫn tới ông nói rằng các từ phổ quát như “người” chỉ là các từ đơn thuần chứ không chỉ về thực tại phổ quát nào
Như vậy, Hốpxơ đã thừa nhận khả năng nhận thức thông qua cảm giác của con người Học thuyết duy danh có xu hướng duy cảm của Hốpxơ sau này
có những ảnh hưởng nhất định đến quan niệm của Cantơ về chủ thể nhận thức
* Lốccơ về những năng lực của chủ thể nhận thức
Với tư cách là đại biểu duy cảm điển hình của chủ nghĩa duy vật Anh, G.Lốccơ (John Locke) (1632-1704) đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của triết học Cận đại với phương pháp mới được Hêghen đánh giá cao: “Khoa học nói chung và nhất là các khoa học kinh nghiệm, bởi nguồn gốc của mình phải mang ơn phương pháp của Lốccơ” [Trích theo 68, tr.285] Do vậy, chúng
ta không thể bỏ qua những quan niệm của Lốccơ về khả năng nhận thức của con người trong hệ thống triết học của ông
Trang 28Về vấn đề này mục đích của Hốpxơ là nghiên cứu các khả năng nhận thức của con người và việc chúng được vận dụng trong nhận thức khách thể
mà sự vật có liên quan
Lốccơ mở đầu nhận thức luận của mình bằng việc phê phán học thuyết
về các tư tưởng bẩm sinh của Đềcáctơ theo đó: trong con người có sẵn các tư tưởng bẩm sinh mà chân lý của chúng rất xác thực và do vậy, dễ dàng được mọi người thừa nhận Phê phán học thuyết duy tâm trên đây, Lốccơ tìm cách luận chứng sự cố vô lý của nó Ông viết: “Để thuyết phục các độc giả không
có thành kiến gì về sự giả dối của quan niệm trên, chỉ cần vạch ra tại sao mọi người chỉ đơn thuần dựa vào khả năng tự nhiên của mình, không cần đến những ý niệm bẩm sinh, mà vẫn có thể có được toàn bộ tri thức của mình và
đi đến chân lý” [Trích theo 46, tr.145]
Ở đây, thừa nhận tư tưởng bẩm sinh tức là thừa nhận rằng con người ngay khi sinh ra đã có chúng rồi Nhưng trong thực tế có rất nhiều trẻ em và thậm chí cả người lớn tuổi nhưng vô học, đều không biết cả những điều sơ đẳng Hơn nữa, thừa nhận tư tưởng bẩm sinh, tức là phủ nhận toàn bộ quá trình nhận thức, hoạt động nhận thức của con người trở nên thừa, bởi vì điều
đó “chẳng khác gì khẳng định rằng suy lý đã khám phá cho con người những điều mà anh ta đã biết từ trước rồi” [Xem 18, tr.188] Cho nên, Lốccơ khẳng định rằng, toàn bộ các tri thức, chân lý đều là kết quả nhận thức của con người chứ không phải là bẩm sinh Và ông đi đến kết luận: các ý niệm bẩm sinh ít có cơ sở có được khi mới sinh mà chúng dần có được ở trong linh hồn con người nhờ kinh nghiệm, cũng như sự quan sát của con người đối với các
sự vật xung quanh
Để đối lập với học thuyết duy tâm trên, Lốccơ đưa ra nguyên lý Tabula
rasa (tấm bảng sạch) trên cơ sở phát triển nguyên lý của Arixtốt Nguyên lý
Trang 29mà là kết quả của nhận thức con người, thứ hai, mọi quá trình nhận thức đều phải xuất phát từ các cơ quan cảm tính, thứ ba, linh hồn con người không phải đơn thuần là “tấm bảng sạch” hoàn toàn thụ động đối với mọi hoàn cảnh xung quanh, mà có vai trò tích cực nhất định Lốccơ nhận xét: “Trong số những người được giáo dục như nhau, tồn tại một sự bất bình đẳng rất lớn về khả năng trí tuệ của họ” [68, tr.288]
Như vậy, trong việc phê phán học thuyết về các tư tưởng bẩm sinh,
cũng như trong sự khẳng định nguyên lý Tabula rasa, Lốccơ đứng trên lập
