1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư Tưởng nhân sinh trong kinh Pàli của Phật giáo - Những vấn đề đặt ra cho việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay

105 565 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 849,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đúng như xác quyết mà Phật giáo đã chỉ ra: “Đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội” Đạo Phật có một hệ thống giáo lý mang đậm tính nhân bản, nhiều học thuyết của Phật giáo có vai trò quan

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Triết học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Minh Đô

Trang 3

-LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình quý thầy cô Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội và Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trung tâm bồi dưỡng giảng viên chính trị Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc đế Phó giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Minh Đô

đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Trung Ương giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng quý Hòa Thượng, Thượng Tọa và chư Tôn đức đã tạo rất nhiều điều kiện về tài liệu để tôi hoàn thành tốt luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn

Hà Nội ngày 08 tháng 11 năm 2014

Học viên

Nguyễn Văn Thơm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

1 Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS – TS Hoàng Minh Đô

2 Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố

3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội ngày 08 tháng 11 năm 2014

Học viên

Nguyễn Văn Thơm

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CAND : Công an nhân dân CNXH : Chủ nghĩa xã hội CTQG : Chính trị quốc gia CTTG : Công tác tôn giáo ĐHQGHN : Đại học quốc gia Hà Nội GHPGVN : Giáo hội Phật giáo Việt Nam KHXH : Khoa học xã hội

LLCT : Lý luận chính trị NXB : Nhà xuất bản NCPH : Nghiên cứu Phật học NCTG : Nghiên cứu tôn giáo PGS : Phó giáo sư

PGVN : Phật giáo Việt Nam

TS : Tiến sỹ VHPG : Văn hóa Phật giáo VNCTG : Viện nghiên cứu tôn giáo XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Kết cấu luận văn. 9

Chương 1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH BỘ KINH PÀLI VÀ TƯ TƯỞNG NHÂN SINH CỦA PHẬT GIÁO 10

1.1 Hoàn cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa - tư tưởng của sự hình thành bộ kinh Pàli 10

1.2 Khát quát tư tưởng nhân sinh trong kinh Pàli của Phật giáo 15

Chương 2 VAI TRÒ NHÂN SINH CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 57

2.1 Khái niệm về giáo dục và đạo đức 57

2.2 Ảnh hưởng của nhân sinh phật giáo với vấn đề đạo đức của con người ở Việt Nam hiện nay 61

2.3 Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đối với việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay 77

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đạo Phật là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, được du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên Từ những ngày đầu của quá trình du nhập vào Việt Nam, Đạo Phật đã hòa đồng một cách nhanh chóng với phong tục tập quán, truyền thống và suy nghĩ của người bản địa, hòa nhập một cách tự nhiên vào đời sống của người Việt Vì thế Đạo Phật được xem là một tôn giáo có truyền thống gắn bó với dân tộc ta từ lâu đời và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần nói chung và đạo đức của nhân dân Việt Nam nói riêng Đúng như xác quyết mà Phật giáo đã chỉ ra: “Đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội”

Đạo Phật có một hệ thống giáo lý mang đậm tính nhân bản, nhiều học thuyết của Phật giáo có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của nền đạo đức dân tộc, đặc biệt là tư tưởng về nhân sinh của Phật giáo, là một trong những nhân tố cấu thành nền văn hóa dân tộc cũng như nhân cách, đạo đức của mỗi người dân Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo luôn tỏ

rõ vai trò quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng và toàn diện trong đời sống xã hội Việt Nam, nó góp phần ngăn chặn sự xuống cấp trầm trọng của đạo đức

đã làm ảnh hưởng đến những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta Những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo luôn biến đổi trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử Đặc biệt, từ khi công cuộc đổi mới chuyển từ

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra trên đất nước ta, thì sự biến đổi, ảnh hưởng về nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam càng diễn ra khá rõ nét và có những biểu hiện mới

Bên cạnh sự phát triển về mặt kinh tế không thể phủ nhận thì kinh tế thị trường cũng biểu hiện những mặt trái của nó: đó là sự phân hóa giàu

Trang 8

nghèo, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, lấy đồng tiền làm thước đo cho sự thành công và lấy đó để đặt mối quan hệ trong giao tiếp cuộc sống…Sự xuống cấp của đạo đức, lối sống đang ngày càng lan rộng không chỉ ở quần chúng nhân dân mà còn len lỏi sâu trong bộ máy cầm quyền, thể hiện sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên: tình trạng tham nhũng, vi phạm pháp luật của một số người có chức có quyền, làm ăn gian dối coi thường tính mạng, vi phạm đạo đức nói chung, y đức nói riêng Lối sống thực dụng, chạy theo vật chất ấy đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc Thêm vào đó, là sự tác động của toàn cầu hóa, quá trình mở cửa, hội nhập, giao lưu văn hóa đã tác động rất lớn đến con người và xã hội Việt Nam, phá vỡ những chuẩn mực đạo đức xã hội, làm cho xã hội đứng trước nguy cơ rối loạn Những ảnh hưởng tiêu cực ấy ngày càng phổ biến và đang dóng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với Việt Nam- một dân tộc có truyền thống nhân văn Đây cũng là vấn đề hết sức cấp thiết

mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đặt ra để tìm cách giải quyết Để giải quyết những tiêu cực trong xã hội như đã nêu trên, Đảng và nhà nước ta đã có những giải pháp tích cực, một trong những giải pháp đó là giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những học thuyết về nhân sinh của Đạo Phật là một trong những chuẩn mực đạo đức để quy định và phát huy cũng như giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với tinh thần, đặc biệt là định hướng đạo đức của người Việt Nam sẽ như thế nào? Cần đánh giá những ảnh hưởng đó trên cả những mặt tích cực và tiêu cực? Những nhân tố nào cần phát huy trong điều kiện mới và bằng cách nào để có thể phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam là vấn đề cấp thiết đang đặt ra và cần làm sáng tỏ

Trang 9

Với những ý nghĩa và lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Tư tưởng nhân sinh trong kinh Pàli của Phật giáo – Những vấn đề đặt ra cho việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ

chuyên ngành triết học của mình nhằm góp một phần nhỏ bé trong hệ vấn đề

to lớn đó

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng nhân sinh của Phật giáo đối với đời sống tinh thần nói chung và việc giáo dục đạo đức của con người Việt Nam nói riêng là đề tài rộng lớn Đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt được những kết quả đáng trân trọng Có thể kể ra một số công trình sau đây:

Thứ nhất: Nghiên cứu về đạo Phật có các tác phẩm:

- Tác phẩm “Đạo Phật Việt Nam” của tác giả Thích Đức Nghiệp, Nxb

TP Hồ Chí Minh 1995 Trong công trình nghiên cứu này, Hòa thượng đã phân

tích rất kỹ đến đạo đức học Phật giáo Tác giả khẳng định, đạo đức Phật giáo

có thể coi như một khoa học nhân bản mà trong đó “giới luật” và “bát chính đạo” làm nền tảng trong việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức, nhân cách con người, con người mà tốt thì xã hội mới có đạo đức Theo tác giả, đạo đức học Phật giáo nhằm mang lại giác ngộ và giải thoát, hạnh phúc và tự do cho một

xã hội nhân bản nói riêng và cho toàn thể nhân loại nói chung

- Tác phẩm “Các nguyên tắc đạo đức của Phật tử tại gia” của tác giả

Thích Nhật Từ, Nxb TP Hồ Chí Minh 1995 là công trình nghiên cứu gồm 18 chương, một trăm điều nói về văn hóa ứng xử trong các quan hệ của cuộc sống dành cho các Phật tử tại gia và sự áp dụng các nguyên tắc đạo đức này vào cuộc sống hàng ngày Các điều này được tác giả trình bày giản dị, dễ hiểu Đối với các phật tử có niềm tin với Phật pháp, theo tác giả thì những nguyên tắc ấy làm hành trang để con người tự hoàn thiện nhân cách cá nhân,

đem lại hạnh phúc cho gia đình và góp phần làm ổn định xã hội

Trang 10

Thứ hai: đề cập đến những ứng dụng thiết thực của Phật giáo trong đời sống

- Tác phẩm “Phật giáo với dân tộc” của tác giả Thích Thanh Từ Nxb TP

Hồ Chí Minh, ấn hành năm 1992 Tác giả đã khẳng định đạo Phật đã hòa nhập với cuộc sống của con người Việt Nam Tư tưởng Đạo Phật đã thấm nhuần tinh thần dân tộc và sự liên hệ mật thiết này, người dân Việt Nam coi đạo Phật là đạo của tổ tiên truyền lại Từ buổi đầu dựng nước đến cuối đời Trần, các thiền sư Phật giáo đã có sự đóng góp quan trọng trong công cuộc cứu quốc và xây dựng đời sống chính trị, văn hóa Sự có mặt của Phật giáo chẳng những giúp cho nhà vua có đường lối chính trị sang suốt mà còn hướng dẫn dân tộc tiến cao trên con đường văn minh, đạo đức Những vị Thiền sư thời ấy chẳng những thâm đạt về đạo lý xuất thế mà còn thấu hiểu các tổ chức xã hội, đem lại an lạc thực tế cho dân tộc

Không những khẳng định đạo đức Phật giáo phù hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của người Việt, tác giả còn đề cập đến một số giáo lý như: Luân hồi, vô ngã, giải thoát và khẳng định đạo Phật lấy giải thoát làm mục đích Theo đạo Phật, phải biết quý trọng tự do của con người, con người tự do

là con người được sống trong đất nước tự do, được sống trong quốc gia văn minh, tiến bộ và con người không bị ràng buộc bởi những hận thù, tù tội…

- Trong Luận án Tiến sĩ Phật học, “Lý thuyết về Nhân tính qua kinh tạng

Pàli” của Tác giả Thích Chơn Thiện, Nxn TP HCM, ấn hành năm 1999 Tác

giả đã diễn giải và phân tích giáo lý Duyên Khởi của Đức Phật và trình bày một cách có hệ thống những lời Đức Phật dạy qua kinh tạng Pàli là “Lý thuyết

về nhân tính” làm cơ sở xây dựng môi trường văn hóa, giáo dục mới Trong luận án này, tác giả không chỉ đề cấp đến lý thuyết nhân tính do Đức Phật dạy

mà còn chỉ rõ con đường giải phóng các vấn đề khủng hoảng cá nhân và khủng hoảng xã hội trong xã hội hiện đại

