Hướng tới một cái nhìn tổng thể về lễ hội cổ truyền của tỉnh Hà Nam Đề xuất phương hướng và những giải pháp, những kiến nghị mong muốn góp phần vào vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình
từ phía các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè cả về tinh thần cũng như kiến thức khoa học
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Trọng Tuấn - người đã hướng dẫn học viên tận tình, tạo cho học viên động lực mạnh mẽ, say mê nghiên cứu với ý thức làm việc nghiêm túc trong suốt thời gian qua
Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Bùi Thị Oanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội ở tỉnh Hà Nam hiện nay” là một công trình nghiên cứu độc
lập của cá nhân tôi Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Các kết luận khoa học chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn Bùi Thị Oanh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 7
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HÀ NAM 8
1.1 Lễ hội truyền thống và lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam 8
1.1.1 Quan niệm về lễ hội và lễ hội truyền thống 8
1.1.2 Lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam 17
1.1.3 Những mặt tích cực và hạn chế của lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam hiện nay 50
1.2 Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam 52
1.2.1 Quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam 52
1.2.2 Một số nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam 56
Tiểu kết chương 1 61
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY 62
2.1 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam hiện nay 62
Trang 52.2 Dự báo xu thế tiến triển của lễ hội truyền thống Hà Nam trong thời
gian tới như sau: 69
2.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam hiện nay 75
2.3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân hiểu rõ tầm quan trọng của văn hoá lễ hội truyền thống 75
2.3.2 Tăng cường công tác quản lý của Nhà nước về lễ hội ở Hà Nam 77
2.3.3 Đầu tư hỗ trợ kinh phí để tổ chức lễ hội truyền thống 79
2.3.4 Phát triển mô hình du lịch từ lễ hội truyền thống 80
2.3.5 Tăng cường công tác đào tạo cán bộ quản lý văn hoá các cấp nhất là cấp cơ sở 83
Tiểu kết chương 2 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ V khoá VIII - Văn kiện quan trọng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã rất đề cao việc xây dựng môi trường văn hoá ở các địa phương, cơ sở Nhằm đáp ứng những nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền thống ở cơ sở trở thành vấn đề quan trọng cấp bách hiện nay Trong đó một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm là việc tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống ở các địa phương nhằm khai thác, phát huy được những giá trị văn hoá truyền thống vừa khắc phục được những hạn chế, tiêu cực từ tổ chức, sinh hoạt lễ hội
Lễ hội truyền thống là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần, bắt nguồn và phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng đồng Lễ hội cổ truyền chứa đựng tất cả những khát vọng, những ước muốn tâm linh vừa linh thiêng, vừa trần tục của cộng đồng dân cư trong những hoàn cảnh cụ thể Đây là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc được lưu truyền qua hàng nghìn năm lịch sử
Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có nền văn minh lúa nước lâu đời và nền văn hóa dân gian phong phú thể hiện qua các điệu chèo, hát chầu văn, hầu bóng, ả đào, đặc biệt hát dậm Đây là một vùng đất có nhiều lễ hội truyền thống và di tích lịch sử Trong các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung, lễ hội nói riêng, vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp, ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu là nội dung quan trọng Nhiều lễ hội truyền thống của Hà Nam đã được phục hồi và duy trì Việc tổ chức lễ hội đã được chính quyền các cấp thực hiện nghiêm túc theo Quy chế tổ chức lễ hội do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ VH, TT - DL) ban hành và sự hướng dẫn của Sở VH, TT - DL, các
Trang 7phòng VHTT Các địa phương tổ chức tốt lễ hội truyền thống góp phần vào
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Nhìn chung, các hoạt động lễ hội ở Hà Nam cơ bản là lành mạnh, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp truyền thống của vùng đất ngàn năm văn hiến
Tuy nhiên những năm gần đây do nhiều nguyên nhân mà lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam chưa được nhìn nhận đúng mức Nhiều lễ hội bị mai một, sự độc đáo của lễ hội bị giảm dần do xu thế bắt chước Các hiện tượng tiêu cực, mê tín dị đoan, thương mại hóa trong một số lễ hội vẫn còn tồn tại ở mức độ nhất định Có nhiều nhà nghiên cứu còn thừa nhận lễ hội truyền thống
