Đoàn Văn Thái, Nxb Thanh niên, 2006… Trên cơ sở chỉ ra những quan điểm cơ bản, chủ yếu trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về CTTN qua các kì Đại hội Đảng, qua những bước ngoặt lịch s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI - 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ DUY BIỆN CHỨNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN 10
1.1 Khái niệm tư duy biện chứng về công tác thanh niên 10
1.1.1 Tư duy biện chứng của chủ nghĩa duy vật mác xít 10
1.1.2 Tư duy biện chứng về công tác thanh niên 17
1.2 Cơ sở hình thành tư duy biện chứng của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thanh niên 30
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thanh niên và công tác thanh niên 30
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên 34
1.2.3 Tư duy và quan điểm truyền thống của dân tộc Việt Nam
về sự kế tục, phát triển thế hệ 45
1.2.4 Thực tiễn tình hình thanh niên, công tác thanh niên qua các thời kì cách mạng 47
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ DUY BIỆN CHỨNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 57
2.1 Một số nội dung cơ bản trong tư duy biện chứng của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thanh niên 57
2.1.1 Vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên 57
2.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của công tác thanh niên và vai trò của các chủ thể thực hiện công tác thanh niên 66
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn và mối quan hệ giữa Đảng với Đoàn 84
2.1.4 Xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn 89
2.2 Nhận định chung, bài học kinh nghiệm và một số vấn đề đặt ra 2.2.1 Nhận định chung 98
2.2.2 Một số bài học kinh nghiệm 103
2.2.3 Một số vấn đề đặt ra 108
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong suốt sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của mình, Đảng cộng sản Việt Nam đã gặt hái nhiều thành quả to lớn ở mọi lĩnh vực hoạt động nói chung và lãnh đạo công tác thanh niên (CTTN) nói riêng Qua các thời kì lịch
sử, đặc biệt ở những thời điểm cam go, quyết liệt nhất, Đảng ta đã có những chủ trương, đường lối sát trúng nhằm giáo dục, tổ chức, động viên các thế hệ thanh niên nối tiếp nhau, một lòng đi theo Đảng, ngoan cường chiến đấu, dũng cảm hi sinh, góp phần xứng đáng vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc, tiến bước vững vàng trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế
Từ khi Đảng ta ra đời và bước lên vũ đài chính trị, vấn đề củng cố, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng luôn được coi là vấn đề có tính nguyên tắc, đảm bảo thắng lợi sự nghiệp, con đường cách mạng mà Đảng đã lựa chọn Sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với CTTN cũng không nằm ngoài tất yếu khách quan này Trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng biểu hiện tập trung trước hết ở việc đề ra các đường lối, chủ trương, chính sách, về CTTN, điều đó đòi hỏi phải có trình độ tư duy cao đáp ứng nhiệm vụ cách mạng đặt ra - đó là tư duy biện chứng mácxít
Thanh niên là một đối tượng xã hội đặc thù, luôn có khuynh hướng vận động biến đổi mạnh mẽ nhất, lại có mặt trong tất cả các lực lượng của xã hội,
ở mọi vùng miền khác nhau, họ mang trong mình dấu ấn của những ưu điểm, tiến bộ của xã hội mới, cùng những khuyết tật của một xã hội đã có Hiện tại, chúng ta đang chứng kiến những biểu hiện mới mẻ, những diễn biến đa dạng
và có nhiều chiều hướng phức tạp trong thanh niên và CTTN Điều đó càng yêu cầu chủ thể tiến hành CTTN phải có trình độ cao về tư duy biện chứng,
Trang 6quan điểm lịch sử, cụ thể, phương pháp luận khoa học để nhận thức về các vấn đề của thế hệ trẻ, của CTTN, từ đó định hướng và xử lí đúng đắn, hiệu quả những vấn đề ấy dù ở phạm vi cá nhân người thanh niên hay ở phạm vi vấn đề xã hội hiện nay của họ
Hiện nay, các cán bộ, đảng viên lãnh đạo, phụ trách CTTN vốn được đào tạo, bồi dưỡng, trưởng thành từ thực tiễn công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi có nhiều thế mạnh về phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm hoạt động phong trào và năng lực tư duy Song một bộ phận không nhỏ trong đó vẫn còn những yếu kém về tư duy lý luận, đặc biệt là tư duy biện chứng, nhất
là sự lạc hậu của tư duy so với sự phát triển của thực tiễn tình hình thanh niên
và CTTN Chưa kể ở nhiều nơi, các cấp uỷ đảng chưa bám sát thực tiễn, chưa nhận thức được sâu sắc, đầy đủ tầm quan trọng, vị trí, vai trò của CTTN, thiếu chỉ đạo sát sao, coi nhẹ việc chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, phát huy thanh niên, dẫn đến lãnh đạo, thực hiện CTTN không đạt hiệu quả như mong muốn
Để lãnh đạo, chỉ đạo CTTN có hiệu quả, một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là phải nghiên cứu sâu sắc, tổng thể tư duy biện chứng nói chung, tư duy biện chứng của Đảng ta nói riêng thông qua các đường lối, chủ trương, chính sách, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về CTTN trong suốt tiến trình cách mạng Qua đó, một mặt chúng ta thấy được sự nảy sinh, vận động, biến đổi, phát triển, và tính ổn định trong những nội dung luận điểm của Đảng về CTTN Mặt khác, qua việc nắm vững tư tưởng xuyên suốt mang tính chiến lược về CTTN của Đảng ta, các chủ thể, các cấp uỷ đảng khi tiến hành CTTN sẽ có nhận thức, tư duy đúng đắn để đổi mới, tăng cường lãnh đạo CTTN trong thời gian tới
Với những lí do trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Tư duy biện chứng của
Đảng cộng sản Việt Nam về công tác thanh niên” làm đề tài luận văn của mình
Trang 72 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề tư duy và tư duy biện chứng duy vật đã được nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu Ở Liên Xô trước đây vấn
đề này chủ yếu được đề cập khi các tác giả trình bày về lịch sử triết học, về phép biện chứng, logic học, lí luận nhận thức, tiêu biểu như: I-len-cốp:
“Logic biện chứng”, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003; Cốp-nhin:
“Phép biện chứng là logic học và lý luận nhận thức”, Nxb Chính trị
Matxcova, 1873; M M Rodentan: “Nguyên lí logic biện chứng”, Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, 1979; A.P Septulin: “Phương pháp nhận
thức biện chứng”, Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội, 1987,…
Ở nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí bàn đến vấn đề tư duy biện chứng, tư duy lí luận của Đảng, tư duy của cán bộ lãnh đạo, cán bộ làm kinh tế, tư duy trong quân sự, trong giảng dạy,… trong
đó chủ yếu đề cập đến vấn đề đổi mới tư duy, nâng cao năng lực tư duy, khắc
phục, đẩy lùi bệnh tiêu cực trong tư duy ví dụ như: Cuốn “ Đổi mới tư duy
và phong cách tư duy” của Nguyễn Văn Linh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987;
“Quán triệt tư duy biện chứng duy vật và nội dung quan trọng của đổi mới tư
duy” của Dương Phú Hiệp, Tạp chí Triết học, số 2/1987; “Thực trạng tư duy của cán bộ, đảng viên ta và căn nguyên của nó” của Lê Thi, Tạp chí Triết
học, số 01/1988; “Yêu cầu mới về năng lực trí tuệ của Đảng trong giai đoạn
hiện nay” của Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Triết học, số 02/1992; Luận án
PTS “Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở đội ngũ cán bộ nước ta trong quá trình
xây dựng Chủ nghĩa xã hội” của Trần Văn Phòng, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994; Luận án TS “Đặc điểm quá trình phát triển
tư duy biện chứng duy vật của sĩ quan phân đội quân đội nhân dân Việt Nam trong nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay” của Nguyễn Bá Dương,
Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội, 2000; Luận án TS “Vai trò của tư duy
Trang 8biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo kinh tế trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị Bích Thủy, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2001; Cuốn “Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ
lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn” của Trần Thành, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2003; Luận văn Th.S “Giảng dạy triết học Mác - Lênin với việc nâng
cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên các trường đại học” của Hoàng
Thúc Lân, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004;
Trong các công trình nêu trên, ở các góc độ khác nhau, các nhà khoa học đã đề cập đến bản chất, vai trò của tư duy biện chứng duy vật và sự cần thiết phải đổi mới tư duy ở các cấp ủy đảng, các cán bộ lãnh đạo, đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện của phương pháp tư duy siêu hình như: bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều, chủ quan, duy ý chí, đồng thời làm rõ tính cần thiết trong phổ cập phương pháp tư duy biện chứng duy vật trong các lĩnh vực