Trang 11

Thứ ba: Vai trò của Phật giáo đối với việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam

- Luận án Tiến sỹ Triết học của Đặng Thị Lan : “Đạo đức Phật giáo và

ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam” Trường Đại học Khoa

học xã hội và nhân văn năm 2004, là công trình nghiên cứu đã nêu được một

số nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến con người Việt Nam Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo

- Đây là bài viết rất chuyên sâu về mảng của đề tài này, trong đó có những vẫn đề chính yếu sau đây: thứ nhất là bàn về một số khái niệm về đạo đức và nhân sinh và mối quan hệ giữa đạo đức và nhân sinh; thứ hai là ảnh hưởng của Phật giáo đối với quan niệm đạo đức nói chung gắn với tiết thuyết nhà Phật; thứ ba là ảnh hưởng của Phật giáo đối với nhân cách người Việt

- Luận văn Thạc sĩ Triết học của Thích Từ Ân: Quan niệm về nghiệp của

Phật giáo và ý nghĩa của nó trong việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay (Trường Khoa học xã hội và nhân văn, 2010) Toàn bộ chương một

tác giả đã phân tích rất kỹ đến khái niệm Nghiệp của Phật giáo, trình bày nguồn gốc, biểu hiện và những đặc điểm của Nghiệp Chương hai của luận văn, tác giả khảo sát quan điểm của rất nhiều học giả về khái niệm giáo dục, khái niệm đạo đức Theo tác giả nhận thức được giáo lý Nghiệp, con người sẽ

có nhiều đức tính tốt bởi biết rõ mọi sự xảy ra đều từ nhân mà thành quả, không một quả nào ngẫu nhiên mà có hay do một thế lực thiêng liêng tạo ra, tất cả đều do con người gieo nhân rồi gặt quả Từ việc khẳng định vai trò quan trọng của giáo lý Nghiệp nói riêng và giáo lý Phật giáo nói chung đối với việc giáo dục đạo đức người Việt Nam hiện nay, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức theo tinh thần Phật giáo

Trang 12

- Công trình nghiên cứu của nhiều tác giả: Đạo đức học Phật giáo, (Viện

Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, TP Hồ Chí Minh, năm 1995) tập hợp những bài viết của nhiều tác giả tại Hội thảo khoa học do Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức Tất cả các bài viết đều nêu bật được những nội dung cơ bản và tính ưu việt của Đạo đức học Phật giáo Vì vậy, theo các tác giả, bảo tồn và phát huy những giá trị Đạo đức Phật giáo là góp phần vào việc để bảo tồn truyền thống văn hóa của dân tộc Đặc biệt, trong bài viết

Những giá trị của đạo đức Phật giáo trong xã hội truyền thống của tác giả Đỗ

Văn Nhung đã khẳng định giá trị nhân sinh của Phật giáo, cụ thể trên phương diện giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách cho con người không chỉ đối với

xã hội truyền thống mà tác giả còn khẳng định nhân sinh Phật giáo còn có ý nghĩa và vai trò quan trọng góp phần vào việc điều chỉnh sự cân bằng xã hội hiện đại, giữ cho xã hội không bị lệch lạc trên con đường phát triển

- Chuyên đề “Ảnh hưởng của Phật giáo trong đạo đức và nhân cách

của con người Việt Nam hiện nay” của PGS, TS, Hoàng Minh Đô, Tạp chí

KHXH miền trung, số ISN 1859 -2635, số 3năm 2009 Đây là bài viết rất chuyên sâu về mảng của đề tài này, trong đó có những vẫn đề chính yếu sau đây: + Bàn về một số khái niệm về đạo đức và nhân sinh và mối quan hệ giữa đạo đức và nhân sinh;

+ Ảnh hưởng của Phật giáo đối với quan niệm đạo đức nói chung gắn với tiết thuyết nhà Phật;

+ Ảnh hưởng của Phật giáo đối với nhân cách người Việt

Ngoài ra còn rất nhiều công trình như: Mấy vấn đề Phật giáo và lịch sử tư

tưởng Việt Nam của Viện Triết học, Hà Nội, 1986; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của PGS Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Viện Triết học, Hà Nội, 1991; Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Khoa

học xã hội, 1993; Thiền học Trần Thái Tông của Nguyễn Đăng Thục, Nxb

Trang 13

Văn hóa Thông tin, 1996; Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay, mấy vấn đề lý luận

và thực tiễn cấp thiết, Trung tâm Thông tin tư liệu - Học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh, 1996; Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà

Nội và châu thổ Bắc Bộ của Nguyễn Thị Bảy, Nxb Văn hóa thông tin 1997; ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1997; Tư tưởng triết của học Thiền phái Trúc Lâm đời Trần của Trương Văn Chung,

Nxb Chính trị quốc gia, 1998; ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo

trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam của Lê Hữu Tuấn, Luận án tiến

sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998; Đạo Phật với

con người Việt Nam do Hoàng Yến, Trường Tâm biên dich, Nxb Phương

Đông;Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999; Phật Giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội, 1999; Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập I của Nguyễn

Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002 v.v

Có thể nhận xét một cách khái quát, những công trình nghiên cứu trên đều thống nhất ở một số điểm: Phật giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội Việt Nam, đặc biệt là đời sống tinh thần Những triết lý đầy tính nhân sinh của Phật giáo kết hợp với văn hóa truyền thống đã tạo nên sự phong phú của đời sống tinh thần của con người Việt Nam Những công trình nghiên cứu nói trên, trực tiếp hoặc gián tiếp, ở các mức độ và khía cạnh khác nhau, đã thể hiện tư tưởng triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam Do đó, việc đánh giá những ảnh hưởng tích cực,

tiêu cực của Phật giáo, mà trước hết là nhân sinh quan Phật giáo, trên cơ sở

đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng triết học này trong đời sống xã hội Việt Nam lâu nay, là việc làm hết sức có ý nghĩa Tuy nhiên, việc làm sáng

tỏ ảnh hưởng của Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng

Trang 14

đối với việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam dưới tác động mạnh mẽ của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay thì hãy còn chưa nhiều Vì vậy, luận văn có nhiệm vụ là: trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước để khảo sát đánh giá sự ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đối với việc giáo dục đạo đức trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở lý luận mác-xít luận, luận văn làm sáng tỏ về tư tưởng nhân sinh của đạo Phật trong kinh Pàli, đồng thời nêu lên mối quan hệ về lĩnh vực nhân sinh của đạo Phật với đời sống nhân loại, cũng như những đóng góp của

nó về lĩnh vực giáo dục đạo đức của người việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Trình bày khái quát quá trình hình thành, phát triển của bộ kinh Pali

và tư tưởng nh©n sinh mà bộ kinh Pàli đề cập

- Trình bày một số khái niệm cơ bản về giáo dục và đạo đức làm cơ sở

lý luận để khẳng định vai trò giáo dục đạo đức của tư tưởng nhân sinh của Phật giáo

- Phân tích và làm rõ ảnh hưởng tư tưởng nhân sinh của Phật giáo trong việc giáo dục đạo đức truyền thống con người Việt Nam

- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng nhân sinh đối với việc giáo dục đạo đức hiện nay ở nước ta

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn vận dụng các nguyên lý, quan điểm của triết học mác-xít như: quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đạo đức tôn giáo; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng

Trang 15

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin, đồng thời kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khác: phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp logíc, lịch sử … Ngoài ra , tác giả còn sử dụng các phương pháp chung của khoa học xã hội như phân tích, so sánh, hệ thống, khái quát, đồng thời kết hợp với các phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học, văn hóa học, sử học…trên cơ

sở tiếp thu những thành tựu có liên quan của các tác giả khác

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về tư tưởng nhân sinh của đạo Phật thông qua bộ kinh Pàli, ảnh hưởng của nó đối với việc giáo dục đạo đức của con người Việt Nam hiện nay

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của đạo Phật với những học thuyết triết học mang lại cho việc giáo dục và đào tạo con người, góp phần quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời tạo ra cái nhìn khách quan hơn về đạo Phật

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên nghiên cứu về tư tưởng nhân sinh cũng như các phạm trù triết học của đạo Phật và một số ngành liên quan

7 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung chính, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục Trong phần nội dung chính của luận văn gồm

2 chương, 5 tiết

Trang 16

Chương 1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH BỘ KINH PÀLI

VÀ TƯ TƯỞNG NHÂN SINH CỦA PHẬT GIÁO

Phật giáo là tôn giáo có hệ thống giáo lý đồ sộ, thiên kinh vạn quyển và thâm sâu huyền diệu Hệ thống giáo lý ấy đề cập đến nhiều tư tưởng, từ vấn

đề thế giới quan đến vấn đề nhân sinh quan Nếu như các trường phái triết học

Hy Lạp cổ đại như Milê, Êlê chủ yếu bàn về những vấn đề thế giới quan, bản thể luận như đi tìm bản nguyên của thế giới, bản chất của thế giới, trạng thái của thế giới Còn những vấn đề về con người ít được đề cập thì trái lại, ở Phật giáo, bên cạnh những tư tưởng, quan niệm về thế giới, vấn đề nhân sinh quan không chỉ được đặt ra ngay từ đầu mà còn là nội dung tư tưởng chủ yếu bao trùm lên toàn bộ hệ thống Đặc điểm này của đạo Phật bị chi phối bởi chính hoàn cảnh lịch sử của đất nước Ấn Độ cổ đại - nơi đã sản sinh ra đạo Phật

