này đã phân tích thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay và đưa ra một số định hướng để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, đồng thờ
Trang 1-*** -
PHẠM THỊ DUYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2003
Trang 2-*** -
PHẠM THỊ DUYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành : Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số : 5-01-02
Người hướng dẫn khoa học : TS - Dương Văn Thịnh
Hà Nội - 2003
Trang 3MỞ ĐẦU 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 8
CHƯƠNG 1: NGUỒN NHÂN LỰC SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
10
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực 10
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 16
1.2.2 Yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đối với việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực
25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA.
36
2.1 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam 36
2.1.1 Về thể lực
2.1.2 Về trí lực
2.1.3 Về những phẩm chất đạo đức, tinh thần của con người Việt Nam
2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới khi các nước đó muốn tiến tới một xã hội hiện đại Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ đơn thuần là công cuộc xây dựng kinh tế mà còn là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Để đảm bảo cho sự nghiệp này thành công, Đảng ta xác định phải "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững"
Đây là quan điểm cơ bản chỉ đạo toàn bộ sự phát triển của đất nước Chăm lo bồi dưỡng, phát huy nguồn lực con người với chất lượng cao là yếu
tố quyết định đối với sự phát triển của nưóc ta Đảng ta nhấn mạnh rằng con người không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực của sự phát triển Trong các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội (tài nguyên thiên nhiên, vốn, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ…), thì nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta chỉ có thể thành công khi chúng ta có một nguồn nhân lực có chất lượng Nếu trước đây, thiếu vốn
và sự nghèo nàn về cơ sở vật chất là cái chủ yếu ngăn cản tốc độ tăng trưởng kinh tế, thì ngày nay, cái cản trở chủ yếu ấy được xác định là ở chất lượng của nguồn nhân lực, bao gồm trình độ học vấn, tình trạng sức khoẻ … Do vậy, đầu tư cho việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng được coi là khâu quan trọng nhất Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chúng ta phải dựa
Trang 5trên cơ sở phân tích thực trạng của nó, từ đó có những giải pháp tích cực hạn chế những mặt yếu kém của chất lượng nguồn nhân lực Chỉ có như vậy, chúng ta mới thể có nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với mỗi quốc gia là phải thường xuyên chăm
lo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
Đây là vấn đề quan trọng cần được luận giải để bảo đảm cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Làm rõ được những vấn đề trên thực sự là một đòi hỏi vừa cấp bách, vừa cơ bản có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Vì lẽ đó, tôi chọn vấn đề "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay"
làm đề tài của luận văn
2 Tình hình nghiên cứu
Trước đây, trong các tài liệu triết học Mác-xít trong và ngoài nước, đề tài con người và đề tài công nghiệp hoá đã được nghiên cứu ở mức độ đáng kể Nhưng con người với tư cách là một nguồn lực quan trọng nhất của bản thân quá trình công nghiệp hoá thì còn chưa được xem xét một cách đầy đủ
Trong những năm gần đây, hạn chế này mới được khắc phục dần Trên một số tạp chí và báo chuyên ngành đã xuất hiện các bài viết đề cập đến vấn
đề này
Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, khi phân tích vị trí nguồn nhân lực trong quan hệ với các nguồn lực khác đã khẳng định nguồn lực quan trọng
Trang 6nhất là con người Từ đó, tác giả đề cấp đến một số yếu tố cần thiết để kích thích tính tích cực của con người ("Nguồn nhân lực trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Tạp chí Triết học, (số 3 - 1994), "Vai trò động lực của dân chủ đối với sự hoạt động và sáng tạo của con người", Tạp chí Triết học, (số 5 - 1996) Tác giả, Phạm Văn Đức cho rằng, để khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực con người phải thực hiện nhiều giải pháp ("Một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực con người", Tạp chí Triết học, số
6 - 1996) đề cập đến việc tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tác giả, Nguyễn Duy Quý nhấn mạnh sự cần thiết phát triển con người
và cho rằng: Phát triển con người về thực chất là phát triển và hoàn thiện nhân cách con người theo yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ("Phát triển con người, tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta", Tạp chí Cộng sản, số 19 - 1998) Tác giả, Lưu Đình Mạc, khi bàn về yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã khẳng định vai trò to lớn của giáo dục trong việc xây dựng nguồn nhân lực ("Phát triển giáo dục đại học là điều kiện đảm bảo công nghiệp hoá, hiện đại hoá ", Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp,
số 4 - 1995) Bàn về xu thế trí tuệ hoá lao động, tác giả Phạm Tất Dong cho rằng: phải quan tâm xây dựng đội ngũ lao động trí tuệ ("Suy nghĩ về xây dựng đội ngũ trí thức nước ta", Tạp chí Cộng sản, số 4 - 1994) Đề cập các yếu tố cần thiết để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tác giả Nguyễn Văn Hiệu nhấn mạnh vai trò, nội dung và nhất là cách thức của giáo dục - đào tạo trong việc bồi dưỡng nhân tài ("Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", Tạp chí Cộng sản, số 1 - 1997) Một số ấn phẩm dưới dạng sách như: "Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá" của Phạm Minh Hạc (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1996; "bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới" của Nguyễn Minh Đường (chủ biên) v.v
Trang 7Ngoài ra, còn có những nghiên cứu đề cập đến những kinh nghiệm về quản lý, phát triển nguồn nhân lực của một số nước trong khu vực, có ý nghĩa tham khảo đối với nước ta Đó là: "Quản lý nguồn nhân lực", Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1995 của Paul Hersey "Hệ thống kích thích lao động ở các xí nghiệp lớn của Nhật Bản", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (số 218) của V.Khlưnốp v.v
Gần đây đã có những luận án triết học nghiên cứu về nguồn lực con người Chẳng hạn "Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay" (chuyên ngành CNXH khoa học, Hà Nội, 1999 của Nguyễn Thị Tú Oanh) Công trình này đã phân tích vai trò, nhiệm vụ của thanh niên đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, và đưa ra những giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn lực thanh niên đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (chuyên ngành triết học, Hà Nội 2000 của Đoàn Văn Khái) Công trình này đã nghiên cứu, phân tích vai trò nguồn lực con người và đưa ra giải pháp phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở nước ta - Đặc điểm và xu hướng phát triển (chuyên ngành triết học - Hà Nội
2001 của Nguyễn Ngọc Sơn) công trình này đã nghiên cứu, phân tích thực trạng, đặc điểm nguồn nhân lực nông thôn ở nước ta hiện nay và đưa ra những giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn ở nước ta
Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của giáo dục - đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta hiện nay, chuyên ngành triết học năm 2001 của Nguyễn Thanh, công trình
Trang 8này đã phân tích thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay và đưa ra một
số định hướng để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, đồng thời phân tích vai trò của giáo dục - đào tạo với tư cách là" quốc sách hàng đầu"
