1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của Nho giáo về đạo làm người và ảnh hưởng của nó trong Quốc triều hình luật

102 974 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

6 Chương 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI CỦA NHO GIÁO .... Những chuẩn mực cơ bản về Đạo làm người trong tư tưởng của Nho giáo .... Ảnh hưởng của tư tưởng Nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

  

-LÊ THI ̣ THƠM

QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ

ĐẠO LÀM NGƯỜI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ

TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU… 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn 5

4 Cơ sở lý luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn 6

6 Ý nghĩa của Luận văn 6

7 Kết cấu củ a Luâ ̣n văn 6

Chương 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI CỦA NHO GIÁO 7

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng đối với sự hình thành tư tưởng về đạo làm người của Nho giáo 7

1.2 Những chuẩn mực cơ bản về Đạo làm người trong tư tưởng của Nho giáo 12

1.3 Một số phương thức chủ yếu thực hành đạo làm người theo tư tưởng Nho giáo 40

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI CỦA NHO GIÁO TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 48

2.1 Hoàn cảnh ra đời, kết cấu và nội dung khái quát của Quốc triều hình luật 48

2.2 Những chuẩn mực về đạo làm người theo tư tưởng Nho giáo thể hiện trong Quốc triều hình luật 70

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .98

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nho giáo nói chung và học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo nói riêng ra đời ở Trung Quốc và đã có mă ̣t ở Viê ̣t Nam từ hàng ngàn năm Quá trình du nhập , tồn ta ̣i và phát triển của nó ở nơi đây gắn với nhiều biến cố , thăng trầm của xã hội phong kiến Việt Nam Có thời kì người Việt xa lánh, phản ứng, chống la ̣i nhưng cũng có thời kì người Việt chủ động, tích cực tiếp nhận Nho giáo và trọng dụng các nhà Nho Mă ̣c dù, học thuyết Nho giáo ở Việt Nam có những lúc thăng - trầm, thịnh – suy, mỗi thời mỗi khác nhưng không thể phủ nhâ ̣n rằng , nó đã thấm sâu vào đất Viê ̣t, trong tình cảm, trong mọi mặt của đời sống xã hội người Viê ̣t Nam

Ở Việt Nam ngày nay , cùng với quá trình chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội , có thể nói rằng , cơ sở kinh tế - xã hội của Nho giáo về cơ bản đã không còn tồn ta ̣i , nhưng Nho giáo không hoàn toàn mất đi Với

tư cách là một bộ phận của ý thức xã hội, Nho giáo vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng và có vai trò nhất đi ̣nh đối với xã hội, con người Việt Nam hiê ̣n đa ̣i Với Nho giáo, người

ta sẽ tìm thấy nhiều nô ̣i dung và giá trị tích cực về mặt đạo đức đến nay vẫn còn có ý nghĩa sâu sắc , đă ̣c biê ̣t là những giá tri ̣, những chuẩn mực đạo đức cơ b ản về đa ̣o làm người Hơn nữa, với hê ̣ thống chuẩn mực đạo đức của đạo làm người này nếu đươ ̣c nhâ ̣n thức và vận dụng trên cơ sở cải ta ̣o, phát triển sẽ không chỉ góp phần xây dựng, hoàn thiện đạo đức cho mỗi cá nhân và xã hội mà cò n giúp cho mỗi người nhâ ̣n rõ trách nhiê ̣m của mình với gia đình , với xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo đi ̣nh hướng xã hội chủ nghĩa

Quốc triều hình luật là bộ luật mang tầm vóc lớn trong lịch sử pháp luật Viê ̣t

Nam thờ i phong kiến, nó không chỉ được đánh giá cao về mặt lập pháp mà còn chứa đựng giá tri ̣ về nhiều mă ̣t Là bộ luật tiếp thu trực tiếp tư tưởng của Nho giáo trên

tinh thần dân tô ̣c sâu sắc , Quốc triều hình luật là sản phẩm và là biểu hiện của sự

kết hơ ̣p giữa đường lối “pháp tri ̣” và đường lối “đức tri ̣”, lấy pháp luâ ̣t làm căn cứ để cai quản đất nước, nhưng pháp luâ ̣t đó lại được xây dựng trên cơ sở đạo đức Nho giáo và tinh thần , truyền thống nhân ái , nhân văn của dân tô ̣c Do đó, viê ̣c nghiên cứu tư tưởng về đạo làm người của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong triều đại Lê

Trang 4

sơ, đă ̣c biê ̣t là trong Quốc triều hình luật sẽ cho ta thấy không chỉ ảnh hưởng và vai

trò của Nho giáo đối với việc xây d ựng và thực thi của bộ luật mà còn góp cho chúng ta nhận thức rõ hơn , đầy đủ hơn những giá t rị nổi bật của bộ luật này để trên

cơ sở đó, góp phần vào việc xây dựng , hoàn thiện nhà nước pháp qu yền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trong ho ̣c thuyết chính trị - xã hội, đạo đức của Nho giáo , những quan điểm về đạo làm người là một trong những nội dung chủ yếu, có vị trí rất quan tro ̣ng Tuy nhiên, từ trước đến nay, những nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn của chúng tôi chỉ được trình bày đan xen với nhiều nội dung khác , mang tính khái quát hóa cao, cho nên tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người đối với từ ng đối tươ ̣ng trong

xã hội chưa đươ ̣c trình bày mô ̣ t cách có hê ̣ thống Hơn nữa, quan niê ̣m về đạo làm người của Nho giáo đúng là đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhiều điều

luâ ̣t trong Quốc triều hình luật nhưng chưa có công trình cu ̣ thể nào nghiên cứu về

vấn đề này Vì vâ ̣y, theo chúng tôi, nghiên cứu những nô ̣i dung cơ bản của Nho giáo

về đạo làm người và ảnh hưởng của nó trong Quốc triều hình luật không chỉ dừng

lại ở việc để hiểu biết hơn về Nho giáo mà còn thấy được sự ảnh hưởng của nó đố i với xã hội Việt Nam thời phong kiến và vâ ̣n du ̣ng những giá tri ̣ tích cực của Nho

giáo, của bộ Quốc triều hình luật vào việc xây dựng , hoàn thiện đạo đức con người

Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ những vấn đề trên , trong khuôn khổ c ủa một Luận văn Thạc sĩ

khoa ho ̣c Triết ho ̣c, chúng tôi xin chọn vấn đề : “Tư tưởng của Nho giáo về đạo làm

người và ảnh hưởng của nó trong Quốc triều hình luật” làm đề tài nghiên cứu của

mình

2 Tình hình nghiên cứu

Nho giáo đã du nhâ ̣p và phát triển ở Việt Nam qua hàng ngàn năm li ̣ch sử , nó đã bám rễ bền chă ̣t và ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội và con người Việt Nam , đă ̣c biê ̣t là mă ̣t đạo đức Có thể nói, trong xã hội phong kiến Việt Nam thờ i Lê sơ, Nho giáo nói chung và học thuyết đạo đức của Nho giáo nói riêng với hê ̣ thống những chuẩn mực, những quy phạm đạo đức đã ảnh hưởng và có vai trò nổi bật đối với xã hội và con người Việt Nam so với các giai đoạn, thời kì khác Do vậy

Trang 5

mà, Nho giáo cùng ảnh hưởng và vai trò của nó trong thời Lê sơ đã thu hút sự nghiên cứu của nhiều người với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị Liên quan đến đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, có thể khái quát một số khía cạnh nghiên cứu với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau :

Thứ nhất, nghiên cư ́ u tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người:

Trần Tro ̣ng Kim trong tác phẩm “Nho giáo”, trên cơ sở trình bày khái quát

các giai đoạn phát triển của Nho giáo và quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam, đã bước đầu đưa ra những quan điểm của Nho giáo về đạo làm người Theo đó, đạo làm người là đa ̣o Nhân của người quân tử , là sự tôn kính người giữ quân quyền , là sự hiếu đễ với cha me ̣ , giữ chữ tín với bằng hữu… Tuy nhiên , với mu ̣c đích là nghiên cứu Nho giáo và sự phát triển của Nho giáo chỉ trong mô ̣t cuốn sách , cho nên hê ̣ thống những chuẩn mực , yêu cầu về đạo làm người của Nho giáo chưa được tác giả trình bày đầy đủ, chi tiết và chưa có hê ̣ thống Hơn nữa do bị chi phối bởi nhãn quan của một nhà Nho, do vậy còn một số quan điểm, sự nhìn nhận của tác giả về đạo làm người của Nho giáo trong cuốn sách này cần đươ ̣c nhìn nhâ ̣n nhiều chiều và thấu đáo hơn

Trong tác phẩm “Khổng Tử”, Nguyễn Hi ến Lê cũng dành hẳn một chương

để nêu lên những quan điểm về đạo làm người của Khổng Tử Tác giả không đưa ra khái niệm đạo làm người nhưng đã đưa ra những chuẩn mực cơ bản về đạo làm người theo quan niệm của Khổng Tử Theo đó, đức nhân, đạo nhân là chuẩn mực đạo đức cơ bản của người quân tử, là hình mẫu lý tưởng để người khác hướng đến

Trong cuốn sách “Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng

của nó ở Việt Nam (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIX )”, tác giả Nguyễn Thanh

Bình đã đưa ra và bước đầu luận giải một số chuẩn mực cơ bản của đạo làm người trong mô ̣t số mối quan hê ̣ cơ bản của con người theo quan điểm của Nho giáo Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích những ảnh hưởng to lớ n của Nho giáo đến viê ̣c hình thành đường lối trị nước của các triều đại phong kiến Việt Nam , đặc biê ̣t là triều đại phong kiến Lê sơ trong thời gian nhà vua Lê Thánh Tông trị vì (1460-1497)

Trang 6

Tác giả Nguyễn Thị Thọ trong “Quan niê ̣m của Nho giáo về đạo làm người”

(Tạp chí Triết học , số 4/2010, tr.47-53), đã làm rõ khái niệm đạo làm người , chỉ ra đạo làm người qua các mối quan hệ (với bản thân và với người khác ), đă ̣c biê ̣t là trong mối quan hệ vua - tôi và cha me ̣ - con cái

Kế thừa có cho ̣n lo ̣c những thành quả nghiên cứu của các ho ̣c giả trước đây về quan niệm đạo làm người của Nho giáo, luâ ̣n văn không chỉ dừng la ̣i ở viê ̣c khái quát đưa ra những chuẩn mực qui định chung mà còn phân tích và bước đầu đưa ra khái niệm chung nhất về đạo làm người, làm rõ tương đối đầy đủ đạo làm người của từng đối tượng người trong xã hội

Thứ hai, vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng đạo làm người của Nho giáo trong Quốc triều hình luật:

Quốc triều hình luật là bộ luật chứa đựng giá tri ̣ to lớn về mă ̣t lâ ̣p pháp và

lịch sử Nghiên cứu về bộ luật nói chung và những ảnh hưởng của Nho giáo đến bộ luật nói riêng đã có những công trình đề câ ̣p đến như sau:

“Quốc triều hình luật - Lịch sử hình thành , nội dung và giá tri ̣” do TS Lê

Thị Sơn chủ biên đã khảo cứu mọi khía cạnh của bộ luật dưới góc độ pháp luật : kĩ thuâ ̣t lâ ̣p pháp , các chế tài… Tác phẩm cũng đã phân tích các yếu tố hình thành

Quốc triều hình luật trong đó khẳng đi ̣nh vai trò , ảnh hưởng to lớn của Nho giáo

đến hầu hết các điều luật Đặc biệt, dưới góc đô ̣ nghiên cứu lâ ̣p pháp , tác phẩm đã đóng góp nhiều giá tri ̣ sâu sắc về các mối quan hệ vua - tôi, cha me ̣ - con cái…

Cuốn kỷ yếu Hô ̣i thảo quốc gia tổ chức ta ̣i Thanh Hóa : “Quốc triều hình luật

- Như ̃ng giá tri ̣ li ̣ch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” do Bô ̣ Tư pháp và UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức đã có nhiều bài tham

luâ ̣n liên quan đến đề tài Uông Chu Lưu trong tham luâ ̣n “Tư tưởng pháp tri ̣ kết

hợp với đức tri ̣ trong đạo tri ̣ quốc , an dân của vua Lê Thánh Tông” đã chỉ rõ đạo

đức của Nho giáo là yếu tố quan t rọng làm nên thành công trong đường lối trị quốc ,

an dân của Lê Thánh Tông Tham luâ ̣n “Quốc triều hình luật với viê ̣c bảo vê ̣ quyền

lợi người phụ nữ, trẻ em, người già yếu, cô đơn không nơi nương tựa” - Dương Thi ̣

Thanh Mai cho thấy Quốc triều hình luật là bộ luật chịu ảnh hưởng sâu sắc của

Trang 7

những tư tưởng Nho giáo song vẫn chi ̣u ảnh hưởng ma ̣nh mẽ của những giá tri ̣ đạo đức, truyền thống tốt đe ̣p của dân tô ̣c

Tác giả Nguyễn Minh Tuấn trong bài viết “ Những giá trị tích cực của Nho

giáo trong Bộ luật Hồng Đức” (Tạp chí Khoa học , Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i ,

Chuyên san Kinh tế - Luâ ̣t, số 4/2004, tr.39-44) đã chỉ ra sự ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo trong nhiều qui pha ̣m pháp luật của bộ luật , đă ̣c biê ̣t những quan niê ̣m của Nho giáo là hê ̣ tư tưởng nòng cốt để bộ luật điều chỉnh các mối quan hệ của con người trong gia đình và ngoài xã hội

Như vâ ̣y, Quốc triều hình luật đã có nhiều công trình nghiên cứu song chủ

yếu dưới góc độ lập pháp để hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Luâ ̣n văn kế thừa và tiếp thu kết quả của các ho ̣c giả trước đó , để nghiên cứu, phân tích sâu hơn và có hê ̣ thống những ảnh hưởng của Nho giáo n ói chung và

tư tưởng về đạo làm người của Nho giáo nói riêng đến viê ̣c hình thành Quốc triều hình luật

3 Mục đích và nhiệm vu ̣ nghiên cứu của Luâ ̣n văn

Mục đích: Mục đích của Luận văn là , thông qua viê ̣c nghiên cứu những nội

dung chủ yếu trong tư tưởng về đạo làm người củ a Nho giáo làm rõ ảnh hưởng của

nó trong Quốc triều hình luật

Nhiê ̣m vụ: Để đa ̣t được mu ̣c đích trên , Luâ ̣n văn tâ ̣p trung làm rõ những

nhiê ̣m vu ̣ chủ yếu sau:

- Những điều kiê ̣n , tiền đề chủ y ếu cho sự hình t hành và phát triển tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người

- Trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người

- Trình bày hệ thống những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về đạo làm

người thể hiện trong Quốc triều hình luật

4 Cơ sơ ̉ lý luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của Luâ ̣n văn chủ yếu dựa trên cơ sở lý luâ ̣n của triết ho ̣c Mác

- Lênin về xã hội và con người và kế thừa một số một số kết quả nghiên cứu ở một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trang 8

