1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng thân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đến đầu thế kỷ XX

94 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Lấy dân làm gốc” cũng là một bài học chính trị và lời dặn dò quí báu của ông cha ta thể hiện ở các triều đại tiến bộ trong lịch sử dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc, được

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ HƯƠNG

TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG LỊCH SỬ

TƯ TƯỞNG VIỆT NAM ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ

XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ HƯƠNG

TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG LỊCH SỬ

TƯ TƯỞNG VIỆT NAM ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC CỦA TƯ TƯỞNG THÂN DÂN Ở VIỆT NAM 7

1.1 Quan niệm về dân trong triết học Trung Hoa cổ đại 7

1.1.1 Khái niệm dân và tư tưởng “thân dân” 7

1.1.2 Quan niệm về dân trong học thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử 10

1.1.3 Quan niệm về dân trong học thuyết “pháp trị” của Hàn Phi Tử 12

1.2 Quan niệm về dân của Nho gia tiên Tần 14

1.2.1 Thái độ khác nhau về dân trong Nho gia tiên Tần 14

1.2.2 Nhận thức của Nho gia tiên Tần về vai trò của dân 18

1.2.3 Những nội dung “thân dân” của Nho gia tiên Tần 22

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ TƯ TƯỞNG NỔI BẬT VỀ THÂN DÂN TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM (QUA MỘT SỐ ĐẠI BIỂU TIÊU BIỂU) 36

2.1 Tư tưởng lấy dân làm gốc của Trần Quốc Tuấn 36

2.2 Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 39

2.2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 39

2.2.2 Nội dung tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 43

2.3 Tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh 52

2.4 Ý nghĩa của tư tưởng thân dân đối với việc xây dựng quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng ta hiện nay 62

2.4.1 Quan điểm “Lấy dân làm gốc” của Đảng 62

2.4.2 Sự kế thừa và phát triển những hạt nhân hợp lý trong truyền thống tư tưởng thân dân của Đảng ta hiện nay 71

2.4.3 Vận dụng quan điểm “Lấy dân làm gốc” trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay 75

PHẦN KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đánh giá về vai trò của dân và giải quyết mối quan hệ giữa những người cầm quyền với dân là một vấn đề luôn luôn được đặt ra và thể hiện những quan điểm rất khác nhau ở các chế độ, các thời đại

Truyền thống “thân dân”, “lấy dân làm gốc” là một tư tưởng tiến bộ đã có

từ hơn 2500 năm trước đây trong tư tưởng Nho giáo “Lấy dân làm gốc” cũng là một bài học chính trị và lời dặn dò quí báu của ông cha ta thể hiện ở các triều đại tiến bộ trong lịch sử dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc, được biểu hiện trong tư tưởng và hành động của nhiều vị vua anh minh thời Lý, Trần, Lê; của nhiều nhà tư tưởng như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, v.v….Đến chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm nhân dân là người chủ đất nước của Người là tiếp thu từ truyền thống dân tộc và từ tư tưởng dân chủ tư sản Pháp từ rất sớm Có thể nói rằng tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” là tư tưởng thể hiện những giá trị triết học và nhân văn sâu sắc và nhất quán trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người Quan điểm đó còn biểu hiện sự thấm nhuần quan điểm triết học Mác – Lênin về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân lao động, biểu hiện ở quan điểm nhân văn cao cả của Bác, luôn chăm lo xây dựng, bồi dưỡng giáo dục và phát triển nhân tố con người Đó chính là sự kế thừa và phát triển những giá trị

tư tưởng Triết học phương Đông, Việt Nam và thế giới trong thời đại mới

Tư tưởng “Lấy dân làm gốc” không chỉ đã trở thành nội dung, mục tiêu chủ yếu mà còn là cơ sở, là căn cứ để hình thành và triển khai đường lối cai trị, quản lý xã hội của các triều đại phong kiến Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước Ngày nay, việc phát huy tinh thần

“Lấy dân làm gốc” đã trở thành bài học quý giá cho Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo nhân dân thực hiện những mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 5

Đảng ta ngay từ khi mới thành lập, xuất phát từ lợi ích của dân đã gắn bó chặt chẽ với dân Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã thật

sự được nhân dân yêu mến, tin cậy và ủng hộ

Bài học “nước lấy dân làm gốc” được Đảng tổng kết trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12–1986) có giá trị vô cùng to lớn đối với sự nghiệp đổi mới của đất nước ta Đây chính là sự kế thừa tư tưởng “lấy dân làm gốc” của các nhà tư tưởng dân tộc, của Nguyễn Trãi, của chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là sự đúc rút từ lý luận và thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng

Sự nghiệp đổi mới xã hội hiện nay của chúng ta do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là công việc to lớn, lâu dài, không ít khó khăn gian khổ, nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Sự nghiệp ấy đòi hỏi hơn bao giờ hết, phải phát huy cao nhất sự sáng tạo cách mạng của quần chúng nhân dân lao động Chân lý “lấy dân làm gốc” tưởng như đơn giản, nhưng trên thực tế tổ chức thực tiễn cách mạng vẫn chưa phát huy được hết sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân lao động Do đó, việc quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Đảng vừa là mục đích, vừa là động lực để chúng ta nhanh chóng đạt tới thắng lợi các mục tiêu đổi mới xã hội Từ việc thấm nhuần tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Bác Hồ, của Đảng cộng sản Việt Nam mà chúng ta có những giải pháp hiện thực hóa nó bằng thực tiễn cách mạng

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tư tưởng thân dân trong lịch sử tư

tưởng Việt Nam đến thế kỷ XX” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ

Triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu tư tưởng về dân nói chung và tư tưởng thân dân nói riêng là một vấn đề lớn, đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Liên quan đến đề tài luận văn, có thể khái quát một số công trình tiêu biểu sau:

(1) Trong tác phẩm Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc (do các giáo

sư Ngô Vĩnh Chính, Vương Miện Quý chủ biên – NXB Văn hóa Thông tin,

Trang 6

1994) Các tác giả đã khẳng định tính nhân văn, nhân bản của Nho giáo Theo quan điểm của các tác giả này, Nho giáo luôn xem dân là rường cột của xã tắc, nhưng cũng đề cao một cách phiến diện việc giáo dục đạo đức nhân luân, coi thường lao động chân tay và không quan tâm đến việc dạy kỹ thuật lao động cho dân chúng

(2) Trần Trọng Kim trong tác phẩm Nho giáo (NXB Thành phố Hồ Chí

Minh, 1992), đã nhìn nhận Nho giáo không chỉ là học thuyết chính trị xã hội, học thuyết đạo đức mà còn là học thuyết triết học Tác giả đã trình bày nhiều phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong sự phát triển của chúng Bên cạnh đó, tác giả còn bàn đến nhiều nội dung, khía cạnh trong một số khái niệm

về dân, về vai trò của dân và một số nội dung trong tư tưởng thân dân của Nho giáo Đặc biệt trong tác phẩm này, tác giả hết sức đề cao những giá trị của Nho giáo trong bối cảnh mà đa số người Việt Nam lúc bấy giờ hoài nghi, xa lánh và ghét bỏ

(3) Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, (Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1993) do Nguyễn Tài Thư chủ biên, các tác giả đã phân tích sự phát triển của tư tưởng Việt Nam qua các thời kỳ (từ khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam đến cuối thế kỉ XVIII) Đặc biệt là từ chương XIV, các tác giả đã trình bày một cách khái quát về Nho giáo và tình hình chính trị – xã hội, văn hóa và tư tưởng thời Lý, Trần và Lê Sơ Bên cạnh đó các tác giả cũng phân tích quan điểm của các nhà tư tưởng Việt Nam như Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông

(4) Cuốn Học thuyết chính trị – xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của

nó ở Việt Nam (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIX) của tác giả Nguyễn Thanh

Bình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Nhìn nhận Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị – xã hội, tác giả đã trình bày một cách khái quát những nội dung chủ yếu trong học thuyết, những ảnh hưởng và vai trò của Nho giáo trong một số lĩnh vực chủ yếu của xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử, nhất là việc hoạch định đường lối cai trị và quản lý xã hội của giai cấp phong kiến Việt

Trang 7

Nam Khi phân tích một số biện pháp chủ yếu trong tư tưởng về đường lối đức trị của Nho giáo, tác giả đã chỉ ra và phân tích quan niệm Nho giáo, nhất là Nho giáo tiên Tần về vai trò của dân trong việc thực hiện đường lối đức trị Trong cuốn sách, tác giả khẳng định Nho giáo luôn quan tâm tới dân, đặc biệt đến vai trò của dân Tác giả còn cho rằng, theo các nhà Nho, có xác định được đầy đủ vai trò của dân mới xác định được địa vị xã hội của họ và định ra thái độ trách nhiệm của tầng lớp thống trị đối với họ

(5) Trong văn kiện của Đảng ta như: Nghị quyết Trung Ương 8 (khóa

VI) ra nghị quyết 8B (ngày 27/3/1990) quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, nhấn mạnh quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì

dân, Nghị quyết Trung ương 3 (khóa7), Đại hội VIII (1996), đại hội IX

(2001), đại hội X (2006) của Đảng, đại hội XI (2011) nhiều bài nói và viết của

các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước và các đoàn thể nhân dân (Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, ) nói về vai trò của dân, về mối quan hệ giữa Đảng và dân, và

về bài học “lấy dân làm gốc” trong sự nghiệp cách mạng và trong công cuộc đổi mới ngày nay

Ngoài những công trình nghiên cứu trên đây, liên quan đến nội dung đề

tài luận văn còn có những công trình nghiên cứu khoa học khác như: Một số

quan niệm về dân thời Lý – Trần của tác giả Vũ Văn Vinh đăng trên Tạp chí triết học, (số 01 – 1998), tr26 – 28; Tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi của tác giả Nguyễn Thu Nghĩa đăng trên Tạp chí triết học, (số 2 –1999),

tr.29 – 30; Hay Lịch sử triết học Phương Đông (gồm 5 tập) của Nguyễn Đăng Thục; Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam

hiện nay (Nguyễn Tài Thư chủ biên) và một số luận án, luận văn đã được bảo vệ

như: Quan niệm về dân và tư tưởng thân dân trong Luận ngữ , Mạnh Tử của

Hoàng Thị Bình; Từ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đến tư tưởng “Lấy

dân làm gốc” của Hồ Chí Minh, Đỗ Thị Hồng Thu, Khoa Việt Nam học –

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Tư tưởng về Dân trong Nho giáo tiên Tần và

Trang 8

ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam (từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV của

Trương Thị Thảo Nguyên, ngành Triết học…

Có thể thấy đề tài luận văn là một miền đất “quen mà lạ” “Quen” bởi đã

có những người đi qua để lại những lời bình luận, đánh giá bổ ích “Lạ” vì chưa

có ai đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng thân dân và sự kế thừa truyền thống này của Đảng ta

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn: Làm rõ sự phát triển của tư tưởng thân dân trong

lịch sử tư tưởng Việt Nam đến đầu thế kỷ XX và sự kế thừa quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn:

– Phân tích nguồn gốc và nội dung của tư tưởng thân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

– Làm rõ sự kế thừa, tư tưởng thân dân, “lấy dân làm gốc” của Đảng hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận

Quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử

Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp lịch sử – logic, phân tích, so sánh, tổng hợp

5 Cái mới của luận văn

– Khái quát và hệ thống hóa những tư tưởng chủ yếu về dân, vai trò của dân, quan điểm thân dân trong lịch sử tư tưởng dân tộc

Trang 9

– Nêu bật ý nghĩa sự kế thừa, phát triển tư tưởng thân dân trong lịch sử dân tộc trong việc xây dựng quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng Cộng sản Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Những phân tích, luận giải của luận văn nhằm làm sáng tỏ những giá trị của tư tưởng thân dân trong lịch sử dựng nước và ý nghĩa của nó đối với việc xác lập quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng và chính phủ nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của quần chúng nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn hiện nay

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy bộ môn: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn giúp cho đội ngũ cán bộ đảng viên, các cấp ủy Đảng và chính quyền thấm nhuần hơn nữa quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng và phát huy mạnh mẽ vai trò tích cực của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết

Chương 1 Nguồn gốc của tư tưởng thân dân ở Việt Nam, với 2 tiết

Chương 2 Một số tư tưởng nổi bật về thân dân trong lịch sử tư tưởng

Việt Nam (Qua một số đại biểu tiêu biểu), với 4 tiết

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC CỦA TƯ TƯỞNG THÂN DÂN Ở VIỆT NAM

1.1 Quan niệm về dân trong triết học Trung Hoa cổ đại

1.1.1 Khái niệm dân và tư tưởng “thân dân”

Để có thể nắm bắt được đầy đủ quan niệm về dân trong triết học Trung Hoa cũng như những nội dung liên quan đến dân ở thời đại ngày nay, chúng ta cần xem xét nội hàm khái niệm Dân và tư tưởng thân dân Dân là một khái niệm rất cơ bản trong lịch sử tư tưởng chính trị – xã hội Khái niệm này đã xuất hiện

từ xa xưa, được sử dụng rất phổ biến trong các di sản văn thơ của ông cha ta và trong văn học dân gian qua các thời kỳ lịch sử Nó còn được dùng thường xuyên trong ngôn ngữ hiện đại đời thường, trong báo chí và cả trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

Tuy nhiên để làm rõ được một khái niệm, nhất là một khái niệm có nội hàm rộng như khái niệm “Dân” là không hề đơn giản Trước tiên, tác giả sử dụng cuốn từ điển Triết học và từ điển tiếng Việt là những cuốn sách không xa

lạ gì với những người nghiên cứu Triết học và Khoa học xã hội để thống nhất định nghĩa về “dân” Trong cuốn từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân chủ biên – Nxb Khoa học Xã hội, 1967) có trình bày cả hai khái niệm “Dân” và “Nhân dân” Hai khái niệm này về cơ bản là giống nhau, có thể thay thế được cho nhau Tuy vậy, chúng không phải là đồng nhất tuyệt đối và không thể thay thế cho nhau trong mọi trường hợp Ví dụ: không thể thay thế cụm từ “vấn đề dân cày” bằng “Vấn đề nhân dân cày” Vì vậy cần tìm hiểu cả hai khái niệm đó

Về khái niệm “Nhân dân”, qua những định nghĩa của các tác giả các từ điển có thể rút ra mấy điểm chung về khái niệm “Nhân dân” với ý nghĩa khoa học chặt chẽ như sau:

Trang 11

– Nhân dân là một khái niệm có ý nghĩa chính trị, hình thành trong xã hội đã phân chia thành giai cấp, thành các tập đoàn người có địa vị và lợi ích khác nhau

– Nhân dân không đồng nhất hoàn toàn với dân cư, Nhân dân là khối người đông đảo trong dân cư chứ không phải toàn bộ dân cư

– Nhân dân gồm những người thuộc giai cấp và tầng lớp lao động không bóc lột, trực tiếp sản xuất ra của cải cho xã hội, có khả năng tham gia giải quyết nhiệm vụ phát triển xã hội

Còn về khái niệm “Dân”, cách nêu của mỗi cuốn từ điển lại có sự khác nhau Trong cuốn Từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân chủ biên – 1976) có nêu khái niệm dân với năm nghĩa như sau:

1 Từ dùng để gọi chung người trong một nước: như Dân Việt Nam;

2 Quần chúng đông đảo gồm có: công nhân, nông dân, nhân dân lao động trong một nước có bóc lột;

3 Quần chúng đông đảo nói chung;

4 Công dân trong một địa phương: Dân Hà Nội;

5 Những người thuộc một tầng lớp xã hội

Trong từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên – 1994) nêu khái niệm dân với ba nghĩa:

1 Người sống trong một khu vực địa lý hành chính, trong quan hệ với khu vực ấy Ví dụ: Dân giàu nước mạnh; Làm dân một nước độc lập; Thành phố đông dân;

2 Người dân thuộc tầng lớp đông đảo nhất, trong quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ phận lãnh đạo hoặc quân đội Ví dụ: Người dân thường; tình quân dân;

3 Người cùng nghề nghiệp, hoàn cảnh… làm thành một lớp người riêng

Ví dụ: Dân thợ, dân buôn, dân ngụ cư

Nhìn chung, trong các cuốn từ điển tiếng Việt, nghĩa cơ bản của khái niệm “Dân” và “Nhân dân” là giống nhau, nhiều trường hợp có nghĩa đồng nhất,

Trang 12

có thể sử dụng thay thế cho nhau Điều đó phù hợp với thực tế trong khẩu ngữ

và cả trong ngôn ngữ văn bản tiếng Việt

Từ việc phân tích các mối quan hệ, các bình diện, các khía cạnh khác nhau về Dân, ta có thể khái quát: “Dân là một khái niệm xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, dùng để chỉ những người lao động bình thường, đông đảo, không có chức quyền và tương phản với những người cầm quyền cai trị ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau trong lĩnh vực sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần của một xã hội nhất định” Do đó, Khái niệm “Dân” mang màu sắc và ý nghĩa chính trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh được các mối quan hệ xã hội Trong xã hội phong kiến, tuy không còn bị xem là những công cụ lao động biết nói nhưng dân vẫn nằm trong địa vị phụ thuộc mà chế độ phong kiến Trung Quốc gọi là “thần dân” Thần, nghĩa đen là bề tôi, là tầng lớp quan lại phải chịu khuất phục, chịu sự chi phối của nhà vua và dĩ nhiên, theo trật tự xã hội, thần dân phải xếp dưới tầng lớp quan lại Điều này không phải ở phương Đông mà dưới chế độ phong kiến ở các nước phương Tây, tình hình này cũng diễn ra tương tự Thần dân, tiếng Pháp là Sujets (nghĩa đen là phụ thuộc, là phải phục tùng), tiếng Anh là Subject (là khuất phục, là bắt phải chịu), theo tiếng Nga là chịu, là bị, là ngả theo Như vậy, dân với tư cách là thần dân là những người thuộc sở hữu của vua Chỉ trong xã hội hiện đại: xã hội Tư bản và

xã hội Xã hội chủ nghĩa vai trò của người dân mới được nhận thức đầy đủ.Người dân được đặt trong quan hệ về mặt quyền lợi và nghĩa vụ với nhà nước Người dân có quyền bầu cử, bầu ra những người xứng đáng vào bộ máy nhà nước, có thể đại diện cho quyền lợi của mình thì khi đó dân mới có tư cách là công dân

Từ định nghĩa về “dân” như trên, chúng ta đi vào tìm hiểu về tư tưởng

“thân dân” Tư tưởng “thân dân” là một trong những tư tưởng lớn và quan trọng của lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc và Việt Nam, được hình thành và phát triển xuyên suốt chiều dài lịch sử của nước ta “Thân dân” có nghĩa là gần gũi, gắn bó, quý trọng nhân dân Nhà nước lấy dân làm gốc, phải biết tin tưởng vào

Trang 13

dân, dựa vào dân để xây dựng phát triển đất nước và phải biết quan tâm đến đời sống nhân dân, chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân thì mới có được sự tin tưởng và ủng hộ của nhân dân

Như vậy, “thân dân” có nghĩa là phải hiểu dân, nghe được dân nói, nói được cho dân nghe, làm được cho dân tin, là nhận biết được những nhu cầu, tình cảm, suy nghĩ, mong muốn của người dân Và người lãnh đạo, quản lý phải biết phát hiện và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của dân; là nhìn thấy cả cái thực tại và vạch ra được viễn cảnh (tương lai) đúng đắn cho dân phát triển; là biết chia sẻ, đồng cảm và gần gũi với cuộc sống của dân, mọi suy nghĩ và hành động đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân, phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân

1.1.2 Quan niệm về dân trong học thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử

Mặc Tử (khoảng 478 - 392 trước Công Nguyên) là người sáng lập Mặc Gia - một trong sáu hệ phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, nổi sáng ở thời Chiến Quốc, sang đến đời Hán thì chấm dứt, nhưng đến cuối đời Minh, đầu đời Thanh lại được phục hưng Ông là người thuộc tầng lớp bình dân, sản xuất nhỏ

Từ chỗ cảm thông và lo âu với lớp dân nghèo khốn khổ, ông chủ trương theo Hạ

Lễ, kêu gọi thực hành thuyết “kiêm ái”, xem đó là phương sách cứu cánh xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu - Chiến Quốc từ hỗn loạn, suy vong đến thái bình thịnh trị Thuyết “kiêm ái”- chủ thuyết đạo đức cơ bản của Mặc Tử, với tư tưởng chủ đạo là khởi xướng và xây dựng tình yêu thương con người, tình đồng loại, hàm chứa những giá trị nhân bản sâu sắc, quyện bền vào tâm thức của con người

từ nhiều thế hệ Nếu như Khổng Tử chủ trương “yêu thương người thân, quý trọng người sang”, thì sự yêu thương của Mặc Tử đã vượt qua giới hạn phân chia giai cấp, phân biệt mình - người, thân - sơ, quý - tiện Không chỉ trong tư tưởng, mà chính hành động nghĩa hiệp trong suốt cuộc đời của ông đã nói lên điều đó

Mặc Tử chủ trương một chính quyền có hiệu lực và tập trung, nhưng lại phản đối sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội Mặc Tử lên án “Vương công

Trang 14

đại nhân” “bóc lột, sống dựa vào sức của “nông phu chức phụ” (dân lao động) Ông đòi hỏi người cầm quyền “làm điều lợi, bỏ điều hại” cho dân, phải chọn người hiền tài để làm và làm việc hình chính thực sự Ông phản đối việc dùng người dựa vào họ hàng, dựa vào đẳng cấp Mặc Tử tôn thờ Trời, nhấn mạnh

“thiên chí”, nhưng chống lại thuyết “thiên mệnh” Ông nhấn mạnh dân đều là con Trời để đòi hỏi một thứ bình đẳng xã hội, một cách tuyển chọn hiền tài và một đời sống dựa vào lực của từng người Đó là tư tưởng phản kháng truyền thống của bình dân, của những người nông phu, chức phụ

Có thể nói, “kiêm ái” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả cuộc đời và tư tưởng của Mặc Tử Chủ thuyết “kiêm ái” đã mang trong mình những giá trị nhân bản sâu sắc, mang hoài vọng của đông đảo nhân dân tầng lớp dưới của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ “Kiêm ái” đã lấy tình yêu thương để thức tỉnh lương tri, xoa dịu lòng người, phản đối bạo lực phi nghĩa, tranh đoạt nhau tàn khốc… Kiêm ái – tình yêu thương giữa con người, đồng loại với nhau là một chân lý trường tồn trong xã hội Tình yêu thương con người chính là gốc rễ của đức và đức lấy đó làm kế sách lâu dài để cảm biến lòng người, thâu phục nhân tâm, hóa giải hận thù tranh đoạt nhau

Đó chính là ý nghĩa nhân bản và tiến bộ của thuyết “kiêm ái”

Tất nhiên, cả Trung Hoa cổ đại và nhân loại ngày nay đều cần đến “kiêm ái”, nhưng xét trong toàn cục lịch sử tư tưởng Trung Quốc thì vị thế Mặc học quá ư mờ nhạt là một thực tế Nguyên do rất đơn giản, đó là lý tưởng “kiêm ái” thiếu thuyết phục, mang tính phi giai cấp, không thiết thực Khi thiên hạ đã chuyển từ công hữu sang tư hữu, xã hội phân hoá thứ bậc quý - tiện, sang - hèn, của cải và quyền lực dồn tụ vào trong tay một thiểu số người là không thể nào ngăn cản được, thì làm sao có thể thực hành “kiêm ái”, làm sao bậc vương công, quý tộc có thể quý trọng, yêu thương dân như chính bản thân mình được? Có thể nói, học thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử chỉ là giải pháp cho phần ngọn, chứ không cho phần gốc Không chỉ có vậy, do “kiêm ái” cũng như Mặc học không dung nạp vào bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, nên trong suốt thời kỳ chuyên chế, chúng luôn bị cấm đoán, bài xích; bị cho là “quái dị”, “phi thánh vô pháp”

Trang 15

Sự thật, trong chế độ phong kiến chuyên chế, dưới nhãn quan của giai cấp thống trị thì chỉ có vương đạo, còn dân làm gì có đạo Do đó, dân đạo của Mặc Tử không những không là công cụ tinh thần cho các thế lực thống trị đương thời, trở nên lạc điệu với mọi triều đại chuyên chế, mà thậm chí còn trở nên nguy hiểm, nên Mặc đạo còn luôn bị phỉ báng là tà đạo Đó có lẽ là nguyên nhân chính khiến cho Mặc học sớm bị lu mờ và đi vào quên lãng

