Rátxen trong cuộc đấu tranh vì tự do và hoà bình, vì hạnh phúc của nhân loại, đối với “những sáng kiến cao quý” của ông trong việc ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việ
Trang 1VIỆN TRIẾT HỌC
VŨ MẠNH TOÀN
VẤN ĐỀ “QUYỀN LỰC” TRONG TRIẾT HỌC
XÃ HỘI CỦA BÉCTƠRĂNG RÁTXEN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2003
Trang 2VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN TRIẾT HỌC
VŨ MẠNH TOÀN
VẤN ĐỀ “QUYỀN LỰC” TRONG TRIẾT HỌC
XÃ HỘI CỦA BÉCTƠRĂNG RÁTXEN
Chuyên ngành : Lịch sử triết học
Mã số : 5.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:PGS, TS ĐẶNG HỮU TOÀN
HÀ NỘI - 2003
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC BÉCTƠRĂNG RÁTXEN 9
1.1 BÉCTƠRĂNG RÁTXEN - NGƯỜI SÁNG LẬP CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG MỚI 9
1.1.1 Béctơrăng Rátxen và con đường hình thành quan điểm triết học của ông 10
1.1.2 Những học thuyết được B Rátxen sử dụng với tư cách cơ sở nền tảng của chủ nghĩa thực chứng mới 13
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC XÃ HỘI CỦA B RÁTXEN 19
1.2.1 Quan niệm về tôn giáo 19
1.2.2 Quan niệm về chiến tranh và hoà bình 23
Chương 2 Quan niệm của béctơrăng Rátxen về “quyền lực” 35
2 1 QUYỀN LỰC - VAI TRÒ VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA QUYỀN LỰC 35
2.1.1 Vấn đề quyền lực trong lịch sử triết học phương Tây 35
2.1.2 Quyền lực với tư cách động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội 42
2.1.3 Các hình thức của quyền lực 46
2.2 CÁC KHÍA CẠNH KHÁC CỦA QUYỀN LỰC VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUYỀN LỰC 57
2.2.1 Quyền lực dưới nhãn quan luân lý, đạo đức học và triết học 57
2.2.2 Quan niệm của B Rátxen về ý nghĩa của việc nghiên cứu quyền lực 63
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUAN NIỆM QUYỀN LỰC CỦA BÉCTƠRĂNG RÁTXEN 68
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử triết học, từ thời cổ đại đến nay, hầu hết các nhà triết học đều quan tâm nghiên cứu vấn đề quyền lực nói chung, hoặc những khía cạnh,
bộ phận khác nhau của quyền lực nói riêng Bởi vì, bất kỳ một cá nhân nào sống trong xã hội cũng đều phải tham gia vào những quan hệ quyền lực và bị chi phối bởi các quyền lực ấy ở những mức độ khác nhau Hệ thống quyền lực bao trùm lên tất cả mọi thành viên trong xã hội Một ông vua chuyên chế nhất, theo quan niệm của những nhà tư tưởng phong kiến, cũng chỉ là “con trời” và
do vậy, ông vua đó cũng phải phục tùng quyền lực của Thượng đế
Mỗi thành viên trong xã hội đều nằm trong những phân hệ quyền lực khác nhau Trong mối quan hệ này, họ là người có quyền lực, nhưng trong mối quan hệ khác thì không, thậm chí ngược lại Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, mối quan hệ giữa người với người luôn thay đổi, nên quan hệ quyền lực giữa họ với nhau cũng không cố định
Trong lịch sử triết học phương Tây hiện đại, một trong những người bàn nhiều đến vấn đề quyền lực là nhà triết học người Anh - Béctơrăng
Rátxen Các tác phẩm chuyên bàn về quyền lực của ông là: Quyền lực - 1938,
Quyền lực và cá nhân - 1949, Trong những tác phẩm này, B Rátxen đã đi
vào phân tích vấn đề quyền lực dưới nhiều góc độ khác nhau: xã hội, tâm lý, chính trị, kinh tế, tôn giáo, luân lý và triết học Hơn nữa, Béctơrăng Rátxen còn nhấn mạnh đến sự tiến hóa của quyền lực theo tiến trình lịch sử nhân loại Ông lên tiếng báo động cho nhân loại về sự hình thành và không thể kiểm soát nổi của quyền lực khoa học, kỹ thuật và sự sa đọa tinh thần của xã hội
Trang 5văn minh ngày nay Những quan điểm của ông đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới những quan điểm về quyền lực sau này
Chính vì tầm quan trọng của vấn đề “quyền lực” và ảnh hưởng của nó trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người (kinh tế, chính trị, xã hội) hiện nay; thêm vào đó là sự kính trọng đối với những cống hiến của B Rátxen trong cuộc đấu tranh vì tự do và hoà bình, vì hạnh phúc của nhân loại, đối với
“những sáng kiến cao quý” của ông trong việc ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, chúng tôi
lựa chọn “Vấn đề “quyền lực” trong triết học xã hội của B Rátxen ” làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về triết học của B Rátxen nói chung, nhưng vấn đề “quyền lực” trong triết học xã hội của ông lại chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống Trong luận văn này, chúng tôi không có điều kiện để trình bày tất cả các công trình nghiên cứu về quan điểm triết học của ông, mà chỉ có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau:
- Russell của A.G Ayơ (A.J.Ayer) (Nhà xuất bản Fontana, London,
1972) Đây là công trình nghiên cứu của một học giả người Anh được xuất bản ngay sau khi B Rátxen mất được 2 năm Trong công trình này, tác giả đã cung cấp cho người đọc một cách khái quát và có hệ thống về cuộc đời, sự nghiệp và các tác phẩm tiêu biểu của B Rátxen trong nhiều lĩnh vực: lôgíc học, toán học, triết học, đạo đức, tôn giáo, chính trị
- Chủ nghĩa thực chứng mới trong triết học tư sản hiện đại - Đây là
công trình nghiên cứu của các tác giả A.S Bôgômôlôp, Ju.K.Menvin, I.S Narơki - (Nxb Vyhaja Shkola, Mátxcơva 1978 - Tư liệu dịch Viện Triết học -
T 676) Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu khá toàn diện về quá
Trang 6trình xuất hiện, nguồn gốc và nội dung cơ bản của chủ nghĩa thực chứng mới Trong đó, các tác giả đã giành một phần để giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp triết học của B Rátxen trong nhiều lĩnh vực Đặc biệt, các tác giả đánh giá công lao nổi bật của B Rátxen là ở những đóng góp của ông trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa thực chứng mới
- Các con đường của triết học tư sản thế kỷ XX của tác giả
Ju.K.Menvin, tác phẩm này đã được Đinh Ngọc Thạch, Phạm Đình Nghiệm
dịch sang tiếng Việt với tên “Các con đường của triết học phương Tây hiện
đại”, (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997) Trong công trình này, Ju.K Menvin đã
phân tích vai trò đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển chủ nghĩa thực chứng mới của B Rátxen Trong đó, tác giả chủ yếu đề cập đến vấn đề triết học và lôgíc học của B Rátxen Ju.K Menvin đã khẳng định “B Rátxen là người đầu tiên đưa triết học về sự phân tích lôgíc nhờ sự bám sát vào những thành tựu của lôgíc toán” với mục đích đưa ra những định nghĩa chuẩn xác và nghiêm ngặt về khái niệm toán học Rằng, với B Rátxen, tất cả các khái niệm đều có thể đưa về các quan hệ của dẫy số tự nhiên, các quan hệ có tính chất lôgíc thuần tuý
- Triết học phương Tây hiện đại gồm 4 tập của Lưu Phóng Đồng
(Trung Quốc) Công trình này đã được Phạm Đình Cầu dịch sang tiếng Việt, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994) Trong công trình này, tác giả cũng đã trình bày khái quát về cuộc đời của B Rátxen và một số học thuyết triết học, lôgíc học của ông
- Tư tưởng của B.Russell về chính trị và xã hội - của Bát Shơt (Bart
Shultz) Nhà xuất bản Cambridge, 1996
- Lịch sử triết học (quyển 8 - “Triết học hiện đại: từ Bentham đến
Russell”) của Phridrich Côlétơn (S.J Frederick Copleston - Nxb Image
Trang 7Books Garden City, New York, 1966) Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày một cách khá hệ thống về cuộc đời, sự nghiệp khoa học của B Rátxen, về các tác phẩm triết học, lôgíc học, về kinh nghiệm và ngôn ngữ, về chân lý, về vấn đề tôn giáo và chính trị
Đặc biệt, trên tạp chí “Philosophy of the social sciences” (Triết học
trong khoa học xã hội, số 2 và 3 năm 1996) đã xuất hiện hàng loạt công trình
nghiên cứu về B Rátxen Có thể kể đến nhƣ:
- “Bertrand Russell in Ethics and Politics, the Vicissitude of Growth
and Power” của Bát Shơt (Bart Schultz) - Đại học tổng hợp Chicago
- “Russell’s Empiricism and Its Relation to his and our Ethics and
Politcs” (Chủ nghĩa kinh nghiệm của B.Russell và mối liên hệ của nó đối với chính trị và đạo đức của chúng ta) của Richác E Phátmơn (Richard E
Flathman) - Đại học tổng hợp Johns Hopkins
- “Bertrand Russell Meta-Ethical pioneer” - (Bertrand Russell khai phá
sự biến đổi đạo đức” của tác giả Chalơ R.Piđơn (Charles R Pigden) - đại học
lực- tác giả Bát Shơt (Bart Schultz) - đại học tổng hợp Chicago,
- “Bertrand Russell and the end of Nationalism” (B Rátxen về sự cáo
chung của chủ nghĩa dân tộc) - tác giả Lui Grinpân (Louis Greenspan) - đại
học tổng hợp Mc.Master
Trong bài viết “Russell’s power” (B Rátxen về quyền lực), Rátxen
Hácđin (Russell Hardin) - đại học New York - khi nghiên cứu vấn đề quyền