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đề cập đến con người ở những khía cạnh khác nhau, nhưng trong các công trình đó, không phải mọi tác giả đều đã tập trung chú ý đến con người, đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đó Có thể nói rằng, dưới góc độ triết học, nghiên cứu một cách có
hệ thống về nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, những giải pháp để khai thác, sử dụng, phát triển có hiệu quả nguồn nhân lực quan trọng này trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang là vấn đề cấp bách, cơ
bản cần phải nghiên cứu sâu hơn và đầy đủ hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nêu được sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở nước ta hiện nay và chỉ rõ thực trạng chất lượng nguồn nhân lực nước ta Từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
Với mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
Thứ nhất: Làm rõ khái niệm nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực
và yêu cầu khách quan của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân ở nước ta
hiện nay
Trang 9Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng của một số nhà khoa học về vấn đề con người và xã hội và tham khảo một số công trình có liên quan đến nội dung của luận văn
Về mặt phương pháp, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp kết hợp
sự phân tích với tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgíc và lịch sử, khái quát hoá và trừu tượng hoá trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật
5 Phạm vi - đối tượng nghiên cứu
Đây là một đề tài rộng nên luận văn giới hạn xem xét chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian từ những năm 90 (của thế kỷ XX) trở lại đây và các
số liệu khảo sát chỉ trên một số vùng tiêu biểu của đất nước
6 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ thêm các khái niệm "nguồn nhân lực" và "chất lượng nguồn nhân lực"
- Góp phần đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trang 10Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập, cũng như cho những ai quan tâm đến vấn đề này
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 80 trang, kết cấu thành hai chương, bốn tiết và phần kết luận
Trang 11CHƯƠNG 1
NGUỒN NHÂN LỰC SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SỰ NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm của cả nước trong một giai đoạn dài Nó quyết định mức độ phát triển và tăng trưởng
về mọi mặt của đất nước Do vậy cần phải huy động tổng thể các loại nguồn lực cần thiết tập trung cho thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược này
Các loại nguồn lực mà bất cứ quốc gia nào khi tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đều phải huy động là: Nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lực tài nguyên … trong các nguồn lực đó thì nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực rất quan trọng
Nguồn nhân lực với tư cách là nơi cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm một bộ phận dân cư có khả năng tham gia vào hoạt động cải tạo tự nhiên
và xã hội một cách bình thường
Nguồn nhân lực có thể với tư cách là một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là sức mạnh tổng hợp của những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu
tố về vật chất, tinh thần được huy động vào quá trình lao động Với nghĩa này
Trang 12nguồn nhân lực gồm những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên
có tham gia vào nền sản xuất xã hội
Những cách hiểu trên đều có chung một ý nghĩa là nói lên khả năng lao động của xã hội
Nguồn nhân lực được xem xét trên góc độ số lượng và chất lượng, số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng nguồn nhân lực
Về chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: Tình trạng sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất v.v
Số lượng, đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và văn hoá cho xã hội
Trong thực tế, khái niệm "nguồn nhân lực" ngoài nghĩa rộng được hiểu như khái niệm " nguồn lực con người", thường còn được hiểu theo nghĩa hẹp
là nguồn lao động (tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và
số lao động dự phòng) Thậm chí có khi còn được hiểu là lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động vẫn còn có khả năng lao động)
Tìm hiểu khái niệm "nguồn nhân lực" không chỉ đơn thuần là tìm hiểu nội hàm của một khái niệm Quan niệm đúng về nguồn nhân lực sẽ là cơ sở quan trọng định hướng cho việc nuôi dưỡng, khơi dậy, phát huy tốt tiềm năng nguồn nhân lực.Từ một số cách tiếp cận và với những nội dung trên dưới dạng tổng quát, theo chúng tôi: Khái niệm nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng lao động của con người có trong một giai đoạn lịch sử nhất định Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà về thể lực, trí lực, tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách và tinh thần …) của người lao động và cơ cấu kết hợp con người với nhau đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực là khái
Trang 13niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và chất lượng con người với tất cả đặc điểm, tiềm năng và sức mạnh của nó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Với cách hiểu trên, khái niệm nguồn nhân lực bao gồm:
Trước hết là người lao động, là lực lượng lao động, là nguồn lao động,
cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động trong các ngành, các vùng
Cơ cấu lao động đã qua đào tạo trong các lĩnh vực và khu vực kinh tế, cơ cấu trình độ lao động, cơ cấu tuổi của lực lượng lao động, cơ cấu lao động dự trữ, chất lượng dân số đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và tương lai thể hiện qua hàng loạt các yếu tố: Sức khoẻ, mức sống, tuổi thọ
Trình độ học vấn: Trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp, kỹ năng
và văn hoá lao động, các khía cạnh tâm lý, ý thức, lối sống …, trong đó thể lực, trí lực, tâm lực là những yếu tố quan trọng
Sức lao động (thể lực, trí lực) của con người, chất lượng con người (bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái
độ và phong cách làm việc) Đó chính là tổng hợp toàn bộ năng lực và phẩm chất sinh lý - tâm lý - xã hội của con người tạo nên nhân cách mỗi cá nhân
Phân loại nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư gồm: Toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động Những người trong độ tuổi từ
16 - 60 (nam), 16 - 55 (nữ), theo quy định của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc vào nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động
Trang 14Nguồn nhân lực tham gia vào các hoạt động kinh tế: Đây là số người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế - văn hoá của xã hội
Nguồn nhân lực dự trữ là: Những người trong độ tuổi lao động, nhưng
vì lý do khác nhau họ chưa có công ăn việc làm
1.1.2 Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố bản chất bên trong của nguồn nhân lực, tạo nên năng lực hoạt động của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một
xã hội nhất định
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu tổng quát là xây dựng nước
ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh chỉ
có thể thắng lợi khi chúng ta có được một nguồn nhân lực chất lượng với những con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ
Do vậy, theo chúng tôi: Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hoà các yếu
tố tác động biện chứng có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên năng lực hoạt
