Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ THỦY
QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Ở PHÚ THỌ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ THỦY
QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN 7
1.1 Các quan niệm khác nhau về tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội 7
1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và các yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế 7
1.1.2 Quan niệm về công bằng xã hội 13
1.1.3 Tiêu chí của công bằng xã hội 24
1.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 28
1.2.1 Một số quan niệm về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới 28
1.2.2 Nhận thức và quan niệm của Đảng ta về kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội 33
Chương 2: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở PHÚ THỌ HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 40
2.1 Tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Phú Thọ hiện nay - thực trạng và vấn đề đặt ra 40
2.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Phú Thọ 40
2.1.2 Thực trạng quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Phú Thọ trong giai đoạn 1976 - 1985 46
2.1.3 Thực trạng quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Phú Thọ trong giai đoạn 1986 đến nay 48
2.1.4 Những vấn đề nảy sinh trong quá trình tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Phú Thọ hiện nay 60
2.2 Các giải pháp kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Phú Thọ hiện nay 64
2.2.1 Nhóm giải pháp về kinh tế và chính trị 64
2.2.2 Nhóm giải pháp về văn hóa và xã hội 69
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi, diện tích tự nhiên 3.528,4 km2, cách Thủ đô Hà Nội 85 km về phía Tây Bắc, theo đường Quốc lộ 2 Phía Bắc giáp Tuyên Quang và Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình, phía Đông giáp tỉnh
Hà Tây và Vĩnh Phúc; phía Tây giáp tỉnh Sơn La Có 3 dòng sông lớn chảy qua
và hợp lưu tại Bạch Hạc (thành phố Việt Trì) là sông Hồng, sông Đà, sông Lô
Là tỉnh còn nghèo, Phú Thọ có nhiều dân tộc thiểu số với tiềm lực kinh tế còn hạn chế; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, tiềm năng đất đai, nguồn nhân lực và
cơ sở vật chất chưa được khai thác triệt để Kinh tế của Phú Thọ thuộc vào loại chậm phát triển, chủ yếu dựa trên sản xuất nông nghiệp và trồng rừng Trước Cách mạng tháng 8, kinh tế Phú Thọ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp độc canh cây lúa Sau hoà bình lập lại, Phú Thọ dần hình thành cơ cấu kinh tế nông - công - lâm nghiệp và dịch vụ thương mại Các khu công nghiệp lớn ra đời như: Việt Trì, Bãi Bằng, Lâm Thao, Thanh Ba đã tạo cho Phú Thọ một diện mạo mới trong phát triển kinh tế - xã hội
Những năm gần đây, thực hiện công cuộc đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ đã có bước phát triển đáng kể Tốc độ GDP đạt 10,6%/năm (giai đoạn 2005 - 2010); GDP bình quân tăng 2,2 lần so với giai đoạn (2001-2005); giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp tăng 5%/năm, công nghiệp, xây dựng tăng 12,3%/năm, dịch vụ tăng 12,6% năm, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 295 triệu USD, tăng 2,34 lần; thu hút vốn cho đầu tư huy động đạt 29,9 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 21,4%/năm và tăng 2,6 lần so với giai đoạn 2001 - 2005 Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Tình hình an ninh,chính trị, quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội nhìn chung được đảm bảo
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cựu mà nhân dân tỉnh Phú Thọ đã đạt được thì hàng loạt những vấn đề tiêu cực với tư cách là mặt trái của kinh tế thị trường đã nảy sinh và tạo nên một sức ép lớn Trong đó, tình trạng bất bình đẳng
Trang 6(BBĐ) xã hội, phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo giữa các miền, các vùng
và thậm chí ngay trên cùng một địa bàn dân cư đang trở thành vấn đề nổi cộm, gây bức xúc cho toàn xã hội
Như vậy, sau hơn 20 năm đổi mới, hoà cùng với diện mạo chung của cả nước, nền kinh tế Phú Thọ đã bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phú Thọ phấn đấu hoàn thành mục tiêu tổng quát mà toàn Đảng, toàn dân ta
đang phấn đấu là Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Thực hiện “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ xã hội và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”
Do đó, vấn đề được đặt ra là làm thế nào kết hợp được tăng trưởng kinh tế (TTKT) với công bằng xã hội (CBXH) ngay trong từng bước phát triển Đây đang là bài toán khó đặt ra cho những người làm công tác lý luận và chỉ đạo thực tiễn ở Phú Thọ hiện nay Trên phương diện lý luận, có thể khẳng định rằng, việc giải quyết tốt mối quan hệ này ở nước ta nói chung và Phú Thọ nói riêng là vấn đề cấp bách bởi vì kết hợp TTKT gắn liền với tiến bộ và CBXH chính là mục tiêu, lý tưởng, đồng thời, cũng là một trong những tiêu chí cơ bản để chỉ ra bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Với những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: Quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Phú Thọ hiện nay làm đề tài
luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề tăng trưởng, phát triển kinh tế và thực hiện CBXH là vấn đề cấp bách, là bài toán khó của mỗi quốc gia, của các nhà lãnh đạo, quản lý và giới lý luận trong và ngoài nước
Một số tác giả trong các bài viết của mình đã đề cập đến vấn đề TTKT, các yếu tố tác động đến TTKT, đồng thời có nhiều bài viết đã xây dựng những giải pháp nhằm thúc thúc đẩy TTKT ở nước ta hiện nay như:
Trang 7+ PGS PTS Vũ Hiền với: “Tăng trưởng kinh tế và nghịch lý của sự tăng trưởng”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 12/1999
+ GS TS Tào Hữu Phùng: “Việt Nam tăng trưởng kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 7/1995
+ GS PTS Vũ Đình Bách với: “Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998
+ GS PTS Vũ Đình Bách cùng Nguyễn Tôn Trường: “Mô hình phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo sự tăng trưởng bền vững ở nước ta”, Tạp chí Kinh tế Phát triển, số 7/1995
Bên cạnh đó một số tác giả đã tập trung nghiên cứu CBXH, CBXH trong giai đoạn CNH, HĐH và qua lăng kính CBXH để nhìn nhận sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội:
+ GS PTS Lê Hữu Tầng: “Về công bằng xã hội”, Tạp chí Cộng sản, số 19/1996
+ GS PTS Lê Hữu Tầng: “Phân hoá giàu nghèo xét từ góc độ công bằng
và bình đẳng xã hội”, Tạp chí Triết học, số 4/1993
+ Trịnh Duy Luân và Bùi Thế Cường: “Về phân tầng xã hội và công bằng
xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, số 2/2001
+ PGS TS Nguyễn Tấn Hùng và TS Lê Hữu Ái “Thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay: Mâu thuẫn và phương pháp giải quyết”
Ngoài ra, trong các bài viết khác, các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa TTKT với các vấn đề xã hội, chính sách xã hội, từ đó đi đến việc giải quyết những mâu thuẫn giữa TTKT với CBXH:
+ GS Bùi Đình Thanh: “Công bằng xã hội và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa”, Tạp chí Cộng sản, số 19/1996
+ GS TS Phạm Xuân Nam: “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nxb KHXH Việt Nam 12/2008
Trong quy mô một tỉnh nhỏ như ở Phú Thọ thì vấn đề này vẫn chưa có tác
Trang 8giả nào quan tâm nghiên cứu sâu Trên phương diện lí luận chung thì vấn đề tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội được Đảng bộ tỉnh hoạch định trong từng giai đoạn phát triển
Như vậy, vấn đề quan hệ giữa TTKT và thực hiện CBXH ở Phú Thọ vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống dưới góc độ Triết học, đây là vấn đề còn bỏ ngỏ Với tư cách là người con của quê hương Đất Tổ, tôi chọn vấn đề này để nghiên cứu với sự mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải những vấn đề lí luận và thực tiễn đang đặt ra ở Phú Thọ Những tài liệu trong các văn kiện Đảng bộ, các báo cáo Chính phủ thường kỳ về tình hình kinh
tế - xã hội tỉnh Phú Thọ là những nguồn tư liệu quý báu giúp cho tôi tiếp thu làm
cơ sở cho đề tài nghiên cứu của mình Đây là một vấn đề khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nghiên cứu kỹ lưỡng có thời gian dài, cho nên những vấn đề luận văn nghiên cứu cũng chỉ là những xem xét ban đầu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích những vấn đề
nảy sinh trong quá trình thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp TTKT và thực hiện CBXH trong các giai đoạn tiếp theo ở Phú Thọ
Để đạt được mục đích đó, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ
yếu sau:
Thứ nhất, tập trung trình bày các quan niệm khác nhau về TTKT và
CBXH; nhận thức và quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ TTKT và thực hiện CBXH đồng thời, phân tích mối quan hệ giữa chúng trên bình diện lý luận chung
Thứ hai, làm rõ một cách khái quát thực trạng mối quan hệ TTKT và thực
hiện CBXH trong thời gian vừa qua ở Phú Thọ
Thứ ba, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt mối
quan hệ giữa TTKT và thực hiện CBXH ở Phú Thọ hiện nay
