Năm 1997, tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm với tác phẩm "Môi trường sinh thái: vấn đề và giải pháp" đứng từ góc độ triết học - xã hội để xem xét qmh giữa con người và tự nhiên, đã phân tích rấ
Trang 1TRẦN THỊ NHUNG
TÁC ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỐI
VỚI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 08
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS DƯƠNG VĂN THỊNH
Hà nội - 2008
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ giữa
con người và tự nhiên
7
1.1 Quan niệm về con người và tự nhiên của triết học Mác - Lênin 7
1.2 Cơ sở lý luận của quan hệ giữa con người và tự nhiên 22 1.2.1 Về tính thống nhất vật chất của thế giới 22
1.2.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ giữa
con người và tự nhiên
29
Chương 2 Tác động của nền kinh tế thị trường và nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đối với quan hệ giữa con người và tự nhiên
39
2.1 Khái quát về kinh tế thị trường và sự tác động của nó đối với mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên
2.2 Sự tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đối với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ở Việt
Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị
52
2.2.1 Thực trạng sự tác động của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đối với mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên ở Việt Nam
52
2.2.2 Nguyên nhân của những tác động tiêu cực của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
80
2.2.3 Một số khuyến nghị để giải quyết mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên trong điều kiện nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
85
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dưới ánh sáng của nghị quyết Đại hội của Đảng như: Đại hội lần thứ VIII, IX, X, nền kinh tế của đất nước đã thực sự có sự chuyển mình từ cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoa học, công nghệ, của tri thức, bắt kịp với xu thế của thời đại mới
Trong sự phát triển rất mạnh mẽ ấy của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có một nhân tố vô cùng quan trọng, nó là “hạt nhân” của sự phát triển, nhân tố đó là con người và tự nhiên
Tự nhiên và con người là hai hệ thống tương đối độc lập, xong nó có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau; Tự nhiên cần đến con người để ngày càng được cải tạo và phát triển, để tự nhiên “ban tặng” những món quà cho con người và con người cũng rất cần đến tự nhiên như một “lẽ
tự nhiên” để tồn tại, duy trì và phát triển
Nhưng vấn đề nan giải ở chỗ, kinh tế thị trường phát triển như thế nào
để không gây ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên? Cần có biện pháp đặt ra và giải quyết như thế nào cho đúng, kịp thời? đây là câu hỏi lớn đặt ra những nhà nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn
Chủ trương của Đảng về sự chuyển dịch nền kinh tế đã làm cho nền kinh tế nước ta có sức sống mới, có sự phát triển sôi động Những tiềm năng
về con người và tự nhiên của đất nước được phát huy một cách có hiệu quả Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những mặt trái của nó, đó là nếu không có sự điều tiết một cách đúng đắn sẽ tác động xấu đến tự nhiên, huỷ hoại môi trường sống của con người Điều đó lại ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu sự tác
Trang 4động của kinh tế thị trường như thế nào đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên lại vừa đảm bảo sự phát triển kinh tế, giữ gìn môi trường sống cho con người Theo tác giả đây là vấn đề khó nhưng rất cần hiện nay, nhất là đối với
các nước đang phát triển như ở nước ta Vì vậy tác giả chọn đề tài: "Tác động
của nền kinh tế thị trường đối với quan hệ giữa con người và tự nhiên"
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quan hệ giữa con người và tự nhiên xuất hiện từ khi con người biết dựa vào tự nhiên để tồn tại Từ đó những nghiên cứu về mối quan hệ này đã xuất hiện Mối quan hệ này được nhiều người bàn đến ở các góc độ khác nhau
- Ở nước ngoài: Trong các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I
Lênin đã từng nhấn mạnh rằng, nếu con người tác động đến tự nhiên mà phá hoại sự cân bằng sinh thái thì loài người không tách khỏi những nguy cơ đe dọa sự tồn tại của chính mình
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên" Ph.Ăngghen đã nêu lên sự khác nhau giữa loài vật và loài người trong mối quan hệ thích nghi và biến đổi môi trường tự nhiên
Trong tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học" năm 1844 C.Mác cũng đã phân tích và lập luận rất thuyết phục rằng: "Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, con người là một bộ phận của tự nhiên"
Về môi trường: Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, đặc biệt từ những năm 60, 70 trở lại đây, cùng với việc gia tăng mạnh mẽ khả năng chinh phục
tự nhiên của con người thì môi trường ngày càng bị suy thoái Từ đó xuất hiện những công trình nghiên cứu đề cập đến sự xuống cấp của môi trường và sự cần thiết phải bảo vệ tự nhiên
Ở Liên Xô (cũ) ngay từ những năm 70 đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có tính chất phương pháp luận, đề cập đến tính cấp bách, sự cần
Trang 5thiết phải bảo vệ môi trường và khai thác tài nguyên một cách hợp lý Đó là: tác giả E.K.Phêđôrốp với tác phẩm: "Sự tác động lẫn nhau giữa xã hội và tự nhiên", Lêningrat, 1972; Tập thể tác giả với cuốn: "Những khía cạnh phương pháp luận của việc nghiên cứu sinh quyển, Matxcơva, 1975; V P Tugarinôp:
"Giới tự nhiên - Văn minh - Con người", Lêningrat, 1978; Tập thể tác giả:
"Bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội của nó", Matxcơva, 1980…
Gần đây, trong các công trình xuất bản như: "Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI", 1984 của Daisaku Ikeda và Aurelio Peccei; "Một thế giới không thể chấp nhận được", 1988 của Rênê Duymông; "Chuẩn bị cho thế kỷ XXI", 1993 của Paul Kennedy; "Làn sóng thứ ba"; "Cú sốc tương lai" của Alvin Toffler… Các tác giả đã vạch ra cho chúng ta thấy hiện trạng nguy kịch của môi trường tự nhiên, nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trường và đồng thời cũng bàn tới tương lai sự tồn tại của hành tinh chúng ta
- Ở Việt Nam:
Các tác giả như: Nguyễn Trọng Chuẩn với bài: "Những tư tưởng của Ph.Ăngghen về quan hệ giữa con người và tự nhiên trong "Biện chứng của tự nhiên", tác giả đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường và khủng hoảng sinh thái Năm 1997, tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm với tác phẩm
"Môi trường sinh thái: vấn đề và giải pháp" đứng từ góc độ triết học - xã hội
để xem xét qmh giữa con người và tự nhiên, đã phân tích rất kỹ sự thống nhất của các yếu tố: Con người - Xã hội - Tự nhiên mà sự phát triển khách quan của nó vốn tuân thủ theo nguyên tắc tự điều chỉnh, tự cân bằng, sự làm sạch,
tự bảo vệ theo cơ chế của chu trình sinh học hay chu trình trao đổi vật chất, năng lượng thông tin của sinh quyển; vấn đề khủng hoảng sinh thái hiện nay
là hậu quả tất yếu của một quá trình tác động lâu dài, mạnh mẽ và mang nhiều yếu tố tiêu cực, tự phát của con người và xã hội lên tự nhiên Tác giả Chu Tuấn Nhạ với tác phẩm: "Bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Cộng sản, số 8 - 1998 Tác giả Phan Hoàng Dũng: "Về
Trang 6vấn đề sinh thái xã hội ở Việt Nam hiện nay" Tác giả Bùi Văn Dũng: "Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền", Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 1999
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ giữa con người
và tự nhiên, về môi trường, về sự phát triển, nhưng những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiờn cứu từng mảng của vấn đề hoặc là tự nhiên, con người, hoặc là tự nhiên và con người với sự phỏt triển, hay vấn đề con người
và tự nhiên trong thời kỳ cụng nghiệp hóa, hiện đại hóa Hiện nay khi khoa học ngày càng phát triển, đời sống của con người có sự đổi thay thỡ con người lại càng có điều kiện để chú ý đến nguồn gốc xuất thân cũng như sự tồn tại của mỡnh Vậy thực tế đời sống của loài người nói chung và con người Việt Nam đặt trong quan hệ với tự nhiên đang phải chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường như thế nào? đặc biệt luận giải vấn đề này dưới góc độ triết học thỡ rất hiếm, bởi đây là vấn đề bức thiết và cũng rất khó giải quyết khụng chỉ của riêng một quốc gia mà là vấn đề chung của toàn cầu Chớnh vỡ vậy chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với lòng mong muốn góp phần tìm
ra giải pháp để điều chỉnh hoạt động của xã hội nhằm bảo vệ tốt hơn môi trường tự nhiên cho con người
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Trờn cơ sở nghiờn cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên, thực trạng sự tác động của nền kinh tế thị trường đối với quan hệ giữa con người và tự nhiên, luận văn chỉ ra một số nguyên nhân
và đưa ra lời khuyến nghị để giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
* Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan
Trang 7hệ giữa con người và tự nhiên
Thứ hai: Trình bày khái niệm và đặc điểm kinh tế thị trường và kinh tế
thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, mặt tích cực và mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Thứ ba: Nghiên cứu sự tác động của nền kinh tế thị trường đối với mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên: mặt tớch cực và tiờu cực
Thứ tư: Một số vấn đề đặt ra từ sự tác động của nền kinh tế thị trường
định hướng xó hội chủ nghĩa đối với quan hệ giữa con người và tự nhiên ở nước ta hiện nay, đề xuất một số khuyến nghị để giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong điều kiện nền kinh
Trang 8Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài việc sử dụng phương phỏp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, luận văn cũng sử dụng chủ yếu phương pháp kết hợp giữa lô gíc và lịch sử, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê…
6 Những đóng góp mới của luận văn
Đánh giá tầm quan trọng của con người đối với tự nhiên và tự nhiên đối với con người trong hệ thống con người - xã hội - tự nhiên, đặc biệt ở Việt Nam hiện nay
Chỉ ra hậu quả tác động của nền kinh tế thị trường đối với quan hệ giữa con người và tự nhiên ở nước ta hiện nay
Chỉ ra nguyên nhân và đưa ra những khuyến nghị để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường tác động đến mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên
7 Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiờn cứu của luận văn có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy chương trỡnh kinh tế, mụi trường và bảo vệ môi trường
- Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo trong quỏ trỡnh học tập của sinh viờn cỏc trường Đại học, Cao đẳng và những ai quan tâm đến vấn đề này
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được sắp xếp thành 2 chương 4 tiết
Trang 9Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LấNIN
VỀ QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN
1.1 QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIấN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN
1.1.1 Quan niệm về tự nhiên
Tôi không đồng ý kiến với các học giả Tư sản cho rằng: triết học Mác không đề cập tới vấn đề quan hệ giữa con người và tự nhiên Lịch sử triết học cho chỳng ta thấy từ khi triết học ra đời đến nay không triết gia nào (kể cả ở phương Đông và phương Tây) là không bàn đến vấn đề bản thể luận, nhận thức luận Điều đó chứng minh rằng triết học từ cổ đại đến đương đại rất chú
ý đến vấn đề con người, vấn đề tự nhiên, quan hệ giữa chúng và theo tụi thỡ đây lại là vấn đề then chốt của mọi thời đại, đặc biệt trong thời đại hiện nay Bởi đây không phải đơn giản chỉ là vấn đề của khoa học, kinh tế, hay kỹ thuật
mà nó là vấn đề mang tính xã hội, dân tộc, chính trị, tư tưởng, nhân văn… Do vậy, triết học phải cú nhiệm vụ lý giải nú thật sỏt với khoa học và phải xõy dựng ý thức, tư tưởng đúng đắn cho con nười trong quan hệ, đối xử với tự nhiên Triết học có nhiệm vụ giải quyết vấn đề phương pháp luận về mối quan
hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên Thực tế mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên đó là đối tượng nghiên cứu của các nhà tư tưởng và khoa học Trong lịch sử triết học, mỗi thời kỡ lịch sử đều đưa ra quan điểm khác nhau về quan hệ giữa con người và tự nhiờn Trong 5 điều dạy của đạo Phật:
Trang 10Đó nờu lờn những yếu tố cơ bản của một cuộc sống lành mạnh, của một cộng đồng lành mạnh và là điều răn dạy hướng về một “tự nhiên” tốt lành, hay trong luật “nhõn quả” của đạo Phật mà ứng dụng trong xó hội loài người thỡ cú “ỏc giả ỏc bỏo, thiện giả thiện lai” và mở rộng hơn nữa đó là quan điểm tác động qua lại giữa con người và tự nhiên đó là: Đối xử tốt với tự nhiên, tự nhiên sẽ ban phúc lợi; tàn ác với tự nhiên, tự nhiên sẽ mang đến tai họa
Như vậy, triết học Phật giáo đó bật lờn một thỏi độ rất tôn trọng, nâng niu tự nhiên và có thể coi đây như một tinh túy của đạo phật đối với thực vật, động vật, đất đai, sông núi….và con người
Cũn đối với Đạo giáo thỡ Lóo Tử (khoảng TK5 - TCN) đó cho rằng con người và tự nhiên là một thể thống nhất là nguyên nhân của vạn vật: Lóo
Tử cho rằng: Trời cú tớnh đơn nhất mới sáng, đất có nó mới bền vững, thần
có nó mới thiêng, muôn vật có nó mới sản sinh mói mói, muụn vật vận động theo hỡnh thức riờng, cuối cùng mới trở về Đạo, theo quy luật tuần hoàn tự nhiên Nhờ có tính đơn nhất ấy mà có sự hài hũa giữa con người và tự nhiên, nếu làm ngược lại thỡ sẽ phỏ vỡ mối quan hệ này và đây chính là cơ sở triết học căn bản khẳng định mối quan hệ quan trọng giữa con người và tự nhiên,
và điều này đó được thể hiện qua tư tưởng: “Thiên địa vạn vật thống nhất thể”
và “tự nhiên tương dữ” (Lóo Tử) nghĩa là trời và người giao cảm lẫn nhau
Trong tư tưởng triết học của Khổng Tử (khoảng 551 - 479 TCN) cú rất nhiều luận điểm nói về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, về môi trường thống nhất với quan điểm: “Thiên địa vạn vật thống nhất thể” và “ tự nhiên tương dữ” của Lóo Tử Quan điểm của Nho giáo thể hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên qua thuyết “thiên, nhõn hợp nhất”, nhằm nhân hóa
tự nhiên, đề cao vai trũ, phẩm chất con người và trách nhiệm của con người trước tự nhiên
Một trong những nội dung khá quan trọng trong tư tưởng của Nho giáo
Trang 11đó là "đức nhân" Nho giáo đặc biệt chú ý đến trật tự xó hội loài người bởi:…Tự nhiờn cú trật tự hài hũa, xó hội loài người cũng thế, nên mọi sự hủy hoại, làm suy thoái, gây hại đến tự nhiên, gây ra hậu quả xấu tới người khác,
như vậy đó gõy ra hai điều thất đức Một là: Không kính trọng người khác Hai là: Không xứng đáng là người quân tử
Khác với các triết gia phương Đông, thỡ cỏc triết gia phương Tây tiếp cận mối quan hệ giữa con người và tự nhiên dưới nhiêu góc độ như Hêđôrốt (khoảng 485 - 425 TCN) cho rằng: vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lũng nú luụn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, các lực lượng đối lập nhau Nhờ các cuộc đấu tranh đó mà sự vật này chết đi, sự vật khác ra đời và chớnh vậy làm cho vũ trụ trẻ mói
Trong triết học duy vật Anh thế kỷ 16, 17, nhà triết học E Bê Cơn (1561-1626) đó khẳng định: Con người cần phải thống trị và làm chủ giới tự nhiên, điều này có thực hiện được không? Tất cả tùy thuộc vào sự hiêủ biết của con người: “Tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức” do đó rất cần một khoa học để lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu, mục đích là biến giới
tự nhiên thành “giang sơn” của con người, nghĩa là làm cho con người thống trị những lực lượng của giới tự nhiên Muốn chinh phục được tự nhiên, muốn chế ngự nú thỡ trước hết phải tuân theo các quy luật của nó Hơn nữa E Bờ Cơn cũn khẳng định: Mục đích của xó hội chỳng ta là nhận thức cỏc sự vật, đồng thời mở rộng sự thống trị của con người đối với tự nhiên trong chừng mực con người có thể làm được
Cựng thời với E.Bê Cơn, nhà triết học Pháp R Đề Các cũng rất chú ý đến yếu tố khoa học khi con người tiếp cận với tự nhiên, nhưng khi R Đề Các bác bỏ chủ nghĩa kinh viện để tạo ra một thứ triết học thực tiễn ông gọi là siêu hỡnh học để tăng cường sự thống trị của con người đối với tự nhiên Trong tác phẩm: “Luận về phương pháp” R.Đề Các viết: “…Thay cho triết học trừu tượng dạy ở các trường, có thể lập một thứ triết học thực tiễn mà nhờ đó nếu
Trang 12biết được sức mạnh và tác dụng của lửa, nước, khí, sao, trời và tất cả những vật thể khác chung quanh ta một cách cũng rừ rệt như những người thợ lành nghề của chúng ta biết các thứ nghề thủ công, thỡ chỳng ta sẽ cú thể, giống như tất cả các công cụ của chúng, và do đó, trở thành kẻ thống trị và chi phối giới tự nhiên [41,192-193]
Trong tỏc phẩm “Luõn lý học”, B.Spinụda thế kỉ 17 viết “…Giới tự nhiên bao giờ và bất cứ chỗ nào cũng như thế, lực lượng và tác dụng hùng mạnh của giới tự nhiờn nghĩa là những quy luật và quy tắc của nó mà theo đó mọi cái đều xảy ra và đều biến đổi từ hỡnh thức này sang hỡnh thức khỏc, bao giờ và bất cứ chỗ nào cũng như thế, do đó, cả phương pháp nhận thức bản chất của các sự vật như thế nào cũng vậy, cần phải là một, tức là cần phải là sự nhận thức bằng những quy luật và quy tắc phổ biến của giới tự nhiên…" [41, 150]
B.Spinụda cũn chỉ ra rằng: con người phải cố gắng không để: “giới tự nhiên tuân theo mỡnh mà trỏi lại, mỡnh tuõn theo giới tự nhiờn” [41, 207]
Cũn trong nhận thức, con người làm cho trật tự tư tưởng của mỡnh phự hợp với trật tự của toàn bộ giới tự nhiờn, tức là cú khả năng làm cho trạng thái thân thể của mỡnh phự hợp với trật tự toàn bộ giới tự nhiờn Do vậy, trước giới tự nhiên, con người có thể chi phối những xúc cảm, cũng như những việc làm của mỡnh