Phương pháp nghiên cứu của Luâ ̣n văn chủ yếu sử dụng phương pháp biê ̣n

chứng duy vâ ̣t của triết ho ̣c Mác - Lênin kết hợp với mô ̣t số phương pháp nghiên cứu khoa ho ̣c khác, như phương pháp lôgic và li ̣ch sử, phương pháp phân tích - tổng

hơ ̣p, phương pháp đối chiếu - so sánh,v.v

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Những nô ̣i dung và luận điểm chủ yếu trong tư tưởng

của Nho giáo về đạo làm người và ảnh hưởng của nó trong Quốc triều hình luật

Phạm vi nghiên cứu:

- Tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người qua một số tác phẩm của Nho

giáo (chủ yếu là Tứ thư) và một số tác phẩm khác của nhà Nho cũng như trong bộ

Quốc triều hình luật

6 Ý nghĩa của Luâ ̣n văn

Luâ ̣n văn phân tích có hệ thống những nội dung chủ yếu trong tư tưởng về

đạo làm người của Nho giáo và ảnh hưởng của những quan niệm đó trong Quốc

triều hình luật Ngoài ra , Luâ ̣n văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong vi ệc

giảng dạy, nghiên cứu, học tập về Nho giáo nói chung và Nho giáo Việt Nam nói riêng

7 Kết cấu cu ̉ a Luâ ̣n văn

Ngoài phần Mở đầu , Kết luâ ̣n, Danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , Nô ̣i dung của Luâ ̣n văn gồm 2 chương, 5 tiết

Chương 1 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng về đạo làm người của Nho

giáo, với 3 tiết

Chương 2 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về đạo làm người trong Quốc

triều hình luật, với 2 tiết

Trang 9

Chương 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG VỀ

ĐẠO LÀM NGƯỜI CỦA NHO GIÁO 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng đối với sự hình thành

tư tưởng về đạo làm người của Nho giáo

Nho giáo xét về mặt nội dung , tính chất và giá trị của nó chủ yếu là học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức xuất hiện ở Trung Quốc thời cổ đại do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập Với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng,

mô ̣t hình thái ý thức xã hội , Nho giáo nảy sinh, tồn ta ̣i và phản ánh mô ̣t cơ s ở hạ tầng, một tồn tại xã hội nhất định

Thời đại ra đời của Nho giáo với tư cách là mô ̣t hê ̣ thống được xác định là thời Xuân Thu - Chiến Quốc (770 - 221 TCN) Đây là thời kì suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ và hình thành chế độ phong kiến sơ kì Nghiên cứu nô ̣i dung, tính chất, tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người không thể không xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội, tiền đề tư tưởng của thời đại mà nó phát sinh, tồn ta ̣i

1.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội

Khi nghiên cứu đời số ng xã hội ở những giai đoa ̣n nhất đi ̣nh , triết ho ̣c Mác - Lênin đã khẳng đi ̣nh , “không phải ý thức của con người quyết đi ̣nh tồn ta ̣i của ho ̣ ; trái lại, tồn ta ̣i xã hội của ho ̣ quyết đi ̣nh ý thức của ho ̣” (dẫn theo 5, tr.433) Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng của mô ̣t thời đa ̣i li ̣ch sử nào đó , điều cốt lõi là chúng ta phải nắm rõ được tình hình kinh tế , chính trị, xã hội… của thời đa ̣i đó Nho giáo ra đời ở thời kì loa ̣n la ̣c, song như C.Mác đã từng khẳng đi ̣nh “… không thể nhâ ̣n đi ̣nh về mô ̣t thời đa ̣i đảo lô ̣n như thế căn cứ vào ý thức của thời đa ̣i đó Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất , bằng sự xung đô ̣t hiê ̣n có giữa các lự c lươ ̣ng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” (dẫn theo

5, tr.431) Dựa trên cơ sở lí luâ ̣n và phương pháp luâ ̣n của chủ nghĩa Má c - Lênin, nghiên cứu tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người, điều quan tro ̣ng và có ý nghĩa trong nghiên cứ u là phải chỉ ra và phân tích rõ tình hình kinh tế , chính trị - xã hội của thời Xuân Thu - Chiến Quốc - cơ sở hình thành tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người

Trang 10

Nền kinh tế với tư cách là cơ sở cho sự tồn tại của xã hội Trung Quốc thời bấy giờ đang có sự chuyển biến mạnh mẽ từ thời đại đồ đồng sang đồ sắt Việc xuất hiện và sử dụng rộng rãi công cụ lao động bằng sắt đã kéo theo nhiều biến đổi tích cực trong hoa ̣t đô ̣ng sản xuất của cải vâ ̣t chất của xã hội Nó không những góp phần mở rô ̣ng diê ̣n tích khai khẩn đất hoang , phát triển kỹ thuâ ̣t canh tác , “dẫn thủy nhâ ̣p điền”, góp phần nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp , mà trong thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng có bước chuyển đáng kể Trong thời kì này, ở Trung Quốc xuất hiện nhiều thành thị, nhiều trung tâm thương nghiệp, buôn bán nhộn nhịp ở các nước Hán, Tề, Tần, Sở… Những thành thị này có một cơ sở kinh tế tương đối độc lập, từng bước tách ra khỏi chế độ thành thị, thị tộc của quý tộc và dần trở thành những đơn vị, khu vực kinh tế của tầng lớp địa chủ mới lên Đây là mô ̣t nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính tra ̣ng xã tắc loa ̣n la ̣c , tình trạng trong thiên hạ “vua không ra vua, cha không ra cha , con không ra con” diễn ra phổ biến - mô ̣t bối cảnh

xã hội quan tro ̣ng đưa đến sự nảy sinh , hình thành các học thuyết chính trị - xã hội,

đă ̣c biê ̣t là ho ̣c thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, trong đó có tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người

Sự biến động trong lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng, tác động to lớn đến các mặt của lĩnh vực chính trị - xã hội, trước hết và rõ rệt nhất là đối với các hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai cấp của xã hội Về sở hữu ruô ̣ng đất, nếu như trước đây vào đầu thời Chu “Đất đai và thần dân ở khắp dưới gầm trời này không đâu không phải là sở hữu của nhà vua ” (45, tr.25) thì đến lúc này, cái quyền sở hữu tối cao (về đất và dân) của nhà Chu đã bị một tầng lớp người mới lên có tiền tấn công và chiếm lấy làm tư hữu Tình cảnh đó cũng diễn ra đồng thời với sự thay đổi ít nhiều cơ cấu các giai tầng trong xã hội Mối quan hệ trong nội bộ giai cấp thống trị, những quý tộc chủ nô, mà đại diện tiêu biểu của nó là thiên tử, chư hầu, khanh đại phu đã có sự thay đổi Một số người của giai cấp này bị sa sút về thế lực và trở thành thứ dân, số khác do tức thời, thấy phải thay đổi quan niệm và cách thức cai trị thì bảo tồn được vị thế của mình Điều đáng lưu ý là, những biến động kể trên của thời đại đã làm cho địa vị và vai trò chính trị của nhà Chu suy yếu rõ rệt, ngôi thiên tử nhà Chu trên thực tế chỉ là hình thức, “thiên tử, tên lãnh chúa cao nhất, dần dần

Trang 11

đã giảm mất khả năng thống trị” (44, tr.39) Các nước chư hầu nhà Chu không những không chịu phục tùng vương mệnh, không chịu cống nạp mà còn phát động chiến tranh thôn tính lẫn nhau, lấn át quyền lực và đi ̣a vi ̣ tối cao của Thiên tử , luôn

tự cho mình là bá chủ thiên hạ Trong bài tựa sách Kinh Thi có viết: “Đến lúc đạo

vua đã suy vi, lễ nghi bị thay đổi, chính giáo bị sút kém, chính trị trong nước đã đổi khác, phong tục trong nhà cũng đổi khác, do đó mới có những biếm Phong, biếm Nhã” (dẫn theo 44, tr.39) Đây là thời kì mà nhiều tài liệu lịch sử và công trình nghiên cứu đã chỉ rõ, là thời kì “vương đạo suy vi”, “bá đạo” hưng khởi khắp nơi, nước lớn đánh nước nhỏ, nước mạnh đánh nước yếu, nước nào cũng muốn ngoi lên giữ vị trí thiên tử Trong thời kì này, nhiều cuô ̣c chiến tranh thôn tính lẫn nhau của các nước chư hầu xảy ra liên miên, cùng với chính sách sưu cao, thuế nặng đã làm cho đời sống của nhân dân ngày càng thêm khổ cực Chiến tranh đã gây ra bao cảnh lầm than, đói khổ, cảnh chém giết, chia ly, nhà tan, cửa nát, kỉ cương phép nước không còn, lòng người ly tán, thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự, lễ, nghĩa, cương thường của xã hội bị đảo lộn, các mối quan hệ giữa con người với con người bị biến dạng ghê gớm

Trong điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội như vậy, để tiếp tục nắm giữ quyền lực của mình, với mưu đồ làm bá chủ thiên hạ, các nước chư hầu đã đua nhau trọng dụng kẻ sĩ Xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ xuất hiện nhiều trung tâm, nhiều tụ điểm của những kẻ sĩ như Tắc Hạ nước Tề… Nhờ phương thức “chiêu hiền, đãi sĩ” này mà các tư tưởng, các học thuyết chính trị - xã hội được nảy nở, phát triển tạo ra một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, các sử gia gọi đây là thời kì

“Bách gia tranh minh” (Trăm nhà đua tiếng), “Bách gia chư tử” (Trăm nhà trăm thầy) Mỗi trường phái, học thuyết tư tưởng đều đứng trên lập trường giai cấp, tầng lớp của mình mà đưa ra và luận giải các biện pháp trị nước khác nhau nhằm đưa xã hội từ loạn lạc đến trật tự, ổn định Pháp gia cho rằng, muốn trị nước phải dựa vào pháp luật, còn Mặc gia khẳng định trị nước phải bằng “kiêm ái” (cùng yêu thương nhau) không kể sang hèn, giàu nghèo Nho giáo lại chủ trương dùng đức trị, vì theo nhà Nho, dùng đức trị thì dân mới phục, dùng sức mạnh thì mau thắng nhưng không bền Các nhà Nho cho rằng, sở dĩ xã hội loạn là do những con người “vô đạo”, là do

Trang 12

“quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử” (nhà vua không đúng đạo làm vua, bề tôi không đúng đạo bề tôi, cha không đúng đạo làm cha, con không đúng đạo làm con) Bởi vậy, theo họ, để khắc phục và loại trừ những rối loạn trong xã hội thì phải khắc phục và loại trừ những con người vô đa ̣o, những hành vi vô đạo; phải dùng nhân trị, lễ trị; phải thực hiện chính danh, trên dưới phân minh (vua ra vua, tôi

ra tôi, cha ra cha, con ra con) thì xã hội mới “hữu đạo”, thịnh trị Đây chính là cơ sở cho sự ra đời của những tư tưởng về đạo làm người trong Nho giáo

1.1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng về đạo làm người của Nho giáo

Như trên đã trình bày , Nho giáo ra đời trên cơ sở, điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ Đây cũng là nguyên nhân cơ bản nhất, trực tiếp nhất hình thành những quan niệm về đạo làm người của Nho giáo Tuy nhiên, nếu coi cơ sở hiện thực của xã hội đó là nguyên nhân duy nhất hình thành những tư tưởng của Nho giáo thì chưa đủ Bản thân học thuyết Nho giáo nói chung và tư tưởng về Đạo làm người của Nho giáo nói riêng còn được kế thừa và phát triển từ đời sống tư tưởng của Trung Quốc từ trước đến bấy giờ, đặc biệt là dưới thời Chu

Về tôn giáo, ngoài việc kế thừa những tư tưởng tôn giáo của người Ân như

đế tổ, tiên vương, nhà Chu, với mục đích chính trị của mình còn đặc biệt đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thờ thượng đế”, “trời và người hợp nhất” Theo quan điểm của họ, Trời (thiên) là lực lượng có nhân cách, có ý chí và uy quyền tuyệt đối Chính vì nhà Ân không biết điều đó để làm những điều hợp với

“Mệnh trời” nên bị Thượng đế trừng phạt bằng viê ̣c ban lệnh xuống buô ̣c nhà Ân phải thần phục nhà Chu và cho nhà Chu được lập ấp, dựng nước, “nhận dân” và cai trị dân Các nhà Nho đã kế thừa những yếu tố duy tâm, thần bí trên đây để xây dựng quan điểm đề cao vai trò tuyệt đối của nhà vua đương triều (được gọi là Thiên tử) đối với dân nói chung, về đa ̣o làm vua, đa ̣o của bề tôi nói riêng

Về chính trị, tư tưởng chính trị chủ yếu của giai cấp quí tộc Chu là tư tưởng

“nhận dân”, “hưởng dân”, “trị dân” Theo đó, vua nhà Chu được Thượng đế ban cho quyền được cai quản thiên hạ, làm chủ thiên hạ; vua là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất và mọi người trong xã hội đều là thần dân của nhà vua Vua là Thiên tử (con

Trang 13

trời) sánh cùng với trời, thay mặt Thượng đế để cai trị thiên hạ, cai trị dân Tư tưởng

“hưởng dân” rồi “trị dân” của quí tộc Chu được nhiều nhà Nho, đặc biệt từ Đổng Trọng Thư trở đi kế thừa, phát triển trở thành cơ sở lí luâ ̣n của hê ̣ tư tưởng và làcông cụ của giai cấp phong kiến thống trị nhân dân Đây là tư tưởng chính trị hết sức phản động, ảnh hưởng tiêu cực đến quan niệm của Nho giáo trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người

Về đạo đức, tư tưởng Đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm

nòng cốt Xuất phát từ quan niệm trời và người hợp nhất, nhà Chu cho rằng, tổ tiên mình là các vua trước do có Đức mà được sánh cùng Thượng đế, được Thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân, trị dân… cho nên các vua đời sau phải biết kính cái Đức đó, phải biết bồi dưỡng nó để cho con cháu đời sau được hưởng nước, hưởng dân, trị dân lâu dài Hiếu là thờ phụng tổ tiên, là phải nhớ công lao của tổ tiên mà giữ gìn phép tắc của tổ tiên để lại Đây là quan niệm đạo đức duy tâm, bảo thủ và phản động nhằm tuyên truyền và củng cố địa vị thống trị vĩnh viễn của giai cấp phong kiến, bảo vệ nhà nước chuyên chính phong kiến Các nhà Nho (ngay cả Khổng Tử) đã không nhâ ̣n thức được quy luâ ̣t phát triển tất yếu của lịch sử cho nên

ít nhiều mắc vào sai lầm khi đặt ra tiêu chuẩn của đạo làm người là, coi hành đô ̣ng, viê ̣c làm của người đi trước là tiêu chuẩn, là chuẩn mực cần có cho hành động của mình

Ngoài những yếu tố trên, tư tưởng về Đạo làm người của Nho giáo còn được hình thành từ nền tảng văn hoá truyền thống của Trung Hoa từ các thời đại Hạ, Thương đến đầu thời nhà Chu

Tư tưởng, quan điểm trong Sách Hồng Phạm: Đây được coi là cuốn sách tâ ̣p

hơ ̣p những tư tưởng ra đời sớm nhất ở Trung Hoa cổ đại, khi “ Vũ Vương đánh thắng nhà Ân, giết vua Trụ, lập Vũ Canh lên làm vua, mời Cơ Tử về, làm ra chương