Trang 15động nhất định của con người trong lịch sử xã hội, trong đó bao gồm: Thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, lối sống, phương thức kết hợp hoạt động của con người, nghĩa là nói tới trạng thái sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, phương thức sử dụng, quản lý hoạt động của con người
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
a/ Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ của dân cư
Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần, tạo nên năng lực hoạt động của con người, năng lực thích ứng của con người với hoàn cảnh sống xung quanh
Bộ Y tế nước ta quy định có 03 loại thể lực:
A: Thể lực tốt, loại không có bệnh tật, có khả năng lao động tốt
B: Trung bình, khả năng lao động bị hạn chế một phần nào đó
C: Yếu, không có khả năng lao động
Sức khoẻ của con người là cơ sở tự nhiên giúp con người hoạt động tốt trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội Con người không có sức khoẻ sẽ rất hạn chế trong quá trình hoạt động Vì vậy, sức khoẻ của con người là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực
b/ Chỉ tiêu biểu hiện trình độ học vấn của người lao động
Trang 16Trình độ học vấn của người lao động là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên, xã hội Trong chừng mực nhất định, trình độ học vấn của dân số biểu hiện mặt bằng dân trí của quốc gia đó Trình độ học vấn phụ thuộc vào các quan hệ như:
Số lượng người biết chữ và chưa biết chữ
Số người có trình độ tiểu học
Số người có trình độ trung học cơ sở
Số người có trình độ phổ thông trung học
Số người có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học
Trình độ học vấn của nguồn nhân lực là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng của nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trình độ học vấn cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào thực tiễn
c/ Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc chuyên môn nhất định.Trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đo bằng:
Tỷ lệ cán bộ trung cấp
Tỷ lệ cán bộ cao đẳng, đại học
Trang 17Tỷ lệ cán bộ trên đại học
Trình độ kỹ thuật của người lao động dùng để chỉ trình độ của người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định Trình
độ kỹ thuật được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:
Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông
Số người có và không có bằng kỹ thuật
Như vậy, chỉ số phát triển con người không chỉ đánh giá về mặt kinh tế,
mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng, tiến bộ xã hội
e/ Ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hoá được như trên người ta còn xem xét chỉ tiêu về phẩm chất đạo đức, nhân cách của người lao động Nội dung của chỉ tiêu này được xem xét qua các mặt: Phát huy các giá trị truyền
thống dân tộc (có lòng yêu nước, nhân ái, tính tập thể, sống tình nghĩa, tinh thần hiếu học, cần cù, sáng tạo …) và tiếp thu các phong tục tập quán, lối sống
Nhìn chung chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí, năng lực tinh thần của
người lao động
Trang 181.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.2.1 Đặc điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Mặc dầu thuật ngữ và cả thực tiễn "công nghiệp hoá" không còn mới mẻ, nhưng cho đến nay khái niệm "công nghiệp hoá" vẫn là một nội dung có tính thời sự, được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trao đổi Có người nêu
ra khái niệm công nghiệp hoá phản ánh được bản chất, nội dung và mục tiêu của công nghiệp hoá trong không gian rộng và thời gian dài; có người nêu ra khái niệm công nghiệp hoá chỉ phù hợp ở thời điểm nhất định và với những nước xác định; cá biệt có những tác giả đưa ra khái niệm chưa phản ánh đúng bản chất của công nghiệp hoá
Tình hình này do nhiều nguyên nhân, đó là do sự khác nhau về phương pháp tiếp cận khi nghiên cứu quá trình công nghiệp hoá; điểm xuất phát về kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, xã hội của các nước và bối cảnh quốc tế khi tiến hành công nghiệp hoá không giống nhau; sự hạn chế về nhận thức
Trong cuốn "Công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam và các nước trong khu vực" do Nhà xuất bản Thống kê phát hành năm 1995, các tác giả đã định nghĩa:
"Công nghiệp hoá là một quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế - xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác
có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học - công nghệ ngày càng hiện đại" [25, tr 59]
Nhận thức rõ sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đến quá trình công nghiệp hoá ngày nay, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp
Trang 19hành Trung ương khoá VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xem xét công nghiệp hoá trong mối quan hệ với hiện đại hoá và cho rằng:
"Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học
- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao" [13, tr 42]
Định nghĩa này về cơ bản phản ánh được phạm vi rộng hơn của quá trình công nghiệp hoá; chỉ ra được cái cốt lõi là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao; gắn được công nghiệp hoá với hiện đại hoá
Coi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, khi thông qua đường lối đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta đã chỉ rõ:
"Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh
tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp" [14, tr 80]
Theo đó, có thể nói, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay không chỉ khác với các nước đã tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá về
Trang 20nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành, mà cả mục tiêu chiến lược Chính sự khác biệt này đã làm nên tính đặc thù của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang tiến hành
Một trong những đặc điểm lớn của thời đại ngày nay là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và cùng với nó là quá trình toàn cầu hoá kinh tế … Trong điều kiện này, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta như trên đã nói được Đảng ta xác định là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế -
xã hội trên cơ sở sử dụng một cách phổ biến sức lao động có hàm lượng trí tuệ cao cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại
do sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ đem lại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Quan niệm như vậy về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thể hiện được vấn đề then chốt của quá trình này
ở một nước tiểu nông là cải biến lao động thủ công thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, công nghiệp hoá, không chỉ là tăng thêm một cách giản đơn tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh
tế, mà là cả một quá trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với đổi mới công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả cao của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghệ, tận dụng phát triển chiều rộng, tạo nhiều công ăn việc làm cho đội ngũ đông đảo lao động ở nước ta hiện nay, với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt, đón đầu, phát triển chiều sâu, tạo nên những ngành kinh tế mũi nhọn theo trình độ tiến triển của khoa học và công nghệ thế giới
Như vây, công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay là quá trình chuyển biến sâu sắc, lâu dài và phức tạp, nó được triển khai đồng thời với quá trình hiện
Trang 21đại hoá và luôn gắn bó với quá trình này Công nghiệp hoá và hiện đại hoá quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất với nhau Hiện đại hoá nói chung là sự thay đổi cái cũ sang cái mới, nhưng cái mới ở đây phải là cái tiên tiến nhất.Hiện đại hoá ở đây được sử dụng với nghĩa là thay đổi xã hội, thay đổi nền kinh tế phù hợp với trình độ phát triển chung của thế giới hiện nay.