Đến thế kỉ thứ 18, với thuyết duy địa lý của Môngtexkiơ và A-tuyếc-gô đều cho rằng, các hiện tượng tự nhiờn và xó hội là thống nhất với nhau và tuõn thủ chặt chẽ theo những quy luật nhất định Từ đó, các ông khẳng định rằng sở dĩ các dân tộc này khác với dân tộc kia về màu da, lối sống văn hóa, luật pháp, tư tưởng…là do khí hậu có một quyền uy cực mạnh và quy định những yếu tố trên vỡ hầu như sự nhu nhược của các dân tộc vùng khí hậu nóng đó làm cho họ luụn trở thành nụ lệ trong khi đó những người ở vùng khí hậu lạnh luôn là người có tự do và dũng cảm, vậy nên, luật pháp, thể chế nhà nước, sự phát triển của cỏc quốc gia đều phải căn cứ vào điều kiện khí hậu và
vị trí địa lý Đây là hạn chế của Mụngtexkiơ và A-tuyếc-gụ khi cho rằng yếu
Trang 13tố địa lý giữ vai trũ quyết định
Túm lại, với những quan điểm về mối quan hệ giữa con người và tự
nhiên trước Mác, chúng ta đó thấy được các nhà triết học đặt ra ở những góc
độ khác nhau, mặc dù là siêu hỡnh xong vai trũ của từng yếu tố trong mối quan hệ này đó được khẳng định rất rừ ràng
Bước đột phá trong tư tưởng về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên đó là tư tưởng của C.Mác và Ăngghen C.Mác và Ph.Ăngghen đó nờu lờn những tư tưởng có căn cứ khoa học và căn cứ lịch sử Tư tưởng đó đó được các ông giải thích về vai trũ của sản xuất và tỏi sản xuất xó hội đây là điều kiện thường xuyên, liên tục, và không thể thiếu được của con người và
xó hội
Sản xuất vật chất là quỏ trỡnh con người sử dụng công cụ lao động, tác động vào tự nhiên nhằm cải biến các dạng vật chất của tự nhiên để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho đời sống ngày càng cao của con người bởi Điều này
C Mác đó từng chỉ ra rằng: con người trước hết cần phải ăn, uống, ở, mặc đó rồi mới cú thể làm chớnh trị, khoa học, nghệ thuật, tụn giỏo…
Tư tưởng về mối quan hệ giữa con người và tự nhiờn cũn được C.Mác, Ph.Ăngghen thể hiện khi nghiờn cứu lịch sử phỏt triển của xó hội loài người qua sự phát triển thay thế nhau của các phương thức sản xuất từ thấp đến cao Phương thức sản suất được hợp thành bởi hai mặt: lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất
Trong đó lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người và
tự nhiờn Trỡnh độ của lực lượng sản xuất thể hiện trỡnh độ trinh phục tự nhiên của con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Đó là thước đo năng lực thực tiễn con người trong quá trỡnh cải tạo tự nhiờn nhằm đảm bảo
sự sinh tồn và phát triển của loài người Trong quá trỡnh phỏt triển của xó hội thỡ lực lượng sản xuất không ngừng được cải tạo để hoàn thiện mà trước hết
là thay đổi về trỡnh độ của công cụ lao động và trỡnh độ của người lao động
Trang 14khi tác động vào giới tự nhiên (đối tượng lao động) và cũng chớnh trỡnh độ của lực lượng sản xuất thay đổi cũng đó thể hiện “trỡnh độ” biến đổi giới tự nhiên trong việc thỏa món nhu cầu vật chất và tinh thần của con người như C Mác viết: “…Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cỏi gỡ, mà là ở chỗ chỳng sản xuất bằng cỏch nào, với những tư liệu lao động nào…” [6, 269] và mỗi một cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất đó khụng chỉ tạo ra sự thay đổi về chất trong nó mà nó chính là cơ sở, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau của các thời đại kinh tế khi đặt quan hệ với tự nhiên
Như vậy, trong lực lượng sản xuất, trong mỗi phương thức sản xuất hay trong mỗi chế độ xó hội là sự thể hiện rất rừ ràng trước hết là việc sản xuất của cải vật chất, sau đó là sự phát triển của trỡnh độ lực lượng sản xuất đó thể hiện rất rừ mối quan hệ khăng khít giữa con người và tự nhiên, tất nhiên yếu
tố khoa học bao giờ cũng nằm len lỏi vào các yếu tố của lực lượng sản xuất và cùng vào mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Đây chính là cơ sở khoa học mà C.Mác và Ph.Ăngghen đó khẳng định nó là yếu tố quyết định sự sống cũn của con người trước tự nhiên, vậy, để điều khiển được mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, trước hết phải nhận thức được những quy luật tồn tại
và phát triển của giới tự nhiên và sau đó phải biết vận dụng một cách đúng đắn, chính xác những quy luật đó vào quá trỡnh hoạt động thực tiễn của xó hội, mà quan trọng nhất là vào lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất
Lịch sử xó hội đó chứng tỏ rằng, quỏ trỡnh phỏt triển của xó hội là quỏ trỡnh con người không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, phỏt triển và hoàn thiện dần cụng cụ lao động, điều đó có nghĩa là con người đó khụng ngừng tấn cụng vào tự nhiờn, đồng hóa các đối tượng của tự nhiên, biến chúng trở thành sức mạnh của xó hội…[34, 112]
Qua sự phân tích các quan điểm triết học về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ở trên chúng ta thấy mối quan hệ giữa con người và tự
Trang 15nhiên là vấn đề được đưa ra bàn bạc, nghiờn cứu từ rất lõu Và chắc chắn rằng hiện nay và mói mói về sau nú là vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất khi xó hội ngày càng phỏt triển, khi khoa học đó phỏt triển đến đỉnh cao thỡ mối quan hệ này càng được làm sáng tỏ
Vậy đến đây chúng ta có thể đưa ra cách hiểu về tự nhiên và con người dưới góc độ triết học, để từ đó nâng mối quan hệ này lờn thành triết lý của cuộc sống
Đến nay, tự nhiên được hiểu theo nhiều nghĩa tựy thuộc vào góc độ nghiên cứu của cỏc ngành khoa học, xong cú thể hiểu tự nhiờn theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng:
Tự nhiờn: là tất cả những gỡ đang tồn tại khách quan, là toàn bộ thế
giới vật chất với tất cả hỡnh thức biểu hiện muụn màu, muụn vẻ của nú; là tập hợp cỏc điều kiện thiên nhiên vốn có sẵn tồn tại ngoài tác động của con người Nghĩa là một tự nhiên “thuần túy”, “tinh khiết” nhưng bao la, rộng lớn Theo nghĩa này, tự nhiờn sẽ bao hàm cả giới tự nhiờn vụ sinh và hữu sinh theo kết cấu, quy mụ của thế giới vật chất
Giới tự nhiên vô sinh là toàn bộ các tổ chức vật chất từ các hệ thống thiên hà; các hệ thống hành tinh, các hành tinh đến các vật thể vĩ mô; các phõn tử, nguyờn tử, chõn khụng vật lý
Cũn giới tự nhiờn hữu sinh cú cỏc trỡnh độ tổ chức vật chất là sinh quyển, các sinh khu, quần thể, cơ thể đa bào, tế bào, tiền tế bào, các AND, ARN (các axit nuclêich) Nếu hiểu như vậy thỡ khỏi niệm tự nhiờn đồng nghĩa với khái niệm vật chất, là “tập hợp các điều kiện thiên nhiên vốn có sẵn ngoài tác động của con người” tức là tồn tại khách quan không phụ thuộc vào
ý muốn chủ quan của con người đó chính là những yếu tố như: đất đai, sụng,
hồ, rừng, biển, khớ hậu, khụng khớ, động, thực vật,….nghĩa là tất cả những
gỡ cần thiết để con người có thể tồn tại được và đến đây chúng ta khẳng định được rằng tự nhiên là bộ phận gắn bú khụng thể tỏch rời con người Con
Trang 16người sẽ chết khi tồn tại độc lập tuyệt đối với tự nhiên, C.Mác đó khẳng định điều này bằng một luận điểm: “…Giới tự nhiờn là thõn thể vô cơ của con người, và chớnh nú là giới tự nhiờn trong chừng mực bản thõn nú khụng phải
là thõn thể con người Con người sống dựa vào tự nhiên Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của con người; để khỏi chết, con người phải ở trong quá trỡnh giao dịch thường xuyên với thân thể đó Sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người liên hệ khăng khít với tự nhiên, điều đó chẳng qua chỉ có nghĩa
là tự nhiên liên hệ khăng khít với bản thân tự nhiờn, vỡ con người là một bộ phận của tự nhiên” [5, 91-92]
Nghĩa hẹp:
“Tự nhiờn” cũn được hiểu theo nghĩa: là tập hợp các điều kiện thiên
nhiên vốn có sẵn, vừa tồn tại ngoài tác động của con người vừa là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của xó hội loài người do chính con người tạo ra
Theo nghĩa này, chỳng ta thấy rừ một điều để xó hội loài người tồn tại thỡ phải tiến hành sản xuất vật chất, và chớnh điều này đó buộc con người phải tỡm đến những “điều kiện thiên nhiên vốn có sẵn” để làm đầu vào của quỏ trỡnh sản xuất như vậy thì khi xã hội phát triển từ phương thức sản xuất ở trỡnh độ thấp lên phương thức sản xuất cao đã buộc con người phải tiến sõu vào tự nhiờn, lấy của cải của tự nhiên để phục vụ nhu cầu cuộc sống của con người Yếu tố đặt giữa quỏ trỡnh phát triển là khoa học, kỹ thuật Sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất càng phát triển bao nhiêu thỡ càng chứng tỏ sự phỏt triển của khoa học bấy nhiờu và điều này chứng minh con người trong quan hệ với tự nhiên ban đầu là “tiếp cận”, “lấy” đến “xõm phạm”, “tàn phỏ”, rồi cuối cựng là “búc lột” và “trả giỏ” của tự nhiờn đối với con người Đây chính là vấn đề môi trường sống, môi trường sinh thái, môi trường địa lý, mụi trường tự nhiên
Và ở luận văn này chúng tôi xin được bàn đến “tự nhiên” theo nghĩa là môi trường tự nhiên
Trang 17Môi trường tự nhiên là những điều kiện tự nhiờn bao quanh xó hội gồm:
Môi trường đất
Môi trường nước
Môi trường không khí
Môi trường sinh vật…
Giữa môi trường tự nhiên và con người luôn diễn ra quá trỡnh trao đổi biện chứng với nhau đó là: con người cần đến môi trường tự nhiên, luôn làm chủ với môi trường tự nhiên, chinh phục và sáng tạo trước môi trường tự nhiên…, cũn mụi trường tự nhiên thỡ cung cấp những nguyờn vật liệu, năng lượng, nguồn vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất vật chất của con người