Trang 94 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận xung quanh mối quan
hệ giữa TTKT với CBXH Trên cơ sở đó, luận văn tiến hành phân tích thực trạng của việc thực hiện mối quan hệ này và tìm ra những giải pháp chủ yếu cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ 1975 đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về việc giải quyết mối quan hệ giữa TTKT và thực hiện CBXH
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ, đặc biệt là thực tiễn từ khi đổi mới đến nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến, như phương pháp lịch sử và logic; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, v.v
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống các quan niệm về TTKT, CBXH và quan điểm của Đảng ta về kết hợp TTKT và CBXH
- Luận văn góp phần phân tích thực trạng việc thực hiện mối quan hệ này
và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ giữa TTKT và thực hiện CBXH ở Phú Thọ trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
7 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu một số chuyên đề trong chương trình trung cấp lí luận chính trị
- Ở một mức nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho việc hoạch định, thực thi chính sách nhằm thúc đẩy TTKT gắn với CBXH ở tỉnh Phú Thọ
Trang 108 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết:
Chương 1: Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội: Một số vấn đề lý luận cơ bản
Chương 2: Kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Phú Thọ - Vấn đề và giải pháp
Trang 11Chương 1 QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN CÔNG
BẰNG XÃ HỘI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN
1.1 Các quan niệm khác nhau về tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội
1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế và các yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế
* Tăng trưởng kinh tế
Ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, khi đã giành được độc lập và có chủ quyền, đều xác lập cho mình chiến lược phát triển kinh tế - xã hội riêng
Những mục tiêu phát triển phải dựa vào khả năng khai thác nguồn lực trong và ngoài nước Tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà mỗi quốc gia có
sự kết hợp và khả năng khai thác nguồn lực khác nhau Song quan niệm chung nhất là phải tạo cho được sự tiến bộ toàn diện cả về kinh tế và xã hội, đồng thời coi tăng trưởng kinh tế (TTKT) là tiền đề cần thiết cho sự phát triển
Tăng trưởng (growth) theo nghĩa chung nhất, là khái niệm dùng để chỉ sự
vật trong quá trình vận động của nó, tăng thêm, mở rộng về quy mô của sự vật hay một “hệ thống” sự vật trong quá trình vận động của nó Trong ngôn ngữ sử dụng hàng ngày chúng ta có thể dùng khái niệm "tăng”, "sự gia tăng" để chỉ sự tăng trưởng
Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định và thường được đo bằng một số đại kượng trong đó GDP (tổng sản phẩm quốc nội) và GNP (tổng sản phẩm quốc dân) là những thước đo thường được sử dụng nhất
Trong kinh tế, thuật ngữ TTKT được sử dụng rộng rãi và có nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Trang 12- TTKT là “sự gia tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế theo thời gian”
- TTKT là “sự thay đổi về lượng các kích thước vật chất của sản xuất và kinh doanh”
- TTKT là “sự tăng lên của sản lượng hàng hóa, dịch vụ trong một nước
do sự tăng lên của thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầu người”
- TTKT là “mức tăng quy mô và tốc độ sản phẩm”
- TTKT là “sự tăng thêm về quy mô, sản lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Nếu tổng sản phẩm hàng hóa của một quốc gia tăng lên, nó được coi là TTKT
Từ những sự khác nhau về TTKT có thể rút ra điểm chung: TTKT là khái
niệm chỉ mức tăng về lượng của nền kinh tế trong một thời gian nhất định
Để biểu thị sự TTKT, người ta thường dùng mức tăng lên của GNP hay GDP Mức tăng đó thường tính trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước đó Ngày nay nền kinh
tế hiện đại với hai yếu tố cơ bản có tác động thúc đẩy phát triển kinh tế rất
nhanh là thể chế chính trị đặc biệt như (đổi mới, cải tổ kinh tế) và tiến bộ khoa
học - kỹ thuật Vì vậy, người ta có thể rút ngắn việc so sánh kết quả kinh tế lại
sáu tháng, một quí, một tháng thậm chí hàng ngày tuỳ theo lĩnh vực quản lý kinh
tế Sự TTKT được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhất định sẽ cho ta khái niệm tốc độ TTKT Như vậy, tốc độ TTKT là sự tăng thêm sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc
* Phát triển kinh tế
Quan niệm về phát triển kinh tế (PTKT) có nhiều ý kiến khác nhau:
Theo giáo sư Phạm Xuân Nam, PTKT là “sự thay đổi về chất của nền kinh tế tạo cơ sở cho một trạng thái xã hội tiến bộ, công bằng và văn minh hơn”
Giáo sư Ewayne Nafziger cho rằng: PTKT nói đến TTKT kèm theo những thay đổi về phân phối sản lượng, về cơ cấu kinh tế Những thay đổi này
có thể bao gồm việc nâng cao mức của cải vật chất của một nửa dân cư nghèo
Trang 13hơn, một sự giảm sút về tỉ phần của nông nghiệp trong GNP và sự gia tăng tương ứng tỉ phần GNP trong công nghiệp, tài chính, xây dựng và quản lý nhà nước, một sự gia tăng về giáo dục và kỹ năng của lực lượng lao động và những tiến bộ kỹ thuật đáng kể được tạo ra trong nền kinh tế”
Trong cuốn “Kinh tế phát triển” của Đại học Kinh tế quốc dân năm 1997
có định nghĩa PTKT có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định trong đó bao gồm cả sự tăng lên
về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội”
Như vậy, PTKT là một khái niệm KT - XH rộng nó phản ánh đầy dủ những nội dung sau:
- Thứ nhất: PTKT bao gồm cả sự thay đổi về khối lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội
- Thứ hai: sự tăng thêm quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu KT - XH
là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc, vừa độc lập tương đối của lượng (quy
mô, số lượng của cải vật chất) và chất (cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội)
- Thứ ba: Sự phát triển kinh tế là quá trình tiến hóa theo thời gian do những nhân tố nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định
- Thứ tư: PTKT phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trạng thái thấp lên trạng thái cao hơn
Như vậy, khái niệm PTKT bao hàm cả sự TTKT
Trong giai đoạn hiện nay, khái niệm PTKT được đặt ra trong mối quan hệ
với phát triển xã hội, bảo vệ môi trường hợp thành nội dung của khái niệm phát
triển bền vững (PTBV) Đây là khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát
triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Qua sự phân tích trên cho thấy, TTKT và PTKT là hai khái niệm vừa có tính độc lập, vừa có mối liên hệ với nhau Khái niệm PTKT rộng hơn khái niệm
Trang 14TTKT PTKT bao hàm cả TTKT và sự đổi mới về cơi cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ và giảm tỉ trọng sản xuất nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân; tăng dân số thành thị, giảm dân số nông thôn; đổi mới cơ cấu tiêu dùng; cải thiện và nâng cao trình độ văn hoá, giáo dục,
y tế Như vậy, PTKT trong nó đã bao hàm cả những mặt xã hội và sự đổi mới
về cơ cấu kinh tế theo hướng các thành phần kinh tế
Đặc trưng chủ yếu của TTKT là sự biến đổi về lượng, trong khi PTKT chủ yếu là đặc trưng biến đổi về chất của nền kinh tế TTKT là điều kiện, tiền đề cho phát triển Bởi vì, nền kinh tế có tăng trưởng thì mới có khả năng tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập dân cư Nhờ có TTKT nhà nước mới có thể giải quyết được các vấn đề xã hội, đầu tư phát triển lại kinh tế TTKT là điều kiện cần để làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội và tác động trực tiếp tới sự hình thành cơ cấu kinh tế TTKT là điều kiện, tiền đề cho phát triển, nhưng bản thân nó chỉ là một đại lượng không hoàn hảo của sự tiến bộ TTKT có thể thúc đẩy phát triển xã hội, mà điều này lại lệ thuộc vào chế độ xã hội, vào quan niệm giá trị và hệ thống giá trị Một nền kinh tế có tăng trưởng nhưng nếu lấy lợi nhuận làm mục tiêu duy nhất, mà xem nhẹ yếu tố xã hội thì không thể coi đó là
sự tăng trưởng mang tính tích cực, tiến bộ Về mặt lý thuyết, có thể cho rằng có
sự phát triển nhưng không có sự tăng trưởng trong trường hợp GNP đầu người không tăng, nhưng thực hiện CBXH tốt hơn, giảm bớt những lãng phí để mang lại lợi ích cho nhân dân
điểm giống nhau, nhưng không hoàn toàn đồng nhất Điểm giống nhau là cả hai đều nói lên sự chuyển dịch, vượt khỏi trạng thái trì trệ dậm chân tại chỗ Điểm khác nhau là một bên nói lên sự chuyển dịch về số lượng, còn một bên nói lên tính định hướng, chất lượng của sự chuyển dịch đó
1.1.1.2 Các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế
Các lý thuyết về TTKT cho đến nay đều nhằm mục đích xác định những yếu tố chủ yếu quyết định sự tăng trưởng và vai trò của những yếu tố đó Vai trò