xã hội
Về thanh niên và CTTN, đây là vấn đề đặc biệt, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều công trình khoa học Đã có nhiều vấn đề đặt ra, trong đó
có vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo CTTN, chủ yếu nghiên cứu dưới
góc độ xã hội học, chính trị học, xây dựng Đảng Ví dụ như: cuốn “Đề cương
chuyên đề: Một số vấn đề về thanh niên và công tác thanh niên trong giai đoạn cách mạng XHCN”, Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, 1981; cuốn
“Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác vận động thanh niên trong thời kì đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước” của Ban Dân vận TW, Nxb Chính trị quốc gia,
2001; “Một số vấn đề về công tác thanh niên trong thời kì CNH-HĐH đất
nước”, của Văn Tùng, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2001 “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về công tác thanh niên trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” của
TS Dương Tự Đam, Nxb Thanh niên, 2005; cuốn “Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo công tác thanh niên trong giai đoạn hiện nay” của TS Lâm Quốc
Trang 9Tuấn và Th.S Phạm Tất Thắng (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,
2011; Luận án Tiến sĩ “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò thanh niên và sự vận
dụng của Đảng cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước (1975-1986) của Trần Thị Nhơn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Nhà nước đối với công tác thanh niên trong giai đoạn hiện nay” của ThS
Đoàn Văn Thái, Nxb Thanh niên, 2006…
Trên cơ sở chỉ ra những quan điểm cơ bản, chủ yếu trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về CTTN qua các kì Đại hội Đảng, qua những bước ngoặt lịch sử của đất nước, có sự thay đổi lớn trong nhiệm vụ cách mạng, các công trình tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTN giới hạn trong một giai đoạn lịch sử nhất định Song dưới góc độ triết học, vấn đề tư duy của Đảng ta về CTTN còn khá mới mẻ, phức tạp, ít được bàn đến Việc nghiên cứu, tổng kết một cách khái quát vấn đề tư duy biện chứng của Đảng
ta về CTTN, phác thảo nên bức tranh tổng quát quá trình vận động thay đổi trong nhận thức của Đảng về CTTN từ khi Đảng ta ra đời lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc đến nay, từ đó đề xuất những nội dung trong lãnh đạo Đảng về CTTN trong thời gian tới là một vấn đề mới, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ triết học một cách chuyên biệt, có hệ thống
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình đã công bố, tác giả đặt ra nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu vấn đề nêu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 10Mục đích của luận văn là: Làm sáng tỏ cơ sở hình thành tư duy biện
chứng của Đảng cộng sản Việt Nam về CTTN, phân tích chỉ ra những nội dung cơ bản trong tư duy biện chứng của Đảng ta về CTTN, trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số nội dung, quan điểm về Đảng lãnh đạo CTTN trong
thời gian tới Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Làm rõ các khái niệm về tư duy, thanh niên, CTTN, tư duy biện chứng về CTTN;
- Chỉ ra những cơ sở chủ yếu hình thành tư duy biện chứng của Đảng ta
về CTTN;
- Phân tích những nội dung cơ bản trong tư duy biện chứng của Đảng ta
về CTTN;
- Đánh giá khái quát, kiến nghị một số nội dung trong nhận thức, tư duy
về lãnh đạo CTTN của Đảng trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tư duy biện chứng của Đảng Cộng sản Việt Nam về TN và CTTN thể hiện trong các chủ trương, đường lối, chiến lược, chính sách, chỉ thị, nghị quyết quan trọng của Đảng về CTTN qua các thời kì cách mạng
Trang 11- Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sử, nhất là những nguyên lí của phép biện chứng, lý luận nhận thức và logic biện chứng
- Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, lịch sử và logic, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê và các phương pháp khác
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
- Luận văn chỉ ra những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và vận động, giáo dục, tổ chức thanh niên, từ đó Luận văn bước đầu khái quát, làm rõ những vấn đề cơ bản trong tư duy biện chứng của Đảng ta về CTTN; phân tích cơ sở và quá trình thay đổi, phát triển các vấn đề, nội hàm các khái niệm, các luận điểm cơ bản của Đảng
về CTTN qua các giai đoạn cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Trên cơ sở khái quát những quan điểm biện chứng của Đảng ta về CTTN từ khi Đảng lãnh đạo cách mạng đến nay, Luận văn đề xuất một số vấn
đề đặt ra trong đường lối, chủ trương, chính sách lãnh đạo của Đảng về CTTN trong thời gian tới
- Những kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần làm tài liệu đổi mới việc nghiên cứu các quan điểm và sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTN qua các thời kì cách mạng, nhất là trong thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, Luận văn có 2 chương và 4 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ DUY BIỆN CHỨNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN
1.1 Khái niệm tư duy biện chứng về công tác thanh niên
1.1.1 Tư duy biện chứng của chủ nghĩa duy vật mácxít
* Tư duy
Trong lịch sử triết học, có những quan điểm khác nhau về vấn đề tư duy Theo quan điểm của triết học duy tâm khách quan, tư duy là quá trình vận động của "ý niệm tuyệt đối" với tư cách là thực thể siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất, sinh ra và quyết định thế giới vật chất Đại biểu
là Hê ghen, ông phân biệt hai loại tư duy: Tư duy tự nó - chính là tư duy của
“ý niệm tuyệt đối” tạo thành bản chất của toàn bộ hiện thực; Tư duy cho nó -
tức là tư duy con người Như vậy, theo Hêghen tư duy tách rời dạng vật chất
có tổ chức cao là bộ não người, tư duy tách rời hoạt động thực tiễn xã hội, tư duy của con người chịu sự chi phối của tư duy tự nó - “ý niệm tuyệt đối” Trái lại, quan điểm của chủ nghĩa duy vật mácxít cho rằng tư duy - sản phẩm cao nhất của một dạng vật chất được tổ chức đặc biệt là bộ não con người, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận, v.v…Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất
xã hội của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp qui luật của thực tại Như vậy tư duy con người vừa mang yếu tố sinh học tức không tách khỏi bộ não, vừa mang yếu tố xã hội, chính hoạt động thực tiễn xã hội là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất quyết định sự hình thành và phát triển của tư duy
Tư duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cao của nhận thức Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trên cơ sở kết quả của nhận thức
Trang 13cảm tính - tức là những cảm giác, tri giác và biểu tượng phản ánh một cách riêng lẻ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tượng bên ngoài - với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tư duy tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khu biệt những thông tin đơn lẻ, lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, không căn bản của sự vật, hiện tượng để tìm ra những mặt, những mối liên hệ chung, bản chất có tính qui luật của sự vật, hiện tượng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật Kết quả phản ánh của tư duy không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vật nhất định
Tư duy nằm trong giai đoạn nhận thức lý tính, con người dựa vào tư duy để nhận thức những quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và lợi dụng những quy luật đó trong hoạt động thực tiễn của mình Nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng trong đời sống của con người, nó cung cấp tư liệu ban đầu cho các hoạt động nhận thức cao hơn Tuy nhiên muốn cải tạo thế giới, con người phải đạt tới mức độ nhận thức cao hơn, tức là phải tư duy
Mặc dù được tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhưng tư duy có tính độc lập tương đối Sau khi xuất hiện, sự phát triển của tư duy còn chịu ảnh hưởng của toàn bộ tri thức mà nhân loại đã tích lũy được trước đó cũng như các lý thuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó Mặt khác, tư duy cũng