là cơ hội thuận lợi cho việc hành nghề mê tín dị đoan một cách bịp bợm của một số thầy phù thuỷ, ông đồng bà cốt, thầy bói xem quẻ, xin xăm Vì vậy vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam
là rất cần thiết, tạo cơ sở cho công tác quản lý, hoạch định chính sách và phát triển văn hóa, khai thác lễ hội như nguồn lực di sản văn hóa để phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam ở từng địa phương cụ thể
Xuất phát từ những yêu cầu trên tôi đã chọn đề tài: "Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội ở tỉnh Hà Nam hiện nay" làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Tổng quan lịch sử nghiên cứu về lễ hội:
Nghiên cứu về vấn đề lễ hội không phải là một đề tài mới Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này tiêu biểu có các công trình sau:
Nội) của các tác giả Thạch Phương, Lê Trung Vũ xuất bản năm 1995,
Kho tàng lễ hội Việt Nam do Trương Thìn chủ biên (Nxb Văn hóa Dân
tộc và tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội ),
Trang 8Lễ hội tuyền thống trong đời sống xã hội hiện tại do Trung tâm Khoa
học xã hội và nhân văn quốc gia biên soạn và được Nxb Khoa học xã hội ấn hành năm 1994
Hội hè Việt Nam của nhiều tác giả, Nxb Văn hoá dân tộc 1990
Bảo tàng - di tích - lễ hội Vấn đề bảo vệ di sản văn hoá dân tộc của
Phan Khanh, Nxb Văn hoá thông tin 1992
Lễ hội truyền thống với bản sắc Văn hoá dân tộc của tác giả Nguyễn
Quốc Phẩm, Nxb Văn hoá thông tin 1996
Lễ hội truyền thống với việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ của
Nguyễn Quốc Phẩm, tạp chí Sinh hoat lý luận, số 5/1995
hoá dân tộc 1996;
Góp phần bàn về tín ngưỡng dân gian và mê tín dị đoan của Nguyễn
Quốc Phẩm - Tạp chí văn hoá nghệ thuật, H 1998, số 11
Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, của GS Ngô Đức Thịnh -NXB
Trang 93 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội cổ truyền Hướng tới một cái nhìn tổng thể về lễ hội cổ truyền của tỉnh Hà Nam
Đề xuất phương hướng và những giải pháp, những kiến nghị mong muốn góp phần vào vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội cổ truyền ở Hà Nam trong giai đoạn hiện nay
Với mục đích và mục tiêu như trên luận văn có những nhiệm vụ sau: Thứ nhất: Cần làm rõ khái niệm "Lễ hội truyền thống" và xác định một
số giá trị văn hoá lễ hội truyền thống của tỉnh Hà Nam
Thứ hai: Làm rõ thực trạng của vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam hiện nay
Thứ ba: Chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng qua đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá lễ hội ở tỉnh Hà Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Bản chất và những vấn đề có tính quy luật bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống ở tỉnh Hà Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa để nghiên cứu lễ hội truyền thống của tỉnh Hà Nam hiện nay
Trang 10Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp logic và lịch sử
+ Phương pháp liên nghành và chuyên ngành
+ Phương pháp điều tra xã hội học
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam, luận văn sẽ góp phần xây dựng những định hướng cho công tác chỉ đạo, quản lý lễ hội, trên phạm vi của tỉnh; đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn có kết cấu gồm 2 chương:
Chương 1: Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền thống ở Hà Nam
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam hiện nay
Trang 11CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG Ở HÀ NAM 1.1 Lễ hội truyền thống và lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam
1.1.1 Quan niệm về lễ hội và lễ hội truyền thống
Quan niệm về Lễ hội:
Việt Nam là đất nước có nền văn hoá lâu đời, nhiều dân tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ thống nhất, cùng đóng góp phong tục tập quán mang bản sắc riêng của mỗi vùng miền, dân tộc, tôn giáo cho nền văn hoá của dân tộc Trong đó lễ hội là yếu tố vừa đặc trưng cho mỗi dân tộc, vừa làm cho văn hoá đất nước đặc sắc hơn
Lễ hội nói chung là sinh hoạt văn hoá tổng hợp gồm nhiều yếu tố: nghi
lễ, tín ngưỡng tôn giáo, ca hát, âm nhạc, diễn xướng dân gian, trò chơi thể thao
Lễ hội là một khái niệm gồm hai từ kép " Lễ" và "Hội" Trong các công trình nghiên cứu trước đây người ta thường nhập chung các tên gọi " Lễ hội" làm một mà không thấy được sự khác nhau giữa chúng Điều này cũng có lý bởi đây là một sinh hoạt văn hoá truyền thống có điểm giao thoa lẫn nhau Tuy nhiên không thể đồng nhất hai khái niệm này Để hiểu khái niệm lễ hội một cách sâu sắc không thể không đặt nó trong mối quan hệ tương quan giữa hai khái niệm " Lễ" và "Hội"
