1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng về dân trong Nho giáo Tiên Tần và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam (Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV

93 983 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một trong những tư tưởng có giá trị quan trọng vì Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo tiên Tần hay còn gọi là Nho giáo Khổng - Mạnh - giai đoạn đầu tiên của Nho giáo Trung Quốc đã nhận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRƯƠNG THỊ THẢO NGUYÊN

TƯ TƯỞNG VỀ DÂN TRONG NHO GIÁO TIÊN TẦN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

( từ thế kỉ XI đến thế kỷ XV)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRƯƠNG THỊ THẢO NGUYÊN

TƯ TƯỞNG VỀ DÂN TRONG NHO GIÁO TIÊN TẦN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

B PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN VỀ DÂN 9

1.1 Khái lược về một số tác phẩm của Nho giáo tiên Tần 9

1.2 Phạm trù dân trong Nho giáo tiên Tần 11

1.3 Quan niệm của Nho giáo tiên Tần về vai trò của dân .17

1.4 Quan niệm của Nho giáo tiên Tần về thái độ và trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền với dân 22

1.5 Những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân 37

CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG VỀ DÂN TRONG NHO GIÁO TIÊN TẦN ĐỐI VỚI TƯ TƯỞNG VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XV .41

2.1 Nho giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV 41

2.2 Ảnh hưởng của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đối với tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV dưới thời Lý-Trần .49

2.3 Ảnh hưởng của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đối với tư tưởng Việt Nam thế kỷ XV dưới thời Lê sơ 60

PHẦN KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nho giáo là học thuyết triết học, chính trị - xã hội, đạo đức lớn nhất ở Trung Quốc và phương Đông thời cổ đại Trong nội dung của Nho giáo, chứa đựng nhiều học thuyết, nhiều tư tưởng, đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của đời sống xã hội và con người, trong đó có tư tưởng về dân Không ít những tư tưởng, quan niệm ấy cho đến ngày nay chúng ta cần kế thừa, phát huy

Nho giáo là một trong rất ít hình thái tư tưởng thời cổ đại ngay từ đầu

đã luôn quan tâm đến dân, đặc biệt là vai trò của dân Đây là một trong những

tư tưởng có giá trị quan trọng vì Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo tiên Tần (hay còn gọi là Nho giáo Khổng - Mạnh) - giai đoạn đầu tiên của Nho giáo Trung Quốc đã nhận thấy được vai trò và sức mạnh to lớn của dân Từ trước đến nay, việc đánh giá Nho giáo cũng như tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần có nhiều ý kiến, nhận định khác nhau, dù về cơ bản là khá tương đồng Vì vậy, một trong những vấn đề lý luận cần thiết là cần phải nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện nội dung, tính chất và thực chất của tư tưởng ấy, để từ

đó, tìm ra nhứng giá trị tích cực và hạn chế của nó và qua đó, sẽ giúp ta có thêm cơ sở để nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, đầy đủ hơn về Nho giáo nói chung và Nho giáo tiên Tần nói riêng

Theo nhiều tài liệu từ các nguồn sử học, văn học và các công trình nghiên cứu khác, Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc thông qua việc xác lập bộ máy xâm lược, cai trị và thông qua quá trình xâm lược và việc thực hiện chính sách Hán hoá của nhiều vương triều phong kiến phương Bắc ở nước ta Tuy nhiên, khi giành được độc lập và thành lập nhà nước phong kiến dân tộc thì Nho giáo lại trở thành công cụ cai trị xã hội của giai cấp phong kiến Việt Nam Từ chỗ là công cụ xâm lược, nô dịch của ngoại xâm, và bắt buộc người Việt Nam phải tiếp nhận nó, thì đến lúc này và từ đó

Trang 5

trở đi, theo thời gian và yêu cầu phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, giai cấp phong kiến Việt Nam đã chủ động tiếp nhận Nho giáo và sử dụng nó thành công cụ của chính mình trong việc xây dựng, củng cố và phát triển chế

độ phong kiến, trong việc xây dưng, phát triển đất nước về mọi mặt, trong việc dựng nước và giữ nước Vì vậy mà, Nho giáo đã tồn tại lâu dài, ảnh hưởng và đóng vai trò quan trọng trong xã hội phong kiến Việt Nam, trong nhiều tầng lớp người Việt Nam Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội và nhất là từ khi đóng vai trò là ý thức hệ và công cụ thống trị của các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và con người Việt Nam, đến quá trình hình thành và phát triển của xã hội và chế độ phong kiến Việt Nam Cũng chính vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu, chẳng hạn như GS Nguyễn Tài Thư đã khẳng định rằng, Nho giáo là một bộ phận cốt lõi của di sản truyền thống dân tộc và theo chúng tôi, đã in đậm vào lịch sử, văn hoá dân tộc Việt

Lịch sử phát triển của mỗi dân tộc và của loài người đã chứng minh rằng, dân (nhân dân, quần chúng nhân dân) vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là động lực phát triển của lịch sử Do vậy, cũng là tất yếu, giai cấp, tầng lớp nào trong lịch sử muốn giành được và duy trì được quyền thống trị cho mình và của mình thì họ phải lôi kéo, tập hợp và lãnh đạo được quần chúng nhân dân

đi theo mình Tuy nhiên trong thực tế, không phải giai cấp nào, nhà cầm quyền nào trong mọi giai đoạn lịch sử đều ý thức được tính tất yếu ấy một cách đầy đủ, đúng đắn Trong xã hội có giai cấp, chỉ khi dân tộc bị xâm lăng,địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị bị đe doạ, xâm hại và khi thật sự cần đến dân vì những mục đích chính trị thì nhà cầm quyền (đại biểu cho địa vị thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị) mới kêu gọi đến dân, khai thác tài lực của dân và ý thức được vai trò của dân Lịch sử cũng chỉ ra rằng, nếu được dân tin, dân theo thì chính quyền được củng cố, xã tắc yên ổn Còn nếu dân không tin, không theo thì chính quyền sẽ đổ nát

Trang 6

Trong xã hội phong kiến ở nhiều nước phương Đông ,tư tưởng về dân của Nho giáo đã ảnh hưởng đến đường lối trị nước không chỉ ở Trung Quốc

mà còn nhiều nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo trong đó phải kể đến Việt Nam Trong lịch sử tư tưỏng Việt Nam, quan điểm về dân, đề cao vai trò quần chúng nhân dân, xem quần chúng nhân dân là một trong những nhân tố có vai trò to lớn đối với quá trình xây dựng và phát triển của dân tộc đã được phản ánh, được biểu hiện trong tư tưởng và hành động của nhiều nhà tư tưởng, như

từ Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, v.v Tư tưởng “lấy dân làm gốc” không chỉ đã trở thành nội dung, mục tiêu chủ yếu mà còn là cơ sở, là căn cứ để hình thành và triển khai đường lối cai trị, quản lý xã hội của các triều đại phong kiến Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước về mọi mặt Vấn đề này, đã được nhiều nhà tư tưởng đề cập đến và nó đã trở thành nội dung của nhiều diễn đàn nghiên cứu, là đối tượng thu hút nhiều nhà nghiên cứu Ngày nay, việc phát huy tinh thần “ lấy dân làm gốc” đã trở thành bài học quý giá cho Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta thực hiện những mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việc đánh giá đúng đắn vị trí và vai trò của dân trong lịch sử, trong các diễn biến của lịch sử có ý nghĩa hết sức quan trọng đến sự tồn vong của mỗi triều đại và mỗi chế độ xã hội

Do vậy, việc nghiên cứu “ Tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần và

ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam ( từ thế kỉ XI đến thế kỷ XV)” để

tìm ra mối liên hệ giữa tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần với quan niệm

về dân trong lịch sử tư tưởng nước ta (chủ yếu thông qua tư tưởng của các nhà Nho Việt Nam) thời kỳ này là một việc làm có ý nghĩa trong thực tiễn nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu về học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung và

tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần nói riêng đã có nhiều công trình khoa học đề cập đến từ nhiều góc độ tiếp cận, với những nội dung, và phạm vi

Trang 7

nghiên cứu khác nhau, trong đó có không ít công trình đã được xuất bản Kế thừa những thành quả đã nghiên cứu trước đó và từ góc độ tiếp cận triết học,

chúng tôi chọn vấn đề: “ Tư tưởng về dân trong Nho giáo Tiên tần và ảnh

hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam ( từ thế kỉ XI đến thế kỷ XV)” làm

đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ Triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về tư tưởng chính trị- xã hội của Nho giáo trong đó có tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam, từ trước đến nay, đã có nhiều tác giả với nhiều công trình trong và ngoài nước đề cập đến Liên quan đến đề tài luận văn, có thể khái quát một số công trình tiêu biểu của các tác giả sau đây:

1 Nguyễn Thanh Bình với cuốn “Học thuyết chính trị- xã hội của

Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam( từ thế kỉ XI đến nửa đâù thế kỉ XIX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Từ việc nhìn nhận Nho giáo với

tư cách là học thuyết chính trị - xã hội, tác giả đã trình bày một cách khái quát những nội dung chủ yếu trong học thuyết ấy và ảnh hưởng, vai trò của Nho giáo trong một số lĩnh vực chủ yếu của xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử, nhất là trong việc hoạch định đường lối cai trị và quản lý xã hội của giai cấp phong kiến Việt Nam Khi phân tích một số biện pháp chủ yếu trong

tư tưởng về đường lối đức trị của Nho giáo (mà theo tác giả là một trong những nội dung chủ yếu trong học thuyết chính trị-xã hội của Nho giáo), tác giả đã chỉ ra và phân tích quan niệm của Nho giáo, nhất là của Nho giáo tiên Tần về vai trò của dân trong việc thực hiện đường lối đức trị Trong cuốn sách này, tác giả đã khắng định, Nho giáo luôn quan tâm đến dân, đặc biệt là vai trò của dân Tác giả còn cho rằng, theo các nhà Nho, có xác định được đầy đủ vai trò của dân mới xác định được địa vị xã hội của họ và định ra thái độ trách nhiệm của tầng lớp thống trị đối với họ [7, tr.71]

2 Quang Đạm trong tác phẩm Nho giáo xưa và nay (Nxb Văn hóa,

Trang 8

Hà Nội, 1994) đã phân tích khá sâu sắc các vấn đề, các khái niệm về dân, vai trò của dân và một số nội dung trong tư tưởng thân dân của Nho giáo như dưỡng dân, giáo dân, sử dụng người hiền tài

3 Trần Trọng Kim với tác phẩm Nho giáo (Nxb Tp Hồ Chí Minh,

1992) Trong tác phẩm này, trên cơ sở nhìn nhận Nho giáo không chỉ là học thuyết chính trị- xã hội, học thuyết đạo đức mà còn là học thuyết triết học, tác giả đã trình bày nhiều phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong sự phát triển của chúng Bên cạnh đó, tác giả cũng đã bàn đến nhiều nội dung, khía cạnh trong một số khái niệm về dân, vai trò của dân và một số nội dung trong

tư tưởng thân dân của Nho giáo Đặc biệt trong tác phẩm này, tác giả hết sức

đề cao những giá trị của Nho giáo trong bối cảnh mà đa số người Việt Nam lúc bấy giờ hồ nghi, xa lánh và ghét bỏ Ngoài ra, tác giả còn viết một thiên riêng về Nho giáo ở Việt Nam để trình bày khái quát và tóm tắt quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam

4 Trong tác phẩm Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc (do các

giáo sư Ngô Vĩnh Chính, Vương Miện Quý chủ biên) đã khẳng định tính nhân văn, nhân bản của Nho giáo Liên quan đến đề tài của luận văn, các tác giả đã đánh giá, Nho giáo luôn xem dân là rường cột của xã tắc Nhưng đồng thời, các tác giả cũng phê phán Nho học thiên về tư tưởng bình quân, tích trữ, tiết kiệm, điều đó cũng đã ít nhiều kìm hãm sự phát triển nền kinh tế Trung Quốc trong lịch sử Các tác giả còn cho rằng, Nho học đề cao một cách phiến diện việc giáo dục đạo đức nhân luân, coi thường người lao động chân tay và không quan tâm đến việc dạy kĩ thuật lao động cho dân chúng