có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự phản ánh đặc thù logic khách quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con người Tính độc lập của tư duy vừa làm cho nó có được tính tích cực, sáng tạo trong quá trình tìm kiếm tri thức mới, vừa là điều kiện nguồn gốc làm cho tư duy dần dần xa rời hiện thực khách quan Do đó phải lấy thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra, kiểm nghiệm tính đúng đắn của tư duy Như vậy, hoạt động thực tiễn của con người là nguồn gốc, động lực chủ yếu của tư duy và suy đến cùng cũng chính là tiêu chuẩn chân lý cao nhất của tư duy, là cái điều chỉnh tư duy
Trang 14Tư duy gắn liền với ngôn ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ, công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con người Theo C.Mác, ngôn ngữ chính là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng,
vì nó không chỉ biểu đạt tư duy ra bên ngoài mà còn là công cụ của chính quá trình tư duy diễn ra trong bộ óc con người thông qua những từ ngữ hay cấu trúc ngữ pháp cụ thể
Tư duy là lĩnh vực hết sức phong phú, đa dạng, phức tạp Nó vừa mang dấu ấn của chủ thể tư duy, vừa mang dấu ấn của nội dung khách thể được phản ánh trong tư duy
Tư duy phản ánh thế giới khách quan Tùy theo mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau, tư duy phản ánh sự vật, hiện tượng dưới những góc độ khác nhau, do đó hình thành những loại hình tư duy khác nhau Chẳng hạn, về phạm vi phản ánh, có loại hình tư duy kinh tế, tư duy chính trị, tư duy văn hóa, tư duy nghệ thuật…về cấp độ tư duy ta có tư duy kinh nghiệm, tư duy lí luận, tư duy khoa học…
Tư duy bao giờ cũng gắn liền với các chủ thể nhất định có năng lực tư duy và trình độ tư duy khác nhau
Năng lực tư duy thể hiện ở khả năng nhận thức và vận dụng lý luận vào thực tiễn cuộc sống, biết tổng kết khái quát hóa kinh nghiệm thực tiễn thành lý luận và xây dựng mô hình lý luận mới phù hợp với sự vận động và phát triển của thực tiễn… Năng lực tư duy của chủ thể phụ thuộc vào yếu tố sinh học, gen di truyền qui định các kiểu thần kinh bẩm sinh của chủ thể Tuy nhiên yếu tố sinh học chỉ là tiền đề để hình thành chứ không qui định trước năng lực tư duy Chính nhân tố xã hội, môi trường hoạt động của chủ thể mới quyết định năng lực tư duy và tri thức là điều kiện để năng lực tư duy phát triển
Trình độ tư duy nói lên cấp độ, mức độ hay khả năng xác định của tư duy: có trình độ tư duy thấp, cao; trình độ tư duy tiền khoa học, trình độ tư
Trang 15duy khoa học,…Về mặt loại hình tư duy triết học, trình độ phát triển cao nhất của tư duy là tư duy biện chứng duy vật Nó là sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng Năng lực tư duy biện chứng là tổng hợp tất cả các phẩm chất của tư duy ở trình độ cao, là khả năng đưa ra những quyết định đúng đắn, hợp lý, kịp thời của chủ thể, là khả năng lãnh đạo, tổ chức để biến quyết định thành hiện thực
Có thể rút ra một số đặc trưng của tư duy như sau:
Tư duy phản ánh cái chung Cái chung ở đây là những dấu hiệu, những
thuộc tính chung của sự vật Tư duy ở trình độ nhận thức lý tính và chỉ ở trình
độ này mới có thể phản ánh được những thuộc tính chung, mang tính phổ biến, cơ bản của sự vật
Tư duy có đặc trưng là trừu tượng hóa Trong hiện thực, cái chung
không tách khỏi cái riêng Việc tách cái chung ra khỏi cái riêng trong tư duy chính là sự trừu tượng hóa, nhưng đó chưa phải tất cả sự trừu tượng hóa trong
tư duy Bởi theo như quan điểm của Lênin tất cả những sự trừu tượng khoa học đúng đắn, nghiêm túc, không tùy tiện phản ánh giới tự nhiên sâu sắc hơn, chính xác hơn, đầy đủ hơn, đó chính là tính ưu việt của trừu tượng hóa
Tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp dựa trên cơ sở
các kết quả nhận thức cảm tính là cảm giác, tri giác, biểu tượng Nhờ thế tư duy có sức mạnh phản ánh khái quát thế giới hiện thực, song cũng vì thế mà
tư duy dễ rơi vào ảo tưởng, thoát ly thực tế
Tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách sáng tạo, tích cực trên
cơ sở hoạt động thực tiễn của con người Tư duy có thể dự báo tương lai, tạo
ra những giả thuyết khoa học, những lý thuyết mới,…
* Về tư duy biện chứng duy vật mácxit
Con đường tiến tới chân lý khách quan của nhận thức loài người rất lâu dài, khó khăn và phức tạp Thời kì nguyên thủy, tư duy của con người chỉ
Trang 16dừng lại ở trình độ rất thấp, sơ khai nhất, biểu hiện qua các hình thức: Tư duy hỗn hợp - nguyên thủy, tư duy hoang đường - huyền thoại, tư duy đạo đức, và thẩm mỹ nguyên thủy…Đến thời cận đại, tư duy của loài người đạt tới một trình độ mới, cao hơn về chất để nhận thức thế giới - tư duy triết học với hai phương pháp tư duy triết học đối lập nhau: phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
Phương pháp tư duy siêu hình như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ là chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt, cô lập mà không thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những
sự vật ấy mà quên mất sự vận động, phát triển của chúng, chỉ nhìn “thấy cây
mà không thấy rừng” Ngược lại, phương pháp tư duy biện chứng không chỉ nhìn thấy sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong của sự vật, không chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà còn thấy trạng thái động của
sự vật, không chỉ “thấy cây mà còn thấy cả rừng”
Phương pháp tư duy siêu hình xem xét sự vật, hiện tượng trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại, ngưng đọng với tư duy cứng nhắc; còn phương pháp tư duy biện chứng xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt
Không phải ngay sau khi loài người xuất hiện đã có tư duy biện chứng Theo Ph.Ăngghen, tư duy biện chứng hình thành và phát triển khi nhận thức của loài người đạt đến trình độ tương đối cao và phát triển trong lịch sử triết học, nhất là lịch sử triết học hiện đại Từ khi ra đời đến nay, tư duy biện chứng đã trải qua ba hình thức cơ bản là: Tư duy biện chứng tự phát (ví dụ như phương Tây có tư tưởng của Hêraclit, Aristôt; phương Đông có học
Trang 17thuyết của Lão Tử, thuyết Âm - Dương, Ngũ hành, ); Tư duy biện chứng duy tâm khách quan (đại biểu là Hêghen) và Tư duy biện chứng duy vật mácxit
Ba hình thức tư duy này gắn liền với ba hình thức cơ bản của Phép Biện chứng trong lịch sử triết học Trong đó, phép Biện chứng duy vật mácxit do C.Mác, Ph.Ăng ghen sáng lập và V.I.Lênin phát triển là hình thức phát triển cao nhất trong lịch sử Phép Biện chứng, theo đó tư duy biện chứng duy vật mácxit là hình thức phát triển cao nhất trong lịch sử tư duy nhân loại
Tư duy biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen đã khắc phục được phương pháp tư duy máy móc, siêu hình của các nhà duy vật Pháp thế kỉ XVIII, coi phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy, chống lại thuyết Bất khả tri và đạt tới tư tưởng về sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa lịch sử và lôgic trong nhận thức Tuy nhiên đó là tư duy biện chứng duy tâm
vì Hêghen cho rằng biện chứng của “ý niệm” – thực thể siêu nhiên sản sinh ra biện chứng của sự vật chứ không phải ngược lại, đó là “phép biện chứng đứng bằng đầu” như Mác, Ăng ghen nhận định Đến lượt mình, Mác và Ăng ghen
đã cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen, đặt nó “đứng bằng hai chân” trên mảnh đất hiện thực, xây dựng phép biện chứng duy vật, tức là xây dựng
tư duy biện chứng duy vật cách mạng nhất, khoa học nhất, triệt để nhất
Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ăng ghen đã đưa ra định nghĩa về tư duy biện chứng duy vật: Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, respective - (tương tự) với những hình thức cao hơn quy định sự sống của giới tự nhiên Tức là, xét về bản chất tư duy biện chứng duy vật là tư duy phản ánh đúng đắn thực chất những mối liên hệ, sự
Trang 18vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Sự
vận động, phát triển của thế giới hiện thực qui định sự hình thành, phát triển của tư duy biện chứng duy vật Do đó, những quy luật phổ biến của tồn tại cũng là những qui luật phổ biến của tư duy Tuy nhiên, sự phát triển của tư duy phụ thuộc vào tính năng động sáng tạo tích cực của chủ thể và nó tuân theo qui luật vận động, phát triển nội tại của chính tư duy
Tư duy biện chứng duy vật có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tư duy biện chứng phải nắm bắt và vận dụng được trong tư
duy các qui luật phổ biến của phép biện chứng duy vật, đó là: Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; qui luật chuyển hóa từ những thay đổi