1.1 Hoàn cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa - tư tưởng của sự hình thành bộ kinh Pàli

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Xã hội Ấn Độ là nơi phát sinh một trong các nền văn hóa lâu đời nhất của nhân loại Theo tài liệu khảo cổ học, ở Ấn Độ, thời đại “đồ đồng” hình thành vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên Dân tộc định cư ở đây bao gồm: Mundian, Sumerian….đặc biệt là Dravidian và đã hình thành một nền văn hóa “nông nghiệp” mà ta gọi là văn minh Ấn- Hà trải dài từ phía Đông đến thung lũng sông Hằng và Đông Nam vượt qua Gujarat Bấy giờ đã hình thành hai thành phố lớn, hai trung tâm chính, một ở Punjab và một ở Sindh

Về tôn giáo, dân tộc Ấn- Hà thờ Thượng đế, Warder viết: “Về tôn giáo, dân

chúng Ấn- Hà thờ đấng Thương đế, một vài đức tính của Ngài nói lên rằng Ngài là gốc của thần Siva (vị thần phổ biến trong các dân tộc Tamil): một

Trang 17

mặt ngài là biểu tượng của sáng tạo và phồn vinh, một mặt ngài xuất hiện trong vai một tu sĩ khổ hạnh hay một yogin phát huy các quyền lực siêu nhiên”[85,18]

Vào khoảng thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ thứ XIII (trước Công nguyên), nền văn minh Ấn- Hà đi vào suy sụp khi người Ariyan xâm chiếm xứ Ấn Tại đây, dân Dravidian kiên cường chống lại nhưng bị thất bại Người Ariyan lại chịu sự ảnh hưởng của người Dravidian: họ theo lối sống định cư của người Dravidian, định cư trong các làng mạc, thị trấn, thành phố Mặt khác, người Dravidian chịu ảnh hưởng tư tưởng của người Ariyan di trú Hai nền văn minh ấy đã kết hợp lại tạo ra một nền văn minh mới vào thời đại “đồ sắt”, khoảng từ thế kỷ thứ X đến thứ VIII (trước công nguyên) Theo chứng cứ nhân chủng học, người Ariyan nói ngôn ngữ hình thức sớm nhất của Sanskrit gọi là “Vedic” (Vêda) Kinh Vêda do người Ariyan sáng tác vào khoảng 3 thế

kỷ sau khi đánh bại người Dravidian xâm chiếm xứ Ấn Từ bấy giờ kinh Vêda, đặc biệt là của hig- Vêda chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tập tục của người Ariyan- di trú và dừng lại nghỉ ngơi sau khi qua nhiều vùng đồi núi, sa mạc cô liêu hay các vùng cao nguyên bát ngát, dưới những bầu trời nắng cháy, những cơn mưa nặng hạt, những cơn bão tuyết hay dưới những bó đuốc chập trùng giữa đêm khuya Đấy là những tư tưởng của vũ trụ vô biên đầy quyền lực gắn với con người Các tư tưởng này ngày càng thực tiễn khi chúng nói đến các vị thần đất, thần cây, thần bò của người Dravidian

Đặc biệt từ thế kỷ VI (trước Công nguyên) đến thế kỷ I (sau Công nguyên), chế độ chiếm hữu nô lệ mang tính chất gia trưởng kiểu phương Đông khá phát triển ở Ấn Độ Do việc mở mang các công trình thuỷ lợi, sản xuất nông nghiệp phát triển Thủ công nghiệp tách hẳn khỏi nông nghiệp Nhiều thành phố trở thành trung tâm thủ công nghiệp và thương nghiệp quan trọng thời kỳ này như Benares, Sravasti Nhiều con đường thương mại thuỷ

Trang 18

bộ đã hình thành Ấn Độ đã giao dịch buôn bán khá rộng rãi với các nước trong vùng như Trung Quốc, Ả Rập, Trung Á Nhưng xã hội Ấn Độ vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của tổ chức công xã nông thôn cùng với chế

độ phân biệt màu da, chủng tính khắc nghiệt

Xã hội Ấn Độ lúc này được chia thành bốn đẳng cấp cách biệt: 1 Tăng

lữ thuộc đẳng cấp Bàlamôn; 2 Vua chúa thuộc đẳng cấp Kshatiya; 3 Nông dân, thợ thủ công và thương nhân thuộc đẳng cấp Vaishya; 4 Nô lệ thuộc đẳng cấp Shudra Bàlamôn và vua chúa là giai cấp thống trị; nông dân, thợ thủ công, thương nhân và nô lệ thuộc giai cấp bị trị Bốn đẳng cấp này theo chế độ

thế tập, cha truyền con nối tạo thành một tổ chức xã hội bất công 1.1.2 Bối cảnh văn hóa - tư tưởng

Ấn Độ cổ đại là một đất nước có một nền triết học phong phú hết sức bề thế xuất hiện từ rất sớm Ngay từ thế kỷ XV trước công nguyên đã xuất hiện

bộ kinh điển Rg Vêđa Đó là những bài ca tán có tính chất thần thoại nhưng

đã bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ và nhân sinh quan Tiếp theo trong khoảng 1000-800 năm trước công nguyên là thời đại Brahman Đến thời kỳ 800-600 năm trước công nguyên là triết học Upanishad Upanishad là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của kinh Vêđa Xu hướng chính của Upanishad là nhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm tôn giáo, vốn có trong kinh Vêđa về cái gọi là "tinh thần sáng tạo tối cao" sáng tạo ra thế giới này Upanishad cho rằng thế giới vô ngã Brahman hay "tinh thần vũ trụ tối cao" là thực thể duy nhất, tồn tại vĩnh viễn, là cái từ đó nảy sinh ra và chi phối mọi cái tồn tại Atman (tiểu ngã) chỉ là một phần hiện thân của Brahman (đại ngã); linh hồn sống của con người chỉ là sự biểu hiện của "tinh thần tối cao" trong

cơ thể con người Vì vậy, linh hồn cá biệt về bản chất là đồng nhất với "linh hồn tối cao" cũng tồn tại vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt Trong Upanishad cũng đặt vấn đề là chính do những ham muốn, dục vọng và những hành động của

Trang 19

con người nhằm thoả mãn những ham muốn trong đời sống trần gian đã gây những hậu quả, gieo đau khổ cho kiếp này và cả những khiếp sau gọi là nghiệp báo Karma Do vậy linh hồn bất tử bị sự luân hồi nên không nhận ra

và trở về đồng nhất với chân bản của nó được Muốn giải thoát linh hồn bất tử khỏi sự chi phối của đời sống nhục dục, của thế giới hiện tượng cảm tính như

ảo ảnh thường biến, đạt tới sự đồng nhất với "tinh thần vũ trụ tối cao", con người phải tu luyện hành động karma- yoga và tu luyện tri thức jana- yoga, nhận ra chân bản của mình

Triết lý duy tâm tôn giáo của Upanishad giải thích căn nguyên của thế giới bằng nguyên lý " tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối, bất diệt là cơ sở cho những học thuyết triết học duy tâm sau này và đã đóng vai trò là cơ sở lý luận cho đạo Bàlamôn ở Ấn Độ cổ đại Kinh Upanishad đã đề cập đến những vấn

đề có ý nghĩa triết học thực sự như mối quan hệ giữa tinh thần vũ trụ (Brahman)

và linh hồn cá thể (Atman), Thuyết luân hồi, nghiệp, nhân quả v.v

Sau thời kỳ Vêda, các vấn đề triết học dần dần xuất hiện và ngày càng trở nên rõ ràng và khoa học hơn Sự kiện này nói lên rằng khái niệm về tự ngã của các hiện hữu ngày càng được nhấn mạnh Từ vấn đề triết lý đặt ra từ thời

kỳ đầu Vêda rằng: bằng cách nào ta hợp nhất thiên nhiên với thượng đế? Đến vấn đề triết lý do các đạo sư Bàlamôn về sau đặt ra: ta là ai? Các câu trả lời cho câu hỏi “ta là ai?” biến đổi dần: từ con người vật lý đến con người sinh lý, rồi đến con người tâm lý, siêu hình, và sau hết là con người tâm linh Nhưng

về sau, đạo Balamôn quay sang miên man suy ngĩ về “cái tôi” (ngôi thứ nhất),

về cái tự ngã của sự vật như là thực thể

Tóm lại, thế giới quan thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo, chủ nghĩa duy tâm trong thánh kinh Vêđa, kinh Upanishad và đạo Bàlamôn đã trở thành hệ

tư tưởng thống trị đời sống tinh thần của Ấn Độ cổ Uy thế của nó mạnh mẽ tới mức, tư tưởng triết lý duy tâm ấy được mệnh danh là tư tưởng chính thống

Trang 20

của ấn Độ cổ và tất cả những môn phái triết học vô thần, duy vật, chống lại uy thế của kinh Vêđa và triết lý tôn giáo Bàlamôn đều bị coi là những tư tưởng triết học không chính thống Sự thống trị khắc nghiệt về xã hội, chính trị, tư tưởng trên đã làm nảy sinh những mâu thuẫn sâu sắc trong đời sống xã hội và tất yếu dẫn đến sự phản kháng của quần chúng lao động đòi hỏi một sự tự do, công bằng, bình đẳng xã hội Đây chính là những nhu cầu của hiện thực lịch

sử làm xuất hiện các trường phái tư tưởng mới ở Ấn Độ trong thời kỳ này Đạo Phật xuất hiện chính trong bối cảnh lịch sử trên với tư cách là một hệ tư tưởng phản đối chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội, phủ nhận uy thế của kinh Vêđa, chống giáo lý duy tâm hoang đường của Bàlamôn giáo, bác bỏ uy quyền thần thánh và phương pháp tu hành khổ hạnh, xây dựng niềm tin vào chính con người Nó là sự khẳng định một đạo lý, một đường hướng cứu khổ mới cho con người

Theo các sử liệu ghi lại, người sáng lập ra Phật giáo là Thích-ca-mâu-ni,

có tên thật là Siddhartha (Tất-đạt-đa), họ là Gautama (Gô-ta-ma), thái tử con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng họ Sakya, có kinh đô là thành Kapilavastu (Catylavê) ở phía Bắc Ấn Độ Phật Thích Ca sinh năm 563 (trước Công Nguyên), (nhưng theo tài liệu của Hội nghị Phật giáo Thế giới họp tại Tokyo năm 1952 lại cho rằng ông sinh năm 624 trước Tây lịch) Năm 29 tuổi ông đã quyết định từ bỏ cuộc sống vương giả để đi tu Sau mười một năm tu luyện ông đã ngộ đạo và tìm ra con đường giải thoát con người khỏi những nỗi khổ