Trang 8lực dưới góc độ tâm lý học, đã giới thiệu sơ lược “các hình thức của quyền
lực” (tr.325), các giai đoạn của quyền lực trong tác phẩm “Quyền lực” của B
Rátxen
Có thể khẳng định rằng, trên thế giới đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về B Rátxen Hầu hết các công trình này đều đề cập đến những lĩnh vực mà B Rátxen nghiên cứu: triết học, toán học, lôgíc học, tôn giáo, đạo đức, giáo dục, chính trị,
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về triết học của B Rátxen nói chung, quan điểm của ông về quyền lực nói riêng không nhiều Chúng ta chủ yếu biết đến triết học của B Rátxen qua một số tư liệu, sách dịch từ tiếng Nga, tiếng Trung Quốc và qua giới thiệu ở một số từ điển triết học, một số giáo trình về lịch sử triết học phương Tây hiện đại, từ điển danh nhân văn hoá thế giới Trong đó, đáng kể nhất là các công trình của tác giả Nguyễn Hiến Lê
như: Bertrand Russell chiến sĩ tự do và hoà bình (Nhà xuất bản Lửa Thiêng, 1971), Thế giới ngày nay và tương lai nhân loại (Nhà xuất bản Ca dao,
1971)
Gần đây nhất, có một công trình được dịch ra tiếng Việt “10 nhà tư
tưởng lớn thế giới” của Vương Đức Phong, Ngô Hiểu Minh (người dịch là
Phong Đảo, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2003) Trong tác phẩm này, các tác giả đã đánh giá, xếp loại 10 nhà tư tưởng, nhà triết học lớn trên thế giới từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XX, trong đó B Rátxen là nhân vật đứng thứ 10 sau Hêghen, Mác, Nítsơ Về B Rátxen, các tác giả đã trình bày khái quát về cuộc đời, những tư tưởng triết học cơ bản và những hoạt động khoa học xã hội của ông Các tác giả đánh giá: “B Rátxen là một trong những nhà tư tưởng uyên bác nhất của thế kỷ XX, các mặt số học, lôgíc học, bản thể luận và nhận thức luận triết học ông đều có những đóng góp kiệt xuất”
[Xem 23, tr 303]
Trang 9Ngoài ra, chúng ta còn có thể tìm thấy những tư liệu về B Rátxen qua
một số bức thư của ông gửi cho Hồ Chí Minh và những bức thư “cảm ơn” của
Người gửi cho B Rátxen và J.P Xáctrơ vì những đóng góp của các ông cho
sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và phong trào hoà bình của nhân loại [Xem 20, tr.146; xem 21 tr.167, 262 - 263]
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng những công trình nghiên cứu trên về B Rátxen như những tài liệu tham khảo, trên cơ sở tiếp thu những hạt nhân có giá trị, gạt bỏ những định kiến quá thiên về phê phán hoặc ca ngợi quá sự thật
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn này là trình bày, phân tích những quan điểm
triết học về quyền lực của B Rátxen để trên cơ sở đó, đưa ra sự đánh giá về
những đóng góp và hạn chế của ông trong quan điểm về quyền lực
Để thực hiện mục đích nêu trên, nhiệm vụ mà luận văn này phải giải
quyết là:
- Trình bày một cách khái quát về thân thế, sự nghiệp và những quan điểm triết học cơ bản của B Rátxen
- Khái lược những quan điểm cơ bản của các nhà triết học phương Tây
về quyền lực trước B Rátxen và sự phát triển của quan điểm quyền lực tiếp sau ông
- Phân tích và lý giải những quan điểm của B Rátxen về quyền lực, và trên cơ sở đó, đưa ra một số đánh giá về những quan điểm này
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 10Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu trực tiếp những tác phẩm của B Rátxen viết về quyền lực, đồng thời kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu về vấn đề này của các tác giả đã đi trước
Luận văn dựa trên nền tảng lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Lênin về lịch sử triết học, về triết học xã hội
Mác-Phương pháp nghiên cứu mà chúng tôi sử dụng là những phương pháp
nghiên cứu của lịch sử triết học, cụ thể là: phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh
5 Cái mới của luận văn
- Đóng góp mới của luận văn này là trình bày một cách khái quát một
số quan điểm triết học về quyền lực của các nhà triết học phương Tây ngoài mácxít
- Luận văn đi sâu phân tích quan niệm triết học của B Rátxen về quyền lực và trên cơ sở đó, đưa ra đánh giá về những đóng góp và hạn chế của ông trong quan niệm về quyền lực
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng của
các triết gia phương Tây hiện đại ngoài mácxít về vấn đề quyền lực, cụ thể là triết học của B Rátxen và quan niệm của ông về quyền lực
Về mặt thực tiễn, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ
cho nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học phương Tây hiện đại ngoài mácxít ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn bao gồm hai chương, năm tiết
Trang 11Là một nhà triết học, B Rátxen kiên trì theo đuổi đường lối của chủ nghĩa kinh nghiệm cổ điển Anh, bắt nguồn từ Beccơli, G.Lốccơ, Hume và Muylơ Ông là một trong những người sáng lập ra chủ nghĩa thực chứng mới, những tư tưởng triết học của ông có ảnh hưởng quan trọng tới các nhà triết
Trang 12học thực chứng khác như: Vitgensơtêin (Witgenstein), Rilơ (H.Ryle), Wítđom (D.Wisdom), (D Austin), Strôxơn (P.Strawson) trong triết học Anh; Lơrôvít (A.A Lazerowits) trong triết học ngôn ngữ Mỹ,
Không chỉ là một khuôn mặt lớn trong triết học và toán học, B Rátxen còn thành công ở nhiều lĩnh vực khác như lôgíc học, xã hội học, tâm lý học Ông còn là nhà chính luận, nhà hoạt động xã hội đấu tranh cho tự do và hoà bình của nhân loại Đặc biệt, ông còn thành công trong lĩnh vực văn học Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải thưởng Nôben văn học cho B Rátxen vào năm
1950 nhằm tôn vinh ông “như một người phát ngôn lừng lẫy bậc nhất cho lẽ phải và chủ nghĩa nhân đạo , như một dũng sỹ của tự do tư tưởng và tự do ngôn luận ở phương Tây” [Xem 39, tr 28]
Cho đến nay, không ít những quan điểm triết học của B Rátxen đã bị vượt qua Song, cuộc đời ông, sự nghiệp khoa học của ông vẫn là hình tượng tiêu biểu của một học giả hiện đại, hài hước, dí dỏm, thẳng thắn, luôn đăm chiêu suy nghĩ, tìm tòi, đấu tranh hết mình cho điều thiện, cho hoà bình và hạnh phúc của nhân loại
1.1.1 Béctơrăng Rátxen và con đường hình thành quan điểm triết học của ông
Béctơrăng Rátxen có tên đầy đủ là Bertrand Arthur William Russell Ông sinh ngày 18 tháng 5 năm 1872 ở Ravenscroft, gần Trelleck, Monmouthshire trong một gia đình dòng dõi quí tộc lâu đời của nước Anh
Từ thế kỷ XVI, dưới thời của vua Henri VIII, một cận thần là Giôn Rátxen (John Russell) được nhà vua phong thưởng tước quý tộc cùng với đất đai thuộc tu viện Woburn Tước hiệu và đất đai được cha truyền con nối đến thời
B Rátxen là mười ba thế hệ Dòng họ Rátxen từng giữ những chức vị cao trong lịch sử phong kiến nước Anh, ông nội của Béctơrăng (cũng tên là John Russell), từng hai lần làm thủ tướng dưới triều Nữ hoàng Victoria (thế kỷ
Trang 13XIX) Cha của B Rátxen - Huân tước Amhơli Rátxen (Amherly Russell) - là đại biểu quốc hội (1867-1868), sau đó ông bị loại ra khỏi quốc hội vì có tư tưởng tự do, từ bỏ đạo Ki-tô, đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, theo chủ trương hạn chế sinh đẻ
Năm B Rátxen được một tuổi, cả cha mẹ và chị gái đều lần lượt mất vì bệnh bạch hầu Trước khi mất, cha của B Rátxen đã chỉ định hai người giám
hộ để chăm sóc và dạy dỗ B Rátxen theo những tư tưởng tự do, tiến bộ mà ông bà đã theo đuổi, nhưng chính quyền không chấp nhận, buộc B Rátxen về sống với ông bà nội ở Pembroke Lodge
B Rátxen lớn lên trong sự chăm sóc và dạy dỗ nghiêm khắc của bà nội
Bà của B Rátxen theo lối sống “thanh giáo” giống như lối sống của đại đa số những gia đình quý tộc Anh thời Victoria - nghiêm khắc, coi thường những điều kiện vật chất, không coi trọng ăn uống, cấm người nhà uống rượu, hút thuốc, buổi sáng cả nhà phải tập trung để đọc kinh thánh Bà thường giáo dục
B Rátxen về luân lý phải yêu thương cha mẹ, yêu thương mọi người, phải yêu nước, không được ham tiền bạc, quyền hành, nhục dục, phản đối chiến tranh xâm lược của đế quốc Anh đối với các dân tộc khác Chính lối giáo dục này đã có ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn và sự nghiệp của B Rátxen sau này
Khi còn nhỏ, B Rátxen được giáo dục tại gia đình, đến năm 1889 (năm
17 tuổi) ông thi đỗ thủ khoa vào đại học Cambridge Trong những năm đầu học ở đại học Cambridge, B Rátxen ham mê nhất là môn toán học, nhưng sau
đó, ông nhận thấy môn toán không thể giải đáp được những thắc mắc của ông
về “tính dục” và “tôn giáo” - đây là hai vấn đề nảy sinh sớm nhất trong tư tưởng của B Rátxen từ thủa nhỏ và nó cũng là điều trăn trở suốt cuộc đời ông Chính vì vậy mà B Rátxen quyết định chuyển sang học triết học với hy vọng sẽ giải quyết được những thắc mắc của mình