về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại; qui luật phủ định của phủ định; ngoài các qui luật cơ bản trên tư duy biện chứng cũng cần nắm bắt những qui luật không cơ bản của phép biện chứng duy vật thể hiện trong các cặp phạm trù đó là: cái chung - cái riêng, bản chất - hiện tượng, nguyên nhân - kết quả, nội dung - hình thức, tất nhiên - ngẫu nhiên, khả năng - hiện thực
Thứ hai, tư duy biện chứng phải nắm bắt và vận dụng được các nguyên
tắc của lôgic biện chứng mácxit, đó là: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa lịch sử và lôgic, nguyên tắc từ trừu tượng đến cụ thể, nguyên tắc thống nhất phân tích và tổng hợp, nguyên tắc thống nhất giữa qui nạp và diễn dịch
Xét về hình thức, tư duy biện chứng duy vật là chủ quan vì nó phản ánh hiện thực khách quan thông qua hoạt động có ý thức của con người, thể hiện bằng các khái niệm, phán đoán, suy luận Xét về nội dung, tư duy biện chứng duy vật là khách quan vì nội dung phản ánh của nó do thế giới khách quan qui định Trong đó, giới tự nhiên và hoạt động cải tạo tự nhiên của con người là
cơ sở trực tiếp của tư duy biện chứng duy vật và sự phát triển của nó luôn
Trang 19được bổ sung bằng những tài liệu của hoạt động thực tiễn Chủ thể càng tích cực thực hiện hoạt động thực tiễn, tích lũy tri thức khoa học càng nhiều thì tư duy biện chứng duy vật càng có điều kiện phát triển
Tóm lại, tư duy biện chứng duy vật không chỉ phản ánh trạng thái hiện tồn, mà còn dự báo xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng Tư duy biện chứng duy vật là loại hình tư duy phát triển cao nhất của loài người, mang bản chất khoa học, cách mạng, vừa tạo ra tri thức mới vừa giải quyết có hiệu quả các vấn đề lí luận và thực tiễn đặt ra
1.1.2 Tư duy biện chứng về công tác thanh niên
* Thanh niên
Thanh niên là đối tượng được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu trong đó đáng chú ý là sinh lý học, tâm lý học, xã hội học Ở mỗi thời kỳ trong đời sống con người, sự phát triển về thể chất và tâm lý và cả nhân cách
có quy luật riêng Thanh niên là thời kỳ kế tiếp của lứa tuổi thiếu niên nhưng đây là giai đoạn phát triển rất cao về thể chất và có nhiều diễn biến tâm lý phức tạp
Các nhà sinh học coi tuổi thanh niên là một giai đoạn trong tiến trình tiến hóa của cơ thể trong đó thấy rõ sự tráng cường về thể lực, sự phát triển về trí tuệ, hoàn thiện về các chức năng của cơ thể và nhân cách con người Các nhà tâm lý học quan tâm tới các quy luật phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên mà đặc trưng là sự phát triển khả năng phân tích và suy luận, sự ham thích cái mới, sự hăng say hoạt động và sáng tạo, sự tự ý thức, tự khẳng định Các nhà xã hội học coi thanh niên là một giai đoạn của quá trình xã hội hóa cá nhân, tiếp thu các giá trị xã hội để hình thành nhân cách; đây là thời kì chuyển biến từ tuổi thơ lệ thuộc sang giai đoạn hoạt động độc lập với tư cách cá nhân, từng bước hình thành ý thức trách nhiệm công dân, chuẩn bị và tự nâng cao kiến thức để lao động, cống hiến
Trang 20Các nhà nghiên cứu kinh tế - chính trị nhìn nhận thanh niên là một lực lượng lao động xã hội hùng hậu, có chất lượng cao; là nguồn lực thường xuyên bổ sung cho đội ngũ lao động trên mọi lĩnh vực; là bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng sản xuất, rất năng động, nhạy cảm, gắn bó với tiến trình phát triển xã hội, đi đầu trong cuộc đấu tranh sáng tạo ra cái mới Ở góc độ triết học, có tác giả cho rằng “Thanh niên là một phạm trù triết học, dùng để chỉ những người ở độ tuổi nhất định; là một thực thể tự nhiên, một tồn tại xã hội, là một giai đoạn phát triển nhất định của cuộc đời con người với những đặc trưng riêng về các đặc điểm tâm lý, sinh lý và sự phát triển nhận thức ở trình độ nhất định” [39, tr.14] Như vậy, mỗi ngành khoa học, tùy theo góc độ của mình đã nhấn mạnh khía cạnh cá thể, sinh học hoặc nhấn mạnh khía cạnh tập thể, xã hội của khái niệm thanh niên hoặc cả hai
Vì thế, cần kết hợp những đặc điểm chung về mặt sinh học với đặc điểm về mặt xã hội của thanh niên để xem xét khái niệm thanh niên
Đặc điểm chung về mặt sinh học của thanh niên có biểu hiện cơ bản sau:
- Thanh niên là giai đoạn tiếp nối tuổi thiếu niên, đạt tới đỉnh cao tuổi trưởng thành Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình phát triển của
cá thể con người Xác định giai đoạn này thường được thể hiện ở việc xác định độ tuổi thanh niên Thanh niên được phân chia theo độ tuổi, gắn với giai cấp, các tầng lớp xã hội Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm từng thời đại lịch sử cụ thể, các yếu tố truyền thống của từng quốc gia, dân tộc…mà ở mỗi nước qui định độ tuổi thanh niên có khác nhau Ở nước ta tuổi thanh niên được qui định trong Luật Thanh niên được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi
- Thanh niên là lớp người có sự phát triển hoàn thiện về thể chất thể hiện trên tất cả các mặt: chiều cao, cân nặng, hệ xương, hệ cơ, hệ thần kinh cũng như các chức năng sinh lý khác Sau tuổi thanh niên, giai đoạn kế tiếp là
Trang 21trung niên Trong thực tế giai đoạn trung niên không còn sự phát triển nào đáng kể mà con người có những mặt đã dần đi vào thời kỳ lão hóa (về sinh học) Khoa học đã kết luận là sự phát triển của các nơ - ron thần kinh ở lứa tuổi thanh niên đạt tới đỉnh cao nhất Trong cuộc đời của mỗi người, không có thời kỳ nào đạt được sức sống mạnh mẽ và cơ thể đẹp như thời thanh niên Sự phát triển về thể chất là điều rất có ý nghĩa để từ đó thấy được sức mạnh, vai trò của họ trước yêu cầu của đời sống tự thân cũng như gia đình và xã hội, nhất là những khả năng và nhiệm vụ mà họ phải đảm đương
Đặc điểm về mặt xã hội của thanh niên có những nét đặc trưng sau:
- Theo góc độ giá trị nhân cách xã hội ở thanh niên nổi lên những mặt
cơ bản như: lòng nhiệt tình và độ nhạy cảm trong cuộc sống; lòng hứng khởi với những hoài bão, ước mơ, niềm tin và khát vọng tương lai; tính hăng say không chịu khuất phục, sự chân thành trong ý nghĩ và việc làm; nghị lực phi thường và táo bạo; tính thích thể hiện, có xu hướng về các kết luận hấp tấp, vội vàng; tình yêu say mê và khát vọng; tính bồng bột, chủ quan; tính khí sôi nổi, nhẹ dạ, cả tin song gặp khó khăn dễ sinh ra hoang mang dao động, thiếu kiên trì, bền bỉ; tính dễ bị kích thích, thiếu tự chủ [7; tr 14, 15, 16]
Thanh niên là lớp người có sự phát triển mạnh về trí tuệ và nhân cách Bên cạnh những khả năng to lớn, sự mạnh dạn, tiên phong, thích sáng tạo, ưa cái mới, lòng dũng cảm, tinh thần dám nghĩ, dám làm,…Tuy nhiên ở thanh niên, sự hạn chế và các nhược điểm như thiếu kinh nghiệm, thiếu từng trải, tính bồng bột, thiếu kiên trì, thậm chí có lúc còn phiêu lưu, liều lĩnh, dễ hoang mang dao động…luôn phải được cảnh giác, phải được khắc phục bằng chính
sự rèn luyện, phấn đấu không ngừng của bản thân thanh niên và có sự hướng dẫn, giúp đỡ của các chủ thể xã hội
- Thanh niên là bộ phận đông đảo trong dân cư, những người trong độ tuổi thanh niên chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số dân Tính đến năm 2011,
Trang 22dân số thanh niên nước ta chiếm 28,9% dân số cả nước [46, tr.9] Về cơ cấu
xã hội, thanh niên là có mặt ở trong tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo, các vùng miền thanh niên có mặt trong tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội, vì thế thanh niên được chia thành các nhóm thành phần: thanh niên công nhân, thanh niên nông dân, thanh niên học sinh, sinh viên, thanh niên viên chức, thanh niên các lực lượng vũ trang, thanh niên tôn giáo, thanh niên các dân tộc…
- Thanh niên là một nhóm xã hội - nhân khẩu đặc thù Những nét đặc trưng của thanh niên hoàn toàn không giống với các nhóm xã hội khác Tính đặc thù này gắn liền với đặc điểm về mặt sinh học của thanh niên Nhóm xã hội đặc thù này chịu sự qui định bởi tâm lý lứa tuổi, bởi hoàn cảnh kinh tế -
xã hội và sự giáo dục định hướng giá trị nhân cách của gia đình, nhà trường,
xã hội Cơ cấu nhóm - xã hội thanh niên luôn biểu hiện một chỉ số phản ánh trình độ phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Trong một xã hội, luôn có sự xung đột nhất định giữa các nhóm thế hệ
- Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, đồng thời là thế hệ trẻ đang trưởng thành, phát triển, có năng lực sáng tạo, cống hiến to lớn đối với đất nước Thanh niên là lực lượng quyết định sự phát triển hiện tại cũng như tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc Bởi, thanh niên là nguồn nhân lực chủ yếu và nguồn đào tạo nhân tài cho xã hội; thanh niên là lực lượng chính trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thanh niên là lực lượng
kế thừa, tiếp bước các thế hệ cha anh để thúc đẩy sự phát triển của xã hội, dân tộc
