Một trong các giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đă ̣c biê ̣t về phương diện cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ THỊ NGUYỆT ÁNH (Màu M58, 1 quyển, 100 tran)
Bìa trong
MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH VÀ
CƠ CẤU KINH TẾ THÀNH PHẦN TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG VĂN THỊNH
Hà Nội – 2013
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 0
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ, MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH VÀ CƠ CẤU KINH TẾ THÀNH PHẦN TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY 10
1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế va ̀ chuyển dịch cơ cấu kinh tế 10
1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế 10
1.1.2 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế 16
1.2 Điều kiện đặc thù và những nhân tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 22
1.2.1 Sự tác động của điều kiện đi ̣a lý, kinh tế - xã hội đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Bắc Ninh 22
1.2.2 Những nhân tố tác động đến sư ̣ chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiê ̣n nay 26
1.3 Một số nội dung cơ bản của mối quan hê ̣ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiê ̣n nay 40
1.3.1 Vai trò của cơ cấu kinh tế ngành đối với cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 44
Trang 31.3.2 Vai trò của cơ cấu kinh tế thành phần đối với cơ cấu kinh tế ngành
trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 47
1.3.3 Sự kết hợp hài hòa giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 50
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH VÀ CƠ CẤU KINH TẾ THÀNH PHẦN TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY 53
2.1 Thực trạng quan hê ̣ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 53 2.1.1 Thành tựu trong thực hiện quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần 53
2.1.2 Hạn chế trong thực hiện mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần 68
2.2 Định hươ ́ ng và giải pháp giải quyết mối quan hê ̣ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 74
2.2.1 Định hướng giải quyết mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 74
2.2.2 Giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 80
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 97
Trang 4DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Khu vực thương mại tự do ASEAN
Khu vực thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tổng sản phẩm nội địa
Viện trợ phát triển chính thức
Đồng đô la Mỹ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để phát triển và hội nhập quốc tế, nước ta đã và đang tích cực chủ động đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển toàn diện mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội Một trong các giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, đă ̣c biê ̣t về phương diện cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần Sau hơn 25 năm đổi mới, nhất là trong điều kiện gia nhập WTO hiện nay , cơ cấu kinh tế Việt Nam đã có nhiều chuyển dịch đáng kể , bước đầu mang dáng dấp của một nền kinh tế hàng hóa hiện đại, góp phần làm thay đổi tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, tăng trưởng kinh tế nói chung Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách và hành động cụ thể để thay đổi cơ cấu kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của cơ cấu kinh tế nước ta, hướng tới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Theo chủ trương này, việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên phạm vi cả nước cũng như với từng địa phương là rất cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Bắc Ninh là một tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; là tỉnh có vị trí đặc biệt quan trọng cả về kinh tế và chính trị Vị trí ấy
đã tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong tỉnh, sớm đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015 là một chủ trương lớn được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh đề xuất và thực hiện, trong đó, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên các phương diện của nó là một chiến lược lớn trong phát triển kinh tế của tỉnh Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh từ khi thành lâ ̣p tỉnh tới nay đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế , tiến tới một nền kinh tế hàng hóa , công nghiệp, dịch vụ phát triển; chính trị - xã hội ngày càng ổn định; đời sống nhân dân được cải thiện và tăng cường Bắc Ninh trở
Trang 6thành điểm sáng về phát triển kinh tế trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc giải quyết mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần còn bộc lộ một số vấn
đề bất cập như vấn đề kết hợp giữa đầu tư cho phát triển các thành phần kinh
tế trong nội bộ ngành và đầu tư cho phát triển ngành trong nội bộ thành phần còn nhiều hạn chế , thị trường còn hạn hẹp, an sinh xã hội chưa cân đối, đời sống kinh tế, xã hội phát triển chưa cao, chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế của tỉnh Điều đó đã để lại nhiều hệ lụy xấu ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế, xã hội của người dân trong tỉnh Đây là những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra cần được giải quyết, đòi hỏi phải có những phương hướng, giải pháp kịp thời, thiết thực để thực hiện tốt việc kết hợp giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh một cách hợp lý, hiệu quả hơn
Với những lý do như trên, tác giả đã chọn đề tài “Mối quan hê ̣ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay” làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đă ̣c biê ̣t viê ̣c xem xét mối quan hê ̣ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như hiê ̣n na y là một trong những vấn đề đã thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả dưới nhiều góc độ khác nhau như: góc độ kinh tế, góc độ xã hội học, góc độ quản
lý nhà nước, góc độ triết học trên cả bình diện lý luận và thực tiễn trong phạm
vi quy mô cả nước, hoặc một vùng, miền, một tỉnh
1/ Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phần
Một số nghiên cứu đã đề cập tới cơ cấu thành phần kinh tế cả về phương diện lý luận, thực trạng và đề ra các giải pháp trong việc chuyển dịch
cơ cấu thành phần kinh tế Tiêu biểu trong số đó là: Cơ cấu thành phần kinh
tế ở nước ta hiện nay: lý luận, thực trạng và giải pháp do GS TSKH Lương
Trang 7Xuân Qùy chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 2001 Ở đây, tác giả đã chỉ ra những thành phần kinh tế cơ bản của nước ta trên cơ sở kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về các thành phần kinh tế Từ đó tác giả chỉ ra thực trạng tồn tại các thành phần kinh tế ở nước ta cũng như những giải pháp trong việc phát huy vai trò, sự tồn tại của các thành phần kinh tế đó
2/ Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, những nhân tố tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và những biểu hiện của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đã có nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu Có thể kể
đến: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm,
mũi nhọn ở Việt Nam do Đỗ Hoài Nam chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, xuất
bản năm 1996; Tác động của Nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH, HĐH ở nước ta hiện nay của tác giả Nguyễn Cúc, Nxb Chính trị
Quốc gia, năm 1997; GS Bùi Huy Đáp, GS Nguyễn Điền: Nông nghiệp Việt
Nam bước vào thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998; Trương Thị
Tiến: Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp là sự kết hợp giữa sáng tạo
của quần chúng với sự vận dụng hợp quy luật của Đảng, Hội thảo khoa học
kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, 2000; Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành ở Việt Nam trong quá trình đổi mới, Nxb Đại học kinh tế,
năm 2009…; Chu Thị Thanh Tâm với Đảng bộ Từ Sơn lãnh đạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong những năm 1999 - 2005, luận văn thạc sĩ lịch sử, ĐHQG
Hà Nội, năm 2007; Đỗ Thị Yến với Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong những năm 1997 - 2006, luận văn thạc sĩ lịch sử,
ĐHQG Hà Nội, năm 2009… Những công trình nghiên cứu này ngoài việc cho thấy sự vận dụng sáng tạo của các địa phương trong triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn đưa ra những khái niệm cơ bản
về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế…
Trang 8Ngoài ra có nhiều bài đăng trên các tạp chí, báo Trung ương và địa phương các tác phẩm nghiên cứu vấn đề trên dưới các góc độ khác nhau: triết
học, kinh tế, lịch sử… như: Đặng Kim Oanh: Những quan điểm cơ bản của
Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1986 - 2006), Tạp chí lịch sử Đảng, số 1,
2008; Nguyễn Thị Lan Hương với Phân tích tác động của chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế,
số 10, 2007; Nguyễn Nhân Chiến với Bắc Ninh kết hợp giữa tăng trưởng kinh
tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, Tạp chí Lý