Trang 14Như trên đã đề cập, trong những năm đầu học ở đại học Cambridge, B Rátxen đã say mê đi vào nghiên cứu toán học B Rátxen giành 3 năm cùng với Oaitơhét (A.N Whitehead - một trong những nhà toán học và triết học nổi tiếng ở đại học Cambridge) - nghiên cứu về toán học Nhưng, môn toán học không thể làm thoả mãn trí ham hiểu biết của ông Từ năm thứ tư ở đại học, ông chuyển sang nghiên cứu triết học với một tâm trạng vui mừng mà theo ông “như được giải phóng để nhảy vào thế giới triết học kỳ dị và khác thường” [Dẫn theo 23, tr.308]
Nhà triết học có ảnh hưởng tới sự hình thành tư tưởng triết học của B Rátxen thời kỳ này trước hết là Giêmxơ Min (James Mill) với học thuyết
“Kinh nghiệm” Tuy nhiên, trong bối cảnh mà triết học Anh đang chịu ảnh hưởng lớn do sự hưng thịnh của triết học duy tâm Đức lúc bấy giờ - cả chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của I.Cantơ và chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hêghen - ảnh hưởng của thuyết kinh nghiệm đối với B Rátxen kéo dài không bao lâu
Vào năm 1893, khi Brơlây (F.H Bradley 1864-1924) viết cuốn “Hiện tượng và thực tại” (Appearance and Reality), thì một trào lưu tư tưởng ngả theo chủ nghĩa Hêghen mới ở Anh đã nảy sinh và phát triển Đặc biệt, B Rátxen chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất là từ McTơggớt (J.M.E McTaggart 1866 -1925) khi nhà triết học này dùng triết học của Hêghen chống lại kinh nghiệm luận tuyên bố có thể dùng lôgíc của Hêghen để chứng minh thế giới này là tốt đẹp, linh hồn là bất tử Từ đây, B Rátxen hoàn toàn chuyển sang siêu hình - thứ siêu hình học “nửa Cantơ nửa Hêghen” Điều này được B Rátxen thừa
nhận trong cuốn “Sự tiến hoá triết học của tôi” (My Philosophical Development) Ông viết, “tất cả những gì ảnh hưởng đến tôi - đó là khuynh
hướng của chủ nghĩa duy tâm Đức - hoặc là Cantơ hoặc là Hêghen” [Xem 61,
tr 9] Theo B Rátxen, đây là thời kỳ ông “nhất thời đi vào con đường duy
Trang 15tâm” Tuy nhiên, thời kỳ này không kéo dài Cuối năm 1898, bắt đầu là G.E Morơ (G.E Moore 1873 - 1958) và sau đó là B Rátxen đã nối tiếp nhau thoát
ly khỏi chủ nghĩa tâm Đức, chuyển hướng sang chủ nghĩa thực tại mới
Sự chuyển hướng triết học của B Rátxen từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa thực tại mới được bắt đầu từ sự ảnh hưởng của Morơ Từ cuối năm
1898, sau khi B Rátxen tiếp xúc với những tác phẩm không được công bố
của Morơ như: “Bản chất của phán đoán” và “Bác bỏ chủ nghĩa duy tâm” -
viết về vấn đề mối tương quan của tri giác với đối tượng vật lý - B Rátxen đã
từ bỏ chủ nghĩa chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối Đúng lúc đó, trong triết học Anh -
Mỹ xuất hiện chủ nghĩa thực tại mới Từ năm 1898 đến năm 1920, sự tiến hoá triết học của B Rátxen diễn ra trong khuôn khổ của trào lưu triết học này
Chủ nghĩa thực tại mới chủ trương “ với một cảm giác thoát khỏi tù ngục, chúng ta cho phép mình suy nghĩ cỏ là màu xanh; mặt trời và các vì sao đang tồn tại, cho dù không ai ý thức đến chúng; thế giới ý niệm đa nguyên và vĩnh hằng của Platon là tồn tại Thế giới lôgíc vốn đã bị khô héo đó chỉ trong chốc lát trở thành phong phú, đa dạng và vững chắc” [Xem 23, tr 310-311] Thực chất của sự chuyển biến này, theo B Rátxen, đó là “sự nổi loạn vào đa nguyên luận” Với những quan điểm cơ bản như: phân tích không có nghĩa là xuyên tạc; một mệnh đề là chân thực thì tính chân thực của nó là do nó có mối liên hệ với sự thực, mà sự thực nói chung là độc lập với kinh nghiệm
Kết quả về mặt tư tưởng của sự chuyển biến lần này của B Rátxen đã mang lại cho ông một số quan điểm có ý nghĩa đặt nền tảng cho sự phát triển triết học của ông về sau này
1.1.2 Những học thuyết được B Rátxen sử dụng với tư cách cơ sở nền tảng của chủ nghĩa thực chứng mới
Trang 16Như trên đã đề cập, B Rátxen là một trong những ông tổ triết học của chủ nghĩa thực chứng mới - một trong hai khuynh hướng chủ đạo của triết học phương Tây đầu thế kỷ XX - khuynh hướng duy lý và khuynh hướng phi duy
lý Trong quá trình ra đời và phát triển của mình, chủ nghĩa thực chứng mới luôn mở ra những cách tiếp cận mới, vì vậy, tên gọi của nó cũng luôn thay
đổi: “Nguyên tử lôgíc luận”, “Chủ nghĩa thực chứng lôgíc”, “Chủ nghĩa kinh
nghiệm lôgíc”, “Triết học ngôn ngữ”, “Triết học của ngôn ngữ cuộc sống”,
v.v Mặc dù có nhiều tên gọi nhưng bản chất thực chứng mới vẫn không có gì thay đổi, đó là “phương pháp phân tích” của chủ nghĩa thực chứng mới với tham vọng xác lập đường lối thứ ba trong triết học - đường lối “vượt lên trên”
sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, kết hợp khoa học với tôn giáo Từ “phương pháp phân tích” này, chủ nghĩa thực chứng mới còn
được biết đến với một tên gọi khá phổ biến - “Triết học phân tích”
Với những học thuyết cơ bản như: “mối quan hệ bên ngoài”, thuyết
“nguyên tử lôgíc”, thuyết “nhất nguyên trung lập”, thuyết “lý luận từ mô phỏng”, B Rátxen đã đặt nền móng cho sự ra đời của chủ nghĩa thực chứng mới Trong luận văn này, trọng tâm của chúng tôi là phân tích quan điểm của
B Rátxen về “quyền lực” Do vậy, chúng tôi không phân tích toàn bộ những học thuyết triết học của ông, mà chỉ trình bày một cách sơ lược hai học thuyết nền tảng cơ bản của B Rátxen - học thuyết về “mối quan hệ bên ngoài” và học thuyết về “nguyên tử lôgíc” - nhằm chỉ ra vai trò đặt nền móng của chúng cho sự ra đời của chủ nghĩa thực chứng mới
Về thuyết “quan hệ bên ngoài”
Chúng ta đều biết, khi xây dựng triết học phân tích của mình, B Rátxen
đã xuất phát từ việc phản bác thuyết duy tâm nhất nguyên của Hêghen Theo
B Rátxen, “nhất nguyên luận của chủ nghĩa duy tâm Hêghen có cốt lõi siêu hình học và cốt lõi đó có thể được coi là “thuyết quan hệ nội tại” Ông cho
Trang 17rằng, theo phép biện chứng của Hêghen thì vạn trong vật vũ trụ đều có mối liên hệ với nhau, và cấu thành một chỉnh thể hữu cơ, mối liên hệ qua lại giữa các sự vật đều mang tính nội tại, vốn có của chúng và do vậy, tính biệt lập của chúng là không thực tại Trên thực tế, Hêghen cho rằng, chỉ có “chỉnh thể” và
“toàn thể” mới là thực tại, mới là chân lý và do vậy, muốn hiểu biết đầy đủ về một sự vật hữu hạn nào đó đều cần phải hiểu chỉnh thể vũ trụ Vậy quan hệ giữa các sự vật cuối cùng là quan hệ bên trong hay bên ngoài?
Xuất phát từ những kết quả nghiên cứu cơ bản về cơ sở nền tảng của toán học, B Rátxen đã phản bác lại “thuyết quan hệ bên trong” và chứng minh cho sự tồn tại của mối quan hệ bên ngoài mà ông gọi là “thuyết quan hệ bên ngoài” B Rátxen cho rằng, thuyết quan hệ bên trong đặc biệt không thích dụng với mối quan hệ “phi đối xứng”, tức mối quan hệ có thể thích dụng cho A và B thì lại không thích dụng cho B và A Nhưng do trong toán học luôn có mối quan hệ phi đối xứng, nên “thuyết quan hệ bên ngoài” đã thể hiện tính chất quan trọng của nó Bởi vì, theo thuyết quan hệ bên trong, trước khi
ta hiểu được mối quan hệ giữa nguyên tố này với các nguyên tố khác, thì trước hết, cần biết nguyên tố mà chúng ta nói đến là gì, nhưng, trên thực tế,
về căn bản chúng ta lại không có cách nào biết trước nguyên tố ấy, bởi chúng ta chưa biết được quan hệ bên trong giữa nó với các nguyên tố khác
Vì vậy, quan hệ giữa các sự vật chỉ có thể là quan hệ bên ngoài, chứ không thể là quan hệ bên trong
Từ sự suy luận trên, B Rátxen cho rằng, sự vật cá biệt là thực tại, và do vậy có chân lý cá biệt Thực tại là thể phức hợp có thể phân tích Từ đó, ông tiếp tục xây dựng vũ trụ luận mang tính đa nguyên chủ nghĩa
Về thuyết nguyên tử lôgíc
Trang 18Triết học phân tích của B Rátxen được xây dựng dựa trên những thành tựu của lôgíc toán Từ những định nghĩa chính xác và chặt chẽ của các khái niệm toán học, B Rátxen cho rằng tất cả các khái niệm có thể qui về các quan
hệ của số tự nhiên, các quan hệ có tính chất lôgíc thuần tuý và toàn bộ toán học có thể quy về lôgíc học
Tin tưởng vào hiệu quả của phương pháp phân tích lôgíc, B Rátxen tuyên bố phương pháp này có thể tạo ra những điều kiện để giải quyết vấn đề triết học Rằng, “lôgíc học cấu thành bản chất của triết học” Trong tác phẩm
“Chủ nghĩa thần bí và lôgíc”, B Rátxen từng nói, triết học của ông “có thể gọi là chủ nghĩa nguyên tử lôgíc hoặc thuyết đa nguyên tuyệt đối” Với chủ
nghĩa nguyên tử lôgíc, theo ông, con đường để hiểu thực chất của bất kỳ chủ
đề nào là con đường phân tích Đối với mỗi sự vật, khi nhận thức nó, con người cần phải tiến hành phân tích cho đến khi không thể phân tích được nữa