Về thực chất hiện đại hoá là khái niệm phản ánh sự vận động, sự phát triển của trình độ người ở mức cao nhất thể hiện qua tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ trong sản xuất, trong tổ chức, quản lý, điều hành xã hội, trong phương thức vận hành của cơ chế hoạt động xã hội cũng như ở cách thức sống của con người, làm cơ sở cho sự phát triển cao của một xã hội Hiện đại hoá do con người và vì con người, vì sự phát triển xã hội, do đó phải đảm bảo tính nhân văn của hiện đại hoá Điều này đòi hỏi quá trình hiện đại hoá phải đứng trên nền tảng vững chắc của truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc
Chúng ta sử dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật công nghệ phương Tây là
để hiện đại hoá xã hội theo lý tưởng và mục đích của chính mình chứ không phải để phương Tây hoá
Càng không thể chấp nhận được quan niệm mà M.Weber là đại diện - coi hiện đại hoá chính là quá trình "phương Tây hoá" Những người theo quan niệm này cho rằng, nền văn minh phương Tây là mẫu mực cho các nước
"ngoài phương Tây" học tập, bởi vì chính ở phương Tây và chỉ có ở đây, mới phát sinh những hiện tượng của văn hoá, được phát triển theo khuynh hướng
đã mang ý nghĩa phổ quát Cần nhận xét rằng, trong quá trình phát triển, các nước tư bản phương Tây đã đạt được một sự giàu có nhất định Song từ đó mà cho rằng, hiện đại hoá chính là "phương Tây hoá" lại là một sai lầm nghiêm trọng Bởi lẽ, kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh rằng, một nước giàu có chưa hẳn đã là một nước có trình độ văn hoá, văn minh cao Mặt khác, không
Trang 22nên hiểu hiện đại hoá một cách đơn giản chỉ là quá trình "bắt chước" và
"chuyển tải" của cải, phương tiện từ nước này sang nước khác Mỗi nước có truyền thống lịch sử riêng của mình và do vậy, tiếp thu cái gì, bằng cách nào,
ở đâu là tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể và nhu cầu phát triển của mỗi nước Điều này là không thể áp đặt được Như vậy, có thể nói rằng, trên thực
tế không có "công thức chung", "mô hình khuôn mẫu" về hiện đại hoá cho tất
cả các nước, mà chỉ có hình thức và những con đường hiện đại hoá cụ thể để đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Nói một cách tổng quát, hiện đại hoá là khái niệm có nội dung rộng lớn,
là quá trình cải biến một xã hội truyền thống thành một xã hội hiện đại, có trình độ văn minh cao hơn, thể hiện không chỉ ở nền khoa học - công nghệ tiên tiến, nền kinh tế phát triển cao, xã hội được tổ chức khoa học và hợp lý,
mà còn ở đời sống chính trị, văn hoá, tinh thần của xã hội
Do vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay có những đặc điểm sau:
Một là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiến hành trong điều kiện cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, các nước trên thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức, tốc độ phát triển kinh
tế, khoa học - công nghệ trên thế giới rất nhanh với quy mô lớn Trong điều kiện đó chúng ta có thể và cần phải tranh thủ các thành tựu của nền khoa học - công nghệ thế giới đi ngay vào hiện đại hoá Tuy nhiên để đi vào hiện đại hoá cần phải có sự chuẩn bị cả về vốn và về con người Cả hai điều đó chúng ta còn thiếu Muốn giải quyết mâu thuẫn này, quá trình công nghiệp hoá ở nước
ta phải kết hợp giữa những bước đi tuần tự với đi tắt đón đầu; vừa phát triển các ngành đòi hỏi trình độ kỹ thuật trung bình, nhưng thu hút được nhiều lao động phổ thông vừa phát triển các ngành đòi hỏi trình độ công nghệ cao
Trang 23Bước đi như vậy giúp chúng ta giải quyết được việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động, phát huy được nguồn lực con người ngay khi tiến hành công nghiệp hoá, tránh được sự căng thẳng vì phải tập trung vốn cho các công trình lớn, đòi hỏi trình độ khoa học - công nghệ cao Nhờ việc phát triển các ngành thu hút nhiều lao động, đầu tư vốn ít, thu hồi vốn nhanh chúng ta có điều kiện huy động vốn từ nguồn tiết kiệm của nhân dân để đầu
tư phát triển một số ngành mũi nhọn có trình độ khoa học cao Bước đi như vậy đảm bảo cho chúng ta có thể nhanh chóng thoát khỏi tình trạng một nước nghèo và có thể đuổi kịp các nước đi trước
Hai là: Chúng ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện
nền kinh tế của ta còn ở tình trạng kém phát triển, nền kinh tế nông nghiệp, lạc hậu, thủ công, phân tán, trên 70% lao động còn tập trung trong nông nghiệp và nông thôn Do vậy trước mắt phải coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Phát triển công nghiệp và dịch vụ phải hướng vào phục vụ nông nghiệp và nông thôn
Đối với nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa lớn về kinh tế - xã hội như: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn mới tăng sản phẩm nông nghiệp phục vụ công nghiệp, tăng sản phẩm xuất khẩu, từ đó đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá các ngành khác Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn cũng tạo điều kiện để chuyển bớt lao động nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác, giảm tỷ lệ nông nghiệp trong GDP một cách tương đối, giúp chuyển dịch dần cơ cấu kinh tế của nước ta theo hướng một nước công nghiệp Như vậy, coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là mặt trận hàng đầu trong những năm đầu tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
Trang 24hoá là một đặc điểm quan trọng của qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Ba là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta nhằm mục tiêu biến
nước ta thành nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, chứ không phải thành một nước tư bản chủ nghĩa Như vậy, đây là quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa chứ không phải là quá trình công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa Do vậy, cách thức, bước đi phải đảm bảo vừa phát triển kinh tế, vừa chăm lo đến đời sống của nhân dân lao động; vừa khuyến khích mọi người tích cực mở rộng sản xuất, vừa chú ý đến việc giải quyết các chính sách xã hội, đảm bảo sự công bằng, dân chủ trong xã hội
Nước ta vừa trải qua cuộc chiến tranh cách mạng rất lâu dài và gian khó Những hy sinh, mất mát cho cuộc chiến đó là vô cùng lớn lao, hậu quả của cuộc chiến tranh đó để lại đến nay còn rất nặng nề Do vậy không thể không chú ý đến việc phát triển các chính sách xã hội Đó là nghĩa vụ, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta hiện nay đối với những người đã
hy sinh, mất mát trong cuộc chiến tranh giành độc lập cho nước nhà Đó không chỉ là vấn đề nhân đạo, mà còn là vấn đề lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động Chính vấn đề lợi ích được giải quyết một cách đúng đắn, đảm bảo sự công bằng trong xã hội, tránh bất công, tránh sự chênh lệch quá lớn trong thu nhập, vừa tạo tinh thần đoàn kết trong nhân dân, cùng phấn đấu cho một mục tiêu chung, vừa kích thích được tinh thần chủ động sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân lao động, tích cực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng tới mục tiêu xây dựng nước ta thành nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh
Bốn là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta diễn ra trong điều kiện