- Thanh niên là con người ở lứa tuổi đang phát triển, đang định hướng, đang trưởng thành Một lứa tuổi tiềm ẩn về thể chất và tinh thần, tri thức và văn hóa, thể lực và tầm nhìn, năng động linh hoạt trong nhận thức và tư duy, nhạy cảm về sự phát triển tài năng và định hướng giá trị trong cuộc sống, nhanh chóng đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển xã hội Vì thế, thanh niên
Trang 23luôn trở thành mục tiêu và động lực của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội
ở mỗi quốc gia, của sự tiến bộ của mọi dân tộc và thời đại Thanh niên luôn trở thành sức hút với mọi giai cấp, lực lượng chính trị - xã hội vào các cuộc vận động cách mạng, vào sự cải biến xã hội ở mọi thời đại
Tuy nhiên, tính tích cực chính trị - xã hội, tính tiên phong và đổi mới trong sự phát triển của thanh niên nhanh hay chậm, sự trưởng thành sớm hay muộn, xã hội kỳ vọng hay thất vọng về thanh niên bao giờ cũng tùy thuộc vào các quan điểm vận động, thái độ ứng xử của các giai cấp lãnh đạo và tùy thuộc vào chương trình, chính sách phát triển giáo dục và chăm lo bảo vệ thanh niên của Chính phủ ở mỗi quốc gia Hoài nghi và đánh giá sai lầm về bản chất tốt đẹp và khả năng cách mạng của thanh niên sẽ là sai lầm và chịu
sự trả giá
Tóm lại theo tác giả có thể hiểu khái quát về khái niệm thanh niên như sau:
Thanh niên là khái niệm chỉ một nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù, ở một độ tuổi nhất định (theo Luật Thanh niên: từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi), có mặt trong tất cả giai cấp, tầng lớp xã hội, các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, có những đặc điểm chung đặc trưng về tâm lý, sinh lý, nhận thức
xã hội, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc trong cả hiện tại và tương lai
Cần phân biệt thuật ngữ “Thanh niên” với thuật ngữ “Thế hệ trẻ”
Hiểu một cách khái quát: Thế hệ trẻ là thuật ngữ dùng để chỉ lớp người
từ tuổi ấu thơ, đến nhi đồng, thiếu niên, thanh niên của mỗi quốc gia, dân tộc trong mỗi thời kỳ lịch sử nhất định Thanh niên là một nhóm đối tượng trong thế hệ trẻ
Mỗi một thế hệ bao gồm những người có cùng một độ tuổi xác định (những người cùng thời), có sự tương đồng về kinh nghiệm sống, giá trị văn hoá, tinh thần, họ sinh ra cùng một thời kì lịch sử và có tác động nhất định
Trang 24đến lịch sử, xã hội thời kì đó Ở Việt Nam, cho đến nay đang cùng tồn tại nhiều thế hệ khác nhau: Thế hệ xây dựng Đảng và tiến hành cách mạng Tháng Tám, thế hệ chống Pháp và chống Mỹ, thế hệ xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của các thế hệ trong tiến trình lịch sử Vấn đề các thế hệ không tách rời vấn đề giai cấp, song không được đồng nhất với vấn đề giai cấp Chủ nghĩa Mác - Lênin hoàn toàn bác bỏ lý thuyết "Xung đột các thế hệ" của các học giả tư sản và khẳng định rằng: Giữa các thế hệ đi trước và thế hệ đi sau, giữa thế hệ cha anh và thế hệ trẻ luôn luôn tồn tại sự khác biệt, hơn nữa có những mâu thuẫn, nhưng đó không phải là những mâu thuẫn đối kháng Dưới chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định việc giải quyết mâu thuẫn giữa các thế hệ diễn ra theo con đường mỗi thế hệ tự giác xích lại gần nhau, giữa các thế hệ
có sự nâng đỡ, kế thừa và phát huy
* Công tác thanh niên
Để đảm bảo sự thắng lợi của sự nghiệp và con đường cách mạng mà Đảng đã lựa chọn, Đảng ta luôn xác định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Công tác quần chúng của Đảng ở đây được hiểu là toàn bộ các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, tập hợp, tổ chức của Đảng đối với quần chúng, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động tối đa lực lượng toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng [10; tr 9] Công tác quần chúng của Đảng nhằm tuyên truyền, vận động, thuyết phục, lôi kéo và tổ chức các đối tượng quần chúng thực hiện cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng và xây dựng tổ chức, cơ chế hoạt động nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng Công tác thanh niên (CTTN) là một bộ phận trong công tác quần chúng của Đảng Bàn
về vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau:
Trang 25Dưới góc độ dân vận, công tác vận động thanh niên của Đảng là toàn
bộ công tác tổ chức, giáo dục, rèn luyện thanh niên nhằm đưa thanh niên vào những hành động cách mạng, phát huy đội ngũ này thành lực lượng xung kích sáng tạo, đội dự bị tin cậy của Đảng, kế thừa trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong đó nhiệm vụ hàng đầu của công tác này là đoàn kết, tập hợp, tổ chức họ lại thành “đội ngũ những chiến sĩ cách mạng kiên cường” như Bác đã dạy Chưa đoàn kết, tập hợp được thanh niên thì chưa thể nói đến giáo dục, cổ vũ thanh niên hành động cách mạng Chính vì vậy, tập hợp, đoàn kết thanh niên được Đảng ta đặc biệt quan tâm [2, tr.13]
Dưới góc độ là một hoạt động công tác, có quan điểm cho rằng: "Công tác thanh niên là công việc về thanh niên của tổ chức, cơ quan, đơn vị (Đảng, Nhà nước, đoàn thể, đơn vị kinh tế, sự nghiệp, ) mà các thành viên trong tổ chức, cơ quan đơn vị đó cùng nhau thực hiện, hoặc giao cho từng thành viên của tổ chức, cơ quan, đơn vị đó thực hiện dưới sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của tập thể những người lãnh đạo, quản lý, điều hành tổ chức, cơ quan, đơn vị
đó, và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi những công việc của mình về thanh niên, góp phần vào thành tựu lãnh đạo công tác thanh niên của Đảng” [49, tr 36]
Theo tác giả, về CTTN cần nắm rõ một số vấn đề khái quát như sau:
* Công tác thanh niên bao gồm toàn bộ những hoạt động trực tiếp của
Đảng, và hoạt động của Nhà nước, Đoàn Thanh niên, Mặt trận, các tổ chức quần chúng, gia đình cũng như toàn xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm đoàn kết tập hợp thanh niên, quản lý, tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, trưởng thành mọi mặt, phát huy tiềm năng thế mạnh của lực lượng thanh niên đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần đảm bảo thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng
Trang 26Theo đó, chủ thể tiến hành CTTN là Đảng, toàn bộ hệ thống chính trị,
các lực lượng, tổ chức trong xã hội Đảng phải trực tiếp tiến hành CTTN, đồng thời phải lãnh đạo các lực lượng, tổ chức trong xã hội, nhất là các tổ chức trong hệ thống chính trị tiến hành CTTN Khách thể trực tiếp chịu sự tác động của CTTN là toàn bộ lực lượng TN, trong đó bao hàm cả sự tác động tới từng cá nhân mỗi thanh niên
* Đặc điểm cơ bản của CTTN là:
- CTTN mang tính chính trị - xã hội, vừa hướng tới việc xác lập hệ tư tưởng của Đảng trong thanh niên, xây dựng lực lượng chính trị từ thanh niên, đồng thời hướng tới việc đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên;
- CTTN là quá trình giáo dục, thuyết phục và vận động thanh niên tham gia thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng, bồi dưỡng và phát huy thanh niên theo mục tiêu chính trị của Đảng;
- CTTN là quá trình tạo ra môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội cho thanh niên học tập, rèn luyện và trưởng thành; là quá trình đưa thanh niên vào hoạt động thực tiễn, vào các phong trào hành động cách mạng, định hướng giúp thanh niên tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của mình
* Công tác thanh niên phải được coi là một khoa học và nghệ thuật
Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong xã hội đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, chương trình, về CTTN phải dựa trên lí luận, cơ sở thực tiễn khoa học về đặc điểm lứa tuổi, tâm sinh lý thanh niên, về điều kiện môi trường sống tác động đến thanh niên, nghiên cứu không chỉ về một con người cá thể thanh niên, một nhóm đối tượng, thành phần thanh niên, một thế
hệ thanh niên mà cả những thế hệ thanh niên nối tiếp nhau đặt trong mối quan
hệ với các giai cấp tầng lớp khác của xã hội, trong từng thời kì, thời đại nhất định Đồng thời các chủ thể tiến hành CTTN phải có phương pháp chỉ đạo,
Trang 27điều hành, vận dụng, tổ chức thực hiện một cách khéo léo, linh hoạt phù hợp
với đặc điểm tâm lí của lứa tuổi thanh niên
* Nội dung Đảng lãnh đạo CTTN là:
- Đảng lãnh đạo CTTN về chính trị, tư tưởng và tổ chức Trong đó, việc
định hướng chính trị, xác định phương hướng, nhiệm vụ CTTN là nội dung cơ
bản hàng đầu
- Đảng lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh về phương
hướng, nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức, cán bộ
- Đảng lãnh đạo chính quyền các cấp làm CTTN Đảng phải lãnh đạo