và đồng thời môi trường tự nhiên là “bói chứa” những chất thải bỏ trong quỏ trỡnh hoạt động sống của con người Và ở đây nảy sinh ra một vấn đề đó là: Văn hóa môi trường, đạo đức sinh thái, thẩm mỹ sinh thái, tinh thần sinh thỏi …, như ở một vài công trỡnh nghiờn cứu đề cập đến
Từ cỏch hiểu về tự nhiờn như vậy, chỳng tụi đưa ra cách hiểu của mỡnh về mụi trường tự nhiên như sau:
Môi trường tự nhiên là tập hợp những yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người và lịch sử xó hội loài người
1.1.2 Quan niệm về con người
Con người xuất hiện trong quá trình tiến hóa của vũ trụ,con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên, bước ra từ tự nhiên mà hơn thế, còn là sản phẩm cao nhất của sự tiến hóa của vật chất
Ngay từ thời kỳ cổ đại, con người đã đặt ra rất nhiều câu hỏi: Mình
là ai? Sinh ra từ đâu? Tồn tại để làm gì? Tồn tại bằng cách nào? Trong lịch sử triết học, cả ở phương Đông và phương Tây các nhà triết học bằng mọi cách khác nhau, đã lý giải về nguồn gốc, bản chất, vai trò của con người
và đặc biệt là quan hệ với tự nhiên
Trang 18Ở phương Đông, Nho giáo quan niệm con người cũng là một vật, một
loài trong khối nhất thể bao gồm cả trời đất, muôn vật, muôn loài và là một bộ phận nhỏ của tự nhiên, nên con người phải tuân theo nguyên lý "âm - dương biến hóa" của đạo trời và "cương nhu tương thôi" của đạo đất [25, 76] Quan điểm này thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa con người và tự nhiên Nho giáo còn nhấn mạnh, cuộc sống con người do "thiên mệnh" chi phối, nên con người và trời đất luôn có quan hệ "thiên nhân cảm ứng", trong cuộc sống con người cần phải hiểu mệnh trời, sợ mệnh trời để biết "ứng thời" theo
"thiên mệnh"
Triết học Phật giáo (khoảng thế kỷ VI - TCN) cho rằng, thế giới luôn
là dòng biến ảo, vô thường, không ngừng, không nghỉ và trong dòng biến đổi bất tận ấy, con người cũng do nhân duyên kết hợp cái danh với cái sắc mà tạo nên tinh thần và thể xác Nhân duyên chi phối sự kết hợp phong phú “ngũ uẩn” tạo ra sự đa dạng của đời người
Tuy những quan niệm về con người ở phương Đông mang tính chất duy tâm, không giải thích được nguồn gốc, bản chất của con người một cách thuyết phục, song đã đề cao con người và khẳng định con người có mối quan
Đêmôcrít (khoảng 460 - 370 TCN) là nhà triết học duy vật biện chứng, đồng
thời là người cống hiến tích cực về phương diện đạo đức học
Đêmôcrit quan niệm về sự sống, sự sống là kết quả của quá trình biến đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiên Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi trường nước và bùn dưới tác động của nhiệt độ Sinh vật đó sống dưới nước, sau đó dần dần xuất hiện sinh vật có vú sống trên cạn Cuối cùng là con người
Trang 19ra đời trên quả đất
Từ quan niệm về sự ra đời con người, Đêmôcrít quan tâm đến vấn đề đạo đức Ông xác định, đối tượng nghiên cứu của đạo đức học là cuộc sống,
là hành vi, là số phận của mỗi con người riêng biệt Ông coi lương tâm và
sự lành mạnh về tinh thần của từng cá nhân là hạt nhân trung tâm trong đạo đức học, đặc biệt ông nêu cao vai trò của trí tuệ trong đời sống hạnh phúc của con người
Theo Đêmôcrít, người hạnh phúc là người có trí tuệ và khả năng tinh
thần: Sống thiếu trí tuệ, không điều độ và không có lỗi lầm, có nghĩa là sống
không xấu, nhưng đó là chết dần
Xôcrát (469 - 399 TCN) trong triết học Hy Lạp cổ đại là người đầu tiên
cho rằng, triết học không có gì khác hơn là sự nhận thức của con người về chính mình
Với mệnh đề: Con người hãy nhận thức chính mình, đã chứng tỏ Xôcrát rất chú trọng đến khía cạnh tri thức và đạo đức con người Đạo đức học của ông mang tính duy lý Theo ông đạo đức con người và tri thức thống nhất làm một trong bản thân mỗi người
Arítxtốt (284 - 322 TCN) một bộ óc bách khoa, nhà triết học lớn nhất
của triết học Hy Lạp cổ đại đã có những đóng góp xuất sắc không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu triết học mà còn là người đặt nền móng cho hàng loạt ngành khoa học khác
Arítxtốt cho rằng, con người là một thực thể chính trị (sau này C Mác gọi là một động vật chính trị) Con người về bản chất phải thuộc về Nhà nước
Vì vậy, theo ông kẻ nào sống vượt khỏi khuôn khổ của Nhà nước thì kẻ đó chưa phải là con người, hay chỉ là con người chưa phát triển về đạo đức, hay
đó chỉ là những động vật hay thánh nhân Arítxtốt còn chỉ ra được mối quan
hệ giữa đạo đức và kinh tế, tìm ra cơ sở kinh tế của công bằng và bình đẳng trong xã hội
Trang 20Trong nội dung đạo đức học của Arítxtốt, ông rất chú ý đến vấn đề phẩm hạnh Ông quan niệm phẩm hạnh thể hiện ở biết làm việc, biết định hướng đúng, biết tìm ra cái thiện
Nếu như triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại quan tâm nghiên cứu khía cạnh xã hội của con người, đặc biệt là về đạo đức, phẩm hạnh, chính trị thì thế
kỷ 16, 17 triết học duy vật Anh và triết học duy vật Pháp lại bàn về tồn tại tư duy, về trí tuệ con người Cho đến thế kỷ 18 với sự xuất hiện triết học cổ điển Đức, các nhà triết học lại quan tâm nhiều đến nguồn gốc, bản chất tự nhiên của con người
Tômát Hốpxơ (1588 - 1679) nhà triết học Anh thế kỷ 17 cho rằng, con
người là một thể thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội và từ đó ông xây dựng nên lý luận về xã hội và Nhà nước
Về bản chất tự nhiên của con người, Hốpxơ đã viết: Giới tự nhiên đã tạo ra mọi thứ người như nhau, cả về thể xác và tinh thần
Theo Hốpxơ, để xã hội tồn tại và phát triển thì phải lập nên Nhà nước trên cơ sở ký kết khế ước xã hội giữa người với người, chuyển thế giới từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái có Nhà nước, trạng thái công dân Vì vậy, theo Hốpxơ, Nhà nước có nguồn gốc thuần tuý trần gian, chứ không do một thần thánh nào tạo ra, ông coi "Nhà nước tựa như một con người nhân tạo" Như vậy, Hốpxơ đã khẳng định nguồn gốc tự nhiên của con người và bản tính vốn có của nó là ác
Bêkenit Xpinôda (1632 - 1677) nhà triết học duy vật nổi tiếng người
Hà Lan Ông đã có quan niệm về con người tiến bộ hơn những quan niệm trước Theo Xpinôda thì con người là một dạng thức của thực thể, là sản phẩm của tự nhiên, mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quy luật của tự nhiên
Nhiệm vụ của triết học là phải phục vụ cuộc sống của con người, giúp con người có được học thức, biết nắm bắt quy luật của tự nhiên, hành động theo quy luật và biết sống theo lý tưởng cao đẹp
Trang 21Xpinôda không chỉ cho rằng con người là một thực thể tự nhiên, biết tự nhận thức, có ý thức về chính bản thân mình, mà hơn thế nữa, ông còn khẳng định bản tính con người là nhận thức, nhu cầu nhận thức là khát vọng lớn nhất của con người Ông đề cao tri thức, sự nhận thức đến mức, coi nhận thức như chiếc chìa khóa vạn năng, có thể giúp con người giải quyết được mọi tệ nạn
xã hội, có thể giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công Vì con người
là một thực thể tự nhiên nên theo Xpinôda, con người cũng luôn nằm trong quá trình phát triển và tiêu vong Đây là một tư tưởng tiến bộ so với thời đại
vì nó chứa đựng tư tưởng biện chứng về con người
Nhà triết học Rơnê Đềcáctơ (1596 - 1650) xem con người như một cỗ
máy và ông mô tả hình dáng cũng như cấu tạo cơ thể người chẳng khác nào là
một cỗ máy, để từ đó kết luận rằng, con người cũng chỉ là một thực thể tự
nhiên mang bản tính cơ hội
G Ph.Hêghen - nhà triết học duy tâm khỏch quan cổ điển Đức - đưa ra
quan niệm: con người là sản phẩm và là giai đoạn phát triển cao nhất của “ý niệm tuyệt đối” Trong quá trình hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới con người, đã đạt đến khả năng tự ý thức, tự nhận thức về bản thân và trở về mình trong “tinh thần tuyệt đối”
Theo Hêghen: Sống là sự vận động đến cái chết, hay sự sống đã chứa đựng bên trong nó mầm mống của sự chết Đây là tư tưởng biện chứng sâu sắc nhất của Hêghen về sự gắn kết giữa thế giới vô cơ với thế giới hữu cơ, giữa sự sống và cái chết của con người
Có lẽ nổi bật và đạt đến trình độ cao hơn cả trong quan niệm về con người của lịch sử triết học trước Mác đó là quan niệm của L.Phoiơbắc Ông là người đầu tiên khẳng định: Cùng với tự nhiên con người là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của triết học
L.Phoiơbắc cho rằng, con người là sản phẩm của tự nhiên, là một bộ
Trang 22phận của thế giới khách quan Con người là một sinh vật, có hình thể vật chất, tồn tại trong không gian và thời gian, nên con người có năng lực biết tư duy Con người có bản chất tự nhiên, bản chất của một động vật và không bao giờ thay đổi Hơn nữa L.Phoiơbắc còn khẳng định: Trong con người, thể chất và tinh thần thống nhất với nhau, ý thức là một thuộc tính đặc biệt của vật chất, của bộ óc người Từ đó ông xây dựng thuyết nhân bản và dựng để giải quyết cho sự tồn tại của con người
Những quan niệm trên của L.Phoiơbắc về con người có điểm hợp lý ở
