1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của CNH, HĐH đối với sự thay đổi các giá trị truyền thống của người Việt Nam

93 769 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 44,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc phân tích sự chuyển biến các giá trị truyền thống trứơc tác động của CNH, HĐH và các yếu tố của thời kỳ hiện đại là m ột vấn đề hết sức cấp thiết nhầm phát huy sức mạnh tiềm tàng tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG Đ ẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ N H ÂN VĂN

Trang 2

NHỮNG CHỮ Vlếr TẮT

Trang 3

CHƯƠNG H: MỘT s ố GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIEN

2.1- Quá trình chuyển biến các giá trị truyền thống trong

2.2- Giải pháp nhằm phát huy giá trị truyền thống

Trang 4

MỞ ĐẦU

I- TÍNH C Ấ P THIẾT CỦA ĐỂ TÀI

Bước sang thế kỷ XXI với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công niỉhệ nhân loại đã tạo ra những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá làm cho đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao Trong xu thế đó Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nòng nghiệp lạc hậu bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN chúng ta không còn con đường nào khác là phải đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH

Đại hội Đ ảng toàn quốc lần thứ IX đã một lần nữa khảng định đẩy mạnh

sự nghiệp CNH, HĐH là con đường tất yếu để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Không những thế với xu thế toàn cầu hoá như hiện nay CNH, HĐH được xem như động lực mạnh mẽ nâng cao vị thế và chủ quyền của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần củng cố và giữ vững độc lập dân tộc

Thực tế cho thấy quá trình thực hiện CNH, HĐH trong những năm qua bên cạnh những thắng lợi to lớn đã đạt đựơc vẫn còn tồn tại những bất cập trong cách nghĩ, lối sống đặc biệt là sự lựa chọn các thang giá trị mới

Những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, lối sống tình nghĩa, tinh thần cố kết cộng đ ồ n g trước đây vốn là những “khuôn m ẫu” cho mọi hành

vi cứa người V iệt Nam, đến nay đang đứng trước thách thức Do chạy theo lối sống thực dụng m à m ột bộ phận không nhỏ người Việt Nam hiện nay đã lấy dồng tiền làm thước đo cho mọi giá trị Chỉ vì tiền mà họ sẩn sàng đánh mất lương tri, phẩm giá trà đạp nên những tình cảm tốt đẹp trong quan hệ giữa người và người

Về mặt lý luận liệu sự thay đổi trong quá trình lựa chọn giá trị như vậy

có ảnh tới việc xây dựng con người mới hay không ? Mục tiêu xây dựng

CNXH ở Việt Nam có đạt được hay không ? Bời con người Việt Nam chính là

chủ thè’ cúa quá trình xây dựng và phát triển đất nước

Trang 5

Việc phân tích sự chuyển biến các giá trị truyền thống trứơc tác động của CNH, HĐH và các yếu tố của thời kỳ hiện đại là m ột vấn đề hết sức cấp thiết nhầm phát huy sức mạnh tiềm tàng trong con người Việt Nam, đồng thời giữ gìn nét đẹp trong bản sắc văn hoá dân tộc, để nâng nó lên m ột tẩm cao mới xứng đáng với yêu cẩu của thời kỳ hiện đại Với những lý do như trên nên tôi

đã chọn vấn đề: “tác động của CNH, HĐH đối với sự thay đổi các giá trị truyền thống của người V iệt N am ” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm nhạn thức rõ sự chuyển biến đó góp phần nhỏ bé vào việc phát huy các giá truyền thống, thông qua sự nghiệp giảng dạy thế hệ trẻ nơi m ình côngtác

II- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨƯ CỦA ĐỂ t à i

Vấn đề con người từ lâu đã thu hút nhiều lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt là triết học Trên nền tảng này mối quan hệ giữa con người với sự nghiệp CNH, HĐH đã được nghiên cứu cả bề rộng, cả bể sâu, con người vừa với tư cách là chủ thể của CNH, HĐH vừa như là mục tiêu của sự nghiệp ấy

Liên quan đến hướng để tài này có rất nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu tiêu biểu như: Phạm M inh Hạc chủ biên (cb) "vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH" chương trình KX07; Phạm Tất Dong (cb) "định hướng phát triển đội ngũ trí th ứ c ’V iệt Nam trong CNH, HĐH" chương trình KX04; Nguyễn V ăn Phúc,"về sự khấc phục những tác động tiêu cực của CNH,

H ĐH đối với sự phát triển nhân cách" triết học số 1/1998; N ghiên cứu xã hội học ,"vai trò của con người trong sự nghiệp CNH, HĐH" NXB CTQG Hà Nội 1996; Dương Phú Hiệp, "sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường", tạp chí triết học số 4/1992; Đi sâu vào việc nghiên cứu những thay đổi của con người Việt Nam trước sự nghiệp CNH, H ĐH đặc biệt là những thay đổi về giá trị, định hướng giá trị cũng ngày càng được quan tâm như các công trình Các giá trị truyền thống và con người Việt N am hiện nay (KX 07 -

02, Hà Nội 1994) Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị (KX07 - 04, Hà Nội 1994); Nguyễn Trọng Chuẩn "Đôi điểu suy nghĩ về giá trị

và sự biến đổi các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường" triết học sỏ 1/1995; Nguyễn T hế Kiệt, "Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc

2

Trang 6

định hướng các giá trị đạo đức hiện nav" triết học số 6/1996; Nguyễn Quanti Uẩn, "nghiên cứu về định hướng giá trị của con người Việt Nam" triết học số 1/1995; Nguyễn Trọng Chuẩn "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển", triết học số 2/1998; Đặng Hữu Toàn "hướng các giá trị đạo đức truyền thống theo hệ chuẩn giá trị chân - thiện - mỹ trong bối cảnh toàn cầu hoá và phát triển kinh tế thị trường" triết học số 4/2001; Trần Nguyên Việt "giá trị nhân vãn truyền ihống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá" triết học số 4/2001; Mai thị Quý "vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá” triêt học số 6/2001; Đỗ Huy "Giá trị truyền thống Việt Nam trước thách thức của toàn cầu hoá" triết học sô' 8/2001.

Như vậy, vấn đề con người Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH, nhất là vấn đề vai trò con người và phát huy các giá trị truyền thống trong quá trình CNH,HĐH đã được nghiên cứu và lý giải khá nhiều Song sự đề cập có tính chất chuyên biệt về giá trị truyền thống trước tác động của CNH, HĐH còn chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy vấn đề này cần được nghiên cứu và đi sâu hơn nữa nhàm làm sáng tỏ cơ chế tác động giữa chúng trên cơ sở đó vận dụng vào việc phát huy sức mạnh con người Việt Nam hiện nay đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

III- PHẠM VI NGHIÊN c ứ u

Nghiên cứu "tác động của CNH, HĐH đối với sự thay đổi một số giá trị truyền thống trong con người Việt Nam" tác giả chủ yếu xem xét nó dưới khía cạnh triết học Phân tích nguyên nhân làm biến đổi các giá trị truyền thống trong con người Việt Nam là do sự thay đổi của sản xuất

Tuy nhiên, trong khuôn khổ một Luận văn thạc sỹ tác giả không thể nghiên cứu khảo sát tất cả những giá trị đã và đang thay đổi Công trình đó phải được nghiên cứu ở cấp cao hơn nữa Trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ xem xét một số giá tiị tiêu biểu Qua đó nêu ra một số giải pháp mang tính gợi mở để xây dựng và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH

Trang 7

IV- M Ụ C ĐÍCH VÀ NHIÊM v u CÚA LUẬN VĂN

Mục đích: Luận vãn làm rõ tác động của CNH, HĐH đến sự biến đổi các giá trị truyền thống của con người Việt Nam

Để đạt được mục đích này nhiệm vụ của Luận vãn là:

- Trình bầy đặc điểm của quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam và sự tác động của CNH, HĐH đối với đời sống kinh tế - xã hội

- Chỉ ra những thay đổi cúa các giá trị truyền thống và sự lựa chọn những giá trị mới trong con người Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát triển giá trị ưuyền thống trong điều kiện hiện nay, nàng cao bán linh của con người Việt Nam hiện đại

V- C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NHIÊN c ứ u

- Cơ sở lý luận của Luận văn là những quan điểm của chủ nghía Mác- Lènin, của Đ ảng cộng sản Việt Nam, của Hồ Chí Minh về CNH, HĐH về con người phát triển toàn diện và một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học V iệt Nam có liên quan đến nội dung được đề cập trong luận vãn

- Luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp đối chiếu so sánh

VI- ĐÓ NG GÓP CỦA LUẬN VÃN

Góp phần làm rõ sự tác động của CNH, HĐH đến đời sống kinh tế - xã hội dẫn đến những thay đổi về các giá trị truyền thống trong con người Việt Nam hiện nay

Để xuất m ột số giải pháp có tính định hướng đến việc gìn giữ và nâng cao giá trị truyền thống nhằm phát huy sức mạnh con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu giảng dạy vấn đề CNH, HĐH và vấn đề con người cũng như sự nghiệp xây dựnu con người mới ở nước ta hiện nay

VII- KẾT CÂU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mớ đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảọ, luận văn gồm

02 chương, 05 tiết

4

Trang 8

N Ộ I DUNG

CHƯƠNG 1GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA CON NGƯỜI VIÊT NAM TRONG s ự

NGHIỆP CNHJHDH 1.1- MỘT SỔ VẤN ĐỂ VỂ CNH, HĐH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1.1- Sơ ỉược quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam

Lịch sử cho chúng ta thấy muốn chuyển biến một xã hội với nền sản xuất

n ông nghiệp lạc hậu lên xã hội công nghiệp hiện đại tất yếu phải thực hiện CNH

Nhận thức rõ tẩm quan trọng đặc biệt đó ngay từ những năm 60 tại đại

hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) Đảng ta đã chỉ rõ "muốn cải tiến tình

trạng nông nghiệp lạc hậu hiện nay của nước ta, đưa nước ta từ c h ế độ sản xuiất nhỏ là chủ yếu lên sản xuất lớn X H C N , chúng ta không có con đường nào kihác ngoài con đường C N H X H C N V ì vậy C N H XH C N là nhiệm vụ trung

tã m của thời kỳ quá độ ở nước ta" [14, 74] Tuy nhiên trong thời kỳ đó chỉ có

m iền Bắc mới có điều kiện để tiến hành CNH còn m iền Nam vẫn phải tiếp tục thự c hiện cuộc cách m ạng dân tộc dân chủ CNH XHCN ở miền Bắc nhằm

m ục tiêu

"xảy diciig m ột nền kinh t ể XHCN cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, lũi tiên phát triển công nghiệp nặng m ột cách hợp lý, đồng thời ra sức phút triển nông nghiệp vả công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc

h ậ u thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại" [42,

199, 2 00J

CNH XHCN trong đó lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát tri'ển công nghiệp nặng là chiến lược nhất quán, xác định lâu dài từ đại hội III

và được chỉnh sửa, bổ sung qua đại hội IV (12/1976) đại hội V (1981) Với

ch ủ trương CNH như trên trong suốt thời gian từ 1960 đến 1981 chúng ta đã

đạ t được nhữniì thành tựu to lớn đánh thắng hai lẩn chiến tranh phá hoại của

Trang 9

Mỹ ở miền Bác, tập trunu sức nu ười sức của tri viện cho miền Nam xứng đáng

là hàu phươnu vữnu chác để thống nhất đất nước Đồng thời đã xây dựng được

cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH đặc biệt là các ngành thuộc công nghiệp nặng như: công nghiệp giao thông, xây dựng Từ năm 1975 tình hình xã hội

có nhữnLỊ thay đổi, trong uiai đoạn này đất nước đã hoàn toàn thống nhất, cư

sứ kinh tế - xã hội của 02 miền có những đặc trưng không giống nhau Đồng thời chúng ta phải đối mặt với những thách thức mới đó là nguồn viện trợ từ Liên xỏ và các nước XHCN bị cắt giảm, đế quốc Mỹ thực hiện chính sách cấm vặn đối với Việt Nam Trước tình hình đó lẽ ra CNH phải có sự thay đổi cho phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống nhân dàn, theo kịp với quá trình phát triển chung của thế giới Nhưng do vẫn duy trì chú trương "lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng" quá lâu, hậu quả là làm cho nền kinh tế chậm phát triển, cơ cấu kinh tế bất hợp lý và mất cân đối nghiêm trọng, nông nghiẹp yếu kém không đáp ứng được những yêu cầu trong nước Công nghiệp nặng đầu tư lớn nhưng không phát huy tác dụng Đời sống nhân dân vốn đã nghèo do hậu quả của chiến tranh để lại, cộng với sự "thắt lưng buộc bụng"