nền kinh tế của nước ta đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ở đây không thể sử dụng các biện pháp hành
Trang 25chính phi kinh tế như trước đây để tập trung vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mà phải dựa vào những quy luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để đề ra kế hoạch thích hợp
Thị trường, những động thái của thị trường phản ánh nhu cầu của xã hội Việc xây dựng kế hoạch phải kết hợp với thị trường để điều tiết các nguồn lực cho sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, đảm bảo đưa lại hiệu quả kinh tế cao Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế Phải làm sao huy động được nguồn lực của mọi thành phần kinh tế tham gia tích cực vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Muốn vậy phải có chính sách thích hợp, lấy lợi ích kinh tế để khuyến khích mọi thành phần kinh tế mà nòng cốt là kinh tế Nhà nước, tích cực đầu
tư vào việc mở rộng sản xuất và kinh doanh đảm bảo cho sự cạnh tranh lành mạnh, đúng pháp luật trong sản xuất và kinh doanh
Năm là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta diễn ra trong bối cảnh
xu hướng toàn cầu hoá về kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, lôi cuốn tất cả các nước trên thế giới vận động theo xu hướng đó Do vậy, chúng ta phải chủ động hội nhập để tranh thủ nguồn lực bên ngoài, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đồng thời với việc chủ động hội nhập, mở rộng hợp tác, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chúng ta còn phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Đây là hai vấn đề quan hệ biện chứng với nhau Không có sự độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối chính sách, thì không thể chủ động hội nhập được và không thể tranh thủ được nguồn lực bên ngoài để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới (chẳng hạn như Ác-hen-ti-na) cho thấy nền kinh tế phụ thuộc vào bên ngoài quá nhiều sẽ dễ dàng bị tổn thương khi nền kinh tế thế giới có những biến động Ngược lại, nếu không mở cửa thì không thể có
đủ cơ sở vật chất kỹ thuật để có thể mở rộng sản xuất, tận dụng lợi thế về
Trang 26nguồn lao động dồi dào của đất nước đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Sáu là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta còn diễn ra trong điều
kiện trên thế giới tình hình chính trị, xã hội có nhiều diễn biến phức tạp Từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội bước vào thời kỳ khủng hoảng Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là
Mỹ cùng các thế lực phản động trên thế giới đang ra sức đẩy mạnh chiến lược
"diễn biến hoà bình" nhằm phá hoại và đi đến lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Do vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải kết hợp với việc củng cố lực lượng quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Muốn phát triển kinh tế phải giữ vững an ninh chính trị, an toàn xã hội Trong tình hình hiện nay việc giữ vững an ninh chính trị, an toàn xã hội càng cần thiết Muốn vậy, phải xây dựng lực lượng quốc phòng và an ninh vững mạnh Điều đó đòi hỏi trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh tế phải kết hợp với củng cố và phát triển lực lượng quốc phòng và
an ninh
Có thể nói rằng, những đặc điểm cơ bản trên đây của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cho thấy giờ đây con người được đặt vào vị trí trung tâm Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá chỉ có thể đạt được kết quả tốt nếu chúng ta có nguồn nhân lực chất lượng cao, thích ứng được yêu cầu và đặc điểm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh ngày nay, đồng thời biết khai thác, phát triển hợp lý, có hiệu quả nguồn nhân lực này Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm của cả nước ta trong một giai đoạn dài Nó quyết định mức độ tăng trưởng và phát triển về mọi mặt của đất nước Do vậy, cần phải huy động mọi nguồn lực cần thiết tập trung cho thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược này Trong đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được coi là cần thiết nhất
Trang 271.2.2 Yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hướng phát triển chung của các nước trên thế giới Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta để đi tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không đơn giản chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế, mà chính là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, con người ), làm cho xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất Chính vì vậy, nó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang từng bước tiến hành Bởi lẽ, khi người lao động nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong sự phát triển nền kinh tế đất nước theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố quyết định: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:
"Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá" [14, tr 21]
Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, không có nguồn nhân lực chất lượng cao, chúng ta không thể phát triển kinh tế, đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Nhưng cũng chính vì nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế mà chất lượng nguồn nhân lực nước ta chưa cao Để có thể thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này và tạo
đà cho bước phát triển tiếp theo của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thì một nước đang ở tình trạng kém phát triển như nước ta không thể không
Trang 28xây dựng một chính sách phát triển lâu bền, có tầm nhìn xa, trông rộng, phát triển con người, nâng cao dần chất lượng nguồn nhân lực
Các nước công nghiệp mới ở Châu Á đang được coi là tấm gương trong lĩnh vực này Các nước này dẫu đất chật, người đông, sức ép dân số có thể nói
là rất lớn, song họ đã sử dụng khá thành công chiến lược nâng cao chất lượng dân cư để giải toả sức ép về dân số, làm cho nó không biến thành nhân tố tiêu cực, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế Với chiến lược đó và do coi trọng tài nguyên sức người, đầu tư lớn cho việc nâng cao chất lượng tài nguyên vô giá
đó, các nước này đã đạt được những thành công khá lớn trong phát triển kinh
tế, cải thiện đời sống nhân dân nước mình
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tự bản thân nó luôn đặt ra những đòi hỏi khách quan về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực với những năng lực, phẩm chất cần thiết Hiện nay ở nước ta có lực lượng lao động dồi dào nhưng không phải tất cả đều trở thành nguồn nhân lực với tính cách là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chất lượng nguồn nhân lực còn quá kém so với yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt chúng ta còn thiếu một đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ giỏi
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ đòi hỏi khá cao về phẩm chất trí tuệ ở người lao động - một phẩm chất được coi là quan trọng nhất hiện nay Đó là, người lao động phải có năng lực sáng tạo, có khả năng áp dụng những thành tựu của khoa học để sáng chế
ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; có năng lực thu thập và xử lý thông tin trong điều kiện bùng nổ thông tin; có sự nhạy bén, thích nghi nhanh và thực