luận chính trị, số 3, 2007; Đinh Quang Hải: Liên kết bốn nhà: nhà nước, nhà
nông nghiệp, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4, 2007; Công Văn Dị với Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 6,
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tiêu biểu như trong cuốn Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới của PGS.TS Lê
Du Phong và PGS.TS Nguyễn Thành Độ, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 1999
Ở đây, hai tác giả đã chỉ rõ mối quan hệ giữa ba loại hình cơ cấu kinh tế là: cơ cấu kinh tế theo vùng, cơ cấu kinh tế theo ngành và cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế; chỉ ra giữa các yếu tố trong mỗi loại cơ cấu kinh tế trên vận động trong mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau, liên quan với nhau trong sự vận động, phát triển của toàn bộ nền kinh tế
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác như: Đinh Thị
Minh Lệ với Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình CNH hướng
về xuất khẩu ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, 2002; Đỗ Thị Oanh với Cơ
Trang 9cấu các thành phần kinh tế và mối quan hệ giữa chúng trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Tạp chí lý luận chính trị, số 3, 2009;…
Hầu hết các công trình trên được nghiên cứu trên quy mô cả nước, của một vùng, miền, của tỉnh và đề cập đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khía cạnh, mức độ khác nhau Thông qua tìm hiểu những công trình này đã giúp cho việc nhận thức của tác giả luận văn được đầy đủ hơn và tiếp cận phù hợp hơn vấn đề mà mình nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đề cập, nghiên cứu về việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khía cạnh xem xét mối quan hê ̣ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Bắc Ninh (nhất là từ khi tái lập tỉnh tháng 1/ 1997 tới nay) dưới góc độ khoa học triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hê ̣ giữa
cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp thực hiện tốt mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận văn trình bày một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
- Trình bày thực trạng quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngà nh và cơ cấu kinh tế thành phần trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh những năm qua, cụ thể là từ khi tái lập tỉnh (tháng1/ 1997) tới nay
- Đề xuất một số phương hướ ng và giải pháp thực hiện mối quan hê ̣ giữa
cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần thích hợp trong chuyển
Trang 10dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hê ̣ giữa cơ cấu kinh tế
ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là xem xét mối quan hê ̣ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 (khi tách ra khỏi tỉnh Hà Bắc cũ) đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Tác giả dựa trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước, các văn bản của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, vai trò của cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trên địa bàn Tỉnh
* Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp các số liệu, các báo cáo, nghị quyết về phát triển kinh tế, xã hội, các nghị quyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Tỉnh
6 Ý nghĩa của luận văn
- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phầ n trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập của sinh viên và cán bộ quản lý ở tỉnh Bắc Ninh
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: phần mở đầu, 2 chương, 5 tiết, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 11NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ, MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH VÀ CƠ CẤU KINH TẾ THÀNH PHẦN TRONG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở TỈNH
BẮC NINH HIỆN NAY 1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế va ̀ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế
Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, mỗi dân tộc muốn tồn tại và phát triển đều phải không ngừng đổi mới, xác định hướng
đi đúng đắn và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của chính đất nước mình Nhận thức rõ điều đó, một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đã được Đảng và Nhà nước ta vạch ra đó là thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ góp phần xây dựng cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động phù hợp, từ đó tạo tiền đề cho việc tiến hành phân công lao động, xã hội hóa lực lượng sản xuất, khai thác tiềm năng
về tự nhiên, xã hội phát triển kinh tế hàng hóa, đẩy mạnh việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
Để đi sâu tìm hiểu về khái niệm cơ cấu kinh tế, cần bắt đầu từ khái niệm “cơ cấu”
“Là một phạm trù triết học, khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của một
hệ thống” [33, 11] Cách hiểu này cho thấy, cơ cấu chính là sự biểu hiện của tập hợp những mối quan hệ liên kết gắn bó hữu cơ giữa các yếu tố khác nhau trong một hệ thống nhất định Do đó, cơ cấu chính là thuộc tính của một hệ thống
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng có thể hiểu: Cơ cấu (hay kết cấu) là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại tương đối vững
Trang 12chắc giữa các bộ phận của hệ thống Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật hiện tượng… [trích 46, 28] Xét một ví dụ đơn giản, cơ cấu của một chiếc xe đạp là gì? Ta biết một chiếc xe đạp bao gồm các bộ phận: khung xe, 2 bánh xe, tay lái, 3 trục, xích, líp, 2 phanh, 2 chắn bùn … Các bộ phận này phải liên kết với nhau theo một hình thức nhất định, tương đối vững chắc, ổn định thì chiếc xe mới tồn tại, vận hành như một chiếc xe Cơ cấu của chiếc xe đạp ở đây được hiểu là hình thức liên kết các bộ phận với nhau thành một hệ thống nhất định, đảm bảo cho
sự tồn tại và hoạt động của toàn bộ hệ thống Cơ cấu không phải chỉ nói đến
số lượng các yếu tố cấu thành nên hệ thống, mà căn bản nói đến hình thức liên kết giữa các bộ phận, để mỗi bộ phận, mỗi yếu tố có vị trí, vai trò nhất định trong hệ thống, để toàn hệ thống tồn tại như một chỉnh thể Sự vận động của mỗi bộ phận không phá vỡ tính chỉnh thể của hệ thống Tính chỉnh thể của hệ thống đòi hỏi mỗi bộ phận vận động dưới một hình thức nhất định
Vận dụng quan điểm này vào xã hội phải thấy xã hội là một dạng (hay thực thể) vật chất đặc biệt, rất phức tạp, bao gồm nhiều bộ phận, nhiều cấp độ, nhiều mặt quan hệ chặt chẽ với nhau và vận động biến đổi không ngừng Vì tính chất phức tạp như vậy nên khái niệm cơ cấu xã hội được hiểu ở nhiều góc
độ, cấp độ rộng hẹp khác nhau, tuỳ theo góc độ tiếp cận xã hội Theo nghĩa chung nhất, cơ cấu xã hội là hình thức kết hợp tương đối ổn định các yếu tố cấu thành hệ thống xã hội, làm cho các yếu tố cố kết với nhau thành chỉnh thể Theo nghĩa này thì hệ thống các hoạt động kinh tế (hay các quan hệ kinh tế) là một bộ phận cấu thành cơ cấu xã hội Ngoài hoạt động, các quan hệ kinh tế,
xã hội còn có các hoạt động, các quan hệ trên lĩnh vực chính trị, đạo đức, khoa học, nghệ thuật, tín ngưỡng, tôn giáo… Mỗi lĩnh vực trong cơ cấu xã hội lại là một cơ cấu con của toàn bộ cơ cấu xã hội, có quan hệ với các cơ cấu con khác của hệ thống xã hội Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, quá trình sản xuất vật chất, hay đời sống kinh tế là cơ sở quyết định đời sống xã
Trang 13hội trên các lĩnh vực chính trị, đạo đức, văn hoá tư tưởng Tuy nhiên đời sống chính trị, đạo đức, văn hoá tư tưởng… cũng có tính độc lập tương đối trong sự phát triển của mình và tác động đến đời sống kinh tế Nghiên cứu đời sống kinh tế phải nghiên cứu cơ cấu và sự hoạt động của cơ cấu đó Vậy phải xác định cơ cấu kinh tế là thế nào
Theo nghĩa chung nhất cơ cấu kinh tế chính là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận, các thành phần kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành hệ thống (chỉnh thể kinh tế) trong những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Triết học Mác - Lênin cho rằng: trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội, các quan hệ trong sản xuất kinh tế chính là cơ
sở cho sự hình thành, vận động và phát triển của cơ cấu xã hội Nói cách khác, cơ cấu kinh tế chính là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội
Cơ cấu kinh tế có vai trò quan trọng đóng góp vào việc ổn định và phát triển mọi mặt của xã hội
Cơ cấu kinh tế của xã hội, theo C Mác chính là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất C Mác cho rằng: “Trong sản xuất xã hội về đời sống của mình, con người có những quan hệ với nhau, những quan hệ nhất định, tất yếu, độc lập đối với ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ sản xuất này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cơ sở thực tại, trên đấy xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị, và tương ứng với cơ sở thực tại đó thì có những hình thái ý thức xã hội nhất định” [28, 7] Đồng thời, C.Mác cũng chỉ ra: “cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [28, 8] Khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ
về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận, các thành phần kinh tế với vị trí, tỉ