trường duy vật Với tinh thần duy vật này, Lốccơ đã khẳng định nguồn gốc duy nhất của mọi sự tri thức là kinh nghiệm Tuy nhiên, ông hiểu kinh nghiệm không chỉ là khả năng nhận thức cảm tính (tức kinh nghiệm bên ngoài) mà cả bản thân lý tính (được ông gọi là kinh nghiệm bên trong) Điều này càng thể hiện rõ sự nổi bật về lập trường duy cảm của ông với luận điểm nổi tiếng:
“Không có cái gì trong lý tính mà trước đó lại không có trong cảm tính”[68, tr.289]
Cũng xuất phát từ lập trường duy vật, duy cảm, Lốccơ còn đưa ra quan niệm về “ý niệm” và miêu tả cụ thể quá trình nhận thức Theo ông, ý niệm chính là toàn bộ những tri thức mà con người có được trong quá trình nhận
thức Các tri thức này được ông gọi là: “Ý niệm đơn giản” khi nó được con
người lĩnh hội trong giai đoạn thứ nhất của quá trình nhận thức, tức là giai đoạn mà các sự vật tác động vào các giác quan của chúng ta (tức kinh nghiệm bên ngoài) và cho ta những dữ kiện cá biệt về những đặc tính bên ngoài của
các vật dưới dạng đơn nhất Còn ngược lại, chúng được Lốccơ gọi là: “Ý niệm
phức tạp” khi chúng được con người lĩnh hội trong giai đoạn thứ hai của quá
trình nhận thức Ở giai đoạn này lý tính bắt đầu quá trình so sánh, phân tích…các tư liệu mà cảm tính đem lại, từ đó tạo ra các phạm trù, khái niệm chung thể hiện sự giống nhau của một nhóm các sự vật nhất định
Trang 30Tuy nhiên, hai giai đoạn trong quá trình nhận thức của con người được Lốccơ tách rời nhau, chứ ông không thừa nhận tri thức của con người chỉ có được nhờ đồng thời cả hai nguồn này Với lập trường duy danh, ông chỉ thừa nhận mọi sự vật trong giới tự nhiên tồn tại dưới dạng đơn nhất, tức là đề cao vai trò của cảm giác trong quá trình nhận thức Tuy nhiên, đối với những “ý niệm” phức tạp ông chỉ coi là kết quả hoạt động riêng của lý tính hoàn toàn chủ quan của con người, chứ không phản ánh đặc tính nào của sự vật cả
Ngoài ra, Lốccơ còn phân chia các tính chất của sự vật thành các “chất
có trước” và các “chất có sau” dựa trên cơ sở sự phân chia cấu trúc kinh nghiệm và việc thừa nhận một số tư tưởng có nguồn gốc hoàn toàn chủ quan trong lý tính của con người Điều này thể hiện lập trường duy vật không triệt
để của ông Mặc dù vậy, với tất cả những quan niệm duy cảm về khả năng và hoạt động nhận thức của con người, Lốccơ thể hiện sự tích cực trong việc phê phán quan niệm duy tâm, duy lý Điều này phần nào giúp chúng ta nhận thấy vai trò của hoạt động con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới Chính những đóng góp này của Lốccơ đã góp phần tạo nên một trong những nguồn gốc lý luận cơ bản cho triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, cũng như cho sự hình thành triết học của Cantơ
* Béccơli (George Berkeley)(1685-1753)
G.Béccơli là nhà triết học nổi tiếng người Anh, một đại biểu của chủ nghĩa duy tâm chủ quan chịu nhiều ảnh hưởng của xu hướng phê phán các quan niệm triết học cũ Béccơli sử dụng ngay lập trường duy cảm của các nhà duy vật Anh để chống lại họ và các hệ thống siêu hình học Lợi dụng sự dao động của Lốccơ trong việc phân chia đặc tính của sự vật hình thành chất có trước và chất có sau ông chứng minh khả năng nhận thức của con người có được là do chính con người