để đầu tư vốn cho công nghiệp nặng khiến cho nó càng trở nên nghèo khó hơn, niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước bị giảm sút

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (6/1986) đã thực hiện một bước ngoặt lứn cho sự nghiệp CNH Tuy vẫn xác định CNH là con đường đưa đất nước đi lèn CNXH nhưng nội dung CNH đã chuyển hướng sang chú trọng vào 3 chương trình lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu CNH từ đây được thực hiện trong cơ chế thị trường dưới sự quản lý ở tầm vĩ

mô của nhà nước theo định hướng XHCN

Trải qua các kỳ đại hội Đảng VII, VIII, IX nội dung CNH đã có sự bổ sung, sứa đối phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước cũng như bối cảnh quốc tế hơn

Đường lối "đổi mới" toàn diện cùng với cơ chế thị trường được áp dụng kết hợp với những nội dung CNH phù hơp với điều kiện hoàn cảnh đất nước,

n h ờ Vày trong nhữnií n ă m qua đã khơi d ậy được mọi tiềm năn g trong sản xuất

6

Trang 10

đ ặ j biệt là tiềm nãrm sức lao ilộniỊ, tạo động lực to lớn thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triến.

Đánh giá thành tựu 10 nãrn tiến hành đổi mới tại đại hội Đánỵ toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khárm định

"tình trạng đình đốn trong sân xuất, rối ren trong lim thông được khấc pluic, kinh tê'táng trưởng nhanh, nhịp.độ tảng tổng sản phẩm trong nước GDP bình quân hàng núm thời kỳ 1991 - 1995 đạt 8,2%, lạm phát đẩy lùi từ 77-1,7% năm 1986 xuống còn 67,1% năm 1991, 12,7% năm 1995 lương thực không nhữìig đủ ủn mù cỏn xuất khẩu được mối năm khoắng 02 triệu tấn gạo" [17,10].

Việc xác định mỏ hình, nội dung đúng đấn của CNH cùng với cơ chế thị trường định hướng XHCN là một chủ trương hết sức khoa học, làm động lực

to lớn đưa nước ta nhanh chóng ổn định nển kinh tế, chính trị xã hội Trên cơ

sở đó quốc phòng, an ninh được củng cố, quan hệ đối ngoại phát triển mạnh

mẽ, phá thế bao vây cấm vận của đế quốc Mỹ, mở rộng hợp tác và tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế

Như vậy, CNH là nhiêm vu trọng tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển phàn công lao động xã hội, khắc phục tình trạng manh m ún phân tán của sản x u ất nông nghiệp, tạo cơ cấu kinh tế hợp lý nâng cao đời sống vật chất và vãn hoá tinh thần cho nhân dân

Những thành công của sự nghiệp đổi mới một mặt giúp chúng ta đánh giá đúng những ưu nhược điểm của CNH thực hiện trong cơ chế quan liêu bao cấp, mặt khác đó cũng là cơ sở để chúng ta định ra những bước đi cho CNH trong thời kỳ mới

CNTÍ giai đoạn từ 1960 - 1986 bên cạnh những thành công đã đạt được vẫn còn mắc phải những hạn chế, sai lầm trong việc xác định mục tiêu, mô hình, bước đi, tổ chức thực hiện trong thực tế

Hạn chế của quá trình CNH ử Việt Nam giai đoạn 1960 - 1986 cụ thể như s au:

Trang 11

Thứ nhất: xác định mỏ hình CNH còn chưa thích hợp, quá cổng kềnh thiên về công nghiệp nặng, áp dụng một cách máy móc mỏ hình CNH của Liên Xỏ không tính đến hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam Lẽ ra CNH ở nước ta phải coi nông nghiệp là mật trận hàng đầu, kết hợp hài hoà phát triển nông nghiệp với các ngành kinh tế khác Bởi Việt Nam có đến

>80% dân số sống bằng nông nghiệp cộng với chiến tranh phá hoại ác liệt, CNH thời kv này chưa coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu do vậy chưa kết hợp nguồn lực trong nước với ncuồn lực thế giới, giữa sản xuất cho thị trường

trong nước với sản xuất cho xuất khẩu Theo thống kê "sản lượng lương thực

binli quản đầu người dưới 300kg; GDP bình quản đầu người khoảng dưới Ị0 0 USD" [14, 7 3 J.

Thứ hai: do tập trung vào việc đầu tư công nghiệp nặng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng nên cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ bất hợp lý Nông nghiệp chậm phát triển, dịch vụ hầu như không phát triển duy chí có một số mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu được nhà nước phân phối thông qua hình thức tem phiếu Hình thức này chỉ phù hợp trong điều kiện chiến tranh Khi thống nhất đất nước cơ cấu kinh tế trên phải chuyển đổi nhưng quá trình chuyển đổi diễn ra còn chậm, chủ yếu vẫn đầu tư tiếp tục cho công nghiệp nặng

Thứ ba: công nghiệp nặng tuy đầu tư vốn lớn nhưng chưa có trọng tâm trọng điểm cho nên không phát huy được nguồn vốn, hiệu quả kinh tế không cao, nhiều xí nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ kéo dài, tỷ trọng đóng góp của

công nghiệp vào GDP còn nhỏ bé "năm 1976 là 25,3%, năm 1980 lả 20,2%,

năm 1986 là 28,1% '' [14, 12].

Thứ tư: CNH trong thời kỳ này không thấy được đặc điểm của nước ta khi đi vào CNH vẫn chỉ là một nước có nền kinh tế lạc hậu chủ yếu dựa vào nông nghiệp Nếu lấy CNH nồng nghiệp là mặt trận hàng đầu chúng ta sẽ tận dụng được nguồn lao động dồi dào cũng như các tiềm năng khác trong lĩnh vực nông nghiệp như thị trường, cơ sở vật chất - kỹ thuật, nhất là đầu tư còn ít Trên cơ sở đó sẽ phát huy dược thế mạnh trong nước, góp phần chuyển dịch lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ

8

Trang 12

'ĩh ứ năm: các bước đi của quá trình CNH diễn ra còn chậm, chưa kết hợp CNH với HĐH, chưa biết "đi tắt" "đón đầu" những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại CNH mà trọng tâm là công nghiệp nặng chỉ ở trình độ CƯ khí hoá trong khi thế giới đã bước sang tự động hoá

Rõ ràng mặc dù CNH được xem là trọng tâm để xây dựng thành công CNXH nhưng nhận thức về CNH còn đơn giản, phiến diện, máy móc Mục tiêu CNH đề ra quá lớn, dàn trải quá nhiều nội dung đặc biệt tập trung quá nhiều nguồn vốn vào phát triển công nghiệp nặng Mặt khác CNH lại được thực hiện theo kiểu khép kín hướng nội, trong co chế bao cấp khóng chú ý đến lợi ích người lao động, triệt tiêu nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác đã ỉàrn cho quá trình CNH thời kỳ 1960-1986 chưa phát huy hiệu quả

1.1.2- Đặc điểm của quá trình CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay

Quá trình CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay được đánh dấu bằng mốc thời gian từ nãm 1986 Đương nhiên chủ trương CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay có những đặc điểm không giống với CNH XHCN mà trước đây chúng ta đã tiến hành, cũng không dập khuôn một cách máy móc bất cứ mô hình CNH nào trên th ế giới CNH trong giai đoạn hiện nay được xác định rõ trong nghị quyết hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khoá VII là

"CNH, H ĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, x ã hội từ sử dụng lao động thú công là chính sang sử dụng một cách p h ổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phươìig pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động x ã hội c a o " [16, 65].

Cần khẳng định nội dung, cách thức, con đường, mục tiêu của quá trình CNH

đã được "đổi mới" điều chỉnh cho phù hợp với tình hinh kinh tế - xã hội, điều kiện

cụ thể của Việt Nam, theo kịp với xu thế phát triển chung của nhân loại

Thực tế cho thấy CNH ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu rất lớn, song so với thế giới chúng ta còn thua kém một khoảng cách rất lớn: Nền sản xuất nước ta chủ yếu vẫn là nền sản xuất nông nghiệp, công nghiệp nhỏ bé, kỹ thuật thủ công lạc hậu Nước ta vẫn thuộc loại

Trang 13

nước nghèo trên thố giới Cu thể thu nhập quốc dân tính đến nãm 2000 là 400 USD/1 ng ư ờ i/1 năm

"trong khi đó ở các nước công nghiệp phút triển tại năm 1988 thì Anh lù

9620 USD/1người/1nám; Pháp là 10.780 USD/1người/1năm; Đức là 11.400 USD/1 người/ ỉ năm; N hật lả 10.500 U SD /ỉ người/1 năm; M ỹ lù 14.010

U SD /lnqườH Inăm , còn Trung Quốc là 2.500 USD/1 người/1 năm" [21, 29].