Trước hết nói về "Lễ" nhằm biểu hiện sự kính trọng và được thể hiện trong mối quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên "Lễ" trong
Lễ hội là lễ thức, lễ nghi, thể hiện hành vi của con người trong những sự kiện đặc biệt là cách thờ vọng, tức là nói tới sự cúng tế thuộc về nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo
"Hội" là sinh hoạt văn hoá mang tính chất cộng đồng, các trò chơi, diễn xướng dân gian Thông thường hội được tổ chức sau phần lễ kết thúc
Trang 12Như vậy Lễ hội là sự thông nhất giữa hai yếu tố "Lễ" và "Hội" Thiếu một trong hai yếu tố đó Lễ hội sẽ không còn là lễ hội nữa
Hội và lễ cái nào có trước cái nào có sau, hội chính hay lễ chính? Để khẳng định điều này cần phải căn cứ vào thực tế của từng lễ hội hay hội lễ Trong từ điển lễ hội Việt Nam có viết :" Khi phần hội phong phú hơn thì gọi
là hội lễ Cũng có khi phần lễ lấn át thì gọi là lễ hội"
Lễ hội truyền thống:
Lễ hội truyền thống là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian tổng hợp, vừa độc lập, vừa phong phú đa dạng của dân tộc, vốn có nguồn gốc phát sinh và phát triển từ rất lâu đời trong dòng lịch sử văn hoá nước nhà Có thể coi lễ hội truyền thống là hình ảnh thu nhỏ của văn hoá dân gian cổ truyền dân tộc Nó phản ánh khá trung thực và rõ nét cốt cách bản lĩnh và bản sắc dân tộc, cùng với tâm linh và nguyện vọng của nhân dân trong suốt thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước Do vậy, lễ hội truyền thống không chỉ là một hiện tượng văn hoá dân gian, mà còn là một hiện tượng lịch sử xã hội
Lễ hội truyền thống được ra đời bảo tồn và phát huy trong dòng lịch sử
- văn hóa của dân tộc, nó phản ánh khá đầy đủ và sinh động đời sống văn hoá
- xã hội đã trải qua Nhiều yếu tố văn hoá tinh thần được lễ hội truyền thống bảo lưu và truyền tụng từ đời này sang đời khác và thực sự trở thành di sản văn hoá truyền thống vô giá Đó chính là kho tàng các giá trị thuộc về tinh hoa văn hoá, phản ánh rõ nét bản lĩnh và bản sắc dân tộc Việt Nam
GS Lê Trung Vũ khái quát: Lễ hội truyền thống, là sinh hoạt văn hoá tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng làng, xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống , sự bình yên cho từng cá nhân, niềm hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi của gia súc, sự bội thu của mùa màng
Lễ hội truyền thống hay còn gọi là lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian thường được tổ chức ở đình, chùa, đền, miếu, phủ, điện trog các làng gọi là
Trang 13hội làng, hoặc ngày nay ở các thị trấn, tỉnh thành còn gọi là hội đình, hội đền, hội phủ; do dân làng trước hết là các cụ đại biểu cho cộng đồng làng xưa tổ chức
Có thể sử dụng khái niệm " Lễ hội cổ truyền" của GS Ngô Đức Thịnh như sau: Lễ hội truyền thống là:
1/ Hình thức diễn xướng dân gian: Bao gồm nhiều hình thức diễn xướng nhỏ, kết hợp hữu cơ với nhau tạo thành tổng thể diễn xướng lễ hội
2/ Hình thức diễn xướng tâm linh: Không còn là thế giới hiện thực mà
đã vươn lên thế giới biểu tượng linh thiêng "Nó tái hiện lịch sử tự nhiên, lịch
sử xã hội trong một thời điểm mạnh, thời điểm có giá trị đặc biệt, thời điểm thiêng, khác với thời gian thường ngày"
Giá trị văn hoá của lễ hội truyền thống:
Nghiên cứu giá trị văn hoá của lễ hội truyền thống cũng chính là tìm hiểu lễ hội truyền thống như một di sản văn hoá
Lễ hội truyền thống được xem là một phạm trù thuộc khái niệm di sản văn hoá phi vật thể
Khái niệm di sản văn hoá được hiểu một cách đơn giản đó là tài sản của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau Tuy nhiên điều này chưa hoàn toàn thoả mãn với lô gíc của khái niệm này vì không phải bất cứ tài sản nào do thế hệ trước để lại cho thế hệ sau cũng được coi là di sản Khái niệm di sản văn hoá
là một khái niệm tiến triển có nghĩa là nó thay đổi theo thời gian và không gian
Theo luật Di sản văn hoá của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác đinh di sản là “ sản phảm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”, Vì vậy có thể quan niệm Di sản văn hoá được hiểu là những gì có giá trị do tổ tiên, cha ông truyền lại cho con cháu, hoặc nói rộng hơn là thế hệ trước truyền lại cho thế
hệ sau
Phần mở đầu của luật di sản văn hoá nêu rõ: Di sản văn hoá Việt Nam
là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt nam và là một bộ phận của
Trang 14di sản văn hoá nhân loại có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”