Trang 14trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành chỉnh thể tồn tại trong sự vận động
Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng viết: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [56, 610] Các bộ phận của nền kinh tế có vị trí, tỷ trọng và quan hệ tương tác ràng buộc lẫn nhau, luôn luôn vận động hướng vào mục tiêu đã định của nền kinh tế
Như vậy, một cách khái quát nhất, có thể hiểu, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, các bộ phận hợp thành một tổng thể kinh tế và giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan bởi nó được hình thành trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, sự tăng trưởng của các yếu tố cấu thành nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một hệ thống động, bao gồm các loại cơ cấu kinh tế khác nhau Tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà người ta chia ra các loại hình cơ cấu kinh tế khác nhau Đối với đề tài này, do tập trung vào việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần trong quá trình CDCCKT nên tác giả phân chia cơ cấu kinh tế ra thành
ba loại hình cơ cấu kinh tế cơ bản là: cơ cấu kinh tế theo ngành; cơ cấu kinh
tế theo vùng, lãnh thổ; cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế theo ngành là loại cơ cấu phản ánh mối liên hệ về tỷ lệ
và sự tác động qua lại giữa các nhóm ngành của nền kinh tế Loại cơ cấu này biểu hiện ra dưới dạng ba nhóm ngành chính là: nhóm ngành nông nghiệp (bao gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp); nhóm ngành công nghiệp (bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng); và nhóm ngành dịch vụ (bao gồm thương mại, bưu điện, du lịch, tư vấn khoa học kỹ thuật…) Việc phân chia cơ cấu kinh tế ngành theo các nhóm ngành như trên dựa trên hình thức hoạt động của con người trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, chính là nhằm tìm
ra được những ngành trọng điểm, mũi nhọn và những lĩnh vực cần ưu tiên tập
Trang 15trung phát triển trong mỗi thời kỳ phát triển nhất định của nền kinh tế nhằm đưa nền kinh tế quốc dân phát triển một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất
Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong quá trình sản xuất, các ngành có mối quan hệ tác động qua lại thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển Mối liên hệ giữa các ngành trong nền kinh tế không chỉ biểu hiện về mặt định tính, hay còn gọi là về mặt chất lượng liên kết giữa các ngành, mà còn được tính toán thông qua tỷ lệ giữa các ngành, thường được gọi là cơ cấu ngành về mặt số lượng Vậy, có thể hiểu, cơ cấu ngành kinh tế
“là tổ hợp các ngành hợp thành có tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân” [33, 12], mối quan hệ này bao gồm cả về số lượng và chất lượng Mỗi ngành kinh tế là một bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế là một chỉ báo phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Sự biến động của nó có ý nghĩa quyết định tới sự biến động của nền kinh tế Do đó, “nghiên cứu loại cơ cấu ngành kinh tế chính là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất” [46, 32]
Cơ cấu lãnh thổ (vùng) kinh tế là loại cơ cấu được hình thành chủ yếu
từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý Nhìn chung, xu hướng phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ thường là phát triển nhiều mặt, tổng hợp, trong đó
có tính đến việc ưu tiên một vài ngành, gắn liền với việc hình thành sự phân
bố dân cư phù hợp với các điều kiện và tiềm năng phát triển kinh tế của mỗi vùng trong phạm vi một quốc gia hoặc mỗi quốc gia trong quan hệ với khu vực và quốc tế “Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và thúc đẩy sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố kinh tế, xã hội, kỹ thuật cụ thể ở từng vùng trong từng thời gian và khả năng tổ chức sản xuất, quản lý kinh tế, trên cơ sở đó khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư
Trang 16liệu sản xuất, tạo ra sự phát triển trên mọi vùng đất nước và tạo điều kiện nâng cao đời sống nhân dân nói chung, khắc phục sự lạc hậu của nhiều vùng, nhiều dân tộc” [56, 610]
Cơ cấu thành phần kinh tế là loại hình cơ cấu kinh tế phản ánh mối
quan hệ, sự cùng tồn tại, tác động qua lại giữa các thành phần kinh tế trong một nền kinh tế thống nhất Thành phần kinh tế là những thực thể kinh tế hình thành và hoạt động dựa trên những hình thức quan hệ sản xuất nhất định (chủ yếu là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất và sản phẩm của quá trình sản xuất) Mỗi thành phần kinh tế có vị trí nhất định trong nền kinh tế quốc dân Chẳng hạn, mỗi doanh nghiệp tư nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sản phẩm của quá trình sản xuất là một thực thể kinh tế Các doanh nghiệp tư nhân (bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân tư bản chủ nghĩa, cả tiểu chủ) và những người sản xuất cá thể hợp thành thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần của đất nước Mỗi doanh nghiệp dựa trên quan hệ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất (như hợp tác xã, công ty cổ phần…) là một thực thể kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể Thành phần kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các tài sản, cơ sở vật chất của nền kinh tế thuộc sở hữu nhà nước như đất đai, tài nguyên, khoáng sản, kết cấu hạ tầng, các nguồn dự trữ, nguồn tài chính, ngân sách, kể cả phần vốn mà Nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác Thành phần kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước
và tư bản tư nhân nước ngoài dựa trên hình thức quan hệ sử hữu hỗn hợp giữa
sở hữu nhà nước và sở hữu tư bản tư nhân Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là những doanh nghiệp, những cơ sở sản xuất do nhà nước hoặc
tư bản nước ngoài đầu tư 100% vốn Sự kết hợp các thành phần kinh tế theo một tỷ lệ nhất định với những hình thức liên kết, quan hệ khác nhau đảm bảo tính cân đối, ổn định tương đối, tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế hoạt động trong nền kinh tế thống nhất được gọi là cơ cấu thành phần kinh tế Như vậy, cơ sở hình thành nên loại cơ cấu này chính là chế độ sở hữu, trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất
Trang 17Có thể nói, một cơ cấu thành phần kinh tế được xem là hợp lý khi cơ cấu thành phần kinh tế đó dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ
sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội, thúc đẩy sự phát triển các ngành sản xuất của xã hội Do đó, cơ cấu thành phần kinh tế có tác động đến
cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ Sự tác động đó chính là sự biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa ba loại cơ cấu trên trong nền kinh tế
Ba bộ phận trên của cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế quốc dân vận động trong mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau, liên quan với nhau trong sự vận động, phát triển của toàn bộ nền kinh tế Một mặt, cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên phạm vi cả nước; mặt khác, việc phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy
sự phát triển các ngành và các thành phần kinh tế
1.1.2 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CDCCKT là một vấn đề lớn trong sự nghiệp đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước ta Đó là quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế không hợp lý trước đây mang nặng tính chất tự cấp tự túc sang cơ cấu kinh tế của một nước công nghiệp hiện đại thông qua CNH, HĐH gắn chặt việc chuyển biến cơ cấu kinh
tế với đổi mới kỹ thuật công nghệ và tổ chức lại sản xuất, làm cho nền sản xuất hoạt động có hiệu quả cao, tăng trưởng nhanh và bền vững
Vấn đề CDCCKT không phải là vấn đề mới đối với nước ta Ngay từ thời kỳ thực hiện đổi mới quản lý nền kinh tế năm 1986 ở nước ta đã bàn nhiều đến việc CDCCKT Tuy nhiên, trong bối cảnh lúc đó, việc tiến hành CDCCKT còn có nhiều sự khác biệt so với giai đoạn hiện nay như: nước ta chưa gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trên thế giới chưa xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trầm trọng như hiện nay Đồng thời, việc CDCCKT ở nước ta trước đây bị hạn chế bởi những nhân tố trong nước như: điều kiện cơ sở hạ tầng, trình độ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin còn thấp kém, kinh tế - xã hội còn lạc hậu… Trong giai đoạn hiện
Trang 18nay, khi chúng ta đã trở thành thành viên của WTO, nước ta phải thực hiện cải cách cơ bản nền kinh tế vì chúng ta là một bộ phận cấu thành của nền kinh
tế thế giới, mà nền kinh tế thế giới sẽ phát triển theo hướng tiết kiệm năng lượng, bảo vệ khí hậu, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững Cơ cấu nền kinh tế nước ta hiện nay do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và các nguyên nhân lịch sử khác, chưa thể phù hợp với
xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới, do vậy phải thay đổi cơ cấu kinh
tế, tức phải chuyển dịch cơ cấu cũ lạc hậu thành cơ cấu mới, phù hợp và hoạt động có hiệu quả