Trang 31Quá đề cao cảm giác, Béccơli đã đồng nhất toàn bộ các ý niệm của con người với các cảm giác Ở ông hai khái niệm cảm giác và ý niệm đồng nhất với nhau Bản thân các cảm giác cấu thành các khái niệm trừu tượng và thực chất đây cũng chỉ là kết quả so sánh và phân tích các cảm giác Theo Béccơli,
để nhận thức một nhóm các sự vật cùng chung một đặc tính giống nhau nhất thiết phải dùng phương pháp trừu tượng điển hình, tức là chúng ta cần nhận thức một vài sự vật tiêu biểu trong số đó Từ đó, ông nhận định chân lý chính
là sự phù hợp giữa sự suy diễn của chúng ta về sự vật với chính bản thân sự vật đó tồn tại trên thực tế Và ông cũng phủ nhận sự tồn tại khách quan của chân lý trên cơ sở phủ nhận sự tồn tại khách quan của sự vật
Việc xây dựng tri thức đúng đắn theo Béccơli phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau: 1 Tính rõ ràng cả các tri giác cảm giác; 2 Tính tương đồng của các tri giác gần như là sự giống nhau ở một vài người; 3 Sự tương đồng của nhiều cảm giác với nhau; 4 Tính đơn giản và dễ hiểu; 5 Sự phù hợp với ý chúa và tuân theo ý chúa [68, tr.344]
Như vậy, Béccơli tin tưởng rằng các luận cứ của mình và các hiện hữu thiêng liêng cũng như việc đề cao vai trò của cảm giác có thể lật đổ được lập trường của chủ nghĩa duy vật triết học và chủ nghĩa hoài nghi tôn giáo Đồng thời, những quan niệm này của ông cũng đóng vai trò tiền đề lý luận cho việc xây dựng nhận thức luận cũng như quan niệm về chủ thể nhận thức trong triết học Cantơ đặc biệt là học thuyết về các phạm trù
*Hium (David Hume) (1711-1776)
Đ.Hium là nhà triết học nổi tiếng người Anh, là bậc tiền bối của triết học Cantơ sau này Có thể nói rằng, Cantơ chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các quan niệm trong nhận thức luận của Hium Đặc biệt, là thuyết duy nghiệm của Hium được đánh giá là bước ngoặt trong sự phát triển tri thức của Cantơ
Trang 32Trong nhận thức luận của mình, luận cứ ấn tượng nhất của Hium là: vì mọi nhận thức của chúng ta đến từ kinh nghiệm, chúng ta không có nhận thức nào về “nhân quả” hay các quan hệ tất yếu vì chúng ta không có được kinh nghiệm về tính nhân quả, và vì vậy, chúng ta không thể suy ra hay dự đoán bất cứ sự kiện tương lai nào từ kinh nghiệm hiện tại của chúng ta Theo Hium, cái mà chúng ta gọi là nhân quả chỉ đơn giản là thói quen chúng ta liên kết hai điều kiện vì chúng ta thấy chúng đi cùng với nhau, nhưng điều này không chứng minh cho kết luận rằng, các sự kiện này có quan hệ tất yếu nào với nhau Vì vậy, ông bác bỏ suy luận quy nạp Thế nhưng, chính khoa học lại được xây dựng dựa trên khái niệm nhân quả và suy luận quy nạp, vì nó giả định rằng, nhận thức của chúng ta về các sự kiện riêng biệt trong hiện tại cung cấp cho chúng ta nhận thức chắc chắn về một số vô hạn các sự kiện trong tương lai Hệ quả lôgic của thuyết duy nghiệm của Hium là không thể có tri thức khoa học, và điều này dẫn tới chủ nghĩa hoài nghi triết học
Cũng như Béccơli, Hium tuyệt đối hóa vai trò của cảm giác, ông coi đó