Di sản văn hoá tồn tại dưới hai dạng: Di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể
Tại chương I – điều 4 của luật di sản văn hoá ghi như sau:
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể là những hình thức tồn tại của của di sản văn hoá Nếu gọi di sản văn hoá vật thể là gương mặt lịch sử, là nhân chứng của các thời đại thì di sản văn hoá phi vật thể là linh hồn là tinh anh, hun đúc những giá trị cao nhất của dân tộc Các di sản văn hoá vật thể luôn luôn chứa đựng trong mình những giá trị vô hình, nơi con người gửi gắm đức tin và tôn thờ một đấng thiêng liêng nào đó, là không gian văn hoá cho nhân dân trong những ngày lễ hội truyền thống, lễ hội tôn giáo, là nơi các nghệ nhân xưa thể hiện năng lực sáng tạo kiến trúc – nghệ thuật của mình dâng lên đấng tối cao, thể hiện khát vọng và ước mơ thầm kín mãnh liệt của mình về cuộc sống – thế giới con người Đối với di sán văn hoá phi vật thể thì tự thân nó đã mang trong mình những thông điệp của quá khứ và khi tham gia vào đời sống văn hoá hiện đại sẽ làm cho văn hoá của mỗi dân tộc không bị tách rời khỏi truyền thống, nó giữ lại những giá trị tự thân, đồng thời
Trang 15tạo nên những giá trị bên trong của cốt cách, bản lĩnh, năng lực của mỗi dân tộc Những giá trị này có tính ổn định khá lớn và có tính bền vững tương đối,
có sức mạnh to lớn đối với cộng đồng Trong sự tiến bộ và phát triển của xã hội, các giá trị này thường không biến mất mà hoá thân vào giá trị của thời sau theo quy luật kế thừa, tái tạo và đó cũng là biểu hiện của tính liên tục văn hoá
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã có nhiều hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy kho tàng văn hoá của ông cha ta, góp phần to lớn vào việc bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đầm đà bản sắc dân tộc Việt Nam là một quốc gia rất có ý thức bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hoá
Vì vậy ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công , “xét việc bảo tồn cổ tích là việc làm rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 65 ấn định nhiệm vụ cho Đông Dương Bác cổ học viện nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam
Khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, chủ tịch Hội đồng nhà nước đã
ký Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng
cảnh (04 – 04 – 1984) Mười tám năm sau (2001), Nhà nước Việt Nam đã
chính thức ban hành Luật Di sản văn hoá, đây được coi là một bước tiến trên
quá trình hoàn thiện chính sách văn hoá vì sự phát triển của đất nước
Trong luật di sản văn hoá này, cả hai hình thái văn hoá được chứa đựng trong ký ức văn hoá của dân tộc: Di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể đều được đề cập đến với tư cách là đối tượng pháp lý chủ yếu của luật Luật pháp của Nhà nước không chỉ nâng cao nhận thức mà còn trao cho mọi công dân một công cụ pháp lý để điều chỉnh các hoạt động xã hội, để nhà nước cùng các tổ chức, cá nhân có thể bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc vào đời sống hiện đại
Trong Luật Di sản văn hoá cũng có thêm những quy định về quản lý
bảo vệ và phát huy các giá trị của các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, công
Trang 16cuộc xây dựng các bộ sưu tập và tổ chức quản lý bảo tàng ở Việt Nam xác định rõ quyền sở hữu đối với di sản văn hoá; xác định cụ thể sự phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương; quy định về việc mở rộng hệ thống các cửa hàng mua bán cổ vật, lập các bảo tàng và sưu tập tư nhân
Về cơ bản có thể khẳng định rằng Luật Di sản văn hoá được thông qua tại kỳ họp lần thư 9 Quốc hội khoá 9, vào tháng 6 năm 2001 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 – 01 – 2002 là cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh việc đổi mới các hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt Nam, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi những đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới đất nước nói chung, xây dựng và phát triển nề văn hoá Việt Nam tiên tiến, đầm đà bản sắc dân tộc nói riêng
Bên cạnh hiệu lực của pháp luật Nhà nước về bảo vệ di sản văn hoá, nhận thức của xã hội trong những năm gần đây cũng có nhiều thay đổi Đến nay di sản văn hoá hông chỉ được coi là tài sản có giá trị giáo dục truyền thống, mà còn là một nguồn lực to lớn góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Do đó di sản văn hoá đã trở thành một lĩnh vực được quan tâm đặc biệt , huy động được nhiều đóng góp của nhân dân và đã đật được nhiều đóng góp quan trọng Nhiều văn bản quản lý Nhà nước về di sản văn hoá đã được ban hành, nhiều đề tài khoa hoc, dự án bảo tồn các di sản văn hoá thuộc nhiều lĩnh vực được thực hiện, nhiều loại hình văn hoá, nghệ thuật truyền thống được khôi phục, bảo tồn khai thác và phát huy