mới thôi, lúc đó, chỉ còn lại là nguyên tử lôgíc B Rátxen gọi đó là nguyên tử
lôgíc vì chúng không phải là vật chất từng hạt, mà là “khái niệm tạo nên sự
vật”
B Rátxen chủ trương các nhà triết học cần phải nghiên cứu lôgíc học
và tránh dùng tâm lý học Cả B Rátxen và Hium, xét trên một ý nghĩa nhất định, đều là những nhà nguyên tử luận trong triết học Tuy nhiên, sự lý giải và giới hạn về “nguyên tử” của họ là khác nhau Hium chủ trương dựa vào biểu tượng và ấn tượng (được xem là nội dung duy nhất của thế giới tâm linh trong con người) để giải thích mỗi sự vật Hume còn cho rằng, nhà triết học cần phải có sự phân tích tâm lý học đối với những quan niệm được đưa ra Trong khi đó, B Rátxen lại kiên trì với quan điểm cho rằng, đối tượng của phân tích chính là mệnh đề Do vậy, B Rátxen đã giới hạn “nguyên tử luận” của mình trong phạm vi lôgíc học
Trang 19B Rátxen xem tư tưởng là đối ứng của thế giới vật chất, đơn vị cơ bản của nó không phải là khái niệm mà là mệnh đề Rằng, thế giới là do sự thực cấu thành Sự thực có thể biến một mệnh đề là thật hoặc là giả Và cái sự thực đơn giản nhất, theo ông, là sự thực nguyên tử (như cái này là trắng; cái này lớn hơn cái kia) Tương ứng với sự thực nguyên tử là mệnh đề nguyên tử, tương ứng với sự thực phức tạp là mệnh đề phân tử Mệnh đề phân tử có thể phân tích được vì nó do những mệnh đề nguyên tử tạo nên Mệnh đề nguyên
tử thật hay giả tùy thuộc mệnh đề phân tử thật hay giả Các mệnh đề nguyên
tử độc lập với nhau, không thể suy ra lẫn nhau, cũng không thể mâu thuẫn với nhau [Dẫn theo 4, tr 208] Theo B Rátxen, điểm cuối cùng của phân tích mệnh đề nguyên tử là do danh từ riêng và vị ngữ tạo nên, nó là căn cứ của mệnh đề khác Mệnh đề nguyên tử và sự thực nguyên tử kết hợp với nhau, mệnh đề phân tử với sự thực phức tạp kết hợp với nhau Toàn bộ vũ trụ xây dựng trên cấu tạo lôgíc của sự thực nguyên tử, và phù hợp với một hệ thống ngôn ngữ lý tưởng
Như vậy, có thể nói rằng, trong thuyết nguyên tử lôgíc của B Rátxen luôn ẩn chứa một giả thiết triết học: ngôn ngữ với thế giới có tính cùng loại về cấu tạo Do vậy, việc thừa nhận nguyên lý này có nghĩa là thừa nhận ngôn ngữ là cái có thể miêu tả thế giới Dĩ nhiên, ngôn ngữ ở đây là ngôn ngữ lý tưởng - ngôn ngữ toán học
Thuyết nguyên tử lôgíc của B Rátxen được Vitgensơtêin (Witgenstein 1889-1951), Cácnáp (Carnap 1891-1970) và những nhà thực chứng mới khác tiếp tục phát triển sau này Vitgensơtêin đã giải thích rõ hơn quan điểm của B
Rátxen - Lôgíc học tạo nên bản chất của triết học Trong “Chuyên luận về
triết học lôgíc”, Vitgensơtêin khẳng định rằng, triết học không phải là học
thuyết, mà là một sự hoạt động - một hoạt động lấy sự phê bình, phân tích ngôn ngữ làm trung tâm Trong thời kỳ đầu, do chịu ảnh hưởng sâu sắc tư
Trang 20tưởng về ngôn ngữ lý tưởng của B Rátxen, Vitgensơtêin chủ trương xây dựng một ngôn ngữ lý tưởng và loại trừ “siêu hình hoá ngôn ngữ” Song, cuối cùng, ông đã nhận thấy sơ đồ triết học mà ông thiết lập không giúp gì cho việc lý giải những vấn đề bức xúc của con người, cho việc lý giải ý nghĩa của cuộc sống Vì vậy, vào những năm cuối đời, Vitgensơtêin từ bỏ phương án xây dựng ngôn ngữ lý tưởng và chuyển hướng từ ngôn ngữ lý tưởng sang ngôn ngữ hiện thực hay ngôn ngữ thực tại
Cácnáp còn thu hẹp hơn nữa quan niệm của B Rátxen và Vitgensơtêin
về triết học, khi ông quy chức năng của triết học về sự phân tích lôgíc cú pháp của ngôn ngữ khoa học Theo Cacnáp, các vấn đề triết học về thực chất chỉ là các vấn đề ngôn ngữ, và triết học phải chịu trách nhiệm về sự thiếu hoàn thiện của cơ cấu lôgíc - ngữ pháp của ngôn ngữ chúng ta và hậu quả của nó là sự tồn tại của những phán quyết có khả năng dẫn đến lầm lẫn
Thực chất của “cuộc cách mạng trong triết học” mà các nhà thực chứng mới theo đuổi là ở sự thay đổi căn bản đối tượng và chức năng của triết học Nếu như các nhà thực chứng trước đây, từ O.Comte đến E.Mach, bằng cách này hay cách khác đề cập tới sự nhận thức thế giới, thì các nhà triết học thực chứng mới, ngược lại, tuyên bố rằng, sự nhận thức các sự vật và hiện tượng là công việc của các ngành khoa học cụ thể, còn triết học không đưa ra bất kỳ sự phán quyết nào về chúng, mà chỉ hướng sự chú ý vào việc phân tích lôgíc đối với những phán đoán ấy [Dẫn theo 19, tr 46] Các nhà thực chứng mới đòi hỏi phải “hiệu đính” lại tư tưởng và diễn đạt lại tư tưởng của các triết gia
trong lịch sử nhằm giải phóng triết học ra khỏi siêu hình học, biến triết học
thành một hoạt động khoa học đặc biệt, vượt qua cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Họ tạo ra bước ngoặt từ tư duy về thế giới sang sự phân tích ngôn ngữ, hay “bước ngoặt ngôn ngữ”
Trang 21Trong những năm 30 của thế kỷ XX, “chủ nghĩa thực chứng mới” hay “triết học phân tích” đã trở thành một trào lưu phổ biến, có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của triết học phương Tây Thậm chí, nó còn
được gọi là “thời đại phân tích” Trong tác phẩm “Thế giới mới của triết
học” xuất bản 1961, A Caplan cho rằng, “không còn nghi ngờ gì nữa, trào
lưu triết học khá phổ biến, trào lưu mà tôi tạm dịch nghĩa - “triết học phân tích” - là một trào lưu có ảnh hưởng nhất trong các nước nói tiếng Anh” [Dẫn theo 19, tr 45] Đúng như nhận định trên, mặc dù triết học phân tích
ra đời tại châu Âu, nhưng nó có ảnh hưởng rộng rãi không chỉ ở Anh, Đức, Áo, mà cả ở Mỹ Người đặt nền móng trong việc xây dựng triết học thực chứng mới chính là B Rátxen với những học thuyết triết học của ông
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC XÃ HỘI CỦA B RÁTXEN
B Rátxen không chỉ là một khuôn mặt lớn trong triết học và toán học, mà ông còn thành công ở nhiều lĩnh vực khoa học khác Đặc biệt, trong khoa học xã hội, ông đã có những đóng góp lớn lao vào các lĩnh vực như: tâm lý học, tôn giáo học, giáo dục học, chính trị học, đạo đức học, chiến tranh tranh và hoà bình Trong những lĩnh vực nêu trên, ở luận văn này, chúng tôi chỉ trình bày hai chủ điểm: quan niệm của B Rátxen về tôn giáo và về chiến tranh và hoà bình, hai chủ đề mà theo chúng tôi, có liên quan tới vấn đề quyền lực được B Rátxen trình bày trong các tác phẩm của ông về quyền lực Mối quan hệ giữa quyền lực và tôn giáo thể hiện ở mối quan hệ giữa quyền lực tôn giáo, quyền lực giáo hội với quyền lực nhà nước Quyền lực cũng là một trong những động lực làm nảy sinh những cuộc chiến trong lịch sử và hiện nay Do vậy, việc nghiên cứu hai
Trang 22vấn đề này là cần thiết để hiểu rõ hơn quan điểm của B Rátxen về quyền lực mà chúng tôi sẽ trình bày ở chương hai
1.2.1 Quan niệm về tôn giáo
Để hiểu được những quan niệm của B Rátxen về tôn giáo, theo chúng tôi, phải nghiên cứu nguồn gốc, quá trình phát triển và cách giải quyết của ông về vấn đề này Qua đó, có thể lý giải tại sao B Rátxen lại không theo một tôn giáo nào, mặc dù ông thừa nhận lúc nhỏ, ông là một người mộ đạo
Việc phê phán tôn giáo nói chung, đặc biệt là Thiên chúa giáo nói riêng, luôn chiếm một vị trí lớn trong sự nghiệp khoa học của B Rátxen Điều này thể hiện ở một số lượng lớn những tác phẩm ông viết về đề tài này, như:
Những điều tôi tin (1925); Tại sao tôi không phải là một tín đồ Thiên Chúa giáo (1927); Hôn nhân và luân lý (1929); Tôn giáo và khoa học (1935); Quyền lực (1938); Lịch sử triết học phương tây (1954)
Quan niệm về tôn giáo của B Rátxen được hình thành từ rất sớm Ngay
từ nhỏ, ông đã thừa nhận mình là người mộ đạo và ham mê toán học Ông nói
“Không gì quan trọng bằng tôn giáo - ngoại trừ môn toán” Xuất phát từ lòng
mộ đạo ấy mà sau này, B Rátxen đã tìm hiểu xem vì sao mình đã từng tin vào tôn giáo như vậy
Khi nghiên cứu về tôn giáo, B Rátxen bắt đầu từ ba vấn đề mà ông cho
là quan trọng đối với bất kỳ một tôn giáo nào Đó là: 1 Thượng Đế; 2 Linh hồn bất tử; 3 Ý chí tự do Ông suy tư về ba vấn đề đó theo thứ tự từ dưới lên
trên, nghĩa là, bắt đầu từ vấn đề “ý chí tự do” Thứ nhất, xuất phát từ luận cứ
cho rằng “mọi chuyển động vật chất đều tuân theo những quy luật về động lực
học”, B Rátxen đã đi tới chỗ bác bỏ quan điểm “có ý chí tự do” Thứ hai, về
vấn đề linh hồn bất tử Theo ông, thể chất và tinh thần hiển nhiên là có quan
hệ với nhau và bất kể mối quan hệ đó là như thế nào thì cũng “không có lý do
Trang 23gì để cho rằng tinh thần còn tồn tại khi mà bộ óc đã thối nát” Thứ ba, về vấn
đề Thượng đế B Rátxen cho rằng, mặc dù từ trước tới nay, “người ta đã đưa
ra nhiều lý lẽ để chứng minh Thượng đế tồn tại”, nhưng “tất cả những lý lẽ đó tuyệt nhiên không có giá trị gì cả” Và ông đi đến kết luận “ tôi không có một lý do gì để tin ở ba cái đó cả” [Xem 27, tr.31-32]