1.1.3 Quan niệm về dân trong học thuyết “pháp trị” của Hàn Phi Tử

Pháp gia được biết đến với tư cách một trong bốn trường phái lớn nhất của hệ thống tư tưởng triết học Trung Quốc thời cổ đại Trong số các đại biểu lớn của trường phái này, Hàn Phi Tử được coi là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia Chính vì vậy, vấn đề con người trong triết thuyết chính trị của ông là

sự tập hợp đầy đủ toàn bộ nội dung căn bản về vấn đề này của trường phái Pháp gia Bên cạnh đó, khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta có thể thấy, Pháp gia thường được đề cập tới như một thứ công cụ để trị người hơn là dạy người và dùng người Mặt khác, khi nghiên cứu vấn đề con người trong tư tưởng Hàn Phi, chúng ta bắt gặp không ít vấn đề của xã hội hiện tại, những giá trị mới trong những nội dung tưởng như đã cũ

Pháp gia chủ trương xây dựng một chính quyền thống nhất và tập trung nhưng không coi nguồn gốc của nhà nước là ở mệnh Trời Người làm vua dùng sức mạnh mà giành lấy nước, lấy dân Nước và dân là của vua, vua có toàn quyền sử dụng theo ý mình Mọi việc chính sự là do vua và vì vua Dân là những con người có tính “tự vị” (ích kỷ, vì mình), ham sống, ham giàu, ham sang, thích thưởng, sợ phạt Thẳng thắn nhìn vào con người với tư cách một sinh vật mang bản chất hám lợi và ích kỷ, Hàn Phi chấp nhận sự tồn tại một cách tự nhiên và phổ biến của dạng người này như một sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển Theo ông, đã có thời kỳ lịch sử con người không đặt cái lợi ích lên hàng đầu, đó

là thời thượng cổ Lúc đó, “đàn ông không cày vì các sản phẩm của cây, cỏ đủ

để ăn; đàn bà không dệt vì da của chim muông đủ để mặc: Không phải vất vả mà việc nuôi dưỡng có đủ, số người thì ít mà tài sản thì có thừa Vì vậy cho nên

Trang 16

nhân dân không phải tranh giành Bởi vậy không cần phải thưởng hậu, không phải dùng hình phạt nặng mà nhân dân tự nhiên trị an” [38, tr.540] Về sau, con người đông lên còn của cải ít đi, nên mặc dù họ đã cố gắng, vất vả làm việc nhưng vẫn không đủ sống Lúc này, xã hội bắt đầu nảy sinh sự tranh giành của cải, cướp bóc lẫn nhau, và xã hội vì thế mà loạn Ông đã đánh giá xã hội đương thời và phê phán chế độ quân chủ một cách sắc bén và thẳng thắn Trong hệ thống triết học - chính trị của Hàn Phi, mỗi con người với tư cách cá nhân đều bị

“lột trần” cái vỏ bọc bề ngoài để hiện ra với nguyên nghĩa cá thể cần những giá trị căn bản bên trong như nhau để tồn tại Theo Hàn Phi, bản chất hám lợi và sợ hãi ấy của con người là cái không thể che giấu, sửa đổi, nhưng nếu biết sử dụng

nó sao cho hợp lý trong các mối quan hệ giữa người với người thì nó sẽ đem lại hiệu quả nhất định

Đối với Hàn Phi, các đời Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ đều làm trái cái nghĩa thông thường, làm cho việc giáo hoá đời sau bị rối loạn Cho rằng, đức dày không đủ để ngăn cấm điều loạn nhưng uy thế thì có thể, ông phản đối cách

đề cao các bậc đế vương theo lối học thuật để dạy dân Theo Hàn Phi, hình phạt

là gốc của lòng thương, xét cái đạo hiếu đễ, trung thuận cho kỹ mà thi hành Chính vì thế, quan niệm của Hàn Phi không quá khó hiểu nhưng cũng không hẳn

là dễ áp dụng Mặc dù vậy, chúng ta vẫn có thể nhận thấy, đằng sau những nội dung xử thế tưởng như khá cực đoan là một Hàn Phi với cách nhìn khách quan, thẳng thắn, biện chứng về mối quan hệ giữa người với người mà không phải nhà

tư tưởng nào cũng có được và dám nhắc đến Tuy nhiên, dưới chế độ quân chủ, trong xã hội chỉ có một cá thể có quyền cao nhất, đó là nhà vua Vì thế, về nguyên tắc, đạo là nguyên lý chung để con người tồn tại, nhưng trên thực tế, thi hành đạo chỉ có nhà vua và chỉ có đạo của vua chúa Nhà vua phải thông qua hệ thống pháp luật, dựa vào thế và thuật của mình để vận hành bộ máy quan lại và cai trị nhân dân Nói cách khác, nội dung phương pháp giáo hoá đạo làm người

cho dân theo tư tưởng của Hàn Phi tập trung vào ba phạm trù căn bản: pháp, thế,

thuật Dùng “thế” (chức vụ), dùng “thuật” (thủ đoạn), biết cách thưởng phạt,

Trang 17

thưởng hậu và phạt nặng, bắt dân làm việc Pháp gia phản đối cái chức năng làm cha, làm thầy của người cầm quyền, phản đối lối cai trị bằng đức, bằng lễ mà chủ trương nắm quyền làm chủ, cai trị bằng pháp lệnh Pháp lệnh coi dân như nhau, không phân biệt theo thân sơ, theo đẳng cấp Đó chính là tính công bằng của pháp luật

Nhìn chung, học thuyết Pháp trị của Hàn Phi được xây dựng và hoàn thiện dựa trên những tiền đề lý luận và thực tiễn chắc chắn Ông đề cao vai trò của pháp luật và coi trọng việc giáo dục Cho nên, với Hàn Phi, hình phạt là gốc của lòng thương, sự giáo dục cần phải được tiến hành sớm và liên tục để ngăn chặn mọi cơ hội biểu hiện bản chất vụ lợi của con người Có thể nói, Hàn Phi đã ghi dấu ấn của mình vào lịch sử tư tưởng Trung Quốc nói riêng và lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung với một học thuyết dám nhìn thẳng vào sự thật và khẳng định những giá trị lợi ích căn bản là động cơ cho mọi hành động của con người, bóc trần mọi quan hệ giả tạo giữa người với người, phê phán chế độ quân chủ từ bên trong Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng, quan điểm của Hàn Phi về con người còn nhiều hạn chế, nhất là việc ông chỉ thấy khía cạnh vụ lợi của con người mà không thấy con người còn có rất nhiều lý tưởng cao đẹp để phấn đấu

và hy sinh Đồng thời, ở một khía cạnh nhất định, mục tiêu xây dựng lý luận của ông là nhằm tạo ra một công cụ phục vụ cho nhà vua củng cố địa vị và quyền lực độc tôn của mình Cho nên, con người (người dân) trong học thuyết của ông luôn ở địa vị thấp hèn và bị phụ thuộc Sự bình đẳng của con người trước pháp luật là sự bình đẳng về thân phận người nô lệ dưới ngai vàng của nhà vua

1.2 Quan niệm về dân của Nho gia tiên Tần

1.2.1 Thái độ khác nhau về dân trong Nho gia tiên Tần

Trong Nho gia Tiên Tần luôn song song tồn tại hai thái độ đối lập về dân, vừa khinh dân, ức dân, lại vừa thân dân, coi dân là đối tượng cần được quan tâm, dạy dỗ Điều đó xuất phát từ nhận thức của họ về địa vị thấp kém và vai trò quan trọng của dân trong xã hội

* Tư tưởng “khinh dân”, “ức dân”

Trang 18

Trong các cuốn sách được xem là kinh điển chủ yếu của Nho giáo tiên Tần như sách Luận ngữ, sách Mạnh Tử, sách Tuân Tử, thì dân được đặt trong mối quan hệ đối lập với tầng lớp khác – tầng lớp trị dân (vua và quan) Cơ sở và căn cứ chủ yếu để các nhà Nho tiên Tần phân biệt và chỉ ra sự khác nhau giữa hai tầng lớp này là do sự khác nhau chủ yếu về đạo đức và tài trí, về địa vị và về vai trò xã hội của các tầng lớp này Chính quan hệ đối lập này khiến các nhà Nho tiên Tần còn có một số quan điểm hạn chế về dân Đó là các nhà Nho còn

có tư tưởng “khinh dân”, “ức dân”, coi những người lao động chân tay chiếm số đông trong dân cư là hạng tiểu nhân, hèn kém, ngu dốt, chỉ để sai khiến

Theo quan điểm của các nhà Nho tiên Tần, dân là những người bị sai khiến, bị điều khiển Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử luôn khẳng định địa vị xã hội của người dân là những người nô lệ, bị trị, họ luôn chịu sự sai khiến, cai trị của tầng lớp thống trị (hay tầng lớp cầm quyền, cai trị gồm nhà vua và đội ngũ quan lại các cấp) Với ý nghĩa như vậy thì Dân có nhiều cách gọi khác nhau

Dân được các nhà Nho tiên Tần xem là những người không có hoặc hèn kém về đạo đức, về trí tuệ, lại là những người bị sai khiến, bị cai trị, cho nên, dân được gọi là kẻ “tiểu nhân” và đối lập với người quân tử Trong sách Luận ngữ, chữ “tiểu nhân” – ý chỉ người dân, được nhắc đến khoảng hai mươi lần Cách gọi này chiếm tỷ lệ cao hơn so với cách gọi khác nhằm chỉ “dân” là người

bị điều khiển, bị thống trị Trong cách nhìn và quan niệm của các nhà Nho tiên Tần, dân với tên gọi là kẻ tiểu nhân, là hạng người không có địa vị và nhất là không có vai trò, sức mạnh to lớn như người quân tử Khổng Tử nói: “Đức hạnh của người quân tử (người trị dân) như gió, mà đức hạnh của dân như cỏ Gió thổi thì tất cỏ rạp xuống” [25, tr.205] Khổng Tử còn cho rằng sở dĩ dân là người

bị cai trị, bị sai khiến, bị điều khiển là vì họ là kẻ “hạ ngu” Hạ ngu là chỉ tầng lớp hèn kém về trí tuệ, là hạng người không có tài trí, họ là người đối lập với những người hiền, người trí, người quân tử Sử dụng thuật ngữ “hạ ngu” để chỉ người dân cho chúng ta thấy, Khổng Tử khinh miệt tầng lớp dân đen, nô lệ trong

xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ Những kẻ “hạ ngu” có học đi chăng nữa cũng

Trang 19

không thể hiểu được đạo lý, cho nên Khổng Tử nói: “những điều vi diệu cao siêu thì không nên giảng giải cho họ” Khổng Tử còn cho rằng, dân – kẻ hạ ngu

là đối lập với bậc thượng trí, hạng người mà theo ông sinh ra không cần học cũng biết

Mạnh Tử lại có tư tưởng xem thường dân ở cách gọi khác Ông gọi dân là

kẻ “lao lực”, tức là những người lao động chân tay, là lực lượng sản xuất ra hầu hết các của cải vật chất để duy trì sự tồn tại của xã hội, của mỗi người và của cả tầng lớp thống trị Theo Mạnh Tử, dân gồm ba hạng người: công, nông, và thương, có trách nhiệm và nghĩa vụ nuôi dưỡng người và chăm sóc kẻ “lao tâm”

và phục vụ người cai trị Kẻ “lao lực” trong quan niệm của Mạnh Tử cũng tương

tự như quan niệm của Khổng Tử, thực chất là những người thiếu đạo đức và trí tuệ, thuộc tứ dân bách tính tầm thường, trong đó chủ yếu là người nông dân trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ Theo sự lý giải của Mạnh Tử thì, trong xã hội bao giờ cũng “có người làm việc bằng tâm trí; có kẻ làm việc bằng tay chân Người làm việc bằng tâm trí thì cai trị dân chúng; kẻ làm việc chân tay thì chịu quyền điều khiển, sai khiến Kẻ chịu quyền điều khiển có phận sự cung cấp cho tầng lớp cai trị dân chúng được dân chúng phụng dưỡng Đó là lẽ thông thường trong thiên hạ vậy” [70, tr.167] Quan hệ giữa “lao tâm” và “lao lực” ở đây không chỉ là quan hệ tương tác giữa hai hình thức lao động trong xã hội, mà chủ yếu là quan hệ giữa tầng lớp thống trị và bị trị và Mạnh Tử xem quan hệ đó là đương nhiên Do hạn chế của lịch sử và lập trường giai cấp, cho nên Mạnh Tử chưa nhận thức được nguyên nhân kinh tế sâu xa đã tạo nên sự đối lập giữa “lao lực” và “lao tâm”, mà ông chỉ dừng lại ở cách nhìn trực quan để rồi xem “đó là

lẽ thông thường trong thiên hạ vậy” Sự phân biệt, đối lập giữa “lao tâm” và “lao lực” thể hiện rõ ràng tư tưởng xem thường người “lao lực”, người lao động chân tay của Mạnh Tử nói riêng và Nho gia tiên Tần nói chung