Lễ hội cổ truyền được xem là một phạm trù thuộc khái niệm di sản văn hoá phi vật thể Đây là một khái niệm thu hút được nhiều sự chú ý trong thời gian mười năm trở lại đây UNESCO đã thảo ra một công ước về việc bảo tồn
di sản văn hoá này
Di sản văn hoá phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là các công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hoá có liên quan mà các cộng đồng và các nhóm
Trang 17và một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hoá của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hoá phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ sự trọng đối với sự đa dạng văn hoá và tính sáng tạo của con người
Trong các loại hình văn hoá phi vật thể, lễ hội truyền thống là một loại hình tiêu biểu Lễ hội truyền thống được các nhà nghiên cứu khai thác dưới nhiều hình thức và góc độ khác nhau Một số tác giả khai thác lễ hội dưới hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng hay một hình thức trình diễn dân gian; một số tác giả lại quan tâm đến vai trò của lễ hội truyền thống trong xã hội đương đại
Trên thực tế chúng ta thấy rằng lễ hội truyền thống là một hiên tượng
xã hội tổng thể, trong đó có các đặc trưng chủ yếu sau:
+ Là một dạng sinh hoạt tín ngưỡng – tâm linh
+ Là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng địa phương
+ Là dịp đoàn kết, giáo dục truyền thống cộng đồng
+ Là hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùng khác + Là dịp tổ chức các hoạt động giao tiếp như sinh hoạt nghệ thuật, các trò chơi, giải trí thể thao;
+ Là địa điểm hành hương du lịch
Từ những đặc trưng trên của lễ hội truyền thống đều gắn với một đặc điểm là: Lễ hội là một sản phẩm của quá khứ, được gìn giữ cho hiện tại và mai sau, lễ hội truyền thống là một di sản văn hoá của cộng đồng người Việt
Trong lễ hội truyền thống đang tồn tại trong ngày hôm nay, chúng ta có thể thấy những truyền thống văn hoá còn tồn đọng những hình thái nhất định Với tư cách là một di sản văn hoá, sự biến đổi của các lễ hội truyền thống cho
Trang 18chúng ta thấy cách quan niệm và xử lý đối với các di sản của từng thời kỳ lịch
sử ra sao Nhiều học giả cho rằng lễ hội truyền thống là một bảo tàng sống về văn hoá dân tộc Nhờ đó nền văn hoá ấy được hồi sinh, tái tạo và truyền qua các thế hệ Quan niệm này chứng tỏ rằng lễ hội truyền thống không phải là một thứ gì đó tĩnh tại mà là một sự vận động biến đổi phát triển không ngừng trong không gian và thời gian
Đặc trưng của lễ hội truyền thống
Xem xét dưới góc độ triết học thì lễ hội truyền thống là một loại hình sinh hoạt tinh thần, sinh hoạt văn hoá lâu đời của nhân dân Việt Nam Lễ hội
có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội, đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của nhân dân Lễ hội truyền thống có các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: Lễ hội truyền thống - một "hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể"
GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: Hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể là một hiện tượng văn hoá mang tính phức thể, mà trong phức thể ấy, một yếu tố văn hóa dân gian nào đó giữ vai trò là chủ đạo và gắn kết đa chiều với thực tại
xã hội
Nhìn một cách tổng thể thì lễ hội chủ yếu vẫn thuộc phạm trù cái thiêng của thế giới thiêng liêng, chứ không phải cái tục của đời sống trần tục Ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hàng ngày Ngay một số sinh hoạt vui chơi, giải trí, thi tài diễn ra trong lễ hội như: đua thuyền, đấu vật, kéo co, thả diều, trọi trâu thậm chí các trò chơi mang tính phồn thực vẫn mang tính nghi lễ, phong tục chứ không còn mang tính trần tục thuần tuý, mà đã trở thành cái tục của thế giới thiêng liêng Từ đây rút ra một
hệ quả mang tính thực tiễn là hiện nay chúng ta phải nhận thức lễ hội thuộc phạm trù cái thiêng, cái biểu tượng, vượt lên trên thế giới trần tục, nếu biến lễ hội thành cái trần tục thì lễ hội với đúng nghĩa sẽ không còn nữa
Trang 19Tóm lại lễ hội là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể, nên phải tiếp cận nó như một hệ thống
Thứ hai: Lễ hội truyền thống - một " hình thức diễn xướng tâm linh" Trước hết ta phải hiểu thế nào là diễn xướng Diễn xướng có nội hàm khá rộng bao gồm những hành động và lời nói nhằm biểu đạt một thông tin nào đó giữa một người hay một nhóm người với nhóm người khác Như vậy