Đó là những quan niệm ban đầu của B Rátxen về tôn giáo, những quan niệm này tiếp tục được ông nghiên cứu vào thời kỳ sau này Năm mười tám tuổi, sau khi ông đọc tập “Tự truyện” của Stuart Mill, B Rátxen đã tỉnh ngộ, ông liền từ bỏ đạo Kitô và coi như mình đã giải quyết song vấn đề tôn giáo
Mặc dù từ bỏ tôn giáo, nhưng B Rátxen vẫn quan tâm nghiên cứu tôn giáo Ông đánh giá tôn giáo có mặt tốt, có mặt xấu Dĩ nhiên, theo ông, mặt xấu, mặt có hại bao giờ cũng nhiều hơn B Rátxen đã đưa ra một số ví dụ để chứng minh rằng, tôn giáo cũng có được một số lợi ích như: “nhờ tôn giáo mà các tu sĩ Ai Cập thời cổ đã làm ra lịch, đã ghi khá kỹ các lần nhật thực, nguyệt thực để dự đoán được bao giờ thì những hiện tượng đó trở lại” B Rátxen cho rằng, trong tôn giáo “có những điều chúng ta nên tin, lại có những điều chúng
ta không nên tin, nếu tin thì có hại, ” Nói chung, theo ông, “tôn giáo có nhiều hậu quả tai hại Nó thần thánh hoá chủ nghĩa bảo thủ, bám lấy những tục lệ thời trước, nhất là nó thần thánh hoá sự cố chấp, bao dung và lòng căm thù” [Xem 27, tr.33 - 34]
Vậy, do đâu mà con người có nhu cầu tôn giáo? Theo B Rátxen, trước hết là do “sợ hãi” Loài người luôn cảm thấy bất lực trước những gì mà mình gặp phải, chẳng hạn trước sức mạnh của tự nhiên, những vấn đề khó khăn trong xã hội, thậm chí, con người còn sợ chính bản thân mình Theo ông, có
ba điều làm cho con người “sợ hãi” Đó là, thứ nhất, con người “sợ thiên
nhiên”, ví dụ “có thể bị sét đánh, hoặc bị chôn sống trong một cuộc động đất”;
thứ hai, con người “sợ người khác”, chẳng hạn, trên chiến trường, địch có thể
Trang 24giết mình được; thứ ba, con người “sợ ngay những đam mê của chính mình,
những đam mê có khi mãnh liệt quá, có thể thúc đẩy mình làm những điều mà sau khi bình tĩnh lại rồi, mình sẽ ân hận” [Dẫn theo 27, tr.33-34 ] Do những
lẽ đó, con người luôn sống trong cảnh sợ hãi, và chính tôn giáo giúp cho con người bớt lo sợ đi
Trong tác phẩm “Tại sao tôi không phải là một tính đồ Thiên chúa
giáo” (1957), B Rátxen đã lý giải tại sao ông từ bỏ Thiên chúa giáo B
Rátxen đưa ra hai lý do làm ông không tin vào Thiên chúa giáo: thứ nhất, ông không tin vào sự tồn tại của Thượng đế và sự bất tử của Ngài; thứ hai,
ông không tin vào sự tồn tại của Chúa như một người khôn ngoan và sáng suốt nhất
Với câu hỏi về sự ra đời của Chúa như thế nào? Hay đi tìm nguyên nhân, lý do đầu tiên làm xuất hiện thế giới, có nghĩa là bảo vệ quan điểm cho rằng mọi cái mà chúng ta thấy trên thế giới này đều có nguyên nhân và như vậy buộc chúng ta phải trở lại một chuỗi các nguyên nhân và trở về với nguyên nhân đầu tiên, - đó là thế giới này ra đời do chủ ý của Chúa (give the name of God” Từ đây, B Rátxen đã chứng minh ngược lại để phủ nhận sự ra đời của Chúa, phủ nhận vai trò sáng thế của Chúa B Rátxen cho rằng: “Nếu mọi cái ra đời đều phải có nguyên nhân thì Chúa cũng phải có nguyên nhân Nếu mọi cái đều tồn tại không có nguyên nhân thì Chúa cũng tồn tại trên thế giới mà không có nguyên nhân” [Xem 60, tr 15] Ông viết tiếp: “Nếu trả lời rằng Chúa sáng tạo ra thế giới là chỉ vì ý muốn của mình, không vì một lý do nào khác, như vậy, đã chỉ rõ rằng, có một cái gì đó không bị quy luật chi phối, vậy là cái chuỗi quy luật tự nhiên bị phá vỡ Và nếu trả lời như những nhà thần học chính thống rằng, tất cả những quy luật mà Chúa đã định trước, có một nguyên nhân để quy định chúng như thế và không thể khác được như vậy là bản thân Chúa cũng phải tuân theo quy luật Và thực tế là phải thừa
Trang 25nhận một quy luật tồn tại độc lập với những sự sắp xếp của Chúa và có trước
sự sắp xếp đó” [Xem 60, tr 17]
Chính vì những quan niệm như vậy về tôn giáo mà B Rátxen đã bị lên
án kịch liệt từ phía các Giáo hoàn, từ phía các tín đồ của Thiên Chúa giáo Thậm chí ông còn bị buộc thôi công việc giảng dạy tại đại học Caliphoócnia
và đại học NiuÓc khi một mục sư Tin lành lên tiếng công kích ông trên các
báo chí rằng: tại sao các học viện và các trường đại học lại “giao chức vị giáo
sư có trách nhiệm về triết học đối với thanh niên cho một người nổi tiếng về
sự tuyên truyền của ông ta chống tôn giáo và chống đạo đức”[Dẫn theo 2, tr
14] Và B Rátxen bị cho là không đủ tư cách để giảng dạy trong bất kỳ một trường đại học nào của nước Mỹ
Chúng ta đều biết rằng, B Rátxen không phải là một người mácxít, không có cảm tình với triết học Mác - Lênin và chủ nghĩa cộng sản Trong lĩnh vực triết học, ông là một trong những người sáng lập chủ nghĩa thực tại mới và chủ nghĩa thực chứng mới của Anh Đứng trên lập trường triết học mácxít, khi đánh giá các quan điểm của B Rátxen, các nhà nghiên cứu Liên
Xô cho rằng, B Rátxen đã trải qua một sự tiến hoá từ chủ nghĩa duy tâm khách quan sang chủ nghĩa duy tâm chủ quan trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Tuy nhiên, trong quan điểm về tôn giáo, ông được xem như một người bảo vệ những quan điểm vô thần và là kẻ thù của tôn giáo
Mặc dù khẳng định tôn giáo sẽ còn tồn tại cùng với loài người, nếu như vẫn còn những cuộc đại chiến làm cho nhân loại điêu đứng, nhưng B Rátxen cũng cho rằng, tôn giáo sẽ chết nếu các vấn đề xã hội được giải quyết Đó là những vấn đề, như: chiến tranh và hoà bình, chống phổ biến vũ khí hạt nhân
và vũ khí hoá học, nạn đói và thất học
1.2.2 Quan niệm về chiến tranh và hoà bình
Trang 26Trong lời mở đầu bộ “Tự truyện” được viết vào những năm cuối đời,
Béctơrăng Ratxen đã vạch ra những nét chính của cuộc đời mình như sau:
“Ba khát vọng bình thường nhưng không sao cưỡng lại được đã chi phối cuộc đời tôi, đó là: nhu cầu tình cảm, sự khao khát hiểu biết và nỗi day dứt gần như không chịu nổi vì những nỗi khổ đau của nhân loại ” Niềm vui và hạnh phúc mà B Rátxen tìm thấy ở “tình yêu”, “sự hiểu biết” dường như nâng bổng ông lên khỏi mặt đất, nhưng lòng xót thương nhân loại vì những nỗi khổ đau mà nó đang phải hứng chịu đã kéo ông trở lại với hiện thực phũ phàng Ông viết: “Những tiếng gào khóc đau khổ luôn vang dội trong thâm tâm tôi Những trẻ em đói khát, những nạn nhân bị áp bức, tra tấn, những người già không được chở che, cả một thế giới đau khổ, cô liêu như đang nhạo báng một cách tàn nhẫn cuộc sống lý tưởng Muốn hiểu chính cái xấu xa đó, tôi chỉ còn cách phải khổ đau vì nó” [Xem 62, tr 9]
Xuất phát từ lòng nhân đạo ấy, B Rátxen đã sớm lựa chọn cho mình con đường đấu tranh vì tự do và hoà bình, vì hạnh phúc của nhân loại Ông
đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh của nhân loại chống vũ khí hạt nhân và bom H Những năm cuối đời, ông đặc biệt quan tâm tới sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam Năm 1964, B Rátxen đã dẫn đầu đoàn đại biểu các nhà khoa học thế giới đến gặp đại sứ Mỹ ở Anh để đưa một bản tuyên bố với nhiều chữ ký, trong đó có cả những nhà bác học Mỹ nổi tiếng như L.Pôlinh, giáo sư Gi.Bécna - Chủ tịch Hội đồng hoà bình thế giới, nhằm phản đối chính sách xâm lược của giới cầm quyền Mỹ ở Việt Nam B Rátxen cũng là một trong những người sáng lập Toà án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam Chính vì những hoạt động chống chiến tranh một cách tích cực ấy của ông nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi “điện cảm ơn cụ Béctơrăng Rátxen” vì những “sáng kiến cao quý” của ông trong việc ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam [Xem 20, tr 306; Xem 21, tr 176, 262]
Trang 27Trong những thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, B Rátxen được đánh giá
là người phát ngôn lừng lẫy vào bậc nhất cho lẽ phải và chủ nghĩa nhân đạo,
là dũng sĩ đấu tranh cho tự do tư tưởng và tự do ngôn luận ở phương Tây Người ta biết đến ông với tư cách người người chiến sĩ tiên phong trong phong trào vì hoà bình thế giới nhiều hơn là những gì ông đóng góp cho khoa học
Dựa trên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong quan điểm của B Rátxen về chiến tranh và hoà bình, chúng tôi chia quá trình tiến triển quan điểm của ông về vấn đề này thành hai giai đoạn và làm rõ những đóng góp, hạn chế, cũng như những quan điểm dường như mâu thuẫn của ông trong từng giai đoạn lịch sử ấy
Giai đoạn thứ nhất, từ chiến tranh thế giới thứ lần thứ nhất cho đến
thời điểm kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1914 - 1945), - giai đoạn
B Rátxen bắt đầu bước vào hoạt động chống chiến tranh vì tự do và hoà bình
Ngay sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất vừa nổ ra vào tháng 7
