1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay

103 526 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng nhu cầu phát triển trong gia đình nói chung và trong gia đình hạt nhân nói riêng ở đây rất cần sự kết hợp hài hòa, bình đẳng nam và nữ để phát triển kinh tế, chăm sóc con cái,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG

GIA ĐÌNH HẠT NHÂN Ở THÀNH PHỐ

THÁI BÌNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG

GIA ĐÌNH HẠT NHÂN Ở THÀNH PHỐ

THÁI BÌNH HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60 22 80

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Linh Khiếu

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, Luận văn này là do tôi độc lập nghiên cứu, xây dựng dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Linh Khiếu

Luận văn có tham khảo các công trình khoa học khác với tinh thần cầu thị Các trích dẫn tham khảo được chú thích đầy đủ, chi tiết Các kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình khoa học nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về Luận văn của mình!

Hà Nội, ngày 05 tháng 9 năm 2014

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 4

1.1 Lí luận chung về gia đình và bình đẳng giới trong gia đình 12

1.1.1 Quan niệm về gia đình và gia đình hạt nhân 12 1.1.2 Giới và bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân 20

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới

trong gia đình hạt nhân tại thành phố Thái Bình hiện nay 28

1.2.1 Những quan niệm trong gia đình truyền thống 28 1.2.2 Chính sách, pháp luật của nhà nước 32

Chương 2: THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

HẠT NHÂN Ở THÀNH PHỐ THÁI BÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI

PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG

GIA ĐÌNH HẠT NHÂN Ở THÀNH PHỐ THÁI BÌNH HIỆN NAY 42 2.1 Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở

2.1.1 Bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình 43 2.1.2 Bình đẳng giới trong tiếp cận, quản lí và kiểm soát

2.1.3 Bình đẳng giới trong thể hiện quyền lực trong gia

đình và tham gia sinh hoạt cộng đồng 54

Trang 5

2.2 Một số vấn đề đang đặt ra đối với bình đẳng giới trong gia

đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay 63

2.2.1 Các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa

phương chưa thực sự gắn với yếu tố giới 63 2.2.2 Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân chưa

2.2.3 Công tác tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới, về

2.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy bình đẳng giới

trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay 70

2.3.1 Xây dựng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của

2.3.2 Tăng cường các chính sách đảm bảo sự bình đẳng về

giới trong gia đình hạt nhân tại thành phố Thái Bình 77 2.3.3 Phát huy vai trò của đoàn thể, tăng cường công tác

giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết về vai trò của phụ nữ, thúc đẩy sự bình đẳng

2.3.4 Trang bị cho phụ nữ và nam giới kiến thức tạo điều

kiện để phụ nữ vươn lên bình đẳng với nam giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Mức độ tham gia của chồng và vợ trong công việc nội

Bảng 2.2: Người đứng tên giấy tờ sở hữu nhà ở, đất đai - theo giới

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Xã hội càng phát triển, sự bình đẳng giữa nam và nữ càng cần được chú

ý Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của nam và nữ, mức độ giải phóng của phụ nữ trong xã hội phản ánh trình độ phát triển của xã hội Bình đẳng giới là tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của quốc gia

Bình đẳng giới có thể xem là một “cuộc cách mạng” gian nan và lâu dài

ở Việt Nam Tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức con người Việt Nam từ ngàn năm nay Bất bình đẳng giới đã và đang tiếp tục trực tiếp và gián tiếp để lại những hậu quả nặng nề cho xã hội Việt Nam Hậu quả của bất bình đẳng giới, phân biệt giới dẫn đến trong đời sống xã hội, phụ nữ bị đối xử

tệ bạc, bị rẻ rúng, bị tổn thương nặng nề Vì lẽ đó, trong bất cứ hoàn cảnh nào, phụ nữ đều muốn thoát khỏi tình trạng này Ở nước ta, thời gian qua, những thành tựu về bình đẳng giới là rất đáng ghi nhận, nhưng bất bình đẳng giới vẫn là nỗi bức xúc của xã hội Hiện tượng bất bình đẳng giới mặc dù đã được các phương tiện truyền thông đại chúng, dư luận xã hội nói đến rất nhiều, nhưng bất bình đẳng giới vẫn mang tính phổ biến và để lại nhiều hệ lụy đối với sự phát triển, thăng tiến của phụ nữ

Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình vững chắc là nhân tố quan trọng

để ổn định và phát triển xã hội Trong quá trình hiện đại hóa và hội nhập, gia đình hạt nhân đang ngày một nhiều hơn và sẽ tiếp tục là xu hướng gia tăng Nhưng cũng chính trong các gia đình hạt nhân lại đối diện nhiều thách thức Thực tế cho thấy, nhiều gia đình hạt nhân chưa thích nghi được với hoàn cảnh mới đã rơi vào khủng hoảng, thậm chí tan rã

Bởi vậy, nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân nhằm nhận diện, đánh giá, tìm giải pháp củng cố và xây dựng gia đình cũng là một khía

Trang 8

cạnh quan trọng để đánh giá sự công bằng, bình đẳng trong xã hội, sự phát triển của xã hội nói chung

Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp có hệ thống sông, biển khép kín, thuộc đồng bằng sông Hồng Trong lịch sử, Thái Bình từng là tỉnh có vị trí địa

lí tương đối không thuận lợi về giao thông Năm 1997 xây dựng cầu Triều Dương nối liền Thái Bình với Hưng Yên, chấm dứt cảnh đò, phà tồn tại hang trăm năm trong lịch sử Sau đó việc xây dựng cầu Tân Đệ nối liền Thái Bình với Nam Định mới thực sự mở ra cơ hội giao thương mạnh mẽ giữa Thái Bình và các tỉnh

Do đặc điểm vị trí địa lí như vậy nên việc phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa của Thái Bình với các tỉnh trong vùng từng có nhiều hạn chế So với một

số tỉnh lân cận cùng trong hệ thống đồng bằng sông Hồng như Nam Định, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương … thì Thái Bình là tỉnh đi sau về phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa hơn cả

Thành phố Thái Bình là một trong tám đơn vị hành chính của tỉnh Đây vừa là trung tâm về mặt địa lí, vừa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh nhưng vẫn có những nét văn hóa khá điển hình của nông thôn Thành phố

có diện tích 67,7 km2, mười phường, chín xã, dân số 182,982 người

Năm năm trở lại đây, thành phố Thái Bình đã phát triển hơn, thực sự hội nhập kinh tế với các trung tâm kinh tế khác trong khu vực đồng bằng sông Hồng Hàng loạt nhà máy, xí nghiệp, trường học, cơ quan được xây dựng và phát triển thu hút hàng trăm ngàn cán bộ, công nhân và người lao động tự do

Họ “rời quê ra phố”, họ lấy nhau rồi sinh con đẻ cái, trong số đó có rất nhiều cặp lập nghiệp lâu dài ở thành phố, vậy nên tỉ lệ gia đình hạt nhân tại thành phố Thái Bình ngày một gia tăng

Trang 9

Thành phố Thái Bình đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế Cuộc sống khấm khá mang lại cho con người no đủ về cơm ăn, áo mặc và các yếu tố vật chất khác, nhưng chưa hẳn đã mang lại cho các gia đình trẻ (gia đình hạt nhân) một tổ ấm thực sự Bởi lẽ, dưới sự tác động của kinh tế thị trường, bên cạnh những người biết cân bằng cuộc sống, biết vượt lên chính mình trong buổi giao thời để tự trang bị cho mình hành trang sống hợp lí với thực tế thì vẫn còn số lượng lớn các bạn trẻ chưa giác ngộ, bị ảnh hưởng nặng nề bởi các quan niệm truyền thống không còn phù hợp với hoàn cảnh mới

Tuy vậy, trong công cuộc đổi mới, thành phố Thái Bình cũng mang những đặc trưng của một đô thị đang chuyển mình về kinh tế, văn hóa - xã hội, đan xen truyền thống và hiện đại, những tiến bộ đáng tự hào và những hạn chế tất yếu của buổi giao thời Điều đó thể hiện rõ trong các gia đình, cụ thể là trong mối quan hệ nam và nữ trong gia đình hạt nhân

Thành phố Thái Bình chưa phải là một đô thị đã phát triển toàn diện, phân công và sử dụng lao động trong xã hội chưa hợp lí, chưa phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để đáp ứng nhu cầu phát triển trong gia đình nói chung và trong gia đình hạt nhân nói riêng ở đây rất cần sự kết hợp hài hòa, bình đẳng nam và nữ để phát triển kinh tế, chăm sóc con cái, làm việc nhà và hưởng thụ các phúc lợi xã hội phù hợp với thực tế đời sống Sự bất bình đẳng giới trong các gia đình hạt nhân sẽ là nguyên nhân dẫn tới sa sút kinh tế, trẻ em không được chăm sóc chu đáo, xã hội kém phát triển