có thể coi sinh hoạt văn hoá dân gian tồn tại dưới dạng các diễn xướng Hay nói cách khác, diễn xướng là một môi trường thể hiện, tồn tại và biến đổi của văn hoá dân gian Vì vậy, về mặt phương pháp luận thì mọi hiện tượng văn hoá dân gian đều tiếp cận trong môi trường diễn xướng Từ quan niệm như vậy có thể gọi lễ hội là một hình thức diễn xướng tâm linh
Trong lễ hội truyền thống tính diễn xướng được thể hiện một cách rõ nét Thông qua trình diễn bằng hành động và lời nói của tập thể người ta muốn tái hiện lịch sử, tái hiện xã hội, tái hiện cội nguồn của tự nhiên và con người Trong lễ hội truyền thống không có những người trình diễn chuyên nghiệp, hay có những người chỉ biết thưởng thức, hưởng thụ mà toàn thể thành viên đều tự nguyện tham gia trình diễn với niềm háo hức, say mê phấn khởi
Thời điểm diễn ra lễ hội là thời điểm thiêng tức là ngày kỵ, giỗ của thần linh, và cùng với các hành động hội mang tính biểu trưng làm cho thời điểm diễn ra lễ hội là thời điểm "thiêng" Đó là thời điểm mà người xưa tin rằng có giá trị đặc biệt, có ý nghĩa thiêng liêng, khác với thời điểm bình thường của đời sống hàng ngày
Ngôn ngữ của diễn xướng lễ hội rất đa dạng như tế lễ, rước, các trò diễn Tế là nghi thức tưởng niệm, tôn vinh thần linh, với ngôn ngữ, điệu bộ theo quy định của từng địa phương Ngoài tế trong lễ hội còn nhiều nghi thức khác nữa, đặc biệt là lễ khai hội và lễ rã hội Đây là những hình thức diễn xướng mang tính thiêng liêng nhất của lễ hội
Trang 20Rước cũng là một nghi lễ thiêng liêng có ở các lễ hội, thể hiện sự nghênh tiếp thần linh, phô diễn sức mạnh của cộng đồng Rước thường là phần trình diễn rất ngoạn mục vừa mang tính trang nghiêm lại vừa rất sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo cộng đồng với các nghi trượng tiêu biểu như: cờ, kiệu, lễ vật dâng cúng, chiêng, trống, lọng và dàn nhạc bát âm Tuỳ theo các di tích là đền, đình hay chùa và đặc tính của các vị thần linh mà đám rước có sắc thái khác nhau
Các trò diễn và diễn xướng cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng trong các lễ hội Có nhiều trò diễn và diễn xướng khác nhau, như diễn xướng
sự tích, diễn xướng thi tài, diễn xướng vui chơi giải trí
Cả lễ hội là một đại diễn xướng, trong đó bao gồm nhiều diễn xướng lớn, nhỏ khác nhau, tuy nhiên chúng kết hợp theo một trình tự và cấu trúc chặt chẽ, không dễ thay đổi một cách tuỳ tiện Thường là diễn xướng nghi lễ (lễ,
tế, rước) giữ vai trò chủ đạo trong nhiều lễ hội, nó diễn ra từ ngày mở đầu đến kết thúc lễ hội
Từ những phân tích trên có thể rút ra nhận xét sau:
- Lễ hội truyền thống là một hình thức diễn xuớng dân gian xuất hiện từ
xa xưa trong lịch sử, trong đó bao gồm nhiều loại hình diễn xướng nhỏ, kết hợp hữu cơ tạo nên một tổng thể diễn xướng lễ hội
- Lễ hội truyền thống là một hình thức diễn xướng tâm linh, nó không còn là thế giới hiện thực, trần tục nữa, mà nó vươn lên thế giới biểu tượng, linh thiêng Nó tái hiện lại lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội trong một thời điểm mạnh, thời điểm có giá trị đặc biệt, thời điểm thiêng khác với thời gian thường ngày
- Diễn xướng lễ hội truyền thống đạt tới hiệu quả lễ hội nhiều mặt, nó tạo nên và biểu trưng cho sức mạnh cố kết cộng đồng
1.1.2 Lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam
* Đặc điểm Hà Nam
Trang 21Về quá trình thành lập:
Từ thời các vua Hùng, đất Hà Nam ngày nay nằm trong quận Vũ Bình thuộc bộ Giao Chỉ; đến thời nhà Trần đổi là châu Lỵ Nhân, thuộc lộ Đông Đô Dưới thời Lê vào khoảng năm 1624, Thượng thư Nguyễn Khải đã cho chuyển thủ phủ trấn Sơn Nam từ thôn Tường Lân huyện Duy Tiên phủ Lỵ Nhân đến đóng ở thôn Châu Cầu thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam Thượng Đến năm 1832 nhà Nguyễn, vua Minh Mạng quyết định bỏ đơn vị trấn thành lập đơn vị hành chính tỉnh, phủ Lỵ Nhân được đổi
là phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội
Đến tháng 10 năm 1890 (đời vua Thành Thái năm thứ 2) tỉnh Hà Nam được thành lập từ các huyện của Hà Nội và Nam Định Tên tỉnh Hà Nam ra đời từ chữ Hà của Hà Nội và chữ Nam của Nam Định ghép lại và Phủ Lý trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Ngày 20/10/1908, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đem toàn bộ phủ Liêm Bình và 17 xã của huyện Vụ Bản và Thượng Nguyên (phần nam Mỹ Lộc) của tỉnh Nam Định, cùng với 2 tổng Mộc Hoàn, Chuyên Nghiệp của huyện Phú Xuyên (Hà Nội), nhập vào huyện Duy Tiên lập thành tỉnh Hà Nam Tháng 4 năm 1965, Hà Nam được sáp nhập với tỉnh Nam Định thành tỉnh Nam Hà Tháng 12 năm 1975, Nam Hà sáp nhập với Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh, năm 1992 tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình lại chia tách như cũ Tháng 11 năm 1996, tỉnh Hà Nam được tái lập thành một tỉnh riêng biệt (Nguồn địa chính - Hà Nam)