đè nặng trong đời sống xã hội Ấn Độ cổ đại Sau khi tìm ra con đường giải

thoát, ông truyền bá những tư tưởng của mình cho chúng sinh ở Ấn Độ (phụ

lục 2) và tìm các đệ tử lập ra các đoàn thể Phật giáo Ông mất năm 80 tuổi

(năm 544 trước Công nguyên)

Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn Pãncanikàya là từ

Trang 21

ngữ chỉ kinh tạng Pàli thuộc Tam tạng của Thượng tọa bộ (Theravada), thuộc

hệ văn học Pàli từ thời đức Phật đến thời đại Đại đế A- Dục Theo Pàli hệ,

"Tam tạng " (Tripitaka) gồm ba bộ phận: Luật tạng, Kinh tạng, Luận tạng

1 Tạng Kinh (Sutrapitaka) ghi những lời dạy của đức Phật Thích Ca trong 40 năm giáo hóa Kinh tạng gồm năm bộ kinh còn gọi là Ngũ bộ Nikàya: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu bộ

2 Tạng Luật (Vinaya pitaka, gồm các giới luật của đạo Phật,chứa đựng các luật lệ và giới luật của Tăng già Phật giáo như là các điều lệ thu nhận vào đoàn thể Tăng già, về việc phát lồ các tội, về an cư kiết hạ, về chỗ ở, y cà

sa, thuốc men và các sinh hoạt của Tăng già

3 Tạng Luận (Adhidharma pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả, về sau này là phần diễn giải bổ sung vào Kinh tạng, có các bộ Dhammasangani, Vibhanga, Kàtthàvatthu, Puggalapannatti, Dhàtukathà, Yamaka, Patthàna Các bộ này do chư vị đệ tử của đức Phật vào thời kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ ba, dưới triều đại đế A – Dục, sáng tác vào thế kỷ thứ ba trước Tây lịch kỷ nguyên

Như vậy, Ấn Độ là nơi sinh ra Phật giáo và Phật giáo là sản phẩm trực tiếp của xã hội Ấn Độ cổ đại với những mâu thuẫn đẳng cấp gay gắt Cho nên ngay từ đầu, Phật giáo là tôn giáo của đại đa số những người đẳng cấp thấp ở

Ấn Độ, những người cần được an ủi về mặt tâm linh trước sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt Chính vì vậy, tư tưởng chính trong kinh Pàli của Phật giáo đã quan tâm đến vấn đề nhân sinh: quan niệm về con người và cuộc đời con người, vấn đề sướng, khổ, vấn đề giải thoát

1 2 Khát quát tư tưởng nhân sinh trong kinh Pàli của Phật giáo

1.2.1 Quan niệm về con người

Đạo Phật ra đời khi mà xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ đã có một nền văn minh phát triển rực rỡ, với một di sản tư tưởng và tôn giáo rất bề thế Vì vậy,

Trang 22

để cho triết thuyết của mình có thể đứng vững trước thuyết tạo thần của đạo

Bàlamôn, Đức Phật đã xây dựng thuyết nhân duyên sinh làm nền tảng cho

học thuyết của mình

Kinh Phật nói rằng: "Nhất thiết pháp, nhân duyên sinh"

Với thuyết nhân duyên sinh, Phật muốn nói lên một định lý: mọi sự vật, vạn pháp trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành; sự vật, vạn pháp sẽ biến diệt khi nhân duyên tan rã

Nhân là nguyên nhân, là năng lực tiềm ẩn của mọi sự hình thành, biến đổi Không có gì là không có nguyên nhân Duyên là những quan hệ, những điều kiện, những ảnh hưởng chung quanh giúp cho nhân phát khởi hiện hành Tất cả các hiện tượng đều nương nhau mà thành lập - Nói nương nhau có nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng, đối đãi lẫn nhau mà thành Tất cả mọi hiện tượng đều có quan hệ mật thiết với nhau, không một hiện tượng nào được thành lập, ngoài sự nương vào nhau, ngoài sự liên hệ trực tiếp với nhau Đó là nhân duyên

Nói về thuyết nhân duyên, trong kinh "Phật Tự Thuyết" (thuộc kinh Tiểu

bộ, tập 1) đã có câu:

“Nhược thử hữu, tắc bỉ hữu,

Nhược thử sinh, tắc bỉ sinh,

Nhược thử vô, tắc bỉ vô,

Nhược thử diệt, tắc bỉ diệt”.[16, 129]

Nghĩa là:

“Cái này có thì cái kia có,

Cái này sinh thì cái kia sinh,

Cái này không thì cái kia không,

Trang 23

Tất cả các pháp đều sinh diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập và trường tồn, nhất thành bất biến Trong Kinh "Thủ Lăng Nghiêm "có đoạn viết:

Nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sinh

Nhân duyên biệt ly, hư vọng danh diệt

Cho nên sinh cũng chẳng thực sinh, mà diệt cũng chẳng thực diệt Khi nhân duyên hội họp thì nói là sinh, khi nhân duyên tan rã thì nói là diệt Trong kinh "Đại Bát Niết Bàn" có viết:

“Nhất thiết chư pháp, bản vô hữu tính, nhân duyên cố sinh, nhân duyên cố diệt"

Nghĩa là:

Hết thảy mọi pháp,

Đều không có tự tính,

Vì nhân duyên mà sinh,

Vì nhân duyên mà diệt

Ở một chương khác Phật lại nói:

Thế giới vũ trụ, vạn pháp, con người đều cấu thành bởi vô số nhân và trùng trùng duyên khởi Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên hòa hợp chúng hiện hữu một cách giả hợp Bởi thế tìm kiếm đến cùng không thấy

Trang 24

vạn pháp có "thủy" (nơi bắt dầu ) và xét đến muôn đời, muôn kiếp về sau cũng không thấy vạn pháp có "chung" (nơi kết thúc)

Thuyết nhân duyên sinh cho chúng ta thấy chỉ có nhân và có duyên chứ không thực có sự vật Tất cả những pháp có mặt trên cuộc đời, thế gian này từ thế giới của sự vật, hiện tượng cho đến thế giới bí ẩn của ý niệm sâu xa đều

do các nhân, các duyên tương tác lẫn nhau mà hình thành: do cái này có mà cái kia mới có Từ đó, Phật giáo cho rằng, sự vật không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng phải do một đấng thiêng liêng nào tạo ra mà mọi sự vật sinh ra là đều có nguyên nhân của nó Cái nguyên nhân một mình cũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ duyên mới tạo ra quả được Quả sinh ra lại có thể nếu gặp đủ duyên, biến thành nhân, để rồi sinh ra quả khác và lại thế nối tiếp nhau sinh sinh hóa hóa Nhưng Phật nhấn mạnh: Quả có thể khác nhân đã sinh ra nó, quả có thể hơn nhân nếu đủ duyên tốt Trái lại, quả có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu Sự vật là một chuỗi nhân quả, ảnh hưởng lẫn nhau không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng Sự duyên khởi dây chuyền của một sự vật đối với tất cả sự vật, của tất cả sự vật đối với một sự vật thì gọi

là pháp giới trùng trùng duyên khởi Đó là thuyết nhân quả

Giáo lý nhân duyên sinh của Phật giáo đưa đến hai hệ quả trực tiếp: thuyết vô thường và thuyết vô ngã, chi phối nhân sinh quan Phật giáo

Thuyết vô thường (Amicca) là một trong những thuyết cơ bản trong

giáo lý Phật, là một cơ sở lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người tu dưỡng theo giáo lý Phật

Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi Theo thuyết

vô thường chỉ ra các pháp (sự vật, hiện tượng, con người) luôn biến dịch, không có gì là thường trụ, bất biến Sự chuyển biến ra trong từng sátna (Kshana) - sự chuyến biến rất nhanh trong thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một cái nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một sự chuyển biến vừa khởi lên đã

Trang 25

vụt chấm dứt Sự chuyển biến này diễn ra nhanh chóng, ngấm ngầm thường ta không nhận thức kịp mà kết quả là dẫn đến sự chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ chuyển sang một trạng thái mới Do vậy, vạn vật vô tình trong vũ trụ đều tuân theo qui luật: Thành - trụ - hoại - không Mọi vật được cấu thành, trụ một thời gian, biến chuyển đi đến diệt, hoại thành không

Các sinh vật đều tuân theo qui luật: Sinh - trụ - dị - diệt

Chung quanh ta, sự vật biến chuyển không ngừng Theo luật vô thường thì không phải khi vạn vật sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt, mà từng phút, từng giây, từng sátna, sự sống và sự chết đã từng liên tiếp xảy ra

Từ thuyết vô thường, Phật nói sang thuyết vô ngã (Anatta): Vô ngã là

không có cái Ta trường tồn vĩnh cửu Theo nguyên lý duyên sinh, các sự vật đều là các pháp duyên sinh Tất cả sự vật (các pháp) có hình, có tướng đều do những bộ phận hợp lại mà thành, đều là nhất hợp tướng, đều có thể chia chẻ

ra được Tất cả sự vật đều đối đãi với nhau mà thành lập: Tâm đối với cảnh, cảnh đối với thân, lớn đối với nhỏ, dài đối với ngắn, sống đối với chết, có đối với không Tất cả sự vật đều do đối đãi với nhau mà thành nên đều vô ngã, đều không có tự tính: Thân vô ngã, tâm vô ngã, cảnh vô ngã

Với nguyên lý cơ bản trên đây, Đức Phật trình bày những vấn đề về nhân sinh: Con người từ đâu mà có? Con người được sinh ra như thế nào? Cuộc đời con người ra sao? Con đường giải thoát cho con người ?