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, hội nhập vào khu vực

và trên thế giới chúng ta không còn con đường nào khác ngoài coil đuờiig tiếp tục thực hiện CNH, HĐH đất nước

Như vậy quan điểm của Đảng về CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay đã được khẳng định tại văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX cùng nhiều hội nghị trung ương Song về cơ bản đặc điểm của CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay là:

T hứ nhạt: C N H phải đi liền với HĐH:

Trong giai đoạn hiện nay CNH không thể thực hiện một cách tuần tự mà

lịch sử nhân loại đã trải qua từ thủ công —> nửa cơ khí —> cơ khí —» tự động

hoá Chúng ta cũng không thể tiến hành CNH với kỹ thuật cổ điển và cơ chế quản lý cũ Cả 2 cách làm như vậy sẽ làm cho nước ta ngày càng trở nên lạc hậu Đ ảng ta đã chi rõ bối cảnh thế giới đang diễn ra những thay đổi lớn trên mọi lĩnh vực nguyên nhân chính là do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra như vũ bão Nếu chúng ta tiến hành CNH theo con đường mà các nước công nghiệp đã đi qua thì mãi mãi chúng ta chỉ là nước lạc hâụ, lệ thuộc, thậm chí sẽ trở thành bãi thải công nghiệp của thế giới

Việc tiến hành CNH đi liền với HĐH cho phép rút ngắn khoảng cách lạc hậu, bằng cách kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghệ với những bước dột phá nhằm tranh thủ những cơ hội để đi tắt, đón đầu nắm bắt những công nghệ mới phát triển theo chiều sâu tạo nên những nghành mũi nhọn theo kịp với trình độ tiến triển của khoa học - công nghệ hiện đại

Lịch sử CNH trên thế giới cho chúng ta thấy không thể tiến hành CNH theo những bước đi tuần tự cũng như cách quản lý cũ

10

Trang 14

Để tiến hành CNH nước Anh phải mất tới 120 năm mới đạt được một nền côn ụ nghiệp dẫn đầu thế giới ở thế kỷ XVIII Nhưng đối với nước Mỹ thời gian CNH lại được rút ngắn còn 90 năm Đối với Nhật Bản thời gian cho CNH được rút ngắn hơn nữa chỉ còn 50 nám Các nước NIEs đi sau như Hàn Quốc, Hồng Kỏntí, Đài loan, Singapore v.v thời gian tiến hành CNH được rút ngắn hơn nữa chí còn 30 năm Ngày nay đối với các nước ASEAN con đường CNH rút ngắn còn 20 năm Như vậy từ bài học lịch sử của các quốc gia tiến hành CNH chúng ta có thể khẳng định rằng những nước đi sau nếu biết tiếp thu kinh nghiệm và tận dụng lợi thế về vốn, thị trường công nghệ của các nước đi trước thì thời gian CNH sẽ được rút ngắn rất nhiều (các nước ASEAN tiến hành CNH sc với nước Anh rút ngấn được 0Ỉ Ihế kỷ) Việt Nam thực hiện

CNH như là thành viên "đi sau của các nước đi sau" vì vậy "Đủng ta chủ

trương không lặp lại nhữìig mô hình C N H c ổ điển, mà tự tìm lấy m ội mô hình pliù hợp với hoàn cảnh đất nước và điều kiện th ế giới ngày nay" [ 4 /.

Thứ hai: C N H , H ĐH được thực hiện trong nền kinh t ế hàng hoá vận động theo cơ c h ế thị trường định hướng XHCN

Trong khi nghiên cứu lịch sử xã hội loài người C.Mác đã chỉ ra rằng: ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đây được coi như quy luật của sự phát triển xã hội Ở nước ta việc thực hiện CNH , HĐH chính là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển song do tính chất không đồng đều về trình độ giữa các vùng miền nên việc thiết lập các thành phần kinh tế vận động theo cơ chế thị trường chính là tạo

ra quan hệ sản xuất phù hợp tương ứng với tình trạng đó

Kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường là mô hình kinh tế tiến bộ, là nấc thang cao hơn kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc Trong kinh

tế thị trường định hướng XHCN phải có sự quản lý của nhà nước, đây "là mô hình kinh tế mà trong đó hầu hết các quan hệ kinh tế được thực hiện trên thị trường có sự quản lý của nhà nước" (40, 170)

Trước 1986 CNH được thực hiện trong nền kinh tế chỉ huy, do chỉ có hai thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể, lại cộng với sự bao cấp từ trên xuống dưới, từ đầu vào đến đẩu ra của sản phẩm, nên đã không kích thích được việc nâng cao tay nghề, áp dụng khoa học - công nghệ vào trong quá

Trang 15

trình sản xuất kinh doanh, khiến cho việc thực hiện CNH chưa đạt hiệu quả cao Mật khác CNH thời kỳ này chỉ tập trung ở công nghiệp nặng còn nông nghiệp dịch vụ không trú trọne do đó không huy động được sức mạnh toàn dàn trong việc thực hiện CNH.

Thực hiện kinh tế hàng hoá là một tất yếu khách quan để khắc phục những hạn chế mà hậu quả của nền kinh tế bao cấp để lại và đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước

Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, định nướng XHCN trong giai đoạn hiện nay ở nước ta bao gồm 6 thành phần kinh tế; Ngoài thành phần kinh tế Nhà nước, tập thể còn có sự tham gia của thành phần tư bản và tư nhân Đa dạng hoá các thành phần kinh tế thực chất là huy động mọi nguồn lực, tiềm năng về vốn, khoa học công nghệ của toàn dân cùng nguồn lực của thế giới nhằm tranh thủ thời cơ vượt qua thách thức phát huy sức m ạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại Cơ chế vận hành của kinh tế ở nước ta là thị trường Căn cứ vào thị trường nhất là các quy luật của

nó (quy luật giá trị, quy luật cung câù, quy luật cạnh tranh V.V ) các chủ thể phải tính đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh Muốn thu nhiều lợi nhuạn nhất về phía mình buộc các chủ thể phải huy động sức mạnh về vốn, áp dụng công nghệ, khoa học cũng như trình độ quản lý tiên tiến, nâng cao khả náng cạnh tranh trên thị trường Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường là đòn bẩy đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước

Thực tế cho thấy CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực v ề mặt tích cực nó có tác dụng kích thích mạnh sự quan tâm thường xuyên đến việc đổi mới áp dụng khoa học - công nghệ, trình độ quản lý , tính nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng Nó bình tuyển các doanh nghiệp, cá nhân giỏi tiếp nhận những nhân tố tích cực tiến

hộ, đào thải những nhân tố lạc hậu Trên phương diện này nó đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước, v ề mặt tiêu cực : do chạy theo lợi nhuận các nhà sán xuất không tính đến mật trái của các thành tựu khoa học công nghệ gây ra Quan hệ giữa con người và con người bị " dìm xuống dòng nước lạnh" của sư

12

Trang 16

tính toán ích kỷ, tình trạng nhân phẩm đạo đức coi nhẹ, tôn thờ đồng tiền, tàn phá thiên nhiên một cách không thương tiếc.

Như vậy thực hiện CNH , HĐH trong điều kiện kinh tế hàng hoá mà giai đoạn cao là kinh tế thị trường như con dao hai lưỡi song vấn đề là người

sử dụng nó là ai và nhằm mục đích gì? Đương nhiên con dao trong tay bác sĩ

sẽ cứu được người, còn trong tay sát thủ sẽ giết chết người, ở đây nhà nước

có vai trò quyết định trực tiếp đến mục tiêu của CNH, HĐH

CNH trong chủ nghĩa tư bản đẻ ra sự phân hoá giầu nghèo một cách quá đáng giữa một bên là giai cấp tư sản sở hữu phần lớn của cải trong xã hội với một bên là giai cấp vô sản sống trong cảnh nghèo đói bần cùng Chẳng hạn hiện nay, theo báo cáo của OECĐ (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) thì

"tài sản của 3 tỉ phú hàng đầu nhiều hơn tổng GNP của tất cả các nước đang phát triển với 600 triệu dân của họ" {69,3]-

Rõ ràng vơí phương thức bóc lột, giai cấp tư sản tạo ra sự nghèo khổ không chỉ trong phạm vi quốc gia m à còn cả thế giới

Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam trong thời kỳ qúa độ tồn tại là một tất yếu C.Mác đã từng chỉ

rõ "giữa x ã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biêh

cách mạng từ x ã hội nọ sang x ã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời

kỳ quá độ chính trị, trong đó nhà nước không th ể là cái gì khác hơn là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản" [ 6,31,32].

Nhận thức vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển lực lượng sản xuất xã hội, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước của kinh tế thị

trường Đảng ta đã khẳng định: " Sản xuất hàng hoá không đối lập với CNXH,

mà là thảnh ticii phát triển của nền văn minh nhân loại, tổn tại khách quan cần thiết cho cô tỉ % cuộc xây dioig C N X tỉ và cả khi CNXH đ ã được xây dipĩg"

Trang 17

Thông thường đối với mỗi quốc gia, điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện địa lỷ, tài nguyên thiên nhiên và cơ sở vật chất kỹ thuật hiên đại Nhưng tự bản thân các yếu tố ấy không thể phát huy tác dụng nếu thiếu

sự tác động của con người Song ở những giai đoạn lịch sử khác nhau vai trò

và vị trí của các yếu tố cũng khác nhau

Trong khi nghiên cứu lịch sử xã hội loài người AlvinToffer đã chỉ ra rằng trong nền văn minh nông nghiệp (ở đây AlvinToffer phân chia lịch sử xã hội

ra thành các nền văn minh còn Mác phân chia lịch sử xã hội thành các hình thái kinh tế - xã hội, tương ứng với văn minh nông nghiệp là hình thái kinh tế -

xã hội Cộng sản nguyên thuỷ, Chiêm liũu nô lệ, Phong kiến) vai trò quyết định sự phát triển là do điều kiện địa lý và tài nguyên thiên nhiên Ông chỉ rõ

"nền văn minh nông nghiệp chỉ phát triển ở những đâu có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất, thường ở bên những dòng sông với các cánh đồng phì nhiêu màu mỡ" [49,14] Còn ở làn sóng thứ 2 - nền văn minh công nghiệp (tương

ứng với hình thái kinh tế - xã hội TBCN, từ giai đoạn đầu đến hết thế kỉ XIX) vai trò quyết định sự phát triển lại do trình độ cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã

hội Ông khẳng định "máy móc và trình độ máy móc - kỹ thuật cơ khí đ ã tạo

ra sức mạnh mới cho con người, nhân bội trình độ khống c h ế tự nhiên của con người, mini lợi ích ngày càng tăng cho mình" [49 ,15].

Ngày nay, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, với sự xuất hiện của văn minh tin học thì vai trò và vị trí quyết định đến sự phát triển xã hội chính là con người, đặc biệt là trí tuệ của họ Bởi lẽ tài nguyên thiên nhiên dù giàu có đến nhường nào, nguồn vốn có nhiều đến bao nhiêu khi khai thác và

sử dụng sẽ bị cạn kiệt

Kinh nghiệm thành công của Nhật Bản cho thấy một quốc gia tài nguyên thiên nhiên hầu như không có gì, quanh năm bị động đất núi lửa, nhưng nhờ biết phát huy sức m ạnh của nhân tố con người đã nhanh chóng trở thành cường quốc về kinh tế Ngược lại các nước Châu Phi tài nguyên thiên nhiên giàu có nhưng không phát huy được sức mạnh của nhân tố con người, không

có chính sách phát triển thích hợp nên vẫn chỉ là những nước nghèo

14

Trang 18

Trong xu thế phát triển khoa học và công nghệ như hiện nay vấn đề trung tâm của sự nghiệp CNH, HĐH chính là vấn đề công nghệ Nước nào làm chú khoa học công nghệ tiên tiến, nước đó sẽ là nước công nghiệp hiện đại Đồnỵ thời do xu thế phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ khiến những nước tiên tiến phải chuyển giao những công nghệ cho các nước đi sau Song sự chuyển giao về công nghệ không hề đơn giản.

Một m ặt sự chuyển giao được thực hiện trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi, hay đúng hơn theo những nguyên tắc của CNTB dựa trên cơ sở lợi nhuận.Mặt khác những nước có công nghệ cao không bao giờ chuyển công nghệ mới cho các nước đi sau

Việt Nam là m ột nước đang tiến hành CNH, HĐH do đó vấn đề công nghệ cũng là vấn đề trung tâm Nếu chúng ta tiến hành CNH, HĐH chỉ dựa vào sự chuyển giao công nghệ thì vinh viễn vẫn chỉ là nước lạc hậu đi sau và khả năng về vốn cũng có hạn Nhưng nếu chúng ta tự mình sáng tạo ra công nghệ mới thì trình độ cơ sở vật chất - kỹ thuật chưa cho phép Mâu thuẫn đật

ra cần phải giải quyết là làm sao vừa khắc phục sự lạc hậu trước m ắt vừa phải nhanh chóng trở thành nước phát triển dựa trên trình độ công nghệ tiên tiến

Để giải quyết mâu thuẫn đó Đảng ta đã chỉ rõ "cần khai thác và sử dụng nhiều

nguồn lực khác nhau trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp, nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thảnh thạo có phẩm chất tốt đ ẹp " [18, 9].