Ngoài ra, dân – người bị sai khiến có lúc được Khổng Tử, Mạnh Tử gọi là

kẻ “thứ dân”, “hạ dân”, “dã dân” Đây là những người dân thường, những người lao động bình thường trong xã hội Cách gọi này ít nhiều có sự phân biệt đẳng

Trang 20

cấp trong tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử nhưng cũng phần nào phản ánh đúng địa vị của người dân trong thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc

Cũng trong sách của Mạnh Tử, Mạnh Tử còn gọi người bị sai khiến , bị điều khiển là kẻ “lê dân” (dân đen), “xích tử” (con đỏ) Cách gọi dân theo ý nghĩa này, ít nhiều thể hiện sự thương cảm và chứa đựng yếu tố nhân đạo của Mạnh Tử đối với người dân đen cơ cực ở đáy cùng trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ

Như vậy, Phạm trù dân trong quan niệm của các nhà Nho tiên Tần với tư cách là người bị trị được gọi là kẻ “tiểu nhân”, “hạ ngu”, “lao lực”, “xích tử”,

“lê dân” được hiểu là: Họ đều là những người bị sai khiến, bị điều khiển, có địa

vị kinh tế, chính trị, xã hội thấp hèn và được đặt trong sự nhìn nhận đối lập với những người quân tử, bậc thượng trí, người lao tâm, người cai trị

* Quan niệm dân là thần dân, cần được chăm lo, dạy dỗ

Trong quan niệm của các nhà Nho tiên Tần, phạm trù dân còn dùng để chỉ

bề tôi tức thần dân trăm họ trong thiên hạ đối lập với nhà vua Theo ý nghĩa này, dân bao gồm cả thần và dân, quan và dân, là trăm họ, là cả thiên hạ đối lập với vua, và chỉ có vua là không thuộc phạm trù dân

Dân với ý nghĩa là “thần dân” (gồm cả thần và dân) trước đó đã được đề cập trong Kinh Thi và thường được Khổng Tử, Mạnh Tử gọi là “bá tính”, là

“thiên hạ”, tức là tất muôn dân, trăm họ sống trong cõi trời đất này Dân với ý nghĩa là thần dân trăm họ lại có lúc được hai ông gọi là “chúng dân”, “dân chúng”, có khi Mạnh Tử gọi là “quốc dân” (dân của một nước) Mạnh Tử đã nói

rõ trong sách Mạnh Tử như sau: “Một vị vua chư hầu nên quý trọng ba việc này: Thổ địa, nhơn dân và chính sự Nếu chê ba điều ấy mà quý trọng châu ngọc, ắt thân mình phải vướng lấy tai ương” [8, tr.270] Điều đó có nghĩa là, theo ông, trong phép trị nước, vua chư hầu nên quý ba việc: thổ địa, nhân dân và chính sự, đặc biệt là cần coi trọng và quan tâm đến lòng dân, lòng tin của nhân dân

Cần lưu ý rằng, trong luận điểm của Mạnh Tử: “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, phạm trù dân bao gồm cả thần dân trăm họ Tuy nhiên, phạm trù

Trang 21

dân không phải lúc nào cũng được nhận thức như vậy Dân với ý nghĩa là thần dân trăm họ được thể hiện và xuất hiện trong quan niệm của Nho giáo tiên Tần

là chỉ trong những hoàn cảnh, điều kiện, nhất định cụ thể

1.2.2 Nhận thức của Nho gia tiên Tần về vai trò của dân

Vai trò của dân trong quan hệ với nước, với vua, đã được một số Nho gia tiên Tần nhận thức và nêu cao trong tư tưởng chính trị phương Đông cách đây hơn 2500 năm với những nội dung chủ yếu sau:

– Thứ nhất: Dân là một lực lượng đông đảo, to lớn trong xã hội, là lực lượng tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại của xã hội

Dân là một lực lượng to lớn trong xã hội Họ là những người mà Mạnh Tử gọi là “lao lực”, tức là người làm việc mệt nhọc bằng sức lực chân tay để tạo ra của cải vật chất cho chính họ, gia đình họ và cả tầng lớp “lao tâm” cai trị người Theo đó, dân bao gồm ba hạng người” công, nông, thương có trách nhiệm và nghĩa vụ “nuôi dưỡng người”, chăm sóc kẻ “lao tâm”, phục vụ “ người cai trị” Như Mạnh Tử đã nói: “Vì thế người xưa mới nói rằng có người lao tâm, có kẻ lao lực Người lao tâm cai trị người, kẻ lao lực bị người cai trị Kẻ bị cai trị phải nuôi người, người cai trị được người nuôi dưỡng Đó là lẽ thông thường trong thiên hạ vậy” [70, tr.167]

Nhận thức được vai trò to lớn của nhân dân, các nhà Nho tiên Tần luôn khuyên nhà vua, người cầm quyền phải quan tâm đến đời sống vật chất, đến nhu cầu tối thiểu, thiết thực, trực tiếp của người dân Chẳng hạn, các nhà Nho yêu cầu nhà vua phải dạy dân, khuyến khích dân cày cấy, trồng dâu, dệt vải; với Khổng Tử, nhà vua phải giúp dân làm giàu; còn Mạnh Tử nói rõ: “Bởi vậy cho nên đấng minh quân chế định điền sản mà chia cho dân cày cấy, cốt khiến cho

họ trên đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới đủ nuôi nấng vợ con, nhằm năm trúng mùa thì mãi mãi no đủ, phải năm thất gặt thì khỏi nạn chết đói Được vậy rồi, nhà vua mới khiến dân làm thiện Tự nhiên họ sẽ theo điều thiện một cách dễ dàng” [70, tr.37]

Trang 22

Không chỉ nhận thức được rằng dân là lực lượng có vai trò quyết định đến

sự tồn tại của xã hội, các nhà Nho tiên Tần còn thấy được sự tồn tại của dân còn

là tất yếu, là phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của nhà vua, của người cầm quyền Theo đó, sự tồn tại của tầng lớp này ở một mức độ nào đó còn có ảnh hưởng chi phối địa vị chính trị, sự tồn tại về mặt chính trị của nhà vua, người cầm quyền Tuân Tử chỉ rõ, dân là một lực lượng to lớn trong xã hội có vai trò nhất định đối với sự tồn tại của nhà vua và sự nghiệp chính trị của người cầm quyền “Vị nhân chủ muốn mạnh, vững và yên vui thì không gì bằng quay về với nơi dân, muốn dân quý phụ mình thì không gì bằng quay về cầu ở nơi chính sự” [26, tr.137]

Có nghĩa là, trong quan niệm của Tuân Tử, ông luôn đề cao vai trò, sức mạnh của nhân dân, vì theo ông, nhà vua muốn địa vị của mình thêm mạnh, muốn ngai vàng của mình bền vững thì phải biết dựa vào dân Bởi vì dân không chỉ do trời sinh ra mà điều cơ bản, họ là bộ phận to lớn trong xã hội, là đối tượng của cai trị, nếu không có họ thì nhà vua, kẻ thống trị cũng không thể tồn tại với tư cách

là nhà vua, là kẻ thống trị được

Như vậy, trong quan niệm của các nhà Nho tiên Tần, người dân, tức là người “lao lực” có vai trò to lớn trong lĩnh vực kinh tế, đó là những người sản xuất ra của cải, lương thực để nuôi sống cả xã hội, là người góp phần vào việc duy trì sự tồn tại của xã hội, của vua, của đội ngũ quan lại

– Thứ hai, Dân là gốc của nước, là nền tảng, là cơ sở của xã hội, của nền chính trị

Các nhà Nho tiên Tần đều coi dân là “gốc” (dân vi bản – Khổng Tử), là gốc của nước (dân vi bang bản) Coi dân là gốc của nước, bởi theo họ, dân là bộ phận to lớn trong xã hội, là đối tượng của cai trị, không có họ thì cũng không tồn tại mặt đối lập – đó là giai cấp thống trị Như Mạnh Tử khẳng định, không có dân thì không có nước, không có vua Họ không chỉ là người nuôi dưỡng, phụng dưỡng mà còn là lực lượng bảo vệ nhà vua, người cai trị và chế độ chính trị (mà nhà vua là người đứng đầu cái chế độ ấy)

Trang 23

Thấy được vai trò, sức mạnh của dân đối với nước, đối với nền chính trị,

vì vậy mà, các nhà Nho tiên Tần đều khuyên nhà vua hãy coi dân quý trọng hơn

xã tắc và nhà vua Mạnh Tử khẳng định vị trí hàng đầu của dân trong mối quan

hệ với xã tắc và vua: “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, nghĩa là: “Dân

là quí hơn hết, xã tắc là thứ hai, vua là thường” – Dân là đáng quý trọng hơn tất

cả, sau đó mới đến xã tắc và cuối cùng mới là vua (Mạnh Tử, Tận tâm, chương

hạ, 4) [53, tr.580] Ông đòi hỏi các thế lực cầm quyền phải dành tâm, dành lực cho dân Ông thường nói với các bậc vua chúa thời bấy giờ: Ưa sắc đẹp, không hại; ưa của cải, không hại; ưa điền thổ không hại; ưa săn bắn, không hại nhưng trong lúc ưa sắc đẹp phải nhớ trong nước đang còn cảnh vợ chồng phân ly, trong lúc ưa của cải phải nhớ trong nước đang có cảnh lầm than đói khát, trong lúc xua quân đi săn bắn giải trí phải nhớ trong nước đang có cảnh anh em, vợ chồng, cha con đau khổ Nếu người biết vui với cái vui của dân thì dân cũng biết vui cái vui của mình, nếu người biết lo cái lo của dân thì dân cũng biết lo cái lo của mình Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo, những người như thế mà không làm

đế vương thì xưa nay chưa từng có (Mạnh Tử: Lương Huệ vương, chương hạ, 4) [53, tr.383]

Cũng từ quan niệm này mà các nhà Nho tiên Tần đều cho rằng sự tồn vong của một triều đại, sự thịnh suy của một chế độ phụ thuộc vào việc nhà vua

có giữ được dân, vào việc dân có tin, có nghe và làm theo hay không Theo đó, nếu dân tin, dân theo, dân ủng hộ thì nhà vua, triều đại, chế độ sẽ đứng vững và phát triển Còn ngược lại, nếu dân không tin, không theo, bỏ đi nơi khác hoặc nổi loạn thì triều đại tất sẽ đổ nát, sự nghiệp chính trị của nhà vua sẽ sụp đổ [63, tr.425] Khổng Tử khẳng định, dân mà không tin thì nước không đứng được Ông coi điều kiện quan trọng nhất của nước là phải được lòng dân

Sách Luận ngữ có chép “Tử Cống hỏi về cách cai trị Đức Khổng đáp rằng: Nhà cầm quyền cần phải có ba điều kiện này: lương thực cho đủ nuôi dân, binh lực cho đủ bảo vệ dân, lòng tin cậy của dân đối với mình Tử Cống hỏi tiếp: Trong ba điều kiện ấy, bất đắc dĩ phải bỏ bớt thì bỏ ra điều nào trước? Đáp: Bỏ

Trang 24

binh lực Tử Cống hỏi tiếp: còn lại hai điều, bất đắc dĩ mà phải bỏ bớt, thì bỏ ra điều nào trước? Đáp: Bỏ lương thực Là vì từ trước đến nay, trong nước nếu thiếu lương thực thì xảy ra nạn chết đói, chứ dân mà không tin thì nước sẽ mất” [53,tr.243]