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình cải biến kinh tế xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang nặng tính chất tự cấp, tự túc, từng bước bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó tạo ra năng suất lao động, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói chung” [56, 535]
Khái niệm CDCCKT trên mới chú ý đến tính hiệu quả của cơ cấu kinh
tế khi thực hiện sự chuyển dịch, hay mục đích cuối cùng của sự CDCCKT, chưa nói được nội dung, hình thức của sự chuyển dịch kinh tế Với mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn, tác giả cho rằng khái niệm CDCCKT phải bao hàm sự thay đổi cả nội dung và hình thức kết hợp các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế Theo đó có thể hiểu:
CDCCKT là quá trình cải biến cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế, làm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả cao, tăng trưởng nhanh và bền vững CDCCKT là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và là một quá trình đi lên từng bước dựa trên sự kết hợp mật thiết các điều kiện chủ quan, các lợi thế về kinh tế, xã hội, tự nhiên trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả năng đầu tư, hợp tác, liên kết, liên doanh về sản xuất, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm của đất nước, của từng vùng hoặc các đơn vị kinh tế khác nhau
Trang 19Như vậy, việc CDCCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp, hợp lý hơn không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí ba loại cơ cấu kinh
tế như đã kể trên, mà chính là sự thay đổi trên cả hai phương diện: số lượng (tỷ lệ nhất định giữa các ngành trong nền kinh tế) và chất lượng (trình độ, hình thức liên kết, tính hiệu quả của của các bộ phận) trong nội bộ cơ cấu Từ
đó góp phần hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định trong từng giai đoạn phát triển nhất định
Qúa trình CDCCKT không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên, bột phát, hoặc theo một kịch bản có sẵn từ đâu đó, được đưa vào nền kinh tế đất nước CDCCKT trong nền kinh tế của một quốc gia chịu ảnh hưởng, sự tác động đồng thời của nhiều nhân tố, cả nhân tố chủ quan, cả nhân tố khách quan; cả nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài
Đối với nước ta, nhân tố chủ quan ở đây là muốn nói về sự nhận thức của Đảng và của người lao động thể hiện trong việc tạo ra những điều kiện sản xuất nhất định, như các quy định, các chính sách hệ thống luật pháp … có đồng bộ, phù hợp với thực tế sản xuất hay không; trình độ quản lý, tổ chức lãnh đạo và ý chí quyết tâm của Đảng như thế nào; thái độ của người lao động đối với các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ra sao Nếu chủ trương của Đảng không phù hợp, trình độ tổ chức, quản lý không tốt, không
có quyết tâm cao, không toàn tâm vì sự nghiệp chung của cộng đồng dân tộc, thì không thể lôi cuốn được quần chúng nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, khi đó sẽ không thể thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Ngược lại, nếu Đảng, chính quyền có chủ trương, chính sách thích hợp, toàn tâm, toàn ý hoạt động vì lợi ích của nhân dân, lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện chủ trương chính sách, sẽ được quần chúng nhân dân ủng
hộ, khi đó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự CDCCKT theo hướng tích cực
Nhân tố khách quan là muốn nói đến những điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội trong nước và quốc tế, tồn tại trên thực tế, có quan hệ và tác động đến quá trình phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu kinh tế của đất nước như:
Trang 20trật tự kinh tế, chính trị xã hội trên thế giới và khu vực tác động đến việc cung cấp vốn, tiêu thụ sản phẩm; trình độ phát triển khoa học - công nghệ của thế giới và trong nước; mối quan hệ kinh tế, chính trị giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới Đó là những nhân tố khách quan tác động đến quá trình CDCCKT ở nước ta
Trong phạm vi đề tài luận văn, khi xem xét những nhân tố tác động đến quá trình CDCCKT của nước ta, để thuận tiện, tác giả phân chia các nhân tố thành 2 nhóm, đó là: nhóm nhân tố bên ngoài và nhóm nhân tố bên trong:
- Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài, bao gồm:
Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội trong khu vực và thế giới ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Khi đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO nghĩa là kinh tế Việt Nam sẽ phải hội nhập với kinh tế thế giới trong tiến trình phát triển đất nước Nền kinh tế Việt Nam sẽ có nhiều mối liên hệ, phụ thuộc vào kinh tế thế giới Khi đó, sự biến động về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của một nước hay một số nước, đặc biệt là các nước lớn trên thế giới, sẽ tác động mạnh đến các hoạt động ngoại thương, thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, ứng dụng khoa học - kỹ thuật của các nước khác Vì vậy, khi thị trường quốc tế và nguồn lực nước ngoài thay đổi, yêu cầu đặt ra đối với các quốc gia khác nhau, trong đó có Việt Nam phải điều chỉnh chiến lược phát triển và CDCCKT cho phù hợp, đảm bảo cho nền kinh tế ổn định và phát triển lâu dài
Sự phát triển khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hoá kinh tế, hội
nhập quốc tế cũng là nhân tố khách quan quan trọng ảnh hưởng tới CDCCKT
của nước ta Với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ, sự phát triển của phân công lao động vượt ra khỏi biên giới các quốc gia
đã tạo điều kiện cho các nhà sản xuất kinh doanh trong nước nắm bắt thời cơ,
am hiểu thị trường, hiểu đối tác để từ đó đề ra những định hướng thích hợp trong đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, cũng như thay đổi cơ cấu sản xuất để
Trang 21cùng nhau phát triển Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra những thời cơ, đồng thời cũng có những thách thức đòi hỏi chúng ta phải nhạy bén và thay đổi kịp thời, phù hợp với xu thế phát triển chung nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất trong phát triển nền kinh tế
- Nhóm nhân tố bên trong nội bộ nền kinh tế (bao gồm cả nhân tố khách quan và chủ quan):
Sự phát triển của thị trường cũng như nhu cầu tiêu dùng của xã hội Có
thể nói, nhu cầu tiêu dùng xã hội và thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và CDCCKT Bởi lẽ, thị truờng và nhu cầu xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong toàn bộ nền kinh tế Đồng thời, sự hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nước như: thị trường hàng hóa - dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động… đưa tới việc hình thành nền kinh tế hàng hoá Không chỉ vậy, thị trường và nhu cầu xã hội còn quy định chất lượng sản phẩm và dịch vụ, do đó, tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế, đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội, tác động đến vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự tác động của nhân tố này chính là sự tác động của của cơ cấu thành phần kinh tế đến cơ cấu ngành làm chuyển dịch toàn bộ cơ cấu kinh tế của đất nước
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phát triển của lực lượng
sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế vì chính sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ, thiết bị, hình thành các ngành nghề mới, các lĩnh vực kinh doanh sản xuất mới, làm biến đổi lao động giản đơn thành lao động phức tạp, từ ngành này sang ngành khác Mặt khác, sự phát triển của lực lượng sản xuất phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, lạc hậu, đưa tới hình thành một cơ cấu kinh tế mới với một vị trí, tỉ trọng các ngành và lĩnh vực phù hợp hơn, đáp ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xã hội
Trang 22Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế và cơ chế quản lý của Đảng và Nhà nước đối với việc CDCCKT trong mỗi giai đoạn nhất định
Cơ cấu kinh tế mặc dù mang tính chất khách quan và tính lịch sử xã hội, nhưng cơ cấu kinh tế vẫn chịu sự tác động, chi phối của Nhà nước Quan điểm, cơ chế quản lý của Đảng và Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt, sản sinh ra các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, không trực tiếp tạo ra các tỉ lệ số lượng và chất lượng thực tế của cơ cấu kinh tế, song Nhà nước vẫn có sự tác động gián tiếp bằng cách xác định những định hướng, mục tiêu, kế hoạch phát triển để tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế hoạt động thực hiện có hiệu quả những mục tiêu, đáp ứng nhu cầu của xã hội
Những định hướng, mục tiêu chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của Đảng và Nhà nước là những định hướng chung cho mọi thành phần kinh tế, mọi doanh nghiệp trong cả nước, dưới sự điều tiết của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp và các quy định, thể chế chính sách của nhà nước là địa bàn, sân chơi cho các chủ thể kinh tế hoạt động Định hướng phát triển, cơ chế quản lý của Nhà nước không chỉ nhằm khuyến khích mọi lực lượng sản xuất xã hội đạt được những mục tiêu đề ra, mà còn giúp cho các ngành, lĩnh vực và thành phần kinh tế phát triển hài hòa thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế, đảm bảo sự cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân
Như vậy, ở nước ta hiện nay, CDCCKT theo hướng CNH, HĐH để đảm bảo hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực một cách hiệu quả là một quá trình lâu dài, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta nói chung, Đảng bộ và UBND các tỉnh nói riêng nhận thức đúng đắn và có những ứng xử phù hợp, nhất là trong việc kết hợp hiệu quả những nhân tố ảnh hưởng bên ngoài và bên trong của quá trình CDCCKT
Là một tỉnh đồng bằng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, quá trình CDCCKT ở Bắc Ninh hiện nay cũng chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều nhân tố bao gồm cả những nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan,
Trang 23nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong Tuy nhiên, do có những đặc điểm riêng về điều kiện vị trí và điều kiện kinh tế - xã hội mà quá trình CDCCKT ở Bắc Ninh hiện nay cũng mang những nét riêng, đặc trưng cho kinh tế của tỉnh
1.2 Điều kiện đặc thù và những nhân tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
1.2.1 Sự tác động của điều kiện đi ̣a lý , kinh tế - xã hội đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh
Cơ cấu kinh tế ở Bắc Ninh chuyển dịch phải dựa trên điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội đang tồn tại thực tế hiện nay
Ta xét sự tác động của những điều kiện đó
*Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - xã hội
Tháng 11/ 1996, quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ X đã quyết định thông qua Nghị quyết chia cắt một số tỉnh thành tỉnh mới, trong đó có tỉnh Hà Bắc được chia thành hai tỉnh là Bắc Ninh và Bắc Giang Ngày 01/01/1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức được tái lập
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Bắc Bộ, nằm trong vùng châu thổ sông Hồng Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao của cả nước, trung tâm kinh tế mạnh Điều này có tác động trực tiếp đến việc hình thành cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh về mọi mặt, đặc biệt là CDCCKT ngành nông nghiệp Phía bắc Bắc Ninh giáp với tỉnh Bắc Giang; phía nam giáp với tỉnh Hưng Yên và một phần
Hà Nội; phía đông giáp với tỉnh Hải Dương; phía tây giáp với Thủ đô Hà Nội Tỉnh Bắc Ninh nằm trên một số tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 18, Quốc lộ 32, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn
và nhiều tuyến đường thủy như: sông Đuống, sông Thái Bình, nên rất thuận lợi cho việc giao lưu, vận chuyển hàng hóa với các tỉnh trong cả nước Hiện tại, Bắc Ninh là Thành phố Vệ tinh của Thủ đô Hà Nội trong quá trình CNH, HĐH đất nước
Trang 24Với vị trí thuận lợi, Bắc Ninh có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế -
xã hội, đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tạo cơ hội hình thành cơ cấu kinh tế mới với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm tương đối, đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế trên mọi phương diện của tỉnh
Tổng diện tích đất tự nhiên của Bắc Ninh là hơn 800km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm 64,7%, đất lâm nghiệp chiếm 0,7%, đất chuyên dùng và đất ở chiếm 23,5% và đất chưa sử dụng còn 11,1% Nhìn chung, tiềm năng đất đai của Bắc Ninh vẫn còn lớn Đây vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh CDCCKT nông nghiệp trên toàn tỉnh theo hướng nền kinh tế công nghiệp, hiện đại
*Điều kiện kinh tế - xã hội
Trước khi tái lập tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội của Bắc Ninh vẫn nằm
trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Bắc Bắc Ninh là vùng kinh tế nông nghiệp (chủ yếu trồng lúa và chăn nuôi), các cơ sở công nghiệp trên địa bàn tỉnh là rất nhỏ yếu Ngoài các nhà máy kính Đáp Cầu, công ty may Đáp Cầu, thuốc lá Bắc Sơn là cơ sở sản xuất công nghiệp quốc doanh Trung ương, còn các cơ sở sản xuất công nghiệp của tỉnh như cơ khí Đáp Cầu, các xí nghiệp vôi Đáp Cầu, Kênh Vàng… đã rơi vào tình trạng ngừng sản xuất; các làng nghề sắt Đa Hội, gỗ Đồng Kỵ, giấy Phong Khê, đồng nhôm Đại Bái,… có dấu hiệu phục hồi phát triển do tác động của cơ chế, chính sách
mới, tuy nhiên còn chậm và chưa đồng bộ
Về thành phần kinh tế, do thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, ở nông thôn Bắc Ninh xuất hiện các hình thức kinh tế hợp tác mới, kinh
tế hộ gia đình phát triển Kinh tế Nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ phát triển khá cao đã góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm, cung cấp một số sản phẩm quan trọng cho sản xuất và đời sống Công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển năng động trong sản xuất kinh doanh Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh thời kỳ này
chưa xuất hiện
Trang 25Ngành kinh tế du lịch thương mại cũng được phát triển, bởi từ lâu Bắc Ninh luôn được biết đến là vùng quê của xứ Kinh Bắc với truyền thống văn hóa lâu đời, là cái nôi của làn điệu quan họ mượt mà, đầm ấm, với những lễ hội nổi tiếng thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước như lễ hội Đền
Bà Chúa Kho, hội Lim, hội Dâu, hội Phật Tích…
Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật tương đối phát triển Tuy nhiên, sự phát triển này diễn ra không đồng đều giữa thành thị và nông thôn: 98,46% các xã
có điện, tỷ lệ hộ dùng điện đạt 80,62%, Các dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông cũng ngày một phát triển: bình quân 100 người dân có 0,67 máy điện thoại; nhiều xã, phường, thị trấn đã xây dựng trạm xá, trường học kiên cố, cao tầng…
Kinh tế có bước phát triển nhất định nên đời sống nhân dân dần được cải thiện và nâng cao Thu nhập bình quân đầu người tăng, nhu cầu đi lại, ăn
ở, giáo dục được đáp ứng ngày một tốt hơn
Những kết quả trên tuy mới chỉ là bước đầu, quy mô còn nhỏ, chưa đồng bộ, chưa làm chuyển biến lớn đối với các ngành trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhưng đã tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế hơn trong giai đoạn sau của tỉnh Bắc Ninh
Từ khi tái lập tỉnh đến nay, hòa chung với sự phát triển của cả nước,
trong những năm sau đổi mới, kinh tế Bắc Ninh có bước phát triển đáng kể Sản xuất hàng hóa được phát triển rộng khắp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng và phát triển mạnh Nếu như trước đây kinh tế trong tỉnh chủ yếu là thuần nông, nay tỷ trọng nông, lâm nghiệp giảm tương đối, chỉ còn chiếm khoảng 8,5%, công nghiệp và dịch vụ chiếm trên 90% tổng giá trị sản xuất của tỉnh Giá trị sản xuất công nghiệp của Bắc Ninh hiện đứng trong nhóm 10 tỉnh cao nhất của cả nước Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 đã đạt hơn 62.000 tỷ đồng, gấp nhiều lần so với khi tái lập tỉnh, với tốc độ tăng trưởng cao Tổng thu ngân sách của tỉnh năm 2011 đã đạt được gần 7.200 tỷ đồng,
Trang 26tăng 41 lần so với lúc mới chia tách năm 1997 Đặc biệt, hệ thống 61 làng nghề truyền thống như: đúc đồng (Đại Bái - Gia Bình), sắt thép (Đa Hội - Từ Sơn), đồ gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ - Từ Sơn)… đã và đang phát triển thành thế mạnh và tiềm năng lớn, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của Bắc Ninh
Nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Ninh khá dồi dào Triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (tháng 12/ 2005) đã đề ra nhiều chủ trương, chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, coi đây là nhân tố cơ bản góp phần CDCCKT, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh trong giai đoạn 2005 - 2010 Tính đến năm 2011 dân số của tỉnh là 1.060.300 người, trong đó, số người có khả năng lao động chiếm hơn 55% dân số toàn tỉnh
Hoạt động thương mại - dịch vụ và du lịch ngày càng phát triển năng động, đa dạng và chuyển dịch tích cực về cơ cấu các thành phần hoạt động kinh doanh, nhóm mặt hàng, phương thức kinh doanh… Đặc biệt, dịch vụ có bước tiến bộ, bước đầu hình thành các yếu tố của thị trường Cụ thể: tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 1997 chỉ đạt 950 tỷ đồng, đến năm 2011 đã đạt trên 21.000 tỷ đồng (tăng 22,7 lần so với năm 1997)
Giáo dục - đào tạo, y tế ngày càng được đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị góp phần đáng kể vào sự nghiệp đổi mới, phát triển giáo dục của tỉnh Cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên trong các trường ngày càng được củng cố về chất lượng đồng thời phát triển về số lượng theo hướng chuẩn hoá Tính đến năm 2011 toàn tỉnh đã có hơn 200 trường ở các ngành học, bậc học được công nhận là trường chuẩn Quốc gia với tổng mức đầu tư cho giáo dục
và đào tạo trên 6.400 tỷ đồng Mạng lưới trường học ở tất cả các bậc học từ mầm non, phổ thông phát triển đều khắp trên địa bàn toàn tỉnh; điều kiện và chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày một tốt hơn Công tác phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm được coi trọng
Cụ thể: từ Bệnh viện đa khoa 500 giường, nay tỉnh đã nâng cấp và xây dựng