Về đặc điểm tự nhiên:
Hà Nam là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam Phía bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình Diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Nam là 8.522km², dân số là 786.300 người (năm 2010)
Trang 22Hà Nam là một vùng đất được bồi đắp bởi phù sa của sông Hồng, sông Đáy và thu nhận đất đai bị bào mòn từ vùng núi cao trôi xuống Ngoài những ngọn núi, Hà Nam còn được bao bọc bởi những con sông Đó là sông Hồng ở phía đông, sông Đáy ở phía tây, sông Nhuệ ở phía bắc, sông Ninh ở phía nam
và nhiều con sông khác chảy trong tỉnh Chính những điều kiện tự nhiên đã tạo cho vùng đất này các đặc trưng về văn hóa lịch sử của một khu vực giao thoa hay vùng đệm kết nối văn hóa từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và chính những đặc điểm này đã hình thành nên tính cách của người Hà Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
Hà Nam là một tỉnh đồng bằng giáp núi nên địa hình có sự tương phản giữa địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi Mật độ và độ sâu chia cắt địa hình so với các vùng núi khác trong cả nước hầu như không đáng kể Hướng địa hình đơn giản, duy nhất chỉ có hướng Tây Bắc - Đông Nam, phù hợp với hướng phổ biến nhất của núi, sông Việt Nam Hướng dốc của địa hình cũng là hướng Tây Bắc - Đông Nam theo thung lũng lũng sông Hồng, sông Đáy và dãy núi đá vôi Hòa Bình - Ninh Bình, phản ánh tính chất đơn giản của cấu trúc địa chất
Về điều kiện kinh tế - xã hội
Hà Nam có 5 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Duy Tiên, Thanh Liêm, Lý Nhân, Kim Bảng, Bình Lục, 1 thành phố là Phủ Lý
Theo thống kê mới nhất, tổng số hộ dân cư của tỉnh Hà Nam tính đến hết quý I năm 2013 là 243.787 hộ, trong đó số hộ gia đình là 243.051 Tổng
số nhân khẩu thường trú tính đến cuối quý I là 846.653 người Trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triển khá cao, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cải thiện và nâng cao đáng kể Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sản xuất, là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết và giàu sức sáng tạo trong phát triển
Trang 23kinh tế, mở mang văn hóa xã hội Đây là một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Hà Nam có trên 40 làng nghề Có những làng nghề truyền thống lâu đời như dệt lụa Nha Xá, trống Đọi Tam, mây giang đan Ngọc Động (Duy Tiên), sừng mỹ nghệ (Bình Lục), gốm Quyết Thành, nghề mộc (Kim Bảng), thêu ren
xã Thanh Hà (Thanh Liêm), Có làng đã đạt từ 40–50 tỷ đồng giá trị sản xuất, tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, mây giang đan: 5,5 triệu sản phẩm; lụa tơ tằm: 0,695 triệu m; hàng thêu ren: 2,83 triệu sản phẩm,
Về công nghiệp:
Ngành công nghiệp Hà Nam trong những năm gần đây có những bước chuyển mạnh mẽ Hàng loạt các khu công nghiệp được xây dựng với quy mô lớn Hiện nay có 9 khu công nghiệp lớn thu hút sự đầu tư của nước ngoài Điều này tạo việc làm cho nhiều nhân lực Phát triển công nghiệp dồn dập cũng đã ít nhiều mang lại các hậu quả về môi trường, xong tỉnh cũng đã từng bước thanh kiểm tra các khu công nghiệp và dần tốt đẹp hơn Nhiều khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý rác thải hoạt động hiệu quả và kinh tế
Nông nghiệp: 28,4%
Cơ cấu nông nghiệp trong GDP giảm dần từ 39,3% năm 2000 còn 28,4% năm 2005 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 4,1% (2001-2005) Trong đó: trồng trọt tăng 1,7%, chăn nuôi tăng 6,7%, dịch vụ 31%, sản lượng lương thực đạt 420 tấn/năm, sản lượng thuỷ sản năm
2005 đạt 11.500 tấn, giá trị sản xuất trên 1 ha đạt 38,5 triệu đồng Hình thành vùng cây lương thực chuyên canh, thâm canh có năng suất cao ở ba huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục Tại đây đầu tư vùng lúa đặc sản xuất khẩu có năng xuất cao Chuyển diện tích trũng ở vùng độc canh, hoang hoá sang sản xuất đa canh để nuôi trồng thủy sản là 5.188 ha
Trang 24Du lịch, dịch vụ:
- Về du lịch sinh thái: Hà Nam có nhiều điểm du lịch sinh thái khá hấp dẫn như: Khu du lịch đền Trúc thờ vị anh hùng Lý Thường Kiệt và Ngũ Động Thi Sơn là quả núi năm hang nối liền nhau cách thành phố Phủ Lý 7 km Đã quy hoạch Khu du lịch Tam Chúc thuộc huyện Kim Bảng với quy mô gần 2000 ha với 9 khu chức năng Diện tích mặt nước hồ khoảng 600 ha, diện tích phụ cận