Phát triển và làm rõ tư tưởng này của Khổng Tử, trong sách Mạnh Tử, Mạnh Tử đã nêu lên một tư tưởng rất mới lạ so với thời đại của ông: “Kiệt và Trụ mất thiên hạ tức mất ngôi thiên tử, ấy vì mất dân chúng Mất dân chúng, ấy

vì mất lòng dân Muốn được thiên hạ, có một phương pháp nên theo: Hễ được lòng dân, tự nhiên sẽ được dân chúng Muốn được dân chúng, có một phương pháp nên theo: dân muốn việc gì nhà cầm quyền nên cung cấp cho họ, dân ghét việc gì nhà cầm quyền đừng thi thố cho họ” [8, tr.19]

Như vậy, có thể nói rằng, theo quan điểm của Nho giáo tiên Tần thì vai trò của dân và lòng tin của dân góp phần to lớn tạo nên sức mạnh vật chất, có

ý nghĩa chính trị quyết định đến sự tồn vong, thịnh suy của các triều đại phong kiến

Cũng như Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử luôn đề cao vai trò của dân, coi vai trò của dân có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại, sự thịnh trị của nền chính trị Tuân Tử khẳng định: Thương dân thì chúa sẽ an vị, như câu “Quân giả châu giã; thứ nhân giả, thủy giã; thủy tắc tải châu, thủy tắc phúc châu, thử chi vị giã Cố quân nhân giả, dục an, tắc mạc nhược bình chính ái dân dĩ” (Vua ví như thuyền; dân ví như nước; nước chở được thuyền thì cũng lật được thuyền Cho nên kẻ nắm quyền cai trị nếu muốn được an vị, thì chẳng còn cách nào hay bằng, thực hiện chính trị hòa bình và biết thương dân) (thiên “Vương chế”) [26, tr.258] Câu nói này của Tuân Tử trở thành câu nói bất hủ được người đời lưu truyền đến thế hệ sau Mặc dù đề cao vai trò của vua, người cầm quyền và người quân tử, nhưng Tuân Tử vẫn chú trọng đến vai trò của dân trong việc ổn định xã hội Ông ví hình ảnh của Vua và Dân như hình ảnh thuyền và nước là ông muốn nói đến mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời, không thể thiếu giữa vua và dân Mối quan hệ giữa thuyền và nước; giữa vua và dân thể hiện mối quan hệ

Trang 25

biện chứng “Thuyền” chỉ được hiểu theo đúng nghĩa của nó khi đặt trong mối quan hệ với nước, cũng như vua được gọi là vua là người cai trị đất nước Nhưng phải có “dân” mới thiết lập được ra ngôi vua, mới duy trì được sự bền vững của ngôi vua Vì vậy, theo ông, nếu một vị vua mà không giữ được dân, không được lòng dân chúng thì xã tắc cũng không yên bình được

Tóm lại, chính nhận thức và chỉ ra vai trò của dân to lớn như vậy mà các nhà Nho tiên Tần đều đã chủ trương và đòi hỏi nhà vua phải giữ được dân, phải được dân tin Và theo nhà Nho, có như vậy, nhà vua mới giữ được thiên hạ và giữ được ngôi vị của mình, triều đại và chế độ chính trị mới tồn tại và phát triển

1.2.3 Những nội dung “thân dân” của Nho gia tiên Tần

Nhận thức được vai trò to lớn của dân chúng đối với sự tồn vong của một triều đại, trong học thuyết chính trị – xã hội của Nho gia tiên Tần, điều quan trọng nhất và có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh chính trị của nhà vua, của chế độ chính trị là phải giữ được dân Nhưng để thực hiện được mục đích ấy, thì nhà vua, người cầm quyền phải được lòng dân, được dân tin, hay chính là gần gũi với dân, nắm được lòng dân Được lòng dân, được dân tin, đến lượt nó, lại trở thành cơ sở, là căn cứ để các nhà Nho đưa ra những đề xuất về thái độ, trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà vua, người cầm quyền đối với dân Theo các nhà Nho tiên Tần, thân dân được thể hiện bằng “Dưỡng dân” và “Giáo dân”

– “Dưỡng dân” chính là nuôi dân, là khái niệm các nhà Nho chỉ rõ trách

nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân là phải chăm sóc dân, nuôi dưỡng dân, bảo vệ dân, coi dân như con

Nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu nhất trong chính sách dưỡng dân, theo các nhà Nho là nhà vua và người cầm quyền phải luôn quan tâm, luôn chăm lo đến đời sống vật chất tối thiểu nhưng thiết thân của dân để dân không bị chết đói, chết rét, đủ điều kiện để như Mạnh Tử nói: “trên đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới đủ nuôi vợ con”[19, tr.758] Muốn được như vậy, nhiệm vụ của nhà vua là phải giúp dân làm giàu, phải làm cho dân có tài sản riêng và ổn định (hằng sản), phải

“quy định điền sản cho dân, dạy dân biết trồng trọt, chăn nuôi, hướng dẫn vợ

Trang 26

con, khiến họ phụng dưỡng những người già trong gia đình” [19, tr.1038], sai khiến dân điều gì cũng không được trái thời vụ, mùa màng của dân (bất đoạt nông thời) đồng thời phải giảm thuế khóa và những đóng góp khác của dân, lấy dân phải có hạn [63, tr.686 -687], tức là phải cho dân trong thiên hạ được an cư, lạc nghiệp Có như vậy, theo các nhà Nho, nền chính trị mới được thịnh vượng, nhà vua mới được dân kính trọng, ngôi vị nhà vua mới bền vững, vô địch

Dưỡng dân theo các nhà Nho tiên Tần là nhà vua, người cầm quyền không chỉ có chính sách thích hợp để dân đủ sống, an cư lạc nghiệp mà phải biết giúp dân làm giàu Vì dân có giàu thì nước mới mạnh Khi đi cùng học trò đến nước Vệ, Khổng Tử khen dân đông, Nhiễm Hữu hỏi dân đông thì phải làm gì nữa, ông trả lời là, giúp dân làm giàu [63, tr.444]

Muốn dưỡng dân, làm giàu cho dân thì nhà vua cần phải giảm nhẹ thuế khóa cho dân Chủ trương này của Khổng Tử đã được học trò Hữu Nhược thực hiện một cách trung thành: “Lỗ Công hỏi Hữu Nhược: năm nay mất mùa thuế không đủ làm sao bây giờ?” Hữu Nhược đáp: sao không thu thuế theo phép triệt (mười phân thu một) Lỗ Công bảo: mười phân thu hai còn không đủ, huống hồ là theo phép triệt Hữu Nhược đáp: trăm họ no đủ thì làm sao vua thiếu được? Trăm họ thiếu thốn thì làm sao vua đủ được? [28, tr.164] Nghĩa là nhà vua phải “tiết dụng nhi ái nhân” (giảm chi dùng, tiết kiệm chi dùng mà yêu dân), cái gì không có lợi cho dân thì đừng tiêu Đặc biệt, Khổng Tử còn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải biết giảm thuế khi dân mất mùa để giảm bớt sự nghèo khó cho dân Cũng vì việc này mà Khổng Tử không nhận Nhiễm Cầu là học trò của mình nữa, vì Nhiễm Cầu thu thuế nặng quá, làm cho dân nghèo

Và để dưỡng dân, để dân đỡ khổ và giúp dân làm giàu, các nhà Nho đề xuất với nhà vua, người cầm quyền cần phải thực hiện chính sách tiết kiệm trong tiêu dùng Nhiều người đương thời đã phê phán Nho gia không biết tiết kiệm nên bày đặt ra lễ, nhạc rất nhiều phiền toái và tốn kém Trong số những người phê phán kịch liệt có Mặc Tử và phái hậu Mặc Tử với chủ trương phi lễ, phi nhạc Tuy nhiên, sự phê phán trên không hoàn toàn công bằng với Khổng Tử, vì

Trang 27

ông luôn chủ trương nhà vua, mọi người phải biết tiết kiệm: “Tiết dụng nhi ái nhân” Ông từng khuyên các bậc trị dân cái gì không lợi cho dân thì đừng có tiêu, và ngay cả lễ, nhạc cũng phải tiết kiệm, không được bày đặt tốn kém Như ông đã khẳng định: “nói về lễ, về lễ đâu chỉ có ngọc và lụa Nói về nhạc, về nhạc đâu chỉ có chuông và trống”; “lễ mà quá xa xỉ thì kiệm còn hơn Tang mà quá chú trọng nghi tiết thì thương xót còn hơn” [28, tr.147] Có thể thấy mọi việc Khổng Tử muốn người cầm quyền làm đều là để phục vụ cho lợi ích của dân, sao cho dân không phải chịu thiệt thòi

Để được lòng dân, để được “dân tín” thì theo nhà Nho, nhà vua còn phải

“sử dân dĩ thời” tức là sai bảo dân cho đúng, cho hợp thời, hợp nghĩa, sao cho dân không oán [63, tr.686] Bắt dân làm xâu là một cách thu thuế, có khi rất nặng, mà lại bất công vì thứ thuế đó chỉ đánh vào đầu dân đen, thời đó nước nào cũng áp dụng vì không có cách nào khác, hoặc dân dễ chấp nhận hơn là bắt họ góp tiền, góp lúa Nhưng cái tai hại nhất của chính sách bắt dân làm xâu là mỗi khi triều đình có việc gấp thì dù đương mùa cấy, mùa gặt cùng bắt dân bỏ đó mà làm xâu cho triều đình Cho nên Khổng Tử cho “sử dĩ dân thời” (dùng dân căn

cứ vào thời vụ) là một bổn phận của người trị dân; mà sau này Mạnh Tử cũng vậy, khi ông bảo: “Nếu không làm trái thời tiết của kẻ làm ruộng thì thóc ăn chẳng hết”

Sau cùng, quan trọng nhất trong chính sách thân dân là nhà vua, người cầm quyền phải thực hiện chính sách phân phối quân bình Theo ông, thực hiện chế độ phân phối công bằng, thì người dân mới không bị bóc lột mà được no đủ, lòng dân sẽ không oán, mọi người hòa thuận, nước sẽ yên, sẽ mạnh Như khi Nhiễm Hữu khuyên họ Quý đánh chiếm nước bé Chuyên Du, Khổng Tử đã mắng Nhiễm Hữu và bảo: “Khổng này nghe nói người có nước (tức vua), có nhà (tức các đại phu, chủ các ấp phong) không lo nghèo thiếu mà lo sự phân phối không quân bình, không lo ít dân mà lo xã tắc không yên Phân phối mà quân bình thì dân không nghèo; hòa thuận (vì không có sự bóc lột, tranh giành, không

có người giàu quá, kẻ nghèo quá) thì dân không ít (dân vui vẻ sống, nước trị thì

Trang 28

dân ở các nước khác qui tụ lại) Như vậy xã tắc sẽ yên ổn, chính quyền không nghiêng đổ” [28, tr.166]

Cũng giống như Khổng Tử, theo Mạnh Tử thì mục đích và điều quan trọng nhất trong nội dung dưỡng dân, chính sách dưỡng dân là nhà vua phải làm cho dân có được cuộc sống sung túc, hạnh phúc và chỉ như vậy thì mới dạy dỗ dân được, mới làm cho dân không làm những điều bậy bạ Mạnh tử đặc biệt chú trọng đến vấn đề kinh tế: không thể bỏ lơ công việc sinh nhai của dân được, vì