Trí tuệ là bản chất, là đặc tính chỉ riêng con người mới có Nhờ có trí tuệ con ngưừi có khả năng sáng tạo ra thế giới thứ hai, thế giới vật chất và văn hoá tinh thần của chính mình Chính trí tuệ là tiêu chí để phân biệt con người và

con vật, khẳng định "con người là thước đo của mọi vật"[67, 151] Ngày nay

vai trò của trí tuệ có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia Trí tuệ giúp cho con người linh hoạt, nhạy bén nhanh chóng nắm bắt tình huống một cách dẻ dàng, tạo ra tính ổn định và chuyển hướng kịp thời giúp con người cải biến và thích nghi với hoàn cảnh mới Chúng ta đều biết rằng sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam không thể thực hiện được nếu không có đội

Trang 19

nu ũ đông đáo những cổng nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, những nhà lãnh đạo quản lý biết nhìn xa trông rộng Nhưng trong thời kỳ CNH, HĐH

jấ t nước bản thân người lao động có trình độ trí tuệ cao chưa đủ Đương nhiên

như Alvin T o ítlcr nhận định trong 3 công cụ của quyền lực thì "hữii dụng hmi

'lết vẫn là tri thức" [1,36] Nhờ có tri thức con người tạo ra bạo lực, cải biến

jái "không thể" thành cái "có thể" Nếu chỉ có trí tuệ mà không có đạo đức thì íất có thể người lao động đó dùng trí tuệ mưu lợi cho cá nhân gây ra bệnh quan liêu, hủ hoá, tham ô

Đạo đức là một phạm trù lịch sử, ở các thời đại khác nhau nội dung của [•hạm trù này cũng khác nhau Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta đạo đức của r.gười cách mạng được xác định đó chính là biết đặt lợi ích tập thể lên trên lợi í:h cá nhân Người lao động hiện nay ở nước ta vừa là người có trình độ trí tuệ cao, tay nghề thành thạo vừa có phẩm chất đạo đức tốt đẹp Chính phẩm chất dạo đức tốt đẹp là động cơ thúc đẩy người lao động làm việc, cống hiến cho

Tổ quốc, đặt lợi ích của mình trong sự thống nhất với lợi ích Tổ quốc

Đ ể tạo ra những con người vừa có trình độ trí tuệ cao, tay nghề thành thạo vừa có phẩm chất đạo đức cao đẹp khồng có lĩnh vực nào khác ngoài vai trì của giáo dục và đào tạo Trong các nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta đã khẳng

đinh "coi giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu" bới "muốn tiến hành C N H , H ĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục -

iđco tạo" [ 14, 19J Chính giáo dục - đào tạo có vai trò "nâng cao dân trí, đào Itạ) nhân lực và bồi dưỡng nhản tài" Trong khi nhấn mạnh đến tính tự chủ lựa

chọn các mô hình CNH sao cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước và điều kiện

t:hế giới ngày nay, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng nêu "Đảng ta chủ

V.rVơng không lặp lại những mô hình C N H c ổ điển Đ ể làm được việc ấy giáo

d ụ : và khoa học phải tạo ra những con người đủ kiến thức và năng lực lựa

c lu n , thích nghi và sủng tạo công nghệ mới, từ làm chủ công nghệ nh ậ p , biến

c híng thành công nghệ của mình đến tạo ra công nghệ mới và hiện dại lioú Ìiiìũng còng nghệ truyền thống” [4],

16

Trang 20

Như vậy việc nhận thức, đánh lĩiá vai trò và vị trí của giáo dục, đào tạo của Đảng đã thể hiện sự sáng suốt, khoa học trong sự nghiệp lãnh đạo và phát triển đất nước Trong thời đại hiện nay chỉ có quan tâm, đẩu tư vào giáo dục dào tạo để nâng cao chất lượng người lao động mới là con đường ngắn nhất lỊÌúp chúng ta thoát khỏi nghèo nàn, rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thực hiện

thành công sự nghiệp CNH, HĐH, thoát khỏi "vòng luân quẩn" mà các nước

nghèo đang gặp phải hiện nay là do thiếu vốn không có điều kiện đầu tư cho người lao động, không có đủ trình độ khoa học công nghệ nên không thể phát

triển kinh tế xã hội Viêc đánh giá đúng yếu tố quyết định để thoát "vòng luẩn

quẩn" mà Đáng đã đưa ra giúp chúng ta ưánh xa được nguy cơ của các nước

nghèo, tạo nên sự phát triển nhanh và bền vững Bởi nếu chúng ta có nhiều vốn đến đâu, sự đầu tư cho khoa học công nghệ đến nhường nào cũng không

có tác dụng nếu thiếu đi vai trò điều khiển của con người Cùng với giáo dục - đào tạo, văn hoá cũng có vai trò quan trọng hình thành nên phẩm chất đạo đức của con người Một xã hội văn minh khống chỉ dừng lại ở khả năng công nghệ hay sức mạnh kinh tế mà chủ yếu là lối sống có văn hoá đặc biệt là chúng ta - một đất nước nằm trong khu vực Phương Đông Quan điểm của Đảng về vâih đề này là xây dựng kinh tế đi đôi với xây dựng văn hoá Nền văn hoá mới được xây dựng phải biết kế thừa những giá trị quý báu của dân tộc, đồng thời phù hợp với

thời đại, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại Đó chính là "một nền văn Itoá

tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc".

Thứ tư: C N H , H Đ H được thực hiện trong xu th ế “m ỏ cửa "

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “toàn cầu hoá kinh tế là

xu thế khách quan lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế” [Tr 157]

Quan điểm trên của Đảng đã khẳng định một sự thực là toàn cầu hoá đã trớ thành m ột tất yếu khác quan phổ biến trong xu thế hiện nay Các quốc gia trên thế giới dù m uốn hay không đều bị lôi cuốn vào “dòng xoáy” chung đó

Mặt khác “toàn cầu hoá” không chỉ riêng ở lĩnh vực kinh tế mà nó còn (diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sốngrẴíLhội Rõ ràng sự nghiệp CNH,

Trang 21

HĐH nước ta không nằm ngoài bối cảnh chung đó Muốn tổn tại để phát triển chúng ta không còn con đường nào khác phái chủ động hội nhập để tranh thủ thời cơ vượt qua những thách thức Do đó “ Mở cửa” là con đường đưa sư nghiệp CNH, HĐH của chúng ta đến thành công.

Bài học lịch sử cho thấy vào thế kỷ XIX Nhật Bản do biết chủ động

“mở cửa” đón nhận thành tựu văn minh phương Tày đã trở nên giàu có với tốc

độ “thần kỳ” Tuy nhiên để làm được điều đó Nhật Bản đã phải thực hiện hàng loạt các chính sách trong nước như bãi bỏ chế độ phong kiến, xây dựng nhà nước pháp quyền quán chủ theo mỏ hình phương Tây, cải cách thể chế trong nước và tích cực du nhập các yếu tố văn hoá phương Tây Ngược lại với Nhật Bán, Trung Quốc đã thực hiện chính sách “đóng cửa” tự cho mình là tiến bộ,

cố duy trì chế độ phong kiến hà khắc không chịu tiếp thu thành tựu của văn minh phương Tây, kết quả là nền kinh tế bị suy sụp và bị các nước phương Tày thôn tính Cần nhấn mạnh là lúc này ở phương Tây Đại công nghiệp đã phát triển rất mạnh

Ở nước ta trước thời kỳ “đổi m ới” do chủ quan duy ý chí, sự nghiệp CNH cũng được thực hiện theo mô hình “hướng nội” mà chủ yếu là công nghiệp nặng trong phạm vi các nước XHCN, cộng với mô hình kinh tế chỉ huy

đã khiến cho sự nghiệp CNH khó phát huy tác dụng và phát triển chậm; các công trình thuộc kết cấu hạ tầng, cơ sở công nghiệp trọng yếu ít được xây dựng, có chăng chỉ ở m ột số thành phố lớn Đời sống của nhân dân khó khăn, kinh tế xã hội rơi vào khủng hoảng

Từ khi thực hiện “đổi m ới” CNH được thực hiện trong xu hướng “mở cửa” hội nhập đã phát huy tác dụng Nhờ có “mở cửa”, vốn, khoa học công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến của thế giới mới được du nhập nâng cao hiệu quả kinh tế trong nước Đánh giá thành công của sự nghiệp CNH, HĐN trong

xu thế mở cửa Đảng ta đã kết luận:

“Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nước ta đ ã phút triển quan hệ kinh t ể với hầu hết các nước, gia nhập vả có vai trò ngày càng tích cực trong nhiều tổ chức kinh í ế quốc t ế vù khu vực N hịp độ tăng kim ngạch xuất khấu gần gấp

18

Trang 22

3 nhịp độ GDP Thu hút được một khối lượng khá lớn vốn từ bèn ngoài cùng nhiêu công nghệ vá kinh nghiệm quản lý tiên tiến ” [Tr 150 Ị

Tuy nhiên, CNH, HĐH được thực hiện trong xu thế “mở cửa” đòi hỏi chúng ta phải chủ động, nghĩa là nâng cao khả năng độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập Bởi “toàn cầu hoá” và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để phát triển vừa đấu tranh rất phức tạp giữa các nước nhàm báo

vệ lợi ích của mình Nếu chúng ta khôns nâng cao khả năne độc lập tự chủ sẽ

bị lôi kéo vào con đường của CNTB hoặc sẽ bị “đánh chìm ” trở thành nước lạc hậu đi sau Một trons những vẽu tô tạo nôn nền kinh tế độc lập tự chú theo quan điểm của Đảng phải: đẩy mạnh CNH, HĐH tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật đủ mạnh

Như vậy, sự nghiệp CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu hoá được thực hiện theo xu hướng mở cửa, nhưng phải nâng cao khả năng độc lập tự chủ nhằm tranh thủ thời cơ để phát triển, đồng thời vẫn giữ vững được nguyên tấc bảo vệ độc lập dân tộc và CNXH, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc

Thứ năm: C NH , H ĐH nông nghiệp nông thôn là mặt trận hàng đẩu.