Khi trả lời cho câu hỏi "Con người do đâu mà sinh ra?" Phật xác định con người là một chỉnh thể vũ trụ, là một tiểu vũ trụ, là kết quả của sự kết hợp giữa danh và sắc Nghĩa là con người có đầy đủ cả hai phần sinh lý và tâm lý:

Cái ta sinh lý tức là thân (gọi là sắc uẩn)

Cái ta tâm lý tức là tâm (bao gồm thọ, tưởng, hành, thức)

Trang 26

Theo Kinh "Trung A Hàm", con người sinh lý chỉ là sự kết hợp của bốn yếu tố vật chất, bốn đại là: địa, thủy, hỏa, phong Các chất cứng, đặc, lỏng, chất sinh ra nhiệt và những rung động như hơi thở ra, sự hút không khí vào

khi kết hợp lại tạo thành sắc thân con người (cái ta sinh lý) Khi chúng tách

rời nhau trở về thể của nó thì không còn gì ở lại để có thể gọi là con người được nữa nên cái mà ta gọi là con người sinh lý chỉ là một giả tướng, một nhất hợp tướng mà thôi

Còn cái ta tâm lý là gì ?

Theo Đức Phật, cái ta tâm lý bao gồm thụ, tưởng, hành, thức Khi sắc thân con người được tạo thành thì lục căn (nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà sinh ra lãnh thọ (cảm giác) Sự cảm thụ đó sinh ra mọi ấn tượng, mọi cảm giác sướng, khổ, buồn, vui (tưởng) Sau khi tiếp xúc với cảnh vật sẽ tạo nên sự thay đổi biến chuyển của tâm niệm, sinh lòng ham muốn hay ghét giận (hành) và cuối cùng là sự xuất hiện hiểu biết, phân biệt sự vật (ý thức) Đó chính là thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn Như vậy, mọi cảm giác nhận thức và suy tưởng - tóm lại

là những hoạt động tinh thần của con người, đều phụ thuộc vào các giác quan

và bộ não Mọi sự hoạt động tinh thần, mà không có giác quan, nhất là không

có bộ não thì không thể có được

"Thân thể người ta ví như một đám tro hồng nóng bỏng, mà cái lò lửa làm tro nóng chính là tinh thần người ta Cái tinh thần sẽ bị hủy đi khi cái thân

ta bị hủy, cũng như ánh sáng của cây nến bị tắt khi cây nến hết" [9, 81]

Như vậy, Đức Phật cho rằng con người bao gồm có hai phần vật chất và tinh thần kết hợp với nhau Nhưng con người không phải tự nhiên mà sinh ra Con người là một pháp duyên sinh, con người sinh ra là do nhân duyên hòa hợp và thức chuyển biến mà thành Phật phân tích có mười hai nhân duyên là:

Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc

Trang 27

duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thụ, Thụ duyên ái, ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh duyên Lão, Tử Các yếu

tố vật chất khi hội đủ nhân và có duyên cần thiết sẽ hợp thành những thực thể hữu hình (thân xác con người) gọi là "sắc" và có "tâm" (ý thức) thì con người sống, hoạt động (tồn tại) Theo kinh "Đại Trương Duyên" nếu không có thức thì thân ngũ uẩn không thể hình thành Mặt khác khi nhân duyên tan rã thì con người cũng không còn (chết đi) Sự tồn tại hữu hình của con người có ý thức chỉ là tạm thời (sắc sắc - không không) trong vòng luân chuyển liên tục của

vô số nhân và trùng trùng duyên khởi

Với cách lập luận trên, đạo Phật đã chứng minh con người sinh ra là do nhân và duyên, không có một đấng tối thượng siêu nhiên nào tạo ra con người, cũng như con người không phải tự nhiên mà sinh ra Con người sinh ra

là do nhân duyên, nhân duyên hòa hợp thì con người sinh, nhân duyên tan rã thì con người diệt Có thể nói yếu tố vô thần của đạo Phật thể hiện ở đây

Khi trả lời câu hỏi: "Con người chết rồi đi đâu?", Đức Phật chỉ rõ: Con người là một pháp duyên sinh, là sự kết hợp động của ngũ uẩn Vì vậy khi con người chết (ngũ uẩn tan rã) thì không còn cả thể xác lẫn linh hồn Phật đã phủ nhận tư tưởng kinh Upanishad cho rằng có một linh hồn bất tử (linh hồn vũ trụ tối cao) tồn tại vĩnh viễn Phật cho rằng chỉ có sự kết hợp mới của ngũ uẩn, mà động lực là nghiệp lực

Vậy nghiệp lực là gì ?

Theo đạo Phật quan niệm trong suốt một đời người, tất cả những hoạt động về thân thể, về lời nói, về ý nghĩ đều huân tập nơi thức tâm, gọi là nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) và kết quả của nghiệp ấy gọi là nghiệp báo

Trong thời gian ngũ uẩn kết hợp (người), các hành động thiện ác được thực hiện, Phật gọi là con người gây nghiệp: Nghiệp thiện hay nghiệp ác Con

Trang 28

người sống một thời gian rồi chết Khi chết ngũ uẩn tan rã (cả thể xác và linh hồn), nhưng nghiệp do con người tạo ra thì vẫn còn và tác hợp đưa đến một thể hợp mới của ngũ uẩn cho kiếp sau Tùy theo nghiệp thiện hay nghiệp ác

mà sự kết hợp mới đó sẽ theo một trong sáu con đường (lục đạo): trời, người, Atula, địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh; cứ như thế mãi không bao giờ thoát ra

khỏi, không bao giờ ngừng nghỉ, như chiếc bánh xe quay tít Đó là luân hồi Như vậy, nghiệp là một động lực, là những hạt giống gây ra một kết hợp mới

của ngũ uẩn cho kiếp sau Do đó, chỉ có một sự kết hợp mới của ngũ uẩn

được gây ra bởi một nghiệp lực chứ không có linh hồn bất tử chuyển từ kiếp này sang kiếp sau Mặc dù chúng sinh luân hồi trong lục đạo, nhưng đạo Phật quan niệm con người là một sinh vật tương đối hoàn bị hơn cả trong các loài chúng sinh về tổ chức cơ thể và khả năng tư duy nên trong Kinh "Hoa Nghiêm" có câu: "Nhân thị tối thắng" nghĩa là: Con người là hơn cả

Chỗ khác Phật lại nói: "Nhất thất nhân thân, vạn kiếp nan phục"

Nghĩa là: Một khi mất thân người thì vạn kiếp khó mà trở lại làm người Chính vì lẽ đó, Phật khuyên con người hãy tạo nghiệp thiện hoặc đã trót tạo nghiệp ác thì cần phải sám hối và tu hành để chuyển nghiệp, hy vọng kiếp sau sẽ được trở lại làm người

Theo Phật giáo, con người là một pháp do duyên sinh tạo nên Cho nên con người cũng không nằm ngoài sự chi phối của quy luật Vô thường Trong đời một con người từ lúc sinh cho đến lúc diệt, thân sinh lý và thân tâm lý đã biến đổi không ngừng: sinh - lão - bệnh - tử Cái Ta ở sátna trước đã không phải là cái Ta ở sátna sau, nhưng cũng không khác với cái Ta trước đó Đã có đổi thay tất phải có lúc tiêu diệt, không ai có thể dừng được sự thay đổi nhanh chóng của thân Sự tồn tại của sắc thân con người mỏng manh tạm bợ như hơi thở Một hơi thở ra mà không hít vào, tức là đời sống của thân không còn, giờ tan rã sắp đến, nên có câu: "Nhân mạng tại hô hấp gian" Không chỉ sắc thân

Trang 29

con người luôn biến chuyển; thụ, tưởng, hành, thức cũng biến động không ngừng Từng phút, từng giây, từng sátna, ta có những cảm giác mới, những nhận thức mới, những suy tưởng mới Con người sinh ra rồi lại chết đi để một sinh linh mới ra đời Khi trả lời câu hỏi: "Đời người ta dài bao nhiêu?" Phật cho rằng: "Đời người dài một niệm" Một niệm khởi lên rồi diệt đi, thế là một đời người hết Một niệm khác khởi lên, tức là một đời người khác đời người trước tiếp tục Sự sống và chết tiếp diễn liên tục nối tiếp nhau bất tận như trên một cái vòng tròn theo quy luật luân hồi Hiểu theo Phật, chết không phải là hết, chết là điều kiện cho một cái sinh sắp tới Khi chết ngũ uẩn tan rã phân tán, nhưng nghiệp của con người vẫn tiếp tục chi phối, khi gặp một điều kiện nhân duyên thuận lợi con người lại được tái tạo thành một sinh linh mới

Từ quan điểm Vô thường về con người, đạo Phật đi đến phủ nhận sự tồn tại của cái Ngã (cái tôi, cái Ta của con người) Con người là kết quả của

sự kết hợp giả tạm của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nhưng Phật lại cho rằng tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong vốn là không, và ngũ uẩn cũng chẳng

có Ngũ uẩn tụ hợp sẽ sinh ra con người, ngũ uẩn ly tán thì con người sẽ chết cho nên cái Ta chỉ là một giả tướng, một nhất hợp tướng mà thôi chứ không

có cái Ta thực tướng, cái Ta bất biến, cái Ta trường tồn Sắc thân con người

do cha mẹ sinh ra, do tứ đại, ngũ uẩn hợp thành, là cái thân hiện hữu trong thế giới nhưng chỉ là ảo ảnh Phật nói:

"Sắc đã được cái vô ngã (tứ đại) làm cho sinh khởi; từ đâu là ngã được? Sắc

đã được cái vô thường làm cho sinh khởi; từ đâu mà thường được?" [65, 159]

Quan điểm Vô ngã của đạo Phật đã phủ nhận sự tồn tại đích thực của chính bản thân con người Như vậy, theo Đức Phật, cái Ta là giả tạm, là không thường còn Nhưng tại sao con người lại có cảm giác về sự bất biến, trường trụ của thân ta ? Sở dĩ ta có cảm giác đó là do các giả tướng diễn ra liên tục, nối tiếp nhau với tốc độ rất nhanh đến nỗi ta không nhận thức kịp và