5 Tập thể tác giả (Nguyễn Tài Thư chủ biên) trong cuốn Lịch sử tư

tưởng Việt Nam, tập1, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993) đã phân tích sự

phát triển của tư tưỏng Việt Nam qua các thời kì (từ khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam đến cuối thế kỷ XVIII) Đặc biệt là từ chương VII đến chương XIV, các tác giả đã trình bày một cách khái quát về Nho giáo và tình hình

Trang 9

chính trị- xã hội, văn hóa và tư tưởng thời Lý Trần và Lê Sơ Bên cạnh đó các tác giả cũng đã phân tích quan điểm của các nhà tư tưởng Việt Nam như Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông

6 Lê Sĩ Thắng (Chủ biên) với Nho giáo Việt Nam, (Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1991) Các tác giả đã bàn một cách khái quát về ảnh hưỏng và vai trò của Nho giáo tại Việt Nam, trong đó đã chỉ ra được một số khác biệt giữa Nho giáo Trung Quốc và Nho giáo ở Việt Nam,về ảnh hưởng của Nho giáo trong tiến trình lịch sử Việt Nam cũng như trong một số lĩnh vực văn hóa, tư tưởng Việt Nam

Ngoài những công trình nghiên cứu trên đây, liên quan đến nội dung

đề tài luận văn còn có những công trình nghiên cứu khoa học khác như: Lịch

sử triết học Phương Đông ( gồm 5 tập) của Nguyễn Đăng Thục, Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay (Nguyễn Tài Thư chủ biên) và một số luận án, luận văn đã được bảo vệ như: Quan niệm về dân và tư tưởng thân dân trong “Luận ngữ”,”Mạnh Tử” của

Trần Quang Ánh, Tư tưởng Nhân chính qua các tác phẩm“Luận ngữ”,”Mạnh

Tử” của Hoàng Thị Bình, Một số nội dung cơ bản của Nho giáo Việt Nam thời Trần của Vũ Văn Vinh, v.v

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã cho chúng ta nhìn nhận đầy đủ và khách quan hơn trong tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Tuy nhiên, do phương pháp tiếp cận và mục đích nghiên cứu ở mỗi công trình nghiên cứu trên là khác nhau, căn cứ vào phạm vi, nội dung mà đề tài luận văn của chúng tôi đề cập cho thấy, đến nay, chưa có công trình nào trình bày một cách có hệ thống

tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần và nhất là ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV

Kế thừa thành tựu khoa học của những công trình nghiên cứu đã công

bố, từ phương pháp tiếp cận triết học và lịch sử triết học, luận văn cố gắng tìm

Trang 10

hiểu, phân tích một số nội dung và những giá trị chủ yếu trong tư tưởng về dân của các Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Việt Nam

từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, trong đó có một vài vấn đề mà những công trình nghiên cứu còn bỏ ngỏ hoặc chưa được làm sáng tỏ

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là thông qua việc trình bày và phân tích những

nội dung cơ bản trong tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân, tác giả vạch rõ những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng ấy và phạm vi ảnh hưởng cùng những nhân tố quy định sự ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam

từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV

Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn phân tích

một số nội dung sau:

- Trình bày những nội dung chủ yếu trong tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân

- Những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần

- Trình bày và phân tích ảnh hưởng của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Tư tưởng về dân trong Nho giáo

tiên Tần và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: tập trung chủ yếu vào một số tác

phẩm của các nhà Nho tiên Tần và các nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV) chịu ảnh hưởng của Nho giáo

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở những nguyên lý cơ

bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về xã hội, về con người và về lịch sử triết học

Trang 11

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp biện

chứng duy vật trong việc nghiên cứu xã hội và con người, về lịch sử triết học

và lịch sử tư tưởng Việt Nam Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp logic- lịch sử, phương pháp quy nạp- diễn dịch, phương pháp đối chiếu- so sánh trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn trình bày một cách tương đối có hệ thống những nội dung chủ yếu trong tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần và bước đầu luận giải những yếu tố quy định ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập về Nho giáo, Nho giáo Việt Nam và lịch sử

tư tưởng Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,phần

Nội dung của luận văn gồm 2 chương, 8 tiết

Chương 1: Một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng của Nho giáo tiên

Tần về dân, với 3 tiết

Chương 2: Ảnh hưởng của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đối

với tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, với 3 tiết

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG CỦA NHO

GIÁO TIÊN TẦN VỀ DÂN 1.1 Khái lược về một số tác phẩm của Nho giáo tiên Tần

Trước hết, cần phải nói lại thêm rằng, Nho giáo tiên Tần (hay còn gọi là Nho giáo Khổng – Mạnh, Nho giáo nguyên thủy) là giai đoạn đầu trong lịch

sử hình thành và phát triển Nho giáo Trung Quốc Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử là những nhà tư tưởng tiêu biểu của Nho giáo tiền Tần Nghiên cứu

tư tưởng của những đại biểu này cũng như Nho giáo tiên Tần (và cả Nho giáo

nói chung) chủ yếu dựa vào các tác phẩm Luận ngữ, Mạnh Tử và Tuân Tử (trong đó sách Luận ngữ và sách Mạnh Tử được là những tác phẩm kinh điển

của Nho gia)

Luận ngữ là cuốn sách do các học trò của Khổng tử ghi chép lại và bàn

luận những lời nói, lời dạy của Khổng Tử với học trò (do vậy mà có nhiều

nhà nghiên cứu coi cuốn sách này là tác phẩm “tản văn chư tử”) Sách Luận

ngữ gồm 20 thiên, tổng cộng 192 chương Luận ngữ là nguồn tư liệu phong

phú về cuộc đời và học thuyết của Khổng Tử, là bộ sách giáo dục sớm nhất ở Trung Quốc (được chính thức dung làm sách giáo khoa từ thời nhà Đường) Sách này có tầm ảnh hưởng sâu sắc, sâu rộng và lâu dài đối với xã hội và con người Trung Quốc và nhiều nước đồng văn, trong đó có Việt Nam

Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, mỗi thiên lại chia thành phần thượng và phần hạ (đời sau gọi là chương cú thượng và chương cú hạ) Vì vậy, toàn bộ cuốn sách gồm 14 chương cú Trong Mạnh Tử liệt truyện, Tư Mã Thiên khẳng định rằng, sách Mạnh Tử do Mạnh Tử viết Như ông nói: “Lui về cùng với Vạn Chương chi đồ tự Thi, Thư, thuật ý Khổng Tử, viết Mạnh Tử thất

thiên” Và dù rằng, trong Mạnh Tử liệt truyện, Tư Mã Thiên nói Mạnh Tử là

học trò của Tử Tư (cháu nội Khổng Tử) và như lời của chính Mạnh Tử: “Tôi

Trang 13

không được làm môn đồ Khổng Tử, tôi tự học theo người” nhưng sách Mạnh

Tử là sự tiếp thu những tinh hoa trong sách Luận ngữ, là sự phát triển tư

tưởng của Khổng Tử (do vậy mà đời sau gọi ông là Á Thánh) Cũng như sách

Luận ngữ, sách Mạnh Tử có ảnh hưởng đặc biệt to lớn đến đời sống tinh thần,

đời sống chính trị, phong tục, tập quán của người dân Trung Quốc và các nước đồng văn với Trung Quốc và chịu ảnh hưởng của Nho giáo

Nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử nói riêng và Nho giáo tiên

Tần nói chung, có thể thông qua, tham khảo them 2 cuốn sách khác là Đại học

và Trung dung

Theo lời thuật của Chu Hy (trong Tứ thư tập chú), Đại học và Trung

dung là hai thiên trong bộ Lễ ký được Chu Hy tách ra thành hai cuốn sách

riêng biệt, bỏ công chú giải (chú) và gom nhặt (tập) ý kiến chú giải của các nhà Nho khác, đặc biệt là những chú giải của hai anh em họ Trình (Trình Hạo

và Trình Di) [40, tr.6]

Đại học là do Tăng Tử (Tăng Sâm – học trò của Khổng Tử) viết Sách

này gồm 1 chương kinh văn ghi lại lời của Khổng Tử và 10 chương truyện là lời Tăng Tử giải thích kinh văn (giải thích tư tưởng Khổng Tử) Theo Chu

Hy, sách Đại học là “cửa vào đức của người mới học”

Trung dung là do Tử Tư (còn gọi là Khổng Cấp – cháu nội của Khổng

Tử ) viết Cụ thể là, phần đầu của cuốn sách này gồm 20 chương kinh văn (chép lại lời của Khổng Tử) và phần sau (gồm 13 chương) chép lại những chú giải, giải thích lời kinh văn ( lời của Khổng Tử) Mặt khác, có một điểm dễ

nhận thấy rằng, giữa sách Trung dung và sách Mạnh Tử có nhiều điểm tương

đồng, thậm chí có nhiều đoạn trong hai sách ấy hoàn toàn giống nhau Điều

đó cho thấy, giữa Tử Tư và Mạnh Tử, tư tưởng của hai ông có ảnh hưởng với

nhau Sách Trung dung được xem là “tâm pháp truyền thụ của Khổng môn”,

vì rằng, ngoài ý nghĩa xâu xa, Tử Tư đã tiếp tục giải thích và phát tiển tư tưởng của Khổng Tử là khuyên người ta “doãn chấp, quyết trung” (Thành

Trang 14

thực dốc lòng giữ trung đạo), “chấp lưỡng dụng trung” (cân nhắc hai đầu mối

mà dùng chỗ trung), tức là theo ông, mọi người nên tránh chỗ cực đoan, không thái quá và cũng không bất cập (vì đều xa rời trung), mà nên luôn giữ trạng thái hài hòa, cân bằng, vừa phải (trung dung)

Đại học và Trung dung chiếm địa vị rất cao, sánh ngang với Luận ngữ, Mạnh Tử, hợp thành bộ Tứ thư Dù vậy, như trên đã trình bày, xét về nội dung

và nguồn gốc ra đời, những tư tưởng trong Đại học và Trung dung về cơ bản

là khá “đồng, hợp” với tư tưởng trong sách Luận ngữ và sách Mạnh Tử Do vậy, trong luận văn này, chóng t«i chủ yếu dựa vào sách Luận ngữ, sách

Mạnh Tử và ngoài ra là sách Tuân Tử để trình bày tư tưởng của Nho giáo tiên

Tần về dân

1.2 Phạm trù dân trong Nho giáo tiên Tần

Trong các sách Luận ngữ, sách Mạnh Tử và sách Tuân Tử (những cuốn

sách được xem là kinh điển chủ yếu, thể hiện những nội dung chủ yếu của Nho giáo tiên Tần) thì cho thấy, phạm trù dân (dân là ai, gồm những tầng lớp nào) trong những cuốn sách này, chủ yếu được các nhà Nho đặt trong mối quan hệ đối lập với tầng lớp khác - tầng lớp trị dân (gồm vua, quan) Cơ sở và căn cứ chủ yếu để các nhà Nho tiên Tần phân biệt và chỉ ra sự khác nhau giữa hai tầng lớp này là do sự khác nhau chủ yếu về đạo đức và tài trí, về địa vị và vai trò xã hội của các tầng lớp này Có thể khái quát một số nội dung cụ thể trong quan niệm (phạm trù) về dân như sau:

Thứ nhất, theo các nhà Nho tiên Tần, phạm trù dân bao gồm nhiều giai

tầng khác nhau và về cơ bản, họ có cùng địa vị kinh tế, vai trò xã hội, là bộ phận nhiều nhất trong dân cư, đối lập với giai cấp thống trị (hay tầng lớp cầm quyền, cai trị gồm nhà vua và đội ngũ quan lại các cấp)