chặt chẽ việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về CTTN thành các
văn bản pháp quy, các chính sách kinh tế, xã hội cụ thể tạo điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ và CTTN
- Đảng lãnh đạo các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, xã hội
làm CTTN, phải làm cho các tổ chức đó thật sự coi CTTN là một bộ phận
trong công tác xây dựng, phát triển tổ chức mình
- Đảng lãnh đạo tổ chức đảng các cấp, toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng
viên của Đảng làm CTTN [10, tr 179,180]
* Phương thức lãnh đạo công tác thanh niên của Đảng:
- Đảng lãnh đạo CTTN trước hết bằng việc ra các Nghị quyết, Chỉ thị,
Chương trình, về CTTN để xác định đường lối, chủ trương, phương hướng,
nhiệm vụ CTTN cho toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn dân thực hiện
- Đảng lãnh đạo CTTN thông qua công tác tổ chức cán bộ Những cán
bộ chủ chốt phụ trách CTTN của từng cấp do cấp ủy quản lý, bồi dưỡng, bố
trí Đảng có thể cử cán bộ Đảng vào các tổ chức của thanh niên, cử cán bộ
trực tiếp phụ trách theo dõi, giúp đỡ CTTN, các tổ chức đoàn thể của thanh
niên, tham dự vào các sinh hoạt của thanh niên
Trang 28- Đảng lãnh đạo trực tiếp Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Cấp ủy đảng lãnh đạo trực tiếp tổ chức đoàn cùng cấp về phương hướng,
nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức, cán bộ Đối với các tổ chức thành viên trong Hội
Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Đảng lãnh đạo thông qua vai trò nòng cốt
của Đoàn nhưng cần tôn trọng, ủng hộ những sáng kiến và tính độc lập về mặt
tổ chức của Đoàn, không can thiệp thô bạo vào các hoạt động của Đoàn
- Đảng lãnh đạo CTTN bằng tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, bằng
cơ chế vận hành của thiết chế chính trị xã hội, bằng kỉ luật của Đảng
- Đảng lãnh đạo CTTN bằng sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng
viên của Đảng đối với thanh niên Đảng viên trẻ phải tham gia sinh hoạt
Đoàn, làm nòng cốt cho phong trào thanh niên
- Đảng lãnh đạo CTTN bằng công tác kiểm tra của Đảng
[10, tr 180,181] Tóm lại, Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động, người lãnh đạo, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng
Trở thành đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội trong đó có các vấn đề về thanh niên Sự lãnh đạo của Đảng đối với các
lực lượng trong xã hội trong quá trình tiến hành CTTN cũng nhằm đảm bảo
cho CTTN theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước, góp phần phát huy mạnh mẽ vai trò của thanh niên trong thực
hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, của Đảng giao cho
* Tƣ duy biện chứng về công tác thanh niên
Có thể hiểu, tư duy biện chứng về CTTN là tư duy phản ánh đúng đắn
thực chất những mối liên hệ, sự vận động, phát triển của CTTN trong sự tồn
tại khách quan của nó
Tư duy biện chứng về CTTN cần đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:
Trang 29Phản ánh khách quan: tức là tư duy của chủ thể phản ánh các sự vật
hiện tượng xuất phát từ bản chất, điều kiện và hoàn cảnh tồn tại vốn có của sự vật, phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Áp dụng vào CTTN, đòi hỏi tư duy của chủ thể khi nhận định, đánh giá, đề ra đường lối, chủ trương, quyết định, về CTTN đều phải xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước, của mỗi địa phương, cơ sở, xuất phát
từ tình hình thực tế của thanh niên và CTTN, từ nhu cầu thiết thân, hợp lý và lợi ích chính đáng của thanh niên, Quan điểm khách quan cũng đòi hỏi phải tránh bệnh chủ quan, duy ý chí, quan liêu xa rời thực tế, hoạt động theo ý muốn chủ quan bất chấp quy luật, bất chấp sự vận động, biến đổi khách quan thanh niên và CTTN
Phản ánh toàn diện: tức là tư duy của chủ thể phản ánh các sự vật, hiện
tượng từ nhiều phía, dưới nhiều góc độ, phản ánh đầy đủ các mặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện tưởng Vận dụng vào CTTN khi nhìn nhận, đánh giá chủ thể phải thấy các mặt các yếu tố tác động đến CTTN, thấy cả mặt mạnh, mặt yếu, những thuận lợi và khó khăn mà đối tượng gặp phải, tránh bệnh tư duy phiến diện, một chiều, xuôi chiều Hơn thế sự nhìn nhận đối với thanh niên cần đặt trong tổng thể của cả thế hệ, không thể chỉ nhìn ở một bộ phận nào đó, không thể chỉ nhìn ở hiện tượng bề ngoài mà không đi sâu vào bản chất
Phản ánh mang tính lịch sử - cụ thể: tức là chủ thể xem xét sự vật, hiện
tượng trong không gian, thời gian cụ thể Đối với CTTN, chủ thể cần lưu ý nhiệm vụ chính trị đặt ra cho CTTN trong mỗi thời kì giai đoạn cách mạng, đặc điểm cụ thể của từng vùng, miền, địa phương, của từng thành phần, đối tượng thanh niên Tâm lý, nguyện vọng, cách tư duy, lối sống, của thanh niên được hình thành và phát triển trong từng thời kì lịch sử nhất định, vì vậy nếu không có quan điểm lịch sử - cụ thể sẽ khó phát hiện những nét giống nhau và khác nhau của các thế hệ thanh niên qua các thời kì, sẽ trở nên cứng
Trang 30nhắc, bảo thủ khi nhìn nhận các vấn đề của thanh niên Đồng thời chủ thể cần hết sức tránh thái độ máy móc, rập khuôn, áp đặt trong việc định ra chuẩn mực so sánh giữa các thế hệ,
Phản ánh các sự vật, hiện tượng trong sự vận động, phát triển, trong
quá trình tư duy chủ thể biết phát hiện, trân trọng, nâng niu, vun trồng những nhân tố mới tích cực tiến bộ, loại bỏ những yếu tố lỗi thời, lạc hậu, những cái mới tiêu cực, phản tiến bộ Nói đến tuổi trẻ là nói đến một thực thể đang phát triển, đang hoàn thiện Quá trình xã hội hóa trong mỗi cá thể cũng như trong thế hệ trẻ diễn ra liên tục cho đến một lúc nào đó mới đủ độ chín muồi và định hình Vì vậy, nếu nhìn nhận thanh niên với thái độ hẹp hòi, định kiến, hoặc theo lối tĩnh tại “trước sao nay vậy” thì sẽ không thể thấy hết được tiềm năng, nội lực của thanh niên Trong CTTN, chủ thể tư duy cũng cần lưu ý việc trân trọng sáng kiến, các mô hình mới hoạt động có hiệu quả ở cơ sở và biết nhân các điển hình tiên tiến, nêu gương người tốt việc tốt, tạo điều kiện môi trường thuận lợi để lớp trẻ tự thể hiện, tự khẳng định mình Tránh định kiến, thành kiến khi nhìn nhận, đánh giá lớp trẻ, cho rằng thế hệ sau không hơn, không bằng thế hệ trước Chủ thể cũng cần ghi nhận khả năng hiện đại hóa truyền thống của thanh niên, nâng các giá trị truyền thống lên tầm cao mới phù hợp vỡi thực tiễn lịch sử, tránh quan điểm truyền thống hoàn toàn là sự lặp lại,
Phản ánh sự vật hiện tượng trên cơ sở thực tiễn, điều này đòi hỏi chủ
thể tư duy phải lấy thực tiễn của lao động sản xuất, của thực nghiệm khoa học, của hoạt động chính trị - xã hội làm cơ sở, động lực của nhận thức, phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý Vận dụng vào CTTN, chủ thể tư duy cần phải lấy thực tiễn tình hình thanh niên, CTTN để kiểm tra sự nhìn nhận, đánh giá, thường xuyên tổng kết thực tiễn CTTN để thay đổi tư duy, không được biến một kết quả tư duy nào đó thành một khuôn mẫu tuyệt đối, bất biến Trong giáo dục thanh niên, chủ thể tư duy cần quán triệt quan điểm tập
Trang 31hợp, đoàn kết thanh niên thành các tổ chức tự quản độc lập để quản lý, định hướng, bồi dưỡng, rèn luyện; giáo dục thanh niên thông qua hoạt động, bằng hoạt động, cụ thể như tổ chức các phong trào hành động cách mạng, xây dựng các chương trình hành động, các chiến dịch, các cuộc vận động cho thanh niên tham gia,
Cùng với việc quán triệt các quan điểm nêu trên, ngày nay khi trình độ
về mọi mặt của thanh niên được nâng lên rõ rệt, chúng ta cần có định hướng tiếp cận thanh niên, các vấn đề về CTTN cho phù hợp trong quá trình bồi
dưỡng, giáo dục cách mạng thanh niên, chú trọng thuyết phục, hướng dẫn, đề
cao sự tự học tập, tự rèn luyện cho thanh niên, tránh mọi biểu hiện áp đặt,
khiên cưỡng Đồng thời cần có thái độ hợp tác chân thành để cùng thanh niên
tìm ra chân lý, hỗ trợ nâng cao nhận thức cho nhau, phân tích đúng, sai, phân
tích từ những vấn đề gần gũi, thiết thực trong cuộc sống mà nâng tầm giác ngộ lý tưởng cách mạng cho thanh niên
Tác giả cũng đồng quan điểm cho rằng cần quán triệt sâu sắc một số định hướng tiếp cận thanh niên như sau:
- Tiếp cận thanh niên từ mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa các thế hệ, đặc biệt là giữa hai thế hệ gần kề Chúng ta cần chú ý cả hai mặt: mặt tiếp nối đồng nhất (như yêu nước, hiếu học, dũng cảm, lạc quan, ” và những mặt khác biệt giữa các thế hệ, đặc biệt là trong định hướng giá trị [51, tr.187]