Xuất phát từ thực tế trên, với mong muốn đóng góp một phần công sức nhằm thực hiện bình đẳng giới trong gia đình, tiến tới xây dựng và phát triển gia đình bền vững, giải phóng phụ nữ và chăm sóc trẻ em ở thành phố Thái

Bình, tôi đã chọn đề tài “Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay” làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 10

Bình đẳng giới không phải là vấn đề mới Trên thực tế, vấn đề này đã được nghiên cứu từ nhiều thập kỉ trước Mặc dù mới được du nhập vào nước

ta những năm đầu của thập niên 90 (thế kỉ XX) nhưng quan điểm giới đã thu hút sự quan tâm của cả xã hội Phù hợp với quan điểm giải phóng phụ nữ, truyền thống tôn trọng phụ nữ của dân tộc và xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, quan điểm giới đã được triển khai nghiên cứu và tổ chức vận dụng trong đời sống

Thật vậy, hiện nay, ở nước ta có nhiều vụ, viện, trung tâm nghiên cứu, quản lí về gia đình, phụ nữ và giới như: Vụ Bình đẳng giới (thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội); Viện Gia đình và giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học

Xã hội Việt Nam); Trung tâm Phụ nữ và phát triển (thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam); Trung tâm nghiên cứu về phụ nữ (ĐH Quốc gia Hà Nội); Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học về giới - gia đình - phụ nữ và vị thành niên (tổ chức phi chính phủ) Các cơ quan nghiên cứu này đang ngày càng thu hút sự quan tâm, tìm hiểu của cả nam giới và phụ nữ, thu hút sự tham gia nghiên cứu của các chuyên gia về giới, các nhà nghiên cứu và toàn xã hội

Bên cạnh sự phát triển của các cơ quan, tổ chức chuyên sâu nghiên cứu và hoạt động trong lĩnh vực giới, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này thời gian qua cũng được công bố rất nhiều Xin nêu một số tác phẩm tiêu biểu:

Một số công trình nghiên cứu cấp nhà nước của các giáo sư, chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực bình đẳng giới, phụ nữ và gia đình như: “ Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam” (1998) của Giáo sư Lê Thi (Nxb Phụ nữ); “Gia đình Việt Nam ngày nay” (1996) do giáo sư Lê Thi chủ biên, (Nxb Khoa học xã hội); … Đây là những tác phẩm đặt cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu phụ nữ và gia đình theo phương pháp tiếp cận giới

“Phụ nữ, giới và phát triển” của Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996); “Nghiên cứu và đào tạo giới ở Việt Nam” (1999) do Nguyễn Linh Khiếu

Trang 11

chủ biên; “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại” (2002) của Trần Thị Kim Xuyến; Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình” (2003) của Nguyễn Linh Khiếu Đây là những công trình nghiên cứu tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách, chiến lược phát triển gia đình, đời sống người phụ nữ và bình đẳng giới trong gia đình Việt Nam

“Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2002) của Đỗ Thị Bình - Lê Ngọc Văn - Nguyễn Linh Khiếu Các tác giả đã điều tra, phân tích, tổng hợp để đưa ra bức tranh chân thực nhất về thực trạng gia đình Việt Nam và vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, góp phần tạo lập cơ sở để các nhà hoạch định chính sách, quản lí xã hội xây dựng và điều chỉnh các chính sách về phụ nữ

và gia đình

“Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện nay” (2006) của Lê Thi chủ biên; “Bạo lực gia đình: Một sự sai lệch giá trị” (2007) của Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh; Giới, việc làm và đời sống gia đình” (2007) của Nguyễn Thị Hòa chủ biên; “Bình đẳng giới - vấn đề của mỗi người, từng gia đình và cả cộng đồng” (2008) của Trung tâm hỗ trợ giáo dục và nâng cao năng lực cho phụ nữ; “Bình đẳng giới ở Việt Nam” (2008) do Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh chủ biên; …“Khoa học giới - những vấn đề lý luận và thực tiễn’’ (2008) của Trịnh Quốc Tuấn - Đỗ Thị Thạch

Ngoài các tác phẩm đã xuất bản còn có nhiều Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ từng nghiên cứu về lĩnh vực bình đẳng giới trong gia đình như: Luận văn thạc sĩ triết học “Bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam” (2010) của Nguyễn Hoài Anh; “Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” (2008) của Trần Thanh Hiền … Luận án tiến

sĩ Triết học “Bình đẳng về giới trong các gia đình nông thôn ở đồng bằng

Trang 12

sông Hồng hiện nay” (2002) của Chu Thị Thoa Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện, điển hình, vừa chi tiết vừa khái quát về bình đẳng giới ở đồng bằng sông Hồng

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến rất nhiều khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới: bình đẳng giới nói chung trong xã hội Việt Nam; bình đẳng giới trong các giai đoạn lịch sử - xã hội khác nhau; bình đẳng giới gắn với vùng, miền, địa phương, bình đẳng giới trong gia đình truyền thống …

Các công trình nghiên cứu đó là nguồn tư liệu quí giá để tác giả nghiên cứu, tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn của mình

Cũng đã có nhiều nghiên cứu về bình đẳng giới tại Thái Bình Nhiều bài báo, hội thảo, hội nghị, cuộc thi xoay quanh vấn đề này được tổ chức thường xuyên tại địa phương từ nhiều năm nay Các công trình nghiên cứu, hội thảo, hội nghị đã đề cập đến vấn đề bình đẳng giới một cách đa dạng như: bình đẳng giới trong các cơ quan, tổ chức, trong gia đình, nhà trường … Tuy nhiên, cho đến nay, qua tìm hiểu của tác giả thì vấn đề bình đẳng giới trong các gia đình hạt nhân tại thành phố Thái Bình chưa có công trình nào nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Trang 13

Để đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ chính sau:

- Làm rõ một số vấn đề lí luận chung về gia đình, gia đình hạt nhân, phụ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình, cụ thể là bình đẳng giới vợ và chồng trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình trong giai đoạn hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn không nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình nói chung

mà chỉ nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân

Luận văn chỉ nghiên cứu bình đẳng giới của gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình trong 5 năm trở lại đây (2010 - 2014)

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lí luận

Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về phụ nữ, giới, bình đẳng giới, gia đình

Trang 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Cụ thể là các phương pháp lôgíc và lịch

sử, phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, kết hợp các phương pháp điều tra xã hội học, thống kê và so sánh

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm rõ một phần thực trạng quan hệ giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay Bước đầu chỉ ra những thành tựu cũng như hạn chế của quan hệ giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay

- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng về giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình trong thời gian tới

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu

và giảng dạy, đồng thời là tài liệu tham khảo cho cán bộ văn hóa, cán bộ phụ

nữ tại địa phương

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI 1.1 Lí luận chung về gia đình và bình đẳng giới trong gia đình

1.1.1 Quan niệm về gia đình và gia đình hạt nhân

Quan niệm về gia đình

Khái niệm “gia đình”

Gia đình là nơi mỗi người sinh ra, lớn lên Nơi mà mỗi thành viên gắn bó máu thịt với nhau, cùng sẻ chia mọi buồn vui cuộc đời, cùng đóng góp công sức xây dựng và hưởng thụ mọi thành quả vật chất và tinh thần

do bản thân và các thành viên tạo ra Dù là mối quan hệ hôn nhân hay huyết thống thì các thành viên trong một gia đình dường như vẫn gắn bó,

có tình cảm và tinh thần trách nhiệm với nhau hơn bất kì một mối quan hệ nào khác ngoài xã hội

Gia đình là nơi truyền đạt và nuôi dưỡng tình cảm con người, nơi con người sẵn sàng sẻ chia tất cả mọi lợi ích vật chất và tinh thần mà không hề toan tính cũng như hưởng thụ sự sẻ chia đó từ người khác không hề ngần ngại, không cần tính toán thiệt hơn

Gia đình là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “gia đình” Ở những thời đại khác nhau, xã hội khác nhau đã có những quan niệm khác nhau về gia đình

Trong nhiều năm qua tại Việt Nam, nhiều quan điểm khác nhau về gia đình đã được các nhà nghiên cứu đưa ra bàn thảo

Trang 16

Theo “Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học”: “Gia đình là một hình thức cộng đồng những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan

hệ máu mủ” [30, tr 148]

Trong cuốn “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người” giáo sư Lê Thi cho rằng gia đình là “một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan

hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại) đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm) giữa họ có những điều ràng buộc có tính chất pháp lí, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ Đồng thời trong gia đình có qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [33, tr 20] Có thể khẳng định rằng, quan niệm về gia đình của giáo sư Lê Thi đã nêu được những thuộc tính cơ bản của gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội, tế bào khỏe mạnh thì cơ thể mới mạnh khỏe Trong gia đình, các thành viên cùng cư trú, có mối quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống, tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể, gia đình có chung những giá trị vật chất và tinh thần, đảm nhận chức năng sinh đẻ, nuôi dưỡng, giáo dục con người, phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử ở mỗi quốc gia