Thứ hai, theo quan niệm của các nhà Nho tiên Tần, dân là những người

bị sai khiến, bị điều khiển Như trong sách Luận ngữ, Khổng tử đã từng nói,

đối với dân thì không nên giảng giải những điều vi diệu, cao siêu mà nên dạy

Trang 15

những điều để dễ sai khiến họ [85, tr.360] Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử luôn khẳng định, địa vị xã hội của người dân là những người nô lệ, bị trị, họ luôn chịu sự sai khiến, cai trị của tầng lớp thống trị, do vậy, họ là tầng lớp đối

lập với giai cấp thống trị Và với ý nghĩa này, trong các tác phẩm Luận ngữ,

Mạnh Tử và Tuân Tử dân có nhiều cách gọi khác nhau

Vì dân được các nhà Nho tiên Tần xem là những người không có hoặc hèn kém về đạo đức, về trí tuệ, lại là những người bị sai khiến, bị cai trị, cho nên, dân được gọi là kẻ "tiểu nhân" và đối lập với người quân tử Chữ "Tiểu nhân" - ý chỉ người dân, được các nhà Nho tiên Tần nhắc đến trên ba mươi

lần, trong đó sách Luận ngữ chiếm nhiều hơn cả (khoảng hai mươi lần) Cách

gọi này chiếm tỷ lệ cao hơn so với cách gọi khác nhằm chỉ “dân” là người bị điều khiển, bị thống trị Trong cách nhìn và quan niệm của các của các nhà Nho tiên Tần, dân với tên gọi là kẻ tiểu nhân là hạng người không có địa vị

và nhất là không có vai trò và sức mạnh to lớn như người quân tử Như trong

sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: "Đức hạnh của người quân tử (người trị dân)

như gió, mà đức hạnh của dân như cỏ Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống" [46, tr.205] "Tiểu nhân" với tư cách là người bị trị không bao hàm "nho tiểu nhân", tức là những kẻ sĩ thiếu tư cách đạo đức tuy họ có tri thức, có tài nghệ Muốn trở thành "nho quân tử", phải có đủ cả hai tiêu chí đó (đạo đức và tài trí) Bởi vậy mà Khổng tử từng bảo Tử Hạ: "Anh nên làm nhà nho quân tử, không nên làm nhà nho tiểu nhân"[46, tr.110]

Trong sách Luận ngữ, có đôi chỗ, theo Khổng Tử, sở dĩ dân là người bị

sai khiến, người bị điều khiển vì họ là kẻ "hạ ngu" "Hạ ngu" là chỉ tầng lớp người hèn kém về trí tuệ, là hạng người không có tài trí, họ là những người bất tiếu, đối lập với những người hiền, người trí, người quân tử Sử dụng thuật ngữ "hạ ngu" để chỉ người dân, đã cho thấy, Khổng Tử rất khinh miệt tầng lớp dân đen, nô lệ trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ Những kẻ "hạ ngu",

"khốn nhi bất học" và dẫu có học chăng nữa cũng không thể hiểu được đạo lý,

Trang 16

cho nên Khổng Tử nói: “những điều vi diệu cao siêu thì không nên giảng giải cho họ” Khổng Tử còn cho rằng, dân- kẻ hạ ngu là đối lập với bậc thượng trí (là hạng người mà theo ông, sinh ra không cần học cũng đã biết) Sự đối lập

này, như Khổng Tử đã nói trong sách Luận ngữ: "chỉ có bậc thượng trí và kẻ

hạ ngu là không thay đổi" [46, tr.283]

Còn trong sách Mạnh Tử, ông gọi dân là kẻ "lao lực", tức là những người

lao động chân tay, là lực lượng sản xuất ra hầu hết của cải để duy trì sự tồn tại của xã hội, của mỗi người và cho cả tầng lớp thống trị Theo Mạnh Tử, dân bao gồm ba hạng người: công, nông và thương, có trách nhiệm và nghĩa vụ nuôi dưỡng người, phải chăm sóc kẻ “lao tâm” và phục vụ người cai trị Kẻ

"lao lực" trong quan niệm của Mạnh Tử, cũng giống như Khổng Tử, thực chất

là những người thiếu đạo đức và trí tuệ, thuộc tứ dân bách tính tầm thường, trong đó chủ yếu là người nông dân của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ Theo

sự lý giải của Mạnh Tử thì, trong xã hội bao giỡ cũng "có người làm việc bằng tâm trí; có kẻ làm việc bằng tay chân Người làm việc bằng tâm trí thì cai trị dân chúng; kẻ làm việc bằng tay chân thì chịu quyền điều khiển, sai khiến Kẻ chịu quyền điều khiển có phận sự cung cấp cho tầng lớp cai trị dân chúng được dân chúng phụng dưỡng Đó là lẽ thông thường trong thiên hạ vậy." [55, tr.167] Quan hệ giữa “lao tâm” và “lao lực” ở đây không chỉ là quan hệ tương tác giữa hai hình thức lao động trong xã hội, mà chủ yếu là quan hệ giữa tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị (dân) và Mạnh Tử xem quan

hệ đó là lẽ đương nhiên Do hạn chế lịch sử và lập trường giai cấp, cho nên Mạnh Tử chưa thể nhận thức được nguyên nhân kinh tế sâu xa đã tạo nên sự đối lập giữa "lao tâm" và "lao lực", mà ông chỉ dừng lại cách nhìn trực quan,

để rồi xem "đó là lẽ thông thường trong thiên hạ vậy" Sự phân biệt giữa "lao tâm" và " lao lực", phân biệt sự khác nhau, đối lập nhau về địa vị của hai loại người đó, thể hiện rõ ràng là tư tưởng xem thường người "lao lực", người lao động chân tay của Mạnh Tử nói riêng và Nho giáo tiên Tần nói chung

Trang 17

Ngoài ra, người bị sai khiến (dân) có lúc được Khổng Tử, Mạnh Tử gọi

là kẻ "thứ dân", "hạ dân", "dã dân" Đây là những người dân thường trong xã hội, họ là những người lao động bình thường Cách gọi này ít nhiều có sự phân biệt đẳng cấp trong tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử, nhưng cũng phản ánh đúng địa vị của người dân trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc “Dân”

theo các tên gọi này xuất hiện trên hai mươi lần trong các sách Luận ngữ ,

Mạnh Tử và Tuân Tử, nhưng chủ yếu là trong sách Mạnh Tử Điều đó chứng

tỏ rằng, quan niệm về dân của Mạnh Tử và Tuân Tử có xu hướng tiến bộ hơn Khổng Tử

Cũng trong sách Mạnh Tử, Mạnh Tử còn gọi người bị sai khiến, bị điều khiển là kẻ "lê dân" (dân đen), "xích tử" (con đỏ) Trong phần Thượng Mạnh

Tử của sách Mạnh Tử, có chép: "Bực quốc trưởng, nhà cầm quyền lo liệu cho

dân, cũng như mẹ giữ gìn con đỏ Câu ấy có ý nghĩa gì Chi này hiểu như vầy: Chúng ta phải thương tất cả mọi người như nhau, không phân hơn kém.Nhưng cha mẹ bà con là những người ở gần bên ta, cho nên ta phải thi thố sự thương yêu trước hơn những kẻ khác mà thôi " [55, tr.177] Cách gọi dân theo ý nghĩa này, ít nhiều thể hiện sự thương cảm và chứa đựng yếu tố nhân đạo của Mạnh Tử đối với người dân đen cơ cực ở đáy cùng trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ

Như vậy, ở nội dung thứ hai trong quan niệm về dân của Nho giáo tiên Tần, phạm trù dân với tư cách là người bị trị được gọi là kẻ" tiểu nhân", "hạ ngu", "hạ dân", "lao lực, "xích tử", "lê dân"…được hiểu là: Họ đều là người bị sai khiến, bị điều khiển, có địa vị kinh tế, chính trị, xã hội thấp hèn và được đặt, được nhìn nhận trong sự đối lập với người quân tử, bậc thượng trí, người lao tâm, người cai trị

Thứ ba, trong phạm trù “dân”, dân còn được các nhà Nho tiên Tần đề cập

đến với tư cách là những người không làm quan, không có địa vị gì trong bộ máy thống trị Theo ý nghĩa này thì, dân không bao gồm vua và tầng lớp quan

Trang 18

lại ở trong xã hội phong kiến Trung Quốc đương thời và cũng không theo tinh

thần như trong sách Kinh Thi đã viết: “Đất đai thần dân dưới gầm trời này

không ở đâu không phải là của nhà Vua” Theo đó, dân là những người không làm quan bao gồm cả những hào dân, tức là tầng lớp người tuy có địa vị và vai trò kinh tế, cũng có thể xuất thân từ tầng lớp phong kiến, nhưng không có địa vị và vai trò gì trong bộ máy thống trị, cầm quyền Trong xã hội, có thể có người trong tầng lớp này đã từng làm quan, hoặc chưa có cơ hội làm quan Khi đắc chí thì họ ra làm quan, ban ân trạch cho dân, khi không đắc chí thì họ

từ quan để thành dân Loại “dân” đặc biệt này như trong sách Mạnh Tử, Mạnh

Tử đã từng nói: " Lúc nên làm quan thì làm quan, lúc nên bỏ chức thì bỏ

chức, cần làm quan lâu thì làm quan lâu, cần ra đi gấp thì ra đi gấp Đó là hạnh của đức Khổng Tử vậy" [55, tr.95]

Dân không chỉ là những hào dân không làm quan mà còn là những dật dân ẩn sỹ, từ bỏ công danh, phú quí để làm một người dân bình thường Đó là: "Bá Di, Thúc Tề, Ngu Trọng, Di Dật, Chu Trương, Liễu

Hạ Huệ, Thiếu Liên" [46, tr.305] được Khổng Tử nói tới trong sách Luận

ngữ Những người ẩn sỹ này tuy làm một người dân bình thường nhưng

họ không nản chí mà vẫn "bền chí tu nhân", vẫn "đem thân mai một với đạo lý", chờ khi gặp "cơn hiển đạt" thì đem “thân mình giúp cho thiên hạ đều trở thành lương thiện"

Đề cập đến loại dân khá đặc biệt này, trong sách Mạnh Tử, Mạnh Mử đã

nêu một số nguyên nhân khiến họ từ quan lui về ở ẩn Một là, do xã hội loạn lạc nên họ từ quan làm dân: "Trong khi thiên hạ có đạo, tức là khi nơi nơi đều được an ninh trật tự, người quân tử nên ra làm quan, đem Đạo lý mà thi hành cho đến lúc lìa bỏ thân xác mới thôi Trong khi thiên hạ vô đạo, tức là khi chốn chốn đều phải rối rắm loạn lạc, người quân tử nên ẩn dật" [56, tr.251] Hai là, như Mạnh Tử cho rằng: “Lúc cùng chẳng mất nghĩa, nhân đó kẻ sĩ giữ được cái tiết tháo trong sạch của mình Lúc đạt, chẳng rời đạo, nhơn đó dân

Trang 19

chúng trông cậy được mình mà chẳng thất vọng Người xưa, khi đắc chí mà làm quan thì ban bố ân trạch cho nhân dân Khi chẳng đắc chí mà ở ẩn, thì bền trí tu thân do đắc chí làm cho danh tiếng mình tỏ rạng với đời” [56,tr.223]

Như vậy, với ý nghĩa dân là những người không làm quan, không có địa

vị gì trong bộ máy thống trị, bao gồm nhiều giai tầng khác nhau, có địa vị kinh tế xã hội khác nhau, nhưng họ hợp thành mặt đối lập với vua và tầng lớp quan lại trong bộ máy thống trị

Thứ tư, phạm trù dân còn cần được các nhà Nho tiền Tần dùng để chỉ bề

tôi tức thần dân trăm họ trong thiên hạ đối lập với nhà vua Theo ý nghĩa này, dân bao gồm cả thần và dân, quan và dân, là trăm họ, là cả thiên hạ đối lập với vua, và chỉ có nhà vua là không thuộc phạm trù dân