- Tiếp cận thanh niên từ qui luật tăng lên không ngừng về nhu cầu và lợi ích của lớp trẻ, đặc biệt là những nhu cầu đặc thù: học vấn, nghề nghiệp, việc làm, văn hóa, và lợi ích lứa tuổi: tình bạn, tình yêu, hôn nhân, gia đình, sinh hoạt tinh thần, Đối với lớp trẻ, những nhu cầu và lợi ích nói trên tăng lên không ngừng Theo quan điểm mácxít: Lý tưởng cách mạng là lợi ích chân chính của con người trên cơ sở quan niệm của thời đại đó Quá trình đáp ứng từng bước những lợi ích chính đáng cho thanh niên cũng là quá trình làm
Trang 32cho thanh niên nâng cao nhận thức về con đường phấn đấu xây dựng xã hội mới mà bản thân thế hệ trẻ là nguồn lực quan trọng bậc nhất [51, tr.188]
Có được những quan điểm, cách tư duy khách quan khoa học như trên chủ thể nhận thức sẽ nhận diện đúng đắn được lớp trẻ, thanh niên trong từng thời đại, từ đó càng thêm tin tưởng, tự hào về một thế hệ thanh niên mới lớn lên đang vững vàng tiếp bước cha anh
1.2 Cơ sở hình thành tƣ duy biện chứng của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thanh niên
1.2.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về thanh niên và công tác thanh niên
Trong kho tàng tri thức nhân loại, Chủ nghĩa Mác - Lênin với bản chất cách mạng và khoa học đã có những quan điểm lý luận mẫu mực về nhiều vấn
đề của thanh niên Trên cơ sở những tư tưởng, dự báo mang tính khoa học của
C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin, chúng ta có thể tìm thấy phương pháp luận khoa học và vận dụng một cách sáng tạo trong hoạt động thực tiễn hôm nay
Nếu như giai cấp phong kiến coi thường, có quan điểm bảo thủ đối với thanh niên; giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản thì tranh thủ, lợi dụng, trụy lạc
hóa và bóc lột thanh niên thì chủ nghĩa Mác luôn tin tưởng, coi trọng thanh
niên, từ đó có quan điểm chiến lược là phải “cách mạng hóa” thanh niên [18,
tr.529]
Thực chất, đây là quan điểm giác ngộ cách mạng, giác ngộ giai cấp, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cho thanh niên, giác ngộ trách nhiệm công dân, ý thức làm chủ xã hội cộng sản tương lai cho thanh niên Giúp thanh niên nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò của mình là lực lượng đột phá trong xã hội vốn còn đang trì trệ, sự đổi mới, tiến bộ của xã hội tùy thuộc vào vai trò, tính chủ động, sáng tạo của thanh niên Bồi dưỡng phẩm chất nhân cách, bản lĩnh chính trị, đào tạo, nâng cao trình độ tri thức, thể chất,
Trang 33kĩ năng,… để thanh niên tự tin làm chủ xã hội hiện tại và tương lai Phát huy tiềm năng và sức sáng tạo to lớn của thanh niên phục vụ sự nghiệp xây dựng
xã hội cộng sản, giải phóng giai cấp công nhân, và nhân dân lao động, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại
Với quan điểm khách quan và khoa học, Chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá thanh niên là lực lượng chính yếu trong xã hội, là nguồn lực chiến lược trong cách mạng, có tiềm năng sức trẻ có tính nhạy cảm sáng tạo, có tư duy đổi mới và tiên phong, do đó xu thế của thanh niên thường phù hợp với xu thế của cách mạng và quá trình phát triển xã hội, của giai cấp công nhân Muốn thực hiện quá trình cải biến xã hội, phải tập hợp và giác ngộ cho giới thanh niên công nhân, tức là phải cách mạng hóa thanh niên Mác đã đánh giá cao
vai trò của thế hệ công nhân đang lớn lên: “Những công nhân tiên tiến nhất
hoàn toàn hiểu rõ rằng, tương lai của giai cấp công nhân và do đó tương lai của nhân loại, hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên” [20, tr.118] Chính Mác đã gọi thanh niên là cội nguồn sự sống của
dân tộc và giai cấp công nhân, là bộ xương của mỗi cơ thể dân tộc
Ăngghen đã có quan điểm thực tiễn sâu sắc về vấn đề giác ngộ, giáo dục thanh niên đó là: thanh niên không thể đứng ngoài chính trị, chính hiện thực cuộc sống đã, đang và sẽ cuốn hút tuổi trẻ vào đời sống chính trị Với niềm tin vô hạn vào tiềm năng của thế hệ trẻ ở Đức, ông nhấn mạnh rằng, thanh niên không bao giờ thỏa mãn với lý tưởng trước đây, họ muốn được tự
do hơn trong hành động, họ khao khát lập chiến công và vì sự đổi mới, họ sẵn sàng hiến dâng cả máu và cuộc đời mình Vào năm 1845, Ăngghen đã viết rằng chính thanh niên nước Đức đòi hỏi phải thực hiện cuộc cách mạng trong tương lai ở nước này
Mác và Ăngghen luôn luôn gắn thanh niên với giai cấp công nhân và Đảng cộng sản - đội tiên phong chiến đấu của nó, các ông đã đưa ra quan
Trang 34niệm như: “đội quân xung kích quyết định của đạo quân vô sản quốc tế”, “đội hậu bị của Đảng” để gắn với thanh niên Một mặt là nhằm yêu cầu
thanh niên gia nhập vào các tổ chức cách mạng vô sản, thanh niên không được đứng ngoài tổ chức, một mặt chỉ rõ lý tưởng, mục tiêu của tổ chức cộng sản thanh niên là đi theo, là thực hiện lý tưởng, mục tiêu của Đảng Ăngghen
cho rằng chính thế hệ trẻ sẽ là nguồn bổ sung dồi dào nhất cho Đảng Ngoài ý
nghĩa thể hiện niềm tin tưởng sâu sắc đối với thế hệ trẻ của các ông, những quan điểm lí luận trên là sự gợi mở sâu sắc về vai trò, vị trí của tổ chức thanh niên trong mối quan hệ với Đảng
Kế thừa và phát triển sáng tạo những luận điểm của Mác, Ăngghen
trong điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã coi thanh niên là “nguồn sinh lực
chiến đấu của cách mạng” Người đã phê phán gay gắt những đảng viên bảo
thủ, không đánh giá đúng vai trò của lực lượng trẻ trong cách mạng, coi thường thanh niên và chế giễu sự ngây thơ, thiếu kinh nghiệm của họ Người
còn cảnh báo: “Nếu không biết tổ chức họ lại và nâng họ dậy thì họ sẽ theo
người Mensêvích, và khi đó sự thiếu chín chắn và chưa từng trải của họ sẽ bị
kẻ thù lợi dụng và gây nên những thiệt hại gấp bội” [15, tr 254]
Với quan điểm khách quan, Lênin không nghi ngờ về khả năng hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ cách mạng của thanh niên mà các thế hệ trước chưa kịp hoàn thành Người nói: Theo một ý nghĩa nào đó, có thể nói rằng nhiệm vụ thật sự xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa chính là của thanh niên
Từ đó, Lênin đặt niềm tin vững chắc vào thanh niên: Chúng ta đang đấu tranh tốt hơn ông cha ta, con cháu chúng ta sẽ đấu tranh còn tốt hơn chúng ta nhiều
và chúng ta sẽ chiến thắng Người tuyên bố: “Há chẳng phải trong Đảng
cách mạng của chúng tôi, thanh niên chiếm ưu thế là một điều tự nhiên sao, chúng tôi là một Đảng của tương lai, mà tương lai lại thuộc về thanh niên Chúng tôi là Đảng của những người cách tân, mà thanh niên lại luôn luôn đi
Trang 35theo những người cách tân Chúng tôi là Đảng đấu tranh quên mình chống lại chế độ cũ thối nát, mà thanh niên lại luôn luôn đi đầu trong các cuộc đấu tranh quên mình Chúng ta sẽ luôn luôn là Đảng của thanh niên của giai cấp tiêp phong” [16, tr.210]
Giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thanh niên để trở thành những chiến
sĩ cách mạng, chiến sĩ cộng sản là quan điểm cơ bản của Lênin Người yêu
cầu phải giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thanh niên một cách toàn diện với đầy đủ các mặt:
- Giáo dục về trí dục
- Giáo dục về thể dục
- Dạy kĩ thuật bách khoa, làm cho các em biết những nguyên tắc cơ bản của tất cả mọi quá trình sản xuất có được những kỹ năng sử dụng những công cụ đơn giản nhất của tất cả các ngành sản xuất [20, tr 35]
Khi nêu ra nhiệm vụ của những người cộng sản chân chính đối với thanh niên, Người đã thể hiện quan điểm giáo dục thanh niên thông qua thực tiễn có ý nghĩa lí luận sâu sắc:
- Cần phải giáo dục cộng sản cho thế hệ trẻ, kết hợp việc giáo dục ấy với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, tức là phải đưa thanh niên vào các phong trào hành động cách mạng Việc định hướng chính trị cho tuổi trẻ là điều kiện cần thiết để biến những năng lực tiềm tàng của họ thành hiện thực
- Cần phải tập hợp thanh niên lại thành các tổ chức độc lập và tự quản, các tổ chức đó sẽ hoạt động dưới sự lãnh đạo tư tưởng của Đảng Cộng sản, phải cuốn hút thanh niên vào phong trào cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với phong trào thanh niên
Trang 36Quan điểm của C Mác, Ph Ănghen, V.I Lênin về thanh niên là cơ sở
lý luận quan trọng, đặt nền móng cho những quan điểm về thanh niên và CTTN của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta sau này
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ lỗi lạc của dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người Bác kính yêu của thế hệ trẻ Việt Nam Suốt đời Người luôn quan tâm, chăm lo giáo dục và rèn luyện thế hệ trẻ, đặc biệt là thanh niên Tấm gương sáng ngời của Người là ngọn đuốc soi rọi cho thanh niên Việt Nam noi theo Thanh niên Việt Nam cũng luôn hướng về Người mà không một sức mạnh nào ngăn cản nổi, bởi cuộc đời và phẩm chất cao đẹp của Người luôn lôi cuốn cổ vũ họ Bác chăm lo giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ, bồi dưỡng thanh niên vì công việc này gắn liền với cuộc đấu tranh cho lý tưởng cao quý của Người và sự trưởng thành của thế hệ trẻ là thành quả vĩ đại nhất của cách mạng, có ý nghĩa quyết định vận mệnh của Đảng, của dân tộc