Trang 15của các yếu tố này thường khác nhau (có thể rất xa) giữa các nước và trong một nước cũng có thể khác nhau giữa các thời kỳ Vì thế nhiều nhà kinh tế cho rằng: cho đến nay không có một tập hợp thống nhất các ngyuên lý có thể gọi là TTKT Tuy nhiên cũng thừa nhận rằng có một số yếu tố chắc chắn giữ vai trò quan trọng đối với TTKT: số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, số lượng và chất lượng nguồn tài nguyên, mức độ tích luỹ vốn và sự đổi mới công nghệ
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
Mọi của cải của xã hội đều do con người sáng tạo ra Ngay từ thế kỷ XVIII, các nhà kinh tế học (như Adam smith) đã nhận ra rằng: nguồn lực để sản xuất ra của cải vật chất là lao động và tài nguyên (đất đai) Khi dân số còn ít, tài nguyên đất đai chưa khan hiếm, sản xuất nông nghiệp còn là chủ yếu, thì yếu tố quyết định PTKT là lao động Lao động là sáng tạo và quyết định, tất cả các chi phí lao động cũng trở thành thước đo giá trị hàng hoá Ngày nay, trình độ phát triển đã khác xa thế kỷ XVIII, nhưng lao động vẫn là một trong những yếu tố quyết định Nguồn lao động đề cập ở đây bao gồm cả số lượng và chất lượng Chất lượng nguồn lao động không chỉ phụ thuộc vào trình độ giáo dục, sức khoẻ, mà còn phụ thuộc vào số lượng, chất lượng những công cụ, thiết bị sản suất trang bị cho người lao động Tóm lại, quy mô nguồn nhân lực bao gồm: số lượng lao động; độ dài thời gian làm việc (số giờ làm việc trong một tuần) và chất lượng nguồn nhân lực, đây là một trong những yếu tố quyết định sản lượng
và năng xuất Đối với các nước đang phát triển lao động là một nguồn lực dồi dào và là một thế mạnh đặc biệt
Số lượng và chất lượng nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm: Đất đai; khoáng sản; nguồn nước; khí hậu… được coi là một trong những nguồn lực quan trọng cho sự PTKT Những quốc gia giàu có về tài nguyên thiên nhiên sẽ rất thuận lợi trong quá trình đẩy nhanh tố độ tăng trưởng
Số lượng và chất lượng nguồn tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia không phải là cố định Nếu chuyển một phần lao động và tiền vốn vào đầu tư
Trang 16cho việc nghiên cứu thì quốc gia đó có thể phát hiện hoặc khai thác được các nguồn tài nguyên thiên nhiên mới trong phạm vi lãnh địa của mình để nâng cao tốc độ TTKT trong tương lai
Mức độ tích luỹ vốn
Nguồn vốn gồm: Máy móc; thiết bị; nhà xưởng; đường xá; cầu cống; đê điều; phương tiện thông tin liên lạc; vận tải… được dùng như là các công cụ (phương tiện) cho lao động để tạo ra những hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội Quá trình sản xuất là quá trình tiêu hao dần về vốn (khấu hao), vì thế tỷ lệ tích luỹ trước hết là để bù đắp phần vốn hao mòn và phần còn lại là để mở rộng năng lực sản xuất của nền kinh tế - cơ sở cho tăng trưởng nhanh Muốn có nguồn vốn mới thì cần phải giảm một phần tiêu dùng trước mắt, nghĩa là phải tiết kiệm Ở những nước nghèo, thu nhập thấp, tiết kiệm không đáng kể thì tỷ lệ tích luỹ thấp (thậm chí không thể bù đắp một phần
bộ phận vốn đã hao mòn) cho nên quá trình sản xuất luôn trong tình trạng kém phát triển và khó có khả năng thoát khỏi cảnh nghèo khổ Nhiều quốc gia đang phát triển đã mạnh dạn vay vốn nước ngoài để tiến hành công nghiệp hoá nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo khó, lạc hậu Tuy nhiên mức độ thành công còn tuỳ thuộc và khả năng kết hợp vốn với các nguồn lực khác cũng như chiến lược sử dụng vốn đã vay
Yếu tố công nghệ
Yếu tố này bao gồm những tiến bộ về khoa học kỹ thuật cũng như về quản lý Mấy thập niên qua, loài người đã chứng kiến những tiến bộ to lớn và nhanh chóng trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật như: tin học, sinh học, vật liệu mới… Công nghệ mới đã giúp nhiều quốc gia nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất, hạ thấp chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, giúp con người khai thác có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn khan hiếm Trong thế kỷ XXI này, đối với những nước phát triển một trong những yếu tố quyết định thành công trong quá trình phát triển kinh tế là việc ứng dụng công nghệ mới Còn đối với các nước đang phát triển lại đòi hỏi
Trang 17phải nhanh chóng đổi mới công nghệ, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước
Vấn đề học hỏi, nghiên cứu và lựa chọn công nghệ thích hợp có ý nghĩa quyết định đến tốc độ TTKT Với chiến lược khôn khéo, nắm cơ hội trong và ngoài nước, tận dụng mọi lợi thế sẽ làm cho đất nước có đà TTKT nhanh Lịch
sử tăng trưởng của các nước trên thế giới cũng cho thấy vai trò lãnh đạo của đảng chính trị cũng như việc điều hành nền kinh tế của chính phủ là hết sức quan trọng
Ngoài những yếu tố trên, vấn đề tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển có được thuận lợi và diễn ra nhanh chóng hay không lại còn chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện vĩ mô khác như:
- Sự ổn định về chính trị - xã hội;
- Hệ thống pháp luật phải ngày càng hoàn thiện;
- Có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội tốt và đồng bộ (giao thông; thông tin, giáo dục, y tế…)
- Có hệ thống ngân hàng, tài chính hoạt động hiệu quả
Bên cạnh đó, mức TTKT nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi dân tộc (truyền thống văn hoá, tính cách, tâm lý, tập quán sản xuất, nghị lực…) cũng như vị trí địa lý của mỗi quốc gia
Các yếu tố trên là những nguồn lực chủ yếu quyết định tốc độ TTKT, nó được coi là những yếu tố sản xuất - “Nguyên liệu đầu vào” của quá trình sản xuất Khi gia tăng các “nguyên liệu đầu vào” thì sản lượng đầu ra chủ yếu sẽ tăng lên Mức TTKT nhanh hay chậm phụ thuộc vào mức tăng của các “nguyên liệu đầu vào” Vì vậy việc đo lường mức tăng trưởng đầu vào (lao động, vốn…) thể hiện bằng việc xây dựng các mô hình tăng trưởng là hướng cố gắng của nhiều nhà kinh tế trên thế giới
Như vậy TTKT là khái niệm chỉ mức tăng lên về lượng, quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời gian nhất định TTKT là cơ sở, điều kiện cho sự phát triển Các yếu tố như: số lượng và chất lượng nguồn nhân lực,
Trang 18tài nguyên, mức độ tích luỹ vốn và sự đổi mới công nghệ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với TTKT, tuỳ từng giai đoạn lịch sử, từng điều kiện cụ thể mà các quốc gia có thể ưu tiên cho yếu tố nào trước
1.1.2 Quan niệm về công bằng xã hội
1.1.2.1 Quan niệm về công bằng xã hội trước chủ nghĩa Mác-Lênin
Vấn đề công bằng xã hội (CBXH) đã được con người quan tâm từ lâu Tuy nhiên, trong những thời kỳ lịch sử khác nhau quan niệm về CBXH cũng
khác nhau
Ở xã hội cộng sản nguyên thuỷ, con người sinh hoạt và lao động mang tính cộng đồng nhằm thoả mãn nhu cầu của mình Xã hội này tồn tại trên nguyên tắc: cùng làm, cùng hưởng Do lực lượng sản xuất hết sức thấp kém làm cho sản phẩm lao động quá ít ỏi, chỉ đảm bảo cho sự tồn tại của cộng đồng ở mức tối thiểu, do vậy sản phẩm đó phải được chia đều cho mọi thành viên trong cộng đồng Như vậy ở thời kỳ này CBXH là phương thức để đảm bảo cho sự tồn tại của cộng đồng
xã hội nguyên thuỷ - phương thức tối ưu và duy nhất Sự công bằng thời kỳ này được đồng nhất với chủ nghĩa bình quân Ở cuối thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất phát triển, của cải làm ra không những đủ nuôi sống cộng đồng
mà còn có tích luỹ Song, chính phần của cải dư thừa này đủ “kích thích” cho sự nảy sinh xung đột về lợi ích của những nhóm người trong cộng đồng Tư hữu, giai cấp và nhà nước ra đời làm cho CBXH lại bị vi phạm ở mức độ “văn minh hơn” Cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra ngày càng gay gắt và CBXH trở thành một trong những nội dung chính trị của cuộc đấu tranh đó
Trong các thời đại khác nhau, con người đều quan tâm đến vấn đề CBXH
và đã có nhiều cách nhận thức, đánh giá và giải quyết khác nhau:
Platon (427 - 347 tr CN) Trong học thuyết triết học của mình, Platon cho rằng: xã hội được chia làm ba hạng người tương ứng với ba phần của linh hồn con người Nhà nước xuất hiện từ sự đa dạng của nhu cầu con người và từ đó xuất hiện các dạng phân công lao động để thoả mãn nhu cầu ấy Vì vậy trong xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau, và do đó không thể có sự hoàn
Trang 19toàn bình đẳng giữa mọi người được Công lý là ở chỗ mỗi hạng người làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình, nói cách khác là phải biết phận mình
Arixtot (384 - 322 tr CN) cho rằng: Luật pháp là tiêu chí của sự công bằng Trên cơ sở luật pháp, tùy theo sự cống hiến của mỗi người mà xem xét họ được hưởng quyền lợi một cách tương xứng Như vậy, CBXH là sự đối xử ngang nhau trên cơ sở pháp luật Tuy nhiên, Arixtot quan niệm việc đối xử ngang nhau này chỉ xét trong cùng một giai cấp chứ không phải với mọi thành viên ở các gai cấp khác nhau Điều đó có nghĩa là CBXH không phải là chung cho mọi thành viên trong xã hội, nô lệ không thể có cùng tiêu chí công bằng với chủ nô Đó chính là lẽ đương nhiên, là sự công bằng (của tự nhiên)
T.Hốpxơ (1588-1679) cho rằng: con người là giống nhau, nghĩa là theo tạo hoá, con người phải bình đẳng, phải được hưởng sự công bằng Nhưng do lòng tham lam tính ích kỷ và dục vọng của bản thân nên không thể có sự bình đẳng và công bằng với nhau được Từ sự phân tích đó ông chỉ ra: để đi đến sự hoà hợp công bằng giữa con người vời con người thì phải có một lực lượng đứng lên trên dàn xếp các lợi ích cá nhân, đó là nhà nước Như vậy Hốp-Xơ đã