Dân với ý nghĩa là “thần dân”( gồm thần và dân) trước đó đã được đề cập

trong sách Kinh Thi và thường được Khổng Tử Mạnh Tử gọi là "bá tính" , là

"thiên hạ", tức là tất muôn dân, trăm họ sống trong cõi trời đất này Dân với ý nghĩa là thần dân trăm họ lại có lúc được hai ông gọi là "chúng dân", "dân chúng", có khi Mạnh Tử gọi là "quốc nhân" (dân chúng toàn quốc) Đặc biệt lần đầu tiên trong lịch sử, Mạnh Tử đã sử dụng từ "nhân dân" để chỉ dân là

thần dân trăm họ Như Mạnh Tử nói rõ trong sách Mạnh Tử: " Một vị vua chư

hầu nên quý trọng ba việc này: Thổ địa, nhơn dân và chính sự Nếu chê ba điều ấy mà quý trọng châu ngọc, ắt thân mình phải vướng lấy tai ương" [56, tr.270] Điều đó có nghĩa là, theo ông, trong phép trị nước, vua chư hầu nên quý ba việc: thổ địa, nhân dân và chính sự, đặc biệt là cần coi trọng và quan tâm đến lòng dân, lòng tin của nhân dân

Tuy vậy cũng phải lưu ý rằng, mặc dù ở nội dung này, phạm trù dân bao gồm cả thần dân trăm họ nhưng trong luận điểm của Mạnh Tử: "dân vi quý,

xã tắc thứ chi, quân vi khinh", thì dân ở đây được Mạnh Tử quan niệm chỉ là những người dân nào nghe, nói và làm theo sự sai khiến, điều khiển, giáo hóa

Trang 20

của nhà vua, kẻ thống trị mà thôi Do vậy, dân với ý nghĩa là thần dân trăm họ được thể hiện và xuất hiện trong quan niệm của Nho giáo tiên Tần là chỉ trong những hoàn cảnh, điều kiện, nhất định cụ thể

Như vậy, ở ý nghĩa thứ tư (phương diện thứ tư), phạm trù dân trong quan niệm của các nhà Nho tiên Tần không chỉ là những người bị sai khiến, những người không làm quan, là thần dân trăm họ, mà dân còn là người dân nói chung Có thể nói rằng, với ý nghĩa này, trong phạm trù “dân”, dân được các nhà Nho tiên Tần hiểu rộng hơn so với các quan niệm trên, bỏi vì dân theo ý nghĩa này, bao hàm tất cả mọi người sống trong thiên hạ

Tóm lại, phạm trù “dân” trong Nho giáo tiên Tần bao gồm nhiều ý nghĩa, được nhìn nhận từ nhiều phương diện khác nhau, gồm nhiều giai cấp, giai tầng ít nhiều có sự khác nhau về địa vị kinh tế, xã hội, nghề nghiệp, thành phần xuất thân (dù rằng, sự khác nhau này là không cơ bản), là bộ phận chiếm hầu hết trong dân cư, đối lập với giai cấp thống trị Phạm trù dân bao hàm nhiều ý nghĩa, bởi vì:

Một là: dân không bao gồm tập đoàn thống trị thi hành chính sách chống laị dân Trong suốt thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, tập đoàn thống trị chống lại dân thường thay đổi theo hoàn cảnh Vì vậy mà nội hàm của phạm trù dân cũng thay đổi theo

Hai là: Phạm trù dân luôn được bổ sung, thay đổi, hoàn thiện dần

Dân bao gồm nhiều ý nghĩa như đã trình bày, nhưng trong đó, dân với ý nghĩa là người hèn kém về mặt đạo đức và tài trí, là những người bị cai trị, bị sai khiến, người bị điều khiển, là đối tượng cua giáo dục, giáo hóa được các nhà Nho tiên Tần nhắc tới nhiều nhất

1.3 Quan niệm của Nho giáo tiên Tần về vai trò của dân

Từ việc xác định dân là ai, là người như thế nào, các nhà Nho tiên Tần

đã đi đến quan niệm về vai trò của dân Trước thực trạng hết sức rối loạn của

xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc và trước những diễn biến của

Trang 21

lịch sử, trong quan niệm của Nho giáo tiên Tần, dân có vai trò hết sức quan

trọng Khi đề cập đến vai trò của dân, từ trong các sách Luận ngữ, Mạnh Tử

và Tuân Tử cho thấy, các nhà Nho tiên Tần đã trình bày khá hệ thống và rõ

nét hơn các học thuyết khác Và mặc dù các nhà Nho đều cho rằng, dân là hạng người (tầng lớp người) hèn kém về đạo đức và tài trí, dù họ được gọi bằng những tên gọi khác nhau như tiểu nhân, dã nhân, thứ dân, xích đỏ, v.v… thế nào đi chăng nữa, thì trong quan niệm của các nhà Nho tiên Tần, dân có một số vai trò chủ yếu như sau:

Thứ nhất: Dân là một lực lượng to lớn trong xã hội, là lực lượng chủ yếu

trong việc sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lực lượng mà các nhà Nho tiên Tần gọi là “lao lực”

Chính nhận thức được vai trò to lớn này của người dân và nhằm làm cho người dân mãi mãi có vai trò và luôn phát huy vai trò này mà không phải ngẫu nhiên, các nhà Nho tiên Tần luôn khuyên nhà vua, người cầm quyền phải quan tâm đến đời sống vật chất, đến những nhu cầu tối thiểu, thiết thực, trực tiếp của người dân Chẳng hạn, các nhà Nho yêu cầu nhà vua phải dạy dân, khuyến khích dân cày cấy, trồng dâu, dệt vải; với Khổng Tử thì, nhà vua phải giúp dân làm giàu; còn Mạnh Tử nói rõ: “Bởi vậy cho nên đấng minh quân chế định điền sản mà chia cho dân cày cấy, cốt khiến cho họ trên đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới đủ nuôii nấng vợ con, nhằm năm trúng mùa thì mãi mãi no đủ, phải năm thất gặt thì khỏi nạn chết đói Được vậy rồi, nhà vua mới khiến dân làm thiện Tự nhiên họ sẽ theo điều thiện một cách dễ dàng" [55, tr.37]

Như tiết 1.2 đã trình bày, dân là tầng lớp "lao lực" tức là làm việc mệt nhọc bằng sức lực chân tay để tạo ra của cải vật chất không chỉ cho chính họ, gia đình họ mà cho cả tầng lớp "lao tâm" cai trị người Không chỉ có vai trò như vậy, mà theo các nhà Nho tiên Tần, sự tồn tại của tầng lớp lao lực này còn là tất yếu, là phù hợp, với yêu cầu, đòi hỏi của nhà vua, của người cầm

Trang 22

quyền Theo đó, sự tồn tại của tầng lớp này còn ảnh hưởng (và ở mức độ nào đó) chi phối địa vị chính trị, sự tồn tại về mặt chính trị của nhà vua, người cầm quyền Như Mạnh Tử đã nói: "Vì thế người xưa mới nói rằng có người lao tâm, có kẻ lao lực Người lao tâm cai trị người, kẻ lao lực bị người cai trị

Kẻ bị cai trị phải nuôi người, người cai trị được người nuôi dưỡng Đó là lẽ thông thường trong thiên hạ vậy" [40, tr 948] Về vấn đề này, Tuân Tử chỉ rõ them, dân là một lực lượng to lớn trong xã hội có vai trò nhất định đối với sự tồn tại của nhà vua và sự nghiệp chính trị của nhà vua, người cầm quyền Như Tuân Tử đã nói: " Vị nhân chủ muốn mạnh, vững và yên vui thì không gì bằng quay về cầu ở nơi dân, muốn dân quý phụ mình thì không gì bằng quay

về cầu ở nơi chính sự" [47, tr 86] Có nghĩa là, trong quan niệm của Tuân Tử, ông luôn đề cao vai trò và sức mạnh của nhân dân, vì theo ông, nhà vua muốn địa vị của mình thêm mạnh, muốn ngai vàng của mình bền vững thì phải biết dựa vào dân Bởi vì dân không chỉ do trời sinh ra mà điều cơ bản, họ là bộ phận to lớn trong xã hội, là đối tượng của cai trị, nếu không có họ thì nhà vua,

kẻ thống trị cũng không thể tồn tại với tư cách là nhà vua, là kẻ thống trị được

Như vậy, trong quan niệm của các nhà Nho tiên Tần, người dân, tức là người "lao lực" có vai trò to lớn trong lĩnh vực kinh tế, đó là những người sản xuất ra của cải, lương thực để nuôi sống cả xã hội, là người góp phần vào việc duy trì sự tồn tại của xã hội, của vua, của đội ngũ quan lại

Thứ hai: Dân là gốc nước, là nền tảng, là cơ sở xã hội của nền chính trị

Các nhà Nho tiên Tần đều coi dân là “gốc” (dân vi bản – Khổng Tử), là gốc nước (dân vi bang bản - Mạnh Tử) Coi dân là gốc, là gốc nước, bởi theo họ, dân là một bộ phận to lớn trong xã hội, là đối tượng của cai trị, không có họ thì cũng không tồn tại mặt đối lặp - đó là giai cấp thống trị Vì vậy mà cũng tất yếu, như Mạnh Tử khẳng định, không có dân thì không có nước, không

có vua Họ không chỉ là những người nuôi dưỡng, phụng dưỡng mà còn là

Trang 23

lực lượng bảo vệ nhà vua, người cai trị và chế độ chính trị (mà nhà vua là người đứng đầu cái chế độ ấy)

Do nhận rõ vai trò, sức mạnh của dân đối với nước, đối với nền chính triu, vì vậy mà, các nhà Nho tiên Tần đều khuyên nhà vua hãy coi dân quý trọng hơn xã tắc và nhà vua (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh) [85, tr.758] Cũng từ quan niệm này mà các nhà Nho tiên Tần đều cho rằng, sự tồn vong của một triều đại, sự thịnh suy của một chế độ phụ thuộc vào việc nhà vua có giữ được dân, vào việc dân có tin, có nghe và làm theo hay không Theo đó, nếu dân tin, dân theo, dân ủng hộ thì nhà vua, triều đại, chế độ sẽ đứng vững và phát triển Còn ngược lại, nếu dân không tin, không theo, bỏ đi nơi khác hoặc nổi loạn thì triều đại tất sẽ đổ nát, sự

nghiệp chính trị của nhà vua sẽ sụp đổ [85, tr.425] Như trong sách Luận

ngữ; Khổng Tử khẳng định, dân mà không tin thì nước không đứng được

Phát triển và làm rõ quan điểm này của Khổng Tử, trong sách Mạnh Tử,

Mạnh Tử đã nêu lên một tư tưởng rất mới lạ so với thời đại của ông: "Kiệt và Trụ mất thiên hạ tức mất ngôi thiên tử, ấy vì mất dân chúng Mất dân chúng,

ấy vì mất lòng dân Muốn được thiên hạ, có một phương pháp nên theo: Hễ được lòng dân, tự nhiên sẽ được dân chúng Muốn được dân chúng, có một phương pháp nên theo: dân muốn việc gì nhà cầm quyền nên cung cấp cho

họ, dân ghét việc gì nhà cầm quyền đừng thi thố cho họ" [56,tr 19]

Như vậy, có thể nói rằng, theo quan điểm của Nho giáo tiên Tần thì vai trò của dân và dân tín (lòng tin của dân) góp phần tạo nên sức mạnh vật chất

to lớn, có ý nghĩa chính trị nhất định đến sự tồn vong, thịnh suy của các triều đại phong kiến