Kế thừa tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin, Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo các luận điểm mácxit về thanh niên, CTTN Tư tưởng này được thể hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, trong nhiều tác phẩm, bài viết, thư gửi và trong các buổi gặp gỡ, nói chuyện với thanh, thiếu nhi Đó là di sản quý báu mà Bác đã để lại cho Đảng ta phát huy tiềm năng sức mạnh của thanh niên hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình qua từng thời kì cách mạng của dân tộc
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về thanh niên và CTTN rất sâu sắc và toàn
diện Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau được coi là vấn đề chiến lược,
xuyên suốt trong tư tưởng của Hồ Chí Minh thanh niên và CTTN Khái quát những tư tưởng biện chứng của Người về thanh niên và CTTN ở một số điểm sau:
* Hồ Chí Minh có quan điểm khách quan, toàn diện khi nhìn nhận,
đánh giá về thanh niên, có niềm tin vững chắc vào thanh niên
Trang 37Ngay từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX, nhiều nhà yêu nước có tâm huyết lớn với thanh niên (như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh ) phần nào cũng thấy được vai trò quyết định của thanh niên trong tiến trình lịch sử Các
cụ thường nhắc lại câu nói của người xưa: “Hậu sinh khả úy” Song do những
hạn chế về thế giới quan khoa học, các cụ mới gửi gắm tâm huyết của mình chứ chưa đi từ sự nhìn nhận vai trò của tuổi trẻ một cách đúng đắn, đầy đủ tới việc tổ chức, phát huy một cách có hiệu quả lực lượng thanh niên
Bên cạnh đó có người quá đề cao thanh niên theo cảm giác mà không thấy hết mặt yếu, mặt hạn chế của thanh niên Vào những năm 20 của thế kỷ
XX, ở nước ta xuất hiện cái gọi là “Chủ nghĩa thanh niên” trong một số nhà yêu nước Các ông coi thanh niên như là chủ thể toàn bích, mặt nào cũng tốt Lại có tư tưởng gia trưởng, cho thanh niên là lớp “trẻ người non dạ” khó làm nên việc lớn; hay coi thường lớp trẻ, ép buộc họ vào trong khuôn mẫu của lớp cha anh, dẫn đến sự xa cách với thanh niên, không hiểu tâm lý, nguyện vọng, khát khao của lớp trẻ
Hồ Chí Minh không tán thành những cách nhìn nhận phiến diện đó Người đã nghiêm khắc phê phán những thái độ này, yêu cầu không được hẹp
hòi, thành kiến với thanh niên, cho rằng “trứng khôn hơn vịt” Người thấy
rằng thanh niên nói chung và trong mỗi cá thể nói riêng đều có cả mặt mạnh
và mặt yếu, đều đang tiềm ẩn những khả năng to lớn cũng như những mặt hạn
chế: “ưu điểm của thanh niên là hăng hái, giàu tinh thần xung phong Khuyết
điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh “anh hùng”,
[27, tr 195], song thanh niên là “bộ phận quan trọng của dân tộc” [28, tr 398], là lực lượng nòng cốt để xây dựng xã hội mới, phát huy mặt mạnh, hạn
chế mặt yếu là con đường để thanh niên tự hoàn thiện nhân cách của mình
Trang 38Không những vậy, Người còn có quan điểm nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, khoa học về vai trò lịch sử cả trong hiện tại và tương lai của thanh niên, khả năng làm cách mạng của thanh niên như sau:
Theo Hồ Chí Minh, thanh niên là một bộ phận quan trọng trong cộng
đồng dân tộc Người nói “Tính trung bình, thanh niên chiếm độ một phần ba
tổng số nhân dân - tức là một lực lượng to lớn Lực lượng to lớn thì phải có nhiệm vụ to lớn” [29, tr.94] Họ là người chủ hiện tại của đất nước không chỉ
vì họ chiếm khoảng một phần ba dân số, mà chủ yếu vì thanh niên là bộ phận trẻ, khỏe, dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo, giàu ý chí, nghị lực và
ước mơ; vì thanh niên là những đội quân xung kích trên các mặt trận; thanh
niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa; thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ Và trong
mọi công việc, thanh niên là lực lượng có khả năng thực hiện khẩu hiệu:
“Việc gì khó có thanh niên, ở đâu khó có thanh niên” [30, tr.310] Người ca
ngợi tuổi trẻ là độ tuổi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi người: “Một năm khởi
đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” [25, tr 167] Do vậy, thế hệ trẻ tiêu biểu cho sức sống, sức phát triển của
một dân tộc, nếu được chăm sóc, giáo dục, rèn luyện, dìu dắt đúng thì họ có khả năng “dời non lấp bể” trong sự nghiệp bảo vệ nền độc lập và xây dựng đất nước
Từ sự nhìn nhận toàn diện, niềm tin của Người đối với thế hệ trẻ, đối với thanh niên vô cùng lớn lao và vững chắc Niềm tin ấy không phải là sự chủ quan ngộ nhận không có cơ sở mà nó xuất phát từ nhãn quan duy vật biện chứng của một nhà tư tưởng vĩ đại từng có quá trình hoạt động thực tiễn ở lứa tuổi thanh niên sôi nổi nhiệt huyết, đã tận mắt chứng kiến những thành quả cách mạng, những chiến công thực sự mà lớp lớp thanh niên đã lập nên trong suốt tiến trình cách mạng của dân tộc
Trang 39Thật vậy, ngược dòng lịch sử, ngay từ những năm 20 của thế kỉ XX, khi ở độ tuổi thanh niên, trong nhiều bài báo tố cáo tội ác của thực dân Pháp gây ra ở Đông Dương, ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc Nguyễn Ái Quốc
đã sớm nhận rõ vai trò quan trọng mang tính quyết định cải biến xã hội của
quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên Trong tác phẩm “Bản án chế độ
thực dân Pháp”, phần phụ lục “Gửi thanh niên An Nam”, Người đã tha thiết
kêu gọi: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám
Thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh” [24, tr.133] “Già” của
thanh niên ở đây như Người viết trong thư là sự “biếng, nhác”, là “chưa ý thức được trách nhiệm của mình” trước cảnh nước mất nhà tan, họ lâm vào sự
bế tắc tư tưởng, “không tìm thấy lối ra” sau những thất bại liên tiếp kéo dài của nhiều phong trào yêu nước; họ bơ vơ không có người lãnh đạo Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã nhìn ra một chân lí về vai trò quyết định của thanh niên
đối với vận mệnh dân tộc rằng muốn “hồi sinh” dân tộc trước hết phải “hồi
sinh” thanh niên” Việc thành lập tổ chức “Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội” (với hạt nhân là những thanh niên yêu nước do Người giáo
dục, giác ngộ) để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam và sáng lập tờ báo cách mạng mang tên “Thanh niên” chứng tỏ Hồ Chí Minh có một tầm nhìn chiến lược, khi Người biết rằng chỉ có thanh niên mới có thể nắm vai trò là những người châm ngòi lửa đầu tiên cho cách mạng nước ta
Không những chỉ ra khả năng cách mạng to lớn của tuổi trẻ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (mặt hiện tại) mà Người còn chỉ ra tiềm năng to lớn của tuổi trẻ trong công cuộc kiến thiết, xây dựng nước nhà (mặt
Trang 40Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [25, tr.33] Tháng 8 năm 1947,
Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà
Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, mạnh hay yếu, một phần lớn là do các thanh niên” [26, tr.185]
Khi miền Bắc bước và thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội, thấy được thanh niên là lớp người hăng hái xung phong trên mọi mặt trận công nghiệp, nông nghiệp, giáo dục, an ninh quốc phòng… Hồ Chí Minh đã biểu lộ niềm tin:
trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong, chờ đợi ở thanh niên rất nhiều
Chứng kiến sự cống hiến và trưởng thành của tuổi trẻ Việt Nam hơn 30 năm kể từ những ngày đầu vận động thành lập Đảng, tại lễ kỉ niệm 35 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam (tháng 3 năm 1966),
Người nói: “Là người theo dõi tổ chức thanh niên từ bước đầu hiếm hoi chỉ
có tám cháu, ngày nay trông thấy có hàng triệu đoàn viên thanh niên, hàng triệu cháu bé nhi đồng, phát triển mơn mởn như hoa nở mùa xuân Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường, chúng ta nhất định thàng công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
Vì vậy, Bác rất tự hào, sung sướng và thấy như mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang” [33, tr 66, 67]
Thực tiễn cho thấy quan điểm biện chứng trong việc nhìn nhận, đánh giá thanh niên của Hồ Chí Minh làm cho thanh niên tự tin hơn, đồng thời thanh niên cũng thấy rõ yêu cầu phải phấn đấu, rèn luyện
* Hồ Chí Minh nhìn nhận vấn đề thanh niên trong sự phát triển có tính
kế thừa bền vững giữa các thế hệ, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ phát huy hơn thế hệ trước