là xuất phát điểm và dạng cơ bản của nhận thức Tuy nhiên, nếu Béccơli không dừng lại việc xem xét cảm giác trong khuôn khổ nhận thức luận, mà coi thế giới chỉ là tổ hợp của các cảm giác, thì Hium lại tách biệt cảm giác của con người với thế giới bên ngoài, coi bản thân các cảm giác mới là nguồn gốc của nhận thức chứ không cần đến tác động của thế giới bên ngoài Ông cho rằng “giới tự nhiên, đã đặt chúng ta ở một khoảng cách khá xa với các điều bí
ẩn của nó, và nó chỉ thể hiện cho chúng ta những tri thức về một số các đặc tính, vẻ bên ngoài” [68, tr.346]
Ông cũng đưa ra nguyên lý kết hợp với ba dạng liên tưởng của ý niệm
Đó là: 1 Dạng liên tưởng theo sự giống nhau; 2 Dạng liên tưởng kế cận nhau trong không gian và thời gian; 3 Dạng liên tưởng nhân quả
Trang 33Có thể nói, dưới hình thức duy tâm thần bí, các quan niệm của Hium đặc biệt đề cao vai trò của cá nhân con người, coi con người là vấn đề trung tâm của mọi vấn đề triết học và khoa học Cantơ hết sức ngưỡng mộ những quan điểm nay của Hium Ông nói “tôi công khai thú nhận, gợi ý của Đavít Hium chính là điều lần đầu tiên đã đánh thức tôi ra khỏi giấc ngủ giáo điều nhiều năm trước, và đã vạch ra một hướng đi mới cho các tra cứu của tôi trong lĩnh vực tư duy triết học” [Trích theo 53, tr.244]
Tóm lại, thông qua quan niệm của các đại diện tiêu biểu trên của chủ
nghĩa duy kinh nghiệm chúng ta có thể thấy rằng nhà triết học này đề cao vai trò của cảm giác trực quan Các ông cũng coi tính tích cực của tư duy con người là sự cản trở đối với trực quan cần thiết và đúng đắn về chân lý Vai trò của tư duy trong nhận thức được họ quy về sự kết hợp, sự trừu tường hóa và phân biệt các đối tượng, do vậy mà tri thức thu nhận được nhờ các cơ quan cảm giác được họ coi là phong phú hơn và cụ thể hơn Các nhà triết học duy kinh nghiệm tuy không phủ nhận vai trò của lý tính cá nhân, của những sự trừu tượng nhưng lại không đánh giá hết vai trò của các hình thức lôgic phổ biến Có thể nói rằng, các ông chỉ nhìn thấy sự phản ánh trong nhận thức, quy bản thân nhận thức về sự tiếp nhận thụ động các tác động từ bên ngoài chứ chưa nhận thấy rõ vai trò của chủ thể nhận thức trong quá trình con người nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan niệm của các nhà duy kinh nghiệm Cận đại đã trở thành tiền đề lý luận quan trọng cho sự hình thành quan niệm của Cantơ về những năng lực nhận thức của chủ thể, đặc biệt là năng lực cảm tính
b Quan niệm duy lý về chủ thể nhận thức trong triết học Tây Âu thời kỳ Cận đại
Mặc dù triết học ít khi đổi hướng đi và thái độ một cách đột ngột triệt
để, nhưng có những thời kỳ, trong đó, thông qua quan tâm triết học đó có phân cách rõ rệt với quá khứ trực tiếp của nó Đây là điều đã xảy ra ở châu Âu
Trang 34vào thế kỷ XVII với chủ nghĩa duy lý mà người khai sinh ra nói là R.Đềcáctơ
và chương trình mới của nó là khởi đầu của triết học Cận đại Nói đúng ra, nhiều điểm mà các nhà triết học duy lý châu Âu muốn làm đều đã manh nha trong các cố gắng của các nhà triết học Trung cổ cũng như của Bêcơn và Hốpxơ Nhưng Đềcáctơ, Xpinôda và Lépnít đã đưa đến một lý tưởng mới cho triết học Chịu ảnh hưởng của những tiến bộ và thành tựu của khoa học, toán học, chương trình mới của họ là một cố gắng nhằm cung cấp cho triết học sự chính xác của toán học Họ cố gắng triển khai những nguyên tắc thuần túy rõ ràng và tổ chức chúng thành một hệ thống các chân lý, từ đó có thể rút ra những thông tin chính xác về thế giới Họ nhấn mạnh vào khả năng lý tính của trí tuệ con người mà bây giờ họ coi là cội nguồn của chân lý liên quan đến