Các tác giả cuốn “Gia đình học” định nghĩa :“Gia đình là một thiết chế

xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống

và chăm sóc con cái Các mối quan hệ gia đình còn được gọi là mối quan hệ

họ hàng Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống và việc nhận con nuôi Những người này cũng phải sống cùng với nhau” [10, tr 54]

Trang 17

Khái niệm về gia đình mang tính pháp lí ở Việt Nam được ghi trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 8, phần 10, Giải thích từ ngữ ):

"Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này” Có thể khẳng định khái niệm gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã phản ánh một cách khá đầy đủ và sâu sắc các thành tựu nhận thức về gia đình ở nước ta thời gian qua Vì vậy khái niệm này đã được thừa nhận rộng rãi và

sử dụng phổ biến Trong luận văn này, tác giả cũng hoàn toàn nhất trí với khái niệm này

Vị trí, chức năng của gia đình

Gia đình có một vị trí đặc biệt quan trọng với mỗi cá nhân và với toàn

xã hội Trong “Lời nói đầu” của Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 viết: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”

Nếu xã hội là một cơ thể sống thì gia đình là một tế bào trong cơ thể sống đó Mỗi tế bào có lành lặn, khỏe mạnh thì cơ thể sống mới lành lặn, khỏe mạnh Gia đình là đơn vị cơ sở đầu tiên của xã hội Gia đình hạnh phúc hòa thuận thì cả cộng đồng và xã hội tồn tại và vận động một cách êm thấm Khi nói về vị trí của gia đình, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: rất quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt

Cầu nối giữa cá nhân và xã hội chính là gia đình Gia đình được coi

là cơ sở đầu tiên, nhỏ nhất trong hệ thống cơ cấu tổ chức xã hội khi là một thiết chế xã hội Sự vận động biến đổi của thiết chế gia đình tuân theo

Trang 18

những qui luật chung của hệ thống, nhưng thiết chế ấy đồng thời cũng vận động biến đổi còn trên cơ sở kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi nền văn hóa, mỗi vùng và địa phương khác nhau và còn được bộc lộ, thể hiện ở mỗi thành viên và thế hệ thành viên trong sự hòa quyện của mỗi

cá nhân với mỗi gia đình Từ các hoạt động, tổ chức đời sống trong gia đình, mỗi người, mỗi gia đình tiếp nhận, chịu sự tác động và phản ứng lại đối với những tác động xã hội, thông qua các tổ chức, các thiết chế, chính sách… của xã hội Sự phù hợp hay không phù hợp của những tác động từ

xã hội, nhà nước với những hình thức tổ chức, sinh hoạt trong thiết chế gia đình sẽ tạo ra kết quả tốt hay xấu của mỗi xã hội

Có những lĩnh vực, thông tin của xã hội tác động đến con người thông qua gia đình Hoàn cảnh gia đình của một người như thế nào sẽ giúp

xã hội nhận thức, đánh giá một phần về con người đó như thế ấy Nhiều nội dung quản lí xã hội không chỉ thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội,

mà còn thông qua hoạt động của gia đình để tác động đến con người Nghĩa

vụ và quyền lợi xã hội của mỗi người được thực hiện với sự hợp tác chung của các thành viên gia đình Qua đó, ý thức công dân của cá nhân được nâng cao và sự gắn bó giữa gia đình và xã hội có nội dung xác thực

Gia đình là nơi mang lại sự cân bằng, sự hài hòa trong đời sống cá nhân mỗi thành viên, mỗi công dân của xã hội Trong cả cuộc đời con người, mỗi người được nuôi dưỡng, chăm sóc để trở thành công dân của xã hội, lao động cống hiến và hưởng thụ, đóng góp cho xã hội trước hết và chủ yếu là thông qua gia đình và với gia đình Bình yên, hạnh phúc của mỗi gia đình là tiền đề, điều kiện quan trọng cho sự hình thành, phát triển nhân cách, bảo đảm đạt hiệu quả cho các hoạt động lao động của xã hội Vì vậy muốn xây dựng xã hội thì phải chú ý đến xây dựng gia đình Gia đình là nền tảng, là một bộ phận cấu thành trong chỉnh thể các mục tiêu phấn đấu của xã hội, vì sự ổn định và phát triển của xã hội

Trang 19

Tác giả Lê Ngọc Văn cho rằng: “Chức năng gia đình chỉ phương thức biểu hiện hoạt động sống của gia đình gắn liền với những nhu cầu của xã hội đối với gia đình (với tư cách là thiết chế xã hội) và những nhu cầu của cá nhân đối với gia đình (với tư cách là một nhóm tâm lí xã hội)” [43, tr 114]

Chức năng đầu tiên, cơ bản và chỉ gia đình mới có, đó là tái sản xuất ra chính bản thân con người Chức năng này bao gồm: tái sản xuất, duy trì nòi giống, nuôi dưỡng, nâng cao thể lực, trí lực bảo đảm tái sản xuất nguồn lao động và sức lao động cho xã hội Hoạt động sinh sản của con người trước hết xuất phát từ nhu cầu tồn tại của chính con người, của xã hội Chức năng này đáp ứng một nhu cầu rất tự nhiên và chính đáng của con người

Hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống vật chất cũng là một chức năng

cơ bản của gia đình, đó là tiền đề để thực hiện các chức năng khác Hoạt động kinh tế, hiểu theo nghĩa đầy đủ gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng để thỏa mãn các yêu cầu ăn, ở, mặc, đi lại của mỗi thành viên trong gia đình và của cả gia đình

Mỗi gia đình có thể coi là một đơn vị kinh tế có tài sản độc lập với các gia đình khác Nhờ chức năng này mà các thành viên gắn bó và ràng buộc với nhau Họ cùng làm ăn, cùng chia sẻ, cùng tích lũy vật chất Trong thời kì quá

độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều gia đình có điều kiện đều có thể trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh Để có thể phát huy mọi tiềm năng sáng tạo trong kinh tế, Đảng và Nhà nước đã đề ra và thực hiện các chính sách sao cho mọi gia đình, mọi cá nhân có thể làm giàu chính đáng bằng hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật

Gia đình có chức năng giáo dục Nội dung của giáo dục gia đình rất đa dạng, toàn diện, giáo dục kiến thức và kinh nghiệm, đạo đức lối sống, nhân cách, ý thức… Mỗi gia đình có một cách giáo dục con cái, giáo dục các thành

Trang 20

viên khác nhau, song chủ yếu là giáo dục bằng nêu gương, thuyết phục, giả thích Dù giáo dục xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng, có ý nghĩa quyết định, nhưng có những nội dung và phương pháp giáo dục gia đình mang lại hiệu quả lớn không thể thay thế Giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo dục Do đó, chủ thể giáo dục gia đình cơ bản và chủ yếu vẫn là thế hệ cha mẹ, ông bà đối với con cháu Để thực hiện giáo dục có hiệu quả, ông bà và cha mẹ phải là tấm gương sáng cho con cháu noi theo

Con người sinh ra và lớn lên trong môi trường gia đình, đến một độ tuổi nhất định nào đó mới đến trường, và khi còn nhỏ thời gian ở gia đình mỗi ngày thường nhiều hơn thời gian ở trường Giáo dục gia đình là một bộ phận và có quan hệ hỗ trợ, bổ sung, hoàn thiện thêm cho giáo dục nhà trường và xã hội Do đó, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội dù có phát triển lên trình độ nào, thì giáo dục gia đình vẫn được coi là một thành

tố của nền giáo dục nói chung

Gia đình có chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm, sinh lí, tình cảm Việc thỏa mãn nhu cầu tâm, sinh lí được coi là một chức năng cơ bản không chỉ có tính văn hóa - xã hội mà cả tính chất tự nhiên của gia đình Chức năng này có vị trí đặc biệt quan trọng, cùng với các chức năng khác tạo ra khả năng thực tế cho xây dựng gia đình hạnh phúc Nhiều vấn đề phức tạp có liên quan đến giới tính và giới, tâm lí lứa tuổi và thế hệ, những căng thẳng về thể xác và tâm hồn trong lao động, học tập … nhiều khi có thể được giải quyết trong một môi trường gia đình hòa thuận Sự hiểu biết, cảm thông, chia sẻ và đáp ứng các nhu cầu sinh lí giữa vợ và chồng, tâm lí tình cảm cha mẹ và con cái … làm cho mỗi thành viên trong gia đình có điều kiện sống hài hòa, lạc quan, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần… là những tiền để cần thiết cho một thái độ, hành vi tích cực trong cuộc sống gia đình và xã hội

Trang 21

Gia đình hạt nhân

Khái niệm “gia đình hạt nhân”

Hiện tại có nhiều quan điểm khác nhau về gia đình hạt nhân, trong

đó có hai quan điểm đáng chú ý Quan điểm thứ nhất cho rằng: gia đình hạt nhân là nhóm người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mối quan hệ của một người vợ hoặc một người chồng với các con

Do vậy, cũng có thể có gia đình hạt nhân đầy đủ và gia đình hạt nhân không đầy đủ Gia đình hạt nhân đầy đủ là loại gia đình mang trong nó đầy