có tư tưởng duy vật về các hiện tượng xã hội Tuy nhiên ông không thấy được nhà nước cũng mang bản chất giai cấp của nó, trong xã hội có đối kháng giai cấp, nhà nước không thể nào thiết lập được sự công bằng chung cho toàn xã hội
J.J Rútxô (1712-1778) đã phê phán các quan hệ đẳng cấp và chế độ chuyên chế Theo ông, chế độ sở hữu tư nhân làm cho xã hội phân chia thành kẻ giàu và người nghèo, làm cho kẻ giàu ngày càng giàu lên và người nghèo càng nghèo đi khiến công bằng xã hội bị hủy hoại Theo ông, để xóa bỏ tình trạng này phải làm sao kiềm chế được lòng tham và tính ích kỷ của con người, muốn vậy phải có “Khế ước xã hội” Ở đây, J.Rútxô đã chú ý đến sự công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế nhưng giải pháp ông đưa ra để thực hiện lại dựa trên quan điểm duy tâm về xã hội, cụ thể là dựa trên những thỏa thuận có tính chất chủ quan của con người mà không căn cứ vào những điều kiện vật chất khách quan của đời sống xã hội
Trang 20Cantơ (1724-1804) có những đóng góp hết sức to lớn vào tư tưởng CBXH Theo ông, CBXH bao gồm công bằng về bảo hộ, công bằng trong trao đổi và công bằng trong phân phối Trong đó công bằng trong phân phối là quan trọng nhất Theo ông trạng thái không pháp luật là một xã hội không công bằng
về phân phối, thông thường gọi đó là trạng thái tự nhiên… Đối lập với trạng thái
tự nhiên là trạng thái văn minh, bởi vì xã hội này xây dựng trên sự công bằng về phân phối Tư tưởng của Cantơ về công bằng sau này được nhiều người chấp nhận và vận dụng
Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng: Xanh-Xi-Mông (người Pháp), Phu-Rie (người Pháp), và Ô-Oen (người Anh) đã phê phán xã hội đương thời được xây dựng trên nền tảng tư hữu - nguyên nhân của mọi bất công xã hội Đồng thời các ông đề ra việc xây dựng một xã hội mới mà trong đó nguyên tắc tối cao là mọi người đều phải lao động, mọi người đều được hưởng thụ như nhau, xoá bỏ hết mọi đặc quyền đặc lợi, xây dựng một xã hội công bằng Xã hội công bằng là điều kiện để đem đến sự công bằng cho tất cả mọi thành viên Tuy nhiên, mô hình xã hội mà các ông xây dựng ngay từ đầu đã biến thành những điều không tưởng (cả về lý luận lẫn thực tiễn)
Như vậy, vấn đề CBXH được đề cập trong suốt quá trình lịch sử của nhân loại, nó phản ánh sự đấu tranh của các giai cấp về quyền sở hữu tư liệu sản xuất;
tổ chức và quản lý sản xuất xã hội; phân phối và sử dụng sản phẩm lao động Các nhà tư tưởng trong lịch sử nhân loại đã trình bày những quan niệm khác nhau về CBXH mặc dù chưa đầy đủ và hệ thống, song những tư tưởng đó là tiền
đề lý luận quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu về CBXH cho các nhà tư tưởng sau này
1.1.2.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về công bằng xã hội
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng cùng với việc kế thừa, phát triển một cách sáng tạo những yếu tố hợp lí trong tư tưởng về CBXH trong lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa ra quan niệm mới, khoa
Trang 21học và toàn diện hơn về công bằng xã hội Hơn nữa, các ông còn chỉ ra thực chất, vai trò và phương thức thực hiện CBXH trong đời sống xã hội hiện nay
Trước hết, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, CBXH là sản phẩm của đời sống xã hội, là quan hệ giữa con người với con người hình thành trong quá trình con người hoạt động, sinh sống Quan hệ đó không phải do sư sáng tạo thuần túy chủ quan của con người, hay do một lực lượng thần thánh, siêu nhiên nào đó sinh ra Là sản phẩm của đời sống xã hội mà đời sống xã hội luôn vận động, biến đổi, nên CBXH cũng phải biến đổi cùng với những điều kiện tồn tại xã hội
và đời sống xã hội Trong “Về vấn đề nhà ở”, khi bàn đến cơ sở kinh tế của những quan niệm về công lý của con người, Ph.Ăngghen viết: “Công lý luôn luôn chỉ là biểu hiện trên lĩnh vực quan niệm và siêu hình của những quan hệ kinh tế hiện có, khi thì về phương diện bảo thủ, khi thì về phương diện cách mạng của những điều kiện kinh tế đó Công lý của người Hy Lạp và người La
Mã cho rằng chế độ nô lệ là công bằng; công lý của những nhà tư sản năm 1789 đòi hỏi thủ tiêu chế độ phong kiến, vì chế độ ấy không công bằng” Luận điểm trên cho thấy, quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin không cho rằng có công bằng xã hội chung cho mọi xã hội Mỗi xã hội có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, các giai cấp gắn với các điều kiện kinh tế đó có địa vị khác nhau nên quan niệm về CBXH cũng khác nhau và mang tính giai cấp rõ rệt
Thứ hai, CBXH thực chất là mối quan hệ về mặt lợi ích của con người trong xã hội Lợi ích của con người biểu hiện trên nhiều lĩnh vực như lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, nghệ thuật… trong đó, lợi ích về kinh tế là cơ bản nhất Vì vậy, việc thực hiện CBXH trên lĩnh vực kinh tế
có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện CBXH trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Thứ ba, để giải quyết vấn đề CBXH trước hết phải giải quyết vấn đề CBXH trên lĩnh vực kinh tế và phải thực hiện từng bước, xuất phát từ những điều kiện thực tế của sự phát triển sản xuất Nghiên cứu nền sản xuất TBCN, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ cơ sở khách quan của sự bất công trên lĩnh vực kinh tế trong CNTB, đó chính là chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản
Trang 22xuất và sản phẩm lao động của CNTB Chế độ sở hữu đó quyết định chế độ phân phối trong CNTB, làm cho của cải, sự giàu có và quyền lực ngày càng tập trung trong tay giai cấp tư sản còn sự bần cùng, nghèo nàn ngày càng tập trung về phía giai cấp vô sản, về phía những người lao động Để xóa bỏ sự bất công này cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân TBCN, thiết lập chế độ sở hữu mới, sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất Nhưng làm thế nào để xóa bỏ được chế độ sở hữu tư nhân TBCN? Điều này không đơn giản chỉ dựa vào mong muốn chủ quan của con người, mà phải bằng những lực lượng vật chất thực tế của xã hội và phải thực hiện từng bước Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ lực lượng vật chất thực tế đó chính là giai cấp công nhân, sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí trong CNTB, được tổ chức một cách khoa học để lôi cuốn, đoàn kết đông đảo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng, thay thế xã hội tư bản bằng xã hội XHCN CBXH xẽ được giải quyết từng bước cùng với việc xóa bỏ quan hệ sản xuất TBCN và xây dựng, phát triển quan hệ sản xuất XHCN
Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” khi phê phán quan điểm mơ
hồ, tiểu tư sản của Latxan về các giải pháp xây dựng xã hội mới trong đó đảm bảo sự công bằng tuyệt đối giữa con người với nhau, Mác đã chỉ ra rằng không thể thực hiện ngay sự công bằng xã hội một cách tuyệt đối Trong giai đoạn đầu của CNCS do mới thoát thai từ xã hội tư bản, CNCS chưa phát triển trên cơ sở của chính mình nên còn chịu ảnh hưởng của XHTB “Cái xã hội mà chúng ta nói
ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ
sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã
hội tư bản chủ nghĩa, do đó một xã hội về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức
tinh thần còn mang dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra” [43, tr 33] Thực hiện phân phối theo lao động trong giai đoạn đầu của CNCS là một bước tiến lớn trong thực hiện CBXH Tuy nhiên, chế độ phân phối đó vẫn dựa trên tiêu chuẩn của CNTB, chấp nhận sự bất công nhất định Theo Mác đó là điều không thể tránh vì trình độ phát triển kinh tế chưa cho phép Ông viết, “Nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra sau những cơn
Trang 23đau đẻ kéo dài Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế
và sự phát triển của văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” [46, tr 35-36] Mác còn chỉ rõ, khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đến trình độ cao, con người chưa phát triển toàn diện, còn phụ thuộc vào phân công lao động xã hội thì chưa thể thực hiện được đầy đủ nguyên tắc công bằng xã hội - khẩu hiệu làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu Đòi hỏi thực hiện công bằng xã hội ở mức quá cao so với trình độ phát triển của kinh tế là ảo tưởng, là không thực tế
và điều đó sẽ cản trở sự phát triển của xã hội
Thứ tư, CBXH xét theo xu hướng vận động của nó, luôn đối lập với bất công xã hội, luôn hướng tới giải quyết tốt hơn những nhu cầu căn bản của con người, đảm bảo tốt hơn những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển toàn diện của con người Do vậy, công bằng vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội
Như vậy, chúng ta có thể trình bày một cách khái quát CBXH theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin như sau: CBXH là một phạm trù lịch sử, phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người trong việc đảm bảo các điều kiện, cơ hội phát triển, trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi, cống hiến và hưởng thụ trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