Vì dân, lòng tin của dân có vai trò như vậy, cho nên dân không chỉ là gốc, là gốc nước mà họ còn là quý như Mạnh Tử nói: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" [85, tr.758] (dân là đáng quý nhất, rồi mới đến xã tắc sơn

hà, sau cùng mới là ngôi vua) Mạnh Tử đưa ra lời khẳng định này là theo

Trang 24

ông, sở dĩ có dân thì mới có nước, có nước thì mới có vua Theo đó, nếu được dân thì được tất cả, mất dân thì mất tất cả và nếu được dân ủng hộ, dân giúp

đỡ thì mới giữ được nước, mới làm được thiên tử, còn nếu chỉ được lòng thiên tử thì chỉ làm vua chư hầu và nếu được vua hầu tin dùng thì chỉ có thể làm quan đại phu [85, tr.758]

Cũng như Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử luôn coi vai trò của dân có ý nghĩa quyết định đến tính mạng và sự nghiệp chính trị của nhà vua cũng như

sự thành bại, sự thịnh trị của nền chính trị Như Tuân Tử khẳng định: "Vua là thuyền - Dân là nước, nước có thể chở thuyền, nước có thể lật thuyền" [47, tr 121] Câu nói này của Tuân Tử đã trở thành câu nói bất hủ được người đời lưu truyền đến thế hệ sau Mặc dù đề cao vai trò của nhà vua, người cầm quyền và người quân tử, nhưng Tuân Tử vẫn chú trọng đến vai trò của dân trong việc ổn định xã hội Khi ông ví hình ảnh của vua và dân như hình ảnh

"thuyền" và "nước" là ông muốn nói đến mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời, không thể thiếu giữa vua và dân Ở đây, mối quan hệ giữa thuyền - nước và vua - dân thể hiện mối quan hệ biện chứng: "Thuyền" chỉ được hiểu theo đúng nghĩa của nó khi đặt trong mối quan hệ với nước, cũng như "vua" được gọi là vua vì nhà vua là người cai trị đất nước Nhưng phải có "dân" mới cần thiết lập ra ngôi vua, mới duy trì được sự bền vững ngôi vua Vì vậy theo ông, nếu một vị vua mà không giữ được dân, không được lòng dân chúng thì xã tắc cũng không yên bình được

Tóm lại, chính vì nhận thức và chỉ ra vai trò của dân to lớn như vậy mà các nhà Nho tiên Tần đều đã được chủ trương và đòi hỏi nhà vua phải giữ được dân, phải được dân tin Và theo nhà Nho, có như vậy, nhà vua mới giữ được thiên hạ và giữ được ngôi vị của mình, triều đại và chế độ chính trị mới tồn tại và phát triển

Trang 25

1.4 Quan niệm của Nho giáo tiên Tần về thái độ và trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân

Trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo tiên Tần, theo các nhà Nho, điều quan trọng nhất và có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh chính trị của nhà vua,người cầm quyền và đối với sự tồn vong của chế độ chính trị là phải nắm, phải giữ được dân để dân mãi mãi là kẻ bị thống trị Nhưng để thực hiện được mục đích này, thì theo các nhà Nho tiên Tần, nhà vua, người cầm quyền phải được lòng dân, được dân tin Được lòng dân, được dân tin, đến lượt nó, lại trở thành cơ sở, là căn cứ để các nhà Nho đưa ra những đề xuất về thái độ, trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà vua, người cầm quyền đối với dân

Có thể khái quát từ nội dung của những đề xuất ấy thành hai chính sách:

“Dưỡng dân” và “Giáo dân”

Thứ nhất: Chính sách dưỡng dân Dưỡng dân là khái niệm của nhà Nho

chỉ rõ trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân là phải chăm sóc dân, nuôi dưỡng dân, bảo vệ dân (bảo dân)

Nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu nhất trong chính sách dưỡng dân, theo các nhà Nho là, nhà vua và người cầm quyền phải luôn quan tâm, luôn chăm lo đời sống vật chất tối thiểu nhưng thiết thân của dân để dân không bị chết đói, chết rét, đủ điều kiện để như Mạnh Tử nói: “trên đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới đủ nuôi vợ con” [40, tr.758] Muốn được như vậy, nhiệm vụ của nhà vua

là phải giúp dân làm giàu, phải làm cho dân có tài sản riêng và ổn định (hằng sản), phải "quy định điền sản cho dân, dạy dân biết trồng trọt, chăn nuôi, hướng dẫn vợ con, khiến họ phụng dưỡng những người già trong gia đình" [40, tr.1038], sai khiến dân điều gì cũng không được trái thời vụ, mùa màng của dân (bất đoạt nông thời) đồng thời phải giảm thuế khoá và những đóng góp khác của dân, lấy dân phải có hạn [85, tr 686, 687], tức là phải cho dân trong thiên hạ được an cư, lạc nghiệp Có như vậy, theo các nhà Nho, nền

Trang 26

chính trị mới được thịnh vượng, nhà vua mới được dân kính trọng, ngôi vị nhà vua mới bền vững, vô địch,

Khổng Tử cho rằng, dưỡng dân là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của nhà vua, vì theo ông, có nuôi dân tốt thì dân mới tin, mới theo Như trong

sách Luận ngữ có chép lại việc: khi Tử Cống hỏi Khổng Tử về cách cai trị,

ông trả lời là cần chú trọng ba điều: thực túc, binh cường, dân tín Hỏi: Nếu phải bỏ một trong ba điều đó thì bỏ gì trước? Trả lời: Bỏ binh bị Lại hỏi : Nếu bỏ tiếp một điều nữa ? Trả lời: Bỏ lương thực Tuy ông đề cao dân tín hơn là Thực túc, nhưng muốn có dân tín, thì phải nuôi dân cho tốt Bỏ lương thực ở đây là bất đắc dĩ phải bỏ mà thôi Cho nên trong thuật trị nước, ông khuyên nhà vua, người cầm quyền là phải "Túc thực" để nuôi dân trước, sau

đó mới "Túc binh" để bảo vệ dân, nhưng điều quan trọng nhất là phải có được lòng dân, lòng tin của dân vì nếu không, sự nghiệp chính trị của nhà vua sẽ sụp đổ [85, tr.425]

Dưỡng dân theo các nhà Nho tiên Tần là nhà vua, người cầm quyền phải biết giúp dân làm giàu Vì dân có giàu thì nước mới mạnh Như khi cùng với học trò đến nước Vệ, Khổng Tử khen dân đông, Nhiễm Hữu hỏi dân đông thì phải làm gì nữa, ông trả lời là, phải giúp dân làm giàu [85, tr.444]

Muốn dưỡng dân, làm giàu cho dân thì nhà vua cần phải giảm nhẹ thuế cho dân Chủ trương này của ông đã được học trò Hữu Nhược thực hiện một cách trung thành: "Lỗ Công hỏi Hữu Nhược: năm nay mất mùa thuế không đủ… làm sao bây giờ ?" Hữu Nhược đáp: sao không thu thuế theo phép triệt (mười phân thu một) Lỗ Công bảo: mười phân thu hai còn không đủ, huống

hồ là thu theo phép triệt Hữu Nhược đáp: trăm họ no đủ thì làm sao vua thiếu được? Trăm họ thiếu thốn thì làm sao vua đủ được? " [49,tr164] Đặc biệt, Khổng Tử yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải biết giảm thu thuế khi dân mất mùa để giảm bớt sự nghèo khó cho dân Và để dưỡng dân, để dân đỡ khổ và giúp dân làm giàu, các nhà Nho đã đề xuất với nhà vua, người cầm

Trang 27

quyền cần phải thực hiện chính sách tiết kiệm trong tiêu dùng Nhiều người đương thời đã phê phán Nho gia là không biết tiết kiệm nên bày đặt ra lễ, nhạc rất phiền toái và tốn kém Trong số những người phê phán kịch liệt có Mặc Tử và phái hậu Mặc với chủ trương phi lễ, phi nhạc Tuy nhiên, sự phê phán trên không hoàn toàn công bằng đối với Khổng Tử, vì ông luôn chủ trương nhà vua, mọi người phải tiết kiệm: "Tiết dụng nhi ái nhân" Ông từng khuyên các bậc trị dân cái gì không lợi cho dân thì đừng có tiêu, và ngay cả

lễ, nhạc cũng phải tiết kiệm, không được bày đặt tốn kém Như ông đã khẳng định: "nói về lễ, về lễ đâu chỉ có ngọc và lụa Nói về nhạc, về nhạc đâu phải chỉ có chuông và trống"; "lễ mà quá xa xỉ thì kiệm…còn hơn Tang mà quá chú trọng nghi tiết thì thương xót còn hơn" [49,tr174]

Để có được lòng dân, để được "dân tín" thì theo nhà Nho, nhà vua còn phải "sử dân dĩ thời" tức là sai bảo dân cho đúng, cho hợp thời, hợp nghĩa, sao cho dân không oán [85, tr 686]

Để được lòng dân, ông còn khuyên nhà vua, người cầm quyền phải thực hiện chính sách phân phối công bằng Theo ông, thực hiện chế độ phân phối công bằng, thì lòng dân sẽ không oán, mọi người hoà thuận, nước sẽ yên, sẽ mạnh Như khi Nhiễm Hữu khuyên họ Quý đánh chiếm nước bé Chuyên Du, Khổng Tử đã mắng Nhiễm Hữu và bảo: "Khổng này nghe nói người có nước,

có nhà không lo nghèo thiếu mà lo sự phân phối không quân bình, không lo ít dân mà lo xã tắc không yên Phân phối mà quân bình thì dân không nghèo Hoà thuận thì dân không ít Như vậy xã tắc sẽ yên ổn, chính quyền không nghiêng đổ" [49,tr166]

Như trên đã nói, Mạnh Tử cũng giống như Khổng Tử khi cho rằng, một chính quyền vì dân phải đặc biệt quan tâm đến đời sống vật chất của dân để

dân được sống no đủ, sung túc Trong sách Mạnh Tử, tư tưởng này của ông được thể hiện trong nhiều chương, nhất là trong chương Đằng Văn Công

Trong chương này, Mạnh Tử đã dành phần lớn chương này để thể hiện tư

Trang 28

tưởng trên đây của mình Hơn nữa, Mạnh Tử còn cho rằng, nhà vua, người cầm quyền phải đặc biệt quan tâm đến đời sống và thân phẩn của bốn hạng người cùng khổ trong thiên hạ, mà bốn hạng người đó không thể trông cậy vào ai được: Quan (không có vợ), quả (bà lão không có chồng), độc (người già không nơi nương tựa), cô ( mồ côi cha mẹ) [40,tr.785, 786] Quan tâm đến đời sống của dân, theo Mạnh Tử, điều đầu tiên nhà cầm quyền cần làm cho họ

có hằng sản (luôn có tài sản riêng và bền vững), mà tài sản quan trọng nhất bấy giờ là ruộng đất Để thực hiện được điều này, theo ông, nhà vua phải có một chính sách phân phối ruộng đất cho dân một cách hợp lý, ổn định và chính sách đó phải được tiến hành theo một cách thức rõ ràng, minh bạch Khi nhà nước đánh thuế dân cũng phải chú ý đến việc đảm bảo cho dân có thể nộp thuế mà vẫn đủ điều kiện để đảm bảo cuộc sống của dân Theo Mạnh Tử, nuôi dưỡng dân chính là phải đảm bảo đời sống cho nhân dân có một cuộc sống no