đủ các mối quan hệ (chồng, vợ, các con); Ngược lại, gia đình hạt nhân không đầy đủ là loại gia đình trong nó không đầy đủ các mối quan hệ đó, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại quan hệ của chỉ người vợ với người chồng hoặc chỉ của người bố hoặc người mẹ với các con

Quan điểm thứ hai cho rằng: gia đình hạt nhân là nhóm người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay còn gọi là gia đình hiện đại Ngoài ra còn có nhiều dạng gia đình đặc biệt trong xã hội hiện đại như: gia đình đơn thân, hay còn gọi là gia đình khuyết thiếu (chỉ có mẹ và con hoặc bố

và con, mẹ và con là chủ yếu); gia đình đồng giới …

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng gia đình hạt nhân là kiểu gia đình của

xã hội hiện đại và ngày càng phổ biến trong xã hội ngày nay Gia đình hạt nhân đã trở thành hiện tượng phổ biến trong thế kỉ vừa qua

Ở luận văn này chủ yếu đi sâu nghiên cứu gia đình hạt nhân với đầy đủ mối quan hệ vợ chồng, con cái Đó là dạng gia đình chiếm đa số và có nhiều vấn đề nảy sinh dưới tác động của những điều kiện kinh tế - xã hội trong thời

kì đổi mới và hội nhập quốc tế

Xu hướng phát triển gia đình hạt nhân hiện nay

Trang 22

Ngày nay, gia đình Việt Nam phần lớn là gia đình hạt nhân trong đó chỉ có một cặp vợ chồng và con cái Theo số liệu thống kê, hơn 70% gia đình Việt Nam hiện nay là gia đình hạt nhân Các gia đình này chủ yếu là trí thức, viên chức nhà nước, công nhân, gia đình bộ đội, công an tập trung tại các đô thị Ngoài ra, ở nông thôn, các gia đình làm nông nghiệp cũng có xu hướng hạt nhân hóa ngày càng nhiều Gia đình hạt nhân ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và những lợi thế không thể phủ nhận của nó

Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, gia đình hạt nhân ở Việt Nam hiện nay chủ yếu, phổ biến là gia đình trẻ Đặc điểm này tồn tại ở cả nông thôn và thành thị Gia đình hạt nhân tồn tại và phát triển độc lập, linh hoạt, có khả năng thích nghi cao và rất nhanh với các biến đổi xã hội Gia đình hạt nhân có

sự độc lập, tự chủ về kinh tế Trong gia đình hạt nhân, mỗi thành viên trong gia đình có khoảng không gian tự do hơn (so với gia đình truyền thống) để họ được phát huy năng lực, sở thích cá nhân Tự do cá nhân luôn được đề cao Trong xã hội hiện đại, mức độ độc lập cá nhân được coi là một yếu tố biểu hiện chất lượng cuộc sống gia đình, biểu thị sự phát triển xã hội Nếu được gia đình tạo điều kiện nuôi dưỡng và phát triển năng lực cá nhân sẽ tạo ra phong cách sống, tính cách, năng lực sáng tạo riêng khiến cho mỗi người đều

có bản sắc Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rất cần những con người có năng lực thực sự, bản sắc như vậy

Dĩ nhiên, gia đình hạt nhân cũng bao gồm trong nó những điểm yếu nhất định Ví dụ như, mỗi người dành thời gian và không gian nhiều hơn cho cái tôi nên khả năng hỗ trợ, thấu hiểu lẫn nhau về tinh thần giữa các thành viên trong gia đình bị hạn chế Sự tương trợ lẫn nhau về vật chất, tinh thần giữa gia đình nhỏ (gia đình hạt nhân) và gia đình lớn (ông bà, cha mẹ, các cháu), giữa các gia đình với nhau cũng giảm sút Ảnh hưởng của các thế hệ

Trang 23

tới nhau ít đi cũng làm giảm khả năng giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình

Dù vậy, gia đình hạt nhân là một thành tựu trong quá trình phát triển gia đình của nhân loại và nhìn chung là loại hình phổ biến trên thế giới và ở nước ta gia đình hạt nhân cũng là loại hình mang tính phổ biến hiện nay Điều

đó cũng có nghĩa là, gia đình hạt nhân cũng là kiểu gia đình của xã hội hiện đại, dù muốn hay không chúng ta vẫn khó có thể cưỡng lại xu thế hạt nhân hóa gia đình đó

Gia đình hạt nhân phát triển bền vững là những gia đình có chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, đạt được chuẩn mực ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

1.1.2 Giới và bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân

Giới và bình đẳng giới

Giới

Giới tính (sex) là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt

sinh học Sự khác biệt này thể hiện trong quá trình tái sản xuất ra con người, duy trì nòi giống Ví dụ như chỉ có phụ nữ mới có khả năng sinh đẻ

Giới (gender) là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt

văn hóa xã hội; vai trò xã hội của mỗi người nam và nữ Ví dụ: sự khác biệt giữa nam và nữ với vai trò lãnh đạo cộng đồng do quan niệm, do văn hóa chứ không phải do bản chất tự nhiên của mỗi giới Vì vậy nó hoàn toàn có thể thay đổi

Từ hai khái niệm trên ta có thể đưa ra một số nhận định như sau:

Trang 24

Giới tính là đặc điểm tự nhiên của con người Giới tính có tính chất

ổn định, gần như bất biến với cả nam và nữ trong mọi điều kiện không gian

và thời gian

Giới luôn biến đổi Những điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, phong

tục tập quán… có ảnh hưởng không nhỏ đến sự bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình và ngoài xã hội Mỗi dân tộc, vùng miền, địa phương khác nhau thì vị trí của phụ nữ so với nam giới cũng khác nhau Trong một dân tộc, một vùng miền, một địa phương ở những thời kì khác nhau thì vị trí của nam giới so với nữ cũng khác nhau

Cho đến nay thì người ta vẫn thường dựa vào sự khác biệt giới tính để giải thích sự khác biệt nam và nữ về mặt xã hội Ví dụ như quan điểm cho rằng phụ nữ có năng lực hạn chế hơn so với nam giới Đây là những quan niệm hoàn toàn mang tính định kiến, không có cơ sở khoa học

Khái niệm giới và giới tính tuy khác nhau nhưng vẫn có quan hệ với nhau Giới tính là yếu tố ban đầu và lâu dài để phân biệt nam hoặc nữ Sự khác biệt về giới tính là yếu tố tự nhiên, hầu như không thể mất đi và cũng không nên can thiệp để mất đi sự khác biệt đó Mặt khác, sự khác biệt về giới tính là cơ sở để tìm hiểu năng lực, sở trường, nhu cầu riêng của nam và nữ để

từ đó phân công lao động hợp lí nhằm phát huy cao nhất năng lực, phù hợp nhu cầu của mỗi giới

Nói tóm lại, giữa nam và nữ có những đặc trưng hết sức khác nhau cả

về mặt tự nhiên và mặt xã hội Sự khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ mang tính bẩm sinh, không thể thay đổi được, và cũng không cần thay đổi, đó là sự hài hòa mà tạo hóa đã ban cho loài người để bảo tồn nòi giống Ngược lại, sự khác biệt xã hội giữa nam và nữ do xã hội đã tạo ra, sự khác biệt đó đã đưa tới

sự bất bình đẳng giữa nam và nữ Xóa bỏ sự bất bình đẳng giới là cần thiết và

Trang 25

nhằm thay đổi tương quan địa vị xã hội giữa nam và nữ chứ không phải là xóa

bỏ sự khác biệt giữa họ về mặt tự nhiên

Bình đẳng về giới

Bình đẳng là khái niệm có ý nghĩa xã hội sâu sắc Theo từ điển tiếng

Việt thì: bình đẳng là ngang hàng ngang nhau về địa vị và quyền lợi

Con người luôn vươn tới khát vọng về một xã hội bình đẳng, trong đó

có bình đẳng nam nữ, nhưng thế nào là bình đẳng nam nữ (bình đẳng giới) là một nội dung quan trọng về mặt nhận thức cần phải làm rõ

Bình đẳng giới là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội

đối với nam và nữ Phụ nữ và nam giới có vị trí xã hội như nhau, có các cơ hội như nhau để phát huy hết khả năng của mình, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội Luật Bình đẳng giới (2007):“Bình đẳng giới là việc nam, nữ

có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau

về thành quả của sự phát triển đó” [28, tr 9 - 10]

Một nội dung quan trọng của bình đẳng xã hội là bình đẳng giới Khi

mà phụ nữ và nam giới có được vị trí xã hội như nhau, các khác biệt tự nhiên giữa họ đều được tôn trọng Sự phát triển toàn diện của mỗi người (nam cũng như nữ) được xem là điều kiện phát triển, tiến bộ của xã hội Sự bình đẳng không chỉ được ghi nhận trong luật pháp mà còn được đảm bảo trong thực tế cuộc sống thông qua các đối xử đặc biệt giành cho phụ nữ