sự làm chủ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại chứ không như những rôbốt đơn thuần Đồng thời, người lao động phải có khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là, phải có kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp
Trang 29Ngày trước, ông cha ta đã khẳng định, "một nghề cho chín, hơn chín mười nghề" Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đòi hỏi người lao động ở chức trách nào cũng phải tinh thông nghiệp vụ của mình: người đầu bếp thì phải nấu ăn ngon, thầy thuốc thì phải giỏi trị bệnh cứu người, công nhân phải giỏi ngành nghề, giám đốc phải giỏi kinh doanh và quản lý v.v Lời dạy của Người càng trở nên thấm thía trong điều kiện hiện nay, khi quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đi vào chiều sâu càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá cao của đội ngũ lao động nhằm đạt được năng suất lao động xã hội, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao gấp nhiều lần so với hiện nay
Như vậy, người lao động phải có năng lực hoạt động thực tiễn tốt, có khả năng xử lý tình huống có vấn đề trong điều kiện kinh tế thị trường và cách mạng khoa hoc - công nghệ Họ còn phải có năng lực tham gia hoạch định chính sách, lựa chọn giải pháp và tổ chức thực hiện, biết quản lý sản xuất, kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường và phân công lao động quốc tế; biết chấp nhận cạnh tranh, dám mạo hiểm, dám hy sinh lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ, vì lợi ích lâu dài, lợi ích toàn cục, v.v Muốn có được năng lực trên đây, người lao động nhất thiết phải có tri thức, vốn văn hoá và phải được đào tạo
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta được tiến hành trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với tư cách là xu thế phát triển khách quan,
do đó đòi hỏi người lao động Việt Nam còn phải biết chủ động hội nhập quốc
tế Bởi hội nhập trên thế hoàn toàn chủ động là điều kiện của việc xử lý đúng mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, có chủ đích của con người nhằm tiếp thu tri thức, kinh nghiệm, sức mạnh của thế giới bên ngoài
để phát huy, tăng cường sức mạnh của đất nước mình Hội nhập quốc tế cũng
có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài Trong điều kiện ở
Trang 30Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, đặt ra những đòi hỏi bức xúc về chất lượng nguồn lực con người Việt Nam Một vấn đề rất lớn khác là làm sao
đó để hội nhập mà không bị hoà tan, đồng thời vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc
Rõ ràng là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, người lao động dù có lòng yêu nước như thời kháng chiến chống đế quốc, thậm chí có nhiệt huyết cách mạng cao thì cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bởi ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức dân tộc cao, họ còn phải có trình độ trí tuệ ngang tầm đòi hỏi, ít ra là của khu vực Trình độ trí tuệ đó của con người được phản ánh qua trình độ học vấn và năng lực sáng tạo Để có được điều này, ngoài tư chất ban đầu, vai trò chủ yếu thuộc về giáo dục và đào tạo, vì nó là phương tiện cơ bản nhất và hữu hiệu nhất để phát triển trí tuệ, trang bị các tri thức chuyên môn, nghề nghiệp cho người lao động, là giá đỡ cho tiềm năng sáng tạo của con người Nói cách khác, giáo dục và đào tạo là phương tiện để khai trí, thiếu nó thì trí tuệ của một dân tộc sẽ kém cỏi và do vậy sẽ không có sức mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" [41, tr.8]
Tóm lại, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện ngày
nay đòi hỏi người lao động phải có năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi nhanh và kỹ năng lao động giỏi, đó là những yêu cầu chung đối với người lao động Tuy nhiên, các thành phần lao động khác nhau thì mức độ yêu cầu chuyên sâu của mỗi loại năng lực cũng khác nhau Điều này đòi hỏi phải cơ cấu lại đội ngũ lao động theo hướng chuyên sâu
Lực lượng trụ cột của đội ngũ lao động là đội ngũ công nhân mà trước hết là công nhân lành nghề, tức là đội ngũ những người lao động trực tiếp sản xuất ra hàng hoá (hàng hoá công nghiệp, hàng hoá nông nghiệp), cung ứng
Trang 31dịch vụ đạt chất lượng theo chuẩn mực quốc tế để cung cấp cho người tiêu dùng cả trong nước lẫn các nước khác trên thế giới Muốn vậy, họ phải có một trình độ trí tuệ nhất định để tiếp thu và làm chủ được công nghệ tiên tiến Hơn thế nữa, với những tri thức khoa học và những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình sản xuất trực tiếp, người công nhân lao động không những sử dụng các công cụ lao động hiện có, mà còn có thể sáng chế ra những tư liệu lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất
Cơ cấu nòng cốt của đội ngũ lao động là đội ngũ trí thức, với cơ cấu đồng bộ trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, quản lý kinh tế - xã hội, văn hoá - văn nghệ Họ phải thành thạo chuyên môn, nghề nghiệp, với năng lực tiếp thu có chọn lọc và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa hoc - công nghệ hiện đại, những tinh hoa văn hoá, văn minh thế giới, những
di sản văn hoá dân tộc vào thực tiễn Việt Nam Đồng thời họ phải có năng lực sáng tạo về lý thuyết cũng như thực hành, nhằm giải quyết cả những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của đất nước Đội ngũ trí thức phải thực hiện có hiệu quả các chức năng: nghiên cứu, thiết kế, tham mưu, sáng tác, thực hiện, thi hành, ứng dụng, phát triển, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện ,v.v Điều có tầm quan trọng rất lớn là hình thành cho được đội ngũ nhân lực
có trình độ và năng lực cao trong từng lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau Có thể nói, đây là lực lượng xung kích trong việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện việc ứng dụng có kết quả vào điều kiện nước ta, là hạt nhân trong việc đưa lĩnh vực kinh tế - xã hội nơi họ lao động đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá Có nghĩa là họ có thể thực hiện được việc dẫn dắt, hướng đạo cho những bộ phận có năng lực và trình độ thấp hơn đi lên, bắt kịp dòng chảy chung của thời đại, để không bị tụt hậu
Đặc biệt quan trọng là bộ phận nhân tài trong đội ngũ lao động Bộ phận này là hạt nhân có chất lượng cao, trình độ cao, hiện đại, có năng lực khai phá
Trang 32những con đường mới mẻ trong nghiên cứu khoa học để đạt được những thành tựu mới có ý nghĩa thực tiễn, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đội ngũ này có số lượng không nhất thiết phải đông, nhưng phải thực
sự là đội ngũ các nhà khoa học đầu đàn, tiêu biểu cho tinh hoa trí tuệ của dân tộc Bởi chính đội ngũ này là đội ngũ "nhân lực tinh hoa", có nhiệm vụ chủ trì những hướng, những ngành, những lĩnh vực khoa hoc và công nghệ quan trọng, then chốt của đất nước, đưa những hướng, ngành, lĩnh vực đó phát triển, rút ngắn dần khoảng cách tụt hậu so với các nước tiên tiến