Trang 30

tưởng là bất biến Vì chấp cái "Ta" thường còn, bất biến, cho nên đến phút cuối cùng của đời người, con ngưòi vẫn còn tham vọng, cố bám lấy cái Ta, cái giả tưởng đó, có nhiều dục vọng, vị kỷ Vì vậy con người không thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, làm cho sinh sinh tử tử không bao giờ ngừng Chấp ngã, chấp có cái Ta thường còn là nguồn gốc của vô minh, mà vô minh là đầu mối của luân hồi sinh tử, sinh ra đau khổ cho con người

Dựa trên nguyên lý duyên sinh, Phật giáo khi trình bày về vấn đề: "con người từ đâu sinh ra?" và "con người được sinh ra như thế nào?" Đã nêu ra nhiều luận điểm triết học thâm trầm sâu sắc phủ nhận vai trò của một đấng siêu nhiên tối cao trong việc sáng tạo ra con người, khi cho rằng con người là kết quả của sự kết hợp của ngũ uẩn Những tư tưởng "vô thường", "vô ngã" đã chứa đựng những yếu tố biện chứng khi xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình vận động của nó, thể hiện một sự nhận thức có chiều sâu Ở đây cũng bộc lộ quan điểm biện chứng không triệt để của đạo Phật khi tuyệt đối hóa sự vận động biến đổi đi đến phủ nhận sự tồn tại hiện thực của con người, sự vật (coi con người, sự vật chỉ là giả tướng), dễ đem lại sự bi quan và thái độ buông xuôi cho con người

Phật giáo không thừa nhận có "linh hồn bất tử" Tuy khác với các tôn giáo khác khi cho rằng linh hồn cùng với thể xác đều tan rã khi con người đã chết, tất cả đều trở về với những yếu tố ngũ uẩn ban đầu, song tư tưởng về sự đền bù hư ảo về một kiếp sau của vòng luân hồi vô tận có sự phán xét công minh của nghiệp báo và báo ứng, v.v vẫn là "thuốc phiện" cho nỗi bất lực của con người hiện thực trong đời sống xã hội ở trần gian

1.2.2 Quan niệm về cuộc đời con người

Toàn bộ quan niệm về cuộc đời con người được Đức Phật trình bày trong giáo lý Tứ diệu đế và học thuyết thập nhị nhân duyên Tứ diệu đế là bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật sau khi thành đạo tại vườn Lộc Giã cho

Trang 31

năm tỷ khưu trước khi đi theo Phật – Thập Nhị nhân duyên - Học thuyết nhân sinh mang tính nhân bản - phủ nhận vai trò của Thượng đế, là giáo lý đặc biệt

để xác định sự khác biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, giáo lý này là cốt lõi của nhân sinh quan Phật giáo

Cuộc đời con người qua giáo lý Tứ Diệu Đế:

Theo lời Đức Phật khi bàn về cuộc đời con người đã xuất phát từ Khổ

đế (Dukkha Arya Satya): "Ta chỉ nói khổ và con đưòng diệt khổ" [60, 272]

Phật giáo quan niệm cuộc đời con người là đau khổ, khổ đau là tất yếu,

là chân lý Đức Phật hết sức rung động trước những đau khổ của loài người, cho rằng:

"Nước mắt của chúng sinh trong 3000 thế giới còn nhiều hơn nước bể ở bốn đại dương"

Phật nêu về những nỗi khổ mà con người phải chịu đựng trong cuộc đời của mình:

"Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi là khổ, ưu não

là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly khổ, cầu không được là khổ Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ"

Trong kinh Phật nói về khổ nạn có thể chia theo hai tiêu chí: về mặt thể chất và về mặt tinh thần Sự khổ nạn về thể chất là khổ nạn do sinh nở, tuổi già, bệnh tật và chết

Sinh khổ: đã có sinh là có khổ, vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô

thường chi phối, nên có khổ Khi sinh ra, có một cơ thể sinh lý có hình, có tướng nên phải chịu đựng và chống lại nóng lạnh, tìm cách duy trì cái thân tứ đại, phải đối phó với mọi tai nạn do thiên nhiên hay do con người gây ra, nên suốt đời phiền não, đau khổ

Lão khổ: Con người mong muốn trẻ và khỏe mãi nhưng cái già cứ đến

Cái già tiến đến đâu thì sự suy yếu, tàn lụi chế ngự đến đấy làm người ta khó chịu, làm việc gì cũng rất nhọc sức khiến cho con người phiền não, đau khổ

Trang 32

Bệnh khổ: Khi bị bệnh hành hạ, thân thể bị suy nhược, các căn mỏi mệt

dẫn đến trí lực giảm xúc, con người phiền não, đau khổ

Tử khổ: là cái khổ khi người ta chết, đây là giai đoạn tan rã tiêu mất của

một chu kỳ phát triển Mọi người đều phải chết, dù sớm hay muộn Người sắp chết mà biết mình sắp chết thì tâm lý cũng đầy dao động, bi thương tương tự Ở đây, ta thấy rõ, chết thì không mấy đau khổ, nhưng ám ảnh của cái chết gây nên nhiều khổ đau hơn Con người càng muốn sống, ham sống thì lại càng sợ chết Chết có thể xảy đến bất cứ lúc nào, vì bất cứ lý do nào, do đó mà ma lực ám ảnh của nó lại càng lớn hơn, kéo dài suốt cuộc sống Đó là khổ đau về cái chết

Trên đây là bốn cái khổ sinh lý, cái khổ về thể chất mà bất cứ ai cũng gặp Những khổ nạn này là một phần không thể thiếu của cuộc sống con người cho dù cuộc sống chúng ta đã sung sướng hay tranh đấu như thế nào, khổ nạn do sinh nở, tuổi già, bệnh tật và sự chết là hoàn toàn không thể tránh khỏi Ngoài những khổ nạn về thể chất còn có những khổ nạn về tinh thần:

Sở cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa

thích Mong cầu khát vọng hết cái này đến cái khác Mong cầu được thì lo lắng giữ lấy mãi, chỉ sợ nó mất đi; mong cầu chưa được hay không được thì phiền não Mong cầu được rồi, đến khi mất thì luyến tiếc phiền não

Ái biệt ly khổ: Những người yêu thương nhau, gắn bó với nhau mà phải

xa nhau, sự cách biệt, những chia ly đã đưa con người vào thế giới đau khổ, bất hạnh, nhớ nhung, phiền não

Oán tắng hội khổ: Những người ghét nhau, căm thù nhau mà vẫn phải

sống chung với nhau, những gì mình ghét bỏ mà phải ôm ấp, nắm giữ, gặp mặt thì sẽ làm cho mình thất vọng, khó chịu, phiền bực, đó là đau khổ

Ngũ thủ uẩn khổ: Người thế gian bị ngũ uẩn che lấp trí tuệ phải chịu cái

khổ luân hồi trong vô lượng kiếp, chịu vô lượng đau khổ

Trang 33

Vì vô minh, con người chấp thân sắc uẩn, chấp cảm thọ, tư duy hiểu biết, là của mình, là mình, là tự ngã của mình nên khi chúng thay đổi, biến dịch thì thấy đau khổ Người thế gian bị ngũ uẩn che lấp trí tuệ phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp, chịu vô lượng đau khổ nên gọi là ngũ thủ uẩn khổ

Những khổ đau về thể chất và tinh thần trên được đan lại với nhau trong cuộc đời chúng ta Nói cuộc đời con người là khổ đau không có nghĩa là con người không có hạnh phúc hay thích thú trong cuộc đời Chúng ta có thể hưởng niềm hạnh phúc, tuổi trẻ và sức khỏe Tuy vậy, những niềm hạnh phúc này, theo Phật, không trường tồn, không sớm thì muộn chúng ta sẽ phải chịu khổ nạn

Qua sự phân tích trên, ta thấy quan niệm cơ bản nhất của đạo Phật về cuộc đời con người đó là sự đau khổ Đức Phật phân tích những nỗi đau khổ

đó dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng mới thể hiện được cái khổ đau về mặt tâm sinh lý của con người chứ chưa phân tích được sự khổ đau của con người bắt nguồn từ những nguyên nhân trong đời sống xã hội Chính vì vậy

mà phương pháp thoát khổ, vượt qua khổ trong Phật giáo cũng mang nặng tính chất tâm lý Cần thấy nếu thổi phồng, nhấn mạnh một lĩnh vực tâm lý, tinh thần của con người thì sẽ đem lại một cách nhìn phiến diện về con người

và xã hội, không thấy được nguyên nhân xã hội của đau khổ nên đạo Phật

xa lánh các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội Tuy vậy, hơn tất cả các học thuyết phương Đông khác, Phật giáo đã đi sâu phân tích mặt phát triển tự nhiên của con người (Sinh - Lão - Bệnh - Tử) chỉ ra đó là sự phát triển tất yếu của cơ thể sống con người mà nếu ai nhận thức được thì sẽ không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời, thậm chí khi đứng trước cái chết họ không khiếp sợ, bạc nhược

Trang 34

Theo quan niệm của đạo Phật, cỏc sự vật, vạn phỏp trờn thế giới đều bị chi phối bởi quy luật nhõn - quả (theo nguyờn lý duyờn sinh) Vỡ vậy, sau khi nhận ra những nỗi khổ đau mà con người phải chịu đựng trong cuộc đời, Đức Phật đi tỡm nguyờn nhõn gõy ra sự khổ đau đú và trỡnh bày trong phần Tập đế Dukkha Samudaya Arya Satya)

Triết lý Phật giỏo cho rằng nguyờn nhõn của nỗi khổ chớnh là do lũng ỏi dục của con người gõy nờn Nhưng ỏi dục lại bắt nguồn từ sự vụ minh, từ cỏi tõm vọng động, mờ lầm của chớnh con người Con người khụng nhận thức được bản chất của thế giới này và ngay cả thõn xỏc con người cũng đều do lý nhõn duyờn hoà hợp mà biến hiện và thay đổi vụ thường Con người muốn tồn tại mói nhưng thực tại cứ biến dịch Con người muốn trường tồn nhưng thực tại và cuộc đời cứ luõn chuyển trong vũng: Sinh - Lóo - Bệnh - Tử, khụng ngừng nghỉ Vỡ thế con người ta sinh ra vọng tưởng, chấp ngó, vị kỷ, tham dục, chiếm đoạt, gõy nờn những nỗi khổ triền miờn trong cuộc đời