Bên cạnh việc tìm hiểu khái niệm bình đẳng giới cũng cần làm rõ khái niệm bất bình đẳng giới Bất bình đẳng giới là khái niệm đối lập với bình đẳng giới Đây là khái niệm chỉ sự khác biệt về địa vị xã hội giữa nam và nữ,

chủ yếu dựa trên các quan niệm sai lầm, phiến diện, sự đối xử không công

Trang 26

bằng giữa nam và nữ Hệ quả của nó là hạn chế hoặc triệt tiêu năng lực phát triển của phụ nữ hay nam giới

Như vậy, sự đối xử công bằng dường như là cầu nối để tiêu diệt bất bình đẳng giới, tiến tới sự bình đẳng giới thực sự, xây dựng xã hội tốt đẹp

Trong quan niệm của Nho giáo thì gia đình là phần quan trọng nhất kết nối con người với thế giới xung quanh Nho giáo quan niệm nhà - nước - thiên hạ là nền tảng cấu trúc xã hội Con người sống, học tập, rèn luyện theo Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Nam giới theo Nho giáo phải: tu thân, tề gia, trị

quốc, bình thiên hạ Những quan niệm tiến bộ này của Nho giáo đã góp một

phần quan trọng vào tổ chức đời sống xã hội có kỉ cương, nề nếp, coi trọng gia đình, giáo dục con người yêu thương, đề cao sự hiểu biết và tinh thần tự phấn đấu vươn lên

Nhưng hạn chế không nhỏ của Nho giáo là tư tưởng đề cao nam giới, là trọng nam khinh nữ, chủ trương tam tòng, tứ đức Người phụ nữ đã bị trói buộc số phận bởi quan niệm này Quan niệm này cho rằng thiên chức của phụ

nữ là phục vụ nam giới vô điều kiện, “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Trong xã hội xưa, phụ nữ phải thủy chung với chồng “gái

chính chuyên chỉ có một chồng”, nhưng “đàn ông năm thê bảy thiếp” Nho

giáo dạy phụ nữ lễ - nghĩa để phục vụ chồng

Chủ nghĩa Mác - Lê nin đề cập vấn đề bình đẳng giới này như một vấn

đề lí luận không thể thiếu trong toàn bộ học thuyết về sự phát sinh và phát triển của xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa Mác - Lê nin nghiên cứu về gia đình với mục đích cơ bản là thúc đẩy sự phát triển của gia đình mới xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

V.I Lê nin là người đặc biệt quan tâm đến giải phóng phụ nữ Ông cho rằng mặc dù có mọi luật lệ giải phóng, nhưng phụ nữ vẫn cứ còn là nô lệ trong

Trang 27

gia đình, vì những công việc nội trợ linh tinh còn đè nặng lên lưng họ, làm cho

họ nghẹt thở, mụ mẫm, nhục nhằn, ràng buộc họ vào bếp núc, vào buồng con cái, lãng phí sức lực của họ vào một công việc cực kỳ kém năng suất, tủn mủn, làm cho họ nhọc nhằn, đần độn, bị gò bó Ông còn cho rằng: “Bình đẳng nam

nữ không đồng nghĩa với sự ngang bằng theo kiểu phụ nữ tham gia lao động với năng suất, khối lượng, thời gian và điều kiện lao động như nam giới, bởi

"ngay trong điều kiện hoàn toàn bình đẳng, thì sự thật phụ nữ vẫn bị trói buộc

vì toàn bộ công việc gia đình đều trút lên vai phụ nữ" [19 tr 321]

Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam đã cụ thể hóa các quan điểm

cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội

Nguyễn Ái Quốc từng cảm nhận rất sâu sắc nỗi khổ nhục của người dân mất nước, đặc biệt là phụ nữ Với nước thuộc địa, thì mọi thứ tự do, bình đẳng, bác ái, công lí, nhân quyền chẳng bao giờ có Giai cấp tư sản thường giương cao ngọn cờ tự do, bình đẳng, bác ái, nhưng trong thực tế chúng lại là những kẻ chà đạp lên tự do, bình đẳng, bác ái, vì vậy khi đến thăm tượng thần

tự do ở Mỹ, Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét: trong khi người ta tượng trưng tự

do và công lí bằng tượng một người đàn bà thì trong thực tế, họ lại hành hạ những người đàn bà bằng xương, bằng thịt

Bác khuyên phụ nữ muốn thực sự giải phóng cho cuộc đời, thân phận mình thì phải xóa bỏ tư tưởng tự ti, mặc cảm, phải đấu tranh để tự khẳng định mình Để tiến bộ, phụ nữ cũng phải tích cực học văn hóa, chính trị … Và Người đã khích lệ phụ nữ bằng chính tấm gương học tập ngay trong tù của mình

Người cho rằng muốn xây dựng gia đình bình đẳng hạnh phúc phải bắt đầu từ ban hành luật hôn nhân gia đình mới, bởi theo Người, luật này quan hệ

Trang 28

đến tương lai của mỗi gia đình, của xã hội, của giống nòi và "Luật lấy vợ lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phần nửa xã hội Giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông" [21, tr 524]

Không dừng lại ở việc ban hành luật, mà Người cho rằng phải tuyên truyền giáo dục lâu dài, phải được cả nam và nữ giác ngộ và làm theo Trong mỗi gia đình phụ nữ phải được tôn trọng, bởi "chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền, bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau" [22, tr 195] Thế nhưng trong gia đình phụ nữ vẫn bị đối xử bất bình đẳng, vẫn bị đánh chửi tàn nhẫn Bác nghiêm khắc phê bình hiện tượng đàn ông đánh chửi

vợ, phê bình các cấp bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể bao che hoặc làm ngơ, thậm chí cũng có những đảng viên đánh vợ

Một lực lượng lao động rất lớn của xã hội và gia đình là phụ nữ Nhưng khác với nam giới, phụ nữ có các đặc điểm sinh học rất khác biệt Bác cho rằng cả gia đình và hợp tác xã cần phải có sự phân công lao động hợp lí, phải chú ý bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ để chị em tham gia sản xuất được tốt Đây là những điều giản đơn nhưng là những đối xử đặc biệt để phụ nữ được bình đẳng với nam giới

Theo Luật Bình đẳng giới năm 2007, bình đẳng giới trong gia đình là một trong tám lĩnh vực của luật này Luật này đã nêu rõ ràng, vấn đề bình đẳng giới trong gia đình được thể hiện ở 5 khía cạnh là: Lĩnh vực pháp luật; lĩnh vực về quyền quyết định; lĩnh vực tái sinh sản; lĩnh vực giáo dục con cái; lĩnh vực sản xuất

Như vậy, bình đẳng giới trong gia đình đã được luật hóa ở Việt Nam Trên thực tế thì bình đẳng giới trước hết nên được giải quyết hiệu quả trong gia đình rồi mới đến bình đẳng giới ngoài xã hội

Trang 29

Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã đưa ra 4 công

cụ để đánh giá mức độ bình đẳng giới hay bất bình đẳng giới trong gia đình, gồm có: Phân công lao động theo giới; Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực; Ra quyết định; Các nhu cầu giới

Trong luận văn này, tác giả chỉ tiếp cận nghiên cứu bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay dựa trên lĩnh vực: Phân công lao động theo giới; Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực; Ra quyết định

Bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân và tầm quan trọng của việc nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân

Trong thực tế, trừ những kiểu gia đình hạt nhân cá biệt như: gia đình đơn thân, gia đình một thế hệ, phần lớn gia đình hiện nay chỉ có hai dạng: gia đình truyền thống (gia đình có từ ba thế hệ trở lên) và gia đình hiện đại (hay còn gọi là gia đình hạt nhân) Mỗi mô hình gia đình có những ưu thế và hạn chế riêng Tuy nhiên, trong xã hội phát triển, nhất là thời kỳ hội nhập, người

ta có xu hướng ngày càng ưa chuộng kiểu gia đình hiện đại (hơn 70% gia đình Việt Nam thuộc dạng gia đình hai thế hệ)

Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội hiện đại gia đình hạt nhân có các yếu tố thỏa mãn được các yêu cầu: sống lâu và mạnh khỏe hơn, phát triển

về mặt kinh tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, đô thị hóa, tính cơ động về mặt địa lí, và sự di dân ra các vùng ngoại thành Xu hướng hạt nhân hóa gia đình là xu hướng tất yếu, bởi gia đình hạt nhân có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi của xã hội hiện đại Việc thu nhỏ qui mô gia đình là một

sự tiến bộ của xã hội Nó cho thấy sự bình đẳng giới, đời sống riêng tư của con người được coi trọng hơn, giảm bớt những mâu thuẫn và xung đột phát sinh từ việc chung sống trong gia đình nhiều thế hệ