năm 1914, B Rátxen đã cùng nhiều nhà khoa học Anh viết bản Tuyên ngôn
trung lập đăng trên tờ “Manchester Guardian” với nội dung kêu gọi Chính
phủ Anh nên giữ lập trường trung lập trong cuộc chiến tranh này Nhưng, khi Chính phủ Anh đứng về phe với Pháp tuyên chiến với Đức, thì những người bạn ông, những người trước đây cùng ông ủng hộ chủ trương hoà bình, trung lập, đã lại thay đổi lập trường Tất cả họ đều ủng hộ đường lối của Chính phủ Anh, xa lánh ông, thậm chí còn coi ông là một kẻ phản quốc Chính điều này
đã làm ông đau khổ, hoang mang cực độ và thấy cần phải xem xét lại những quan điểm trước đây của mình về bản tính con người Trước đây, ông cho rằng cha mẹ nào cũng yêu thương con cái; nhưng khi chiến tranh xảy ra, ông mới nhận thấy, vì lòng tự ái dân tộc, đa số cha mẹ đều lấy làm vinh dự khi con cái họ tham gia vào cuộc chiến tranh ấy mà không cần biết rằng chúng chỉ
đi làm bia đỡ đạn cho những kẻ khác, chiến đấu vì lợi ích của một “nhóm nhà
Trang 28chức trách”; Trước đây, ông vẫn nghĩ, hầu như ai cũng ham tiền bạc hơn mọi thứ khác, nhưng giờ đây, ông nhận thấy con người còn ham sự tàn phá hơn là ham tiền Ông tâm niệm rằng, nhà trí thức nào cũng tôn trọng sự thật, nhưng ông đã lầm, chỉ có 10 % trong số đó tôn trọng sự thật
Thực tiễn lịch sử đã cho B Rátxen thấy rằng, chiến tranh giữa các dân tộc châu Âu chính là một cuộc nội chiến Trước chiến tranh, châu Âu còn là một cộng đồng hoà bình giữa các dân tộc và khi đó, nếu một người Anh mà giết một người Đức thì anh ta có thể bị treo cổ, nhưng khi chiến tranh xảy ra, một người Anh mà giết được một người Đức thì anh ta lại được coi là người anh hùng Chính vì vậy, ông tỏ ra rất tuyệt vọng khi những lời kêu gọi chống chiến tranh, vì tự do và hoà bình mà ông đưa ra không được Chính phủ và nhân dân Anh nói riêng, châu Âu nói chung ủng hộ Song không vì thế mà ông không ngừng đấu tranh cho tự do và hoà bình Cuộc chiến diễn ra ngày càng ác liệt, B Rátxen hoạt động càng hăng hái hơn để chống chiến tranh Ông đăng đàn diễn thuyết với mục đích thu hút thiện cảm của dân chúng đối với chủ trương hoà bình, trung lập của “Hội chống trưng binh” mà ông là người sáng lập và làm Chủ tịch Ông còn tham gia in truyền đơn phản đối Chính phủ Anh vì đã bỏ tù những người chống chiến tranh và viết bài đăng trên các báo và tạp chí để phản đối chính sách tham chiến của Chính phủ Anh Vì những hoạt động đó mà ông đã bị nghi ngờ là kẻ làm tay sai cho Đức
và sau đó ông bị chính phủ Anh tống giam sáu tháng Khi ông được ra tù, thì
đó cũng là lúc chiến tranh thế giới thứ nhất đang đi vào hồi kết
Chiến tranh kết thúc, B Rátxen nhận thấy những hoạt động chống chiến tranh, phản đối chính phủ của ông không mang lại lợi ích gì cho nước Anh và châu Âu Ông không cứu được một người nào thoát chết, không rút ngắn chiến tranh được một ngày nào, không làm được gì cho Hoà ước
Trang 29Vécxây(1) bớt đi những điều khoản nặng nề đối với nước Đức Theo ông, chính Hoà ước này đã gây nên nỗi oán thù của dân tộc Đức và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến chủ nghĩa phát xít Đức và chiến tranh thế giới thứ hai sau này Cái duy nhất mà B Rátxen đạt được là ông hiểu thêm về chính mình, là lương tâm ông được thanh thản vì không tham gia vào cuộc chiến tranh phi nghĩa này
Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, khi nhận thấy nguy cơ chiến tranh thế giới đang dần dần tái xuất hiện ở châu Âu, B Rátxen đã viết tác phẩm
Làm thế nào để có hoà bình, trong đó ông vẫn giữ lập trường chống chiến
tranh như trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất Ông lại đề nghị chính phủ Anh không tham chiến, còn nhân dân Anh nên chống lại sự trưng binh của Chính phủ Quan điểm này của ông lúc đó tỏ ra không phù hợp với thực tế đã thay đổi
Khi Đức tấn công Ba Lan (9-1939) và chiến tranh thế giới thứ hai bùng
nổ, B Rátxen nhận thấy rõ sự tàn bạo trong tham vọng quyền lực muốn làm
bá chủ thế giới của Hítle và nguy cơ cả nhân loại trở thành nô lệ của Hítle nếu nước Đức thắng trận Trước tình hình đó, ông đã thay đổi lập trường và kêu gọi Chính phủ Anh hãy đứng về phe Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít
Nếu trước đây B Rátxen hoạt động mạnh mẽ chống chiến tranh, thì bây giờ ông lại kêu gọi ủng hộ chiến tranh Phải chăng ông tự mâu thuẫn với
chính mình? Sở dĩ, ở B Rátxen có sự thay đổi lập trường như vậy, bởi thứ
nhất, ông cho rằng, trong chiến tranh có “chiến tranh chính nghĩa và chiến
tranh phi nghĩa” Theo ông, chiến tranh chính nghĩa là những cuộc chiến tranh của một nước chống lại sự “xâm lược” của một nước khác Ngược lại, những
kẻ đi xâm lược là những kẻ thực hiện chiến tranh phi nghĩa, chẳng hạn như, vào “thế kỷ XVIII, chúng ta thấy nhiều ông vua xua quân ra chiến trường mà
(1)
Theo Hoà ước được ký ngày 28-6-1919, Đức phải chuyển giao nhiều vùng lãnh thổ và từ bỏ tất cả thuộc địa của mình cho các nước thắng trận, giải trừ quân đội, cấm sản xuất các phương tiện chiến tranh, bồi
Trang 30chẳng có lý do gì chính đáng cả, chỉ để tìm danh dự và vinh quang” [Xem 27, tr.45] Sang thế kỷ XX, chiến tranh vì danh dự và tìm kiếm vinh quang dần nhường chỗ cho những nguyên nhân kinh tế; Ông cho rằng những nguyên nhân kinh tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong những cuộc chiến tranh
hiện đại Thứ hai, B Rátxen cho rằng, chiến tranh thế giới thứ nhất là phi
nghĩa, chiến tranh thế giới thứ hai là chính nghĩa Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nếu nước Anh giữ lập trường trung lập thì nước Đức sẽ thắng trận, cuộc chiến sẽ sớm kết thúc Hơn nữa, triều đình Đức không “xấu xa, tàn ác” như người ta vẫn tuyên truyền, nước Đức gây chiến tranh chỉ nhằm một
số mục đích hạn chế, rõ ràng, chứ không phải là ý đồ chinh phục cả thế giới Nhưng trong chiến tranh thế giới thứ hai, nước Đức đã thay đổi bản chất, Hítle và chế độ Đức Quốc xã có ý định làm bá chủ thế giới Do đó, cả nhân loại cần phải ủng hộ các nước Đồng minh tham gia chiến tranh, tiêu diệt chủ nghĩa phát xít
Dĩ nhiên, trong quan điểm của B Rátxen về “chính nghĩa, phi nghĩa” của chiến tranh còn những điểm cần phải bàn thêm, nhưng qua cách lập luận của ông chúng ta hiểu sự thay đổi lập trường của ông về chiến tranh và hoà bình một cách rõ ràng hơn
Giai đoạn thứ hai, từ 1945 đến 1970 là giai đoạn mà B Rátxen hoạt
động mạnh mẽ nhất chống chiến tranh và đưa ra lời cảnh báo nhân loại về nguy cơ bị tận diệt bởi chiến tranh hạt nhân
Vào những năm 20, B Rátxen đã trở thành một trong số ít nhà khoa học đưa ra dự báo về khă năng chế tạo thành công vũ khí hạt nhân của nhân loại và sự bùng nổ chiến tranh hạt nhân Ông đã lên tiếng cảnh báo nhân loại
về nguy cơ đó, nhưng nhiều nhà khoa học và đại đa số dân chúng không tin chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, nguy
cơ chiến tranh hạt nhân ngày càng rõ ràng Khi đó, ở nước Mỹ, người ta đã
Trang 31nghiên cứu và chế tạo thành công vũ khí hạt nhân Trong những ngày cuối cùng của thế chiến thứ hai, Mỹ đã ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki của Nhật và trong giây lát đã phá huỷ hai thành phố này, khiến hàng trăm ngàn người thiệt mạng, hàng triệu người khác bị tàn phế hoặc nhiễm phóng xạ Chỉ khi đó, cả thế giới mới giật mình hoảng hốt trước sức tàn phá ghê gớm của vũ khí hạt nhân
Ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, B Rátxen đã trình bày trước Thượng viện Anh quan điểm của ông về nguy cơ của cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện Ông cho rằng, con người còn có thể chế tạo được những vũ khí hạt nhân mạnh gấp hàng trăm lần hai quả bom nguyên tử mà
Mỹ đã ném xuống Nhật Bản Nước Anh phải nhận thức được điều này, phải ngay lập tức tìm cách kiểm soát những vũ khí đó, dùng chúng vào mục đích hoà bình Nếu không, một khi cuộc chạy đua chế tạo vũ khí hạt nhân xảy ra, con người khó có thể ngăn chặn và kiểm soát được Những quan điểm của ông đã được hoan nghênh nhiệt liệt, nhưng cuối cùng, Thượng viện Anh vẫn không có một hành động ủng hộ nào cả
Trong khi Liên Xô còn chưa chế tạo được vũ khí hạt nhân, B Rátxen cùng các nhà khoa học đã kêu gọi Mỹ, Anh và những nước khác ngăn chặn chương trình thí nghiệm chế tạo vũ khí hạt nhân của Liên Xô Ông đề nghị một giải pháp hoà bình là nước Mỹ huỷ bỏ những quả bom nguyên tử đã chế tạo, nước Anh từ bỏ ý định chế tạo vũ khí hạt nhân và đổi lại, Liên Xô phải dừng thí nghiệm chế tạo bom nguyên tử Đề nghị của ông đã không được chấp nhận cả từ hai phía và hậu quả là thế giới phải đương đầu với cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân Khi nhận thấy Liên Xô sẽ chế tạo thành công vũ khí hạt nhân và họ không bao giờ chịu dừng lại nếu chưa đuổi kịp Mỹ, B Rátxen