cả con người lẫn thế giới Tuy không chối bỏ những chân lý của tôn giáo, nhưng họ coi suy luận triết học là một lĩnh vực độc lập với “mặc khải” siêu nhiên
Tuy đánh giá thấp cảm tính chủ quan và sự nhiệt tình như phương tiện khám phá chân lý nhưng họ vẫn tin rằng sự cấu tạo của trí tuệ khiến nó chỉ cần hoạt động theo phương pháp thích hợp, từ đó nó có thể khám phá bản chất
vũ trụ Đây là một quan niệm lạc quan về lý trí con người, xóa đi những cố gắng thời trước của Montaigne và Charron khi họ muốn phục hưng chủ nghĩa hoài nghi thời cổ Các nhà duy lý nghĩ rằng, điều gì họ có thể suy nghĩ một cách rõ ràng trong trí tuệ thì tồn tại hiện thực trong thế giới bên ngoài trí tuệ Đềcáctơ và Lépnít thậm chí còn cho rằng một số ý niệm là bẩm sinh trong trí tuệ con người, và khi có cơ hội thích hợp, kinh nghiệm sẽ làm cho những chân lý bẩm sinh này trở thành hiển nhiên
Sở dĩ chương trình quá lạc quan của chủ nghĩa duy lý không hoàn toàn thành công, đó là vì những khác biệt trong ba hệ thống mà chủ nghĩa duy lý phát sinh Các nhà duy lý đều giải thích thế giới tự nhiên theo mẫu máy móc
Trang 35mô tả thực tại như một thể nhị nguyên bao gồm hai thực thể cơ bản là tư duy
và quảng tính Xpinôda chủ trương thuyết nhất nguyên, cho rằng chỉ có một thực tế duy nhất là tự nhiên, với những thuộc tính và trạng thái khác nhau Lépnít chủ trương thuyết đa nguyên, cho rằng mặc dù có một loại thực thể là đơn tử (monad) nhưng có nhiều loại đơn tử tạo nên các yếu tố khác nhau trong tự nhiên Các nhà duy kinh nghiệm như: Lốccơ, Béccơli, và Hium được coi là một nhóm triết gia Cận đại thứ hai ngay sau các nhà duy lý, đã nêu lên những câu hỏi tìm tòi sâu sắc về các tiền đề của những nhà duy lý, nhằm tìm cách giải đáp những vấn đề đó
Có thể nói rằng, dù có sự hạn chế ở việc không đánh giá đúng mức vai trò của nhận thức cảm tính và quá đề cao vai trò của lý tính và lôgic khoa học, nhưng những quan nhiệm của Đềcáctơ, Xpinnôza, Lépnít đặc biệt là những tư tưởng về khả năng tư duy và vai trò của con người trong nhận thức đã đóng vai trò to lớn đối với việc xây dựng hệ thống lý luận triết học, cũng như trong việc phát triển tư duy lý luận của nhân loại nói chung
* R.Đềcáctơ và quan niệm về chủ thể nhận thức
R.Đềcáctơ (Rene Descartes) (1596-1650) thường được coi là cha đẻ của chủ nghĩa duy lý Cận đại Cùng với Ph.Bêcơn, ông cũng được coi là người đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học Tây Âu Cận đại Với lập trường duy lý đặc biệt đề cao vai trò của trí tuệ, của tư duy lôgic và các tri thức lý luận khoa học, Đềcáctơ đã xây dựng cho mình một hệ thống triết học mang tính chất của con người, do con người và vì con người
Do đó, vấn đề khả năng nhận thức của con người cũng là một mảng quan trọng trong hệ thống triết học đó
Xuất phát từ những quan niệm về bản chất và vai trò của triết học, Đềcáctơ đặt nhiệm vụ phải xây dựng một hệ thống triết học mới khác hoàn toàn so với triết học trước đó Ông bắt đầu từ việc phê phán mạnh mẽ các tư