Trang 30

Vấn đề bình đẳng giới nói chung, vấn đề bình đẳng giới trong gia đình nói riêng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân thì thực sự chưa phải là vấn đề các nhà nghiên cứu đề cập nhiều Có lẽ bởi gần đây mới đánh dấu sự bùng nổ xu hướng hạt nhân hóa gia đình Và người ta quan tâm nhiều đến vấn đề “bi kịch” khi những gia đình truyền thống bị “tan đàn sẻ nghé” như: sự suy giảm vai trò và chức năng của gia đình; sự mai một các giá trị truyền thống; sự xuống cấp về đạo đức; sự gia tăng của bạo lực, tệ nạn xã hội, li hôn …

Trên thực tế, giải quyết vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân

có một vai trò rất quan trọng Đây sẽ là một cơ sở không nhỏ góp phần giảm tỉ

lệ bạo lực gia đình, giảm tỉ lệ li hôn, giảm rất nhiều các tệ nạn xã hội (hệ quả của sự đổ vỡ trong gia đình)

Một gia đình hạt nhân bình đẳng giới thể hiện đầu tiên ở sự công bằng

về quyền lợi, nghĩa vụ của hai vợ chồng, trong đó có những nghĩa vụ, trách nhiệm được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Bên cạnh đó là trách nhiệm, nghĩa vụ do những phong tục, tập quán tốt đẹp được văn hóa truyền thống thừa nhận và tôn trọng Trong gia đình hạt nhân cần sự xác định rõ ý thức trách nhiệm giữa chồng và vợ trên cơ sở quan niệm bình đẳng và tiến bộ Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân thực chất là tạo môi trường dân chủ trong gia đình với sự phân công lao động hợp lí, căn cứ vào năng lực, trí tuệ, thể lực nhu cầu và điều kiện phù hợp của vợ và chồng chứ không phải là chia đều công việc Bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân gắn với

nề nếp, tạo nên sự hòa thuận trong gia đình Nề nếp được hiểu là trong gia đình vợ chồng sống có kỉ cương, trật tự nhất định, ngoài xã hội biết tôn trọng và chấp hành pháp luật

Sẽ là lệch lạc khi cho rằng chồng là người trụ cột gia đình, làm việc kiếm tiền nuôi gia đình còn vợ chỉ phù hợp việc nhà Trách nhiệm của cả vợ

Trang 31

và chồng là lao động sản xuất tạo của cải vật chất và cùng nhau tổ chức đời sống gia đình Vì vậy, việc chăm sóc gia đình, tổ chức cuộc sống gia đình hay

sự đóng góp về kinh tế phải được đánh giá ngang nhau Bởi lẽ cả hai yếu tố này đều không thể thiếu tạo nên sự ấm no của gia đình Khi nào gia đình hạt nhân có quan niệm đúng đắn về điều này thì vấn đề ai kiếm nhiều tiền hơn, ai

có quyền hành hơn không còn đặt ra nữa Sự đánh giá đúng đắn vai trò quan trọng của mỗi người trong việc tạo dựng gia đình êm ấm là nền tảng để mỗi

cá nhân phát huy năng lực, sở trường của mình, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phồn vinh

Gia đình hạt nhân hiện nay chiếm tỉ lệ rất lớn (trên 70%) Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân mang lại hai ý nghĩa lớn: Thứ nhất là góp phần giải phóng phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ hoàn thành tốt vai trò làm mẹ, làm vợ, là nền tảng thúc đẩy bình đẳng và tiến bộ xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ; Thứ hai là góp phần tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân tại thành phố Thái Bình hiện nay

Mục tiêu đầu tiên và cuối cùng của các gia đình hạt nhân là ấm no, bình đẳng, hạnh phúc Trong một gia đình chỉ có hai thế hệ (cha mẹ và con cái) thì

sự hòa thuận của cha mẹ là yếu tố quan trọng nhất quyết định hạnh phúc gia đình Muốn hòa thuận thì phải bình đẳng Bình đẳng hay bất bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình trong điều kiện kinh tế thị trường bị qui định bởi rất nhiều nhân tố

1.2.1 Những quan niệm trong gia đình truyền thống

Sự hòa nhập giữa quan niệm trong gia đình truyền thống và quan niệm gia đình hiện đại một mặt, bổ sung cho nhau, tạo thành một chỉnh thể của mô hình gia đình hiện đại; nhưng đồng thời các yếu tố đó cũng đấu tranh, xung

Trang 32

đột với nhau làm cho các quan hệ giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình đang có nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp

Những nhận thức, đánh giá sai lệch về vai trò của nam và nữ trong gia đình truyền thống

Trong gia đình truyền thống Việt Nam, do ảnh hưởng quan niệm của Nho giáo nên vai trò của nam và nữ bị nhận thức và đánh giá sai lệch đến mức tiêu cực, gây áp lực cho cả nam và nữ, đặc biệt là nữ Trong gia đình truyền thống, con trai thường được coi trọng hơn con gái Con trai thường được bố mẹ “ưu tiên đầu tư” cho học hành đến nơi đến chốn hơn con gái, vì quan niệm con gái không nên học hành nhiều làm gì, lớn lên đi lấy chồng là hết Nhà có một con trai cũng coi là có, còn có bao nhiêu con gái cũng ví như không Người chồng, người đàn ông tự cho mình là người có quyền lực cao nhất, chi phối mọi thành viên trong gia đình, đặc biệt là người vợ Người vợ thường không có tiếng nói trong gia đình trong khi người vợ là người quán xuyến mọi việc Công việc nội trợ hoàn toàn do phụ nữ làm

Đàn ông cho rằng phụ nữ là người hẹp hòi, ích kỉ, làm việc kém hiệu quả

so với họ, không hăng hái trong công việc, thiếu khả năng quyết đoán Những trở ngại đối với phụ nữ trong việc tiếp cận các cơ hội đào tạo, hoặc khi tìm việc làm, hay tham gia quản lí và cơ hội phát triển chuyên môn chính là những quan niệm sai lầm về giới ngay từ trong gia đình Nam giới nói chung thường quan niệm chức năng của phụ nữ là gia đình và con cái, cho nên, mọi việc trong gia đình phải là việc của phụ nữ, đàn ông không thể và không nên chia sẻ công việc hàng ngày với phụ nữ

Trong khi đó, đánh giá bằng công sức thì người ta vẫn đánh giá cái nhìn thiên lệch Nếu người phụ nữ chỉ làm việc nhà, chăm sóc con cái còn người chồng lo kinh tế gia đình thì người chồng mới là quan trọng Điều này là sự thể hiện rất tế nhị từ biểu hiện định kiến về năng lực của người

Trang 33

phụ nữ, vì người phụ nữ không giỏi kiếm tiền thì phải gánh lấy trách nhiệm chăm lo tất cả mọi việc trong gia đình, nhưng những việc làm này không tạo ra thu nhập trực tiếp cho nên việc mà người phụ nữ làm là nhỏ mọn, không quan trọng Tuy nhiên, trên thực tế có thể thấy rằng việc gánh vác công việc gia đình, chăm lo con cái của người phụ nữ có ý nghĩa rất quan trọng đối với gia đình, thành công của người đàn ông ở trường hợp này đã hàm chứa công sức của người vợ Bởi vậy, cần phải có một cái nhìn mới trong phân công công việc gia đình

Sự đánh giá sai lệch về vai trò nam giới và nữ giới trong gia đình truyền thống không chỉ ảnh hưởng lớn tới phụ nữ mà còn tác động không nhỏ tới nam giới

Quan niệm nam giới phải làm công to việc lớn, không làm những việc nội trợ nhỏ mọn đôi lúc đẩy người đàn ông trong gia đình vào những bế tắc không lối thoát Không phải người đàn ông nào, không phải lúc nào người đàn ông cũng phù hợp làm được công to việc lớn Mà đôi khi, người phụ nữ nếu có cơ hội sẽ làm tốt hơn nam giới Nhưng vì đã trót mang trên mình thân phận đàn ông nên họ phải nỗ lực cố gắng, nếu không sẽ bị xã hội cười chê Hoặc có những gia đình vợ có cơ hội phát triển công việc ngoài xã hội hơn, chồng làm việc nhà, đây thực sự là bi kịch với người chồng, vì họ bị đánh giá

là người ăn bám vợ

Tư tưởng trọng nam khinh nữ trong gia đình truyền thống

Văn hóa truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo Một trong những hạn chế cơ bản của Nho giáo là tư tưởng trọng nam khinh

nữ, đề cao phụ quyền, đề cao gia trưởng, đề cao người đàn ông trong gia đình

và ngoài xã hội Với xã hội, đề cao đàn ông và vai trò đàn ông là quân tử; đề cao vua, vua thay trời hành đạo, người phụ nữ bị đẩy xuống hàng thấp hèn,

Trang 34

ngang với bọn tiểu nhân, phụ nữ ngu si, khó dạy, sinh ra chỉ để phục vụ cho đàn ông Trong gia đình, mọi quyền hành tập trung vào đàn ông