chỗ nó được xây dựng trên nền tảng duy vật Hơn nữa nó đề cao tính cá thể của con người, nhấn mạnh tính năng động và sáng tạo cá nhân của con người Nhưng L Phoiơbắc lại không nhìn thấy được bản chất xã hội của con người không nghiên cứu con người trong từng giai đoạn lịch sử, mà là con người chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, phi giai cấp Đây là điểm hạn chế của
L Phoiơbắc và sau này C.Mác bổ sung và phát triển
Đến thế kỷ 19, khi triết học Mác - Lênin ra đời đã kế thừa, phát triển và hoàn thiện quan niệm về con người
Theo C.Mác, con người là một thực thể tự nhiên - xã hội Xét về mặt tiến hóa con người có nguồn gốc từ tự nhiên, là con đẻ của tự nhiên, là sản phẩm tiến hóa cao nhất của thế giới vật chất, C.Mác khẳng định rằng "Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người" "Con người sống dựa vào tự nhiên, có quan hệ khăng khít với tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên" [10, 135]
Cạnh đó, con người sống có quan hệ với nhau, quan hệ đó tạo thành các quan hệ xã hội, thành xã hội, nên con người phải là con người xã hội "Con người, theo nghĩa đen của nó là một động vật xã hội, không những là một động vật có tính hợp quần, mà còn là một động vật chỉ có thể tách riêng trong
xã hội mà thôi" [9, 591]
C.Mác còn chỉ rõ bản chất xã hội của con người Ông viết: "Trong tính
Trang 23hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa cỏc quan hệ xã hội" [8, 11]
Như vậy, dưới những góc độ khác nhau của lịch sử, văn hóa, chính trị, thẩm mĩ, các nhà triết học đã lý giải về sự xuất hiện, cấu tạo, cũng như vai trò, bản chất của con người mà đỉnh cao là quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen Ph.Ăngghen đã tiếp thu học thuyết tiến hóa của Đác-uyn để khẳng định nguồn gốc ra đời của con người chủ yếu do lao động Điều này được trình bày trong tác phẩm "Tác dụng của lao động trong quá trình biến vượn thành người" Đây là sự lý giải rất thuyết phục
Song hầu như các quan niệm trên kể cả quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen vẫn còn thiếu tính khoa học để lý giải một cách khoa học chính xác nhất về nguồn gốc, năng lực vô tận của con người
Với sự phát triển của nhiều ngành khoa học như: di truyền học phóng
xạ, sinh học phân tử, bào thai học, di truyền học, ngành cổ sinh học phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX, với nhiều phương pháp nghiên cứu như: dựa vào xương người và đồ hóa thạch, nghiên cứu nhóm máu ABO ở hóa thạch người và đặc biệt trong 10 năm cuối cùng của thế kỷ XX những thành tựu của khoa học hiện đại đã góp phần vào việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, cấu tạo của con người, điều này rất quan trọng giúp con người có thể sống mạnh khỏe hơn, hạnh phúc hơn, đồng thời hiểu được quy luật tự nhiên, quy luật xã hội trong chính bản thân con người để từ đó con người làm chủ những hoạt động của mình trong quan hệ với tự nhiên
Khoa học hiện đại tổng kết mặt sinh học trong con người đó là toàn bộ những đặc điểm của con người với tư cách là một động vật cả về cấu tạo và chức năng Cấu tạo hình thể con người về cơ bản giống như động vật có vú cao cấp Quá trình con người phát triển trong bào thai là sự rút ngắn quá trình tiến hóa của động vật Sự khác nhau về mặt sinh học giữa người và vật là ở bộ não Bộ não người - với khả năng phản ánh cao nhất, sáng tạo nhất đã làm con người khác xa con vật
Trang 24Mặt xã hội trong con người có thể hiểu đó là toàn bộ những đặc trưng chỉ vốn có ở con người, được hình thành nên trong quá trình tác động qua lại giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người mà trước tiên được thể hiện trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội
Mặt sinh học và mặt xã hội cùng tồn tại trong bản chất của con người, luôn tác động qua lại với nhau để tạo thành bản chất của mỗi con người Trong mối quan hệ và tác động lẫn nhau đó, mặt sinh học là cơ chất hay là nền vật chất để làm hình thành nên mặt xã hội
Ngày nay khoa học hiện đại còn đi sâu vào khai thỏc nguồn gốc xã hội dựa vào những cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ giữa con người và tự nhiên như: tính thống nhất vật chất của thế giới hay trỡnh độ phát triển của lực lượng sản xuất để khai thác yếu tố tài năng, trí tuệ, ý thức của con người
để phục vụ cho sự phát triển của xó hội
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN
1.2.1 Về tính thống nhất vật chất của thế giới
Cú thể thấy rằng tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở lý luận căn bản nhất của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tớnh thống nhất vật chất của thế giới giữ một vị trớ quan trọng trong triết học Mỏc- Lờnin, vỡ nú thể hiện một thế giới quan khoa học rất triệt để, khi giải thích sự tồn tại của thế giới hiện thực
Trên cơ sở tổng kết những thành tựu mà nhân loại đó đạt được trong sự phỏt triển lõu dài của triết học và khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng, đó khẳng định: Bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó, điều này được Ph.Ăngghen nhấn mạnh trong tỏc phẩm "Chống Đuy rinh” khi Ph.Ăngghen phê phán quan niệm của E.Đuyrinh cho rằng; tính thống nhất của thế giới là ở sự tồn tại của nó và Ph Ăngghen đó khẳng định:
“Tớnh thống nhất của thế giới khụng phải ở sự tồn tại của nú, mặc dự tồn tại
là tiền đề của tính thống nhất của nó vỡ trước khi thế giới có thể là một thể
Trang 25thống nhất thỡ trước hết thế giới phải tồn tại đó…tớnh thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khộo lộo của kẻ làm trũ ảo thuật mà bằng sự phỏt triển lõu dài và khú khăn của triết học và khoa học tự nhiên” [27, 72] Điều này rất cần thiết phải nhắc lại vỡ đây là điều có ý nghĩa nền tảng đối với việc xem xét các mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất, đặc biệt mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Hơn nữa trong sự tranh luận giữa Đuy Rinh và Ph Ăngghen thỡ Ph Ăngghen đó thể hiện quan điểm hết sức khoa học của mỡnh là thừa nhận sự thống nhất của con người và giới
tự nhiờn ở tớnh vật chất trong sự tồn tại và tiến húa của chỳng Hơn nữa sự thống nhất này đó được chứng minh bởi sự phát triển lâu dài, khó khăn của triết học, của khoa học, của thực tiễn, chứ không phải của “vài ba lời lẽ khộo lộo của kẻ làm trũ ảo thuật….”
Ph.Ăngghen cũn đặc biệt nhấn mạnh rằng, sự thống nhất vật chất của thế giới được thể hiện ở sự vận động, chuyển hóa và phát triển không ngừng của các thuộc tính, các quá trỡnh, cỏc kết cấu vật chất tạo nờn nú “vận động
là cách thức tồn tại của vật chất Bất kỳ, bao giờ và ở đâu cũng không và không thể có vật chất không có vận động” [29, 99]
Ph.Ăngghen đó chỉ ra, khoa học từ nhiều góc độ khác nhau, đó chứng minh được sự hỡnh thành, vận động và phát triển của giới tự nhiên, khám phá được bản chất của sự sống và sự thống nhất vật chất của nó với giới tự nhiên,
cả giới tự nhiên vô cơ, cả giới tự nhiên hữu cơ như khoa học sinh học, khoa học vật lý đầu thế kỷ 19 đó chứng minh Bởi vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đó nhấn mạnh “trong tự nhiờn rỳt cục lại, mọi cỏi đều diễn ra một cỏch biện chứng chứ khụng phải siờu hỡnh” [7, 36] Với sự vận động và phát triển lâu dài của tự nhiên đó làm thoỏt thai ra con người và xó hội loài người, nờn con người là “một cơ thể phức tạp nhất mà tự nhiên sản sinh ra được” [7, 475] điều này cho phép chúng ta hiểu được một luận điểm hết sức quan trọng, một
Trang 26điều tất yếu mà đó được Ph.Ăngghen khẳng định: Con người là một cơ thể phức tạp nhất mà thế giới tự nhiên đó sản sinh ra đặc biệt là bộ nóo biết tư duy, và khả năng chọn lọc, thích nghi của con người qua lao động đó làm cho con người và xó hội loài người khác biệt về chất so với con vật và thế giới động vật Vậy nên, chính tính thống nhất vật chất của thế giới đó làm cho con người và tự nhiên gắn bó mật thiết không thể tách rời nhau Vậy nên C.Mác viết “…con người sống dựa vào tự nhiên Như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của con người, để khỏi chết, con người phải sống trong quá trỡnh giao dịch thường xuyên với thân thể đó Sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người liên hệ khăng khít với tự nhiên, điều đó chẳng qua chỉ có nghĩa là tự nhiên liên hệ khăng khít với bản thân tự nhiên, vỡ con người là một bộ phận
tự nhiờn…" [5, 91 - 91] Nếu con người khai thác đến mức tàn phá tự nhiên
để phục vụ nhu cầu của con người thỡ cũng cú nghĩa phỏ vỡ đi phần tự nhiên của con người, phá vỡ mối quan hệ vốn là "mỏu thịt" và tất nhiên con người không thể tồn tại Điều này C Mỏc đó nhấn mạnh và cảnh bỏo cỏch đây hơn
100 năm và đến ngày nay vẫn cũn đúng
Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là vấn đề lớn nhất và quan trọng nhất mà thế giới vật chất sản sinh ra Nờn việc giải quyết mối quan hệ này sẽ liên quan đến hàng loạt vấn đề như: tiến bộ xó hội, tồn tại xó hội, phỏt triển xó hội, trỡnh độ khoa học, giai cấp, nhà nước, đạo đức….và gốc rễ của vấn đề lại phải đề cập đến cái cơ sở sâu xa nhất, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân và là vấn đề quyết định cho mọi cái ra đời đó là lực lượng sản xuất - cơ sở vật chất căn bản nhất của xã hội Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Trỡnh độ của lực lượng sản xuất biểu hiện trỡnh độ chinh phục tự nhiên của con người trong từng thời kỳ lịch
sử nhất định Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động; công cụ sản xuất là khí quan vật chất được đặt giữa con người và tự nhiên để nối con người với giới tự nhiên
Trang 27(đối tượng lao động) Ngày nay công cụ lao động phát triển là thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ Khoa học công nghệ càng phỏt triển bao nhiờu thỡ càng giỳp cho con người đi sâu và hiểu về tự nhiên bấy nhiêu trong quá trỡnh sản xuất ra của cải vật chất Do vậy nếu chỉ cú giới tự nhiờn khụng thụi, hoặc nếu chỉ cú hoạt động sản xuất khụng thụi thỡ đều không thể có sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên và cũng không có của cải nuụi sống con người, con người khụng thể tồn tại và xó hội cũng khụng cũn Chính điều này C.Mác cũng đó giải thớch rừ trong học thuyết về hỡnh thỏi kinh tế - xó hội Vỡ vậy con người sống phải hiểu điều tất yếu: con người cú quan hệ hài hũa,
“bỡnh đẳng” với tự nhiờn thỡ tự nhiờn sẽ là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của con người trong xó hội
Vậy, nắm vững nguyờn lý về tớnh thống nhất vật chất của thế giới cú ý nghĩa lý luận - phương pháp luận rất quan trọng đối với việc nghiên cứu và giải quyết những tác động tích cực và tiêu cực của nền kinh tế thị trường đối với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ở nước ta hiện nay
1.2.2 Về lực lƣợng sản xuất
Trong đời sống xã hội, hoạt động sản xuất là đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người Lịch sử loài người chứng tỏ rằng, xã hội không thể tồn tại và phát triển nếu không có quá trình thường xuyên sản xuất và tái sản xuất xã hội Trong sự sản xuất toàn bộ đời sống xã hội, sản xuất vật chất giữ vai trò nền tảng
Sản xuất vật chất là quá trình hoạt động lao động của con người, trong quá trình đó con người sử dụng các phương tiện, công cụ thích hợp để thực hiện việc cải tạo tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu của mình Để tiến hành sản xuất vật chất, con người vừa phải quan hệ với tự nhiên, vừa phải quan hệ với nhau biểu hiện ở lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Hai mặt này thống nhất biện chứng với nhau tạo thành phương thức
Trang 28sản xuất nhất định Mỗi nấc thang lịch sử xã hội hay mỗi hình thái kinh tế xã hội đều có một phương thức sản xuất riêng Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định rằng, lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất, trong từng phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là nội dung quan trọng nhất, là thước đo trình độ phát triển của xã hội, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại trong lịch sử
Trong lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất (gồm công cụ lao động, đối tượng lao động, khoa học) và người lao động với kinh nghiệm, tri thức nghề nghiệp, kỹ năng kỹ xảo Với tư cách là chủ thể của quá trình sản xuất, con người vận dụng sức lao động của mình nhằm đạt năng xuất lao động xã hội ngày càng cao
Theo C.Mác, công cụ lao động là yếu tố "động nhất", "cách mạng nhất"
trong lực lượng sản xuất, trong đó không thể không kể đến yếu tố khoa học
Khoa học hiện nay nằm len lỏi vào trong tất cả các yếu tố của lực lượng sản xuất, khi khoa học phát triển ở trình độ cao, nó sẽ quyết định sự phát triển của công cụ lao động và cả trình độ của người lao động làm cho công cụ lao động ngày càng hiện đại để tác động, khai thác đối tượng lao động (hay giới tự nhiên) ngày càng theo hướng hiện đại
Với nền kinh tế tri thức như một số nước công nghiệp phát triển thì yếu
tố khoa học như: tin học, điều khiển học, sinh học đã trực tiếp gia nhập vào quá trình sản xuất và dịch vụ của xã hội và như vậy, lực lượng sản xuất không ngừng được bổ sung và đổi mới theo hướng tiên tiến, hiện đại
Ngày nay, do yêu cầu của nền sản xuất xã hội, lực lượng sản xuất phải được hiện đại hóa Yêu cầu đặt ra là thay thế dần những trang thiết bị, các dây chuyền sản xuất đã lạc hậu về công suất, công nghệ, nguyên, nhiên liệu để thay bằng trang thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại, liên hoàn, khép kín, sử dụng công cụ, quy trình công nghệ cao, công nghệ sạch, tiết kiệm nguyên liệu, nhiêu liệu, đem lại chất lượng, năng suất cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
Trang 29của con người, xã hội Điều này là do sự phát triển của lực lượng sản xuất mà trực tiếp là do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học đưa lại
Bởi vậy, khoa học ngày nay có nhiệm vụ là cung cấp những trang thiết
bị hiện đại để khắc phục những hậu quả tiêu cực do quá trình sản xuất đó thải
bỏ vào môi trường những chất thải gây ô nhiễm; khoa học cung cấp những phương tiện xử lý rác thải, chất gây độc, gây hại cho con người và sinh vật
Lực lượng sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động đã đạt trình độ cao, đồng thời có sự hướng dẫn bởi khoa học còn giúp cho con người có được những tri thức về môi trường tự nhiên, xã hội, giúp con người có ý thức hơn trong cả quá trình lao động sản xuất và trong đời sống, để có thể chủ động hơn trong sản xuất và khai thác tự nhiên
Một yếu tố khác khá quan trọng trong lực lượng sản xuất là yếu tố con người với tri thức nghề nghiệp, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm sản xuất Chính sự thay đổi và hoàn thiện dần của công cụ lao động cũng ngày càng làm tăng kỹ năng, kỹ xảo của con người trong lao động sản xuất và đời sống Con người đã thích nghi và vận hành tốt những trang thiết bị hiện đại, đồng thời con người cũng càng ngày càng phải tự nâng cao trình độ khoa học, nhận thức có ý thức cao hơn về việc mình đang làm, đảm bảo được tính bền vững trong quan hệ giữa mình với tự nhiên Vậy, cái cốt lõi của lực lượng sản xuất
là mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được biểu hiển ở công cụ lao động, đối tượng lao động, ở người lao động, mà các mức độ khác nhau của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được biểu hiện thông qua sự vận động, biến đổi, phát triển của lực lượng sản xuất
Như vậy, sự thay đổi của các yếu tố trong lực lượng sản xuất không chỉ tạo ra những bước nhảy vọt trong chính lực lượng sản xuất mà nó còn quyết định các bước chuyển biến mang tính cách mạng trong lịch sử xã hội, làm cho lịch sử xã hội loài người chuyển từ hỡnh thỏi kinh tế xó hội thấp lờn hỡnh thỏi kinh tế xó hội cao hơn
Trang 30Những bước phát triển của lịch sử không chỉ thể hiện sự biến đổi dần dần về chất trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Từ sự phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên còn nguyên vẹn, đến mâu thuẫn sâu sắc với nó rồi khi nhỡn nhận lại phải xây dựng mối quan hệ hài hòa thật sự giữa con người
và tự nhiên
Buổi bình minh của lịch sử xã hội, trình độ con người thấp kém, chỉ biết dùng sản vật của tự nhiên, lệ thuộc vào tự nhiên, tác động vào tự nhiên, với mục đích có cái ăn để tồn tại, thì khi đó con người và tự nhiên hòa hợp với nhau trong một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn và khi đó sự hòa hợp giữa trời - đất - người là triết lý sống cao nhất
Do yêu cầu của sản xuất và nhu cầu của cuộc sống, công cụ lao động đã dần phát triển Đặc biệt với sự xuất hiện công cụ lao động bằng kim loại, con người đã bắt đầu chủ động trong quan hệ với tự nhiên, song ở thời kỳ này, với lao động thủ công là chủ yếu thì dường như sự tác động của con người vào tự nhiên chưa có sự thay đổi đáng kể, quan hệ giữa con người và tự nhiên vẫn còn ở trình độ phụ thuộc vào nhau
Chỉ từ khi cuộc cách mạng công nghệ nổ ra (tức từ khi Savery phát minh ra động cơ chạy bằng hơi nước (1698) với các công cụ lao động bằng máy móc, con người bắt đầu công việc của mình, đó là khai thác tự nhiên theo chiều hướng tăng tốc Thước đo tốc độ khai thác tự nhiên của con người đó là
sự xuất hiện những máy móc công nghiệp hiện đại, có tốc độ khai thác đến tối
đa các nguồn lực tự nhiên đến mức độ cạn kiệt nguồn năng lượng, tài nguyên
tự nhiên trên trái đất và hậu quả là thủng tầng ôzôn, mưa axit, sa mạc hóa, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng nhiên, nguyên vật liệu… đó cũng chính là tự nhiên đang trả thù lại con người
Hiện nay, với sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh giá bằng
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, xuất hiện công nghệ làm sạch, công nghệ xử lý chất thải, máy liên hoàn, máy tự động hóa với mục đích giảm đến
Trang 31mức tối đa mức độ ô nhiễm môi trường, đảm bảo thực hiện đúng những quy luật của tự nhiên, giữ gìn mối quan hệ vốn có giữa con người và tự nhiên