Trang 36tưởng của giáo hội và kinh viện, đặt tất cả mọi tri thức mà con người đã đạt được từ trước tới giờ dưới sự phê phán của lý tính Đềcáctơ cho rằng phải coi
lý tính, trí tuệ con người là tòa án thẩm định và đánh giá mọi tri thức, quan niệm mà nhân loại đã đạt được, nghi ngờ cái mà thường ngày ta vẫn cho là đúng Nhưng nghi ngờ đó là để tìm ra chân lý, đó chỉ là tiền đề chứ không phải là kết luận
Bên cạnh đó, Đềcáctơ còn nhấn mạnh rằng, có một điều mà tôi không thể nghi ngờ được là chính bản thân chủ thể đang nghi ngờ, đó là chính tôi Tôi đang hoài nghi sự tồn tại của tất cả, nhưng tôi không thể hoài nghi sự tồn tại của chính mình vì tôi đang nghi ngờ Nếu tôi không tồn tại thì sao tôi lại có thể đang nghi ngờ được Nhưng mặt khác chính vì tôi đang nghi ngờ thì tôi mới biết rằng mình tồn tại là nhờ việc tôi nghi ngờ Mà nghi ngờ thì cũng là suy nghĩ, là tư duy Do đó, “tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” (Cogito, ergo sum) [Xem thêm 12, tr.166]
Ở đây, mệnh đề: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” thể hiện sự đề cao vai trò đặc biệt của lý tính, của trí tuệ con người, coi đó là chuẩn mực đánh giá mọi suy nghĩ và hoạt động của con người Đồng thời, với mệnh đề trên còn thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa con người với quá trình tư duy của họ Con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình tư duy của mình chứ không phải là Thượng đế hay là một lực lượng siêu nhiên nào có vai trò thúc đẩy quá trình tư duy của con người Nhìn chung, tinh thần của “Cogito, ergo sum” là
đề cao vai trò tích cực của con người đối với thế giới, coi con người là trung tâm của triết học và xã hội
Không những vậy, Đềcáctơ còn cho rằng, “tri thức chân thật hơn cả không phải là tri thức cảm tính mà là tri thức lý tính, không phải là tri thức thu nhận được nhờ diễn dịch mà là tri thức trực giác, trực tiếp Và thuộc tính cơ
Trang 37niệm rõ ràng, rành mạch, trực giác trí tuệ là bẩm sinh là do Thượng đế đặt vào đầu óc chúng ta Các khái niệm này không phụ thuộc vào cảm giác và kinh nghiệm, mặc dầu nếu không có kinh nghiệm thì các khái niệm ấy cũng không
có nguyên cớ để khám phá và giải thích các hiện tượng và chân lý
Học thuyết coi trí tuệ là nguồn gốc của mọi tri thức đúng đắn và không công nhận cảm giác là nguồn gốc nhận thức ấy gọi là chủ nghĩa duy lý Học thuyết này không những buộc cảm giác phụ thuộc vào trí tuệ mà còn buộc lòng tin phục tùng vào lý trí nữa
Với lập trường duy lý cực đoan kết hợp với tính chất nhị nguyên, Đềcáctơ ví con người như sự kiện liên kết nhờ Thượng đế, linh hồn và thể xác như hai mảnh hoàn toàn tách rời nhau, thậm chí ngay trong mệnh đề “cogito, ergo sum” đã có cơ sở của lập trường và mối liên hệ này Bản thân Đềcáctơ khi đưa ra mệnh đề “tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” không chỉ ra mối quan hệ gì giữa con người với thế giới hiện thực mà ông còn tách rời giữa tư duy (tức linh hồn con người) với cơ thể con người Cho nên, khi nói đến cái “tôi” Đềcáctơ ám chỉ mỗi tư duy và ý thức con người mà không đề cập đến con người cả về trí lực lẫn thể lực như một chỉnh thể mà ông chỉ coi mệnh đề này như là một phương pháp