Hồng Phạm” (44, tr.31) Sách dựa trên quan điểm “ ngũ hành” để xét mối quan hệ

giữa vua và dân, trong đó nêu lên vai trò quan trọng của nhà vua, của đạo làm vua Nhà vua là cha mẹ dân được hưởng phúc, ban phúc còn dân phải chịu sai khiến:

“Thiên tử: chỉ có nhà vua mới được ban phúc, chỉ có nhà vua mới được xử tội, chỉ có nhà vua mới được ăn ngon Bầy tôi mà cũng ban phúc, xử tội, ăn ngon, thì có hại

Trang 14

cho gia đình họ, xấu cho nước họ, hàng quý tộc sẽ bị đảo lộn, dân chúng sẽ bị sai

lệch” (dẫn theo 44, tr.37) Những tư tưởng chứa đựng trong sách Hồng Phạm tuy sơ

lược nhưng đó là gốc rễ để các nhà Nho xây dựng lên những mối quan hệ chồng chéo, đan xen, hết sức phức tạp giữa con người với con người

Như vâ ̣y, từ sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh tế đã dẫn đến nhiều biến đổi trong lĩnh vực chính trị, xã hội, có thể nhận định rằng , xã hội Trung Quố c thời Xuân Thu - Chiến Quốc bấy giờ là xã hội “hỗn loạn về đẳng cấp và danh phận; các chư hầu xâm lấn và thôn tính lẫn nhau ; sự phát triển của những mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và bo ̣n lãnh chúa phong kiến , và địa vị của bọn lãnh chúa phong

kiến lớn bi ̣ lung lay ; sự rỗi loa ̣n của quan hệ tông pháp” (dẫn theo 44, tr.84) Trước

thực trạng xã hội và bằng nhãn quan giai cấp của mình , Khổng Tử đã sang lập Nho giáo, xây dựng nên hê ̣ thống chuẩn mực về đạo làm người để đưa xã hội từ loa ̣n la ̣c đến thái bình, thịnh trị

Sau Khổng Tử, Nho giáo trải qua quá trình phát triển lúc thi ̣nh , lúc suy và có nhiều thay đổi Tuy nhiên, về cơ bản , những tư tưởng của Nho giáo là phù hợp với mục đích chính trị của giai cấp thống trị nên nó có quá trình tồn tại , phát triển gắn liền với chế độ phong kiến Trung Quốc Do bi ̣ chi phối bởi những điều kiê ̣n kinh tế

- xã hội khác nhau , do những mu ̣c đích chính tri ̣ khác nhau mà trong mỗi giai đoa ̣n phát triển của chế độ phong kiến , những tư tưởng của Nho giáo nói chun g và quan niê ̣m về đạo làm người nói riêng la ̣i có nhiều thay đổi Từ Hán Nho, Tống Nho đến Nho giáo thời Minh, Thanh, những tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người thường theo hướng thu ̣ đô ̣ng , mô ̣t chiều, là cơ sở lý luận để giai cấp th ống trị mi ̣ dân , trị dân, trị quốc

1.2 Những chuẩn mực cơ bản về Đạo làm người trong tư tưởng của Nho giáo

1.2.1 Khái niệm Đa ̣o và đạo làm người

“Đạo” là một trong những khái niệm cơ bản nhất của triết học Trung Quốc cổ-trung đại Trải qua các thời kì lịch sử, nô ̣i dung và hàm nghĩa của khái niệm này luôn được tổng kết, bổ sung và mở rộng với nhiều kiến giải, ý nghĩa mới biểu hiện sự nhận thức ngày càng sâu sắc của người Trung Quốc về các vấn đề tự nhiên, xã

Trang 15

hội và con người Trong thời kì “Bách gia chư tử”, “Bách gia tranh minh” các trường phái triết học khác nhau, đứng trên lập trường, tầng lớp của mình đều có những cách lí giải khác nhau về khái niệm Đạo

Lão Tử - người sáng lập phái Đạo gia khi bàn đến Đạo thường chú trọng, tìm tòi về thiên đạo Ông cho rằng, đạo là nguồn gốc của vạn vật: “ Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật” (Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh

ra ba, ba sinh vạn vật) (41, tr.83) Đạo là cái không có âm thanh, không có hình

tướng, tồn tại vô ha ̣n và bao trùm tất cả, không chỉ sinh ra vạn vật mà còn nuôi dưỡng chúng: “Đại đạo phiếm hề, kì khả tả hữu Vạn vật thị chi nhi sinh nhi bất từ, công thành nhi bất danh, hữu y dưỡng vạn vật nhi bất vi chủ” (Đạo lớn lan tràn khắp nơi, ở khắp bên phải, bên trái Vạn vật sinh ra nương nhờ nó mà nó không khước từ, thành công rồi mà không để tên lại, nuôi nấng vạn vật mà không đòi làm chúa vậy) (34, tr.105)

Khác với tư tưởng của Lão Tử cho rằng “đạo” là cái “huyền diệu lại càng huyền diê ̣u”, Pháp gia khẳng định: “Đa ̣o” là cái “lý” của muôn vâ ̣t , cái “lý” của bậc

đế vương Trong sách Hàn Phi Tử, chương Chủ đạo, Hàn Phi viết: “Đa ̣o là bắt đầu

của muôn vật , là giường mối của mọi điều phải trái Thế cho nên bâ ̣c mi nh quân phải giữ cái bắt đầu ấy để biết nguồn gốc của muôn vật , và theo giường mối ấy để biết đầu mối của mo ̣ i viê ̣c dở , hay” (dẫn theo 44, tr.279) Như vâ ̣y , theo nghĩa chung nhất, “đa ̣o” của Pháp gia là đa ̣o tri ̣ quốc , là đường lối pháp trị , là kết hợp ba yếu tố “pháp”, “thuâ ̣t”, “thế” trong viê ̣c tri ̣ nước Theo phái Pháp gia, “Pháp” là chỉ pháp luật , pháp luật đươ ̣c ban hành nghiêm minh , công khai cho mo ̣i người cùng thực hiê ̣n “Thuâ ̣t” là thuâ ̣t cai tri ̣ bề tôi của nhà vua “Thế” là uy thế, quyền lực của

bâ ̣c quân vương Đường lối pháp trị , kết hợp với thuâ ̣t “thưởng pha ̣t” phân minh là

đa ̣o tri ̣ quốc , đa ̣o làm vua mà Hàn Phi xây dựng để đối lâ ̣p với đường lối nhân tri ̣ của Nho giáo Lý luận chính trị đó của Hàn Phi đã có tác dụng chỉ đạo cả một thời gian dài trong các chế độ chính trị chuyên chế về sau

Các quan điểm trên đây về Đạo của các trường phái đã được vận dụng trong thực tiễn và đem lại những tác động tích cực Đạo giáo chú trọng tới thiên đạo, họ hướng lối sống theo lẽ tự nhiên “vô vi” phù hợp với những người chán ghét cuộc

Trang 16

sống hỗn loạn, đem lại sự tĩnh tâm trong tâm hồn Còn Pháp gia chú trọng tới nhân đạo, đạo pháp trị đã làm cho một số nước chư hầu trở thành nước mạnh, binh cường Vua Tần kết hợp pháp - thế - thuật trong đạo trị nước do Hàn Phi đề ra đã giúp nước Tần chinh phục được các nước chư hầu khác và thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN, mở ra thời kì lịch sử mới cho Trung Quốc cổ đại

Với lập trường và mục đích chính trị riêng của mình, học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức Nho giáo cũng có cách lí giải riêng về khái niệm Đạo Kế thừa những quan điểm trước đó, Khổng Tử - người sáng lập ra Nho giáo, ngay từ đầu đã coi Đạo là mục đích, tiêu chuẩn định ra cho mỗi người hướng tới Ông viết: “Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ” (Nên để tâm chí vào đạo, nắm vững đức hạnh, noi theo điều nhân, vui với lục nghệ) (17, tr.346) Theo ông thì việc quan trọng nhất của con người là hiểu biết về đạo và hành đạo Suốt cả đời mình, ông lấy việc truyền đạo và hành đạo làm mục đích sống Ông nói: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ” (Sáng sáng nghe giảng đạo, dù tối chết cũng yên lòng) (17, tr.272) Song, đạo được Khổng Tử dùng ở đây không bao gồm thiên đạo, mà chủ yếu là nhấn mạnh đến nhân đạo, như học trò của ông là Tử Cống đã nói: “Phu Tử chi ngôn tính dữ thiên đạo, bất khả đắc nhi văn dã” (chưa bao giờ nghe thấy Khổng Tử nhắc đến tính và thiên đạo cả)

(17, tr.298) Có nhiều chỗ trong sách Luận ngữ, Khổng Tử cũng nói đến trời, coi

trời là nguồn gốc của Đạo: “Thủ minh đạo chi bản nguyên xuất ư thiên, nhi bất khả dịch, kỳ thực thể bị ư kỉ nhi bất khả li” (Nguồn gốc của Đạo xuất phát tự trời mà không thể thay đổi, và thực thể của nó có đầy đủ ở nơi ta, mà không thể rời xa) Song về cơ bản, ông không đi sâu vào nghiên cứu thiên đạo Sau này, các môn đệ của ông cũng kế thừa quan điểm đó, cho rằng đạo là đạo của con người, gắn liền với con người, phục vụ con người: “Đạo bất viễn nhân Nhân chi vị đạo viễn bất khả dĩ

vi đạo” (Đạo chẳng xa người Người nào thi hành đạo mà lại rời xa người chẳng thể coi đó là đạo) (17, tr.103) Hầu hết các nhà Nho đều chú trọng đến mối quan hệ giữa con người với con người nhằm phát triển mặt nhân đa ̣o và trên cơ sở đó mà hình thành tư tưởng về đạo làm người

Trang 17

Khái niệm Đạo dưới góc độ nhân đạo - đạo làm người hướng đến việc giáo dục hình thành mẫu người quân tử trong xã hội, do đó có nhiều quan điểm khác nhau bàn về vấn đề này

Trong cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” (Nguyễn Như Ý chủ biên) viết rằng,

Đạo (đạo làm người) là phép tắc đối xử trong xã hội, ai cũng phải biết và phải tuân thủ, phải giữ gìn Như vâ ̣y, đạo làm người là đa ̣o của mỗi người, tự mình nhâ ̣n ra rồi hành xử với người khác trong xã hội

Trong tác phẩm “Đạo - Triết học phương Đông” (Trương Lập Văn chủ biên)

chỉ rõ, khái niệm Đạo với nghĩa đạo làm người được hiểu như sau: “Đạo là nguyên tắc chính trị, là quy phạm đạo đức luân lý, là đạo trị quốc và xử thế” (41, tr.13) Đạo làm người ở đây được nâng lên thàn h nguyên tắc chính trị Đạo làm người không chỉ là sự tự nhâ ̣n ra của mỗi người mà còn là điều bắt buô ̣c người ta phải tuân theo Đạo làm người bao gồm đạo tri ̣ nước của bâ ̣c quân vương và phép tắc ứng xử hàng ngày của con người với nhau

Trần Trọng Kim thì cho rằng: “Đạo là cái lý tự nhiên của trời đất, là con đường rộng ai cũng phải theo mà đi, tức là cái lệ công chính để làm qui tắc cho hành động của người đời (…) Đạo ấy gồm hết thảy tất cả cái phải, cái hay, tổng hợp các đức tính tốt để gây thành cái nhân cách hoàn toàn của người ta” (18, tr.88) Như vâ ̣y , với Trần Tro ̣ng Kim thì , đạo làm người là những qui tắc bắt buô ̣c , là những điều đã đi ̣nh sẵn cho hành đô ̣ng của con người Đó là cái hay, cái phải, là cái làm nên nhân cách tốt cho mỗi người

Từ sự lý giải về đạo làm người theo q uan điểm Nho giáo, Nguyễn Thanh Bình đã chỉ ra điểm cốt yếu trong quan niê ̣m của Nho giáo về đạo làm người của Nho giáo là: Đạo làm người là những quy phạm, những chuẩn mực đạo đức để ràng buộc, cột chặt con người vào những mối quan hệ trong xã hội, định rõ trách nhiệm của con người với con người trong gia đình, ngoài xã hội (2 tr39) Đó là những chuẩn mực đạo đức - chính trị qui đi ̣nh cách hành xử củ a con người với con người trong các mối quan hệ xã hội

Trong bài viết “Quan niê ̣m của Nho giáo về đạo làm người” , Nguyễn Thi ̣

Thọ khẳng định, “đạo làm người đươ ̣c hiểu là đường lối , nguyên tắc đạo đức mà

Trang 18

con người có bổn phâ ̣n giữ gìn và tuân theo trong đời sống Đó là nhân sinh quan, là quan niê ̣m sống trong sa ̣ch, thuâ ̣n theo lẽ phải” (35, tr.48)

Như vậy, có thể thấy, khái niê ̣m đạo làm người mà các nhà Nho và những nhà nghiên cứu Nho giáo thường dùng là khái niệm dùng để chỉ các quy phạm,

chuẩn mực đạo đức nhằm điều chỉnh hành vi của con người; chỉ rõ trách nhiệm, quyền hạn của mỗi người trong quan hệ với người khác từ trong gia đình đến ngoài

xã hội Đứng trước một xã hội loạn lạc bởi chiến tranh, bởi những mâu thuẫn và

xung đột giai cấp dường như không thể điều hoà, Nho giáo cũng đặt mục đích cho học thuyết của mình là xây dựng hê ̣ thống chuẩn mực đạo đức về đạo làm người để đưa xã hội trở thành ổn định, thái bình, đại đồng, mọi người sống hoà mục, thân ái, bình đẳng; một xã hội mà trong đó “Đạo lớn được thi hành, thiên hạ thành của chung” (19, tr.147)

1.2.2 Mô ̣t số chuẩn mực của đạo làm người theo tư tưởng Nho giáo

Con người và vai trò của con người trong các học thuyết của Nho giáo bị ràng buộc, chi phối bởi rất nhiều mối quan hệ xã hội chồng chéo, đan xen vào nhau Song với tư cách là học thuyết chính trị - xã hội, các nhà Nho chỉ tập trung chú ý đến quan hệ chính trị, đạo đức của con người mà ít chú ý đến các quan hệ khác như quan hệ sản xuất, quan hệ nghề nghiệp… Khổng Tử với mong muốn và trên thực tế

đã xây dựng lên hệ thống các quan hệ xã hội của con người cùng các chuẩn mực và yêu cầu về mặt đạo đức đối với con người trong từng mối quan hệ ấy để cho “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” (vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con) (17, tr.484) nhưng chưa được khái quát thành một hệ thống hoàn bị

Mạnh Tử, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Khổng Tử, đã khái quát mối quan

hệ của con người trong xã hội thành “ngũ luân” Ông cho rằng, con người phải có nhân, người có nhân là người biết ăn ở theo nhân luân (tức ngũ luân) Đó là năm mối quan hệ xã hội cơ bản giữa người với người trong xã hội Năm mối quan hệ đó là: Vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh - em, bạn - bè Về năm mối quan hệ đó nhà Nho cho rằng: “ Quân thần hữu nghĩa, phụ tử hữu thân, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín” (Vua tôi phải sống theo nghĩa, cha con phải có tình thân