Trong sự phát triển của xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn nhấn mạnh đến vai trò quyết định của lực lượng sản xuất, nhưng không tách rời quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất, từ
đó đã tạo ra nhiều mối quan hệ khác trong xã hội Như vậy con người có mối quan hệ "song trùng", vừa có quan hệ với tự nhiên, vừa có quan hệ giữa con người với nhau trong sản xuất Và chính mối quan hệ này của con người đã làm thay đổi về tính chất, trình độ, tốc độ của mỗi chế độ xã hội Và chính tính chất, trình độ của xã hội đã quy định tính chất, mục tiêu, cách thức, phương hướng hoạt động của con người trong quá trình tác động đến tự nhiên Như vậy quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc cả vào quan hệ giữa con người với con người
Mục tiêu của sự phát triển là cho con người và vì con người, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất như ngày nay, thì đòi hỏi trong sự phát triển không chỉ của một nước, mà toàn thể nhân loại phải sử dụng những thành tựu của khoa học công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, đồng thời nắm chắc quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên để đảm bảo cho sự phát triển bền vững, cho sự trường tồn của con người và xã hội loài người
1.2.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về quan hệ giữa con người và tự nhiên
Nắm vững quan niệm về tự nhiờn và quan niệm về con người, bản chất con người, đồng thời dựa trên những cơ sở lý luận vững chắc của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, chỳng ta cú thể trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Trong tác phẩm “luận cương về Phoiơbắc C.Mác đó đưa ra một luận điểm nổi tiếng, luận điểm thể hiện rừ tớnh khoa học và bản chất của triết học
Trang 32Mỏc: Các nhà triết học đó chỉ giải thớch thế giới bằng nhiều cỏch khỏc nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới Thế nhưng không hiểu xuất phát từ đâu mà trong triết học phương Tây kể cả trong triết học phương tây hiện đại, lại có quan điểm cho rằng, với luận điểm này C.Mác đó loại bỏ giới tự nhiờn ra khỏi những nghiờn cứu lý luận của mỡnh và đó khụng xem xột, dự là ở mức độ cần thiết tối thiểu, mối liên hệ và sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, cho rằng trong triết học Mác con người bị cô lập với giới tự nhiên, triết học Mác tỏ ra thiếu tôn trọng với giới tự nhiên Đây là một sự ngộ nhận về khoa học Vỡ dự C.Mỏc khụng dành riờng một tỏc phẩm, một chương riêng nào để bàn về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, song ngay từ khi khởi đầu sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo lý luận, cũng như nhiều tác phẩm sau này, mối quan hệ đó, sự tác động qua lại một cách biện chứng giữa con người
và tự nhiên đó được C.Mác và Ăngghen đưa ra và luận giải rải rỏc trong cỏc tỏc phẩm ở tầm duy vật biện chứng
Thật vậy khi C.Mỏc vẫn cũn giữ quan điểm duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng trong việc giải quyết nhiều vấn đề lý luận cũng như thực tiễn đời sống xó hội, trong tác phẩm đầu tay “Bản thảo kinh tế triết học năm 1844” C.Mác khẳng định về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, ông viết “giới tự nhiên cụ thể là thế giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể con người - là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quỏ trỡnh thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vỡ con người là môt bộ phận của giới tự nhiờn” [10, 135] Không chỉ thế, ở đây C.Mác cũn chỉ rừ:
Thứ nhất: về phương diện thể xác ở con người cũng như ở động vật
“đời sống có tính loài” của con người là ở chỗ, con người sống bằng giới tự
Trang 33nhiên vô cơ và “con người càng có tính phổ biến so với con vật thỡ phạm vi của giới tự nhiờn vụ cơ mà nó dựa vào để sống càng có tính phổ biến…” Rằng, về phương diện lý luận, mọi vật thể, thực vật (cả vật thể vô cơ, thế giới thực vật và động vật) trong giới tự nhiờn đều là một bộ phận của ý thức con người Theo nghĩa một phần là đối tượng của khoa học tự nhiờn, phần khỏc là đối tượng của nghệ thuật, là "giới tự nhiờn tinh thần vụ cơ của con người", là mún ăn tinh thần mà con người phải chuẩn bị trước rồi mới cú thể thưởng thức và tiờu húa được"
Thứ hai: Về phương diện thực tiễn: Tất cả những cỏi đú cũng là một bộ
phận của đời sống con người, của hoạt động con người Rằng tớnh phổ biến của con người biểu hiện ra chớnh ở “cái tính phổ biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể vô cơ của con người", bởi giới tự nhiên không chỉ là “tư liệu sinh sống trực tiếp” của con người, mà cũn là “vật liệu, đối tượng và công cụ” của hoạt động sinh sống của con người [11, 134 - 135]
Lấy quan niệm này làm điểm xuất phát khi phê phán quan niệm duy tâm tư biện của Hờghen về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên C.Mác
đó chỉ rừ, khuyết điểm cơ bản của triết học Hêghen là ở chỗ đó qui con người, bản chất con người về tự ý thức- cỏi chỉ thuộc về thế giới tinh thần Rằng ở Hờghen, toàn bộ sự vận động của đời sống hiện thực của con người thể hiện
ra là sự vận động của tinh thần, của tự ý thức con người và mọi biểu hiện trong đời sống hiện thực của con người chỉ là các yếu tố mà trong sự vận động của chúng, chúng thể hiện ra là các yếu tố không có tính độc lập, không
có lôgic phát triển nội tại Đối với Hêghen, tính hiện thực của đời sống con người, các vấn đề và mâu thuẫn của nó chỉ tồn tại với tư cách một yếu tố của tinh thần, yếu tố được thể hiện trong tư duy, không có quan hệ với bất cứ cái
gỡ trong tự nhiờn, ngoài quan hệ với chớnh bản thõn nú, nú khụng cú quan hệ
gỡ với tự nhiờn, do vậy Hêghen đó khụng hiểu mối quan hệ hiện thực, quan
hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên Để có được nhận thức đúng đắn về
Trang 34tồn tại con người, theo C.Mác cần phải từ bỏ một cách có ý thức và triệt để quan niệm duy tâm, tư biện về mối quan hệ con người, tự nhiên trong triết học Hờghen, và chuyển sang lập trường của chủ nghĩa duy vật C.Mác coi học thuyết của L.Phoiobắc về tự nhiên với tư cách một thực thể tự nhiên đặc thù,
là tiền đề lý luận xuất phát để từ đó giải quyết một cách duy vật những vấn đề hiện thực của tồn tại con người, mối quan hệ con người - tự nhiên Đánh giá cao đóng góp lý luận này của L.Phoiơbắc, C.Mác đó cho rằng, L.Phoiơbắc là người đầu tiên đó xuất phỏt từ chớnh quan niệm duy tâm, tư biện của Hêghen
về mối quan hệ con người - tự nhiên để “hoàn thành và phê phán Hêghen” khi
“qui tinh thần tuyệt đối, siêu hỡnh” thành “con người hiện thực trên cơ sở của
“một cách có đối tượng” vào tự nhiên Tác động của con người vào tự nhiên
là sự tác động qua lại giữa nhu cầu sống với tư cách thực thể tự nhiên và các đối tượng vật chất hoàn toàn cụ thể trong giới tự nhiên Nhưng con người không chỉ là thực thể tự nhên mà hơn nữa, cũn “là một thực thể tự nhiờn cú
Trang 35tớnh chất người”, và do vậy, sự tác động của con người vào tự nhiên là sự tác động mang tính người, mang bản chất người
Với quan niệm đó, khi luận giải mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, C.Mác đó đặt trọng tâm vào hoạt động lao động sản xuất với tư cách hoạt động “mang tính loài” của con người Theo C.Mác, hoạt động lao động sản xuất của con người là “quan
hệ lịch sử hiện thực” của tự nhiên với con người, là quá trỡnh mà con người
sử dụng “ những lực lượng bản chất” của mỡnh để tác động vào tự nhiên cải biến tự nhiên, biến tự nhiên thành cơ sở của đời sống con người hiện thực Do vậy, “tự nhiên sinh thành trong lịch sử loài người - trong hành vi xuất hiện của xó hội loài người- là tự nhiên hiện thực của con người”- “tự nhiên nhân bản chân chính” của con người Cũng do vậy, lịch sử nhân loại, lịch sử hỡnh thành và phỏt triển của con người chính là “một bộ phận hiện thực của lịch sử
tự nhiên, của sự sinh thành của tự nhiên bởi con người” [11, 179]
Không chỉ thế, khi lấy hoạt động lao động sản xuất của con người làm xuất phát điểm cho việc luận giải mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, C.Mỏc cũn vạch rừ tớnh chất lịch sử của mối quan hệ đó, sự tác động đó Theo C.Mác, với tư cách là tiền đề, là điều kiện cho đời sống con người hiện thực, là khách thể có quan hệ với con người, tự nhiên trở thành kết quả của lịch sử Tự nhiên ấy được mở ra cho con người trong sự phong phú vô tận của
nó, mang lại những cái cần thiết cho đời sống hiện thực của con người cùng với quá trỡnh sinh thành và phỏt triển của bản thân con người, tạo nên sức mạnh vật chất và khả năng sáng tạo của con người Do vậy, “lịch sử là lịch sử
tự nhiờn chõn chớnh của con người” [11, 234] và “toàn bộ cái gọi là lịch sử toàn thế giới chẳng qua chỉ là sự sáng tạo con người kinh qua lao động của con người sự sinh thành của tự nhiên cho con người” [11, 182]
Khẳng định rừ vai trũ của hoạt động lao động sản xuất của con người
Trang 36trong việc cải biến tự nhiên, C.Mác cũng đồng thời nhấn mạnh vai trũ quyết định của hoạt động này của con người đối với quá trỡnh sinh thành và phỏt triển của bản thõn con người Trong tác phẩm chủ yếu nhất của mỡnh - bộ