hữu hiệu để nhận thức linh hồn và phân biệt nó với thể xác Tuy nhiên, theo Đềcáctơ, nếu chỉ có lý tính tốt thì chưa đủ mà chủ yếu là phải áp dụng nó tốt Chính vì vậy, Đềcáctơ đã đặt ra ý niệm là đạt đến một hệ thống tư duy mà mọi nguyên lý của nó đều đúng và liên quan với nhau một cách thật sáng sủa sao cho trí tuệ có thể dễ dàng đi từ một nguyên lý đúng sang một nguyên lý khác Nhưng để đạt tới một hệ thống chân lý liên quan chặt chẽ với nhau như thế, Đềcáctơ cảm thấy rằng ông phải làm cho những chân lý này “phù hợp với lược đồ lý tính” Với một lược đồ như thế không những ông có thể tổ chức học thức hiện có mà còn có thể hướng dẫn lý tính của chúng ta để khám phá những chân lý mà chúng ta không biết Do đó, ông
Trang 38đã xây dựng nên hệ thống các phương pháp mà người ta gọi là những phương pháp của Đềcáctơ
Nếu như Ph.Bêcơn thiên về đề cao các phương pháp kinh nghiệm, chịu ảnh hưởng của xu hướng phát triển của khoa học tự nhiên thực nghiệm, thì trái lại, Đềcáctơ lại chịu ảnh hưởng nhiều của xu hướng khoa học tự nhiên lý thuyết Đềcáctơ đặc biệt đề cao vai trò của lý tính, đòi hỏi con người phải đi
xa hơn nhận thức cảm tính Phương pháp luận của Đềcáctơ gồm việc trang bị tập hợp các quy tắc đặc biệt để khai thác các khả năng của trí khôn (tức lý tính con người) Theo ông, trí khôn của chúng ta một cách tự nhiên có hai khả năng: trực giác và diễn dịch, đó là “những năng lực của trí khôn nhờ đó chúng
ta có thể đạt đến các tri thức về các sự vật mà hoàn toàn không sợ bị ảo tưởng” [68, tr.263]
Đềcáctơ xây dựng toàn thể tòa nhà tri thức của ông trên nền tảng trực giác và diễn dịch bằng quan niệm cho rằng: “hai phương pháp này là những con đường chắc chắn nhất dẫn tới tri thức” và bất cứ phương pháp nào khác đều bị “loại trừ như là đáng nghi ngờ có sai lầm và nguy hiểm” Trực giác, theo Đềcáctơ hiểu là một hoạt động hay cái nhìn hoàn toàn sáng sủa khiến cho không còn một sự hoài nghi nào trong trí tuệ Trực giác không những cho ta những khái niệm rõ ràng mà còn cho chúng ta một số chân lý về thực tại Những chân lý cơ bản không thể giảm lược được Diễn dịch, theo Đềcáctơ hiểu, như là một cái tương tự như trực giác Ông mô tả nó như là “mọi sự suy luận cần thiết từ những sự kiện đã được biết chắc chắn” Sự giống nhau giữa trực giác và diễn dịch là ở chỗ cả hai đều có chân lý: Nhờ trực giác chúng ta nắm được một chân lý một cách hoàn toàn và trực tiếp, trong khi nhờ diễn dịch chúng ta đạt đến chân lý qua một tiến trình, một “hoạt động liên tục và không gián đoạn của trí khôn” Đềcáctơ muốn đặt nền cho tri thức trên một
Trang 39đòi hỏi sử dụng trực giác và diễn dịch, trong đó “chúng ta có các nguyên lý đầu tiên chỉ nhờ trực giác mà thôi, trong khi các kết luận xa hơn…chỉ có được nhờ diễn dịch” [Trích theo 53, tr.195]
Diễn dịch của Đềcáctơ khác với diễn dịch của chủ nghĩa kinh viện và lối giải các bài toán thông thường, bởi nó không chỉ dựa trên tam đoạn luận hay các tri thức thuần toán học Diễn dịch của Đềcáctơ còn đề cập cả những đối tượng, khái niệm không thể biểu thị bằng công thức hay ký hiệu Phương pháp luận của Đềcáctơ chịu ảnh hưởng nhiều của toán học, nhưng không chỉ