Trang 27Bệnh viện đa khoa 1.000 giường; các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, đa khoa tuyến huyện, 100% trạm y tế cấp xã được đầu tư hiện đại, với tổng mức đầu tư đạt trên 1.600 tỷ đồng đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong tỉnh
Tình hình kinh tế - xã hội trên của tỉnh Bắc Ninh đã cho thấy sự thay đổi ngày một rõ nét cơ cấu kinh tế của tỉnh Để tiếp tục sự nghiệp đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nâng cao đời sống nhân dân thì cơ cấu kinh tế của Bắc Ninh cần được tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, hợp
lý Một trong những nội dung quan trọng trong việc thực hiện CDCCKT ở Bắc Ninh hiện nay chính là việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế thành phần, xem xét mối quan hệ giữa chúng sao cho phù hợp với quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Đây được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế Bắc Ninh lên tầm cao mới Để thực hiện điều đó, trước hết, cần phải xác định rõ những nhân tố ảnh hưởng, tác động tới quá trình CDCCKT ở Bắc Ninh hiện nay
1.2.2 Những nhân tố tác động đến sư ̣ chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiê ̣n nay
a) Quá trình CNH, HĐH đất nươ ́ c tác động đến sự c huyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh hiê ̣n nay
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản , toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử du ̣ng mô ̣t cách phổ biến sức lao đô ̣ng cùng với công nghê ̣, phương tiê ̣n và phương pháp tiến hành tiên tiến hiê ̣n đa ̣i dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật , tạo ra năng suất lao
đô ̣ng xã hô ̣i cao CNH, HĐH ngày nay đang là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá đô ̣ lên Chủ nghĩa xã hô ̣i, là chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước ta
Chính vì vậy , tại Đại hô ̣i toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã khẳng đi ̣nh mục tiêu của chiến lược phát triể n kinh tế xã hô ̣i năm 2002 - 2003 là: Đưa
Trang 28nước ta thoát khỏi tình tra ̣ng kém phát triển , nâng cao rõ rê ̣t đời sống vâ ̣t chất
và tinh thần cho nhân dân, tạo nền tảng để năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
mô ̣t nước công nghiê ̣p theo hướng hiê ̣n đa ̣i
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta tiếp tục nêu rõ, trong
xu thế chung của quá trình CNH, HĐH hiện nay chúng ta cần phải tiếp tục
“Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa dất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020… Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế” [19, 186]
Mục tiêu CNH, HĐH của đất nước như vậy là căn cứ chung cho địa phương dựa vào để xác định mục tiêu CNH, HĐH của địa phương mình
Vận dụng Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, sự phát triển kinh tế - xã hội của Bắc Ninh vừa phải theo yêu cầu CNH, HĐH của đất nước, đồng thời phải căn cứ vào tình hình, đặc điểm cụ thể của địa phương Dựa trên những căn cứ
đó, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã đề ra mục tiêu phấn đấu tới năm
2015 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp, ngày càng văn minh, hiện đại Mục tiêu đó đòi hỏi cơ bản phải thay đổi được cơ cấu kinh tế từ cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp sang cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Mặt khác kết quả của quá trình CNH, HĐH đất nước là làm cho lực lượng sản xuất của toàn xã hội phát triển, nhiều ngành mới ra đời, nhiều nhu cầu mới xuất hiện, điều đó lại tạo điều kiện cho kinh tế địa phương Bắc Ninh phát triển và theo đó cơ cấu kinh tế Bắc Ninh cũng thay đổi Như vậy, quá trình CDCCKT
ở Bắc Ninh hiện nay phải gắn với quá trình CNH , HĐH của cả nước và của địa phương nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế trong tỉnh và đồng thời tranh thủ, tăng cường áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật của quá trình CNH, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sự hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
Trang 29Tuy nhiên, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là vấn đề phức tạp, khi tiến hành phải thận trọng, nếu đơn giản hóa, chủ quan nóng vội, đưa ra các chính sách không phù hợp sẽ gây những hậu quả xấu, cản trở sự phát triển kinh tế xã hội, cản trở việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Do đó, việc triển khai chủ trương, đường lối, làm rõ hơn nội dung CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một bước phát triển mới về nhận thức của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh.Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVII (nhiệm kỳ
2006 - 2010) đã chỉ rõ: "Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đổi mới quan hệ sản xuất…Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ mới vào sản xuất theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao, phục vụ khu công nghiệp và
đô thị" [53, 42]
Quan điểm trên đây của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về đẩy nhanh CDCCKT gắn với đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đã phản ánh đúng yêu cầu khách quan của địa phương Vì thế, khi thực hiện quan điểm đó trên thực tế đã đem lại những kết quả to lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, làm chuyển biến rõ rệt cơ cấu kinh tế của tỉnh, cả cơ cấu kinh tế ngành, cả cơ cấu kinh tế thành phần theo hướng công nghiệp, hiện đại Năng lực sản xuất của nền kinh tế được tăng cường Điều đó được thể hiện trên các mặt dưới đây:
Nông nghiệp: trên cơ sở khai thác mọi tiềm năng đất đai, lao động, vốn
để phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa
có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, giảm tỷ trọng nông nghiệp một cách tương đối, tăng tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ, đảm bảo an toàn vững chắc về lương thực thực phẩm, phát triển vụ đông thành vụ sản xuất quan trọng Trong nông nghiệp, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa như: vùng lúa, vùng rau, vùng hoa, vùng cây xuất khẩu Phát triển đàn bò lấy sữa ở ven sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình Mở rộng
Trang 30chăn nuôi lợn hướng nạc, chăn nuôi gia cầm, nuôi cá và các loại thủy sản khác Trong năm 2011, tỉnh Bắc Ninh đã quan tâm đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn với tổng mức đầu tư cho nông nghiệp đạt hơn 2.900 tỷ đồng, góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhất là các công trình thủy lợi, đê kè bảo đảm ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu Từ đó, tạo tiền đề cho việc hình thành cơ sở nông nghiệp công nghệ cao, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, hình thành chuỗi giá trị trong nông nghiệp, tăng giá trị sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế
Bắc Ninh đã giành nhiều mùa vụ bội thu với năng suất lúa liên tục tăng cao từ 39,2 tạ/ha năm 1997 lên 63,1 tạ/ha năm 2011 Nhiều vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa hình thành mang lại hiệu quả kinh tế cao, cùng với phong trào chung sức xây dựng nông thôn mới đã và đang tạo dựng bộ mặt nông thôn đổi mới theo hướng hiện đại trên khắp các địa phương trong tỉnh Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Để thực hiện chủ trương tăng tỷ
trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bắc Ninh đã vận dụng năng động chính sách ưu đãi, tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài vào các khu công nghiệp và các cụm công nghiệp Ưu tiên những ngành công nghiệp: điện tử, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất hàng xuất khẩu, coi đó là khâu đột phá Đồng thời tỉnh cũng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn, triển khai xây dựng các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làng nghề ở các huyện; tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, dịch vụ phục vụ, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
Nhờ vận dụng chính sách đẩy mạnh phát triển công nghiệp đúng đắn, Bắc Ninh đã trở thành một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất của cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước Từ ban đầu chỉ có 76 doanh nghiệp trong nước, với tổng vốn đăng ký là 470 tỷ đồng, đến nay tỉnh đã cấp
Trang 31giấy chứng nhận đăng ký 4.800 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký 35.000 tỷ đồng Năm 1997 chỉ có 4 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 170 triệu USD, đến năm
2011 đã có 350 dự án với tổng số vốn đăng ký gần 4 tỷ USD, trong đó có các tập đoàn kinh tế đa quốc gia có thương hiệu uy tín toàn cầu như: Canon, Samsung, Nokia, ABB, Pepsico Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 107 lần
so với năm 1997, đứng thứ 6 toàn quốc về tổng giá trị sản lượng công nghiệp Việc xác định sản xuất công nghiệp là khâu đột phá đã tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh nhanh, bền vững theo hướng CNH, HĐH
Phát triển dịch vụ, thương mại và du lịch: Cùng với việc đẩy mạnh phát
triển công nghiệp, Đảng bộ và chính quyền Bắc Ninh đã có chủ trương cụ thể khai thác lợi thế truyền thống văn hoá của địa phương để phát triển dịch vụ, thương mại và du lịch trên địa bàn tỉnh Nhờ vậy, ngành dịch vụ, thương mại