Như vậy, địa vị thực sự của người phụ nữ trong gia đình được đánh giá ra sao? Từ nhiều cách khai thác, đánh giá khác nhau, hiện nay ở nước ta tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau về địa vị người phụ nữ dưới chế độ phong kiến Quan điểm thứ nhất cho rằng nhân dân ta từ ngàn xưa có truyền thống đề cao, tôn trọng phụ nữ; Quan điểm thứ hai cho rằng việc trọng nam khinh nữ từ lâu đã ăn sâu vào nếp nghĩ nhân dân Cả hai quan điểm đều có những điểm hợp lí nhất định, tuy nhiên chúng ta cần có cái nhìn biện chứng, toàn diện để đánh giá một cách khách quan nhất Suốt mấy ngàn năm lịch sử dưới nhiều tác động khác nhau cả tích cực và tiêu cực, sự va chạm giữa các nền văn hóa đã tạo ra sắc thái riêng về bất bình đẳng nam nữ trong gia đình người Việt Theo chúng tôi, có thể khẳng định địa vị người phụ nữ trong gia đình như sau:

Thứ nhất, lịch sử Việt Nam từng tồn tại truyền thống, trọng nam khinh nữ Điều này mang tính phổ biến khi nhân loại chuyển giao quyền lực của người đàn bà sang người đàn ông (xã hội loài người chuyển từ chế

độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ) Chế độ phụ quyền ở Việt Nam nằm trong qui luật đó Ngoài ra, với ngàn năm Bắc thuộc, tư tưởng Nho giáo cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam, trong đó có quan niệm trọng nam, đề cao nam giới

Thứ hai, những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc từ ngàn đời nay

đề cao tôn trọng phụ nữ đã góp phần làm giảm sự bất bình đẳng nam nữ ở Việt Nam Chế độ phụ quyền thay thế chế độ mẫu quyền ở Việt Nam không diễn ra khốc liệt mà đó là sự chuyển hóa, cộng hưởng dần dần Trong điều kiện một đất nước ngàn năm phương Bắc đô hộ, suốt chiều dài lịch sử chống giặc ngoại xâm, vai trò của người phụ nữ trong sản xuất và đánh giặc thật to lớn Những tấm gương phụ nữ anh hùng trong chiến đấu

Trang 35

chống giặc ngoại xâm đã làm rạng rỡ thêm trang sử hào hùng dân tộc Điều đó đã làm cho những giá trị tốt đẹp của người phụ nữ vẫn được lưu truyền và ngợi ca Tư tưởng Nho giáo ăn sâu ở tầng lớp trên của xã hội còn truyền thống văn hóa người Việt thì hằn in trong quần chúng lao động Khát vọng tự do bình đẳng không chỉ có phụ nữ mà đó là khát vọng của người lao động nói chung, của người phụ nữ nói riêng, được nuôi dưỡng, trường tồn trong lòng dân tộc

Hiện nay, tuy xã hội phong kiến đã lùi xa nhưng tàn dư của tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại dai dẳng trong xã hội, trong mỗi con người nam cũng như nữ, đấu tranh để loại bỏ nó không đơn giản, bởi đó là cuộc đấu tranh chiến thắng chính bản thân mình Bản thân phụ nữ cũng tự trang bị cho mình cái nghĩa vụ phải phục tùng, phải hi sinh, nhẫn nhịn và coi

đó là bổn phận

Trong công cuộc đổi mới, giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, văn hóa Việt Nam vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc vừa chọn lọc, tiếp thu những giá trị văn hóa tiên tiến của thời đại Điều này cũng thể hiện rất rõ trong quan hệ ứng xử giữa nam và nữ trong gia đình Mặc dù còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh nữ, nhưng mỗi thành viên của gia đình, nam cũng như nữ, đang đấu tranh chiến thắng chính bản thân mình để thiết lập mối quan hệ nam nữ ngày càng bình đẳng hơn, phù hợp hơn với thực tế đời sống gia đình và xã hội hiện đại

1.2.2 Chính sách, pháp luật của nhà nước

Pháp luật về hôn nhân gia đình và bình đẳng giới

Bình đẳng giới là tiêu chí quan trọng để đánh giá tiến bộ và công bằng

xã hội Thực tế sự phát triển xã hội loài người đã khẳng định điều đó Bởi lẽ, bình đẳng giới liên quan đến sức khỏe, hạnh phúc mỗi gia đình, sự bình yên

Trang 36

của cộng đồng và sự phồn vinh toàn xã hội Ngày nay, giới và bình đẳng giới trở thành vấn đề mang tính thời đại nóng hổi Đa số các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề này

Ở nước ta, ngay từ thời điểm khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, vấn đề bình đẳng nam nữ đã được đề cập đến Nguyên tắc bình đẳng nam

nữ đã trở thành nguyên tắc hiến định của Nhà nước ta được đề cập đến ngay

từ bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946 Hiến pháp đầu tiên của nhà nước đã ghi nhận "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" Trên cơ sở Hiến pháp, vấn đề bình đẳng giới đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật, làm cơ sở để chúng ta thực hiện và bảo đảm vấn đề bình đẳng giới trong thực tế

Năm 1959, với việc ban hành luật Hôn nhân gia đình đã thực sự tạo ra

“một cuộc cách mạng” đối với sự phát triển của gia đình Việt Nam Quan điểm hôn nhân gia đình theo tư tưởng phong kiến, tư sản đã bị pháp luật của nhà nước Việt Nam mới phủ nhận, chấm dứt chế độ đàn ông được phép lấy nhiều vợ, chấm dứt chuyện tảo hôn, cha mẹ ép duyên con

Hiến pháp năm 1992 quy định, nam giới và phụ nữ có quyền bình đẳng trên mọi lĩnh vực của đời sống, nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Chính vì vậy, bạo lực trên cơ sở giới là vi phạm nguyên tắc bình đẳng nam nữ, được coi là mặt đối lập với bình đẳng giới Trong quá trình tồn tại và phát triển của gia đình, các mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống vợ chồng là một điều khó tránh khỏi, tuy nhiên, gia đình muốn tồn tại, phát triển bền vững phải là một thực thể hài hòa và giải quyết mâu thuẫn, xung đột hợp lí, tránh đẩy tới bạo lực Bạo lực trong gia đình là một nguy cơ lớn nhất đe dọa sự bền vững của gia đình

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, chương quan hệ giữa vợ và chồng, điều 18 qui định rằng: vợ chồng chung thủy, thương yêu, quý trọng,

Trang 37

chăm sóc, giúp đỡ nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Điều này cho thấy, vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ trong xây dựng hạnh phúc gia đình trên mọi phương diện Nhưng thực tế cho thấy, trách nhiệm đặt ra cho người vợ thường lớn hơn so với người chồng Nguyên nhân của tình trạng này một phần do ý thức pháp luật của người dân còn thấp, mặt khác chủ yếu vẫn là do ảnh hưởng của những phong tục, tập quán lâu đời vẫn ăn sâu trong đầu óc mỗi người, nó chi phối suy nghĩ và hành động của vợ

và chồng nhiều khi lấn át cả qui định pháp luật Chính vì vậy không phải cứ ban hành Luật Hôn nhân và gia đình là xong mà điều quan trọng là phải tổ chức tuyên truyền, giáo dục phổ biến nội dung Luật từ đó xây dựng ý thức chấp hành luật đối với mỗi người nam cũng như nữ

Đảm bảo bình đẳng giới là một trong những mục tiêu cơ bản của việc bảo đảm công bằng xã hội, cùng với đó đấu tranh cho giải phóng phụ nữ - một nửa của xã hội loài người luôn đặt chúng ta trong việc xem xét và giải quyết một loạt các mối quan hệ Quan hệ giữa phụ nữ với nam giới, giữa gia đình và

xã hội, giữa cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ với cuộc cách mạng xã hội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tư tưởng, văn hóa

Trong chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe phụ nữ, đặc biệt là sức khỏe sinh sản được Nhà nước ta coi là một trong những biện pháp quan trọng đặc biệt nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội (như quan điểm tiếp cận của Nhà nước ta với điều 4 Công ước CEDAW) Mặc dù còn nhiều eo hẹp trong ngân sách, nhưng Chính phủ ta cũng đã đầu tư rất đáng kể vào lĩnh vực y tế Một loạt cơ sở y tế công cộng từ trung ương đến tận tuyến xã phường đã đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, cùng với đó sức khỏe sinh sản của phụ nữ cũng được đáp ứng thông qua hệ thống chuyên biệt Hiện nay sức khỏe của phụ nữ vẫn

Trang 38

đang là một trong những ưu tiên, một trọng tâm của kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc phát triển ổn định và kiểm soát qui mô, tốc độ gia tăng dân số, coi đó là một trong những chỉ tiêu kinh tế - xã hội Công tác dân

số - kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu, là yếu tố nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội, góp phần nâng cao chất lượng đời sống phụ nữ

Việc ban hành các chính sách về dân số là yếu tố rất quan trọng góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới tại các địa phương, trong đó có thành phố Thái Bình