ái ruột thịt, vợ chồng phải có sự khác biệt, anh em phải có thứ tự trên dưới, bạn bè

Trang 19

phải có tín) Mối quan hệ giữa con người với con người trong ngũ luân, theo quan niệm của Khổng Tử, Mạnh Tử là mối quan hệ có tính chất hai chiều, có điều kiện Theo đó , bề trên có trách nhiệm với bề dưới, bề dưới có nghĩa vụ với bề trên, mọi người có trách nhiệm và nghĩa vụ lẫn nhau Sau này, kế thừa quan điểm trên của Khổng Tử và Mạnh Tử, nhưng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu, lợi ích của giai cấp phong kiến thống trị và với lâ ̣p trường duy tâm, thần bí, Đổng Trọng Thư - danh Nho thời Hán, đã hệ thống hoá các quan niệm đạo đức của Nho giáo về các mối quan hệ xã hội cơ bản của con người trở thành nội dung, mục đích cho nền giáo dục phong kiến Đó là các quan hệ: vua - tôi, cha - con, chồng - vơ ̣ (tam cương) và năm chuẩn mực đạo đức cơ bản : nhân, lễ, nghĩa, trí, tín (ngũ thường) Đặc biệt, ông chú ý đến “tam cương” và coi đó là ba giềng mối cơ bản của xã hội Các quan hệ này đã được ông thần thánh hoá thành những tri thức có tính “tiên thiên” và do trời sinh ra, qui định hành vi của con người, con người phải tuyệt đối tuân theo Theo ông, trong

ba mối quan hệ đó thì vua, cha, chồng có uy quyền tuyệt đối với bề tôi, con cái, vợ Quan điểm này của ông đã trở thành công cụ tinh thần đắc lực để giai cấp quý tộc phong kiến và địa chủ thống trị, nô dịch nhân dân nhằm duy trì , bảo vệ sự tồn ta ̣i vĩnh viễn địa vị thống trị và lợi ích của họ Ngoài năm mối quan hệ này, các nhà Nho còn bàn đến các mối quan hệ khác như quan hệ quân-dân, quan hệ thầy trò, quan hệ nam nữ… Nhưng trong luận văn này, tác giả chỉ đi vào nghiên cứu, phân tích năm mối quan hệ cơ bản của con người trong xã hội để tìm xem các nhà Nho, thông qua các mối quan hệ ấy, đã xây dựng tư tưởng về đạo làm người và những yêu cầu, chuẩn mực đạo đức của đạo làm người đối với từng con người trong các mối quan hệ xã hội ấy như thế nào

*Mối quan hệ vua - tôi (quân - thần)

Trong quan niê ̣m của các nhà Nho , quan hệ vua - tôi là mối quan hệ xã hội quan trọng nhất, đứng đầu trong ngũ luân, gắn liền với chính trị, liên quan trực tiếp đến việc trị nước, trị dân, đến sự hưng - vong của triều đa ̣i , của chế độ Khổng Tử, Mạnh Tử và tất cả các nhà Nho đều coi trọng mối quan hệ này đồng thời nó thể hiện lập trường giai cấp rõ rệt của các nhà Nho Trong mối quan hệ này, theo Nho giáo, vua là người đứng đầu mỗi quốc gia , được coi là Thiên tử (con trời), có sứ mệnh to

Trang 20

lớn là thay trời để trị dân, giáo dân Khái niệm “tôi” (bề tôi) trong quan điểm của Nho giáo là một khái niệm bao quát nhiều đối tươ ̣ng , trong đó bao hàm hai đối

tươ ̣ng chính : Thứ nhất, “bề tôi” là “dân” - dân chúng bao gồm tất cả thần dân trong thiên ha ̣, họ là lực lượng đối lâ ̣p với tầng lớp thống trị gồm vua , quan Thứ hai, “bề

tôi” là những người giúp nhà vua trong việc cai trị, là tầng lớp quan lại, hợp cùng với nhà vua thành tầng lớp, giai cấp thống trị, có vai trò trị nước, trị dân, giáo dân

Do đó , khi đề câ ̣p đến đạo làm người trong mối quan hệ vua – tôi, luâ ̣n văn tâ ̣p trung làm rõ đa ̣o làm vua , đa ̣o làm bề tôi dưới hai góc đô ̣: mối quan hệ giữa vua với dân và mối quan hệ giữa vua với bề tôi (quan la ̣i)

Mối quan hê ̣ giữa vua với dân

Theo các nhà Nho , “dân” - dân chúng là lực lượng đông đảo , là quần chúng nhân dân trong thiên ha ̣ , bao gồm: nông dân, thợ thủ công , thương nhân… Đây là lực lượng tạo ra phần lớn của cải trong xã hội nhưng lại không giữ vị trí , vai trò , quyền lực trong quản lý đất nước ; là tầng lớp bị trị, có nghĩa vụ phục tùng, tuân theo mo ̣i quyền uy và đường lối cai trị của giai cấp thống tri ̣ Tuy nhiên, cũng cần khẳng đi ̣nh rằng, trong đời sống chính trị ở Trung Quốc từ trước thời Khổng Tử và trong suốt thời kì Xuân Thu - Chiến Quốc , các thế lực chính trị , dù muốn hay không, không thể không quan tâm, dù ở một mức độ nào đó, đến đời sống và vai trò của người dân Điều này không phải là ý muốn chủ quan của các thế lực thống tri ̣ mà nó phản ánh một thực tế ở Trung Quốc (cũng như những nước phương Đông nói chung) là, địa vị thống trị của họ bị chi phối đáng kể bởi lòng dân , ý dân; được thiên

hạ cũng bởi được lòng dân và mất thiên hạ cũng bởi mất lòng dân Ngay trong Kinh

Thi đã cho thấy nhiều tư tưởng thể hiê ̣n sự quan tâm của tầng lớp thống tri ̣ đến đời sống và vai trò của dân Chẳng ha ̣n, “mê ̣nh trời” tuy được thừa nhâ ̣n là có uy quyền tối cao, tuyê ̣t đối nhưng la ̣i đồng nhất với “lòng dân” , “ý dân” Những câu như “trời nhìn tự dân ta nhìn” , “trời nghe tự dâ n ta nghe”, “sự sáng suốt ở trời thể hiê ̣n ra sự sáng suốt của dân”, “dân muốn gì trời cũng phải theo”… không phải là ít trong cuốn sách này Điều này nói lên rằng , viê ̣c quan tâm đến đời sống và vai trò của dân có ý nghĩa như mô ̣t hằng số trong đời sống chính trị của các nước phương Đông Bởi vâ ̣y

Trang 21

mà cũng là tất yếu , dân và vai trò của dân là mô ̣t vấn đề được hầu hết các nhà Nho quan tâm, là một nội dung cơ bản để tu dưỡng, hoàn thiện đạo làm vua

Kế thừa những quan điểm trên , các nhà Nho từ Khổng Tử trở đi đều đặc biệt quan tâm tới dân , đề cao vai trò của dân và theo đó , đa ̣o làm vua đòi hỏi nhà vua , người cầm quyền phải thâ ̣t sự thương yêu , coi tro ̣ng nhân dân Khổng Tử, Mạnh Tử đều coi dân là gốc nước (dân vi bang bản ), dân là đáng quý nhất (dân vi quý ), đều nhấn ma ̣nh đến vai trò của dân , coi dân như là nước , vua chỉ là thuyền Mạnh Tử từng nhắc các vua chư hầu : “Các vua chư hầu có ba điều phải coi là quí trọng : đất đai, dân chúng và viê ̣c chính trị Người nào coi tro ̣ng châu ngo ̣c , tai ương ắt tới thân” (17, tr.1361) Các nhà Nho sau này , như Đổng Tro ̣ng Thư cũng cho rằng :

“Người làm chính sự mà hợp với dân cố nhiên là được hưởng lô ̣c giời” (dẫn theo

44, tr385) Trên cơ sở nhâ ̣n thức rõ vai trò của dân , Nho giáo coi “dưỡng dân” là

mô ̣t trong những nhiê ̣m vu ̣ chính trị cơ bản của đa ̣o làm vua Theo các nhà Nho , lẽ thường của người dân là, hễ không có hằng sản, thì không có hằng tâm, cho nên nhà vua phải “bao bo ̣c dân”, làm cho dân giàu có thì “làm sao dân chúng làm chuyện bất nhân” Dân đã no đủ rồi la ̣i giáo du ̣c dân “khuyến khích dân , dẫn du ̣ dân làm viê ̣c thiê ̣n, chấn chỉnh sai lầm, uốn nắn cho ngay thẳng, giúp đỡ dân chỗ thiếu sót, nhược điểm, khiến ho ̣ tự lĩnh hội đạo làm người” (17, tr.949) là cách làm của người muốn dựng nên vương nghiê ̣p Ngoài ra, trong mối quan hệ giữa vua với dân, Nho giáo

đă ̣c biê ̣t đề cao vai trò của đạo đức , sự tu dưỡng đạo đức của nhà vua đối với sự hưng - vong, an - nguy, trị - loạn của triều đại, của chế độ, thành - bại của công việc trị nước, trị dân Do đó, đa ̣o làm vua trước hết và quan tro ̣ng nhất là nhà vua phải có đạo đức, phải là tấm gương đạo đức lớn, là mẫu mực trong ứng xử và giải quyết các mối quan hệ trong gia đình, ngoài cộng đồng cho thần dân noi theo Để làm được điều đó, đức tính quan trọng nhất của nhà vua, kẻ cầm quyền là phải có đức nhân và luôn luôn tu dưỡng đức nhân đó Khổng Tử và Mạnh Tử luôn cho rằng, nhà vua có đức nhân thì nhà vua có sức mạnh mà không ai địch nổi Do vậy, nhà vua mà ham muốn đức nhân thì sẽ trở thành nhà vô địch trong thiên hạ, như ngôi sao Bắc Đẩu ở yên vị mà các ngôi sao khác phải chầu về (17, tr.214), cái đức ấy cũng giống như

gió, lướt trên cỏ, cỏ rạp xuống Hay ở chỗ khác trong sách Luận ngữ , Khổng Tử

Trang 22

nói: “Kỳ thân chính , bất lê ̣nh nhi hành , kỳ thân bất chí nh, tuy lê ̣nh bất tùng” (Bản thân nhà cầm quyền ngay thẳng , tuy không ra lê ̣nh, mọi việc vẫn trôi chảy; bản thân không ngay thẳng , có ra lệnh dân cũng chẳng theo ) (17, tr.502)… Khổng Tử cũng nhiều lần nhắc đến vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ là những ông vua hiền đức và coi đó là hình mẫu về đạo đức của bậc quân vương mà các vua đời sau phải noi theo Khổng Tử khen rằng: “Đại tai, Nghiêu chi vi quân dã! Nguy nguy hồ! Duy thiên vi đại, duy Nghiêu tắc chi Đãng đãng hồ, dân vô năng danh yên Nguy nguy

hồ, kỳ hữu thành công dã! Hoán hồ, kỳ hữu văn chương” (Lớn lao thay là công đức của vua Nghiêu lúc làm vua đức cao vòi vọi! Chỉ có trời là lớn lao, chỉ có vua Nghiêu sánh kịp! Công đức của ngài cao lồng lộng, dân không biết nói sao cho xiết! Cao vòi vọi là sự thành công của ngài! Rực rỡ thay là văn chương của ngài!) (17, tr.390) và : “Nguy nguy hồ! Thuấn, Vũ chi hữu thiên hạ dã, nhi bất dự yên” (Đức cao vòi vọi! Vua Thuấn, vua Vũ có cả thiên hạ, mà chẳng coi là vinh dự) (17, tr.389) Mạnh Tử thì chỉ rõ, dân vớ i nước là mô ̣t , mất dân là mất nước và có được dân là có cả thiên ha ̣: “Mất thiên ha ̣ là vì để mất dân , để mất dân là vì để mất lòng người Muốn được thiên ha ̣ , có đường lối hẳn hòi : hễ được dân là đượ c thiên ha ̣

vâ ̣y” (17, tr.1033) Vua là người được thượng đế cho nhận dân , hưởng dân do vậy mà phải hết lòng bảo vệ dân, dìu dắt dân, chăm lo cho dân, cùng vui với dân, no đói cùng dân, “điều gì người dân ưa thích , ta cũng ưa thích , điều gì người dân ghét bỏ,

ta cũng ghét bỏ” (17, tr.53), “những gì dân muốn thì đem lại cho họ thật nhiều, những gì dân ghét thì chớ đem ra thi thố” (17, tr.1033); phải biết “vui với niềm vui của dâ n, lo với nỗi lo của dân” (17, tr.778) Và Mạnh Tử đã đi ̣nh ra nhiều tiêu chuẩn của ông vua hiền , của đạo làm vua , theo đó nhà vua phải là người “khiêm cung, cần kiệm, phải giữ lễ với kẻ dưới và lấy thuế của dân có chừng mực” (17, tr.932) Như vậy, trong mối quan hệ giữa vua với dân , các nhà Nho đ ều cho rằng , vua là cha me ̣ dân , đa ̣o làm vua là phải dùng đức để cai trị dân , dẫn du ̣ dân theo đường lối của mình

Trong mối quan hệ giữa vua với dân , Nho giáo cũng đề ra trách nhiê ̣m , bổn phâ ̣n mà người dân , kẻ bị trị phải thi hành Đối với nhà Nho , dân là những kẻ bất hiền, tiểu nhân, hén kém về mặt đạo đức và trí tuệ nên phải nghe theo sự dạy bảo

Trang 23

của vua, của bề trên “dân bỏ mất nhân nghĩa nên đề ra vua để da ̣y dỗ” (17, tr.1073) Hơn nữa, vì đây là ha ̣ng người “ha ̣ ngu không thay đổi được” nên các nhà Nho có chủ trương chỉ dẫn dụ cho họ noi theo chứ không dạy dỗ những gì xa xôi, vi diệu cho họ : “dân chỉ có thể khiến noi theo k hông thể giảng giải” (17, tr.383), dạy thì chỉ dạy những điều khiến cho dân biết được trách nhiệm của mình phải phụng sự bề trên, giai cấp thống tri ̣, “ho ̣c đa ̣o để dễ sai khiến” , học để nhận thức đúng đa ̣o làm bề tôi của mình rồi hành đa ̣o cho đúng lễ Nho giáo cho rằng, trong xã hội “có công viê ̣c giành cho bâ ̣c đa ̣i nhân , có công việc giành cho kẻ tiểu nhân” , “có người lao tâm, có người lao lực Người lao tâm cai tri ̣ người , kẻ lao lực bị người cai trị Kẻ bị cai tri ̣ phải nuôi người , người cai tri ̣ được người nuôi” (17, tr.948) Do đó, đa ̣o của bề tôi là phải tự đứng ra cày ruô ̣ng rồi nô ̣p thuế nuôi dưỡng người cai tri ̣ Tuy nhiên, dân trong quan niệm của nhà Nho cũng không phải là tất cả dân chúng nói chung , mà chỉ là những người dân nào biết nghe và hành động theo giáo hóa của kẻ thống trị, biết tuân phu ̣c và an phâ ̣n với đi ̣a vi ̣ của mình Những kẻ nào không biết và tuân thủ những nghĩa vụ kể trên , Nho giáo chủ trương dùng hình pháp để cai trị , vì “hễ có hình thể thì có phép tắc , (nhờ đó) dân chúng nắm rõ tính thường của mình , và do đó ưa chuô ̣ng đức tốt vâ ̣y” (17, tr.1206) Các nhà Nho đã khẳng định , vua là cha me ̣ của dân và cũng là chủ của đất nư ớc nên dân chúng ngoài viê ̣c lấy Hiếu mà đối đãi như đối đãi với cha me ̣ ruô ̣t của mình còn phải lấy Trung làm trọng mà hành xử cho phù hợp Quan điểm của Nho giáo sau này về mối quan hệ giữa vua và dân ngày càng theo hướng m ột chiều, khắc nghiệt, đôi khi còn tuyê ̣t đối hóa đức Trung, đức Trung với vua cao hơn cả đức Hiếu với cha me ̣; trong những trường hợp Hiếu và Trung mâu thuẫn lơ ̣i ích với nhau, người dân phải biết hi sinh lợi ích gia đình để tâ ̣n trung vớ i vua, tâ ̣n trung với nước(của vua)