du lịch của tỉnh có bước phát triển mới, phục vụ tốt cho yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, làm thay đổi cơ cấu kinh tế Hiện tại đã xây dựng được trung tâm thương mại Bắc Ninh và Từ Sơn, hình thành các cụm thương mại dịch vụ ở các thị trấn, thị xã Công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu, buôn hàng giả, hàng nhái kém chất lượng được tăng cường; việc chống trốn lậu thuế, gian lận thương mại được kiểm soát tốt hơn; tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh, ổn định Các loại hình dịch vụ phát triển đa dạng, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân trong tỉnh Khối lượng, chất lượng và an toàn trong vận tải hành khách, hàng hóa trên đường bộ, đường sông được đảm bảo tốt hơn; hiện đại hóa thông tin, liên lạc tiếp tục được đẩy mạnh Huy động được các thành phần kinh tế đầu tư vào các khu du lịch, phát triển các loại hình du lịch, lễ hội, văn hóa truyền thống của địa phương
Hoạt động kinh tế đối ngoại của tỉnh cũng đã được mở rộng, đã lập
nhiều dự án khuyến khích, thu hút đầu tư của nước ngoài (FDI) và các nguồn tài trợ khác, tranh thủ được các dự án ODA để phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh
đã quy hoạch được các vùng sản xuất, tổ chức thu mua, chế biến hàng xuất
Trang 32khẩu nhất là hàng nông sản và hàng thủ công mỹ nghệ, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tìm kiếm và mở rộng thị trường Việc nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, trang thiết bị máy móc, công nghệ được ưu tiên, đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh nói riêng và trên cả nước nói chung
Như vậy là nhờ nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước: đưa công cuộc đổi mới lên một tầm cao mới, đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc mà trọng tâm là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đặc biệt là coi CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là mặt trận hàng đầu, tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhanh và bền vững hơn Rõ ràng CDCCKT gắn liền với quá trình thay đổi về quy mô, trình độ, tỷ trọng các ngành sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế của tỉnh Bắc Ninh chịu tác động của yêu cầu CNH, HĐH đất nước, cũng như CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa
b) Tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ nghĩa đến chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế ở Bắc Ninh hiện nay
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển là tất yếu khách quan Điều này đã được Đảng ta khẳng định từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng Những nội dung xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định ngày càng cụ thể và đầy đủ hơn qua các kỳ đại hội Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã làm rõ thêm một bước nội dung cơ bản của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên các phương diện: nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta; nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế
Trang 33nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của
nghĩa và nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu, bao cấp trước đây có
sự khác nhau rất căn bản về mặt cơ cấu kinh tế Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể, không có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình
độ phát triển còn thấp kém của lực lượng sản xuất, nên không tận dụng được tiềm năng vốn có của lực lượng sản xuất trong nước ta để phát triển sản xuất
Do vậy, nó đã không làm cho cơ cấu kinh tế nước ta thay đổi theo hướng công nghiệp được, mặc dù chúng ta rất muốn có cơ cấu kinh tế đó nhanh chóng Trái lại nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu đan xen nhau, tạo thành nhiều hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau, trong đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Do đó, kinh tế thị trường đã tận dụng được tiềm năng lực lượng sản xuất sẵn có, thúc đẩy sản xuất phát triển, các ngành sản xuất thay đổi, từ đó làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
Quan hệ sở hữu chuyển đổi theo hướng đa dạng hóa các hình thức sở hữu, từng bước phân định quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền quản lý Hình thành cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần kinh tế cùng hợp tác, cạnh tranh phát triển trong môi trường kinh doanh ngày càng được thể chế hóa rõ ràng, thống nhất, thông thoáng, bình đẳng Kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng
Trang 34sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững
Gắn việc CDCCKT ở Bắc Ninh với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều chủ trương, chính sách và hành động phù hợp với tình hình hiện nay của tỉnh, cụ thể:
- Thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và nhiều hình thức kinh tế để huy động tối đa sức mạnh của các thành phần kinh tế; đan xen hỗn hợp nhiều loại hình sở hữu và đa dạng về hình thức và tổ chức kinh doanh; khuyến khích doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tham gia sản xuất và trực tiếp xuất khẩu Tăng cường vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã
- Sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, giải thể hoặc chuyển hình thức sở hữu đối với doanh nghiệp thua lỗ kéo dài Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi tiếp tục thu hút các dự án đầu tư nước ngoài vào trong và ngoài khu vực công nghiệp Đồng thời hỗ trợ kinh tế hộ phát triển thông qua cơ chế chính sách tài chính, tín dụng, khuyến nông…
hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
c) Tác động của quá trình hội nhập kinh tế thế giới của nước ta đến chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế ở Bắc Ninh hiê ̣n nay
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc, cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng của đất nước không thể tránh khỏi xu hướng chung của thế giới, mà trái lại, phải hướng tới vị thế ngày càng cao trong phân công lao động khu vực và toàn cầu Kinh nghiệm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam cho thấy, hội nhập quốc tế cho phép tạo ra những xung lực to lớn, cũng như thu hút các nguồn lực bên ngoài cho quá trình đổi mới trong nước, đặc biệt là đổi mới về thể chế, công nghệ và cơ cấu kinh tế Chủ động, tích cực thực hiện nghiêm chỉnh lộ trình
Trang 35xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA) và các hiệp định thương mại tự do khác chính là điều kiện tốt để cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn bao giờ hết Việc hội nhập quốc tế đã giúp cho các tỉnh, thành phố trong cả nước tạo ra những bước ngoặt đáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có vị trí địa lý kinh tế - chính trị rất thuận lợi, liền kề với thủ đô Hà Nội, có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với Hà Nội… tạo nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế dịch vụ nói riêng Trong những lựa chọn ưu tiên về kinh tế để phát triển bền vững, Bắc Ninh tập trung đẩy mạnh dịch vụ nhằm thúc đẩy sức sản xuất, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng
xã hộị, góp phần CDCCKT của tỉnh theo hướng công nghiệp - dịch vụ
Việc CDCCKT ở Bắc Ninh trong điều kiện hội nhập như hiện nay cần quán triệt một số nguyên tắc cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển lâu dài mọi mặt kinh tế - xã hội trong toàn tỉnh Đó là:
- Thứ nhất, việc CDCCKT trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế
giới phải được thực hiện trên cơ sở của các chủ trương, chính sách, mục tiêu chiến lược một cách toàn diện và phù hợp với thực trạng thực tế của kinh tế tỉnh Bắc Ninh hiện nay
- Thứ hai, việc chuyển dịch CCKT trong điều kiện hội nhập với kinh tế
thế giới ở Bắc Ninh hiện nay phải theo hướng khai thác triệt để lợi thế của tỉnh nhằm sử dụng và phát huy tốt nhất những tiềm năng sẵn có Từ đó lựa chọn được những ngành, những nghề, lĩnh vực, sản phẩm có tính bền vững và phù hợp với nhu cầu liên tục thay đổi của thị trường
- Thứ ba, việc CDCCKT trong điều kiện hội nhập ở Bắc Ninh hiện nay
phải tính đến sự phát triển bền vững, lâu dài; đồng thời phải đáp ứng được
Trang 36việc giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và vấn đề bảo vệ an ninh, quốc phòng trên địa bàn toàn tỉnh
Ngày 31/10/2007, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định số 73/2007/QĐ-UBND về việc phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2006 - 2010 định hướng đến 2020 (Chương trình nghị sự
21 tỉnh Bắc Ninh) trên cơ sở phù hợp với tình hình của tỉnh Trong chiến lược phát triển bền vững ở Bắc Ninh hiện nay Đảng và UBND tỉnh đã xác định rõ những mục tiêu, chiến lược và nguyên tắc quan trọng như: coi con người là trung tâm của phát triển bền vững; coi tăng trưởng kinh tế và CDCCKT là nhiệm vụ trung tâm; kết hợp hài hòa, chặt chẽ với phát triển văn hóa - xã hội; khai thác hợp lý những lợi thế của tỉnh nhưng vẫn chú trọng tới bảo vệ môi trường Đây được coi là chiến lược lâu dài, bền vững nhằm phát triển Bắc Ninh lên tầm cao mới
d) Tác động của những lợi thế về vị trí địa lý và dân cư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiê ̣n nay ở Bắc Ninh hiện nay
Lợi thế về vị trí địa lý được cơi là một trong những lợi thế quan trọng