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trinh xây dựng, phát triển cơ

sở vật chất - kỹ thuật, chuyển từ lao động thủ công là chủ yếu sang lao động

sử dụng máy móc, với kỹ thuật, công nghệ tiến tiến và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn ngày càng hợp lý theo hướng tiến lên hiện đại, gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ cho phép khai thác, phát huy có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế so sánh đất nước trong sự mở rộng quan hệ kinh

tế quốc tế

Việc thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn được coi như mặt trận hàng đầu có ý nghĩa mang tầm chiến lược, then chốt và cấp bách Bởi lẽ nước ta có tới 80% dân số và hơn 70% lao động sống ở nông thôn, song ruộng đất bình quan theo đầu người còn thấp lại cộng với quá trình đô thị hoá khiến cho đời sống của họ vẫn còn khó khăn Nếu thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nòng thôn sẽ giải quyết việc làm cho lao động dư thừa, tăng thu nhập cho người lao động Mặt khác, tình trạng kinh tế nông nghiệp nông thôn còn ở

Trang 23

tình trạng kém phát triển, trình độ khoa học - công nghệ yếu kém làm cho hiệu quá sản xuất - kinh doanh nông nghiệp thấp, sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường yếu, năng suất lao động thấp (lla o động nông nghiệp nước ta nuôi được 2 người, Mỹ là 80 người, Hà Lan 60 người, Anh là 55 người, Nhật Bán là 22 người)

Mặt khác số lượng nông sản chiếm 45% giá trị hàng xuất khẩu, nếu chúng ta áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào việc nâng cao chất lượng mẫu mã sẽ tăng tích luỹ vốn, nhất là khi nước ta đi lên CNXH từ một nước nôns nghiệp lạc hậu Hơn nữa đây là thị trường rộng lớn, muốn CNH, HĐH bền vừng phải dựa vào thị trường nông nghiệp, nóng thôn Đồng thời nông nghiệp, nông thổn cũng là nguồn cung cấp nhân lực quan trọng để thực hiện CNH, HĐH theo hướng lao động công nghiệp tăng và lao động nông nghiệp giảm

Như vậy, việc lấy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là mặt trận hàng đầu thể hiện quan điểm sáng suất của Đảng, nhờ đó trong những nãm qua nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: Hệ thống cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng được tăng cường, đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện tình hình chính trị, xã hội ổn định

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ nông nghiệp, nông thôn nước ta vẫn đang ở tình trạng chậm phát triển so với công nghiệp, dịch vụ ở thành thị Vì

vậy quan điểm chỉ đạo của Đảng vẫn khẳng định “Trong mọi tình huống, tư

tưởng chỉ đạo và quyết tâm của chúng ta lả: tiếp tục công cuộc đổi mới; đẩy mạnh sự nghiệp C N H , HĐH đất nước trước hết là C NH , H Đ H nông nghiệp, nông thôn ” [ 71 ]

1.2- GIÁ TRỊ TRUYỂN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

1.2.1- Khái niệm giá trị và giá trị truyền thống

Giá trị - theo từ điển Bách khoa triết học của Liên Xô, được hiểu là "Khái

niệm triết học và x ã hội dùng đ ể chỉ ihứ nhất tầm quan trọng có lính khẳng định hay phủ định một khách th ể nào đố, khúc với đặc tính tồn tại vù cliất

20

Trang 24

Iượniị của kliáclỉ th ể này ( ), thứ hai khía cạnh chuẩn mực, mệnh lệnh, đánh ÍỊÌÚ của cúc hiện tượng V thức x ã hội" [57, 7j.

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết thì "Giá trị lù sự khẳng (lịnh hay

phú định V nghĩa của các đối tiíựìig thuộc th ế giới chung quanh đối với con người, giai cấp, nhỏm hoặc loàn bộ xã hội nói chung Giá trị được xác định không phàì bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút (lỏi cuốn) của cúc thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi cúc híùig thú và nhu cấu, cúc quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phươtig íliức đanh giá V nghĩa nói trên được biếu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởỉỉg, tâm th ế và mục đích" [66, 51, 52J.

Trong tiếng Anh có 2 thuật ngữ dùng để chỉ khái niệm giá trị là Value và Worth, hai khái niệm này có khác nhau ở chỗ: Value chỉ có nghĩa là giá trị, giá cả, ý nghĩa, còn W orth ngoài nghía giá trị, giá cả còn có nghĩa là phẩm chất, phẩm giá

Trong m ột số từ điển Viêt Nam và một số từ điển nước ngoài khác khái

niệm giá trị được định nghĩa là "phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ

tính ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của khách th ể đối với con người, giai cấp, nhóm, x ã hội nói chung được phản ánh vào cúc nguyên tắc và chuẩn mực đạo

lý, lý tưởĩig, tâm thế, mục đích" [26, 124].

Đối với các công trình nghiên cứu về giá trị ở Việt Nam ví như của Giáo

sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Phạm M inh Hạc đều quan niệm "Giá trị là tính

có V nglũa tích cực, tốt đẹp, đáng quỷ, cố ích của các đối tượng VỚI các chủ thể" [27, 301].

ở đây chúng tôi đổng ý với định nghĩa của từ điển tiếng Việt như đã nêu trên về giá trị Do đó, giá trị chính là hiện tượng xã hội đặc thù thể hiện sự đánh giá của con người về đối tượng có ý nghĩa thoả mãn nhu cầu của con người Giá trị bao giờ cũng là một hiện tượng nhận thức nảy sinh trong quan

hệ chủ thể - khách thể

Giá trị là một khái niệm mang tính người, nghĩa là nó chỉ tồn tại trong xã hội loài người, thông qua sư đánh giá của con níười Cho nên toàn bộ thê giới

Trang 25

khách quan trong quan hệ với con người được nhìn nhận như là thế giới của các giá trị mà khòng đưn thuần là thế giới của đổ vật Bất cứ cái gì cũng có thể

và phái được thẩm định về mặt giá trị Mọi hành vi, hành động hay sự biến nào xảy ra đều mang giá trị đối với con người bới nó luôn nằm trong mối quan

hệ uiữa chủ thể và khách thể Con người nhận thức, đánh giá thẩm định đặt Chuns vào những thang bậc của báng giá trị như Đẹp - xấu, nhân nghĩa hay bất nhân, chân hay nguỵ Vì vậy, giá trị luôn tồn tại trong đời sống xã hội và

là người bạn đồng hành cùng với con người từ xa xưa đến nay Đ Điđơrô nhà triết học khai sántỊ Pháp thế kỷ XVIII đã từng cho rằng bản thân sự tồn tại của con người đã làm xuất hiện sự tồn tại của các giá trị và con người chính là giá trị cao nhất

Như vậy, khái niệm giá trị nảy sinh, tồn tại trong xã hội loài người được con người sử dụng khi đánh giá về đối tượng khách thể Khách thể mang giá trị khi chủ thể nhận thức và có tác dụng thoả mãn nhu cầu kích thích chủ thể hành động Bất kỳ sự vật nào cũng có thể được coi là “có giá trị” dù đó là vật thể hay tư tưởng, là vật thưc hay vât ảo nếu nó được các thành viên trong xã hội thừa nhận, xem xét như biểu tượng quan trọng trong đời sống tinh thần của họ và cần đến họ như một nhu cầu thực thụ v ề mặt lý luận, giá trị mang tính 2 m ặt M ột mật giá trị gắn liền với cái tốt, cái hay, cái đúng, cái đẹp ở phương diện này giá trị định hướng tích cực cho hoạt động của con người theo hướng chân - thiên - mỹ Thông thường, giá trị đánh giá ở khía cạnh này

M ặt khác, giá trị cũng tiềm ẩn những cái tiêu cực phản ánh giá trị Chẳng hạn kinh tế thị trường có giá trị tích cực đối với nhân loại thúc đẩy tiến bộ xã hội nhưng nó cũng bao hàm mặt phản giá trị đó là do chạy theo lợi nhuận quan hệ giữa người và người trở nên xấy đi

Giá trị nảy sinh, phát triển và kiểm nghiệm trong hoạt động thực tiễn Trong quá trình hoạt động con người tác động vào đối tượng làm bộc lộ những thuộc tính, tính chất trên cơ sở đó con người nhận thức và cải tạo chúng cho phù hợp với m ục đích của mình Sự vật càng nhiều thuộc tính càng mang nhiều giá trị Tuy nhiên mỗi một đưn vị giá trị có ý nghĩa, vai trò khác nhau đối với bản thân sự vật do đó có những giá trị cơ bản và không cơ bàn Những

22

Trang 26

giá trị cơ hán làm nên bản chất của sự vật Những giá trị không phải lập tức con người phát hiện ngay mà phái trải qua quá trình kiểm nghiệm đánh giá Một sư vật có nhiều giá trị, mỗi bước tiến trong nhận thức của con người là một lần con người khám phá và tìm ra giá trị mới làm phong phú kho tàng giá trị của nhân loại.

Chẳng hạn ánh sáng mặt trời chỉ có giá trị soi sáng, sưởi ấm cho người nguyên thuỷ, Iihưntỉ đối với người hiện đại thì ánh sáng mặt trời còn là nguồn năng lượng quý giá giúp con người ỉàm nóng động cơ, nhờ đó con người không còn bị lệ thuộc vào nguồn náng lưựng lụ nhiên nữa

Giá trị có mật chủ quan và khách quan Mật khách quan của giá trị là những thực thể tự nhiên cũng như bản chất quy luật và các mối liên hệ xã hội của chúng cùng tất cả những gì tạo ra giá trị

Còn mặt chủ quan là thái độ, quan điểm, chuẩn mực, cách thức lựa chọn

và quy trình đánh giá của xã hội, cá nhân Nếu không có mặt chủ quan thì giá trị chỉ tồn tại ở dạng tiềm tàng nếu như không nói là không có giá trị Trong đời sống xã hội đương đại cũng như những xã hội đã tồn tại trong lịch sử mọi vấn đề đặt ra thường được con người chú ý ở phương diện giá trị, khai thác về mặt giá trị và lựa chọn cũng nhằm vào giá trị Ở các chủ thể khác nhau việc phát hiện, khai thác và lựa chọn giá trị không giống nhau Thông thường, các lực lượng xã hội phản động hay khai thác chú ý đến mặt trái của giá trị nhằm duy trì lợi ích của giai cấp mình, kìm hãm sự phát triển của xã hội Ngược lại các giai cấp tiến bộ cách mạng khai thác mặt giá trị tích cực thúc đẩy xã hội phát triển Chính sự khai thác giá trị ở các chủ thể khác nhau đã làm giàu thêm tính tương đối của giá trị Hay nói đúng hơn chính mặt chủ quan của giá trị làm cho nó có tính lịch sử cụ thể Trong cộng đồng này nó được coi là giá trị, nhưng trong cộng đồng khác được coi là không có giá trị, ở thời gian này là có giá trị nhưng ở thời gian khác lại không có giá trị

Như vậy, quan niệm về giá trị không chỉ khác nhau ở các thời đại, các cộng đồng, dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội khác nhau mà ngay cả các cá nhãn Tính đa dạng và phone phú về mặt chú quan của giá trị còn thể hiện chi tiêl ử trong từng giai đoạn, từng thời kỳ của mỗi chủ thể Rõ ràng, thông qua

Trang 27

oái chú quan giá trị luôn mang tính lịch sử - cụ thể Giá trị luồn là mục tiêu vươn tới của mọi chú thể, mọi thời đại - đó là quv luật giúp con người biến thế giới từ “ tự nó” thành thế giới cho con người, nó không chỉ duy trì sự tồn tại của con người mà còn giúp cho con người vươn tới cái Đẹp.