Cũng chính từ đội ngũ này mà đào tạo, bồi dưỡng, thu hút các tài năng khoa học trẻ, tạo nên môt thế hệ đồng bộ đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học giỏi, bao gồm những cán bộ có năng lực nghiên cứu, thiết kế giỏi và những cán bộ có năng lực công nghệ giỏi cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong thế giới hiện đại, không thể thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá một cách có hiệu quả, nếu chúng ta không có đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ giỏi Đội ngũ này là nòng cốt trong nguồn nhân lực, là nhân tố bảo đảm thắng lợi công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Bài học kinh nghiệm của các nước đi trước và của bản thân nước ta cho thấy, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước muốn đạt được hiệu quả cao, tất yếu phải dựa vào nguồn nhân lực, trong đó quan trọng nhất là chất lượng nguồn nhân lực
Thực tiễn đã chứng tỏ và xác nhận rằng trong số các nguồn lực tạo nên
cơ sở cho sự phát triển của xã hội hiện đại thì nguồn nhân lực trong đó có đội ngũ trí thức là tài nguyên vô cùng quý giá có khả năng tự tái sinh Các nguồn lực khác, dù phong phú, đa dạng và giàu có đến mấy cũng sẽ bị cạn kiệt dần nếu con người không có cách khai thác thích hợp Mặt khác, các nguồn lực ấy
Trang 33tồn tại như những tiềm năng Chúng chỉ thực sự có ý nghĩa và phát huy khi thông qua hoạt động của con người Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin coi con người là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định trong lực lượng sản xuất Đảng ta, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cũng khẳng định rằng, con người đóng vai trò là "chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh ", [12, tr 5] là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội
Xuất phát từ vai trò của con người đối với sự phát triển của xã hội, chúng ta nhận thấy rằng một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định
sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nguồn nhân lực
có chất lượng, được đào tạo tốt, sử dụng và phân bổ theo một cơ cấu hợp lý Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí tuệ ở trong đó, nói tới "người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến, gắn liền với một nền khoa hoc - công nghệ hiện đại", [15, tr 9] Sở dĩ người
ta nói đến tính vô tận, tính không bị cạn kiệt, không bao giờ hết của nguồn nhân lực chính là nói tới yếu tố trí tuệ Trí tuệ của con người ngày càng phát triển và có tác động mạnh mẽ nhất đối với sự tiến bộ, phát triển của xã hội Nhà tương lai học Mỹ - AlvinToffler khẳng định rằng: mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có tri thức con người là không bao giờ cạn kiệt và "tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết" [53, tr 41]
Do tầm quan trọng của trí tuệ, tri thức như vậy, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tìm cách nâng cao hàm lượng trí tuệ trong đội ngũ những người lao động Trình độ trí tuệ phản ánh qua trình độ học vấn và tài năng sáng tạo Nó biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghiệp tiên tiến, ở sự nhạy bén thích ứng nhanh và làm chủ được những kỹ thuật, công nghệ hiện đại có kỹ năng lao
Trang 34động nghề nghiệp, có năng lực hoạch định chính sách, lựa chọn giải pháp và
tổ chức thực hiện, biết quản lý sản xuất kinh doanh trong điều kiện nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường Để có được những năng lực này, ngoài tư chất ban đầu, vai trò chủ yếu thuộc về giáo dục đào tạo, vì nó là phương tiện hữu hiệu để phát triển trí tuệ, trang bị chuyên môn, nghề nghiệp, là giá đỡ cho tiềm năng sáng tạo của con người
Sau trí tuệ là yếu tố sức khoẻ một yêu cầu không thể thiếu được đối với người lao động Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Nó bao gồm không chỉ sức khoẻ cơ thể
mà còn sức khoẻ tinh thần, đó là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của niềm tin và ý chí, là khả năng vận động của trí lực điều này càng
có ý nghĩa quan trọng khi lao động trí tuệ ngày một chiếm ưu thế
Sản xuất công nghiệp còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt các phẩm chất như: có kỷ luật tự giác, tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, tích cực bảo dưỡng thiết bị máy móc, có tinh thần hiệp tác và tác phong lao động công nghiệp, có lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao đối với sản phẩm nghĩa là người lao động phải có văn hoá lao động công nghiệp
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá khó có thể đạt được kết quả tốt, nếu không có những công dân yêu nước, ham học hỏi, cần cù lao động và sáng tạo, có tinh thần hợp tác, ý chí tự chủ vươn lên và lòng tự trọng dân tộc cao, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu, biết kết hợp hài hoà yếu tố truyền thống và hiện đại, văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây, sống khoan dung và tôn trọng sự đa dạng, khác biệt, cùng nhau gắn bó trên cơ sở đồng thuận và bình đẳng công dân vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Không phải ngẫu nhiên mà Nhật Bản và các nước
Trang 35công nghiệp mới Đông Á rất coi trọng việc giáo dục nhân dân về đạo lý, văn hoá, trách nhiệm công dân, ý thức dân tộc và truyền thống
Sự yếu kém về trí tuệ, coi thường tài năng và đầu óc hẹp hòi, vị kỷ, đố
kỵ hoặc thờ ơ trước tương lai của cộng đồng dân tộc, sẽ là lực cản nguy hại đến tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, xây dựng một nền văn hoá nhân văn, dân chủ là điều kiện quan trọng để nâng cao tính tích cực xã hội của con người
Hiện nay lực lượng lao động của ta dồi dào, nhưng nguồn nhân lực còn kém về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước Trong khi
đó, nạn tham nhũng, tệ nạn xã hội, thất nghiệp đang làm thui chột, huỷ hoại lực lượng lao động trẻ Từ những phân tích trên đây chúng ta thấy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một đòi hỏi khách quan, bởi lẽ:
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất, nhu cầu của con người ngày càng phong phú, đa dạng, sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều hơn, chất lượng càng cao hơn Điều đó chỉ có thể có được do loại lao động có trình độ cao sản xuất ra, nên không thể không chăm lo tới chất lượng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống: tăng cường sức khoẻ, mở rộng tri thức, nâng cao trình độ tay nghề không chỉ do nhu cầu và kết quả của sự phát triển sản xuất, mà nó còn xuất phát từ nhu cầu của chính bản thân con người muốn nâng cao chất lượng cuộc sống của mình Điều đó tạo ra điều kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện nay
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là một xu hướng tất yếu của lịch sử, là quá trình trang bị kỹ thuật công nghệ hiện đại
Trang 36Nước ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ một mặt bằng kinh tế thấp kém, đội ngũ lao động chất lượng thấp Vì vậy, để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tất yếu phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Kết luận chương một:
Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đòi hỏi quá trình công nghiệp hoá phải gắn liền với quá trình hiện đại hoá Vì lẽ đó, để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước trong khu vực và thế giới, nước ta cần phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá Để thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải có các nguồn lực cần thiết như: vốn, tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, …, trong đó nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực Thực hiện chiến lược phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực, phải coi việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện đại như một cuộc cách mạng - cách mạng con người Cuộc cách mạng này tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 37CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam
Nói đến nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tức là nói đến những chủ thể tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, đó không phải là những chủ thể biệt lập, riêng rẽ, mà là những chủ thể được tổ chức thành lực lượng thống nhất về tư tưởng và hành động Nói cách khác, nguồn nhân lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tổng hợp những chủ thể với những phẩm chất nhất định tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cần hiểu rằng,
"tổng hợp những chủ thể" này không phải là tập hợp giản đơn số lượng người,
mà nó là tổng hợp sức mạnh của chỉnh thể người trong hành động Sức mạnh này bắt nguồn trước hết từ những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi chủ thể
và nó được nhân lên gấp bội trong thực tiễn
Động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là những gì thúc đẩy quá trình này vận động, phát triển Vì vậy, khi nói "nguồn nhân lực với tính cách
là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá" là chủ yếu nói đến những phẩm chất tích cực của "tổng hợp những chủ thể" được bộc lộ trong quá trình
Trang 38công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc đẩy quá trình này vận động, phát triển Tuy nhiên, trong hoạt động chủ thể bộc lộ không chỉ những phẩm chất tích cực, mà còn cả những mặt tiêu cực Vì vậy, điều quan trọng là phải tạo điều kiện tốt nhất để chủ thể phát triển và thể hiện được tính tích cực, đồng thời hạn chế tối đa mặt tiêu cực của mình Chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định chủ yếu sức mạnh của nguồn lực con người, nó bao gồm nhiều yếu
tố như: sức khoẻ, chuyên môn nghề nghiệp, trình độ học vấn, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng, kỹ năng lao động, đạo đức, tâm lý, tình cảm, lối sống… song khái quát lại gồm: thể lực, trí lực và những phẩm chất đạo đức của con người Vì vậy để đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay cần đi vào những yếu tố chủ yếu trên
2.1.1 Về thể lực
Từ đầu thập niên 90 đến nay, thể lực của người Việt Nam đang được cải thiện về chiều cao, cân nặng, tỷ lệ suy dinh dưỡng, tuổi thọ, song vẫn kém so với một số nước trong khu vực và so với yêu cầu nguồn nhân lực cần có ở nước ta
Theo đánh giá chung thì tầm vóc, thể lực của thanh niên, sinh viên và người lao động Việt Nam (Kinh và Mường) ở lứa tuổi lao động trong vòng 20 năm nay đã có sự tăng trưởng đáng kể Chiều cao trung bình của người lao động Việt Nam đã tăng trên 3cm trong vòng 20 năm Ở lớp trẻ, nam giới có chiều cao trung bình 163 cm và nữ giới là 153 cm Chiều cao của nam sinh viên từ 18 - 20 tuổi từ 163,57 - 164,97 cm và nữ sinh viên là 153,2 - 153,8
cm Các chỉ số thể lực tính trung bình vẫn ổn định Tuy nhiên, cũng theo đánh giá chung thì tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi là một vấn đề xã hội khá nghiêm trọng, nếu không được giải quyết sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển đất nước sau này Đánh giá tổng quát về sức khoẻ của người Việt Nam cho thấy đa số thuộc loại trung bình, đặc biệt loại yếu
Trang 39còn khá cao (14 - 21,5%) đối với người lớn, đối với trẻ em là 40%, [62, tr
163, 175 ] Điều này đặt ra vấn đề đáng báo động về sự phát triển của con
người Việt Nam trong những năm tới Nếu chúng ta không có những định
hướng chiến lược, những biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề suy dinh
dưỡng ở trẻ em, vấn đề tăng thể lực cho người lao động ở nước ta thì nhân tố
con người sẽ không đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước
Khẩu phần ăn là một bộ phận cấu thành cơ bản của tư liệu sinh hoạt vật
chất để tái sản xuất sức lao động, song thức ăn của người Việt Nam mới đạt
trung bình đầu người 1932 calo, so với mức tối thiểu của Đông Nam Á là
2100 calo Dinh dưỡng trong khẩu phần ăn lại chủ yếu là gạo, các chất dinh
dưỡng khác rất thiếu, nên ảnh hưởng lớn đến thể lực, sự phát triển trí tuệ của
con người Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), thu nhập quốc dân bình quân đầu người của nước ta đứng thứ
150/173 nước Mức thu nhập thấp như vậy mà tốc độ tăng dân số lại cao, còn
trình độ hiểu biết về dinh dưỡng và sức khoẻ của người dân thấp, nên đã ảnh
hưởng trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng sống trong đó có vấn đề giáo
dục và chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ Điều kiện lao động trong nhiều cơ sở và
các ngành sản xuất, cũng như trong một số cơ quan hành chính sự nghiệp của
nước ta còn kém, thậm chí môi trường lao động bị ô nhiễm nghiêm trọng, tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có chiều hướng tăng, nhất là ở khu vực
kinh tế tư nhân và hợp tác xã Tất cả những điều này cho thấy chất lượng dân
số nói chung, người lao động nói riêng về mặt thể lực, sức khoẻ, cũng như
điều kiện lao động không bảo đảm, cần phải được cải thiện căn bản
2.1.2 Về trí lực
Trang 40Chất lượng nguồn nhân lực còn được phản ánh chủ yếu qua sức mạnh trí tuệ Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng của nguồn lao động, đặc biệt trong điều kiện trí tuệ hoá lao động hiện nay Trình độ trí tuệ biểu hiện ở năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi, kỹ năng lao động nghề nghiệp của người lao động thông qua các chỉ số: dân trí, học vấn trung bình của một người dân; số lao động đã qua đào tạo, mức độ lành nghề ( kỹ năng, kỹ xảo ); trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, năng suất, chất lượng, hiệu quả của lao động, v.v
Nhìn chung, người Việt Nam có tư chất thông minh, sáng tạo, đó là ưu thế nổi trội của nguồn lực con người nước ta Những phẩm chất này khẳng định năng lực trí tuệ của người Việt Nam có thể theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ hiện đại Nếu được đào tạo và được sử dụng hợp lý, người lao động nước ta có khả năng làm chủ được các loại hình công nghệ từ đơn giản đến phức tạp và hiện đại Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nhiều nhà đầu
tư nước ngoài, người lao động Việt Nam nhanh nhạy hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực
Tuy nhiên, năng lực chuyên môn, trình độ tay nghề, khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp của người lao động nước ta còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nguyên nhân chính là do mặt bằng dân trí ở nước ta còn thấp Mặt khác, đại bộ phận lao động nước ta chưa được đào tạo đầy đủ Vì thế chất lượng lao động nói chung chưa cao Đặc biệt là mất cân đối giữa cung và cầu về nhân lực, thừa nhiều lao động giản đơn chưa qua đào tạo, trong khi đó lại thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao
Trong thành phần nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ công chức hành chính nhà nước là bộ phận rất quan trọng, chịu trách nhiệm vận hành bộ máy quản lý nhà nước về mọi mặt Song chất