đủ, đó cũng chính là nhà vua, người cầm quyền đã góp phần tạo nên một xã hội ổn định, thịnh trị và thái bình Như ông nói: "Có ba phép đánh thuế: bằng vải sợi, bằng thóc lúa và bằng sưu dịch Người quân tử áp dụng một phép mà hoãn cho dân hai phép kia Nếu áp dụng hai phép đánh thuế (một lúc) thì dân chúng có kẻ chết đói, áp dụng cả ba phép thì cha con lìa nhau" [40,tr.1361] Mạnh Tử còn cho rằng, việc sử dụng sức dân cũng phải tuỳ thời (sử dân tuỳ thời), sai khiến dân không được trái mùa vụ của dân (bất đoạt nông thời) vì như ông nói: "Đừng vi phạm thời gian làm ruộng của dân, thì thóc lúa ăn chẳng hết" [40,tr.722] Mạnh Tử cũng yêu cầu nhà vua, người cầm quyền thực hành tiết kiệm trong việc sử dụng tài sản của nhân dân, họ không được quá xa xỉ và lãng phí, vì " Ăn uống phải thời, sử dụng có tiết độ thì tài sản dùng không hết" [40,tr1039] Có quan tâm và đối xử với dân như vậy, cũng như quan niệm của nhiều nhà Nho, theo Mạnh Tử, nhà vua mới thực sự coi dân là trời, coi dân còn quý trọng hơn cả xã tắc và nhà vua, mới xứng đáng là cha mẹ của dân (quân vi dân chi phụ mẫu)

Trang 29

Ngoài ra, theo Mạnh Tử, mục đích và là điều quan trọng nhất trong nội dung dưỡng dân, chính sách dưỡng dân là nhà vua phải làm cho dân được cuộc sống sung túc, hạnh phúc, và chỉ có như vậy mới dạy dỗ dân được,

mới làm cho dân không làm những điều bậy bạ Như trong sách Mạnh Tử,

ông nói: "Thói thường người dân, hễ có hằng sản mới có hằng tâm, không có hằng sản thì cũng không có hằng tâm Nếu không có hằng tâm sẽ trở nên buông lung, càn dở, việc gì cũng dám làm Chừng người ta mắc phải tội, cứ vin vào đó để gia hình, thế là giăng lưới bẫy dân vậy Lẽ nào có chuyện người nhân ở ngôi báu, mà việc bẫy dân cũng dám làm" [40,tr.932] Bởi thế, ông khuyên các " đấng minh quân ắt phải quy định điền sản cho dân, ắt phải lo sao cho dân trông lên đủ thờ cha mẹ, nhìn xuống đủ nuôi vợ con, luôn năm được mùa thì suốt đời no bụng, phải năm mất mùa thì cũng tránh khỏi chết đói, sau

đó mới có thể thúc đẩy dân làm việc thiện, do đó dân tuân theo cũng dễ dàng" [40,tr.758] và "Mỗi nhà được cấp năm mẫu đất, trồng thêm cây dâu, thì người năm chục tuổi được mặc lụa là Nuôi mấy con gà, con lợn, con chó, và đừng làm hại tới thời kỳ sinh sản của chúng, thì người bảy chục tuổi được ăn thịt vậy Khu ruộng một trăm mẫu, được canh tác đúng thời vụ, thì một nhà tám miệng ăn không đến nỗi đói vậy" [40,tr.759] Và theo ông, có như vậy mới tạo điều kiện để "Người già được mặc lụa, được ăn thịt, trai trẻ không đói, không rét, thế mà nước không hưng vượng, là chuyện chưa hề xảy ra vậy" [40,tr759]

Để được lòng dân, để được dân tin và giảm nỗi khổ của dân, Mạnh Tử còn khuyên nhà vua không chỉ "cùng dân cày cấy, nấu lấy cơm mà ăn, đồng thời vẫn làm được công việc cai trị đất nước" [85,tr.700], mà nhà vua còn cùng vui cái vui của dân (dữ dân đồng lạc), cùng lo cái lo của dân (dữ dân đồng ưu) Có như vậy, nền cai trị của nhà vua mới hưng thịnh, như Mạnh Tử nói: " Vui với niềm vui của dân, sẽ được dân vui với niềm vui của mình; lo

Trang 30

nỗi lo của dân sẽ được dân lo nỗi lo của mình.Vui vì thiên hạ, lo vì thiên hạ

mà rồi không dựng nên vương nghiệp là chuyện chưa từng có vậy" [40,tr778]

Trong sách Mạnh Tử, biểu hiện của việc nhà vua, người cầm quyền

chăm lo đời sống vật chất cho dân còn ở chỗ, ông luôn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải bớt hình phạt, giảm thuế má cho dân như trên đã trình bày, mà còn phải khuyến khích dân làm giàu Như ông nói: "Nếu nhà vua chịu thi hành nhân chính với dân, giảm bớt hình phạt, nhẹ thuế khoá, khuyên dân cày sâu cuốc bẫm, nhổ cỏ cho thật kỹ…, như thế có thể khiến họ chỉ sử dụng gậy gộc cũng đủ đánh bại quân Tần" [40,tr.730] Mạnh Tử không những chủ trương phải làm cho dân có "hằng sản" mà còn chủ trương giới hạn trong việc thu thuế và bắt nông dân đi lao dịch, để tránh khỏi làm cho nông dân bỏ trốn và phản kháng Như ông nói: "Làm phụ mẫu dân mà lại để cho dân oán hận, mà ngó lấm lét mình, để cho họ làm lụng cực khổ suốt năm mà chẳng đủ nuôi cha mẹ, rồi họ phải đi vay nặng lời mà đóng đủ thuế, để cho người gia kẻ trẻ lăn chết theo đường mương lỗ cống; như vậy làm phụ mẫu thương dân ở chỗ nào?" Bởi vì lúc đó, tình thế xung đột giữa "người cai trị" và "người bị cai trị" đã rất gay gắt, sưu thuế mà người dân phải gánh vác đã quá sức họ, cho nên Mạnh Tử chủ trương "bớt hình phạt, giảm thuế má" và khuyến khích

"cày sâu, bừa kỹ", không bắt dân bỏ mùa màng của họ, phải chế định điền sản

mà chia cho dân cày cấy và "Đừng gây khó khăn cho việc ruộng nương, nhẹ bớt thuế khoá, dân sẽ trở nên giàu có" [40,tr.1309]

Còn Tuân Tử cho rằng, kẻ nắm quyền cai trị dân nếu muốn được an vị thì biện pháp chủ yếu nhất là thực hiện đường lối, chính sách chính trị mang nội dung ái dân và thương dân Và để đường lối, chính sách ấy được thực thi, ông đòi hỏi các nhà vua và thế lực cầm quyền phải chăm lo đến đời sống cho dân, đến thân phận của người dân, vì theo ông: " Trời sinh ra dân không phải

vì vua mà trời lập ra vua chính tại vì dân" [47, tr.120] Quan điểm này của ông hoàn toàn phụ hợp với quan điểm: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi

Trang 31

khinh " của Mạnh Tử Cũng giống như Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử cho rằng, khi đời sống của nhân dân được chăm lo, người dân có một cuộc sống giàu có, no đủ thì sẽ không có việc tranh đoạt lẫn nhau Bởi vậy mà, Tuân Tử luôn đòi hỏi nhà vua, người cầm quyền luôn phải chăm lo cho nhân dân, bảo đảm cho dân có một cuộc sống no đủ và yên bình Khi đề cập đến vấn đề này, Tuân Tử khẳng định rằng, mục đích tối thượng và tối đại của trị đạo là " nuôi cái dục của nhân dân và thoả mãn nhu cầu của nhân dân" Nếu đất nước nghèo khó, đời sống của nhân dân cùng cực thì mục đích trị đạo của nhà vua không đạt được Do đó mà theo Tuân Tử, nhà vua phải cần có những chính sách phù hợp để làm cho dân dư giả (giàu có) Bởi lẽ, thứ nhất, là để cho dân

có thể thoả mãn được hầu hết những nhu cầu chính đáng, cơ bản của họ; thứ hai là dân có no đủ thì lòng nhiệt huyết vì nhà vua của họ mới có điều kiện

để thi hành và họ mới trừ bỏ được tính ác của mình, mới học và làm theo lễ nghĩa - tức mới có đạo đức và không chỉ góp phần làm cho xã hội có trật tự,

có kỉ cương mà còn góp phần làm cho quốc gia phú cường Chính sách làm cho dân giàu có, dư giả của Tuân Tử xuất phát từ chính quan niệm "gốc" có vững thì ngọn mới tươi, gốc mà lỏng thì ngọn sẽ héo" [47, tr.132] của ông Vẫn là cách khẳng định vai trò của dân và cho rằng, dân là gốc của nước và người cầm quyền là ngọn cây, sức mạnh của nhà cầm quyền còn bị phụ thuộc vào dân, mà Tuân Tử đã đưa ra quan niệm về mối quan hệ khăng khít lẫn nhau giữa nhà cầm quyền và nhân dân Theo đó, nhà vua mà được " dân cùng góp sức thì mạnh, dân không góp sức thì yếu" [47,tr.138] và để thực thi chính sách làm cho dân dư giả, theo Tuân Tử, nhà vua phải "giảm nhẹ thuế ruộng đất, bỏ thuế chợ, thuế quan, giảm số người đi buôn , bắt dân làm xâu

ít đi, đừng làm lỡ thiết tiết canh tác (thời vụ) của dân Như thế là làm cho nước giàu, như thế là dùng lương chính (chính sách tốt) làm cho dân dư rả" [47, tr.132]

Trang 32

Ở đây, quan điểm của Tuân Tử cũng hết sức tiến bộ khi ông cho rằng, nhà vua sinh ra là vì dân chứ không phải vì có vua mà trời sinh ra dân để cho ông vua cai quản; ngược lại, lập ra ông vua với mục đích là vì nhiệm vụ cao

cả của nhà vua, là nhằm ổn định xã hội, nhằm chăm lo cho đời sống của dân

Tư tưởng này của Tuân Tử đến nay vẫn còn nhiều ý nghĩa và gần tiếp cận đến

tư tưởng mới về nhà nước của dân và vì dân

Tuân Tử còn cho rằng, muốn dân hết lòng vì nhà vua và luôn coi nhà vua

như cha mẹ mình thì nhà vua trước hết phải yêu dân và bảo vệ dân Cũng như

Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử luôn coi nhà vua là cha mẹ của dân, vì vậy, đối với dân, Tuân Tử yêu cầu: "Vua phải yêu dân, bảo vệ dân như bảo vệ con đỏ" [47, tr.120] Vì theo ông, nhà vua, người cầm quyền có yêu thương dân thật lòng thì dân mới hết sức vì mình, sống chết với mình, thì mình mới được yên vui, vì "yêu dân tức là làm cho yên nước" [47, tr.129] Cũng như Khổng

Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử luôn cho rằng, “ái dân” (thương yêu dân) nhà vua không chỉ được lòng dân và được dân thương yêu và kính trọng như chính cha mẹ của mình mà nhà vua sẽ mạnh và vô địch Như ông đã nói: "Ái dân giả cường, bất ái dân giả nhược (kẻ thương dân thì mạnh, kẻ không thương dân là yếu)" [47, tr.86] Cho nên, nghiệp vương và quốc gia mạnh hay yếu, theo Tuân Tử, một phần phụ thuộc chủ yếu vào việc nhà vua có ái dân, có được lòng dân, ý dân, sức dân hay không Trong quan niệm của Tuân Tử, nhà vua ái dân là phải dưỡng dân và giáo dân, bởi có dưỡng dân và giáo dân mới

được dân tin, dân yêu, từ đó mà nước trị, dân yên Trong thiên Quân đạo,

sách Tuân Tử, Tuân Tử nói rằng: "Vua muốn trị yên thì tốt hơn hết là chính

sự phải cho công bằng, phải yêu dân…." [47, tr.129], trái lại nếu không yêu dân thì tất sẽ diệt vong, "cho nên đấng nhân quân yêu dân thì yên, ưa kẻ sĩ thì vinh Hai điều đó thiếu một thì diệt vong" [47, tr.129] Vì vậy, Tuân Tử luôn phản đối việc ông vua đứng đầu một chính thể mà dùng chính sách tàn bạo và

hà khắc đối với dân Vì ông cho rằng: " Vua mà tàn bạo thì trăm họ khinh như

Trang 33

lũ què quặt, ghét như ghét loài quỷ" [47, tr.120] Cũng như Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử luôn coi trọng và đề cao việc trị nước bằng đức trị, lấy đạo đức để dẫn dẵn dân của các bậc minh quân và phản đối việc lấy sang - hèn để luận tội danh (nặng - nhẹ) của giai cấp thống trị lúc bấy giờ