Tóm lại , trong tư tưởng của các nhà Nho , họ luôn đề cao vai trò của dân nhưng với ho ̣, đề cao dân cũng vì lợi ích của bản thân người thống trị , dân cũng mãi chỉ là thần dân của kẻ cầm quyền thống tri ̣ mà thôi

Mối quan hệ giữa vua với bề tôi (quan lại)

Mối quan hệ giữa vua với bề tôi (quan la ̣i) là sự thể hiện tập trung nhất của mối quan hệ vua - tôi, thể hiê ̣n rõ nhất đa ̣o làm vua , đa ̣o làm bề tôi của từng đối

Trang 24

tươ ̣ng Cũng như mối quan hệ giữa vua với dân , trong mối quan hệ giữa vua với bề tôi (quan la ̣i), tiêu chuẩn trước hết và quan tro ̣ng nhất mà nhà Nho yêu cầu đối với nhà vua là phải có đạo đức Đạo đức đươ ̣c vua dùng để dưỡ ng dân, giáo dục, giáo hóa dân và cũng là để cho tầng lớp quan lại noi theo “ngườ i quân tử (nên hiểu là thiên tử) mỗi khi hành đô ̣ng có thể làm gương cho thiên ha ̣ đời sau noi theo , cách cư xử có thể làm phép tắc cho thiên ha ̣ đời sau noi theo , lời nói có thể làm khuôn mẫu cho đời sau noi theo, người ở xa trông ngóng, người ở gần chẳng chán” (17, tr.166) Quan la ̣i noi gương vua , nhìn việc vua làm để biết trách nhiệm của mình đối với dân, với nước Quan la ̣i cũng là người giúp vua , là chỗ dựa của vua trong việc trị nước, trị dân Bởi vâ ̣y, các nhà Nho quan niệm rằng , nước tri ̣ là do quan giỏi , là do vua dùng người quân tử ; còn nước loạn là do quan xấu , vua dùng tiểu nhân Theo đó, đa ̣o làm vua còn đòi hỏi vua phải biết cất nhắc, coi tro ̣ng người hiền tài, dùng họ

làm tay chân của mình trong việc trị nước , trị dân Trong sách Đại học, Tăng Tử

nhắc nhở ông vua phải biết tiến người hiền , thoái kẻ dở như sau: “Thấy người hiền tài mà không biết cất nhắc , cất nhắc mà không xứng chức , là kinh mạn người hiền tài vậy Thấy kẻ bất thiê ̣n mà không biết ga ̣t bỏ , gạt bỏ mà chưa xa lánh, là lỗi vậy” (17, tr.63) Mạnh Tử cũng nói thêm rằng: “Tôn người hiền, sử du ̣ng người tài năng , khiến những kẻ tuấn kiê ̣t đều ở đi ̣a vi ̣ cao , ắt kẻ sĩ trong thiên hạ đều hài lòng , tình nguyê ̣n được đứng tron g triều đình mình” (17, tr.857) Như vâ ̣y , cất nhắc ngườ i hiền tài không chỉ khiến vua có người tài , đức tri ̣ dân mà còn khiến dân tin vào đường lối tri ̣ nước của vua

Trong quan hệ với bề tôi, Nho giáo cũng cho rằng vua, phải đối xử với bề tôi theo nghĩa và giữ đúng lễ, vì lễ, nghĩa là đầu mối để trị dân, giáo dân xây dựng nền móng vững chắc cho sự thái bình của quốc gia Do vậy, khi sai khiến dân vua cũng phải giữ đúng đạo nghĩa (Kỳ sử dân dã nghĩa), giữ đúng đạo lễ (quân sử thần dĩ lễ) (17, tr.300) Các nhà Nho luôn nhấn ma ̣nh, bề tôi có đạo đức là người phải tận trung với vua , thờ vua Nhưng để bề tôi tuyê ̣t đối trung thành với vua , hết lòng vì quyền lơ ̣i của vua , thì nhà vua cũng phải hết lòng thương yêu bề tôi Như Mạnh Tử chỉ rõ : “vua coi bề tôi như tay chân, thì bề tôi coi vua như gan ruột, vua coi bề tôi

Trang 25

như chó ngựa, thì bề tôi coi vua như kẻ qua đường, vua coi bề tôi như bùn rác thì bề tôi coi vua như giặc thù” (17, tr.1062)

Tóm lại, đa ̣o làm vua của bâ ̣c quân vương là phải dùng đạo đức của mình đ ể soi sáng cho thiên ha ̣, cho tầng lớp quan la ̣i Vua là bề trên của quan la ̣i nhưng vua cũng phải biết sử dụng , cất nhắc người tài phu ̣c vu ̣ cho công viê ̣c của mình Đa ̣o làm vua không chỉ yêu cầu nhà vua phải cần mẫn , siêng năng, hết lòng trong công viê ̣c tri ̣ nước, an dân, mà còn phải hết lòng thương yêu bề tôi

Đạo làm bề tôi (quan lại)

Quan la ̣i được coi là tầng lớp trung gian nối quyền lực của vua với dân , là người thi hành đường lối trị dân của vua tới dân chúng Họ là những người thay mặt vua để trực tiếp chăm dân, dưỡng dân, trị dân nên theo nghĩa hẹp , đây cũng là cha

mẹ dân Vì vậy, đa ̣o làm tôi (quan la ̣i ) là vấn đề quan trọng được nhiều nhà Nho quan tâm Theo đó, đa ̣o làm tôi của quan la ̣i được đánh giá dưới hai góc đô ̣; thái độ, trách nhiệm của quan với vua và với dân

Các nhà Nho yêu cầu đạo làm tôi của quan lại trong quan hệ với vua, trước hết quan la ̣i phải hết lòng trung với vua “quân sử thầ n dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” Đúng như G.S Vũ Khiêu đã nhâ ̣n xét: “Ho ̣c thuyết của Khổng Tử tâ ̣p trung vào tinh thần trung quân Thờ vua là điểm cao nhất của đạo làm người , là yêu cầu đạo đức đầu tiên của bâ ̣c đa ̣i trượng phu , của bậc đại dũng, của anh hùng” (20, tr.121) Thực hành đạo trung của phận làm tôi không phải một chốc , mô ̣t lát cũng không phải chỉ ở trước mặt mà phải có “tâm trung” trong suốt cuộc đời Đây là tiêu chuẩn cao nhất của đạo làm tôi, từ lòng trung đó, phâ ̣n làm tôi sẽ tự biết hành xử cho đúng đa ̣o của mình Ngoài tận trung , đa ̣o làm tôi là yêu cầu quan la ̣i giữ đúng l ễ của kẻ làm tôi Như khi đươ ̣c vua cho vào cung điê ̣n thưa trình , bề tôi phải ăn mặc, nói năng, hành

xử thực sự kính cẩn Sách Luận ngữ đã ghi la ̣i lời của Khổng Tử: “1 Bước vào cửa

cung điê ̣n, phải cúi mình, như thể cửa thấp không dung nổi mình Không đứng ngay giữa cửa , không giẫm lên bâ ̣c cửa 2 Đi ngang qua ngai vua , phải đổi sắc mặt nghiêm nghi ̣, bước đi từ tốn , nói năng khe khẽ , như không đủ lời 3 Vén vạt áo bước lên triều đường, phải cúi mình, nín thở 4 Bước ra, xuống mô ̣t bâ ̣c, thì sắc mặt hòa hoãn, thư thái trong lòng Xuống bâ ̣c thềm chót , thì rảo bước , xuôi hai tay 5

Trang 26

Chừng trở la ̣i chỗ ngồ i, thì giữ vẻ cung kính (17, tr.424 - 425) Tuy nhiên , ở chỗ khác trong sách này, Khổng Tử cho rằng , thờ vua thì phải giữ lễ hết lòng nhưng viê ̣c gì cũ ng vâ ̣y nếu thái quá đều dở cả : “Hết lòng giữ lễ để thờ vua (có thể bị ) người ta chê là xiểm ni ̣nh vâ ̣y” (17, tr.254) Đồng thời các nhà Nho cũng cho rằng , người làm bề tôi làm tròn cái đạo của mình còn phải biết dẫn dụ vua làm điều thiê ̣n, hướng theo đạo đức chớ dẫn du ̣ vua ham muốn chiến tranh , mở mang bờ cõi khiến vua trở thành ba ̣o chúa như vua Kiê ̣t , vua Tru ̣ và cũng làm ha ̣i đến thần dân, xã tắc lâu bền của vua Kẻ làm bề tôi phải trung thực với vua, chớ dối gạt vua, khi vua lầm lạc phải can gián vua, chớ sợ mất lòng Như Mạnh Tử chỉ rõ: “Nhắc nhở vua nên làm những việc khó khăn là tôn trọng vua , bày tỏ điều thiện, ngăn lấp điều ác (trước

mă ̣t vua) là kính trọng vua , còn như là nói vua không làm nổi việc t hiê ̣n đâu là làm hại vua” (17, tr.1016) Tuy nhiên, quan niệm của các nhà Nho về viê ̣c bề tôi có thể và phải căn ngăn vua vẫn còn mang tính hình thức , thiên về cải lương và không dứt khoát, rõ rà ng Bề tôi muốn khuyên can vua phải lựa lúc , lựa chiều , khuyên mà không đươ ̣c thì la ̣i kính mà vâng mê ̣nh chứ không làm trái la ̣i Như Mạnh Tử nói:

“Đối với các quan không nên chỉ trích , với chính sách của vua chẳng nên chê bai Chỉ có bậc đại nhân mới có thể sửa đổi chỗ sai lạc trong lòng nhà vua” (17, tr.1050) Do đó , các nhà Nho có nói thêm rằng, đa ̣o của bề tôi là tìm cách ra làm quan giúp đời, nhưng cũng sẵn lòng lui về , khi không đắc chí , và: “Lúc có thể làm quan thì làm quan , lúc nên thôi quan thì thôi quan , đáng ở lâu thì ở lâu , nên nhanh chóng rút lui thì lui ngay” (17, tr.848) Mạnh Tử cũng nói thêm về ba trường hợp nên làm quan và ba trường hợp nên bỏ đi , đó là: “Nếu nhà vua đón tiếp rất cung kính, đúng lễ, hứa rằng sẽ làm theo lời mình nói ra , thì mình nên ra làm quan Vẻ cung kính vẫn chưa suy giảm , nhưng mình nói ra lời nào chẳng được thi hành , thì nên rút lui Sau nữa, tuy vua chưa làm theo lời mình nói ra, nhưng đón tiếp mình rất cung kính, đúng lễ, thì nên ra làm quan Đến chừng vẻ cung kính suy giảm thì nên

bỏ đi Trường hợp tê ̣ nhất là sáng không có gì ăn , tối không có gì ăn , đói lả không thể ra khỏ i cửa Vua nghe được , nói rằng: “Ta không thể thi hành phần chính yếu trong đường lối của ông ấy , lại không thể nghe theo lời ông ấy , nhưng để ông ta đói lả trên đất đai của ta , ta cũng lấy làm xấu hổ” , và chu cấp cho lương bổ ng, thì cũng

Trang 27

nên nhâ ̣n Nhưng chẳng qua chỉ để khỏi chết đói mà thôi” (17, tr.1280) Như vâ ̣y,

đa ̣o của bề tôi là khi mình có tài năng thì không nên ẩn mình mà phải gắng sức ra làm quan để thi hành nghĩa vụ của mình với vu a, với dân Khi nhâ ̣n được chức trách vua ban thì phải dốc lòng trung làm cho tốt , sau mới nghĩ tới bổng lô ̣c của bản thân:

“trước hết hãy làm phận sự thật kính cẩn, sau mới nghĩ đến lương bổng” (17, tr.587) Nếu vua không dù ng , không tin, không theo mình nữa thì nên từ quan mà

đi

Đối với dân chúng, quan la ̣i là cha me ̣ của dân , thay vua tri ̣ dân nên nhà Nho yêu cầu kẻ làm quan phải là những người có cả đức và tài Đức của quan la ̣i không thể sánh ngang với đức c ủa bậc quân vương nhưng vì quan lại là người giúp vua trị nước nên những người đó phải có đức để cảm hóa lòng dân , để truyền cái đức của nhà vua xuống khắp thiên hạ Đức lớn nhất của quan la ̣i với dân là phải hết lòng giúp đỡ dân : “Có thể đem hết sức mình ra giúp dân , hãy nên đứn g vào hàng ngũ quan la ̣i” (17, tr.593), “sai khiến dân có đa ̣o nghĩa” (17, tr.300) Ngoài ra, kẻ bề tôi có đức là phải biết khoan dung , từ nhượng với tất cả mo ̣i ngườ i Tăng Tử - học trò của Khổng Tử cho rằng , kẻ làm bề tôi thì “lòng dạ thênh thang , bao dung với mo ̣i người, thấy ai có tài ông ta coi như chính mình có, thấy ai giỏi dang và hiền đức, ông ta thật lòng ưa thích” (17, tr.60) Tài - tài năng của qu an la ̣i sẽ là tiêu chuẩn để nhà vua sử dụng quan lại vào việc trị nước phù hợp và tài cũng để dân tín phục và nghe lời đấng phu ̣ mẫu của dân Đối với quan lại, như Khổng Tử nói rằng : “Chẳng

lo không có đi ̣a vi ̣, chỉ lo sao đủ tài đức để được địa vị đó” (17, tr.276) Do đó, đa ̣o làm quan với dân là phải có đủ tài và đức hơn người Tài để dẫn dụ dân tin tưởng theo mình, đức là để dân lấy đó làm tấm gương soi mo ̣i hành xử , đó cũng là mong muốn của các nhà Nho đối với tầng lớp quan la ̣i “Làm quan giỏi nên ho ̣c thêm , học giỏi nên ra làm quan” (17, tr.667)

Như vâ ̣y , đa ̣o của quan la ̣i là phải được nhà vua tin câ ̣y và dân chúng tín phục như Tử Ha ̣ - học trò Khổng Tử nói : “Người quân tử phải được dân tín phu ̣c , sau mới dám khiến dân vất vả , nếu chưa được dân tín phu ̣c ắt mang tiếng khắc ba ̣c với dân; phải được vua tin cậy sau mới can gián , nếu chưa được tin câ ̣y mang tiếng phỉ báng vua” (17, tr.664) Nhưng trên hết , đa ̣o của kẻ làm tôi là phải tuyê ̣t đối