1.1.2.3 Một số quan niệm về công bằng xã hội ở nước ta
* Trong thời kỳ trước đổi mới
Giai đoạn trước năm 1975, ở miền Bắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc được đặt lên trên hết, với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt’’ Thời gian này nền kinh tế miền Bắc mang nặng
“tính chất thời chiến”, cùng với sự viện trợ lớn từ các nước bên ngoài nhằm tập trung phục vụ cho sự nghiệp thống nhất đất nước Vì vậy những vấn đề phát triển kinh tế trở thành vấn đề thứ yếu sau nhiệm vụ cấp bách là đánh đuổi giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước CNXH là thực hiện phân phối theo nguyên tắc
“Cộng sản thời chiến” Các chính sách xã hội phải chú ý thỏa đáng đến lợi ích của các đối tượng, gia đình có chồng, con đi làm nhiệm vụ chiến đấu
Trang 24Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH Từ hàng loạt những khó khăn và bề bộn của chiến tranh, với tinh thần “lạc quan” của người chiến thắng chúng ta bắt tay vào kiến thiết đất nước Cùng với việc “giữ vững” cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp chúng ta tiếp tục duy trì chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hữu quốc doanh và hợp tác xã Trong giai đoạn này kinh tế nước ta tăng trưởng chậm Hàng hóa thiếu về số lượng, kém về chất lượng và chính từ việc thiếu thốn đó mà dẫn đến quan niệm phân phối không dựa theo nguyên tắc mức độ đóng góp lao động mà vẫn duy trì phương thức phân phối bình quân theo kiểu bao cấp Quan niệm này đã được triển khai trong việc thực hiện chế độ tiền lương của khu vực nhà nước, chế độ phân phối sản phẩm trong lĩnh vực sản suất nông nghiệp, chế độ học phí, viện phí trong lĩnh vực giáo dục
và y tế Công bằng của cơ chế hành chính, bao cấp trong giai đoạn này được hiểu và thực hiện theo chủ nghĩa bình quân nhưng đó lại là sự bình quân trong nghèo khó Chính vì biết “chia đều sự nghèo khó” nên số đông người lao động vẫn chấp nhận được trong một thời gian dài
Điều này được giáo sư - Tiến sĩ Lê Hữu Tầng đánh giá: “trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp mà chúng ta lầm tưởng duy nhất là đúng, là cái duy nhất đảm bảo xây dựng thành công CNXH, khái niệm công bằng được đồng nhất hoàn toàn với khái niệm bình đẳng còn khái niệm bình đẳng được hiểu là
sự ngang bằng nhau hoàn toàn giữa người với người về phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội… Kết quả là khái niệm công bằng về thực chất bị đem đồng nhất với khái niệm cào bằng một cách bình quân chủ nghĩa Mọi sự đi lệch khỏi sự bình quân đó đều bị coi là không công bằng Chính quan điểm sai lầm
đã làm suy giảm, thậm chí triệt tiêu mất động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện quan điểm đó trong cuộc sống về thực chất là bóc lột người
có công với sản xuất và phát triển xã hội” Ở thời kỳ này, người ta nhầm lẫn giữa CBXH và bình đẳng xã hội CBXH được quan niệm là sự ngang bằng về mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… giữa mọi thành viên trong
Trang 25xã hội Chính từ chỗ quan niệm sai lầm đó đã làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, xã hội làm cho người lao động thờ ơ với quyền làm chủ của mình
Về điều này, Ăngghen đã từng cảnh báo: “Cho rằng luận điểm bình đẳng
= công bằng là một nguyên tắc tối cao và một chân lý cuối cùng thì thật là ngu xuẩn Bình đẳng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với bất bình đẳng, công bằng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với bất công bằng” [42, tr 840]
Như vậy, trước thời kỳ đổi mới chúng ta đã có cách hiểu chưa đầy đủ về công bằng và bình đẳng xã hội, đã đồng nhất công bằng với bình đẳng, đó là sự ngang nhau hoàn toàn giữa mọi thành viên trong xã hội về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Và thực chất công bằng ở thời kỳ này là cào bằng, chia đều bình quân chủ nghĩa, chủ nghĩa bình quân chính là “kẻ tòng phạm” với bất công xã hội
* Trong thời kỳ đổi mới
Đại hội Đảng VI (1986) chúng ta đã mạnh dạn chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Việc tiếp nhận nền KTTT là một sự lựa chọn hoàn toàn đúng đắn của Đảng và nhân dân ta Trong những năm qua KTTT đã mang lại sự TTKT cao; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên bên cạnh đó, những vấn đề thuộc mặt trái của kinh tế thị trường đang len lỏi và tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội Trong các vấn đề xã hội thì vấn đề công bằng xã hội gây chú ý nhất, nó trở thành tâm điểm của mọi vấn đề được bàn bạc, đề cập sôi nổi trên các diễn đàn từ các góc độ khác nhau
Ở góc độ triết học cho rằng: CBXH và bình đẳng xã hội (BĐXH) là hai khái niệm khác nhau BĐXH là nói tới sự ngang nhau giữa người với người trong xã hội về một, một số hay mọi phương diện nào đấy về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…có nghĩa là chưa thể có được BĐXH hoàn toàn khi nền kinh tế còn ở mức thấp Trong khi đó, nói tới CBXH là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người không phải về một phương diện nào đấy bất kỳ mà chính là về một phương diện hoàn toàn xác định: phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ và
Trang 26quyền lợi hay giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến (thực hiện nghĩa vụ) ngang nhau thì hưởng thụ (được quyền) ngang nhau CBXH chính là thực hiện một phần BĐXH, là thực hiện bình đẳng về một phương diện nhất định - phương diện quan hệ hưởng thụ và cống hiến, và là một bước trên con đường lâu dài nhằm đạt tới BĐXH một cách hoàn toàn
Ở phương diện khác, công bằng được hiểu theo hai góc độ:
- Công bằng theo chiều ngang nghĩa là đối xử ngang nhau đối với những người có đóng góp như nhau
- Công bằng theo chiều dọc: nghĩa là đối xử khác nhau đối với những người có những khác biệt bẩm sinh hoặc có những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau
Nếu CBXH theo chiều ngang được thực hiện bởi cơ chế thị trường thì công bằng theo chiều dọc cần có sự điều tiết của nhà nước, thể hiện vai trò của chính sách xã hội Việc phân định và kết hợp như thế sẽ đảm bảo công bằng thực sự Qua đây có thể thấy CBXH là một khái niệm rộng, hoàn chỉnh gồm các yếu tố: Kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Như vậy, “CBXH là một giá trị định hướng
để con người thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của đời sống vật chất và tinh thần trong mối quan hệ tương đối hợp lý giữa các cá nhân và nhóm xã hội, phù hợp với khả năng thực hiện của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định”
Như vậy, không bao giờ có thể đạt được CBXH tuyệt đối trong khi mâu thuẫn giữa nhu cầu ngày càng cao của con người và khả năng đáp ứng nhất định của xã hội còn chưa thể giải quyết được
Tóm lại CBXH phải được quan niệm một cách toàn diện bao gồm cả công bằng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó công bằng trong kinh tế là gốc, là quyết định Công bằng trong kinh tế không chỉ là công bằng trong hưởng thụ, mà trước hết và quan trọng là công bằng trong việc tiếp cận với điều kiện làm kinh tế, điều kiện phát huy sức sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng
Ngày nay CBXH cần phải phân biệt với những loại bất công khác nhau:
Trang 27Loại bất công "tự nhiên" là loại bất công do sự cấu tạo về thể chất sinh học của mỗi người cũng như khác biệt về trình độ phát triển do lịch sử để lại Đối với loại bất công này hướng lâu dài là dựa trên sự phát triển ngày càng cao của xã hội mà dần dần thu hẹp bất công và trước mắt phải cố gắng đến mức tối
đa để bù đắp nững thiệt thòi do bất công này gây ra
Loại bất công tạm thời, ở đây hiểu theo nghĩa tương đối là phải chấp nhận loại bất công tạm thời này Toàn Đảng toàn dân ta phấn đấu thực hiện mục tiêu
"Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh" Nhưng chúng ta phải hiểu rằng nói "dân giàu" thì không phải mọi người cùng một lúc đều có thể giàu như nhau Trong văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII ghi rõ: "Coi việc có một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển" [18, tr 47] Đây cũng là quan điểm của Hồ Chí Minh:
"Làm cho người nghèo thì đủ ăn
Người đủ ăn thì khá giàu
Người khá giàu thì giàu thêm"
Trong một thời gian nhất định, chưa thể loại trừ tình trạng nghèo tuyệt đối
và tương đối Sự phân hoá giàu nghèo là không thể tránh khỏi nhưng không để tình trạng khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng, người nghèo vô phương vô
kế mà không có sự trợ giúp nào có hiệu quả từ xã hội và Chính phủ
Nói cách khác, chúng ta chấp nhận sự làm giàu chính đáng hợp pháp có lợi cho sự phát triển của đất nước Đó là sự làm giàu dựa trên những năng lực và những nguồn lực chính đáng, sự làm giàu này không vấp phải một hạn chế nào Tài kinh doanh, óc tổ chức quản lý sáng kiến đều có điều kiện phát huy đến mức cao nhất qua cạnh tranh lành mạnh
Loại bất công phi lý, phi pháp, đó là tất cả những bất công đi ngược lại lợi ích của sự phát triển xã hội làm cho đời sống xã hội biến dạng và đạo đức xã hội suy đồi Những bất công phi lý, phi pháp này phải bị xoá bỏ càng sớm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu
Trang 28Việc xóa bỏ những bất công phi lý, phi pháp, điều tiết những bất công tự nhiên và chấp nhận những bất công tạm thời tuy là việc làm quan trọng nhưng
dù sao vẫn là việc làm thụ động của việc thực hiện CBXH Mà điều quan trọng hơn trong nhiệm vụ quản lý sự phát triển xã hội là phải dần dần tạo ra các điều kiện thuận lợi, điều kiện ngang nhau cho mọi thành viên đều có thể phát triển
Như vậy, TTKT và CBXH không loại trừ nhau, vì vậy không nhất thiết phải hy sinh CBXH cho TTKT hay ngược lại tuy nhiên các mục tiêu của TTKT
và CBXH có thể không trùng khớp nhau về thời gian CBXH được thực hiện như một xu thế trong TTKT Vì vậy trong một thời gian hoặc trong một phạm vi nhất định mối quan hệ giữa hai mục tiêu này dường như trái ngược nhau Chúng ta phải nhận thức được rằng: TTKt chính là nền tảng cơ sở vật chất vững chắc cho thực hiện CBXH
1.1.3 Tiêu chí của công bằng xã hội
CBXH là một khái niệm luôn biến đổi phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, các tiêu chí thể hiện CBXH là: Thông qua các hình thức phân phối và sự phân hóa giàu nghèo
* Các hình thức phân phối
Phân phối theo lao động là tiêu chí quan trọng bậc nhất của công bằng Tiêu chí này xuyên suốt cả thời kỳ quá độ lên CNXH, là hình thức phân phối chủ yếu trong điều kiện hiện nay của đất nước ta Lao động không chỉ là lao động hiện tại mà còn là những lao động quá khứ đã tích luỹ vào trong vốn, tài sản, tư liệu sản xuất thực hiện phân phối theo hình thức này sẽ gắn kết được kết quả lao động với lợi ích người lao động, nhờ vậy người lao động sẽ có động lực trong quá trình sản xuất, giúp họ có thu nhập cao Quan điểm này đã được Đảng ta khẳng định: "Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế" Để thực hiện được tốt hình thức phân phối này đòi hỏi người lao động phải có sức khoẻ và tri thức Do đó, nhà nước phải tạo mọi điều kiện cho người lao động có điều kiện chăm sóc sức khoẻ
và học tập thông qua hệ thống y tế và giáo dục quốc dân, có nghĩa là: tăng cường
Trang 29đầu tư cho giáo dục để nâng cao trí tuệ và sức khỏe cho người lao động là điều kiện cần thiết để thực hiện triệt để phân phối theo lao động
Phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh Nếu trước đây chúng ta coi phân phối theo lao động là tiêu chí duy nhất của sự công bằng thì ngày nay trong trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, trước nhu cầu bức bách phải thu hút vốn đầu tư để có điều kiện mở rộng
và đẩy mạnh sản xuất thì ngoài phân phối theo lao động chúng ta còn phải coi trọng hình thức “…phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh…” Các nguồn lực khác ở đây được hiểu là: vốn, tài sản, công cụ sản xuất… được gọi chung là tài sản đóng góp vào quá trình sản xuất Tùy theo mức đóng góp mà được hưởng phần thu nhập tương ứng Hình thức phân phối này cho phép thu hút, huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất
Ngoài phân phối theo lao động và theo nguồn vốn, để đảm bảo công bằng
xã hội trong quá tình phân phối còn phải tính đến nhiều cống hiến khác cho xã hội Đó là những đóng góp về tài năng, sức lực và máu xương cho lợi ích chung của cộng đồng xã hội Sự đóng góp về tài năng là loại lao động sáng tạo về các lĩnh vực như: Khoa học công nghệ, văn hóa nghệ thuật, giáo dục, y tế…Loại cống hiến này nhìn bề ngoài có vẻ nhẹ nhàng nhưng thực chất loại lao động này rất nặng nhọc, tiêu tốn nhiều năng lực trí tuệ, thời gian Do vậy thành quả của nó
có giá trị rất lớn đối với xã hội đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Song, từ trước đến nay loại cống hiến này chưa được đánh giá một cách đúng mức Sự cống hiến của các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang như: quân đội, công an là sự cống hiến đặc biệt Những cống hiến của họ cơ bản là vô hình không thể tính bằng các sản phẩm lao động cụ thể mà bằng sức lực, tài trí và có thể bằng cả xương máu, tính mạng Đặc biệt với các chiến sỹ ngoài hải đảo, trên những vùng biên cương, đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Họ phải chịu đựng mọi gian khổ, thiếu thốn khó khăn về cả đời sống vật chất và tinh thần, chấp nhận hi sinh cả tính mạng vì sự bình yên cuộc sống Vì vậy sự ưu đãi đối với họ là rất cần thiết
và cũng là cách để đảm bảo CBXH
Trang 30Thực hiện phân phối thông qua phúc lợi xã hội Đây là hình thức phân phối khắc phục nhược điểm của hai hình thức phân phối trên và có tác dụng làm giảm bớt sự BBĐ Một trong những đặc thù lớn nhất của nước ta là chiến tranh kéo dài: chống thực dân pháp, đế quốc mỹ, kẻ thù biên giới phía bắc và tây nam Bên cạnh đó còn có lực lượng tham gia quân tình nguyện giúp các nước bạn Lào, Campuchia trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Chính vì vậy đã có nhiều gia đình, nhiều đồng bào chiến sỹ, nhiều vùng đất đã không tiếc công sức, tiền của, máu xương cống hiến cho cách mạng góp phần thực hiện nhiệm vụ cao
cả Ngày nay, bước vào guồng quay của kinh tế thị trường thì chính họ là những người chịu nhiều thiệt thòi nhất bởi họ không còn sức lao động do neo đơn, thương tật, già yếu, khó khăn về vốn, họ rơi vào nhóm người nghèo của xã hội Bởi vậy thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện hiện nay không thể không tính đến sự cống hiến trong quá khứ của những thế hệ người đã kinh qua chiến tranh Việc thực hiện các chính sách nhân đạo, phong trào làm việc thiện, phong trào đền ơn đáp nghĩa, thành lập quỹ xoa đói giảm nghèo… là trách nhiệm của toàn xã hội, là sự đền ơn đáp nghĩa chứ tuyệt nhiên không phải sự ban ơn Trong điều kiện hiện nay còn có sự BBĐ trong thu nhập, việc thực hiện phân phối thông qua phúc lợi xã hội có tác dụng tích cực để giảm bớt sự BBĐ đó
* Sự phân hóa giàu nghèo
Trong cơ chế thị trường sự phân hóa giàu nghèo là môt hiện tượng phổ biến có tính khách quan, nó mang tính hai mặt: tiêu cực gắn với BBĐ xã hội và mặt tích cực gắn với phân công lao động xã hội Khi có sự phân tầng xã hội tính năng động của cá nhân được phát huy là cơ sở tất yếu kéo theo tính năng động của xã hội, tạo động lực cho sự phát triển Chấp nhận sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra được hiểu theo nghĩa cống hiến ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau, đó là cách hiểu mới về CBXH Nếu sự phân hóa giàu nghèo là do tài năng, trí tuệ, và những điều kiện khách quan khác quy định thì sự thu nhập không ngang nhau là công bằng Song, có thể coi là bất công nếu có sự cách biệt giữa những người lao động chân chính đang sống nghèo khó với những kẻ làm giàu phi pháp bằng các hành vi: tham nhũng, buôn lậu, lừa đảo, trốn thuế… Sự
Trang 31bất công còn xảy ra ngay trong lực lượng người lao động, đó là sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa những người trong những ngành nghề có lợi thế nghề nghiệp, hoặc trong những ngành ít nhiều có tính chất độc quyền với những người lao động ở những ngành khác
Ở nước ta hiện nay, người lao động sẵn sàng chấp nhận tạm thời sự chưa bình đẳng nhưng không chấp nhận sự không công bằng, công bằng phải được xây dựng trên cơ sở cống hiến và hưởng thụ ngang nhau Cụ thể, mỗi cá nhân muốn cống hiến được cho xã hội thì cá nhân đó tối thiểu phải có hai điều kiện cơ bản:
Thứ nhất: Phải có môi trường thuận lợi vừa nhằm tạo điều kiện cho cá nhân có khả năng cống hiến, vừa là thước đo để đánh giá khách quan sự cống hiến của cá nhân, đó có thể được gọi là “cơ hội xã hội” Cơ hội xã hội là một điều kiện rất quan trọng mà không có nó thì dù các nhân có nhiệt tình cống hiến đến mấy cùng với tài năng thực sự đôi khi cũng trở thành bất lực
Như vậy, từ quan niệm “cơ hội xã hội” như trên thì có thể thấy rằng: Các
xã hội trước đây không chỉ bất công trong lĩnh vực phân phối do đặc quyền phân phối thuộc về giai cấp thống trị mà còn bất công ở chỗ chỉ một số kẻ có tiền, quyền lực mới có “cơ hội xã hội” để phát triển, còn đại đa số người lao động hầu như không có hoặc có ít cơ hội đó
Thứ hai, muốn cống hiến thì phải có năng lực nhất định, năng lực càng cao thì khả năng cống hiến càng lớn Trong nền kinh tế thị trường năng lực không chỉ là sản phẩm bẩm sinh mà chủ yếu lại là do giáo dục, đào tạo mà có Giáo dục, đào tạo có thể sẽ góp phần đắc lực cho việc bồi dưỡng năng lực cá nhân, làm cho mọi tiềm năng về năng lực cá nhân đều trở nên có những cơ hội như nhau hoặc tương đương nhau Như vậy, từ những vấn đề công bằng trong giáo dục, đào tạo chính là cái gốc để giảm bớt bất công về năng lực Một nền giáo dục công bằng sẽ tạo ra tối đa những năng lực lao động mới, đảm bảo cho
xã hội tránh được những bất công
Đương nhiên, không thể ảo tưởng rằng với một nền giáo dục nào đó, người ta có thể tạo nên sự ngang bằng về năng lực Năng lực còn phụ thuộc vào
Trang 32các yếu tố khác như di truyền, khí chất, sức khỏe… Nhưng một điều chắc chắn là: với một nền giáo dục công bằng cho toàn dân, chúng ta sẽ không để lọt hoặc
để uổng phí các mầm mống tài năng và sẽ tạo được cơ hội không quá chênh lệch