Cuộc đời con người qua giỏo lý Duyờn Sinh:

Giáo lý duyên khởi hay duyên sinh mà đức Phật đã chứng ngộ d-ới cội

Bồ Đề sau 49 ngày t- duy thiền định (phụ lục 1), là giáo lý đặc biệt để xác

định sự khác biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác Giáo lý này là cốt lỗi của nhân sinh quan Phật giáo, nói lên sự hình thành của con ng-ời và tự nhiên,

về bản chất của khổ sinh, khổ diệt, nó là ý nghĩa mang tính nhân bản của Phật giáo.Để hiểu đ-ợc điều đó cần phải tìm hiểu lý duyên khởi là gì qua định nghĩa về duyên khởi và từng chi phần của 12 duyên khởi

Theo Kinh Pàli, Đức Phật thuyết minh về duyên khởi nh- sau:

"Do Vô minh, Hành sinh; do duyên Hành, Thức sinh; do duyên Thức, Danh - Sắc sinh; do duyên Danh - Sắc, Lục nhập sinh; do duyên Lục nhập, Xúc sinh; do duyên Xúc, Thọ sinh; do duyên Thọ, ái sinh; do duyên ái, Thủ sinh; do duyên Thủ, Hữu sinh; do duyên Hữu, Sinh sinh; do duyên Sinh, Lão

Trang 35

tử sinh; do duyên Lão tử sầu-bi-khổ u-não sinh Nh- vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khổ uẩn này Này các tỳ kheo, đây gọi là Duyên khởi"[24, 111]

‘‘Nh-ng từ sự tan biến và chấm dứt hoàn toàn Vô minh, Hành chấm

dứt; từ sự chấm dứt của Hành, Thức diệt, do Thức diệt mà Danh sắc diệt,…;

do Sinh diệt mà Lão-tử-sầu-bi-khổ u não diệt Nh- vậy là sự đoạn diệt toàn

bộ khổ uẩn này‛[24, 119]

Do duyên mà các pháp sinh khởi, do duyên mà các pháp đoạn diệt Vì vậy mà nguyên lý duyên khởi đ-ợc Kinh Pàli tóm tắc nh- sau :

‘‘Do cái này có mặt nên cái kia có mặt Do cái này không có mặt nên

cái kia không có mặt Do cái này sinh nên cái kia sinh Do cái này diệt nên cái kia diệt‛[24, 119]

Giáo lý duyên khởi là một triết lý đặc thù riêng của Phật giáo, có thể nói đó là một chân lý bất tận của thời gian và không gian, nó gửi một thông

điệp nhân bản rõ nét cho toàn thể nhân loại, điều này đ-ợc thể hiện rõ nét qua lời giải thích về lý duyên khởi của Đức Phật:

‘‘ …Và này các tỳ kheo, thế nào là lý duyên khởi là gì? do duyên sinh, này

các tỳ kheo, già chết khởi lên Dẫu các Nh- Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là giới tánh ấy, pháp trú tánh ấy, pháp quyết định tánh ấy, y duyên tánh ấy Nh- Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt định lý ấy Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt, Nh- Lai tuyên bố, tuyên thuyết, t-ờng thuyết, khai hiển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị nguyên

lý ấy, Ngài dạy do duyên sinh mà có Lão tử,…, do duyên Vô minh mà có Hành‛[24, 51-52]

“Do duyên vô minh, này các tỳ kheo, có các hành Nh- vậy này các tỳ

kheo, ở đây là nh- tánh, bất h- vọng tánh, bất dị nh- tánh, y duyên tánh ấy Này các tỳ kheo đây gọi là lý duyên khởi”[24, 52]

Trang 36

‘‘… Và này các tỳ kheo, các pháp do duyên mà sinh là gì?Lão tử là vô

th-ờng, đ-ợc tạo thành là do duyên mà sinh, là hoại dần, là tan rã, là đoạn diệt Cũng thế, Sinh, Hữu, Thủ,…, Hành và vô minh Này các tỳ kheo đây gọi

là các pháp do duyên mà sinh….[24, 52-53]

Qua những lời thuyết minh về duyên khởi của Đức Phật cho chúng ta hiểu đ-ợc rằng tất cả các pháp là do duyên sinh Thực tế, chỉ có mặt của các duyên mới sinh ra pháp nên nói nó là vô ngã Con ng-ời cũng là một hiện hữu

“duyên - sinh” nên cũng là vô ngã Theo quan niệm của Phật giáo thì con ng-ời và thế giới chỉ là tổng thể n-ơng tựa vào nhau của Ngũ uẩn (Sắc, Thọ, T-ởng, Hành, Thức) hay tứ đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong) Ngũ uẩn là con ng-ời và Ngũ uẩn cũng là thế giới Thế giới này cũng là thế giới của Duyên Khởi Tại sao gọi là Duyên Khởi? Vì hết thảy mọi sự vật hiện t-ợng kể cả con ng-ời đều nhờ các nhân tố n-ơng vào nhau (Duyên) mà tạo thành (Sinh),

Những ai thấy rõ sự thật duyên khởi này thì thấy các pháp; những ai thấy rõ các pháp thì thấy rõ nguyên lý Duyên khởi; và những ai thấy rõ các

pháp thì thấy chính đức Nh- Lai, đức Phật lại dạy: “Ai thấy duyên khởi thì

thấy pháp, ai thấy pháp thì thấy Duyên khởi Những pháp này thì do duyên tạo ra: đó là năm thủ uẩn Bất cứ sự ham muốn dục lạc, -a thích nắm giữ nào

đối với năm thủ uẩn đều là sự sinh khởi của khổ đau Bất cứ sự chế ngự tham

ái, chấp thủ, sự từ bỏ tham ái và chấp thủ nào đối với Năm thủ uẩn đều là sự

đoạn diệt khổ đau Cho đến nh- thế này, này các Tỳ kheo vị Tỳ kheo đã làm

đ-ợc nhiều….[65,49]

Nh- vậy, sự đau khổ và hạnh phúc chính là sự sinh khởi hay chấm dứt tham ái đối với năm thủ uẩn Và một điểm nữa, “Thấy Duyên Khởi” là ý nghĩa kết quả của việc chế ngự lòng tham ái và chấp thủ Năm thủ uẩn đòi hỏi một sự giáo dục, huấn luyện và tu tập tâm thức Để hiểu rõ hơn về sự vận hành của tâm thức tr-ớc tiên chúng ta cần nắm vững từng chi phần trong duyên khởi M-ời hai chi phần của duyên khởi cũng chính là sự hình thành của một con ng-ời

Trang 37

Vô minh: Trong thập nhân duyên, vô minh là căn bản Vô minh nghĩa là

không biết đ-ợc đúng sai, do đó mà sinh ra mê lầm, thật cho là giả, giả cho là thật, điên đảo h- vọng chấp ngã, chấp pháp, phân biệt mình, ng-ời; rồi thuận theo cảnh thuận nghịch mà khởi lên hạnh phúc hay phiền não, đây là chi thứ nhất trong thập nhị nhân duyên

theo cảnh thuận nghịch mà có đ-ợc những kết quả hạnh phúc hay phiền não

nên gọi là “Hoặc” Từ mê hoặc mà tạo tác ra các nghiệp, hoặc thiện, hoặc ác

Sự tạo tác ấy gọi là “Hành”, đây là chi thứ hai trong thập nhị nhân duyên

ác dần dần huân tập chứa nhóm thành ra “nghiệp thức” Nếu làm thiện thì huân tập thành nghiệp thức thiện, và ng-ợc lại, nếu làm ác thì huân tập thành nghiệp thức ác Nghiệp thức này theo chỗ huân tập thuần thục thành thói quen

mà ng-ời ta th-ờng gọi là quán tính hay tính nết Nghiệp thức này khi đã thác sinh vào thai mẹ sẽ trở thành nghiệp thức của thai nhi, đó gọi là món “Thức”,

đây là chi thứ ba trong thập nhị nhân duyên

tâm thức cùng nhục thể hoà hiệp vào nhau gọi là “Danh sắc”, Danh là tâm thức hay nghiệp thức; Sắc là nhục thể, đây là chi thứ t- trong thập nhị nhân duyên

tai, mũi, l-ỡi, thân và tâm thức, là nơi đón nhận của sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp nên còn gọi là “Lục nhập”, đây là chi thứ năm trong thập nhị nhân duyên

Xúc: Khi đến hỳ hạn sinh, em bé sẽ ra khỏi bào thai, sáu căn tiếp xúc

với sáu trần, biết nóng, biết lạnh, đau, êm…nên gọi là “Xúc”, đây là chi thứ sáu trong thập nhị nhân duyên

Thọ: Từ sự tiếp xúc ấy mà có cảm xúc rồi tâm dần dần sinh niệm phân

biệt, từ đó có những cảm giác vui, khổ…gọi là “Thọ”, đây là chi thứ bảy trong thập nhị nhân duyên

Trang 38

Ái: Từ sự cảm thọ vui, khổ, khởi niệm phân biệt, đối với những cảm thọ

khổ thì khởi lên niệm ghét bỏ, đối với những cảm thọ vui thì khởi lên niệm thích thú, ưa mến, từ sự chấp đắm ấy mà sinh ra luyến tiếc gọi là “ái”, đây là chi thứ tám trong thập nhị nhân duyên

Thủ: Vì tham ái nên cố công tìm cầu nắm lấy cho bằng đ-ợc, khi có

được rồi thì cố giữ những cái mà mình ưa thích đó nên gọi là “Thủ”, đây là chi thứ chín trong thập nhị nhân duyên