Trong chính sách dưỡng dân, các nhà Nho tiên Tần còn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải là người bảo hộ dân, không ham giết người, giết dân, phải giảm hình phạt cho dân nếu dân phạm tội Có như vậy, dân sẽ quy phục nhà vua mà không có uy lực nào cản được Như Mạnh Tử cho rằng: "Nếu như

có ai không ham giết người, ắt dân chúng trong thiên hạ theo về, như nước chảy xuống chỗ thấp, ào ào ai mà ngăn được" [40, tr 735] Không chỉ vậy, Khổng Tử còn yêu cầu nhà vua phải thương và quan tâm đến đời sống của những người già cả, thiếu niên ông nói: " [Chí hướng của ta là] Người già cả thì khiến họ được an vui; bạn bè thì khiến họ tin ta, lớp trẻ thì chăm sóc đùm bọc họ" [85, tr.306] Còn Mạnh Tử thì đòi hỏi nhà vua phải đặc biệt quan tâm đến cuộc đời và thân phận của bốn hạng người: quan, quả, cô, độc mà phần trên luận văn đã đề cập

Như vậy, theo quan điểm của các nhà Nho tiên Tần, để được lòng dân,

để thu phục dân tâm từ đó mà cai trị được thiên hạ, nhà vua, người cầm quyền phải thi hành đường lối nhân nghĩa (còn gọi là đường lối Vương đạo, Nhân chính) Như vậy, chính sách dưỡng dân của Nho giáo tiên Tần, trong điều kiện lúc bấy giờ là một tư tưởng có nhiều điểm tiến bộ Tuy nhiên, chính sách

đó về thực chất, không phải xuất phát từ mục đích tự thân, không phải chủ yếu là vì dân, mà chủ yếu là vì địa vị, quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị Chính sách dưỡng dân mà các nhà Nho tiên Tần đưa ra, xét về thực chất cũng chỉ là phương tiện để đạt được mục đích chính trị của giai cấp phong kiến là duy trì vĩnh viễn sự tồn tại của chế độ phong kiến, duy trì vĩnh viễn cái trật từ mà trong đó, giai cấp phong kiến mãi là giai cấp thống trị, bóc lột, còn người dân mãi mãi là kẻ bị thống trị, bị bóc lột Và trong những trường hợp

Trang 34

dân phải chịu cảnh nghèo, cảnh đói khổ, thì các nhà Nho lại viện tới ý trời, cho

đó là mệnh trời để khuyên họ hãy an phận, bằng lòng và vui với cảnh nghèo khổ (an bần nhi lạc), không được oán trách số phận và sự nghèo khổ của mình (bần nhi vô oán)

Thứ hai: Phải giáo dục, giáo hoá

Để được lòng dân, để được dân tin, từ đó mà giữ được dân và nhằm những mục đích chính trị, bên cạnh chính sách dưỡng dân, các nhà Nho tiên Tần còn đề xuất chính sách giáo dục, giáo hoá dân Có thể nói, ở Nho giáo, dưỡng dân và giáo dục, giáo hoá dân gắn chặt với nhau, bổ sung cho nhau trong đường lối trị dân, trị nước của nhà vua, người cầm quyền

Xuất phát từ quan niệm về tính người và quan niệm về dân và vai trò của dân, các nhà Nho tiên Tần đều khẳng định rằng, ngay từ đầu, dân phải được giáo dục, giáo hoá Bởi vì, như Khổng Tử cho rằng, cái bản tính ban đầu của con người vốn là “lành” (dã trực) và dù là do trời phú cho nhưng con người nhất là người dân, do dễ bị chi phối bởi những dục vọng và sự tác động của ngoại cảnh, cho nên họ dễ trở nên tàn ác nếu về sau không được giáo dục, giáo hoá Còn Mạnh Tử thì khẳng định, dù cái bản tính có của con người khi mới sinh ra là thiện và do trời phú cho đi chăng nữa, nhưng nó lại dễ bị tiết lậu, dễ bị mất đi Đặc biệt ông còn khẳng định thêm rằng, đối với dân, kẻ tiểu nhân, ngay từ khi lọt lòng, cái bản tính thiện ấy đã bị “tiết lậu” ra bên ngoài Do vậy, con người (đặc biệt là dân) ngay từ khi ra đời phải được giáo dục, giáo hóa Tuân Tử thì cho cái bản tính ấy của con người là ác, nếu không có giáo dục, giáo hoá thì họ không bao giờ thiện được, không bao giờ trở thành “thiện nhân” Vì vậy mà, Nho giáo tiên Tần và Nho giáo nói chung luôn coi giáo dục, giáo hoá là một trong những nội dung chủ yếu và cơ bản của đường lối đức trị, là một trong những biện pháp cai trị chủ yếu và hữu hiệu nhất nhằm những mục đích chính trị của giai cấp phong kiến thống trị,

Trang 35

trong đó có mục đích tạo ra những con người phù hợp với yêu cầu cần có của giai cấp phong kiến, của tầng lớp thống trị

Các nhà Nho tiên Tần coi mục đích của giáo dục, giáo hóa dân là làm cho dân có được cái đạo làm người, cái đạo của kẻ làm dân, tức là giáo dục dân, giáo hoá dân là phải dạy cho dân có đạo đức, biết lễ nghĩa, để khi làm sai khuôn phép thì họ biết hổ thẹn để mà sửa Có hai phương pháp để giáo hoá cho dân

Thứ nhất là nêu gương cho dân Theo ông, "nhà cầm quyền tự mình nên làm lành, làm phải trước đặng làm gương cho dân" Như khi trả lời Quý Khang Tử, Khổng Tử nói: "chính trị là chính đính Ông lãnh đạo dân một cách chính đính thì ai dám không chính đính";" nếu ông không có lòng tham thì thưởng cho dân, họ cũng không trộm cướp" [49,141]

Thứ hai là dạy dỗ cho dân biết và làm theo các chuẩn mực đạo đức Nhân, Hiếu, Lễ, Trung, Trí, Tín,….với phương châm “Hữu giáo vô loại”, “Phú nhi hậu giáo”, “Học nhi thời tập chi” Có dạy dân như thế dân mới biết nghĩa vụ, biết nhường nhịn, biết luật pháp mà giữ gìn; nói tóm lại, họ mới có đạo đức, mới trở nên chính đính, mới dễ bị sai khiến, v.v…

Theo Mạnh Tử, ngoài chính sánh dưỡng dân, chính sách giáo hoá dân cũng vô cùng quan trọng trong đường lối trị nước, vì với ông, hai chính sách này luôn gắn chặt với nhau, bổ sung cho nhau

Như trên đã trình bày, xuất phát từ việc khẳng định, bản tính con người

là thiện và do trời phú cho con người, nhưng nó lại dễ mất đi, vì vậy mà Mạnh

Tử luôn cho rằng, dân nếu không được giáo dục, giáo hoá thì họ không bao giờ trở thành thiện nhân, đời sống của họ không khác gì con vật Với người dân, vì họ là những người hèn kém về đạo đức và tài trí, cho nên, muốn dẫn dắt dân, trị dân, muốn dân tuân theo lễ nghĩa, phép tắc, theo Mạnh Tử, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh lễ tiết, phải dạy lễ, nghĩa,trí, tín, phải dạy đạo đức nhân luân… cho dân Như ông nói: "Phải vỗ về những kẻ khó nhọc; phải

Trang 36

săn sóc những người từ xa đến, phải uốn nắn những điều sai trái lệch lạc, đưa mọi cái vào khuôn phép cho ngay thẳng; phải giúp rập, nâng đỡ chúng dân, làm cho họ tự thấy được đạo lớn, rồi lại nhân đó mà dạy dỗ thêm, ban ơn huệ thêm, để cho họ khỏi lạc nẻo lầm đường” [85, tr.703-704]

Giáo dục, giáo hóa dân, theo Mạnh Tử là một chức năng quan trọng của nhà vua, người cầm quyền, hơn nữa trên lĩnh vực chính trị nó còn là một nhiệm vụ trọng yếu của nhà vua hơn cả việc chính trị Như Mạnh Tử khẳng định: "Tiếng tăm nhân đức thâm nhập lòng người còn sâu hơn những lời nhân hậu Giáo hoá tốt thu được lòng dân còn hơn là chính trị tốt Chính trị tốt khiến dân sợ hãi, giáo hoá tốt được dân yêu Chính trị tốt đem lại tài sản cho

dân, giáo hoá tốt được lòng dân" [40,tr.1297] Ngoài ra, trong sách Mạnh Tử,

ông cho rằng, con người sở dĩ khác cầm thú là do con người có đạo lý, có đạo đức Những cái mà làm cho con người khác với cầm thú ấy, thì người dân lali

bỏ mất (đạo lý, đạo đức) Ông nói rõ như sau: " Người ta khác cầm thú có bao nhiêu đâu (Đó chẳng qua chỉ là nhân nghĩa mà) người dân thường bỏ mất, người quân tử giữ được" [40,tr.1073] Do vậy, để người dân có đạo đức, suy nghĩ và hành động có đạo đức, để họ khác với loài cầm thú, điều cơ bản nhất

là theo Mạnh Tử, người dân phải luôn được giáo dục, giáo hoá Như ông nói:

"Lẽ thường của con người là, nếu ăn no, mặc ấm, nhàn rỗi mà không có giáo dục thì gần với loài cầm thú Thánh nhân lấy đó làm lo, sai ông Tiết làm quan

tư đồ, dạy dân biết các giềng mối của con người: giữa cha con có tình thân ái, giữa vua tôi có nghĩa vụ, vợ chồng có phân biệt, anh em có thứ tự, bạn bè có chữ tín" [40,tr.949] Ngoài ra, theo Mạnh Tử (cả Khổng Tử và Tuân Tử nữa), đối với dân, vì họ là người hèn kém về đạo đức và tài trí, trọng lợi hơn nghĩa, nếu không được giáo dục, giáo hoá thì không có việc ác nào mà họ không dám làm, cho nên, theo các nhà Nho này, giáo dục, giáo hóa phải là một biện pháp cần thiết, thường xuyên Những quan niệm về giáo dân của Mạnh Tử (và cũng là quan niệm của các nhà Nho tiên Tần nói chung) cho thấy, không chỉ ở

Trang 37

nội dung giáo dân (chủ yếu là những chuẩn mực đạo đức), để theo đó, người dân có được đạo đức mà còn cho thấy rõ, giáo dân có vai trò lớn hơn, xa hơn là làm cho gia đình, xã hội có trật tự, có kỷ cương và ổn đinh; vì vậy mà, giáo dân còn là một trong những biện pháp chủ yếu để "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ"

Rõ ràng là ở đây, chính việc coi trọng con người, coi trọng đạo đức của con ngươì và vai trò của người dân mà cũng tất nhiên, Nho giáo tiên Tần với các đại biểu là Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử luôn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải có nhiệm vụ không chỉ làm cho dân đông, dân giàu mà điều cơ bản

là phải giáo hoá họ, vì dân không có giáo hoá thì không có đạo đức, không phải là con người và nói như Mạnh Tử, cách sống của họ sẽ gần như loài cầm thú

Như trên đã đề cập, mục đích giáo dục, giáo hoá dân, theo các nhà Nho tiên Tần là làm cho dân có được cái "đạo làm người" tức chỉ là cái “đạo làm dân” của mình Nhưng để có cái "đạo" ấy, các nhà Nho khẳng định, trước hết và chủ yếu dân phải học, phải được dạy những những chuẩn mực, quy phạm đạo đức: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, hiếu, trung và các chuẩn mực trong ngũ luân Như Khổng Tử cho rằng, muốn dẫn dắt dân, trị dân, muốn dân tuân theo lễ nghĩa, phép tắc, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh, lễ tiết, phải dạy lễ, nghĩa, tín, phải dạy đạo đức nhân luân: cha con có tình thân, vua - tôi

có nghĩa, chồng - vợ có phân biệt, anh - em có trật tự, bạn bè có niềm tin [85, tr.703]