để mọi người cùng tự do phát triển Nền giáo dục công bằng có khả năng tạo nên
“cơ hội xã hội” mà chúng tôi nói tới là theo nghĩa như vây
1.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.2.1 Một số quan niệm về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới
1.2.1.1 Mô hình phát triển kinh tế thị trường hoàn toàn tự do, ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế
Kế thừa luận điểm nổi tiếng về “Bàn tay vô hình” trong nền kinh tế thị trường tự do mà Adam Smith - ông tổ của chủ nghĩa tư bản tự do cổ điển ra đời vào cuối thế kỷ XVIII, từ cuối những năm 1970, nhiều nhà kinh tế học phương Tây như: Von Hayek, Milton Friedman… đã khuyến khích các nước Âu, Mỹ và
cả một số nước đang phát triển điều chỉnh mô hình kinh tế theo chủ nghĩa tự do mới Thực hiện mô hình này, người ta hạ thấp vai trò của nhà nước, đề cao vị trí của khu vực tư nhân, giảm chi tiêu từ ngân sách quốc gia cho các lợi ích công cộng, điều chỉnh lại việc phân phối thu nhập theo hướng có lợi cho giới chủ tư bản nhằm khuyến khích họ “tiết kiệm và đầu tư”, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Tăng trưởng kinh tế phải đi trước, công bằng xã hội theo sau Nhà kinh tế học Mỹ: Kuznets năm 1955 đã tiến hành khảo nghiệm ở một số nước và đưa ra lập luận rằng: giai đoạn đầu TTKT và bất công xã hội là quan hệ tỷ lệ thuận: giai đoạn giữa khi TTKT đạt đến mức cao và bất công xã hội cũng đạt tới mức đỉnh điểm, lúc này nhờ thành quả của TTKT mà xã hội có thể quan tâm đến sự phân chia công bằng cho mọi người; giai đoạn cuối cùng với TTKT, CBXH tiếp tục tăng lên
Những người theo quan điểm trên đây xuất phát từ chỗ cho rằng TTKT và CBXH có mâu thuẫn trái ngược nhau, muốn TTKT thì nhất định phải hy sinh
Trang 33CBXH một thời gian chờ đến khi kinh tế phát triển cao, tức là “cái bánh của xã hội” đã to lên rồi mới có thể chia đều cho các thành viên được
Vận dụng quan điểm trên nên mức TTKT của Mỹ rất cao, GDP đứng đầu thế giới (9.000 tỷ USD/năm) nhưng số người nghèo cũng tăng cao (35,7 triệu người, chiếm 14% dân số) Theo số liệu của báo “US Today” hệ số Gini (chỉ thước đo được sử dụng phổ biến để xác định mức độ BBĐ trong phân phối thu nhập Hệ số này trải rộng từ 0 (hoàn toàn bình đẳng) đến 1 (BBĐ) - tên nhà thống kê học người Italia - Gini Coefficient ở Mỹ đã lên đến mức cao (trong năm 1988 là 0,390 đến năm 1994 là 0,456)
Đối với nước Mỹ, một kỷ nguyên mới về BBĐ đang diễn ra, “thu nhập của 5% gia đình giàu nhất nước Mỹ so với tổng GDP tăng từ 18,6% (năm 1990) lên 24,5% (năm 1997) Ngược lại thu nhập của 5% nhóm người nghèo nhất lại giảm từ 5,7% (năm 1990) xuống còn 4,3% (năm 1997)” Sự phân cực mạnh đến nỗi hiện nay cư dân Mỹ đang di chuyển theo hai luồng vào hai khu vực: khu vực giành cho người giàu và khu vực giành riêng cho người nghèo, tình trạng này diễn ra gay gắt và trở thành áp lực cho xã hội Rôbơtrai (nguyên Bộ Trưởng Bộ Lao Động Mỹ) đã thừa nhận sự BBĐ ngày càng tăng trên lĩnh vực phân phối đang có nguy cơ gây ra những phức tạp về xã hội, chính trị và thậm chí cả đạo đức Một xã hội bị phân thành hai cực: người giàu và người nghèo là một xã hội không ổn định và tầng lớp trung lưu bị biến mất
Chính phủ Mỹ đã thực hiện chính sách phúc lợi và bảo đảm cho xã hội như các chương trình trợ giúp y tế, nhà ở, thất nghiệp, người nghèo… nhưng đó chỉ là sự điều hòa hết sức nhỏ nhoi trong tổng giá trị lợi nhuận do xã hội tạo ra
và người nghèo cũng chỉ được hưởng một phần rất nhỏ Thực chất việc làm đó của chính phủ Mỹ: “Tương tự như một cơ quan bảo hiểm, kiềm chế những căng thẳng xã hội ở khu vực nghèo nhất với những chi phí tối thiểu Phương án tăng thuế để giải quyết những nguyên nhân sâu xa khiến cho người nghèo bị đẩy ra ngoài lề xã hội, bị bác bỏ với lý do sẽ làm phật lòng số đông giàu có quyết định cuộc bầu cử” [3, tr 26]
Trang 34Như vậy, sự phát triển đất nước theo mô hình của Mỹ: tập trung ưu tiên TTKT; ít quan tâm đến CBXH đã làm cho mọi mặt của đời sống xã hội bị khủng hoảng sâu sắc Đó là một xã hội mà chính người Mỹ cũng phải đến thốt lên rằng:
“Một thế giới không thể chấp nhận được”
1.2.1.2 Mô hình phúc lợi xã hội của Thụy Điển và các nước Bắc Âu
Đây là mô hình dựa theo lý thuyết của John Maynard Keynes mà theo đó, người ta kết hợp sử dụng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với việc thi hành một hệ thống các chính sách phúc lợi để tạo ra sự đồng thuận xã hội cho phát triển Nhà nước phúc lợi Thụy Điển là điển hình của mô hình này Nhà nước tích cực tham gia quản lý, điền hòa kinh tế - xã hội nhằm tạo ra một xã hội thịnh vượng và một nhà nước phúc lợi toàn dân Xuất phát từ quan niệm coi CBXH là mục tiêu của mọi chính sách kinh tế - xã hội xây dựng một hệ thống phúc lợi chung và một hệ thống bảo hiểm qui mô lớn Nhà nước thông qua thuế và hệ thống bảo hiểm nhằm thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp cư dân Việc kết hợp giữa kinh tế thị trường với mở rộng phúc lợi xã hội và tận dụng triệt để các điều kiện quốc tế đã tạo ra không khí lao động hăng say Bởi vậy, trong một thời gian ngắn (1938-1950) từ những nước nghèo nhất châu Âu, Thụy Điển và các nước Bắc Âu đã trở thành những nước giàu nhất thế giới, mức sống của người dân khá cao và tương đối đồng đều, người dân được sử dụng các dịch
vụ xã hội không phải trả tiền
Tuy vậy, sau một thời gian việc thực hiện chế độ phúc lợi xã hội cao đã tạo ra cho con người có thói quen hưởng thụ, tâm lý thụ động trông chờ vào xã hội, không khí lao động giảm dần Mặt khác nhà nước chi cho hệ thống phúc lợi
xã hội quá lớn (60% GDP) đã vượt quá sức tải của nền kinh tế Để bổ xung cho nguồn chi xã hội, nhà nước đã dùng biện pháp đánh thuế cao đối với giới chủ (giới chủ các doanh nghiệp phải đóng hơn 40% tổng quỹ phúc lợi ) Từ đây đã dẫn tới hậu quả: động lực phát triển sản xuất bị giảm dần, nhiều công ty lớn của Thụy Điển chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài (năm 1989 đầu tư ra nước ngoài của Thụy Điển tăng dần 40%, trong khi đó đầu tư trong nước chỉ tăng 10%)
Trang 35Cuối những năm 80 mô hình Thụy Điển và các nước Bắc Âu đã thật sự rơi vào khủng hoảng, buộc các quốc gia phải điều chỉnh theo hướng chú trọng hơn đến TTKT, giảm chi tiêu cho phúc lợi và bảo hiểm xã hội với lập luận rằng:
“phải dỡ bỏ một bộ phận của chế độ phúc lợi xã hội nhằm cứu vãn cốt lõi của chế độ này”
1.2.1.3 Mô hình ưu tiên thực hiện công bằng xã hội
Trong một thời gian, ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu trước đây,
mô hình này đã từng phát huy tác dụng tích cực trong việc phát triển kinh tế theo chiều rộng trên cơ sở kỹ thuật cổ điển, đồng thời tạo nên sự bình ổn xã hội bằng những chính sách quan tâm đến các mặt của đời sống con người Xuất phát từ quan điểm cho rằng xã hội công bằng là ước mơ của mọi con người ở mọi thời đại, vì thế xã hội càng nhanh đạt được sự công bằng càng thể hiện tính ưu việt của CNXH Với quan niệm như vậy, các nước này đã xây dựng đường lối phát triển đề cao CBXH thực hiện phân phối trước, TTKT sau Do tư tưởng nôn nóng, hành động chủ quan muốn có ngay một xã hội phát triển tự do và bình đẳng hoàn toàn đối với mọi cá nhân mà không tính đến trình độ phát triển lực lượng sản xuất hiện có, bất chấp mọi quy luật phát triển kinh tế - xã hội ở một nước chưa phát triển Ở các nước này đã tiến hành xóa bỏ toàn bộ sở hữu tư nhân, công hữu hóa tư liệu sản xuất dưới hai hình thức Quốc doanh và tập thể Sai lầm lớn hơn là bỏ qua nguyên tắc phân phối theo lao động, đồng nhất CBXH với chủ nghĩa bình quân, thực hiện phân phối lại thông qua hệ thống phúc lợi quá lớn Do vậy động lực kích thích khả năng lao động sáng tạo của người lao động bị triệt tiêu Đồng thời tâm lý ỉ nại trông chờ vào xã hội lại càng tăng lên
Từ đây dẫn đến năng xuất lao động thấp, sản phẩm làm ra càng ít cho nên cái mà con người được hưởng thụ và phân phối càng ít Phân phối ở đây cũng chỉ là:
“chia đều sự nghèo khó cho mọi người” Do quan niệm CBXH không đúng như vậy nên thực tế nó lại trở thành lực cản đối với TTKT, chính cơ chế phân phối tưởng như công bằng ấy lại bất công bằng: đối xử như nhau đối với những người
có đóng góp khác nhau
Trang 361.2.1.4 Mô hình tăng trưởng kinh tế và giảm bớt bình đẳng ở một số nước
và vùng lãnh thổ châu Á
Qua việc tìm hiểu những bài học của các nước trên thế giới trong việc giải quyết quan hệ TTKT và CBXH theo quan điểm tập trung TTKT hoặc CBXH một cách phiến diện Các nước theo chủ nghĩa tự do mới chủ trương kết hợp giữa cơ chế thị trường và sự điều tiết của nhà nước, giải quyết mối quan hệ giữa TTKT và CBXH bằng cách xóa bỏ độc quyền, phân phối lại thu nhập quốc dân thông qua thuế, khuyến khích phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ, mở rộng hình thức sở hữu cổ phần và cho công nhân tham dự vào sở hữu xí nghiệp thông qua mua cổ phiếu Các nước này đã được coi là có nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa TTKT và CBXH Theo một số nhà nghiên cứu thì kinh nghiệm giải quyết TTKT và CBXH ở các nước và vùng lãnh thổ châu Á đã thực hiện tốt các chính sách sau:
- Dân chủ hóa trong kinh tế, đây là vấn đề cơ bản đầu tiên đảm bảo cho CBXH