đã thay đổi lập trường Ông đề nghị Mỹ, Anh và các nước phương Tây tấn công Liên Xô trước khi nước này kịp chế tạo bom nguyên tử, buộc Liên Xô
Trang 32phải từ bỏ kế hoạch chế tạo vũ khí hạt nhân Nhưng quan điểm táo bạo này của B Rátxen không thuyết phục được các nhà cầm quyền Mỹ, Anh Liên Xô vẫn tiếp tục chế tạo và cho nổ thành công quả bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1949 B Rátxen biết rằng, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân đã bắt đầu, tai hoạ nguyên tử ngày càng tăng và ông đã từ bỏ ý định kêu gọi tấn công Liên Xô, bởi theo ông, nếu chiến tranh hạt nhân xảy ra, cả thế giới sẽ bị tiêu diệt
B Rátxen luôn đứng trên lập trường chống chiến tranh vì hoà bình nhưng có những thời điểm ông lại kêu gọi, ủng hộ chiến tranh Sở dĩ ở ông có
sự thay đổi như đã phân tích ở trên là bởi, ông không chủ trương phải giữ hoà bình bằng bất cứ giá nào, mặc dù B Rátxen luôn cho rằng, “trong chiến tranh không có vấn đề nào quan trọng bằng vấn đề hoà bình” Theo ông, trong một
số trường hợp cần thiết, người ta phải cần tới chiến tranh để bảo vệ hoà bình, nếu không sự nguy hại còn lớn hơn
B Rátxen biết rằng, những quan điểm của ông không giúp ích gì cho việc hạn chế phát triển vũ khí hạt nhân ở các nước Mỹ, Anh, Liên Xô Khi cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân đã trở thành hiện thực, ông hoạt động ngày càng tích cực hơn nhằm chống chiến tranh hạt nhân có thể xẩy ra bất cứ lúc nào Ông dùng mọi phương pháp có thể làm, từ diễn thuyết, viết báo, kêu gọi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm cảnh báo nhân loại rằng, nếu chúng ta muốn thì tiền đồ của nhân loại là một sự tiến bộ liên tục tới hạnh phúc, khoa học và sự minh triết Hay là, chúng ta muốn tận diệt vì không thể quên được những nỗi bất bình đối với nhau? Nhân loại nên nhớ nhân tính, tình người của mình mà quên mọi cái khác đi, nếu không, thế giới chỉ còn đợi ngày tận diệt sẽ xảy ra mà thôi [Xem 15, tr 98]
Năm 1955, B Rátxen đưa ra sáng kiến mời những nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới không phân biệt ý thức hệ, cùng nhau ký tên vào bản
Trang 33“Tuyên ngôn Anhxtanh – Rátxen”(2) Nội dung cơ bản của tuyên ngôn này nói
về những nguy hại của chiến tranh hạt nhân và khẳng định “trong một cuộc chiến hạch tâm, không phe nào có hy vọng thắng được, mà sẽ có nguy cơ tận diệt nhân loại vì những bụi phóng xạ Công chúng và ngay cả những nhà cầm quyền trên thế giới cũng không được cảnh báo rõ về nguy cơ đó Dù hai phe
có thoả thuận với nhau việc cấm dùng các vũ khí hạch tâm, thì vấn đề vẫn chưa được giải quyết thực sự vì khi có chiến tranh lớn, hai bên sẽ bất chấp những thoả ước đã ký mà chắc chắn vẫn tiếp tục sản xuất những thứ vũ khí
đó Chỉ còn một niềm hy vọng cho nhân loại là làm cách nào tránh được chiến tranh Gợi một số suy tư để tránh chiến tranh, đó là mục đích của tuyên ngôn này ” [Dẫn theo 15, tr.101]
Cùng với tuyên ngôn trên, sự thành công của hội nghị năm 1957 giữa các nhà khoa học của Nga, Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Anh, Nhật đã dẫn đến
thoả thuận lập nên ba Uỷ ban: Uỷ ban nghiên cứu những nguy hại của năng
lượng nguyên tử, Uỷ ban nghiên cứu kiểm soát các loại vũ khí hạt nhân, Uỷ ban về trách nhiệm của các nhà khoa học trong các công việc thử bom nguyên tử Kết quả đạt được là điều ước cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân trên
mặt đất trong thời bình giữa các nước có vũ khí hạt nhân đã được ký kết Nhưng B Rátxen không thoả mãn với kết quả đó Theo ông, điều ước đó chỉ làm giảm được một chút nguy hại của chất phóng xạ, chỉ ngăn cản chứ không giúp gì cho nhân loại trên con đường loại bỏ vũ khí hạt nhân
Tiếp tục vận động đòi các nước huỷ bỏ vũ khí hạt nhân, năm 1959, B
Rátxen viết tác phẩm Lương tri nhân loại và chiến tranh hạt nhân và dẫn đầu
các đoàn biểu tình ở công viên Trafalgar yêu cầu Bộ quốc phòng và chính phủ Anh huỷ bỏ chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân Ông kêu gọi mọi người
(2)
Bản tuyên có chữ ký của mười nhà khoa học nổi tiếng lúc đó: Einstein, Joliot Curie, Roblat, Muller, Ma x Born, Linus Pauling Trong đó, nhà bác học Nga Skbeltsyine viết thư tán thành nhưng không ký tên trên bản
Trang 34không tuân theo lệnh của Chính phủ Anh, một chính quyền mà theo ông, toàn bọn “sát nhân” Ông nói: “ Tôi không muốn tuân lệnh một chính quyền đang
tổ chức sự tàn sát toàn thể nhân loại Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để chống những chính quyền như vậy ” Chính vì điều này mà B Rátxen
đã bị đưa ra toà vì tội hô hào quần chúng không tuân theo chính quyền
B Rátxen đã dùng nhiều cách để thức tỉnh nhân loại chống lại việc sử dụng vũ khí hạt nhân, đấu tranh đòi chính phủ Anh và các nước Âu, Mỹ có vũ khí hạt nhân loại bỏ thứ vũ khí này Nhưng hầu hết các hoạt động của ông trong cuộc đấu tranh chống phổ biến, chạy đua vũ khí hạt nhân đều không thành công Cuối cùng, ông thú nhận: “Tôi đã tận lực để bỏ thêm trái cân nhỏ của tôi vào bàn cân mà làm cho cán cân chúc về phía hy vọng, nhưng chỉ là một sự gắng sức yếu ớt để chống lại những sức mạnh ghê gớm Mong rằng, các thế hệ sau sẽ thành công trong cái việc mà thế hệ tôi đã thất bại” [Dẫn theo 15, tr.125]
Mặc dù thất bại trong cuộc đấu tranh chống thử và sản xuất vũ khí hạt nhân, nhưng B Rátxen vẫn hoạt động không biết mệt mỏi chống chiến tranh nói chung, ủng hộ, bênh vực những nước “nhược tiểu”, chống những cuộc chiến tranh phi nghĩa Ông đặc biệt quan tâm tới cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và đánh giá “Việt Nam đã trở thành một tượng trưng của sự chống cự lại một chế độ bóc lột thế giới Nhân dân Việt Nam đang tiến hành một cuộc đấu tranh đặc biệt: một nước công nghiệp mạnh nhất trên quả đất đã trút hết lực lượng của nó nhằm xâm chiếm một nước nhỏ nông dân, mà nước nông dân này đang giành được thắng lợi với những vũ khí thô sơ và với một quyết tâm tất thắng Bởi vậy, sự thất bại quân
sự của Mỹ ở Việt Nam sẽ là sự thắng lợi của chính nghĩa trên thế giới và cũng là một bước tiến của phong trào hoà bình ” [Xem 20, tr.506] Cho đến lúc mất, trên bàn viết của B Rátxen vẫn còn những bức thư và bài báo ông đang viết dở về Việt Nam
Trang 35Với trí tuệ siêu việt, suốt nửa thế kỷ XX, B Rátxen là trung tâm chú ý của công luận Ông luôn chăm chú theo dõi tình hình về mọi mặt ở khắp nơi trên thế giới, sẵn sàng xung trận vì tự do, hoà bình, hạnh phúc của nhân loại Trước khi mất, B Rátxen đã để lại cho nhân loại một thông điệp chứa đựng lòng nhân đạo cao cả:
Nhờ tri thức, con người có những khả năng mà trước kia nhân loại không có Con người có thể dùng những khả năng đó cho cái thiện cũng như cho cái ác Con người sẽ dùng những khả năng cho cái thiện, nếu họ nhận thức được tình huynh đệ của mọi người và hiểu được rằng, chúng ta có thể sung sướng cùng nhau hoặc khổ sở cùng nhau Thời đại hiện nay không còn
là cái thời mà một thiểu số may mắn có thể sống trên sự khốn cùng của đại chúng nữa Hết rồi, chúng ta phải nhìn nhận, chấp nhận hạnh phúc của người láng giềng, nếu như muốn mình cũng được hạnh phúc Một sự giáo dục thông minh làm cho cá nhân nhận thấy một cách tự nhiên rằng, hạnh phúc của người khác là điều kiện cốt yếu cho hạnh phúc của chính mình Đôi khi nhìn về tương lai, tôi tưởng tượng một xã hội toàn những người tự do, khoẻ mạnh, thông minh, không ai áp bức ai và cũng không bị ai áp bức Một thế giới toàn những người có ý thức, nhận định được rằng nên hưởng chung với nhau hơn
là kẻ nọ tranh giành với người kia; một thế giới mà mọi sự gắng sức đều hướng
về một công trình tuyệt đẹp do trí tuệ và óc tưởng tượng của con người tạo nên Nếu loài người muốn thì một thế giới như vậy có thể có được Và nếu một ngày nào đó, nó trở thành hiện thực, thì sẽ là một thế giới vinh quang hơn, rực rỡ hơn, sung sướng hơn tất cả các thế giới đã có từ trước đến nay [Dẫn theo 15, tr.108, 109]
Tóm lại, B Rátxen là một trong những nhà tư tưởng uyên bác của thế
kỷ XX Trong các lĩnh vực toán học, lôgíc học, bản thể luận, nhận thức luận triết học ông đều có những đóng góp kiệt xuất và có ảnh hưởng quan trọng tới các nhà triết học trong thế kỷ XX Không chỉ dừng lại ở đó, những hoạt động
Trang 36chính trị, xã hội, chống chiến tranh của B Rátxen cũng đóng một vai trò quan trọng cho phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc, đấu tranh cho tự