Sự phong phú về m ặt chủ quan và sự phong phú về mặt khách quan tạo nên sự phong phú về m ặt giá trị Căn cứ vào tính chất, nguyên tắc, hay mục đích mà người ta phàn chia giá trị theo các hệ thống nhất định Căn cứ vào tính chất chung nhất giá trị có hai loại là giá trị vật chất và giá trị tinh thần.Giá trị vật chất thể hiện rõ nét trong đời sống kinh tế - xã hội, gắn bó trực tiếp với tồn tại xã hội, quyết định sự tồn tại phát triển của xã hội loài người, là

cơ sở sản sinh các giá trị tinh thần Suy cho cùng nó quyết định nội dung, tính chất, phương hướng phát triển của giá trị tinh thần Giá trị tinh thần thể hiện trong lĩnh vực ý thức xã hội thông qua các hình thái: đạo đức khoa học, nghệ thuật Giá trị tinh thần m ặc dù nảy sinh từ giá trị vật chất song do tính độc làp tương đối của mình có thể lă động lực thúc đẩy con người hoạt động tạo ra eiá trị vật chất

Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động ta có giá trị kinh tế, giá trị chính trị, khoa học Căn cứ vào không gian ta có giá trị nội sinh và giá trị ngoại nhập Căn

cứ vào thời gian ta có giá trị truyền thống và giá trị hiện đại Việc sắp xếp các

giá tiị theo trật tự ưu tiên nhất định gọi là "thang giá trị" hay "thước đo giá

trị” trong đó những giá trị cốt lõi được coi là "chuẩn giá trị" Đối với các xã

hội khác nhau “chuẩn giá trị” cũng khác nhau Hệ “chuẩn giá trị” ở các thời điểm lịch sử khác nhau thì nội dung cũng khác nhau

Việc lựa chọn các giá trị của các cá nhân, nhóm xã hội, giai cấp dân tộc

được gọi là “định hướng giá trị” Định hướng giá trị là "thái độ, là sự lựa chọn

ccc giá trị vật chất và tinh thần, là một hệ thông tàm thế, niềm tin, sỏ thích ci.a con người đối với một giá trị nào đó" [20, 3] Định hướng giá trị là một

trong những nội dung cơ bản của sự phát triển giá trị ở nhân cách con người, đi'Ợc hình thành và cúng cố bởi năng lực nhận thức, kinh nghiệm sống và sự lira nghiệm lâu dài Nhờ có định hướng giá tiị giúp cho cá nhàn và cộng đổng tách cái có ý nghía, có bản chất thiết thân đối với họ khỏi cái vỏ nghĩa, cái

- r 24

Trang 28

khô nu hán chất Định hướng giá trị là cư sở bên trong của hoạt động và hành

vi, do đó nó có ảnh hưửng quyết định đến đạo đức, lối sống của cá nhân và cộng đồng Định hướng giá trị do đó nó có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách, phẩm chất xã hội của con người

"Truyền thống" theo từ điển Tiếng Việt là "thói quen hình thành đã láu

dời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ th ế hệ này qua th ế hệ khúc"

[55, 1034], Theo nghía tổng quát nhất “truyền thống đó là những yếu tố của di tồn văn hoá thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thỏi quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành irong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài” [69, 9]

Truyền thống khồng bao giờ có thể chỉ là một sự kiện, một hiện tượng tự nhiên hay một sự áp đặt bên ngoài bắt con người phải khuôn theo Ngược lại

truyền thống phản ánh sự lựa chọn theo nguyên lý của lý trí; con người chỉ lựa;

chọn một cách có tính toán hay vô tình, ý thức hay vô thức cái gì mà họ xem như là một phần của cuộc sống, những gì trường tồn hàng thế hệ, những gì có

I

thể truyền lại cho thế hệ k ế tiếp những gì có ích lợi Cái gì được gọi hay được mệnh danh là truyền thống “chỉ khi nào nó trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống chúng ta, chỉ khi nào nó bảo tồn cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó có khả năng phát triển cuộc sống của chúng ta” [69, 23]

Rõ ràng, truyền thống là cái đem lại lợi ích cho con người Ớ các chủ thể khác nhau khai thác các yếu tố của truyền thống theo khía cạnh khác nhau Truyền thống có tính ổn định về mặt thời gian, nghĩa là một khi nó được hình thành thì cũng có nghĩa nó được bảo tổn và phát huy qua các thế hệ Đây là một đặc trưng cơ bản của truyền thống tuy nhiên không nhất thiết phải đảm bảo độ dài lớn hơn một thế hệ mới được coi là truyền thống Có những hiện tượng lặp đi lặp lại gắn liền với toàn bộ lịch sử nhân loại Song cũng có những hiện tượng chỉ cần trải qua độ dài của một thế hệ thậm chí trái qua một vài năm cũng có thể trở thành truyền thống Do có tính ổn định về mặt thời gian nên có truyền thống thuộc về xã hội, một cộng đồng nhưnc cũng có truyền thông thuộc về dòng họ, gia đình hay cá nhân riêng biệt

Trang 29

Phẩm chất của truyền thống được quy định bởi ý nghĩa xã hội của nó Giá trị của truyền thống không đơn trị Ngoài giá trị cơ bản và chủ yếu, ngoài nhữnu uiá trị có ý nghĩa tích cực trực tiếp đối với đời sống xã hội truyền thống còn m ang giá trị phái sinh khác Lịch sử xã hội loài người cho thấy mọi hiện tượng của truyền thống m ang giá trị nước đôi nghĩa là mang tính 2 mặt: giá trị

và phán giá trị Trong một thời điểm lịch sử cụ thể cái được gọi là truyền thống sẽ tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hai hướng: Những truyền thống có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển nghĩa là nó góp phần suy tôn gìn giữ, thúc đẩy những cái gọi là quý giá tạo nên sự vận động

đi lên của cộng đồng dân tộc X ét từ mặt này truyền thống mang giá trị tích cực, là cái góp phần tạo nên sức mạnh, chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên đường đi tới tương lai; ngược lại những truyền thống tiêu cực sẽ là mảnh đất thuận lợi duy dưỡng, duy trì làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời trì trệ níu kéo lịch sử

Khi đánh giá về truyền thống trong tác phẩm "Ngày 18 tháng sương mù

của Lui Bônapactơ" C.M ác đã viết ''truyền thống của tất cả các th ế hệ đ ã chết

đồ nặng như quả núi lên đầu óc ìihữìig người đang sống" [8, 145] "Về một khía cạnh nào đó như Ảngghen đ ã nói: truyền thống là m ột lực lượng bảo thủ lớn" [15, 94].

Con người làm ra lịch sử của mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tuỳ tiện, không phải trong những điều kiện tự mình chọn lấy mà là trong những điều kiện đã cho sẵn do quá khứ để lại trong đó truyền thống như là bộ phận cấu thành nên những điều kiện ấy Do đó truyền thống góp phần quy định nên cách nghĩ và hành động của họ Cho nên thật dễ dàng nhận thấy ở mỏi dân tộc, mỗi cộng đồng, thậm chí mỗi gia đình dòng họ dù ử trình độ văn minh cao hay thấp, dù đã phát triển hay đang phát triển đều có những truyền thống đặc trưng cho riêng mình

Tuy nhiên, con người không chỉ thụ động chịu sự quy định cúa truyền thống, với bản tính sáng tạo của mình con người lại tạo ra những truyền thống mới trên cơ sở của truyền thống sẩn có hoặc hiện đại hoá truyền thống cho phù hợp với yêu cẩu của thời đại Đối với cá nhân sự tiếp nhận và sánc tạo

26

Trang 30

thòng qua quá trình tự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới; trên phạm vi xã hội thông qua quá trình đấu tranh cách mạng giữa cái lỗi thời, lạc hậu, bảo thủ với cái tiến bộ.

Quá trinh này diễn ra một cách gay go phức tạp và lâu dài thậm chí còn

cỏ những bước lùi tạm thời Bửi lẽ đối với cá nhân điều kiện cho sự tiếp nhận

và sáng tạo cần đạt tới trình độ nhận thức nhất định đòi hỏi mỗi cá nhân phải không ngừng học tập, tu dưỡng suốt đời, dám nghi dám làm; trên phạm vi xã hội, những giai cấp bảo thủ phản động do bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, cố duy trì mặt phản giá trị của truyén thống Chính điều này tạo nèn những bi kịch trong xã hội Bới truyền thống khi đã thấm sâu vào máu thịt của quần chúng không dễ chuyển đổi nó theo quan niệm mới Vấn đề là ở chỗ những lực lượng xã hội tiến bộ biết cách khai thác các giá trị tích cực của truyền Ihống và nâng cao nó lên ngang với yêu cầu của thời đại Như Lênin đã nhận

định: "Chúng ta hiểu rằng trong phong tục, tập quán, những tàn dư của quá

khứ, ỉrong một thời gian nào đó sau cách mạng, tất nhiên vần còn thắng những mầm non của cái mới hoặc: sức mạnh của tập quán ở hàng triệu người

và hàng chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm " [65, 34].

Như vạy truyền thống với tính 2 mặt: mặt giá trị và mặt phản giá trị Mặt giá trị có tác động tích cực thúc đẩy xã hội phát triển và mặt tiêu cực níu kéo

sự phát triển ấy Với những mặt tiêu cực cần được loại bỏ hoặc chỉnh sửa, đổi mới bổ sung và phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới Đành rằng khi nói tới truyền thống là nói đến tính ổn định, song khi truyền thống có ảnh hưửng tiêu cực đến sự phát triển của xã hội thì tất nhiên bản thân nó sẽ thay đổi hoặc con người sẽ chủ động thay đổi Rõ ràng khi truyền thống hình thành thì không có nghĩa là sẽ trở nên bất biến và lưu truyền mãi mãi Bởi cơ sở hình thành truyền thống là điều kiện kinh tế - xã hội, do đó khi cơ sở kinh tế - xã hội biến đổi thì truyền thống do nó sinh ra sớm muộn cũng thay đổi theo hoặc phải thay thế bằng một truyền thống mới Đây chính là quá trình biện chứng của sự phát triển truyền thống

Truyền thống không chỉ mang trong mình cái dân tộc mà còn bao hàm cả cái nhân loại bởi trong quá trình phát triển nó không chỉ suy tồn, gìn giữ những gì của dân tộc mà nó còn có sự giao thoa, tiếp nhận những giá trị mới đê’ làm giàu cho mình

Trang 31

Khi phân biệt những truyền thốnsí tốt đẹp với những truyền thống xấu chúntĩ ta thấy rằng truyền thống tốt đẹp được gọi là giá trị truyền thống để phàn biệt với các phong tục tập quán xấu Những giá trị truyền thống tạo nên nét đặc trưng cho từng dân tộc, từng cộng đồng.

Từ sự phân tích trên về truyền thống và giá trị truyền thống chúng ta thấy rằng trong hệ thống giá trị truyền thống của người Việt Nam bao gồm truyền thống yêu nước mãnh liệt, ý thức đoàn kết liên kết cộng đồng vô cùng bền chặt, lòng nhân ái khoan dung, lối sống tình nghĩa, đức tính tiết kiệm và tự lực tự cường, ý chí vượt qua gian khổ, tinh thần cần cù sáng tạo, truyền thống hiếu học, lòng tôn sư trọng đạo, truyền thống kính trọng người già Những truyền thống tốt đẹp trên đả được lưu truyền, gìn giữ qua các thế hệ trong suốt lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc và nó đã trở thành khí phách, bản lĩnh, tinh thần của người Việt cũng như nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

1.2.2- Cơ sở hình thành giá trị truyền thống của người Việt Nam

Khi nghiên cứu bản chất con người, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rầng: không nên nghiên cứu con người từ lời nói hay những điều

mà họ tưởng tượng ra mà cần phải nghiên cứu con người trên mảnh đất hiện thực

Quan điểm đó có ý nghĩa to lớn, nó cho chúng ta một phương pháp luận hết sức khoa học, khách quan khi nghiên cứu con người cụ thể, từ đó rút ra những kết luận đánh giá đúng đắn “Mảnh đất hiện thực” mà các nhà kinh điển đề cập không ngoài điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện văn hoá nơi mà con người đang tồn tại, đang sống và làm việc Sự nghiên cứu về con người Việt Nam, về giá trị truyền thống của họ không nằm ngoài ý nghĩa đó

Cơ sở hình thành giá trị truyền thống của con người Việt Nam bắt nguồn

từ điều kiện địa lý (tự nhiên), điều kiện kinh tế - xã hội và nền vãn hoá đậm đàbản sắc dân tộc

Căn cứ vào những tài liệu khảo cổ học chúng ta biết được địa bàn sinh sống chủ yếu của người Việt cổ là lưu vực các con sông lớn, nơi cư trú là một vùng đất mới được bổi đắp nằm giữa một bên là đồi núi cao và một bên là biển cá Do trình độ còn hạn chế người Việt cổ chưa có khá năng đắp đê ngăn

28

Trang 32

nước vì thế khi mùa mưa, lũ nước tràn ra khắp các chỗ, chúng tạo nên vô số đám hổ quanh nãm có nước.