- Cải cách ruộng đất và đầu tư phát triển nông thôn có ý nghĩa quan trọng tạo tiền đề để cho TTKT và CBXH bởi vì những nước này kinh tế nông nghiệp
là chủ yếu Với các biện pháp cơ bản: nâng cấp, đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, nông nghiệp; áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất; áp dụng chính sách giá cả, thuế bảo hộ cho nông dân
- Khuyến khích phát triển kinh doanh quy mô vừa và nhỏ, tạo việc làm cho mọi người lao động, tận dụng mọi nguồn lực
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực, tạo lập thị trường lao động Đầu tư cho giáo dục đào tạo
- Có chính sách phúc lợi về nhà ở, dịch vụ y tế, giáo dục cho tầng lớp nhân dân có thu nhập thấp trong xã hội
- Xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch và có hiệu quả.[38,tr53-56]
Từ kinh nghiệm của một số nước châu Á cho thấy không thể thực hiện TTKT bằng mọi giá và công bằng chỉ là một chiều của TTKT Trái lại, mức độ
Trang 37BBĐ thấp cũng là điều kiện kích thích TTKT, không nên và không thể tách rời các chính sách khuyến khích TTKT và chính sách tạo lập CBXH Điều quan trọng là tạo ra một cơ chế để TTKT và giảm bớt BBĐ là kết quả thuận chiều và điều kiện tương hỗ nhau
1.2.2 Nhận thức và quan niệm của Đảng ta về kết hợp tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội
Hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 khởi xướng, chúng ta đã có những đổi mới quan trọng về nhận thức mối quan hệ giữa TTKT và CBXH
Từ tâm lý thụ động, ỷ nại vào Nhà nước và tập thể đã chuyển sang tính năng động, chủ động và tích cực của tất cả các tầng lớp dân cư Từ chỗ đề cao quá mức lợi ích tập thể một cách chung chung, thi hành chính sách phân phối theo lao động trên danh nghĩa thực tế là bình quân cào bằng đã dần dần từng bước thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và phúc lợi xã hội
Từ chỗ không đặt đúng tầm quan trọng của chính sách xã hội trong mối quan hệ tương tác với chính sách kinh tế đã đi đến thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, xem trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện chính sách xã hội là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và CBXH ngay trong từng bước phát triển
Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế
và người lao động đều tham gia vào tạo việc làm
Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hóa giàu - nghèo đã khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo, coi một
bộ phận dân cư giàu lên trước là cần thiết cho sự phát triển
Trang 38Coi phát triển giáo dục - đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, tạo điều kiện để
ai cũng được học hành; có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo
Đảng ta khẳng định TTKT và CBXH là mục tiêu, là khát vọng ngàn đời của nhân dân ta Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu kép này không phải là điều dễ dàng Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ rõ: đặt CBXH lên hàng đầu (theo lối “CNXH hiện thực” như đã từng thực hiện ở Đông Âu và Liên Xô trước đây, hay “Nhà nước phúc lợi” ở các nước tư bản Bắc Âu) sẽ dẫn đến chỗ triệt tiêu những yếu tố TTKT Nhưng đặt hiệu quả kinh tế lên hàng đầu (theo lối “chủ nghĩa tự do mới”) thì lại dẫn tới khoét sâu những ngăn cách xã hội và nhất là dồn một số tầng lớp người vào tình trạng nghèo khổ và bế tắc, cuối cùng tạo ra những trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế, những nguy cơ bùng nổ xã hội Do đó chúng
ta phải tìm cơ chế mới trong đó không để hai mặt CBXH và TTKT đối kháng nhau, loại bỏ nhau Ngược lại phải làm sao để cho hai mặt đó làm tiền đề của nhau, hơn nữa để cho mặt này bao hàm mặt kia ở mức độ hợp lý nhất Việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa TTKT và CBXH phụ thuộc vào nhiều quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và việc thực thi chính sách đó trong cuộc sống
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã có một tư duy
và sự nhìn nhận mới về TTKT và CBXH Những quan điểm đó đều bắt nguồn
và dựa trên cơ sở đường lối xây dựng CNXH của Đảng
Một xã hội có nền kinh tế phát triển cao gắn với tiến bộ, công bằng, dân chủ và văn minh luôn là mục tiêu mà Đảng và nhân dân ta không ngừng phấn đấu Chúng ta không thể ngồi chờ đến khi kinh tế phát triển cao lúc đó mới thực hiện CBXH Mặt khác, không thể hy sinh CBXH để phát triển kinh tế một cách thuần túy Mỗi chính sách về kinh tế của chúng ta đều nhằm mục tiêu phát triển
xã hội, mỗi chính sách xã hội đều chứa đựng nội dung và ý nghĩa thúc đẩy kinh
tế phát triển
Trang 39Quá trình xây dựng CNXH ở nước ta là sự thống nhất và phát triển biện chứng giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người CNXH tiến tới xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công và mưu cầu hạnh phúc cho mọi người và toàn xã hội, đó là CBXH lớn nhất, toàn diện nhất, triệt để nhất mà chúng ta phấn đấu Mục tiêu lâu dài đó được cụ thể hóa cho giai đoạn trước mắt ở nước ta bằng khẩu hiệu hành động: Toàn dân đoàn kết phấn đấu
vì sự nghiệp: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
TTKT là điều kiện khách quan để xóa bỏ những BBĐ đã từng tồn tại hàng nghìn năm trong lịch sử Thế nhưng TTKT lại làm nảy sinh những BBĐ mới Những BBĐ này tồn tại liền với sự khác nhau về trí tuệ, năng lực, phẩm chất của từng cá nhân trong lao động và hệ quả tất yếu là thu nhập không ngang nhau giữa các thành viên của xã hội, khi những nhu cầu này được thỏa mãn thì những nhu cầu mới lại nảy sinh và xã hội lại không thể thỏa mãn một cách như nhau cho mọi thành viên trong xã hội Như vậy TTKT trong nền kinh tế thị trường luôn luôn làm nảy sinh và tạo điều kiện để để giải quyết những mâu thuẫn về vấn đề CBXH Cuộc đấu tranh giữa bình đẳng và BBĐ, công bằng và bất công dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước không tất yếu dẫn đến mâu thuẫn đối kháng mà trái lại là một trong những động lực cho sự phát triển xã hội
Để TTKT và thực hiện CBXH, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thừa nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại Điều đó có nghĩa là về mặt kinh tế, chúng ta thừa nhận ở một mức độ nào đó còn tồn tại trong xã hội sự BBĐ về tài sản, về điều kiện sản xuất của các thành viên
do lịch sử để lại Xóa bỏ BBĐ đó phải có quan điểm lịch sử, quan điểm phát triển sản xuất Ngay cả đối với tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân thì các thành viên trong xã hội cũng chưa được quyền làm chủ như nhau Trong quan hệ
sở hữu đó mỗi người chỉ có quyền làm chủ tư liệu sản xuất trong chừng mực họ
có việc làm và lợi ích tương ứng Đối tượng sở hữu càng trở nên đa dạng khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường như: sở hữu tư liệu sản xuất, sở hữu vốn, sở hữu lao động, sở hữu tài sản vô hình… Quan hệ sở hữu đa dạng nên quan hệ trong phân phối thu nhập cũng đa dạng Do vậy CBXH không đi liền
Trang 40với việc bình quân, cào bằng trong phân phối thu nhập, mà nó đòi hỏi việc phân phối thu nhập phải trong khuân khổ luật pháp, không để cho tầng lớp này giàu
có trên sự nghèo khó của tầng lớp khác, bên cạnh việc khuyến khích làm giàu chính đáng, Đảng và nhà nước từng bước cải thiện đời sống của bộ phận nhân dân nghèo
Nhà nước thông qua nhiều chính sách kinh tế điều tiết hợp lý thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, các ngành, các vùng khác nhau Đặc biệt là gắn liền với TTKT mà tiến hành phân phối qua các quỹ phúc lợi xã hội nhằm giảm bớt chênh lệch về điều kiện tái sản xuất sức lao động trên một số nhu cầu cơ bản của các thành viên trong xã hội
Với quan niệm: TTKT nhằm sử dụng tối đa sức lao động, hạn chế thất nghiệp, thực hiện CBXH, Đảng lãnh đạo Nhà nước ta xây dựng các chính sách đầu tư, đa dạng hóa các loại hình sản xuất kinh doanh để người lao động có cơ hội tìm kiếm việc làm kể cả việc làm thuê
Để TTKT nhanh trong điều kiện vốn đầu tư có hạn, chúng ta đã và đang tiến hành đầu tư theo hướng ưu tiên vào những vùng căn cứ theo tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế Thực hiện quan điểm này nhằm hướng tới sự TTKT cao, đó là nâng cao năng xuất lao động trong những vùng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo đà cho
sự phát triển kinh tế ở các vùng khác và góp phần làm cho toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng Đối với nông thôn, Đảng đã chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn nhằm thúc đẩy sự TTKT, tạo ra sự phân công lao động mới
và mở ra hướng phát triển thị trường nông thôn
CBXH trước hết được hiểu và thực hiện theo hướng bình đẳng về nghĩa
vụ và quyền lợi của mọi người trước pháp luật và trong các chính sách kinh tế,
xã hội Trong việc thực hiện CBXH chúng ta đã đặc biệt chú ý tới công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ giữa các nhóm dân cư trong hiện tại và trong quá khứ, gắn CBXH ở nông thôn với CBXH ở thành thị và trên toàn quốc
Đấu tranh cho CBXH phải dựa trên sự coi trọng nhân tố con người và đây được coi là yếu tố hàng đầu vì chính nó là một trong những động lực mạnh mẽ