Trang 28

trung thành với vua , mọi việc làm , hành động phải lấy lợi ích của nhà vua làm trọng Đây là mô ̣t trong những ha ̣n chế cơ bản của Nho giáo và càng về sau các nhà

hâ ̣u Nho la ̣i càng cực đoan hơn khi yêu cầu, đòi hỏi sự trung thành của bề tôi là viê ̣c bề tôi không đươ ̣c thờ hai vua, hay “quân sử thần tử, thần bất tử, bất trung”

Cũng phải chỉ ra rằng, khi bàn về đạo làm vua, đạo làm bề tôi trong mối quan

hệ vua – tôi, quan niê ̣m của Khổng Tử và Mạnh Tử là mối quan hệ hai chiều có đi, có lại và ít nhiều mang tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc Khổng Tử yêu cầu bề tôi phải lấy lòng trung để thờ vua nhưng vua cũng phải lấy điều lễ để đối lại với bề tôi

“ quân sử thần dĩ lễ, thần sử quân dĩ trung” (17, tr.255) Còn với Mạnh Tử, theo ông nếu “vua coi bề tôi như tay chân, thì bề tôi coi vua như gan ruột, vua coi bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi coi vua như kẻ qua đường, vua coi bề tôi như bùn rác thì bề tôi coi vua như giặc thù” (17, tr.1062) Song từ Đổng Trọng Thư trở đi, mối quan hệ vua - tôi dần trở thành mối quan hệ một chiều thể hiện sự hà khắc và cực đoan trong

tư tưởng Nho giáo.Địa vị và vai trò của nhà vua được phủ lên bởi một lớp màn thần

bí, mối quan hệ vua - tôi được coi là mối quan hệ do trời sinh ra hay đó là “thiên lý” Lã Trấn Vũ nhận xét rằng: Đổng Trọng Thư đã “bẻ queo cái mà các nhà Nho từ Khổng Tử đến nay vẫn gọi là “luân lý” thành một thứ thiên tính của loài người, và giải thích như một biểu hiện của ý thần” (44, tr.378); ý chí, mệnh lệnh của vua được xem là ý chí, mệnh lệnh của trời, kẻ nào làm trái sẽ bị nhà vua thừa lệnh của trời mà trừng phạt Rõ ràng, từ Đổng Trọng Thư trở đi, vai trò của nhà vua, của kẻ thống trị được đề cao tới mức tuyệt đối, còn vai trò của dân, của kẻ bị thống trị bị lu mờ Họ chỉ thể hiện vai trò ở việc tuân thủ một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh quyền lực của nhà vua, của kẻ thống trị Quan niệm trên đây đã trở thành công cụ hữu dụng cho giai cấp thống trị nhằm duy trì, bảo vệ đi ̣a vi ̣ và quyền lực thống trị của mình

*Quan hệ cha - con

Bên ca ̣nh viê ̣c chú trọng mối quan hệ vua - tôi, Nho giáo cũng quan tâm đến các mối quan hệ trong gia đình của con người , đă ̣c biê ̣t là mối quan hệ cha - con Đây là mô ̣t trong những mối quan hệ cơ bản hợp thành “ngũ luân” và “tam cương” Mối quan hệ cha - con là mối quan hệ máu mủ, ruột thịt, gần gũi nhất trong gia đình Từ chỗ cho rằng , nhà là gốc của nước, Nho giáo đã đưa ra những chuẩn mực,

Trang 29

quy phạm đạo đức trong mối quan hệ cha - con nhằm duy trì trật tự, tôn ti trong gia đình cũng là góp phần củng cố trật tự, kỉ cương, ổn định xã hội và ràng buộc trách nhiệm giữa con người với con người Trong mối quan hệ này, các nhà Nho yêu cầu

“cha hiền từ - con hiếu thảo”

Cha hay nói rộng ra là cha mẹ - là người sinh ra con cái, do vâ ̣y đa ̣o làm người của cha me ̣ theo quan niệm Nho giáo trước hết phải là những người nuôi dưỡng, chăm lo sức khỏe cho con cái của mình Khổng Tử nhắc nhở ho ̣c trò của mình về nỗi lòng của cha mẹ : “Cha mẹ chỉ lo cho con mình đau ốm” (17, tr.219) Con cái có sức khỏe tốt rồi sau này mới có thể gánh vác được viê ̣c gia đình , viê ̣c xã tắc, mới thi hành được đạo làm người của mình Bên cạnh chăm lo sức khỏe cho con cái, cha mẹ phải có trách nhiệm dạy dỗ con cái, khuyên con cái gắng sức học tập: “Ái chi, năng vật lao hồ?” (yêu con, không thể bắt nó chịu khó nhọc hay sao?) (17, tr.529) Các nhà Nho còn yêu cầu cha mẹ phải khắt kh e trong viê ̣c dâ ̣y dỗ con cái, có như vậy con cái mới nhận thức rõ được đạo làm người của mình Ngoài ra đạo làm cha mẹ là phải hết lòng yêu thương, đối xử nhân từ với con cái Mạnh Tử cho rằng, đã là những bậc làm cha mẹ thì ai cũng luôn mong muốn những điều vẹn tròn cho con mình “sinh con trai thì mong cho con có vợ, sinh con gái mong cho con có chồng, lòng cha mẹ ai ai cũng có” (17, tr.976) Và đến khi con khôn lớn thì cha mẹ dựng vợ, gả chồng cho con để con cái nối tiếp được sự nghi ệp của cha ông để lại, “đàn ông lúc làm lễ đội mũ, có người cha đứng ra chỉ bảo Đàn bà lúc lấy chồng, có mẹ chỉ bảo” (17, tr.971) Cha mẹ phải luôn theo bước nuôi dạy con trưởng thành nên người, kẻ làm con khi được làm lễ trưởng thành trong gia đình mới có đủ tư cách để ra ngoài phục vụ xã hội và quản lý người khác và đến lúc đó cha mẹ mới có thể yên tâm, tự hào về con cái của mình Như vâ ̣y, đa ̣o làm cha mẹ là sinh con ra phải nuôi dưỡng , dâ ̣y bảo con cái nên người Nhà là gốc của nước , cha

mẹ thực hiê ̣n đúng đa ̣o của mình mới có thể giữ gìn được gia phong của gia đình , làm nền móng vững chắc cho nước nhà, cho triều đa ̣i hưng thi ̣nh

Đối với con cái, các nhà Nho cho rằng, con cái đối với cha mẹ phải làm tròn đạo hiếu Nho giáo luôn cho rằng , cha mẹ là người có công khó nhọc để sinh ra, nuôi dưỡng và dạy dỗ con cái, cho nên trong hết thảy đạo làm người của con cái thì

Trang 30

“nết hiếu là đầu của trăm nết” Bởi vì, theo các nhà Nho , người con c ó hiếu thảo, kính thuận với cha mẹ trong gia đình thì mới có lòng từ ái, trung thứ với mọi người ngoài xã hội , mới biết đối xử tử tế với người trên , kẻ dưới, mới thi hành hữu du ̣ng chính sách của nhà vua đối với dân và trên hết là mới đa ̣t được cái đạo làm người của mình Song để có được cái đạo làm người đó , để người con có được đạo Hiếu , theo Nho giáo, trước hết con cái phải nuôi dưỡng cha mẹ, Tuy nhiên , nuôi dưỡng cha mẹ không chỉ là cho cha mẹ ăn no, mă ̣c ấm mà con cái nuôi dưỡng cha mẹ phả i

đi liền với kính tro ̣ng , vì nuôi dưỡng cha mẹ mà không kính thì không phải là hiếu, vì vậy hiếu phải đi đôi với kính Như Tử Du hỏi về hiếu, Khổng Tử trả lời rằng:

“Kim chi hiếu giả thị vị năng dưỡng Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng Bất kính, hà dĩ biệt hồ?” (Ngày nay, những người tự xưng là hiếu đều nói rằng mình đã nuôi nổi cha mẹ Đến như loài chó, loài ngựa còn có người nuôi được mà Chẳng

kính lấy gì làm phân biệt?) (17, tr.220) Sách Lễ ký cũng ghi: “Xuyết thúc ẩm thuỷ,

tận kỳ hoan, tư chi vị hiếu” (dẫn theo18, tr.132) (Nghĩa là: nuôi cha mẹ cốt ở lòng thành kính, dẫu cho phải ăn gạo hỏng, uống nước lã mà làm cho cha mẹ được hết cái vui, ấy gọi là hiếu) Ngoài ra, khi Tử Hạ hỏi về hiếu, Khổng Tử nói rằng: “Sắc nan! Hữu sự, đệ tử phục kỳ lao, hữu tửu tự, tiên sinh soạn, tầng thị dĩ vi hiếu hồ?” (Giữ sắc mặt (vui vẻ) là khó lắm thay! Khi có việc, con em khó nhọc làm giùm, có cơm rượu, mời cha anh xơi trước, người ta ai cũng từng làm vậy, há có thể gọi là hiếu được chăng?) Điều này cho thấy, Khổng Tử yêu cầu người làm con phải có

“tâm hiếu” để thực hành đạo hiếu như một lẽ tự nhiên trong suốt cuộc đời

Theo quan niệm của nhà Nho thì, đạo của người con hiếu thảo còn phải nhớ tuổi của cha mẹ mình (phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã) và khi cha mẹ còn sống chớ đi đâu xa, nếu đi chơi xa phải có nơi xác định “phụ mẫu tại, bất viễn du; du tất hữu phương” Yêu cầu này của Nho giáo là để nhắc nhở con cái, phải biết tuổi của cha mẹ mình trước là để mừng vì cha mẹ được trường thọ, sống lâu, khoẻ mạnh; sau là để lo lắng cho cha mẹ khi già yếu chẳng còn sống được bao lâu mà phải chăm sóc kĩ càng, chu tất, lo sợ như vậy ắt lòng thương yêu cha mẹ sẽ tăng lên Bên cạnh đó, người con khi đi xa phải nhớ vào trình vấn cha mẹ để xem cha mẹ có điều gì căn

Trang 31

dặn không, đi đâu chậm về là phải luôn răn mình là có cha mẹ đang lo lắng Đây là quan điểm có ý nghĩa giáo dục con cái rất sâu sắc của Nho giáo

Trong quan niệm về sự hiếu thảo, Khổng tử yêu cầu hai điều cần chú ý là “vô vi” và “vô cải” “Vô vi” có nghĩa là thờ cha mẹ không được trái lễ “Vô cải” nghĩa là không thay đổi đạo của cha mẹ Hai điều đó hàm ý con cái phải phục tùng cha

mẹ, song phục tùng phải theo đạo, chứ không phục tùng một cách thụ động, không

biết phân biệt phải trái Như trong sách Luận ngữ có ghi chép rằng, khi Mạnh Ý Tử

hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử trả lời: “Vô vi” Sau đó Phàn Trì hỏi lại thì Khổng Tử giải thích rõ hơn là “sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ; tế chi dĩ lễ” (Lúc cha mẹ còn sống, lấy lễ mà thờ kính; lúc cha mẹ qua đời, lấy lễ mà chôn cất, lấy lễ mà tế tự) (17, tr.218) Lễ trong trườ ng hơ ̣p này là hợp nghĩa lý, là vừa phải chứ không thái quá hay bất cập, như Khổng Tử từng nói rằng “Lễ, dữ kỳ xa dã, ninh kiệm Tang, dữ kỳ dị dã, ninh thích” (Lễ cốt ở lòng thành, nếu lại xa xỉ, chẳng thà kiệm ước Việc tang cốt ở lòng thương xót, nếu lại sửa sang quá đáng, chẳng thà giữ nét mặt buồn rầu lại hay hơn) (17, tr.240)

Cũng theo Nho giáo , đa ̣o làm con của n gười con có hiếu là không chỉ biết vâng lời cha mẹ mà còn phải biết can ngăn cha mẹ khi cha mẹ mắc sai lầm Cũng giống như “trung” với vua là phải biết nghe theo vua, dẫn dụ vua đi theo điều nhân nghĩa, người con có hiếu phải biết vâng lời cha mẹ, che lỗi cho cha mẹ nhưng cũng

phải biết căn ngăn cha mẹ để tránh sai lầm Như sách Luận ngữ có ghi lại khi Diệp

Công nói với Khổng Tử rằng: “Nơi chúng tôi có người rất mực ngay thẳng: cha bắt trộm dê, con đứng ra làm chứng”, Khổng Tử nói: “Người ngay thẳng nơi chúng tôi lại khác: cha che dấu cho con, con che giấu cho cha, tính ngay thẳng ngụ trong đó” (phụ vị tử ẩn, tự vị phụ ẩn, trực tại kỳ trung hĩ) (17, tr.512) Tính ngay thẳng không thể thắng nổi tình cha con, nếu thấy cha có lỗi thì con phải khuyên can, nếu can không được thì cùng chịu tội với cha, khi tội bị phát giác Ngay thẳng ở chỗ không chối tội chứ không phải tố giác tội của cha Về vấn đề này , ở chỗ khác trong sách

Luận ngữ, Khổng Tử cũng nói: “Con theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh

vua há đã là trung? Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo mới gọi là hiếu, là trung vậy? Như vậy, trong quan điểm của Khổng Tử và Mạnh Tử, người con hiếu thảo

Trang 32

phải tuỳ từng trường hợp, hoàn cảnh mà thể hiện đạo hiếu Đây là quan điểm tích cực, có tính chất mềm dẻo, hai chiều song thực tế yêu cầu con cái phải phục tùng tuyệt đối cha mẹ vẫn là xu thế chủ yếu Khổng Tử đã từng nói rằng: “Thờ cha mẹ, có khuyên can cũng phải nhẹ nhàng Nếu thấy song thân không nghe theo, lại tỏ lòng cung kính và đừng trái ý.” (17, tr.279)

Người con có hiếu phải “vô vi” rồi “vô cải” nhằm khéo nối được cái chí của cha mẹ, giỏi kế thừa sự nghiệp của ông cha Khổng Tử từng nói rằng: “Lúc cha còn sống, xem chí hướng của người, lúc cha mất rồi, xem cách cư xử của người; ba năm không thay đổi đường lối của cha, khá gọi là hiếu vậy.” (Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hạnh; tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ) (17, tr.206)

“Hiếu” theo nghĩa này buộc người con phải đi tiếp con đường của cha, phải tôn trọng, giữ cho danh tiếng của cha mẹ cả lúc còn sống và lúc đi xa

Người con có hiếu chỉ phụng dưỡng cha mẹ lúc còn sống chưa đáng kể là việc lớn, sau khi cha mẹ mất con cái lo chôn cất trọng hậu mới đáng kể là người con có hiếu “dưỡng sinh giả bất túc dĩ đương đại sự; duy tống tử khả dĩ đương đại sự”

Do đó, theo quan niệm của các nhà Nho, đối với con cái, việc để tang cha mẹ là hết sức quan trọng Nho giáo qui định khi cha mẹ mất, con cái phải vô cùng thương tiếc, buồn rầu, lo tang lễ và để tang 3 năm, không phân biệt sang hèn, không để tang được 3năm là bất hiếu Thời gian để tang là 3 năm và không được rút ngắn được Khổng Tử giải thích rằng: “Đứa con sinh ra được ba năm mới thôi chịu ơn cha mẹ