Đất đai mà người Việt cổ cư trú và canh tác có độ phì nhiêu rất cao bởi thường xuyên được bồi đắp phù xa từ vùng thượng nguồn Không những thế đây là nơi nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với lưựng mưa, nắng đủ để Irổng và phát triển cây nồng nghiệp Chính những điều kiện như vậy mà người Việt sớm lựa chọn nông nghiệp làm nghề chính cho sự tồn tại của mình

Bên cạnh nhữne thuận lợi, thiên nhiên Việt Nam luôn đặt ra cho con người những khó khản thử thách như hạn hán, lũ lụt, bão tố hoặc sâu bệnh

Theo số liệu thống kê của Giáo sư Phạm Minh Hạc thì "lượng nước chảy mưa

lũ cùa cúc sông ở Bắc Bộ như sông Đà, sông Lô, sông Thao, sông Hồng, sông Cầu, sông Lục N am chiếm từ 72 - 89% lượng nước của các dỏng sông đó"

[18, 18] Chính điều kiện này đã là cơ sở để hình thành những truyền thống tốt dẹp của con người Việt Nam M uốn chống được thiên tai như lũ lụt, hạn hán, bão tố đã hàng năm cướp đi biết bao của cải từ mồ hôi, nước mắt thậm chí còn cướp đi rất nhiều sinh mạng, đòi hỏi nhân dân ta phải có m ột nghị lực phi thường, m ột đầu óc thông minh sáng tạo một sự đoàn kết bền chật mới vượt qua nổi

Mặt khác, nước ta ở vào vị trí chiến lược của vùng Đông Nam Á vừa ngoảnh ra Thái Bình Dương, vừa nối liền với lục địa mênh mông nằm trên đầu mối giao thông thuỷ bộ quan trọng từ Bấc xuống Nam, từ Đông sang Tây, như một đầu cầu từ biển cả tiến vào đất liền, một căn cứ xuất phát từ đất liền vượt

ra biển cả

Do tài nguyên thiên nhiên giàu có, và đặc biệt lại nằm trong vị trí chiến lược trọng yếu nên trong suốt quá trình phát triển, nước ta luôn là mục tiêu để các nước xâm lược Cũng trong suốt quá trình tồn tại Việt Nam luôn phải đưưng đầu với nạn ngoại xâm tàn khốc, liên tiếp phải tiến hành các cuộc chiến tranh thẩn thánh để bảo vệ độc lập, tự do cho nhàn dân, bảo vệ Tổ quốc

Rõ ràng với những đặc điểm tự nhiên như vậy trước sự đe doạ liên tiếp của thiên tai và định hoạ, muốn tồn tại để phát triển, con người Việt Nam phải

Trang 33

biết hy sinh nhiều lợi ích riêng, cùng nhau đoàn kết gắn bó củng cố lợi ích chung của cộng đổng Vì thế những truyền thống đoàn kết thương yêu nhau cũng hình thành từ đó Mặt khác cũng chính điều kiện tự nhiên như vậy đã nhen nhóm trong tàm thức cùa người dân Việt Nam ý chí làm chú đất nước, làm chú vận mệnh của dân tộc.

Thiên nhiên phong phú là điều kiện thuận lợi cho con người Việt Nam liến hành sản xuất nông nghiệp, hoạt động lao động chủ yếu là nghề trồng lúa nước Hoạt động sản xuất ra của cải vật chất là quy luật mang tính phổ quát đối với mọi xã hội, song cái chung đó biểu hiện trong cái riêng trên đất nước Việt Nam Điều kiện địa lý tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưntĩ cũng chính sự mưa nắng thất thường của thiên nhiên khiến cho con người lao động cực kỳ vất vả phải cần cù chịu khó hai sương một nắng mới được hạt gạo Với phương thức sản xuất kiểu Châu á, công cụ lao động hết sức thô sơ và gần như không cải tiến hàng ngàn năm, sản xuất chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cá nhân.và trông chờ vào thiên nhiên, khiến cho năng suất lao động vốn đã thấp, nếu gập thiên tai lũ lụt lại càng thấp hơn, thậm chí còn mất trắng Thêm vào đó người nông dân lại là đối tượng bóc lột của cả bộ máy quan lại phong kiến gian ác, tồn tại hàng ngàn năm

Đời này truyền đời khác lao động nông nghiệp với những công cụ thô sơ, trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và trong cảnh đói nghèo túng thiếu thường xuyên khiến cho người Việt Nam không chỉ rèn luyện cho mình tính

cố kết cộng đồng để cùng nhau vượt đói mà còn tạo dựng nên thói quen yêu lao động, cần cù chịu khó, tinh thần bất khuất quật cường, ham học chống lại mọi sự đàn áp bóc lột, tâm lý yên với cái nghèo, vui với cảnh nghèo đằng sau luỹ tre làng

Bên cạnh những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, điều kiện văn hoá có

vị trí đặc biệt quan trọng đóng vai trò to lớn, quy định tính cách, tâm lý, truyền thống của người V iệt Nam

"Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt củng với biểu hiện của nó mù loài người đ ã sản sinh ra nhằm thích íùig với nhữìig nhu cầu của dời sống và đòi hỏi của sự si till tổn" [30, 431].

30

Trang 34

Với phương thức sản xuất Châu á dựa trên nền sản xuất nông nghiệp, lại nằm trong khu vực Đông Nam Chầu á, Việt Nam vừa có nền văn hoá mang tính bản địa đồng thời vừa có sự giao thoa tiếp xúc, hấp thụ nền vãn hoá khu vực: Nam Á, Trung Quốc làm phong phú thêm những giá trị văn hoá dân tộc.Nho giáo là một học thuyết chính trị xã hội của Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (thời Bắc thuộc lần thứ nhất) theo gót chân xâm lược Mặc dù vậy nó sớm được dân tộc Việt Nam tiếp nhận và đồng hoá trở thành thứ nho giáo mang bán sắc dàn tộc Việt Nam.

Nho giáo ià công cụ quản lý xã hội của giai cấp thống trị Trung Quốc, sau khi du nhập vào V iệt Nam từng bước được giai cấp thống trị Việt Nam tiếp nhận và đề cao đặc biệt, là công cụ quản lý đất nước Nho giáo đưa ra việc xây dựng con người có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí Nhân theo Nho giáo là những

điều gì mình muốn thì cũng làm cho người khác "kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ

dục đạí nhi đạt nhân" [30, 193] đó chính là đức trung hết lòng với người khác,

yèu thương người khác M ậc dù chữ Nhàn của Nho giáo có iihững mặt tiêu cực nhất định, song công bằng mà nói nó đã góp phần làm giàu tình cảm yêu thương giữa con người và con người nói chung và đặc biệt là con người Việt Nam Trên cơ sở tiếp thu có sáng tạo chữ Nhân có nội dung là chữ Nghĩa của Nho giáo thông qua 'lăng kính" chủ quan của người Việt tạo nên hai chữ

"nhân nghĩa" Nội dung hai chữ "Nhân Nghĩa" của người Việt được thể hiện trong quan hệ giữa người và người bao giờ cũng đặt chữ tình lên hàng đầu Trong xử sự người Việt bao giờ cũng phải tuân theo một quy định bất thành văn "có tình có lý" và khi "cái tình đã hết thì cái nghĩa vẫn còn" Chữ tình đó không vì mục đích riêng tư vụ lợi, không đồng nghĩa với tính vô nguyên tắc

mà nó thể hiện tinh thần luôn coi trọng con người, là vốn quý nhất trong tất cả các mối quan hệ họ, làng, nước Cũng vì chữ tình đó mà bao giờ người Việt cũng thường hy sinh lợi ích riêng tư của mình cho người mình yêu quý được sung sướng hạnh phúc Tâm lý đó được nâng lên thành chuẩn mực trong lối sống và trở thành giá trị cao đẹp ngàn đời của người Việt, lối sống tình nghĩa

"sống vì người khác hơn vì mình"

Trang 35

Có thê thấy sư kết hợp đến tài tình giữa những giá trị tốt đẹp của Nho giáo với văn hoá dân tộc đã được thể hiện rõ nét trong quan điểm của Hồ Chí

Minh về chữ Nhân Theo người "Nhản lù thật thà thương yêu liết lòng giúp đỡ

đổng clú và đỏng bào Vì th ế mà kiên quyết chống lại những người, nhữỉig việc

có hại đến Đảng, đến nhân dân Vì th ế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ, vì th ế mà không hám giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền" [51, 93].

Với chủ trương "vô vi" (buông trôi để cho cuộc đời tự nó diễn biến) "Bất tranh" (thủ tiêu đấu tranh) "Vô kỷ" (quên cả chính mình) "Vô đãi"(quên mọi điều ràng buộc xung quanh) mà đạo giáo đưa ra đã nhanh chóng được người Việt tiếp nhận Cũng như Nho giáo, người Việt tiếp nhạn đạo giáo một cách sáng tạo Trong mọi quan hệ người Việt luôn coi trọng tình nghĩa thì đến nay dưới ảnh hưởng của đạo giáo càng làm tãng thêm lối sống đó Quan điểm"Dĩ hoà vi quý" "Bốn bể m ột nhà" không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, oán thù

đã khiến người Việt bỏ qua mọi tranh chấp, thường thì "Đánh kẻ chạy đi ai đánh kẻ chạy lại" Bởi theo họ cuộc đời như một giấc mộng thì dù có cố gắng đến đâu "Một bàn tay ai che kín được mặt trời"

Cùng với Nho giáo và Đạo giáo, Phật giáo sớm du nhập vào Việt Nam và được dân tộc Việt Nam dễ dàng tiếp nhận, với thuyết "nhân quả" và tư tưởng

từ bi bác ái mà nhân sinh quan Phật giáo đem lại phù hợp với cuộc sống bình dân bình dị của người Việt Sống trong hoàn cảnh luôn phải đối mặt với những khó khăn, khi thiên tai lúc địch hoạ, cuộc sống vốn đã khó khăn lại bị các thế lực phong kiến đàn áp khinh rẻ khiến cho người Việt tiếp nhận Phật giáo như một yếu tố tâm lý làm cân bằng "vơi đi" cuộc sống khổ cực của mình Quan niệm "không có sự khác biệt trong dòng máu cùng đỏ như nhau" là một tố chất làm cho tinh thần dân chủ của nhân dân được khẳng định Cũng giống như tiếp nhận Nho giáo, người Việt tiếp nhận Phật giáo không phải nguyên vẹn hoàn toàn mà có sự chọn lọc loại bỏ những yếu tố không phù hợp với mình Chẳng hạn trong con đường mà Phật giáo đề ra để thoát khỏi cảnh sống lầm than cơ cực là con đường "xuất thế" thực chất là chốn tránh không dám dấu tranh với hiện thực thì ngược lại người Việt lại đề ra con đường "nhập

32

Trang 36

thế" Muốn "giải thoát" khỏi sự hất hình đắng, khổ đau trong cuộc sống hiện thực chỉ bằng con đường lao động, chiến đấu Nhìn chung theo Giáo sư Phạm

Minh Hạc thì "sự truyền bá rộng rãi của lư tưởng Phật giáo đã góp phần với

những tỉnh cách của cư dân bản địa tạo nên truyền thống nhản úi, vị tha vù bao dung của người Việt Nam " [26, 44].