do và bình đẳng trên thế giới
Ảnh hưởng lớn nhất của B Rátxen tới giới tư tưởng đương đại là thuyết
“nguyên tử lôgíc” bởi nó được coi là “những sáng tạo mới mang tính chất bước ngoặt của thời đại” [Xem 23, tr.303]
Mặc dù một số quan điểm cụ thể của B Rátxen đã bị sự phát triển của
tư tưởng đương đại vượt qua, nhưng ý nghĩa của những quan điểm đó vẫn còn
ảnh hưởng và tồn tại tới hiện nay thông qua một số phương diện như: Thứ
nhất, ông đã cải tạo lôgíc để giúp cho triết học giải quyết được nhiều vấn đề,
và yêu cầu đánh giá lại những tri thức mà nhân loại đã có được hoặc những
niềm tin đã được coi là chân thật Thứ hai, những học thuyết của B Rátxen
đã cung cấp cho “sự phân tích trào lưu tư tưởng” đương đại một điểm tựa hay một nền tảng Trong nền tảng đó, có nhiều ngành khoa học đã thông qua “sự phân tích ý nghĩa của mình” mà tìm được sức thúc đẩy và tiếp tục phát triển
Không chỉ có những đóng góp lớn về mặt bản thể luận và nhận thức luận triết học, B Rátxen còn có những đóng góp trong lĩnh vực khoa học xã hội, đặc biệt là trong những hoạt động xã hội
Những quan niệm của B Rátxen về tôn giáo đã thể hiện một quan điểm
vô thần nhất quán, chống lại mọi tôn giáo, đề cao vai trò của con người với khát vọng giải quyết vấn đề tôn giáo Và, đối với ông, tôn giáo sẽ mất đi khi những vấn đề trường cửu của loài người như chiến tranh, đói khát, thất học được giải quyết Đặc biệt, B Rátxen có đóng góp lớn trong những hoạt động chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế giới, chống sử dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật vào việc sản xuất bom nguyên tử để tận diệt loài người Những đóng góp của B Rátxen trong trong lĩnh vực hôn nhân và luân lý, giáo
Trang 37dục, tự do và dân chủ đều mang tính chất cách mạng trong thời đại ông, và cho đến, nay chúng vẫn còn giá trị khoa học và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc
CHƯƠNG 2
QUAN NIỆM CỦA BÉCTƠRĂNG RÁTXEN
VỀ “QUYỀN LỰC”
2 1 QUYỀN LỰC - VAI TRÕ VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA QUYỀN LỰC
2.1.1 Vấn đề quyền lực trong lịch sử triết học phương Tây
Vấn đề quyền lực được các nhà triết học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử triết học Cho đến nay, nó vẫn còn là một đề tài thu hút sự chú ý không chỉ các nhà triết học, mà còn cả các chuyên gia thuộc nhiều ngành khoa học xã hội khác, như chính trị học, tâm lý học, xã hội học, sử học,
Thời kỳ cổ đại, Arixtốt (384 - 322 TCN), trong tác phẩm “Chính trị
Aten”, đã nghiên cứu quyền lực dưới góc độ những đặc điểm cơ bản của nó
Theo ông, quyền lực không chỉ là cái vốn có của mọi sự vật biết cảm giác, mà của cả giới tự nhiên vô cơ Ông cho rằng nhà nước, quyền lực nhà nước xuất hiện một cách tự nhiên; quyền lực nhà nước được hình thành do lịch sử, được phát triển từ gia đình, công xã và là một hình thức tổng thể, hoàn thiện nhất
Trang 38trong quan hệ giữa người với người nhằm mục đích tối cao là liên kết mọi người để đạt tới một cuộc sống tốt đẹp nhất
Xixêrôn (106 - 43 TCN) cũng cho rằng, “tổ chức quyền lực là tất yếu,
nó bắt nguồn từ bản chất con người - chạy trốn sự cô đơn và khao khát cuộc sống cộng đồng xã hội Nó không sinh ra bởi cá nhân người thực hành nó mà bởi nhân dân” [Dẫn theo 31, tr.76]
Thời kỳ Trung cổ, “quyền lực Thượng đế” được các nhà thần học đưa lên vị trí hàng đầu, còn loài người chỉ được xem là cái “phái sinh” từ quyền
lực của Thượng đế Thời kỳ này phải kể đến tư tưởng về quyền lực của S Ôguýtxtanh (354 - 430) và Tômát Đacanh (1225 -1274)
Quan niệm của Ôguýtxtanh về nguồn gốc và bản chất của quyền lực trong xã hội được đánh giá là có sự phát triển cao hơn Arixtốt và Xixêrôn Ôguýtxtanh đi từ khẳng định “con người do bản chất tự nhiên cần đến một xã hội” đến khẳng định “xã hội cần đến một quyền uy”, cần đến hai yêu cầu hay
hai phẩm chất quan trọng của quyền lực Một là, “quyền lực là sở hữu chung của cả cộng đồng xã hội” và, hai là, “sứ mệnh của quyền lực là làm cho sự
công bằng ngự trị, không có công bằng, quyền lực trở nên sai lạc” [Xem 31,
tr.81]
Đứng trên lập trường triết học duy tâm, T Đacanh cho rằng, quyền lực tối cao là quyền lực Thượng đế Nhà nước sinh ra là tất yếu trong bản thân xã hội chứ không phải sinh ra từ một quyền lực nhân loại nào khác cao hơn nó
Thời kỳ cận đại, các nhà không tưởng và các nhà bách khoa đã đặt vấn
đề xác lập “quyền lực tư sản” Nhưng, trong các tác phẩm của mình, họ chủ yếu nhấn mạnh quyền lực nhà nước và xem nhà nước như là “vương quốc của
lý trí” Trong thời kỳ này, tư tưởng của J.Lốccơ (1632-1704), S.L.Môngtexkiơ (1689-1755), J.Rútxô (1712-1778) về quyền lực và nhà nước
Trang 39đã có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất không chỉ đến chính trị, xã hội thời bấy giờ,
mà còn đến các thể chế chính trị hiện đại sau này
J.Lốccơ đã xuất phát từ “quyền tự nhiên của con người” - quyền sống,
quyền tự do, quyền sở hữu để xây dựng quan niệm của mình về quyền lực Theo ông, đó là những quyền tối cao, bất khả xâm phạm Chính vì đây là những quyền “tự nhiên thiêng liêng” nên cần thiết phải được bảo vệ bằng cách: mọi thành viên trong xã hội cùng “ký kết” để xây dựng nên một chính quyền Chính quyền đó là cơ quan quyền lực chung, chức năng đầu tiên của
nó là bảo vệ những quyền tự nhiên thiêng liêng của mỗi con người Điểm quan trọng và đáng chú nhất trong quan điểm của J.Lốccơ là những kết luận
của ông về quyền lực Ông cho rằng, thứ nhất, “quyền lực nhà nước, về bản
chất, là quyền lực của dân” Quyền lực của dân là cơ sở, là nền tảng của quyền lực nhà nước Trong quan hệ với dân, về bản chất, nhà nước không có
quyền mà chỉ là thực hiện sự uỷ quyền của dân Thứ hai, “nhà nước - xã hội
chính trị - xã hội công dân, thực chất là một “khế ước xã hội”, trong đó, các công dân nhượng một phần quyền của mình để hình thành quyền lực chung - quyền lực nhà nước” Nhà nước với quyền lực chung đó điều hành, quản lý xã
hội nhằm bảo toàn những quyền tự nhiên của mỗi cá nhân công dân Thứ ba,
bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người - đó là tiêu chí căn bản để xác định giới hạn và phạm vi hoạt động của nhà nước Đi quá giới hạn này, chính quyền dễ trở thành chuyên chế, thành kẻ thù của tự do, thành đối tượng của cách mạng [Xem 31, tr.88 - 89]
Trong thế kỷ XVIII, người bàn nhiều về quyền lực J.Rútxô (J
Rousseau 1712-1778) Trong tác phẩm nổi tiếng “Bàn về khế ước xã hội”
(1762), J.Rútxô đã phân tích và chứng minh rằng, xã hội loài người không thể sống trong một trạng thái tự nhiên vô chính phủ, bởi nó sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng giữa người giầu và người nghèo Vì vậy, theo ông, mọi người cần phải
Trang 40biết tự giác ký kết với nhau một “khế ước”- nhượng bớt một số tự do, một số
quyền lực của cá nhân cho nhà nước để có được sự bảo đảm về an ninh, về quyền tư hữu và những quyền cá nhân khác của mình
J.Rútxô là một trong những người đầu tiên xem xét khái niệm “quyền
lực” J.Rútxô phân chia khái niệm “quyền lực” thành khái niệm “quyền” và
“lực” Theo ông, “lực là một sức mạnh vật lý Chịu theo lực là một cử chỉ
bắt buộc chứ không phải tự nguyện” Còn nói đến “quyền”, ông cho rằng,
“quyền chỉ là một hệ quả của một thứ khái niệm mơ hồ mà thôi Nói lực tạo ra quyền là không đúng” Bởi vì, theo ông, khi mà lực thứ hai mạnh hơn lực thứ nhất thì tự nó sẽ vượt lên mà nắm lấy quyền, và nếu người ta đã phải phục tùng theo lực thì không cần phục tùng theo quyền nữa và khi người ta không
bị lực ép thì cũng không cần phải phục tùng nó nữa Từ đó, J Rútxô đến kết luận: “Chữ quyền không thêm gì cho chữ lực cả Chữ “quyền” không có nghĩa gì hết” [Dẫn theo 26, tr.33]
Đến thế kỷ XIX, Nítsơ (Friedrich Wilhelm Nietzsche 1844-1900) - đại biểu của chủ nghĩa duy ý chí Đức - cũng đã bàn về quyền lực Trong tác phẩm
“Ỳ chí giành quyền lực” Nítsơ đã đưa ra đề nghị: cuộc sống phải được lý giải
bằng khái niệm “khát vọng quyền lực” Ông coi ý chí quyền lực là ý chí tự thân của con người không ngừng cải thiện, mở rộng, vươn lên trong cuộc sống, vì vậy, nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi theo đuổi quyền lực chính trị Nítsơ cho rằng, ý chí quyền lực quyết định mọi vấn đề trong cuộc sống của con người, từ các loại nhu cầu tối thiểu đến hoạt động thần kinh cao cấp nhất đều là biểu hiện của ý chí quyền lực Theo ông, “ý chí quyền lực phân hoá thành ý chí đi tìm cái ăn, ý chí đi tìm tài sản, ý chí đi tìm công cụ ý chí
rèn luyện, ý chí đồng hoá, v.v ” [Dẫn theo 3, tr.162]