ẵm bồng Ôi! Để tang ba năm là thông lệ của mọi người” (Tử sinh tam niên nhiên hậu miễn ư phụ mẫu chi hoài Phù, tam niên chi tang, thiên hạ chi thông tang dã) (17, tr.632)

Trong khi giảng giải đạo hiếu cho học trò, Khổng Tử, Mạnh Tử và các nhà Nho đều đưa ra những tấm gương làm tròn đạo hiếu để học trò học tập Bên cạnh đó, các nhà Nho còn vạch ra những điều bất hiếu để người đời sau tránh vi phạm Theo Mạnh Tử, tội bất hiếu có 3 điều: Một là, cha mẹ làm điều bất nghĩa mà mình còn a dua không biết căn ngăn, để cho cha mẹ mắc phải tiếng xấu Hai là, nhà nghèo mà mình chẳng chịu ra làm quan kiếm chút lộc, để nuôi cha mẹ Ba là, chẳng chịu lấy vợ để đến nỗi không có con làm tuyệt mất sự tế tự đối với tổ tiên Trong đó, tội

Trang 33

bất hiếu nặng nhất là tội không có con nối dõi (Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại) (17, tr.1054) Ngoài ra, Mạnh Tử còn chỉ rõ những hành vi, biểu hiện cụ thể của người con bất hiếu “Chân tay không cất nhắc, chẳng đoái tới việc nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ nhất Tối ngày cờ bạc, ham mê rượu chè, chẳng đoái tới việc nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ hai Ham của cải riêng lo cho vợ con, chẳng đoái tới việc nuôi dưỡng cha mẹ là tội bất hiếu thứ ba Buông theo ham muốn về sắc đẹp, hát hay để cha mẹ tủi hổ là tội bất hiếu thứ tư Cậy khoẻ, ham đánh lộn, để nguy hại tới cha mẹ là tội bất hiếu thứ năm” (17, tr.1093)

Nhìn chung, quan điểm về mối quan hệ cha - con của các nhà Nho tiên Tần là mối quan hệ hai chiều, có đi có lại, trách nhiệm đi liền với nghĩa vụ và về cơ bản là phù hợp với tình người, đạo lý làm người, tình phụ tử, tình phụ mẫu Nó có tác dụng tích cực trong việc đề cao trách nhiệm cũng như nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Nhưng các nhà Nho từ đời Hán trở đi, quan niệm về đạo

“hiếu” trong mối quan hệ cha – con là hết sức chặt chẽ, giáo điều gắn với những nghi thức rườm rà, những đòi hỏi vô lý buộc con người phải tuân theo một cách gò bó, hình thức và an phận trong một xã hội phong kiến đầy áp bức, bất công Nho giáo thời kỳ này bị phủ lên bởi màu sắc tôn giáo, thần bí Đạo hiếu theo nhà Nho là sự thể hiện của ý trời, mệnh trời mà cha là trời của con cái , ý chí của cha, quyền lực của cha là biểu hiện cụ thể ý chí , quyền lực của trời cho nên, con cái phải tuyệt đối tuân theo cha và vì “cha là rường cột của con”, con phụ thuộc hoàn toàn vào cha, dựa vào cha, cha bảo gì con cũng phải nghe và làm theo, không theo là bất hiếu Cũng chính vì tuyệt đối hoá quan hệ một chiều giữa cha mẹ và con cái, nên các nhà Nho sau này cho rằng, “trong thiên hạ không có cha mẹ nào là không đúng” để rồi đến Đổng Trọng Thư khẳng định: “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (Vua bảo bề tôi chết, bề tôi không chết là bất trung; cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu) Quan điểm này được giai cấp thống trị tiếp nhâ ̣n và sử dụng nhằm làm cho con người vì chữ hiếu mà không dám chống lại cái trật tự xã hội đã được an bài theo ý vua, theo mệnh trời

Tóm lại, trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, các nhà Nho đều cho rằng, đạo làm người của cha mẹ là cha mẹ phải đối xử nhân từ với con cái, phải có

Trang 34

nghĩa vụ, trách nhiệm nuôi dạy con cái nên người, lo học hành và chăm lo vun vén hạnh phúc cho con cái - gương mẫu thực hành đạo làm người cho con cái noi theo, còn con cái, là niềm hi vọng và tự hào của cha mẹ khi chúng nên người, là những người nối tiếp sự nghiệp của cha mẹ, phải đền đáp cho được công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ Do đó, các nhà Nho yêu cầu con cái phải có hiếu với cha

mẹ, phải nuôi dưỡng, nghe theo lời cha mẹ, nối chí cha, lo tang lễ và thờ cúng khi họ qua đời… và trên hết là phải có tấm lòng thành kính từ trong tâm của mình Nhìn chung, quan niệm về đạo làm người trong mối q uan hệ giữa cha mẹ và con cái của các nhà Nho tiên Tần mặc dù còn có những hạn chế nhất định như trọng hình thức, cách giải quyết vấn đề cải lương mà không có tính thực tiễn cao… Nhưng giá trị căn bản của nó là tính nhân bản sâu sắc, cho phép thực hiện đạo hiếu có sự “dịch”,

“biến” dựa trên một số nguyên tắc đạo đức cơ bản Những giá trị nhân bản này sang đến Hán Nho, Tống Nho đã bị tước bỏ đi để thay vào đó là tính chất thần bí, duy tâm Mối quan hệ này càng ngày càng trở nên khắt khe, mô ̣t chiều nhằm phục vụ

cho mục đích cai trị của giai cấp thống trị Như sách Đại học đã ghi rõ: “Đạo hiếu

(đối với cha) cũng là để thờ vua…, đạo từ (đối với con) cũng chính là để sai khiến dân chúng” (17, tr.42)

*Quan hệ chồng - vợ

Trong tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người thì đạo làm chồng , đạo làm

vơ ̣ thể hiê ̣n chủ yếu trong mối quan hệ vợ - chồng Cuộc sống chồng - vợ là sự bắt đầu của cuộc sống gia đình, là cơ sở rất quan trọng để hình thành nên nhà - “gốc của nhà nước” Khổng Tử đã khẳng định: “Người nam, người nữ thành gia thất là giềng mối lớn của con người” Vì có chồng - vợ rồi mới sinh con đẻ cái, hình thành quan

hệ cha con, anh em… rồi mở rộng ra ngoài là quan hệ vua - tôi, bằng hữu Song trên thực tế, cả Khổng Tử và Mạnh Tử đều ít bàn đến mối quan hệ này, cũng có nghĩa là

ít bàn đến đạo làm vợ , đa ̣o làm chồng Thậm chí, các nhà Nho này do xuất phát từ quan điểm gia trưởng, lập trường bảo thủ “trọng nam kinh nữ” đã không coi trọng mối quan hệ này như bốn mối quan hệ còn lại, có lúc họ đặt tình cảm anh em cao hơn nghĩa chồng - vợ

Trang 35

Khi đề cập đến mối quan hệ này, các nhà Nho đưa ra phạm trù Nghĩa nhằm qui định, ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ của người vợ, người chồng với nhau Theo đó, người chồng với tư cách là chủ gia đình phải làm tròn đạo lý của mình, vì như Ma ̣nh Tử đã nói: “Bản thân không làm theo đạo lý, chẳng giáo hoá nổi vợ con Sai khiến người không đúng đạo lý, bảo vợ con cũng chẳng nổi” (17, tr.1344) Vả lại, chồng là người để vợ con trông cậy suốt đời thì phải có tư cách đạo đức, ăn nói phải ngay thật mới có thể là tấm gương , là chỗ dựa vững chắc cho vợ con Tuy nhiên, xuất phát từ quan niệm coi thường người phụ nữ, cho nên trong quan niệm của các nhà Nho, nhìn chung địa vị và vai trò của người phụ nữ trong xã hội được nhìn nhận và đánh giá thấp hơn so với người đàn ông Nho giáo đề ra quan điểm giữa chồng và vợ phải có sự khác biệt “phu phụ hữu biệt” cũng còn có nghĩa là thừa nhâ ̣n sự bất bình đẳng, bất công giữa chồng và vợ Theo đó, vai trò của người chồng được đề cao là người chủ gia đình và vai trò của người vợ bị hạ thấp là người ở địa

vị phụ thuộc Trước khi người con gái về nhà chồng làm vợ đã được người mẹ dạy dỗ về trách nhiệm của người vợ là phải nghe theo chồng, không được làm trái ý chồng, như Ma ̣nh Tử đã viết: “ Nữ tử chi gia dã, mẫu mệnh chi Vãng tống chi môn, giới chi viết: “Vãng chi nhữ gia, tất kính, tất giới, vô vi phu tử” Dĩ thuận vi chính giả, thiếp phụ chi đạo dã” (Đàn bà lúc lấy chồng, có mẹ đứng chỉ bảo Khi đưa (con gái) ra khỏi cửa, bà răn rằng: “Mày về nhà chồng, phải kính, phải răn, chớ trái lời chồng” Lấy nhu thuận làm chính yếu, ấy là đạo của người làm vợ) (17, tr.971) Như vậy, đạo làm vợ trước tiên là phải tôn trọng và phục tùng chồng, nghe theo mọi quyết định của chồng “phu xướng - phụ tuỳ” Sau đó, đạo làm vợ là phải sống hoà thuận với mọi người trong nhà chồng Khổng Tử đã viện dẫn lời bài thơ “Đào yêu”

trong Kinh Thi để nhắc nhở người làm vợ: “Đào non mơn mởn,/ Lá xanh um tùm./

Cô kia về nhà chồng,/ Hoà thuận với người trong nhà./” (17, tr.48) Ngoài ra, đạo làm vợ còn phải có trách nhiệm chăm sóc, dậy dỗ con cái, đặc biệt là chỉ bảo người con gái những phép tắc khi về nhà chồng Bản thân người vợ, người me ̣ phải trở thành tấm gương cho con gái học tập về phẩm hạnh, về cách cư xử với nhà chồng Với phương châm và yêu cầu như vậy của Khổng Tử và Mạnh Tử đã được Đổng Trọng Thư sau này khái quát bằng luận điểm: đa ̣o của người phu ̣ nữ là phải “Tại gia

Trang 36

tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Như vâ ̣y , đa ̣o làm vợ trong xã hội phong kiến, theo quan niệm Nho giáo khiến ho ̣ không được tự ý làm bất cứ điều gì mà luôn phải tuân theo ý kiến, mê ̣nh lê ̣nh của người chồng , người đàn ông Người vợ phải là người hiền thục, đi, đứng, ăn, mặc, nói năng phải giữ lễ phép, làm việc chăm chỉ, không ngại khó, ngại khổ để khiến cho chồng đươ ̣c giàu sang và gia thân trong nhà được hoà thuận Đặc biệt, từ Đổng Trọng Thư trở đi, các nhà Nho đều đòi hỏi người phụ nữ, người vợ trong gia đình phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của người chồng, của cha mẹ chồng Chồng được coi là “rường cột của vợ”, là người quyết định mọi việc, chồng có thể bỏ vợ hoặc lấy thêm vợ khác tuỳ ý, nhất là khi vợ sinh con một bề hoặc không có con Nho giáo còn đưa ra quan niệm rằng , để làm tròn được đạo làm vợ thì người phụ nữ phải có đủ tứ đức: Công, dung, ngôn, hạnh, trong đó “hạnh” (tiết hạnh) của người phụ nữ đươ ̣c các nhà Lý học Tống Nho cho là lớn hơn cả sự sống chết (chết đói là việc nhỏ, tiết hạnh mới là việc lớn)

Tóm lại, tư tưởng của Nho giáo về đạo làm người trong mối quan hệ chồng - vợ do xuất phát từ lập trường coi thường người phụ nữ, nên nhìn chung các nhà Nho thường hạ thấp đi ̣a vi ̣, vai trò của người vợ , người phụ nữ Và cũng bởi , Nho giáo chỉ coi họ là hạng người “khó dạy bảo” nên yêu cầu người vợ phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng Quan điểm này đã được chế độ phong kiến thừa nhâ ̣n và tán dương khiến sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa chồng và vợ trở thành

mô ̣t tất yếu của xã hội Tất cả đều nhằm yêu cầu người phụ nữ phải hy sinh đơn thuần, một chiều cho chồng, cho con Quan niệm về đa ̣o làm chồng , đa ̣o làm vợ của nho giáo rõ ràng là bất công, khắt khe, tàn nhẫn đối với người phụ nữ, kìm hãm ước muốn hạnh phúc của người phụ nữ trong vòng cương toả của xã hội phong kiến

*Mối quan hệ anh - em

Khi bàn đến đạo làm người của con người trong gia đình, Nho giáo cũng đồng thời nhấn mạnh tới đạo làm người trong mối quan hệ anh - em Đây là mối quan hệ tình thân, ruột thịt, gần gũi của con người trong gia đình , gia tô ̣c Đối với đạo làm người trong mối quan hệ này cả Khổng Tử, Mạnh Tử và các nhà Nho khác đều cho rằng, anh - em trong nhà phải có thứ tự trên dưới, có trước, có sau “trưởng

ấu hữu tự” Theo đó, anh là người được xếp ở vị trí trên nên đa ̣o làm anh là phải có

Trang 37

trách nhiệm thương yêu, quan tâm lo lắng, chăm sóc cho người em Trong sách

Mạnh Tử có chép rằng, khi Vạn Chương hỏi Mạnh Tử vì sao vua Thuấn đối với

người ngoài (bất nhân) thì chém giết, nhưng với em trai (rất mực bất nhân) lại được phong đất Hữu Tị, ông cho rằng: “Người nhân đối với em trai không chất chứa giận dữ, không giữ mãi oán hờn, chỉ một niềm thương mến mà thôi” (17, tr.1115) Như vậy, ngoài việc thương mến, với vị trí trên của mình, đa ̣o của người làm anh còn phải biết khoan dung, độ lượng với người em Đây là quan điểm tiến bộ của Nho giáo thể hiện sự yêu thương, tình cảm sâu sắc của con người với con người trong gia đình Ngược lại, Nho giáo cũng cho rằng, người làm em ở vị trí dưới, thấp hơn nên đa ̣o làm em là phải lấy “mộ nhân nghĩa mà thờ anh”, anh dạy bảo em phải nghe lời Hơn nữa, trong quan niệm của Nho giáo, người anh, đặc biệt là anh trưởng là người thay cha (khi cha qua đời) làm chủ gia đình và điều hành mọi việc trong nhà,

do vậy người em không được trái ý, phải tôn kính anh và làm theo mọi sự sắp xếp của anh, kể cả những việc riêng như lấy vợ, lựa chọn nghề nghiệp… Rõ ràng , quan điểm này của Nho giáo đã thể hiê ̣n rõ tính chất một chiều, thiếu sự tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ anh - em, hạn chế sự bình đẳng của con người với con người trong gia đình Điều đó, cũng là một trong những nguyên nhân làm cho xã hội phong kiến trì trệ, nặng về lối gia phong thủ cựu Tất nhiên , các nhà Nho đều có mong muốn xây dựng được mối quan hệ hòa thuận giữa anh và em để tạo nên không khí vui vẻ , đầm ấm trong gia đình, có “nên anh, nên em, thì sau mới có thể dạy bảo người trong nước” (17, tr.49) và “mọi người biết thương người thân, kính trọng bậc trưởng thượng, thì thiên hạ yên bình” (17, tr.1036) Khổng Tử đã từng khẳng định: Trong nhà mà anh em, vợ chồng, con cái hòa thuận thì đấng cha mẹ rất hài lòng Đây là những quan điểm rất tiến bộ, thấu tình đạt lý và chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc Quan điểm này không chỉ có giá trị trong xã hội phong kiến mà còn lưu giữ và tiếp biến ở nhiều nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo

*Mối quan hệ bạn bè

Trong khi đưa ra và luâ ̣n giải mối quan hệ giữa con người với con người , cũng như hình thành quan niệm về đạo làm người trong ngũ luân, Nho giáo đã giành sự quan tâm nhất định đạo làm người trong mối quan hệ bạn bè (bằng hữu)

Trang 38

Đây là mối quan hệ của con người trong cộng đồng nhưng lại là yếu tố quan trọng để thể hiện đạo làm người của mỗi người Ở mối quan hệ này, Nho giáo yêu cầu lấy chữ “tín” làm trọng (bằng hữu hữu tín), bạn bè xây dựng tình cảm với nhau trên cơ sở chữ tín Tín nghĩa là nói cái gì thì sẽ làm đúng như vậy Nho giáo cho rằng, trong tất cả phép hành xử của mọi người phải đặc biệt đề cao chữ tín Khổng Tử khuyên các đệ tử của mình “làm việc gì cũng phải cẩn thận và giữ chữ tín”, hay “lời nói phải giữ trung tín” Ngay cả việc chính trị cũng vậy, vua phải giữ được sự tín nhiệm với thần dân, bởi “vô tín bất lập”, dân mà không tin vào nền chính trị thì rất có thể sẽ bị mất nước, chính trị bị lung lay, sụp đổ Song trên tất cả, trong mối quan hệ bạn

bè, chữ tín được nhấn mạnh và xuyên suốt, chi phối mọi ứng xử, việc làm Khổng Tử khuyên học trò của mình rằng, trong lời nói, việc làm phải giữ chữ tín thì trong quan hệ bạn bè, ông càng nhấn mạnh điều này “chơi với bạn bè nói ra câu nào cũng

phải giữ chữ tín” (17, tr.202) Trong sách Luận ngữ có chép rằng: Tăng Tử - học trò

của Khổng Tử luôn tự vấn mình , yêu cầu mình là mỗi ngày đều xét lại bản thân về

ba việc trong đó việc thứ hai là “chơi với bạn bè đã thật thành tín chưa?” (17, tr.199) Như vậy, chữ tín là chuẩn mực hàng đầu trong quan hệ bạn bè cũng như trong đạo làm người của mối quan hệ này Theo Nho giáo, bạn hữu phải trân trọng, bảo vệ, giữ gìn lòng tin với nhau, làm được điều đó tình bạn mới được bền chặt, thâm giao Chữ tín trong tình cảm bạn bè còn được các nhà Nho quan niệm rằng, đã là bạn hữu của nhau phải sống thẳng thắn, trung thực với nhau, cư xử theo đúng nghĩa; do đó, đa ̣o ba ̣n hữu là khi bạn có lỗi phải “thật lòng khuyên bảo, nhưng khéo dẫn dụ”, phải lựa lời mà can gián, nhưng phải tôn trọng bạn, không được ép buộc bạn theo ý mình Tuy nhiên, để giữ được chữ tín trong quan hệ bạn bè, Nho giáo cho rằng, trước tiên người ta phải biết “chọn bạn mà chơi” Bạn bè chơi với nhau phải là những người cùng mục đích sống, cùng lí tưởng, cùng chí hướng “người quân tử lấy văn chương để họp bạn” Khổng Tử đã từng nói rằng, “không đánh bạn với những kẻ chẳng như mình” (17, tr.203) Đến Mạnh Tử, ông nhấn mạnh thêm

“chẳng đánh bạn với người nào không xứng đáng làm bạn”(17, tr.869), hay khi nói với Vạn Chương, ông nói cụ thể hơn : “phải là người thiện sĩ trong làng mới có thể làm bạn với thiện sĩ trong làng, phải là người thiện sĩ trong nước mới có thể làm bạn

Trang 39

với thiện sĩ trong nước, phải là người thiện sĩ trong thiên hạ mới có thể làm bạn với thiện sĩ trong thiên hạ” (11, tr.1187) Bên cạnh đó, nhà Nho cũng phê phán lối huênh hoang, cậy quyền, cậy thế trong khi kết giao bạn bè Mạnh Tử cho rằng, khi kết bạn “chớ cậy mình lớn tuổi, sang cả, chớ cậy thế anh em, mới có thể kết bạn Kết bạn là dựa vào đức, không thể cậy mình hơn người, bất kể điều gì.”(17, tr.1163) Mục đích lớn nhất của việc kết bạn, theo Nho giáo là để được giao lưu, học hỏi người nhân, để giúp nhau phát huy đức nhân của mình Dù là bạn thân hay

sơ thì khi gặp nhau bạn bè vẫn phải lấy lễ mà đối xử, tuỳ theo địa vị, tuổi tác mà ứng xử cho phù hợp nhưng trên hết là tôn trọng lẫn nhau Ngoài ra, Khổng Tử còn chỉ ra ba hạng bạn bè giúp ích cho ta và ba hạng bạn bè làm hại ta: “Bạn ngay thẳng, bạn rộng lượng, bạn biết nhiều là những người giúp ích cho ta Bạn giả bộ, bạn khéo chiều chuộng, bạn khéo nói là những người làm hại ta.” (Hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn: ích hĩ Hữu biền tịch, hữu thiện nhu, hữu biền ninh: tổn hĩ) (17, tr.599) Như vậy, trong quan hệ bạn bè cũng như đạo bằng hữu , Nho giáo đề cao sự trung thực, bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau Bạn bè phải biết sống trọn tình, vẹn nghĩa với nhau Bản thân Khổng Tử cũng là tấm gương sáng trong cách cư xử với bạn bè, thể hiê ̣n rõ đa ̣o làm ba ̣n của mình Như chẳng may bạn qua đời mà không có người thân ở bên, ông chủ động đứng ra lo tang lễ chu đáo cho bạn Đây là lối giao thiệp của những kẻ sĩ có lòng nhân Điều này thể hiện quan điểm sống nhân văn, sâu sắc, có văn hoá, có tinh thần trách nhiệm của nhà Nho đối với bạn bè nói riêng và với cộng đồng nói chung Những giá trị sống tích cực đó không chỉ hợp trong xã hội phong kiến mà còn đáng trân trọng và hữu dụng trong cuộc sống hiện nay

* Quan hệ thày - trò

Để hình thành nên những chuẩn mực về đạo làm người, ngoài việc con người phải ứng xử theo quan điểm của ngũ luân, các nhà Nho đưa ra nhiều yêu cầu về ứng xử trong các mối quan hệ khác trong đó phải kể đến quan hệ thày giáo và học trò Đây là tình cảm cao cả, thiêng liêng của con người, nó được các nhà Nho và giai cấp phong kiến rất coi trọng và đề cao Nho giáo đặt ra yêu cầu đạo đức lớn đối với cả thầy và trò Người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng và địa vị hết sức tôn quý,

Trang 40

trong xã hội thầy còn cao hơn cả cha mẹ, theo thứ bậc “quân, sư, phụ” đã qui định và được xã hội thừa nhận Trong mối quan hệ này, Nho giáo yêu cầu đa ̣o làm thầy và đa ̣o làm trò là phải cư xử theo lễ Đa ̣o làm t hầy lấy lễ để giáo hoá học trò Đa ̣o làm t rò lấy lễ để đối xử cung kính với thầy Nho giáo luôn cho rằng , người thầy trong việc dạy học trò phải luôn là tấm gương đạo đức về mọi mặt để học trò noi theo Do vậy, để làm tròn đạo của người thầy , yêu cầu người thầy phải hội đủ cả đức lẫn tài (toàn tài, toàn đức) Người thầy lấy đức để cảm hoá học trò, lấy tài để dạy đủ “lục nghệ” cho ho ̣c trò Bên cạnh tài đức, đa ̣o làm thầy còn yêu cầu người thầy còn phải nắm vững phương pháp giáo dục, hiểu rõ năng lực, tâm lý riêng biệt, nhân cách đạo đức của từng học trò Trong xã hội người thầy cũng là người dạy lý tưởng, đạo đức, dạy cách ứng xử, thực hành đạo làm người cho học trò noi theo Là người nắm toàn bộ nội dung học thuyết Nho giáo, nhiệm vụ của đa ̣o làm thầy là truyền thụ nội dung đó cho học trò, kể cả khi học trò là bậc quân vương Người thầy có thể trách mắng, đánh phạt khi học trò vô lễ hay lười học nhưng về tình cảm thì người thầy đối xử và coi học trò như con của mình Người thầy dành cả tâm sức, tình cảm để dạy dỗ học trò chỉ mong thoả nguyê ̣n mơ ước có học trò trưởng thành về nhân, tài, đức để ra phò vua, giúp nước, làm cho nước trị, dân an, xã hội hoà mục Trong quan niệm của Đổng Trọng Thư, người thầy còn chịu trách nhiệm trước dân, trước đất nước về tài năng và nhân cách của học trò mình Đối với học trò, trên tinh thần “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, người học phải khiêm tốn mà hiểu rằng

“Người ta dù có tư chất hơn người và tâm biền biệt sáng suốt, tất vẫn phải tìm thầy hiền mà thờ, chọn bạn tốt mà chơi” (25, tr.365) Nếu “không có thầy thì ai dạy cho hiểu sâu sắc tình lý của Lễ, những gì là Lễ ở ngoài Lễ, làm sao biết thế nào là Lễ đúng Lễ” (25, tr.223) Cho nên, theo nhà Nho, đạo làm người của học trò là phải tôn trọng thầy, không được chê thầy, chê thầy tức là không coi thầy là thầy, là vô lễ Học trò phải lấy Lễ mà đối xử với thầy, phải lễ phép, kính trọng, coi thầy như cha

mẹ, mọi việc phải hỏi ý kiến thầy, nghe theo lời khuyên của thầy, noi theo chí hướng của thầy mà phấn đấu, học tập và rèn luyện Nếu chẳng may thầy qua đời thì

đa ̣o của người học trò là phải lo tang lễ và chịu tang thầy như tang cha mẹ Tình thân, cách ứng xử qua lại của thầy Khổng Tử và học trò của ông là mẫu mực về mối

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (2008), “Nô ̣i dung và giá tri ̣ cơ bản về quyền con người trong Quốc triều hình luật”, Tạp chí Triết học, số 7, tr.9 -16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nô ̣i dung và giá tri ̣ cơ bản về quyền con người trong Quốc triều hình luật
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 2008
2. Nguyễn Thanh Bình (2007), Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIX ) , Nxb Chi ́nh tri ̣ quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIX)
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
3. Nguyễn Thanh Bình (2000), “Nho giáo với vấn đề phát triển kinh tế và hoàn thiê ̣n con người”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 10, tr 35-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo với vấn đề phát triển kinh tế và hoàn thiê ̣n con người
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục lý luận
Năm: 2000
4. Nguyễn Thanh Bình (2000), “Tư tưởng về “đa ̣o tri ̣ nước” ở các nhà Nho Việt Nam”, Tạp chí Triết học, (số 6), tr.28 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng về “đa ̣o tri ̣ nước” ở các nhà Nho Việt Nam”, Tạp chí" Triết học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2000
5. Bô ̣ Giáo du ̣c và Đào tạo (2005), Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Nxb Chi ́nh tri ̣ quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lênin
Tác giả: Bô ̣ Giáo du ̣c và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính tri ̣ quốc gia
Năm: 2005
6. Bô ̣ Tư pháp - Viê ̣n Quan hệ pháp lý (2008), Quốc triều hình luật những giá tri ̣ lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam , Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hình luật những giá tri ̣ lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Tác giả: Bô ̣ Tư pháp - Viê ̣n Quan hệ pháp lý
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2008
7. Trần Thi ̣ Châm (2011), “Ảnh hưởng của Tam giáo trong tư tư ởng tri ̣ nước của vua Lê Thánh Tông”, Tạp chí Nghiên cư ́ u Tôn giáo , số 1, tr.29 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Tam giáo trong tư tư ởng tri ̣ nước của vua Lê Thánh Tông
Tác giả: Trần Thi ̣ Châm
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cư ́u Tôn giáo
Năm: 2011
8. Phan Bô ̣i Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập , tâ ̣p 9, Nxb Thuâ ̣n Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bô ̣i Châu
Nhà XB: Nxb Thuâ ̣n Hóa
Năm: 1990
9. Nguyễn Huê ̣ Chi (chủ biên) (1998), Hoàng đế Lê Thánh Tông nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn, Nxb Khoa ho ̣c xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng đế Lê Thánh Tông nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn
Tác giả: Nguyễn Huê ̣ Chi
Nhà XB: Nxb Khoa ho ̣c xã hội
Năm: 1998
10. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí , tâ ̣p 2, Tổ phiên di ̣ch Viê ̣n Sử ho ̣c di ̣ch và chú giải, Nxb Giáo du ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí , tâ ̣p 2
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Giáo du ̣c
Năm: 2007
11. Phan Huy Chú (1961), Lịch triề u hiến chương loại chí , tâ ̣p 3, Tổ phiên di ̣ch Viê ̣n Sử ho ̣c di ̣ch và chú giải, Nxb Sử ho ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
12. Phan Đa ̣i Doãn (chủ biên ) (1999), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đa ̣i Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
13. Quang Đa ̣m (1994), Nho giáo xưa và nay , Nxb Văn ho ́a thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Quang Đa ̣m
Nhà XB: Nxb Văn ho ́a thông tin
Năm: 1994
14. Đại Viê ̣t sử kí toàn thư , (2009), (trọn bộ), Nxb Văn ho ́a thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Viê ̣t sử kí toàn thư
Tác giả: Đại Viê ̣t sử kí toàn thư
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2009
15. Cao Thu Hằng (2002), “Vai trò của pháp luật trong viê ̣c giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống”, Tạp chí Triết học, số 11, tr.30-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của pháp luật trong viê ̣c giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống
Tác giả: Cao Thu Hằng
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 2002
16. Trần Đình Hượu (2001), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông , Nxb Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về tư tưởng phương Đông
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2001
17. Chu Hy (1998), Tứ thư tập chú, Nguyễn Đức Lân di ̣ch và chú giải , Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thư tập chú
Tác giả: Chu Hy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1998
18. Trần Trọng Kim (2008), Nho giáo, Nxb Văn ho ́a thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2008
19. Phạm Văn Khoái, (2004), Khổng Phu Tử và Luận ngữ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng Phu Tử và Luận ngữ
Tác giả: Phạm Văn Khoái
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
20. Vũ Khiêu (2002), Bàn về văn hiến Việt Nam, Nxb Tha ̀nh phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn hiến Việt Nam
Tác giả: Vũ Khiêu
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w