Đúng là Nho giáo tiên Tần yêu cầu mọi người phải được giáo dục, được giáo hoá để có cái "đạo làm người" và đều phải học cái đạo nhân, nghĩa, lễ, trí v.v , nhưng mục đích của cái "đạo làm người" ở người quân tử , kẻ cai trị với cái "đạo làm người" ở người dân, kẻ tiểu nhân là khác nhau Có nghĩa là, trong quan niệm của các nhà Nho tiên Tần, dù nội dung học tập, giáo hoá cũng là đạo đức và theo phương châm "Hữu giáo vô loại", nhưng mục đích của học tập, giáo hoá là khác nhau Nếu quân tử, người cầm quyền học "đạo"

Trang 38

là để trở thành người có đạo đức, để hưởng lộc trời là trị dân, trị nước và trị thiên hạ, được người phụng dưỡng, thì với người dân, kẻ tiểu nhân học "đạo"

là để dễ bị sai khiến, để an phận với cảnh nghèo, bằng lòng với địa vị là người

bị cai trị, để phục vụ người cai trị Như trong sách Luận ngữ, Khổng Tử đã

từng cho rằng, người dân học đạo thì việc nào cần làm thì nên khiến họ làm, không nên giảng giải những điều cao siêu, vi diệu cho họ [85, tr.360] Mạnh

Tử thì lại khẳng định them rằng, mục đích cơ bản của việc giáo dục, giáo hoá dân là, nên dẫn dụ cho họ theo mình, nên giúp họ trở nên chính đính, phải đưa

họ vào khuôn phép để họ trở nên ngay thẳng, vững vàng [85, tr.703-704] Như vậy, mục đích của việc giáo dục, giáo hoá dân, theo các nhà Nho tiên Tần là tự giác hay không tự giác, người dân phải có thói quen là tuân theo cái tôn ti, trật tự của chế độ hiện hành và không xâm hại đến địa vị và lợi ích của đẳng cấp, giai cấp thống trị Rõ ràng ở đây, ngay ở điểm này, trong quan niệm của nhà Nho tiên Tần, đạo đức các chuẩn mực và quy phạm đạo đức đã trở thành công cụ, biện pháp vừa có tính giáo dục vừa có tính chất bắt buộc, ràng buộc trong việc giáo hoá dân, trị dân Tuy nhiên, có một thực tế khách quan

là, dưới chế độ phong kiến hà khắc và tàn bạo, người dân không phải bao giờ cũng suy nghĩ, hàng động theo những chuẩn mực và quy phạm đạo đức ấy, không phải bao giờ cũng an phận, bằng lòng với cảnh nghèo, không phải bao giờ họ cũng sợ trời, thuận theo mệnh trời Trước thực trạng đó và cũng nhận thức được thực tế ấy, nhằm bảo vệ tôn ti, trật tự, kỷ cương, phép tắc của chế

độ phong kiến, các nhà Nho không chỉ viện tới ý trời, mệnh trời mà còn đề xuất biện pháp trị dân, giáo hoá dân bằng pháp luật, hình phạt để buộc họ phải tuân theo trật tự của chế độ hiện hành Như Khổng Tử đã từng cho rằng, người nông dân, kẻ tiểu nhân chỉ là những người hèn kém về đạo đức và tài trí, "Ham dũng mà ghét nghèo, ắt làm loạn Người bất nhân, mà bị ghét bỏ quá, ắt làm loạn." [85, tr.360] và "không biết mệnh Trời nên không sợ; khinh nhờn bậc đại nhân; coi thường lời dạy của Thánh nhân" [85, tr 512] Vì vậy

Trang 39

theo ông, một mặt, nhà cầm quyền phải thực hiện chính sách giáo hoá dân bằng các biện pháp đạo đức, phải làm cho họ bằng lòng với số phận; mặt khác, nếu không được, nhà cầm quyền phải dùng hình phạt Tuân Tử còn chỉ rõ: "Từ bậc sĩ trở lên thì phải dùng lễ nhạc mà đối đãi; đối với dân chúng trăm

họ thì phải dùng pháp lệnh mà cai trị" [92, tr.270] và "người nào lấy điều thiện đến với ta, thì dùng lễ mà đối đãi với họ, người nào lấy điều bất thiện đến với ta thì dùng hình phạt đối đãi với họ" [92, tr 273]

Tuy nhiên, giữa biện pháp giáo dục, giáo hóa bằng đạo đức và hình phạt, nhà Nho tiên Tần đều coi trọng biện pháp đạo đức, còn hình phạt chỉ

là biện pháp tạm thời để cứu vãn những tình thế khó khăn trong việc giáo hoá, cai trị dân mà thôi Do đó, dễ lý giải rằng, vì sao các nhà Nho tiên Tần không phê phán nhà cầm quyền sử dụng hình phạt mà chỉ khuyên họ không lạm dụng hình phạt đối với dân, không ham giết dân Như Khổng Tử nói:

“Dắt dẫn [dân] bằng chính pháp, sửa trị dân bằng hình phạt, thì dân chỉ tạm tránh khỏi được tội lỗi, chứ không có lòng hổ thẹn Nếu dắt dẫn bằng đạo đức, sửa trị bằng lễ giáo, thì dân không những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hoá quy phục” [85, tr 245]

Như vậy, chính sách giáo dân, trị dân như trên mà các nhà nho tiên Tần

đề xuất được gọi là Đức trị, Nhân trị, tức là trị dân không phải chủ yếu bằng pháp luật mà chủ yếu bằng giáo hoá, bằng nêu gương đạo đức Không thể phủ nhận đó là một chính sách trị dân ít nhiều mang tính nhân đạo, có yếu tố nhân đạo, với nhiều điểm tiến bộ so với thời đại, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều khiếm khuyết, hạn chế

Một mặt, nếu giáo dục, giáo hóa là phải dựa trên nền tảng coi "dân là gốc", nên mọi chính sách đưa ra phải được lấy lòng dân, vì dân Nhưng xét cho cùng, chính sách ấy (kết cả chính sách dưỡng dân) cũng chỉ coi dân là phương tiện chứ không phải là chủ thể, lại càng không phải là mục đích của các chính sách ấy, của nền chính trị đạo đức

Trang 40

Mặt khác, Đức trị là nền chính trị nhân đạo, lấy lòng dân, Đức trị là cần cho mọi xã hội, nhưng không phải là tất cả, là duy nhất trong nền chính trị Nếu chỉ đức trị không thôi thì sẽ là ảo tưởng, đặc biệt là trong bối cảnh của một xã hội loạn lạc, tranh giành nhau, cá lớn nuốt cá bé của thời Xuân Thu - Chiến Quốc Điều đó giải thích tại sao học thuyết của Khổng Tử nói riêng, Nho giáo tiên Tần nói chung không được trọng dụng vào thời kỳ này Có thể nói, lí thuyết trị dân bằng đức trị, còn mang nặng tính duy tâm, lấy giáo dục, đạo đức làm nền tảng cho kinh tế, chính trị, xã hội nói chung

Ngoài ra, qua các tác phẩm của Khổng Tử, Mạnh tử và Tuân Tử cho thấy, để thi hành việc giáo hoá dân, trị dân bằng đạo đức mà hạn chế được hình phạt, ngoài biện pháp dưỡng dân, các nhà Nho tiên Tần cho rằng, điều

đó còn phụ thuộc vào việc tu dưỡng đạo đức và thi hành đạo đức của nhà vua,

người cầm quyền trong việc giáo hoá, cai trị dân Trong sách Luận ngữ, sách

Mạnh Tử, Khổng Tử và Mạnh Tử không chỉ đòi hỏi, yêu cầu nhà vua, người

câm quyền phải có đạo đức, luôn tu dưỡng đạo đức, phải thi hành các biện pháp cai trị mang nội dung đạo đức mà còn yêu cầu họ phải thật sự là tấm gương trong việc học tập, tu dưỡng đạo đức, để qua đó mà người dân noi theo, để người dân có được cái đức của mình, công việc giáo hóa bằng đạo đức đối với người dân mới có hiệu quả, mới thành công

1.5 Những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân

Từ những nội dung cơ bản trong tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần ( thông qua quan niệm của Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử), có thể khái quát một số giá trị và hạn chế chủ yếu sau đây:

1.5.1 Một số giá trị chủ yếu

Một là: Nho giáo tiên Tần từ rất sớm đã nhận thấy vai trò của dân như là

một lực lượng sản xuất to lớn và có ảnh hưởng nhất định đến sự thịnh - suy,

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Minh Anh (2001), “Chúng ta kế thừa tư tưởng gì ở Nho giáo”, Tạp chí Triết học, (số 8),tr.34 – 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng ta kế thừa tư tưởng gì ở Nho giáo”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Minh Anh
Năm: 2001
2. Trần Quang Ánh (1996) Quan niệm về dân và tư tưởng thân dân trong “Luận ngữ”,”Mạnh tử”, Luận văn thạc sỹ triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về dân và tư tưởng thân dân trong “Luận ngữ”,”Mạnh tử
3. Lê Bảo (2001), Thơ văn Lý - Trần, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý - Trần
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
4. Nguyễn Lương Bích (1973), Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước
Tác giả: Nguyễn Lương Bích
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1973
5. Hoàng Thị Bình (1996), Tư tưởng Nhân chính qua các tác phẩm“luận ngữ”,”Mạnh Tử”,Luận văn thạc sỹ triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Nhân chính qua các tác phẩm“luận ngữ”,”Mạnh Tử”
Tác giả: Hoàng Thị Bình
Năm: 1996
7. Nguyễn Thanh Bình (2007), Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX), Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
9. Phan Văn Các (1991), “Việc nghiên cứu Khổng Tử và Nho giáo ở Trung Quốc trong thập kỷ 80”, Tạp chí Triết học, (số 1), tr.61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc nghiên cứu Khổng Tử và Nho giáo ở Trung Quốc trong thập kỷ 80”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Phan Văn Các
Năm: 1991
10. Các Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập (2000), tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập
Tác giả: Các Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
11. Các Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập (2000), tập 20, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập
Tác giả: Các Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
12. Du Vĩnh Căn (2000), Tổng quan tư tưởng pháp luật Nho gia, Nxb.Nhân dân Quảng Tây, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tư tưởng pháp luật Nho gia
Tác giả: Du Vĩnh Căn
Nhà XB: Nxb.Nhân dân Quảng Tây
Năm: 2000
13. Phan Bội Châu (1998), Khổng học đăng, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng học đăng
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb. Văn hóa – Thông tin
Năm: 1998
14. Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê (1992), Đại cương triết học Trung quốc, quyển 2, Nxb.thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung quốc
Tác giả: Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb.thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
15. Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê (1994), Tuân Tử, Nxb. Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuân Tử
Tác giả: Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb. Văn hoá
Năm: 1994
16. Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê (1996), Chiến quốc sách, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến quốc sách
Tác giả: Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1996
17. Doãn Chính (chủ biên) (1992), Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Nxb. Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1992
18. Doãn Chính, Dương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình (2002), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính, Dương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2002
19. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1,2,3 (Tổ phiên dịch Viện Sử học), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1992
20. Phạm Như Cương (chủ biên) (1978), Vấn đề xây dựng con người mới, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xây dựng con người mới
Tác giả: Phạm Như Cương (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1978
21. Hoàng Tăng Cường (1998), “Triết lí tu thân của Nho giáo”, Tạp chí Triết học, (số 3), tr.46 - 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lí tu thân của Nho giáo”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Tăng Cường
Năm: 1998
22. Lương Minh Cừ (2005), “Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử”, Tạp chí Triết học, (số 6), tr. 35 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Lương Minh Cừ
Năm: 2005

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w