đó là vấn đề căn bản cho sự sống còn của dân, là điều kiện cốt yếu cho tinh thần đạo đức của dân Nếu dân đói rét, lo cứu sống không xong thì còn nghĩ gì đến liêm sỉ, lễ nghĩa nữa Tư tưởng này của ông được thể hiện trong nhiều chương, nhất là chương Đằng Văn công Trong sách Mạnh Tử, ông nói: “Thói thường người dân, hễ có hằng sản mới có hằng tâm, không có hằng sản thì cũng không

có hằng tâm Nếu không có hằng tâm sẽ trở nên buông lung, càn dở, việc gì cũng dám làm Chừng người ta mắc tội, cứ vin vào đó để gia hình, thế là giăng lưới bẫy dân vậy Lẽ nào có việc người nhân ở ngôi báu, mà việc bẫy dân cũng dám làm” [19, tr.932] Bởi thế, ông khuyên các “đấng minh quân phải quy định điền sản cho dân, phải lo cho dân trông lên đủ thờ cha mẹ, nhìn xuống đủ nuôi

vợ con, luôn năm được mùa thì suốt đời no bụng, phải năm mất mùa thì cũng tránh khỏi chết đói, sau đó mới có thể thúc đẩy dân làm việc thiện, do đó dân tuân theo cũng dễ dàng” [19, tr.758] Mạnh Tử cũng hết sức quan tâm đến ruộng đất phục vụ dân sinh Ông cho rằng, quan tâm đến đời sống của dân, điều đầu tiên nhà cầm quyền cần làm cho họ có hằng sản (luôn có tài sản riêng và bền vững), mà tài sản quan trọng nhất bấy giờ là ruộng đất Để thực hiện được điều này, theo ông, nhà vua cần có một chính sách phân phối ruộng đất cho dân một cách hợp lý, ổn định và chính sách đó phải được tiến hành theo một cách thức rõ ràng, minh bạch Và hệ thống điền địa hợp lý nhất là thực hiện chế độ “tỉnh điền” “Mỗi nhà được cấp năm mẫu đất, trồng thêm cây dâu thì người năm chục tuổi được mặc lụa là Nuôi mấy con gà, con lợn, con chó và đừng làm hại đến thời kỳ sinh sản của chúng, thì người bảy chục tuổi được ăn thịt vậy Khu ruộng

Trang 29

một trăm mẫu, được canh tác đúng thời vụ, thì một nhà tám miệng ăn không đến nỗi đói vậy” [19, tr.759] Có như vậy mới tạo điều kiện để “Người già được mặc lụa, được ăn thịt, trai trẻ không đói, không rét, thế mà nước không hưng vượng,

là chuyện chưa hề xảy ra vậy” [19, tr.759]

Quan tâm đến đời sống của dân, Mạnh Tử còn cho rằng, nhà vua, người cầm quyền phải đặc biệt quan tâm đến đời sống và thân phận của bốn hạng người cùng khổ trong thiên hạ, những người không thể trông cậy vào ai: Quan (không có vợ), quả (bà lão không có chồng), độc (người già không nơi nương tựa, cô (mồ côi cha mẹ) [19, tr.785 - 786] Khi nhà nước đánh thuế cũng phải đảm bảo cho dân có thể nộp thuế mà vẫn đủ điều kiệ n để đảm bảo cuộc sống của dân Ông nói: “Có ba phép đánh thuế: bằng vải sợi, bằng thóc lúa và bằng sưu dịch Người quân tử áp dụng một phép mà hoãn cho dân được hai phép kia Nếu áp dụng cả hai phép thuế thì dân chúng có

kẻ chết đói, áp dụng cả ba phép thì cha con lìa nhau” [19, tr.1361] Mạnh Tử còn cho rằng, việc sử dụng sức dân cũng phải tùy thời, sai khiến dân không được trái mùa vụ của dân Ông nói “Đừng vi phạm thời gian làm ruộng của dân, thì thóc lúa ăn chẳng hết” [19, tr.722] Trong sách Mạnh Tử, biểu hiện của việc nhà vua, người cầm quyền chăm lo đời sống vật chất cho dân không chỉ ở chỗ, ông luôn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải bớt hình phạt, giảm thuế má cho dân, mà còn khuyến khích dân làm giàu Ông nói: “Nếu nhà vua chịu thi hành nhân chính với dân, giảm bớt hình phạt, nhẹ thuế khóa, khuyên dân cày sâu cuốc bẫm, nhổ cỏ cho thật kỹ như vậy khiến cho

họ chỉ sử dụng gậy gộc cũng đánh bại quân Tần [19, tr.730]

Không chỉ quan tâm, đảm bảo đời sống cho nhân dân, Mạnh Tử còn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền thực hành tiết kiệm trong việc sử dụng tài sản của nhân dân, họ không được quá xa xỉ và lãng phí, vì “Ăn uống phải thời, sử dụng

có tiết độ thì tài sản dùng không hết [19, tr.1039] Đồng thời, để được lòng dân,

để được dân tin và giảm nỗi khổ cho dân, Mạnh Tử khuyên nhà vua không chỉ

“cùng dân cày cấy, nấu lấy cơm mà ăn, đồng thời vẫn cai trị được đất nước” [63,

Trang 30

tr.700], mà nhà vua còn cùng vui với cái vui của dân (dữ đồng dân lạc), cùng lo với cái lo của dân (dữ dân đồng ưu) Có như vậy, nền cai trị của nhà vua mới hưng thịnh, như Mạnh Tử nói: “Vui với niềm vui của dân, sẽ được dân vui với niềm vui của mình; lo nỗi lo của dân sẽ được dân lo nỗi lo của mình Vui vì thiên hạ, lo vì thiên hạ mà rồi không dựng nên vương nghiệp là chuyện chưa từng có vậy” [19, tr.778]

Như vậy, nuôi dưỡng dân có nghĩa là phải đảm bảo đời sống cho nhân dân, sao cho nhân dân có được một cuộc sống no đủ Có quan tâm và đối xử với dân như vậy, cũng như quan niệm của nhiều nhà Nho, theo Mạnh Tử, coi dân là trời, coi dân quý hơn cả xã tắc, hơn cả nhà vua thì nhà vua mới xứng đáng là cha

mẹ của dân (quân vi dân chi phụ mẫu) Làm được điều ấy cũng chính là nhà vua, người cầm quyền đã góp phần làm nên một xã hội ổn định, thái bình và thịnh trị

Có thể thấy rằng, Mạnh Tử không những chủ trương phải làm cho dân có

“hằng sản” mà còn chủ trương hạn chế việc thu thuế và bắt nông dân đi lao dịch,

để tránh khỏi làm cho nông dân bỏ trốn và phản kháng Ông nói: “Làm phụ mẫu dân mà để cho dân oán hận, mà ngó lấm lét mình, để cho họ làm lụng khổ sở suốt năm mà chẳng đủ nuôi cha mẹ, rồi họ phải đi vay nặng lời mà đóng đủ thuế, để người già kẻ trẻ lăn chết theo đường mương lỗ cống; như vậy làm phụ mẫu thương dân ở chỗ nào?” Bởi lúc đó tình thế xung đột giữa “người cai trị”

và “người bị trị” gay gắt, sưu thuế mà người dân phải gánh vác đã quá sức họ cho nên Mạnh Tử chủ trương “bớt hình phạt, giảm thuế má” và khuyến khích

“cày sâu, bừa kỹ”, không bắt dân bỏ mùa màng của họ, phải chế định điền sản

mà chia cho dân cày cấy và “Đừng gây khó khăn cho việc ruộng nương, nhẹ bớt thuế khóa, dân sẽ trở nên giàu có” [19, tr.1309]

Còn Tuân Tử cho rằng, kẻ nắm quyền cai trị dân nếu muốn được an vị thì biện pháp chủ yếu nhất là thực hiện đường lối, chính sách chính trị mang nội dung ái dân và thương dân Và để đường lối, chính sách ấy được thực thi, ông đòi hỏi các nhà vua và thế lực cầm quyền phải chăm lo đến đời sống cho dân, đến thân phận của người dân, vì theo ông: “Trời sinh ra dân không phải vì vua

Trang 31

mà trời lập ra vua chính tại vì dân” [26, tr.120] Quan điểm này của ông hoàn toàn phù hợp với quan điểm “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” của Mạnh Tử Cũng giống như Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử cho rằng, khi cuộc sống của người dân được chăm lo, người dân có một cuộc sống giàu có, no đủ thì sẽ không có việc tranh đoạt lẫn nhau Bởi vậy, mà Tuân Tử luôn đòi hỏi nhà vua, người cầm quyền luôn phải chăm lo cho nhân dân, đảm bảo cho nhân dân

có một cuộc sống no đủ và yên bình Khi đề cập đến vấn đề này, Tuân Tử khẳng định rằng, mục đích tối thượng của trị đạo là “nuôi cái dục của nhân dân và thỏa mãn nhu cầu của nhân dân” Nếu đất nước nghèo khó, đời sống nhân dân cùng cực thì mục đích trị đạo của nhà vua không đạt được Do đó mà theo Tuân Tử, nhà vua cần có những chính sách phù hợp để làm cho dân dư dả Bởi lẽ, thứ nhất, là để cho dân có thể thỏa mãn được hầu hết những nhu cầu chính đáng, cơ bản của họ; thứ hai là dân có no đủ thì lòng nhiệt huyết vì nhà vua của họ mới có điều kiện để thi hành và họ mới từ bỏ được tính ác của mình, mới học và làm theo lễ nghĩa – tức là có đạo đức và không chỉ làm cho xã hội có trật tự, có kỉ cương mà còn góp phần làm cho quốc gia phú cường Chính sách làm cho dân giàu có của Tuân Tử xuất phát từ chính quan niệm “gốc có vững thì ngọn mới tươi, gốc mà lỏng thì ngọn sẽ héo” [26, tr.132] của ông Vẫn là cách khẳng định vai trò của dân, gần gũi với nhân dân và cho rằng dân là gốc của nước, người cầm quyền là ngọn của cây, sức mạnh của nhà cầm quyền còn phụ thuộc vào dân mà Tuân Tử đã đưa ra quan niệm về mối quan hệ khăng khít lẫn nhau giữa nhà cầm quyền và nhân dân Theo đó, nhà vua được “dân góp sức thì mạnh, dân không góp sức thì yếu” [26, tr.138] và để thực thi chính sách làm cho dân dư dả, theo Tuân Tử, “nhà vua phải giảm nhẹ thuế ruộng đất, bỏ thuế chợ, thuế quan, giảm số người đi buôn, bắt dân làm xâu ít đi, đừng làm lỡ thiết tiết canh tác (thời vụ) của dân Như thế là làm cho dân giàu, như thế là dùng lương chính (chính sách tốt) làm cho dân dư dả” [26, tr.132]

Ở đây, quan điểm của Tuân Tử cũng hết sức tiến bộ khi ông cho rằng, nhà vua sinh ra là vì dân chứ không phải vì có vua mà trời sinh ra dân để cho ông

Trang 32

vua cai quản được; ngược lại lập ra ông vua với mục đích là vì nhiệm vụ cao cả của nhà vua, là nhằm ổn định xã hội, nhằm chăm lo cho đời sống nhân dân Tư tưởng này của Tuân Tử cho đến nay vẫn còn nhiều ý nghĩa và gần tiếp cận đến

tư tưởng mới về nhà nước của dân và vì dân

Tuân Tử còn cho rằng, muốn dân hết lòng vì nhà vua và luôn coi nhà vua như cha mẹ mình thì nhà vua trước hết phải yêu thương dân, gần gũi với dân và bảo vệ dân Cũng như Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử luôn coi nhà vua là cha

mẹ của dân, vì vậy đối với dân, Tuân Tử yêu cầu: “Vua phải yêu dân, bảo vệ dân như bảo vệ con đỏ” [26, tr.120] Vì theo ông, nhà vua, người cầm quyền có yêu thương dân thực lòng thì dân mới hết sức vì mình, sống chết với mình, thì mình mới được yên vui, vì “yêu dân tức là làm yên nước” [26, tr.129] Cũng giống như Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử luôn cho rằng “ái dân” (yêu thương dân) nhà vua không chỉ được lòng dân và được dân yêu thương, kính trọng như chính cha mẹ của mình mà nhà vua sẽ mạnh và vô địch Ông nói: “Ái dân giả cường, bất ái dân giả nhược” (kẻ thương dân thì mạnh, kẻ không thương dân là yếu) [26, tr.86] Cho nên, vương nghiệp và quốc gia mạnh hay yếu, theo Tuân

Tử, một phần phụ thuộc vào việc nhà vua có ái dân, được lòng dân, ý dân, sức dân hay không Trong quan niệm của Tuân Tử, nhà vua ái dân là phải dưỡng dân

và giáo dân Dưỡng dân và giáo dân làm cho dân tin, dân yêu từ đó mà nước trị, dân yên Trong Quân đạo, sách Tuân Tử, Tuân Tử nói: “Vua muốn trị yên thì tốt hơn hết là chính sự phải cho công bằng, phải yêu dân ” [26, tr.129], trái lại, nếu không yêu dân thì tất sẽ diệt vong, “cho nên đấng nhân quân yêu dân thì yên, ưa kẻ sĩ thì vinh Hai điều đó thiếu một thì diệt vong” [26, tr.129] Vì vậy, Tuân Tử luôn phản đối việc ông vua đứng đầu một chính thể mà dùng chính sách tàn bạo và hà khắc đối với dân Ông cho rằng: “Vua mà tàn bạo thì trăm họ khinh như lũ què quặt, ghét như ghét loài quỷ” [26, tr.120] Chính vì vậy, cũng giống như Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử luôn coi trọng và đề cao việc trị nước bằng đức trị, lấy đạo đức để dẫn dắt dân của các bậc minh quân và phản đối việc lấy sang – hèn để luận tội nặng – nhẹ của giai cấp thống trị lúc bấy giờ