tác động, ảnh hưởng tới quá trình CDCCKT ở Bắc Ninh hiện nay Qúa trình CDCCKT trong xu thế hiện nay đòi hỏi khai thác, phát huy mọi tiền năng, thế mạnh và huy động tất cả các nguồn lực, chủ động trong mọi tình huống, tranh thủ thu hút đầu tư từ trong và ngoài nước nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp cho
sự phát triển toàn diện của tỉnh Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, đồng thời là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Bắc Ninh là khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh của cả nước Điều này tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và CDCCKT Vị trí địa kinh tế thuận lợi sẽ là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hóa của tỉnh Bắc Ninh
Trang 37Lợi thế về dân cư và nguồn nhân lực ở Bắc Ninh rất dồi dào.Theo số
liệu thống kê năm 2010, Bắc Ninh có 1038.299 người Cơ cấu dân số Bắc Ninh thuộc loại trẻ, dân số trong độ tuổi lao động năm 2010 chiếm 67,01 % tổng dân số, trung bình mỗi năm lao động có khả năng tăng thêm khoảng 4,094 ngàn người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 1,33%/ năm
Nguồn nhân lực trẻ và chiếm tỉ trọng cao là một trong những lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Chất lượng nhân lực của tỉnh ngày càng được nâng cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo hiện nay là 40,1% (cả nước là 40%), xếp trên Nam Định, Hải Dương, Ninh Bình, Hà Nam Trong cơ cấu lao động qua đào tạo thì trình độ trung cấp nghề, trình độ đại học và trên đại học của Bắc Ninh thấp hơn so với mức bình quân của vùng Cụ thể, trình độ trung cấp nghề của tỉnh năm 2010 là 4,2%, trình độ đại học và trên đại học là 5,53%
so với mức trung bình của vùng là 6,5% và 6,8% Vai trò của nguồn nhân lực
là rất quan trọng, đặc biệt là nguồn nhân lực của một số ngành then chốt có ý nghĩa quyết định đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa như công nghệ thông tin, viễn thông, tài chính, tín dụng ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, dịch vụ, pháp luật, công chức, viên chức, khoa học công nghệ, y tế…
Là một tỉnh có vị trí thuận lợi, có các làng nghề thủ công truyền thống
và sản xuất nông nghiệp tương đối phát triển, cùng với nguồn lao động dồi dào, người dân Bắc Ninh chăm chỉ, cần cù, ham học hỏi và có khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ để xây dựng quê hương giàu đẹp Đây là thuận lợi lớn để chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Cần khai thác triê ̣t để các lợi thế về vi ̣ trí đi ̣a lý, điều kiê ̣n kinh tế - xã hội của
tỉnh trong quá trình thực hiệ n CDCCKT nhằm tham gia có hiê ̣u quả vào quá
trình phân công lao động giữa các thành phần kinh tế cũng như giữa các nhóm ngành kinh tế Từ đó giúp cho viê ̣c xác đi ̣nh , lựa cho ̣n được những ngành , nghề, sản phẩm có tính bền vững và phù hợp với yêu cầu , sự năng đô ̣ng của thị trường trong nước và thế giới
Trang 38e) Mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tác động đến chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế ở Bắc Ninh
Ngay từ những ngày đầu tái lập tỉnh, Đảng ủy và ủy ban nhân dân tỉnh
đã vận dụng nhiều chủ trương, chính sách của Trung ương một cách đúng đắn, sáng tạo vào tình hình cụ thể của một tỉnh còn nhiều khó khăn với điểm xuất phát kinh tế thấp, quy mô kinh tế nhỏ bé, xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc… để từ đó đề ra những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp trong từng giai đoạn phát triển của tỉnh
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (14 đến 17/10/1997) được diễn ra trong bối cảnh tỉnh vừa tái lập được gần một năm Nghị quyết có nêu rõ: “phát huy truyền thống cách mạng và văn hiến, tinh thần làm chủ của nhân dân, khai thác mọi nguồn lực, tranh thủ thời cơ, vượt qua khó khăn thử thách, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật
để từng bước tiến hành CNH, HĐH, chú trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh sẩn xuất tiểu thủ công nghiệp và xuất khẩu; phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực CDCCKT, cải thiện một bước đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân…” [51, 21 - 22]
Đẩy mạnh phát triển kinh tế kết hợp với việc nâng cao đời sống của nhân dân cũng được tiếp tục khẳng định thêm trong các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2010: “…đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững hơn Giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc, nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động văn hóa, giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” [53, 39]
Quán triệt tinh thần các Nghị quyết, việc kết hợp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế với nâng cao đời sống nhân dân và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội
Trang 39trên địa bàn tỉnh trong CDCCKT đã vừa là mục tiêu, vừa là động lực để tỉnh tiếp tục tiến hành quá trình CDCCKT ngày một nhanh chóng và hiệu quả hơn
Tăng trưởng kinh tế, trải qua chặng đường hơn 15 năm xây dựng và
phát triển (từ khi tách tỉnh đến nay), mặc dù còn không ít khó khăn thử thách, song nhịp độ phát triển kinh tế của tỉnh luôn giữ ở mức cao Đặc biệt trong 5 năm 2006 - 2010 tình hình kinh tế xã hội của tỉnh đã phát triển nhanh theo hướng bền vững, quy mô nền kinh tế lớn mạnh không ngừng, năm 2010 lớn gấp 2 lần năm 2005 Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và luôn ở mức cao, bình quân 5 năm đạt 15,3% hơn mức 13,9% bình quân năm của thời kỳ 2001-
2005 Sự phát triển nhanh của kinh tế tư nhân, cá thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút, giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động
Về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tăng trưởng kinh tế đã
tác động tích cực đến cải thiện đời sống người dân, giải quyết cơ bản các vấn
đề xã hội; tỷ lệ thất nghiệp từ 6,16% năm 2000 giảm xuống 4,0% năm 2005
và giảm xuống còn 3,28% năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo từ 10,17% năm 2000 xuống còn 4,12% năm 2004 (theo chuẩn nghèo năm 2000) và từ 15,24% năm
2005 xuống còn 4,5% năm 2010 (theo chuẩn nghèo năm 2005), 7,27% năm
2010 (theo chuẩn năm 2010), năm 2000 tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng bình quân đạt 12,59%/năm; giai đoạn 2001 - 2005 đạt 13,88%/năm; đến năm 2006
- 2010 đạt 15,3%/năm [Theo: Số liệu thống kê chủ yếu về kinh tế - xã hội tỉnh
Bắc Ninh thời kỳ 1997 – 2011]
Cùng với việc tập trung phát triển kinh tế, Đảng ủy và Tỉnh ủy Bắc Ninh đã tập trung cao cho phát triển văn hóa, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bồi dưỡng phát huy nhân tố con người và giải quyết các vấn
đề xã hội Do sản xuất phát triển, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm đời sống nhân dân được cải thiện, GDP bình quân đầu người tăng bình quân mỗi năm 27,9%, năm 2010 đạt 1780 USD Đáng chú ý là đời sống của các tầng lớp dân cư đều được cải thiện rõ rệt, nhất là mức sống của các gia đình
Trang 40có công với cách mạng, gia đình chính sách, người già cô đơn, trẻ mồ côi cơ nhỡ, người khuyết tật được quan tâm giúp đỡ chu đáo hơn
f) Sự tác động của yêu cầu an sinh xã hội, bảo vệ an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh đến chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế ở Bắc Ninh hiê ̣n nay
CDCCKT không chỉ nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế mà đồng thời phải chú trọng tới các vấn đề xã hội trên địa bàn tỉnh Chính vì vậy, gải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, bảo đảm an ninh trật tự an toàn xã hội trên phạm
vi toàn tỉnh là một trong những yêu cầu cấp bách đòi hỏi cần được quan tâm giải quyết trong quá trình CDCCKT ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
CDCCKT hướng tới giải quyết tốt chính sách xã hội trong lĩnh vực văn hóa xã hội, xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tổ chức các lễ hội truyền thống bảo đảm an ninh trật tự, tiết kiệm Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống, đón nhận các danh hiệu thi đua
Qúa trình CDCCKT ở Bắc Ninh hiện nay, ngoài những nhân tố tác động đã trình bày ở trên, còn phải xuất phát từ nhu cầu giải quyết việc làm và thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt đối với những người có công
và bảo trợ xã hội, hỗ trợ cho người nghèo CDCCKT phải tính đến việc đẩy mạnh cuộc vận động “toàn dân tham gia công tác đền ơn đáp nghĩa” nhằm huy động mọi nguồn lực từ cộng đồng cùng Nhà nước chăm sóc tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần đối với những người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách Đảm bảo các đối tượng chính sách có mức sống cao hơn mức trung bình của tỉnh Giải quyết việc triển khai các dự án nhà ở cho công nhân và người lao động có thu nhập thấp trong các khu công nghiệp và
đô thị
Vấn đề chăm lo đời sống sức khỏe cho người dân trong tỉnh cũng cần được quan tâm và giải quyết hiện nay Sự nghiệp y tế, chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ và nhân dân trong tỉnh muốn thực sự đạt hiệu quả, thì việc huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư cho y tế phải