Để công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình thực sự được xã hội hóa, Thái Bình đã huy động sự tham gia của các lực lượng xã hội trong công tác tuyên truyền, phối hợp lồng ghép mục tiêu dân số với phát triển thông qua các hoạt động và chương trình tuyên truyền tới các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức

xã hội, nâng cao hiệu quả mô hình truyền thông dân số với phát triển

Một trong những lĩnh vực quan trọng của công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đó là cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình được chú trọng, ngày càng thuận lợi, an toàn, hiệu quả và đảm bảo tính riêng

tư nên đã từng bước đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Hàng năm, thành phố tổ chức các chiến dịch tăng cường đưa dịch vụ sức khỏe sinh sản đến xã khó khăn, có mức sinh cao tạo điều kiện nâng cao nhận thức, cải thiện rõ rệt tình trạng sức khỏe sinh sản cho phụ nữ

Trang 39

Chiến lược dân số - sức khỏe giai đoạn 2011 - 2015 đã đi vào quĩ đạo

và đạt được những kết quả quan trọng Đã có nhiều buổi truyền thông trực tiếp, nói chuyện chuyên đề nhằm chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình cho phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, vị thành niên Các đội truyền thông phối hợp với đài phát thanh thành phố đưa tin, bài tuyên truyền các thông tin, kiến thức sức khỏe sinh sản, kỹ năng sống nhằm nâng cao nhận thức về chăm sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình vị thành niên, thanh niên Những hoạt động này góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, hình thành thói quen trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho giới trẻ và mang lại tác dụng lâu dài

Vấn đề giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh được thực hiện ở mười phường, xã có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh Các hoạt động trọng tâm là tổ chức các buổi truyền thông trực tiếp, tuyên truyền trên hệ thống đài truyền thanh và kẻ vẽ biển tường tuyên truyền …

Mục tiêu của thành phố thời gian tới là tập trung mọi nỗ lực để duy trì,

ổn định mức sinh, đặc biệt là giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, bảo đảm an sinh xã hội, tạo cơ hội cho người dân tiếp cận thuận tiện và hiệu quả hơn các dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm và các dịch vụ xã hội khác

Một điểm đặc biệt trong công tác tuyên truyền dân số, kế hoạch hóa gia đình của thành phố Thái Bình từ năm 2012 là: đây là tỉnh đi đầu cả nước tổ chức tặng thưởng cho một số gia đình tiêu biểu sinh hai con gái trong dịp tổng kết công tác dân số cuối năm Việc làm này của địa phương đã tạo nên những

ý kiến, bình luận khác nhau Chưa thể biết hiệu quả thực tế của hoạt động này đến đâu nhưng điều này cho thấy nỗ lực của tỉnh trong việc giảm mất cân bằng giới tính, giảm bất bình đẳng nam và nữ

Phát huy dân chủ và bình đẳng giới trong thực hiện công tác cán bộ nữ

Trang 40

Bình đẳng giới trong thực hiện công tác cán bộ nữ hiện nay còn gặp nhiều khó khăn Chính bản thân cán bộ nữ cũng có rào cản về nhận thức, đôi khi cán bộ nữ vẫn còn mang tâm lí thụ động, ngại thể hiện trước đám đông để

từ đó dần thui chột những kiến thức, kỹ năng của mình

Đa số cán bộ nữ chọn nhóm ngành đào tạo thiên về xã hội hơn là ngành kỹ thuật, thiên về quản lí hơn là chuyên môn nghiệp vụ Bởi vậy, một số đơn vị có ngành nghề tương đối phù hợp, tỉ lệ cán bộ nữ tham gia công tác lãnh đạo và được qui hoạch là khá cao và thuận lợi Tuy nhiên đối với một số đơn vị quản lí những lĩnh vực mang tính chất công việc nặng về

kỹ thuật, thường xuyên phải đi công tác thì tỉ lệ cán bộ nữ rất ít Đây cũng chính là một yếu tố cản trở trong công tác qui hoạch và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ của thành phố

Mặt khác, các bất lợi khách quan về sức khỏe, về công việc gia đình và

sự hạn chế về mặt kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của một bộ phận không nhỏ cán bộ nữ cũng làm giảm cơ hội tham chính của chính họ

Tuy vậy, thành phố Thái Bình cũng đã đề ra và thực hiện các mục tiêu phát triển công tác cán bộ nữ rất rõ ràng và cụ thể như:

Đẩy mạnh các giải pháp truyền thông hướng đến sự thay đổi trong nhận thức về giới và thực hiện bình đẳng giới, công bằng giới trong các cơ quan nhà nước, các nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp tại địa phương

Rà soát các văn bản, chính sách từ trung ương đến cấp cơ sở nhằm tạo nên một hành lang pháp lí cụ thể, hỗ trợ hiệu quả trong việc phát huy dân chủ

và bình đẳng giới trong công tác cán bộ nữ Trong đó chú trọng đến yếu tố động, yếu tố ngành nghề trong công tác qui hoạch, gắn công tác đánh giá với đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm Thực hiện đào tạo theo nhu cầu của

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
2. Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (2008), Bình đẳng giới ở Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2008
3. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
4. Đỗ Thái Đồng (1991), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thái Đồng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
5. Nguyễn Thị Hòa chủ biên (2007), Giới, việc làm và đời sống gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới, việc làm và đời sống gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
6. Khuất Thu Hồng (1996), Gia đình truyền thống, một số tư liệu nghiên cứu xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình truyền thống, một số tư liệu nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Khuất Thu Hồng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
9. Đặng Phương Kiệt (2006), Gia đình Việt Nam: Những giá trị truyền thống và các vấn đề tâm - bệnh lý xã hội, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam: Những giá trị truyền thống và các vấn đề tâm - bệnh lý xã hội
Tác giả: Đặng Phương Kiệt
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2006
10. Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007), Gia đình học, Nxb Lý luận Chính trị 11. Nguyễn Linh Khiếu (1997), Trình độ văn hóa và ảnh hưởng của nó đến đời Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2007
13. Nguyễn Linh Khiếu (2001), Gia đình phụ nữ trong biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình phụ nữ trong biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
14. Nguyễn Linh Khiếu (2003), Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
15. Phan Thanh Khôi (1998), Giới và lập kế hoạch dưới góc độ giới - một hướng mới tiếp cận con người, Nghiên cứu lý luận, (10), tr. 47-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và lập kế hoạch dưới góc độ giới - một hướng mới tiếp cận con người
Tác giả: Phan Thanh Khôi
Năm: 1998
16. Tương Lai (1996), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam
Tác giả: Tương Lai
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
17. Lê Ngọc Lân, Nguyễn Thanh Tâm (1999), Tìm hiểu một số đặc điểm trong quan hệ gia đình hiện nay, Khoa học về phụ nữ, 1 (35), tr. 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số đặc điểm trong quan hệ gia đình hiện nay
Tác giả: Lê Ngọc Lân, Nguyễn Thanh Tâm
Năm: 1999
18. V.I. Lê nin (1974), Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ 19. V.I. Lê nin (1974), Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4
Tác giả: V.I. Lê nin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1974
25. Trần Thị Quế, Vũ Ngọc Uyên, Nguyễn Thị Băng (1999), Những khái niệm cơ bản về giới và vấn đề giới ở Việt Nam (Gender basic concepts and gender issues in vietnam), Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về giới và vấn đề giới ở Việt Nam (Gender basic concepts and gender issues in vietnam)
Tác giả: Trần Thị Quế, Vũ Ngọc Uyên, Nguyễn Thị Băng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1999
26. Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh (2007), Bạo lực gia đình: Một sự sai lệch giá trị”, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực gia đình: Một sự sai lệch giá trị
Tác giả: Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
27. Quốc hội (2000), Luật hôn nhân và gia đình, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 28. Quốc hội (2007), Luật bình đẳng giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
29. Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Tác giả: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Năm: 1995
30. Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học (1986), Nxb. Sự thật, Hà Nội 31. Từ điển Triết học (1986), Nxb Tiến bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học" (1986), Nxb. Sự thật, Hà Nội 31. "Từ điển Triết học
Tác giả: Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học (1986), Nxb. Sự thật, Hà Nội 31. Từ điển Triết học
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1986
32. Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Đỗ Thị Thạch
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Mức độ tham gia của chồng và vợ  trong công việc nội trợ và nuôi dạy con - Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay
Bảng 2.1. Mức độ tham gia của chồng và vợ trong công việc nội trợ và nuôi dạy con (Trang 48)
Bảng 2.2. Người đứng tên giấy tờ sở hữu nhà ở, đất đai - theo giới - Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay
Bảng 2.2. Người đứng tên giấy tờ sở hữu nhà ở, đất đai - theo giới (Trang 51)
Bảng 2.3. Người quản lí tiền trong gia đình - theo giới tính - Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay
Bảng 2.3. Người quản lí tiền trong gia đình - theo giới tính (Trang 55)
Bảng 2.4. Người thể hiện quyền lực gia đình và tham gia sinh hoạt - Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình hạt nhân ở thành phố Thái Bình hiện nay
Bảng 2.4. Người thể hiện quyền lực gia đình và tham gia sinh hoạt (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w