Trang 33

Trong chính sách dưỡng dân, các nhà Nho tiên Tần còn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải là người bảo hộ dân, không ham giết người, giết dân, phải giảm hình phạt cho dân nếu dân phạm tội Có như vậy, dân mới quy phục nhà vua mà không có uy lực nào cản được Mạnh tử nói rằng: “Nếu như không có ai ham giết người, ắt dân chúng trong thiên hạ đều theo về, như nước chảy xuống chỗ thấp, ào ào ai mà ngăn được” [19, tr.735] Không chỉ vậy, Khổng Tử còn yêu cầu nhà vua phải thương và quan tâm đến đời sống của những người già cả, thiếu niên Ông nói: “Chí hướng của ta là: Người già cả thì khiến họ được an vui; bạn bè thì khiến họ tin ta, lớp trẻ thì chăm sóc, đùm bọc” [51, tr.306] Mạnh

Tử còn đòi hỏi nhà vua phải đặc biệt quan tâm đến cuộc đời và thân phận của bốn hạng người:quan, quả, cô, độc mà phần trên luận văn đã đề cập

Như vậy, theo quan điểm của các nhà Nho tiên Tần, để được lòng dân,

để thu phục dân tâm từ đó mà cai trị được thiên hạ, nhà vua, người cầm quyền phải thi hành đường lối nhân nghĩa (đường lối Vương đạo, Nhân chính) Đường lối ấy phải được cụ thể hóa bằng các chính sách kinh tế, tài chính phù hợp, giúp dân được giàu có, đáp ứng nhu cầu của người dân Có thể thấy, chính sách dưỡng dân của Nho giáo tiên Tần, trong điều kiện lúc bấy giờ là một tư tưởng có nhiều tiền bộ, đáng ghi nhận và có ảnh hưởng không nhỏ tới

xã hội của chúng ta hiện nay

– “Giáo dân” (giáo dục, giáo hóa dân)

Để được lòng dân, để được dân tin, thì nhiệm vụ quan trọng ngang với chính sách dưỡng dân, nuôi dân là nhiệm vụ dạy dân, là chính sách giáo dục, giáo hóa dân Có thể nói, ở Nho giáo, dưỡng dân và giáo dục, giáo hóa dân gắn chặt với nhau, bổ sung cho nhau trong đường lối trị dân, trị nước của nhà vua, người cầm quyền

Xuất phát từ quan niệm về tính người và quan niệm về dân và vai trò của dân, các nhà Nho tiên Tần đều khẳng định rằng, ngay từ đầu dân phải được giáo dục, giáo hóa Khổng Tử cho rằng, cái bản tính ban đầu của con người vốn là

“lành” (dã trực) và dù là do trời phú cho họ đi chăng nữa, nhưng con người, nhất

Trang 34

là người dân, do dễ bị chi phối bởi những dục vọng và sự tác động của ngoại cảnh, cho nên họ dễ trở nên tàn ác nếu không được giáo dục, giáo hóa Còn Mạnh Tử thì khẳng định, dù bản tính con người khi mới sinh ra là thiện và do trời phú đi chăng nữa, nhưng nó lại dễ bị tiết lậu, dễ bị mất đi Đặc biệt ông còn khẳng định thêm rằng, đối với dân, kẻ tiểu nhân, ngay từ khi lọt lòng, cái bản tính ấy đã bị “tiết lậu” ra bên ngoài Do vậy, con người (đặc biệt là dân) ngay từ khi ra đời phải được giáo dục, giáo hóa Khác với Khổng Tử và Mạnh Tử coi bản tính con người là thiện, là lành, Tuân Tử cho rằng bản tính ấy là ác, nếu không được giáo dục, không có sự hỗ trợ của giáo dục thì họ không bao giờ thiện được, không bao giờ trở thành “thiện nhân” được Vì vậy mà các nhà Nho tiên Tần và các nhà Nho nói chung luôn coi giáo dục, giáo hóa là một trong những nội dung căn bản của đường lối đức trị, là một trong những biện pháp cai trị hữu hiệu nhất nhằm mục đích chính trị của giai cấp phong kiến thống trị, trong đó có mục đích tạo ra con người phù hợp với yêu cầu cần có của giai cấp phong kiến, của tầng lớp thống trị

Mặt khác, theo các nhà Nho tiên Tần, thân dân, gần gũi với dân là còn phải làm sao cho dân có được cái đạo làm người, cái đạo của kẻ làm dân Tức là với mục đích giáo dục, giáo hóa dân là phải dạy cho dân có đạo đức, biết lễ nghĩa, để khi làm sai khuôn phép thì họ biết hổ thẹn mà sửa chữa

Với những mục đích to lớn ấy, Khổng Tử đưa ra 2 phương pháp giáo hóa dân Cách tốt nhất là nêu gương cho dân Theo ông, “nhà cầm quyền tự mình nên làm lành, làm phải trước đặng làm gương cho dân” Trong khi dạy học, hoặc chuyện trò với môn sinh, hoặc đối đáp với vua chúa, mỗi khi có cơ hội là ông không quên nhắc tới điều căn bản: người trị dân có đức Tề Cảnh công hỏi ông

về cách trị dân, ông đáp: “Quân quân, thần thần ” mà chúng ta có thể hiểu là

“vua phải làm hết đạo vua, bề tôi phải hết đạo bề tôi ” hoặc “vua phải ra vua,

có tư cách ông vua, thì bề tôi mới ra bề tôi” [28, tr.141] Hay khi Quý Khang Tử (một quyền thần của nước Lỗ) hỏi về chính trị, lần đầu Khổng Tử nói: “chính trị

là chính đính Ông lãnh đạo dân một cách chính đính thì ai dám không chính

Trang 35

đính”; lần thứ nhì “nếu ông không có lòng tham thì thưởng cho dân, họ cũng không trộm cướp” [28,tr.141] Chính vì vậy, Khổng Tử bảo “tòng sự chính trị – tức làm việc trị dân – không có gì khó, nếu biết giữ thân mình cho đoan chính”, (trái lại) “nếu không giữ mình cho đoan chính thì không làm sao sửa người khác cho đoan chính được” [28,tr.142] Từ đó, Khổng Tử lại nêu gương đức hạnh của các thánh vương đời xưa cho các nhà cầm quyền theo: Như vua Thuấn, vua (Hạ)

Vũ không cho việc có thiên hạ làm vui; Vua Vũ sống giản dị mà trọng tế lễ; Vua Nghiêu, vua Thuấn, sự nghiệp rất lớn mà dân không tìm được chỗ nào để khen,

lễ nhạc và chế độ của hai ông ấy rất rực rỡ Đặc biệt là vua Thuấn, chỉ kính cẩn đoan trang ngồi trên ngai, chẳng làm gì mà thiên hạ bình trị

Một cách nữa để giáo hóa dân là dạy dỗ cho dân biết và làm theo các chuẩn mực đạo đức Nhân, Hiếu, Lễ, Trung, Tín với phương châm “Hữu giáo

vô loại”, “Phú nhi hậu giáo”, “Học nhi thời tập chi” Có dạy dân như thế dân mới biết nghĩa vụ, biết nhường nhịn, biết luật pháp mà giữ gìn hay nói cách khác

là dân mới có đạo đức, mới trở nên chính đính, mới dễ sai khiến được

Cũng với những mục đích là dạy cho dân có đạo đức, biết lễ nghĩa, theo Mạnh Tử, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh lễ tiết, phải dạy lễ, trí, tín, phải dạy đạo đức nhân luân cho dân Ông nói” “Phải vỗ về những kẻ khó nhọc; phải săn sóc những người từ xa đến, phải uốn nắn những điều sai trái lệch lạc, đưa mọi cái vào khuôn phép cho ngay thẳng; phải nâng đỡ chúng dân, làm cho

họ tự thấy được đạo lớn, rồi lại nhân đó mà dạy dỗ thêm, ban ơn huệ thêm, để cho họ khỏi lạc nẻo lầm đường” [63, tr.703 – 704)]

Theo Mạnh Tử, giáo dục, giáo hóa dân là một nội dung quan trọng của vua, người cầm quyền, hơn nữa trên lĩnh vực chính trị, nó còn là một nhiệm vụ trọng yếu của nhà vua hơn cả việc chính trị Mạnh Tử khẳng định: “Tiếng tăm nhân đức thâm nhập vào lòng người còn sâu hơn những lời nhân hậu Giáo hóa tốt thu được lòng dân còn hơn là chính trị tốt Chính trị tốt khiến dân sợ hãi, giáo hóa tốt được dân yêu Chính trị tốt đem tài sản cho dân, giáo hóa tốt được lòng dân”[19, tr.1297] Ngoài ra, trong sách Mạnh Tử, ông còn cho rằng, con người

Trang 36

sở dĩ khác cầm thú là do con người có đạo lý, có đạo đức Những cái mà làm cho con người khác với cầm thú ấy, thì người dân lại bỏ mất Ông nói rõ:

“Người ta khác cầm thú có bao nhiêu đâu (Đó chẳng qua chỉ là nhân nghĩa mà) người dân thường bỏ mất, người quân tử giữ được” [19, tr.1073] Do vậy, để người dân có đạo đức, suy nghĩ và hành động có đạo đức, để họ khác với cầm thú, điều cơ bản nhất, theo Mạnh Tử, người dân phải luôn được giáo dục, giáo hóa Ông nói: “Lẽ thường của con người là, nếu ăn no, mặc ấm, nhàn rỗi mà không có giáo dục thì gần với loài cầm thú Thánh nhân lấy đó làm lo, sai ông Tiết làm quan tư đồ, dạy dân biết các giềng mối của con người: giữa cha con có tình thân ái, giữa vua tôi có nghĩa vụ, vợ chồng có phân biệt, anh em có thứ tự, bạn bè có chữ tín” [19, tr.949]

Cũng như Khổng Tử và Tuân Tử, trong quan niệm của Mạnh Tử, đối với dân, vì họ là người hèn kém về đạo đức và tài trí, trọng lợi hơn nghĩa, nếu không được giáo dục, giáo hóa thì không có việc ác nào mà họ không dám làm, cho nên, theo các nhà Nho này, giáo dục, giáo hóa phải là một biện pháp cần thiết, thường xuyên Những quan niệm về giáo dân của các nhà Nho tiên Tần nói chung và Mạnh Tử nói riêng cho thấy, mục đích của nội dung giáo dân là để người dân không chỉ có được đạo đức mà còn có mục đích lớn hơn, xa hơn là làm cho gia đình, xã hội có trật tự, có kỷ cương và ổn định; vì vậy mà, giáo dân còn là một trong những biện pháp để “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Rõ ràng ở đây, xuất phát từ chính việc coi trọng con người, coi trọng đạo đức con người, gần gũi với dân và thấy được vai trò của người dân mà các nhà Nho tiên Tần với các đại biểu là Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử luôn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải có nhiệm vụ không chỉ làm cho dân đông, dân giàu mà điều cơ bản là phải giáo hóa họ

Vậy biện pháp chung để giáo dục, giáo hóa dân của các nhà Nho tiên Tần

là gì? Giữa biện pháp giáo dục, giáo hóa bằng đạo đức và hình phạt, các nhà Nho tiên Tần đều coi trọng biện pháp đạo đức, còn hình phạt chỉ là biện pháp tạm thời để cứu vãn tình thế khó khăn trong việc giáo hóa, cai trị dân mà thôi

Trang 37

Do đó, dễ lý giải rằng, vì sao các nhà Nho tiên Tần không phê phán nhà cầm quyền sử dụng hình phạt mà chỉ khuyên họ không lạm dụng hình phạt đối với dân, không ham giết dân Như Khổng Tử nói: “Dắt dẫn dân bằng chính pháp, sửa trị dân bằng hình phạt, thì dân chỉ tạm tránh được khỏi tội lỗi, chứ không có lòng hổ thẹn Nếu dẫn dắt dân bằng đạo đức, sửa trị bằng lễ giáo, thì dân không những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hóa quy phục” [63, tr.245]