Cùng với ảnh hưởng của văn hoá Phương Đổne này trong quá trình tiếp biến các giá trị tốt đẹp của người Việt Nam còn được bồi đắp bởi những tư tưởng tự do, bình đảng, bác ái của văn minh Phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin do Nguyễn Ái Quốc truyền bá

Như vậy những đặc điểm hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam

dã làm cho các giá trị truyền thống không ngừng được bổi đắp bổ sung và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử Cùng với thời gian những giá trị đó trở nên

ổn định và được lưu truyền trở thành động lực, sức mạnh, bản sắc của con người V iệt Nam

1.2.3 M ột số giá trị truyền thống của người Việt Nam

Sự nghiệp CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay được thể hiện trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động đó là cuộc cách mạng KH- CN diễn ra như

vũ bão, nền kinh tế tri thức xuất hiện (mà đặc trưng là sản phẩm làm ra phải dựa trên 70% đến 80% hàm lượng chất xám) cũng như xu hướng toàn cầu hoá gia tâng Trước bối cảnh đó, Đảng ta chủ trương lấy việc phát huy sức mạnh con người là khâu then chốt “quyết định” cho sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH, nhất là phát huy sức mạnh tinh thần vô hạn bên trong của họ.Trải qua các kỳ đại hội Đảng, thông qua các văn kiện nghị quyết, các chủ trương, đường lối, chính sách nhằm xây dựng và nâng cao phẩm chất, năng lực cho con người Việt Nam không ngừng được bổ sung hoàn thiện Mẫu hình về con người V iệt Nam được khẳng định trong rất nhiều văn kiện nhất là trong nghị quyết TW 2 (Khoá VIII) - nghị quyết về GD - ĐT [/íg,3^1-

Mẫu người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần được xây dựng đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH là:

Trang 37

- Có tinh thần yêu nước, yêu CNXH, có ý chí vươn lên quyết tâm dưa đâì nước thoát khói nghèo nàn lạc hậu, phấn đẩu vì một Việt Nam giàu mạnh, dân chú, văn minh, có tinh thần đoàn kết với nhân dàn thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc dân chú và tiến bộ xã hội.

- Có ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, sống có nghĩa tình, liếp thu vãn hoá nhàn loại làm giàu văn hoá dân tộc

- Có ý thức cộng đồng, tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

- Có tri thức, thường xuyên nàng cao trình độ chuyên môn để làm chủ tri thức KH và CN hiện đại, có sức khoẻ

- Lao động giỏi với lương tâm nghề nghiệp có kỷ luật, sáng tạo vì lợi ích của bản thân, gia đình và xã hội

- Có lối sống lành mạnh, văn minh, có tác phong công nghiệp, tôn trọng

kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái

Rõ ràng con người Việt Nam cần được xây dựng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH có nhiều năng lực và phẩm chất, bên cạnh những nãng lực, phẩm chất như có tri thức, có tác phong công nghiệp, có tinh thần đoàn kết, có

ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo thì cũng cần phải biết tôn trọng giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc Đây chính là sự kháng định đúng đắn nguyên lý phát triển trong triết học Mác xít

1.2.3.1 Lòng yêu nước:

Lòng yêu nước là giá trị đầu tiên, cơ bản và cao quý nhất trong hệ thống giá :rị truyền thống của người Việt Lòng yêu nước được coi như một trục xuyén suốt cho mọi thời đại và căn cứ vào đó các giá trị khác vận động xung quarh sao cho phù hợp

Lòng yêu nước có nội dung cơ bản như sau: "là lòng trung thành với T ổ

quốc, lù lòng tự hào v ề quá khứ vá hiện tại của T ổ quốc, V chí bào vệ những lợi í(h của T ổ quốc" [2, 11, 12].

Trang 38

Rõ ràng với nội dunu như trên hình thức biếu hiện của lòng yêu nước là

vò cùnu phong phú và đa dạng từ việc vò cùng nhỏ đến việc vô cùng lớn Dù hình t hức có khác nhau nhưng chung quv là dựa trên nguyên tắc ưu tiên trước nhất cho lợi ích dàn tộc rồi mới đến lợi ích cá nhàn Vì lợi ích dàn tộc dù phái trái qua vô vàn khó khăn thử thách, thậm chí có lúc phái hy sinh đến tính mạng, mõi cá nhàn cũng quyết thực hiện cho được

Lòng yêu nước là một quy luật chung cho toàn nhân loại nhưng đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống tập tục của mỗi nước thì sự hình thành và biểu hiện cùa nó lại có sự khác nhau

Lòng yêu nước cùa người Việt Nam bắt đầu từ tình yêu quê hương, cu thể là từ mái nhà tranh cánh đồng làng, luỹ tre xanh, cây đa bến nước, sân đình rồi phát triển lèn thành tình yêu đất nước bao la của cả dân tộc Do yêu quê hương họ nguyện gắn bó máu thịt với mảnh đất thân yêu này

Lòng yêu nước của dân tộc V iệt Nam vun đắp và bồi dưỡng phát triển trở thành chú nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước là sức mạnh vô địch giúp cho người Việt chiến thắng vượt qua mọi khó khán thử thách của thiên tai và địch hoạ Chú nghĩa yêu nước được tôi luyện hun đúc trong suốt quá trình phát triển của dân tộc, của lịch sử dựng nước và giữ nước

Lòng yêu nước không phải ngẫu nhiên mà có, nó là sản phẩm của quá trình lao động và đấu tranh của con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch

sử Lòng yẻu nước được bắt nguồn từ những tình cảm đơn sơ ruột thịt, ban đầu

là tình cảm ruột thịt trong gia đình tiếp đến tình yêu xóm làng và phát triển cao hơn là tình yêu Tổ quốc Lòng yêu nước có điểm xuất phát chung là khát vọng hoà bình, mơ ước về m ột cuộc sống yên ổn thanh bình

Trong quá trình lao động sản xuất để có thể chinh phục được tự nhiên đầy khắc nghiệt, đòi hỏi các cá nhân phải cùng nhau gắn bỏ thương yêu, tạo nên sức mạnh cùng nhau xây dựng Tổ quốc Mặt khác tình yêu què hương đất nước còn là sàn phẩm của quá trinh lâu dài đấu tranh chống xàm lăng Tronu, suốt mấy ngàn năm lịch sử, dàn tộc Việt Nam luôn phải đối mặt với nhừnii

Trang 39

cuộc xàm lãng liên tiếp của kẻ thù một sự thônti trị đã man và một âm mưu đồng hoá thâm độc của giai cấp phong kiến nước ngoài.

Yêu nước ắt phái tự cường Dàn tộc Việt Nam hiểu rằng muốn giữ nước phải dựa vào sức mạnh của mình là chính, khònỵ cầu viện đến nước ngoài, không cần sự phù trợ cúa thần linh Để giữ được độc lập dàn tộc con người Việt Nam "quyết đem tất cả tài sản tính mạng" đế giành cho được nền độc lập

Độc lập tự do là nội dung cơ bàn của chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam Dưới ách thống trị của chế độ phong kiến Phương Bắc nhiều năm nhân dân ta đã có ý thức sâu sắc rằng mất nước thì mất tất cá những gì thuộc về đời sống thiết yếu của cá nhàn và gia đình mình, mất cả quyền sống và đạo lý làm người Vì vậy tình yêu đất nước thống nhất với tình yêu gia đình, gia đình chí

có thể tồn tại khi đất nước tồn tại, ngược lại "nước mất thì nhà tan" cho nên

"cứu nước cứu nhà trở thành nghĩa vụ thiêng liêng đối với toàn thể dàn tộc" Không phân xuôi ngược, không chia Bắc Nam, không kể tín ngưỡng, trẻ già ai

là người Việt Nam khi giặc đến có nghĩa vụ đánh giặc giữ nước

"Không có gì quý hơn độc lập tự do" vì chân lý đó con người Việt Nam

"quyết tâm sẵn sàng hy sinh tất cả, hiến dâng tất cả chịu đựng tất cả và vượtqua tất cả" [68, 288]

Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lập tự cường đã trở thành sức mạnh kỳ diệu, lời hiệu triệu, động lực tinh thần quan trọng đưa dân tộc Việt Nam chiến thắng mọi hiểm hoạ

Tuy nhiên, trong lịch sử chứng minh bằng lòng yêu nước truyền thống vẫn chưa đủ sức mạnh để giành và giữ cho được độc lập dân tộc Muốn làm được điều đó lòng yêu nước truyền thống phải biết kết hợp với những giá trị mới phù hợp với yêu cầu của thời đại

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở phương Tày CNTB đã phát triển mạnh

mẽ nhờ những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, công nghiệp tạo ra sự thay đổi lớn trẽn bình diện xã hội, đặc biệt là vai trò và vị trí cá nhán được đề cao Tro nu khi đó ở Phươne Đông nhất là Trung Quốc và Việt Nam Nho giáo vẫn

36

Trang 40

là hệ tư tưởng chính đưực giai cấp thống trị sử dụng trong phạm vi toàn xã hội Với hệ thống giáo lý khép kín chỉ chú trọng đến những vấn đề xã hội và giá trị cộng đồng mà không quan tâm tới khoa học tự nhiên, đặc biệt là vai trò cá nhân đã khiến cho lòng yêu nước nói chung và đặc biệt là lòng yêu nước theo

hệ tư tướng Nho giáo nói riêng trử nên bất lực trước sức mạnh của súng ống, đại bác và tàu chiến của thực dân Pháp xàm lược Việt Nam

Hàng loạt các phong trào yêu nước như phong trào Cđn Vương, Duy Tàn, Đòng Du, Đông kinh nghĩa thục theo các hệ tư tưởng khác nhau lần lượt thất bại

Rõ ràng những thất bại cúa các phong trào trên đây chứng tỏ lòng yêu nước truyền thống chưa đủ sức, chưa đủ trình độ để có thể đánh thắng những giá trị mới của thời đại Hay nói đúng hơn lòng yêu nước truyền thống mới chỉ

là điều kiện cần nhưng chưa đủ Muốn đủ nó phải được kết hợp với những hệ

tư tưởng khoa học của thời đại mới

Kết hợp sức mạnh của những giá trị truyền thống với những giá trị của thời đại, Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và khẳng định sự cần thiết phải biến đổi và phát triển lòng yêu nước truyền thống thành chủ nghĩa yêu nước cộng sản "Muốn cứu nước không còn con đường nào khác con

đường cách mạng vô sản" "Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhản loại,

đem lại cho mọi người không phản biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên quả đất, việc làm cho moị người và vì mọi người, niềm vui hoà bình, hạnh phúc" [29, 49] Người đã biết gắn lợi ích dân

tộc với lợi ích quốc tế, biết gắn truyền thống với hiện đại Điều đó đã làm nên những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ là chống thực dàn Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai

Chủ nghía yêu nước theo quan điểm của chủ tịch Hổ Chí Minh được gắn liền với yêu CNXH, nó khác với những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan sô vanh và vị kỉ Đây là một bước quan trọng trong việc chuyển đổi một giá trị cốt lõi truyền thống sang một giá trị cốt lõi của thời hiện đại, kết hựp nhuần nhuyễn chú nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp

vô sản Chú nghĩa yêu nước trong thời kỳ hiện đại theo Hồ Chí Minh không

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w