“Tư bản”, C.Mác đó chỉ rừ, lao động, trước hết là quá trỡnh diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trỡnh mà trong đó, bằng hoạt động của chính mỡnh “con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ
và tự nhiên Rằng con người đối diện với những thực thể vật chất cụ thể của
tự nhiên với tư cách một lực lượng của tự nhiên và do vậy để chiếm hữu được những thực thể tự nhiên ấy dưới dạng những thực thể có ích cho đời sống của bản thân mỡnh, con người đó sử dụng sức mạnh tự nhiờn thuộc về thân thể họ
để tác động vào tự nhiên và trong quá trỡnh đó, con người làm thay đổi tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, biến đổi quan hệ con người- tự nhiên, đồng thời làm thay đổi bản tính của mỡnh, cải biến chớnh bản thõn mỡnh” [12, 266]
Khẳng định sức mạnh và vai trũ to lớn, quyết định của con người, của hoạt động lao động sản xuất của con người trong việc cải biến tự nhiên, biến đổi quan hệ con người - tự nhiờn, song trước sau C.Mác vẫn giữ quan niệm coi mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là mối quan hệ biện chứng, hài hũa Trong mối quan hệ đó, con người là “tồn tại của tự nhiên đối với con người cũn tự nhiờn thỡ rừ ràng trở thành tồn tại của con người đối với con người'' [11,182]
Với quan niệm đó khi coi xó hội là giai đoạn phát triển cao nhất trong tiến trỡnh của sự phỏt triển thống nhất giữa lịch sử xó hội và lịch sử tự nhiờn, C,Mỏc cho rằng, chúng ta “có thể xem xét dưới hai mặt, có thể chia lịch sử ra thành lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại” xong lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại là hai mặt “khụng tỏch rời nhau” và trong một tiến trỡnh phỏt triển thống nhất và chừng nào mà loài người cũn tồn tại thỡ lịch sử của họ và lịch
sử tự nhiờn qui định lẫn nhau Do vậy, “mọi ghi chép lịch sử đều phải xuất phát từ những cơ sở tự nhiên ấy và những thay đổi của chúng do hoạt dộng
Trang 37của con người gây ra trong quỏ trỡnh lịch sử” [13, 25 - 29]
Như vậy có thể nói, ngay từ khi mới hỡnh thành quan niệm duy vật lịch sử, C.Mỏc đó coi mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, lịch sử con người và tự nhiên là một thể thống nhất hữu cơ, không thể tách rời Mọi hành
vi phá hoại tự nhiên, phỏ vỡ sự hài hũa trong mối quan hệ con người- tự nhiên, theo C.Mác luôn đồng nghĩa với sự hủy hoại cuộc sống của bản thân con người, đe dọa sự sống cũn của con người và của cả cộng đồng nhân loại
Với quan niệm đó, ngay cả khi nhấn mạnh và khẳng định ý nghĩa lớn lao của con người tác động vào tự nhiên nhằm cải biến, biến đổi tự nhiên vỡ mục đích sống của bản thân con người, C.Mỏc vẫn luụn luụn cho rằng, việc cải biến ấy dẫu cú lớn lao đến thế nào chăng nữa cũng không được phép vượt quá giới hạn có thể dẫn đến phá vỡ tính chỉnh thể của hệ thống, làm phương hại đến tính hài hũa của quan hệ con người - tự nhiên Trong thư gửi Ph Ăgghen ngày 5 tháng 3 năm 1868, khi núi về giỏ trị khoa học trong tỏc phẩm “khớ hậu và giới thực vật qua thời gian, lịch sử của chỳng” (1847) của nhà thực vật học và nụng học người Đức-CácPhraxơ (1810-1875), C.Mác đó đưa ra lời cảnh tỉnh mà cho đến nay vẫn cũn ý nghĩa thời sự và cấp bỏch về những hiểm họa cú thể xảy ra khi tớnh hài hũa trong mối quan hệ con người - tự nhiên bị phá vỡ bởi hoạt động cải tạo tự nhiờn một cỏch thiếu ý thức của con người, rằng: “nếu canh tác được tiến hành một cách tự phát mà không được hướng dẫn một cách có ý thức…thỡ sẽ để lại sau đó đất hoang” [14, 80]
Nhận thức rừ ý nghĩa lớn lao của việc cần phải luụn duy trỡ tớnh hài hũa trong mối quan hệ con người- tự nhiên, C.Mác luôn nhấn mạnh rằng, khi tính hài hũa đó bị phá vỡ, con người đó tự hủy hoại cơ sở tự nhiên cho sự tồn tại của chớnh mỡnh Rằng, con người không thể tồn tại bên ngoài tự nhiên hoặc thiếu những tiền đề tự nhiên để tồn tại và phát triển, con người phải dựa vào tự nhiên, chung sống hài hũa với tự nhiờn và ngay cả khi sử dụng lao động của mỡnh để biến đổi và cải tạo tự nhiờn, “vận dụng bản chất cố hữu”
Trang 38của mỡnh để tạo dựng giới tự nhiên thứ hai, thứ ba… giới tự nhiên mà được nhân hóa thỡ con người vẫn luôn phải tuôn theo sự hài hũa trong mối quan hệ con người - tự nhiờn
Với nhận thức đúng đắn này, C.Mác đi đến kết luận rằng, hoạt động lao động sản xuất nhằm cải tạo và biến đổi tự nhiên vỡ mục đích cuộc sống là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để con người duy trỡ sự tồn tại và phỏt triển và
dự phỏt triển đến đâu thỡ con người vẫn luôn chỉ là một bộ phận của tự nhiên
và do vậy con người không thể đối xử với tự nhiên bằng thái độ và hành động của một thực thể đứng ngoài tự nhiên, không tính đến hoặc bất chấp các qui luật của tự nhiên Rằng, để duy trỡ tớnh hài hũa vốn cú trong mối quan hệ con người - tự nhiên với tư cách nền tảng cho sự phỏt triển bền vững của xó hội - phỏt triển vỡ mục tiờu nhõn loại, vỡ giỏ trị nhõn văn, vỡ cuộc sống ngày một cao đẹp, văn minh, con người cần phải nâng cao nhận thức của mỡnh với tư cách “một bộ phận của giới tự nhiên”, "sống bằng giới tự nhiên" và nhận thức
về giới tự nhiên với tư cách “thân thể vô cơ” của mỡnh, cỏi mà thiếu nú, chẳng những sự phỏt triển, mà ngay cả sự tồn tại của con người cũng không thể có được Đặc biệt ngày nay con người đang tiến hành phát triển nền kinh tế hàng hóa, đi sâu vào lĩnh vực sản xuất, phát triển bền vững nền kinh
tế thị trường thỡ trong quỏ trỡnh ấy, con người phải biết ngoảnh lại xem,
đó “khai hoang”, đến đâu? được bao nhiêu? Hơn nữa trong quá trình cải tạo
và biến đổi tự nhiên, con người phải luôn tự giác điều chỉnh hành động của mình cho phù hợp với các quy luật của tự nhiên, đối xử với tự nhiên một cách
"có ý thức" để tự nhiên không trở thành “hoang mạc”, và “trả thù” sự sống cũn của loài người
Từ những quan điểm trên của C.Mác, chúng ta có thể khẳng định rằng, khi đề cao năng lực cải tạo, biến đổi tự nhiên của con người với tư cách “thực thể tự nhiên sống” “thực thể tự nhiên có tính chất con người”, C.Mác chỉ muốn nhấn mạnh, sự tác động của con người đến tự nhiên phải luôn là sự tác
Trang 39động có kế hoạch, hay mang tính người, mang bản chất người… là sự tác động có ý thức Trờn cơ sở nhận thức rừ những quy luật của tự nhiờn, chứ khụng phải là tỏc động “mù quáng”, tác động “một cách tự phát” với khát vọng “tước đoạt”, “thống trị” tự nhiờn, bất chấp qui luật khỏch quan, nội tại của giới tự nhiên Những luận giải của C.Mác về mối quan hệ con người - tự nhiên với tư cách quan hệ thống nhất hữu cơ, biện chứng và hài hũa để không chỉ làm rừ cỏi cơ sở hiện thực của chiến lược phát triển bền vững- phát triển
vỡ mục tiờu nhân đạo, vỡ giỏ trị nhõn văn, vỡ cuộc sống ngày một cao đẹp của con người mà cũn làm rừ tớnh quy định lẫn nhau giữa lịch sử tự nhiên và lịch sử con người, lịch sử nhân loại và qua đó khẳng định sự chung sống, hài hũa giữa con người và tự nhiên là một giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn trong suốt tiến trỡnh thường xuyên cải tạo, biến đổi tự nhiên của con người
Với mặt tớch cực của nền kinh tế thị trường, cùng đó sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt từ giữa thế kỷ 20 đến nay đó khuyến khích con người đi sâu tỡm hiểu tự nhiên, gắn kết với tự nhiên, chinh phục tự nhiên, “đũi hỏi” tự nhiờn phục vụ nhu cầu, mục đích ngày càng phong phú của con người Nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường lại đang gần như vượt quá giới hạn cho phép, gần như đang phá vỡ quan hệ tốt đẹp bấy lâu nay của con người với tự nhiên Thực tế hiện nay, con người đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, môi trường sống bị hủy hoại, con người đang phải hứng chịu những “đũn roi” “trừng phạt” ngày một nghiờm khắc của tự nhiên “Thân thể vô cơ” của con người đang bị xâm phạm trong quá trỡnh chinh phục tự nhiờn để phát triển xó hội
Những tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên sẽ là những tư tưởng vô cùng đắt giá, hướng dẫn con người trong mọi hoạt động cho đúng hướng đặc biệt trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Trang 40Mối quan hệ bền chặt giữa con người và tự nhiên ở mức độ nào, chính
là biểu thị trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Con người bằng quá trình sản xuất để tạo ra thật nhiều của cải cho xã hội, song lại cũng đang ngày càng khắc sâu hố ngăn cách giữa con người và tự nhiên, gây nên nhiều vấn đề tiêu cực, bức xúc và nóng bỏng trong lĩnh vực môi trường Để tồn tại và phát triển, con người phải dần nhận thức và sửa chữa những sai lầm mình đã gây ra
mà phương pháp luận chung nhất đó là những quan điểm triết học Mác xít về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
"Chúng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta và chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, chúng ta với tất cả xương thịt máu mủ và đầu óc chúng ta là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên
là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác" [7, 654 - 655]