Hữu: là hiện hữu, để cho thoả mãn những chỗ nhiễm tr-ớc, -a thích của

“ái” và “Thủ” nên phải hành động nh- thế nào đó để có đ-ợc điều đó, vì thế

mà nó còn gọi là tuyến trình tương duyên để hiện hữu nên còn gọi là “Hữu”,

đây là chi phần thứ m-ời trong thập nhị nhân duyên

giống của sự sinh, đã có “Hữu” thì tất nhiên phải có “Sinh” Sinh ở đây là sự thành tựu các bộ phận cấu thành, là sự tạo ra, là sự xuất hiện, đây là chi thứ m-ời một trong thập nhị nhân duyên

Lão tử: Đã có sinh thì có sự tồn tại và phát triển, sự phát triển đó đến

một giai đoạn sẽ khác đi, nó khác đi đến thời kỳ sẽ suy nh-ợc, tàn lụi, tuổi thọ lớn, tan rã tiêu mất, tử vong nên gọi là “Lão Tử” Với sinh mạng con người, lão tử đ-ợc biểu hiện d-ới các hiện t-ợng: răng long, tóc bạc, da nhăn, các cơ quan tri giác suy yếu và chết, đây là chi thứ m-ời hai trong thập nhị nhân duyên

Duyên khởi cũng giải thích rất rõ ràng sự hình thành con ng-ời từ quá khứ đến hiện tại và t-ơng lai sau này đều quyết định bởi nghiệp và luật nhân quả

Trong thập nhị nhân duyên, “Vô minh” thuộc về “Hoặc” và “Hành” thuộc về “Nghiệp” Hai chi phần này thuộc về nhân quá khứ tạo ra quả hiện tại là “Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, ái, Thủ, Hữu”

Do quả “khổ” hiện tại nói trên mà khởi ra “Hoặc” là ái, Thủ và tạo nghiệp là Hữu để làm nhân cho quả “Khổ” đời sau là Sinh và Lão tử ở tương lai

Trang 39

Nh- vậy, từ nhân quá khứ, sang quả hiện tại, làm lại nhân cho quả t-ơng lai, ba đời cứ nối tiếp nhau xoay vần mãi mãi không dứt, nh- một bánh

xe lăn tròn, lên xuống, xuống lên không nghỉ mà trong ngôn từ của đạo Phật

thường gọi là “kiếp luân hồi” (phụ lục 3)

Cứ đó mà suy ra thì biết rằng, con ng-ời chẳng những sống một đời trong hiện tại này, mà về quá khứ tr-ớc kia đã trải qua nhiều đời sống Cho

đến trong t-ơng lai sau này cũng sẽ còn vô l-ợng đời sống nữa

Nh- thế sống chết nối tiếp nhau không bao giờ dứt, nh- những làn sóng, cái này tan đi để hiệp lại cái khác không bao giờ hết nếu còn gió Con ng-ời, nếu gió vô minh còn thổi thì dòng sinh mạng còn l-u chuyển

Qua 12 chi phần của Duyên khởi ta thấy rằng Vô minh là suối nguồn của dòng đời khổ đau Nh-ng Vô minh cũng là duyên mà sinh chứ không phải

là nguyên nhân đầu tiên gây ra khổ đau hay là chuỗi mắc xích đầu tiên trong

12 chi phần của Duyên khởi Đức Phật dạy: ‘‘Này các tỳ kheo, điểm khởi đầu

của Vô minh là không thể biết đ-ợc để nói rằng: tr-ớc đó Vô minh không có mặt; Vô minh có mặt từ đó Này các tỳ kheo, lời nói này đ-ợc tuyên bố Tuy nhiên điều này là biết đ-ợc: Vô minh là do duyên này duyên kia mà sinh khởi’’[65, 61]

Vì không biết rằng tất cả mọi hiện hữu trên thế gian này là do duyên mà sinh nên gọi là vô minh Từ sự vô minh này con ng-ời đi đến chấp thủ cái tự ngã: đây là cái tôi và đây là cái của tôi, tức sinh khởi vô minh và nuôi d-ỡng vô minh Do tà kiến và tà t- duy này con ng-ời đi tìm kiếm một sự thật về tự ngã của mình, và tìm kiếm nguyên nhân đầu tiên của thế giới (Vô minh) Chính cái ảo giác về cái hữu ngã đó làm giấy lên lòng tham ái, chấp thủ… Và

đó là động cơ cho các hành động của thân, miệng, và ý (Hành) Mỗi khi ý niệm về một tự ngã sinh khởi thì Thức có mặt Sự hiện hữu của Thức tất yếu

đòi hỏi sự có mặt của chủ thể nhận thức và đối t-ợng nhận thức (Danh sắc, Lục nhập) Khi căn, trần, và thức gặp gỡ nhau (Lục nhập), thì Xúc sinh khởi

Trang 40

Cảm thọ (Thọ) có mặt ngay khi căn, trần và thức giao thoa nhau Nh- thế, các chi phần duyên khởi: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc và Thọ cùng có mặt trong một quá trình vận hành của tâm lý

Cảm thọ bao gồm phản ứng của tâm lý, đó là ái hay sân hay si hoặc hai trong ba thứ ấy ái tự nó bao hàm chấp thủ Chúng là vô cùng và biểu hiện d-ới vô vàn hình thức bất tận Nói tóm lại, Một khi t- duy hữu ngã vận hành thì m-ời hai chi phần duyên khởi vận hành Các chi phần ấy đều vô ngã, vô th-ờng và dẫn đến khổ đau

Vì vậy, có thể nói rằng con ng-ời chẳng có gì khác hơn là sự vận hành của 12 chi phần duyên khởi dẫn đến khổ đau khi tâm con ng-ời bị t- duy hữu ngã chế ngự Nếu t- duy vô ngã hay tự nhìn thấy sự thật Duyên khởi vận hành thì sự vận hành này sẽ dẫn tới đoạn diệt của 12 chi phần ấy, hay sự đoạn diệt khổ đau Bấy giờ con ng-ời xuất hiện là con ng-ời của cái nhìn vô ngã và của hạnh phúc trong hiện tại

Con ng-ời và cuộc đời là hiện hữu của cấu trúc thập nhị nhân duyên, nên không hề có tự ngã độc lập th-ờng hằng Con ng-ời chính là chủ nhân của cuộc đời mình, bởi qua giáo lý về Duyên sinh mà Đức Phật đã thuyết minh cho ta thấy một điều rằng: Không thể tìm ra một đấng sáng tạo, một Brahman, hay một vị nào khác làm chủ vòng luân chuyển của đời sống; chỉ có những

hiện t-ợng diễn tiến tùy thuộc vào những điều kiện ‚Mọi giá trị trong cuộc

đời đều mang tính t-ơng đối, bởi cuộc sống là Duyên sinh, luôn trôi chảy và không thể nắm bắt‛[5, 21]

Khi thuyết minh về mười hai nhõn duyờn, Đức Phật luụn nhấn mạnh đến Vụ minh và ỏi thủ, bởi chớnh vụ minh là nguyờn nhõn của mọi khổ đau, cũn ỏi thủ trực tiếp gõy ra mọi vọng động Vả lại cỏi nhõn của khổ đau, theo Phật là do con người vụ minh khụng nhận chõn được duyờn khởi tớnh của hiện

hữu, từ đú lại sinh ra tham ỏi và chấp hữu

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Anh(1998), Báo người công giáo Việt Nam, số 27, ra ngày 4 tháng 07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo người công giáo Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Anh
Năm: 1998
2. Ban Tôn giáo Chính Phủ (2006), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính Phủ
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Ban Tôn giáo Chính Phủ (2005), Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, http://vietnamembasy.us/tintuc.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính Phủ
Năm: 2005
4. Ban hoằng Pháp Trung Ương (2003), Phật học cơ bản, tập 1, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học cơ bản
Tác giả: Ban hoằng Pháp Trung Ương
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2003
5. Ban hoằng Pháp Trung Ương (2003), Phật học cơ bản, tập 2, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học cơ bản
Tác giả: Ban hoằng Pháp Trung Ương
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2003
6. Ban hoằng Pháp Trung Ương (2003), Phật học cơ bản, tập 3, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học cơ bản
Tác giả: Ban hoằng Pháp Trung Ương
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2003
7. Ban hoằng Pháp Trung Ương (2003), Phật học cơ bản, tập 4, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học cơ bản
Tác giả: Ban hoằng Pháp Trung Ương
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2003
8. Doãn Chính (1997), Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 1997
9. Nguyễn Văn Chế (1976), Những vấn đề cơ bản trong Phật học. Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: hững vấn đề cơ bản trong Phật học
Tác giả: Nguyễn Văn Chế
Năm: 1976
10. C.Mác và Pha.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 1
Tác giả: C.Mác, Pha.Ăngghen
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 1995
11. C.Mác và Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1980
12. Thích Minh Châu dịch (1993), Kinh Pháp Cú, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Pháp Cú
Tác giả: Thích Minh Châu dịch
Năm: 1993
13. Thích Minh Châu (2002), Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người
Tác giả: Thích Minh Châu
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2002
14. Diane Morgan (2006), Triết học và tôn giáo phương Đông, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học và tôn giáo phương Đông
Tác giả: Diane Morgan
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2006
15. Nhậm Kế Dũ (chủ biên) (1985), Tôn giáo từ điển, Thượng Hải thư xuất bản xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo từ điển
Tác giả: Nhậm Kế Dũ
Nhà XB: Thượng Hải thư xuất bản xã
Năm: 1985
16. Đại Tạng Kinh Việt Nam (2000), Kinh Tiểu bộ, tập 1, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tiểu bộ
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2000
17. Đại Tạng Kinh Việt Nam (2000), Kinh Tiểu bộ, tập 2, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tiểu bộ, tập 2
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2000
18. Đại Tạng Kinh Việt Nam (2000), Kinh Tiểu bộ, tập 3, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tiểu bộ, tập 3
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2000
19. Đại Tạng Kinh Việt Nam (2012), Kinh Trung bộ, tập 1, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Trung bộ, tập 1
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam
Năm: 2012
20. Đại Tạng Kinh Việt Nam (2012), Kinh Trung bộ, tập 2, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Trung bộ, tập 2
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w