là phương pháp toán học, bởi từ đó khám phá ra không chỉ các chân lý toán học, mà còn các tri thức siêu hình học và nhiều lĩnh vực khoa học khác
Khi xây dựng phương pháp diễn dịch, Đềcáctơ thừa nhận tồn tại một số tưởng bẩm sinh Vấn đề là ở chỗ, trong quá trình nhận thức người ta có phát hiện ra chính những tư tưởng có sẵn một cách tiềm tàng trong trí tuệ người ta hay không Trong thành phần những tư tưởng bẩm sinh này gồm những quy tắc lôgic hay những tiên đề toán học Chúng hiển nhiên đúng và không ai có thể nghi ngờ tính xác thực của chúng Chẳng hạn, “hai đường thẳng song song không gặp nhau” hay “qua hai điểm chỉ có thể kẻ một đường thẳng và chỉ một
mà thôi,”…trong hình học Ơcơlít Tuy không phủ nhận hoàn toàn vai trò của cảm tính, kinh nghiệm và phương pháp quy nạp trong nhận thức, nhưng Đềcáctơ thừa nhận sự độc lập của lý tính đối với cảm tính, đặt cơ sở cho luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy lý Cận đại mà về sau Lépnít phát biểu: “không
có gì trong lý tính mà trước đó lại không có trong cảm tính, ngoại trừ chính bản thân lý tính” [68, tr.340]
Ngoài ra, phương pháp luận của Đềcáctơ không chỉ gồm trực giác và diễn dịch, mà còn nằm ở các quy tắc đặt ra để hướng dẫn chúng Điểm chủ yếu của các quy tắc của Đềcáctơ là cung cấp một đường lối rõ ràng và có trật
tự cho hoạt động của lý tính Ông tin chắc là phương pháp hoàn toàn là ở trật
Trang 40tự và sự sắp đặt các đối tượng mà lý tính của chúng ta hướng về nếu chúng ta muốn tìm ra một chân lý nào Trong số hai mươi mốt nguyên tắc, Đềcáctơ đưa ra một số nguyên tắc cơ bản sau:
“1 Nguyên tắc thứ nhất, không nên công nhận bất cứ cái gì là chân lý
trước khi biết chắc nó là chân lý, nghĩa là tránh hấp tấp và thiên kiến, và chỉ nên đưa vào phán đoán của mình những gì theo mình là rõ ràng, rành mạch, những gì trong bất cứ trường hợp nào cũng không gây nên sự nghi ngờ
2 Thứ hai, cần bao nhiêu thì phân chia mỗi khó khăn mà mình quan sát
thành từng ấy bộ phận để giải quyết tốt hơn
3.Thứ ba, theo sát sự diễn biến tư tưởng của mình bắt đầu từ những đối
tượng hết sức đơn giản và dễ nhận thức rồi tiến dần theo từng bậc đến nhận thức những đối tượng phức tạp hơn và giả định một trật tự nhất định mà thậm
chí ở trong trạng thái tự nhiên cái này không nối tiếp cái kia
4 Và cuối cùng, phải sắp xếp lại đầy đủ và nhìn chung lại để có thể tin
rằng mình không bỏ sót một cái nào” [Trích theo 7, tr.37-38]
Như vậy, xét về mặt phương pháp luận, tư tưởng của Đềcáctơ có những điểm khá hợp lý Xuất phát từ lập trường duy lý, ông đặc biệt đề cao vai trò của phương pháp diễn dịch mặc dù không hoàn toàn phủ nhận vị trí của phương pháp quy nạp cũng như nhận thức cảm tính Theo cách hiểu của ông, diễn dịch là một quá trình suy diễn lôgic có sự tham gia trực giác dựa trên các
tư liệu về sự vật mà chúng ta lưu lại được nhờ trí nhớ Nhìn chung, Đềcáctơ
đã hiểu được vai trò đặc biệt của trí tuệ con người, của tư duy lý luận trong việc giải quyết mọi vấn đề Thậm chí, ông còn tìm cách đưa ngôn ngữ toán học trở thành công cụ vạn năng cho các khoa học trong đó có nhận thức luận Điều này được các nhà triết học sau ông như Xpinôda, Lépnít ủng hộ và phát triển Đồng thời, đây cũng chính là nền tảng cho sự phát triển quan niệm của