Có thể nói, chính sách giáo dân, trị dân như trên mà các nhà Nho tiên Tần

đề xuất được gọi là Đức trị, Nhân trị, tức là trị dân không phải là chủ yếu bằng pháp luật mà chủ yếu bằng giáo hóa, bằng nêu gương đạo đức Không thể phủ nhận đó là một chính sách trị dân ít nhiều mang tính nhân đạo, có yếu tố nhân đạo, với nhiều điểm tiến bộ so với thời đại, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều khiếm khuyết, hạn chế

Một mặt, nếu giáo dục, giáo hóa là phải dựa trên nền tảng coi “dân là gốc”, mọi chính sách đưa ra phải được lòng dân, vì dân Tuy nhiên ở Nho giáo, nội dung của giáo dục, giáo hóa trước sau cũng chỉ là những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản của Tam cương, Ngũ thường mà thôi Điều đó có nghĩa là, xét cho cùng, chính sách ấy (kể cả chính sách dưỡng dân) cũng chưa thực sự coi dân là chủ thể mà dân chỉ là phương tiện của nền chính trị đạo đức

Mặt khác, Đức trị là nền chính trị nhân đạo, lấy lòng dân Đức trị cần cho mọi xã hội, nhưng không phải là tất cả, là duy nhất trong nền chính trị Nếu chỉ dùng Đức để trị không thôi thì sẽ là ảo tưởng, đặc biệt là trong một bối cảnh loạn lạc, tranh giành nhau, cá lớn nuốt cá bé của thời Xuân Thu – Chiến Quốc Điều đó giải thích tại sao học thuyết của Khổng Tử nói riêng và các quan điểm của các nhà Nho tiên Tần nói chung không được trọng dụng vào thời điểm ra đời của học thuyết

Tiểu kết chương 1

Ngoài hạn chế do hoàn cảnh lịch sử mang lại, thì những tư tưởng về dân của các nhà Nho tiên Tần có ý nghĩa thật lớn lao Từ rất sớm họ đã nhận thấy vai trò của dân như là một lực lượng sản xuất to lớn và có ảnh hưởng nhất định đến

Trang 38

sự thịnh – suy, hưng vong của chế độ chính trị, sự ổn định của xã hội Đồng thời các nhà Nho còn rất coi trọng và đề cao vai trò của dân trong việc đưa đất nước đến thái bình, thịnh trị (dân là nước, vua là thuyền), luôn coi dân là gốc của nước (dân vi bản), là nền tảng của xã hội, của chính trị (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh) Dù không phải là nhân tố quyết định nhất nhưng dân có ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng chính trị, nền tảng xã hội của một thời đại, đến địa vị

và quyền lực của nhà vua, người cầm quyền (không có dân thì không có nước, không có nước thì không có vua) Từ việc nhận thức được vai trò và sức mạnh của dân, cho nên các nhà Nho tiên Tần luôn đòi hỏi, yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải thật sự coi dân là gốc của nước, là “cha mẹ của dân”, do vậy phải bằng chính sách và hành động thiết thực quan tâm và chăm lo đời sống vật chất của dân, phải bảo vệ dân, giáo dục, giáo hóa dân bằng đạo đức, bằng những tấm gương đạo đức của mình và bằng việc thi hành đường lối Đức trị (Nhân trị, Nhân nghĩa) đối với dân Đồng thời các nhà Nho cũng yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải luôn tu dưỡng đạo đức, đối xử đạo đức với dân, thi hành các biện pháp mang nội dung đạo đức, phải coi nhiệm vụ dưỡng dân và giáo dân là nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu Đó là tư tưởng xuất phát từ dân, lấy dân làm gốc

Những quan điểm tiến bộ về dân trong tư tưởng cổ đại Trung Hoa có ảnh hưởng rất lớn tới xã hội Việt Nam từ hàng ngàn năm nay mà các vị vua và những anh hùng yêu nước như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, hay gần hơn nữa

là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã sớm nhận thức được Và Hồ chí Minh, vị lãnh tụ của dân tộc Việt Nam là người am hiểu sâu sắc, kế thừa có chọn lọc và vận dụng rất sáng tạo trong cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài đầy gian khổ, hy sinh vì dân vì nước của Người Chúng ta sẽ tìm hiểu ảnh hưởng của

tư tưởng thân dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam trong chương 2 dưới đây

Trang 39

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ TƯ TƯỞNG NỔI BẬT

VỀ THÂN DÂN TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

(QUA MỘT SỐ ĐẠI BIỂU TIÊU BIỂU)

Trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam có những tư tưởng đặc sắc và tiến bộ về vai trò và sức mạnh của Dân, coi Dân là gốc của nước Những tư tưởng này chiếm vị trí quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến đường lối chính trị của mỗi triều đại, mỗi nhà cầm quyền

Nhận thức về vai trò, sức mạnh của dân chúng đối với sự tồn vong, phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc và định ra những đường lối chính trị, chính sách

xã hội tiến bộ theo hướng thân dân là một quá trình lâu dài trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Quá trình này đi từ sự kế thừa các nhân tố dân chủ mầm mống trong xã hội cổ đại, tới sự tiếp thu ảnh hưởng tư tưởng thân dân trong Nho giáo tới sự nhận thức và tầm cao lý luận làm nên một truyền thống lý luận chính trị tiến bộ trong lịch sử tư tưởng dân tộc Điển hình của truyền thống đó là các nhà

tư tưởng: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và

Hồ Chí Minh (linh hồn của Đảng cộng sản Việt Nam)

2.1 Tư tưởng lấy dân làm gốc của Trần Quốc Tuấn

Trong lịch sử dân tộc, ở thời Lý – Trần, những tư tưởng về dân và chính sách quan tâm đến đời sống nhân dân được phát triển lên một bước mới, trên cơ

sở thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta Trong quan niệm của các vị vua, các nhà tư tưởng, nhân dân được coi là một lực lượng quan trọng nhất quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh giữ nước Điển hình là tư tưởng của Trần Quốc Tuấn về vị trí, vai trò của nhân dân, của lòng dân, ý dân

Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, vị thánh tướng hiền minh của dân tộc, tầm vóc tài năng quân sự kiệt xuất vượt ra khỏi ranh giới Đại Việt, là một trong mười tướng lĩnh tài giỏi nhất mọi thời đại được thế giới tôn vinh Tài năng quân sự của ông biểu hiện rõ nhất là sớm nhận thức được nguồn sức mạnh của nhân dân trong giữ nước, đánh giặc ngoại xâm

Trang 40

Trong sự nghiệp hiển hách ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, Hưng Đạo vương có vai trò đặc biệt quan trọng Ông được vua Trần tin yêu, giao quyền tiết chế, thống suất cả vương hầu, tông thất, tướng lĩnh, dân binh, điều động toàn quân chống giặc Bản lĩnh của Hưng Đạo vương thể hiện ở quyết tâm đánh địch và đánh thắng địch mạnh không gì lay chuyển, ngay cả những lúc thế nước ngàn cân treo sợi tóc đều tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng, là ngọn cờ giữ vững lòng quân, lòng dân Khi sự mất còn của đất nước trong gang tấc, quân xâm lược tưởng như đã đè bẹp được ý chí đấu tranh của Đại Việt, nội bộ quý tộc và quan lại vương triều đã nao núng, thậm chí hàng địch thì Hưng Đạo vương vẫn một mực hiên ngang, củng cố và giữ vững lòng tin vào đại thắng của chính nghĩa

Tài năng kiệt xuất của Hưng Đạo vương chính là việc nhận thức rõ nhân dân mới là nguồn sức mạnh giữ nước, nguồn sức mạnh vô địch, nguồn sức mạnh

mà không một kẻ thù tàn bạo nào có thể khuất phục Ông luôn chăm lo sức dân ngay từ thời bình cũng như trong thời chiến Đỉnh cao chủ trương thân dân của ông là tư tưởng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc mới là thượng sách giữ nước”

Ông coi nhân dân là lực lượng chủ yếu để tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước, bảo vệ chế độ phong kiến Khi trả lời vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước, Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra rằng: “Ngày xưa Triệu Võ để dựng nước, vua Hán cho quân đánh thì nhân dân làm kế thanh dã, rồi đem quân từ Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, dùng đoản binh úp đằng sau, đó là một thì Đến thời Đinh Lê, dùng được người hiền lương, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mỏi mệt suy yếu, trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống, đó lại là một thì Nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm chiếm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt để đánh Khâm Châu, Liêm Châu, mấy lần đến tận Mai Lĩnh, là vì có thể đánh được Mới rồi Toa Đô và Ô

Mã Nhi bốn mặt bao vây, vì vua tôi cùng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt, đó là trời xui nên vậy Tóm lại, giặc cậy trận dài, ta cậy binh

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938), Khổng giáo phê bình tiểu luận, Nxb. Quan hải Tùng thƣ, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng giáo phê bình tiểu luận
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Quan hải Tùng thƣ
Năm: 1938
3. Lương Minh Cừ (2005), “Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử”, Tạp chí Triết học, (số 6), tr.35 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Lương Minh Cừ
Năm: 2005
4. Doãn Chính (chủ biên) (2002), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2002
5. Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý (chủ biên) (1994), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 1994
6. Hàn Thế Chân dịch (1995), Hàn Phi Tử - Sự phát triển của tư tưởng Pháp gia, Nxb. Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Phi Tử - Sự phát triển của tư tưởng Pháp gia
Tác giả: Hàn Thế Chân dịch
Nhà XB: Nxb. Đồng Nai
Năm: 1995
7. Đoàn Trung Còn dịch (1996), Mạnh Tử (Thượng Mạnh Tử), Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử (Thượng Mạnh Tử)
Tác giả: Đoàn Trung Còn dịch
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1996
8. Đoàn Trung Còn dịch (1996), Mạnh Tử (Hạ Mạnh Tử), Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử (Hạ Mạnh Tử)
Tác giả: Đoàn Trung Còn dịch
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1996
9. Gia Dũng (soạn giả) (2010), Nguyễn Trãi - Hợp tuyển thơ, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi - Hợp tuyển thơ
Tác giả: Gia Dũng (soạn giả)
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2010
10. Võ Xuân Đàm (1996), Tư tưởng của Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng của Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam
Tác giả: Võ Xuân Đàm
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 1996
12. Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên) (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam
Tác giả: Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
13. Lại Văn Hùng, Đoàn Ánh Dương (2008), Nguyễn Trãi cuộc đời và tác phẩm, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Lại Văn Hùng, Đoàn Ánh Dương
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2008
14. Trần Ngọc Hưởng (2003), Luận đề về Nguyễn Trãi, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận đề về Nguyễn Trãi
Tác giả: Trần Ngọc Hưởng
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2003
15. Nguyễn Duy Hinh (1986), “Hệ tư tưởng Lý”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (số 1), tr.7 - 15, tr.24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Lý”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Năm: 1986
16. Nguyễn Duy Hinh (1986), “Hệ tư tưởng Trần”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (số 4), tr.36 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Trần”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Năm: 1986
17. Nguyễn Duy Hinh (1986), “Hệ tư tưởng Lê”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (số 6), tr.6 – 18, tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Lê”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Năm: 1986
18. Nguyễn Duy Hinh (1986), “Hệ tư tưởng Nguyễn”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Nguyễn”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Năm: 1986
19. Chu Hy (1996), Tứ thư tập chú, (Nguyễn Đức Lân dịch và chú giải), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thư tập chú
Tác giả: Chu Hy
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 1996
20. Vũ Khiêu (chủ biên) (1997), Nho giáo và sự phát triển của Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và sự phát triển của Việt Nam
Tác giả: Vũ Khiêu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1997
21. Trần Trọng Kim (1964), Việt Nam sử lược, tập 1, Nxb. Đại Nam, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb. Đại Nam
Năm: 1964
22. Phùng Hữu Lan (1998), Đại cương triết học sử Trung Quốc, Nguyễn Văn Dương dịch, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học sử Trung Quốc
Tác giả: Phùng Hữu Lan
Nhà XB: Nxb. Thanh Niên
Năm: 1998

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w