và khu du lịch sinh thái là 600 ha Xây dựng các nhà nghỉ, khách sạn, sân gôn, quần vợt, công viên nước, nhà thuỷ tạ Nơi đây cách chùa Hương 7 km, cách Hà Nội 60 km, Nam Định 40 km, Ninh Bình 45 km, Hưng Yên 40 km là điểm dừng chân cho khách du lịch nhiều tỉnh, nơi nghỉ dưỡng và giải trí vào các ngày nghỉ cuối tuần của khách thập phương, đang thu hút đầu tư Chùa Long Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Di tích Long Đọi Sơn được xếp hạng từ năm 1992 Hàng năm có trùng tu, tôn tạo để gìn giữ cho muôn đời sau - Khu trung tâm du lịch thành phố Phủ Lý: Được xây dựng
2 bên dòng sông Đáy, giáp cửa sông Châu; có khách sạn 3 sao, 11 tầng, có khu du lịch bến thuỷ phục vụ du khách đi chùa Hương, Ngũ Động Sơn, chùa
Bà Đanh, Hang Luồn Nơi đây còn là địa điểm bơi thuyền dọc sông Châu, sông Đáy vãng cảnh nước non Phủ Lý Đền Trần Thương, ở huyện Lý Nhân, thờ quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn Đền được xây dựng năm 1783; với diện tích 1,4 ha
- Về truyền thống văn hoá, lịch sử
Hà Nam là mảnh đất sớm được khai phá Trải qua chiều dài lịch sử, tiền nhân đã để lại cho nhiều di sản văn hoá phi vật thể và vật thể vô cùng quý giá như: Trống đồng Ngọc Lũ - dấu ấn thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hoá Đông Sơn - thuở các Vua Hùng dựng nước và giữ nước, cuốn sách đồng Bắc Lý - một trong bốn cuốn sách còn nguyên vẹn nhất, nội dung phong phú nhất của cả nước, tấm bia " Sùng Thiện Diên Linh" - một trong những
Trang 25tấm bia quý còn lại của triều đình nhà Lý, có giá trị lịch sử của đất nước, bia
có kích thước khá lớn, tấm bia "Đại Trị" - thời Trần duy nhất ở Hà Nam
Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm nhiều người con quê hương Hà Nam đã phát huy truyền thống dân tộc và trở thành các anh hùng dân tộc được lưu danh sử sách: Thiện Công, Vực Công thời Hùng Vương, nữ tướng Cao Thị Liên, Quỳnh Chân, Nga Nương, Hồng Nương, Học Công, Nguyệt Nga (thời Hai Bà Trưng), Đinh Lôi (thời Lý Nam Đế), Nguyễn ninh, Nguyễn Tĩnh, Phạm Hán, Phạm Phổ (Thời Đinh), thập đại tướng quân Lê Hoàn (vua
Lê Đại Hành), tướng Trần Bình Trọng thời Trần, Đinh Công Tráng, Đinh Công Lý (tức Đề Yêm)
Lịch sử quê hương và con người Hà Nam luôn gắn bó hòa quyện trong lịch sử đất nước Người Hà Nam có truyền thống yêu nước, có phẩm chất cần
cù, siêng năng, chăm chỉ trong lao động sản xuất, có kinh nghiệm trong nghề trồng lúa, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, chế biến nông sản thể hiện bàn tay tài hoa, sáng tạo khéo léo trong nghề mộc, nghề đan nát, thủ công mỹ nghệ Những phẩm chất tốt đẹp đó của người Hà Nam đã tô thắm làm phong phú thêm những phẩm chất cao quý của con người Việt Nam
Mảnh đất Hà Nam đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước Kể từ khoa thi đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919) tỉnh Hà Nam có tới 53 người đỗ đạt ở 36 khoa thi Mở đầu cho truyền thống khoa cử ở Hà Nam là
Lý Công Bình ở Đồn Xá - Bình Lục đỗ Thái học sinh thời Lý Người đỗ cao nhất là Nguyễn Quốc Hiệu (Phú Thứ - Duy Tiên đạt học vị Thám Hoa) Người đỗ khoa bảng cao nhất là Phan Tế (Duy Tiên) đỗ học vị Tiến sỹ khi mới 19 tuổi Người đỗ khoa bảng ở tuổi cao nhất là Trương Minh Lượng (Ngô Xá - Duy Tiên) đỗ Tiến Sỹ ở tuổi 65 Người đỗ đầu 3 kỳ thi là Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (Bình Lục) Hà Nam cũng có nhiều dòng học khoa bảng như: dòng học Bùi, dòng họ Vũ ở Lạc Tràng - Phủ Lý, dòng
Trang 26họ Nguyễn ở Bình Lục, Nhiều nhà khoa bảng của Hà Nam đã có những đóng góp lớn cho sự nghiệp xây dựng đất nước như: Lý Trần Thản (Duy Tiên) làm trấn thủ Hưng hóa đời vua Lê Hiển Tông; Trương công Giai (Thanh Liêm) làm vinh bộ thượng thư đời Lê Duy Tông Có nhiều người trở thành học giả, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như: Dương Bang Bảng (Thanh Liêm) được vua ban quốc tính, đổi là Lê Tung là nhà sử học tiêu biểu vào thế
ký XV, Nguyễn Khuyến nhà thơ cổ điển nổi tiếng Thời kỳ Cách mạng có nhiều văn sỹ nổi tiếng như nhà văn, liệt sỹ Nam Cao, nhạc sỹ Phong Nhã, Huy Thục
Hà Nam là một tỉnh có nhiều di tích lịch sử Văn hóa, hiện nay có tới hơn 1000 di tích, danh lam thắng cảnh, cổ tự và nhiều nghi lễ đặc sắc mang bản sắc riêng của vùng Có hơn 74 di tích được xếp hạng quốc gia Nhiều di tích có kiến trúc quy mô, nghệ thuật trạm khắc độc đáo: Chùa Long Đọi Sơn - nơi phát tích vua Lê Đại Hành cày tịch Điền, đền Trần Thương - dấu tích một kho lươngthời Trần, đình Văn Xá, đình An Hòa, đình Chảy, đình Ngò
Bên cạnh những giá trị văn hóa vật thể, Hà Nam còn là quê hương của những làng nghề thủ công truyền thống, hiện có hơn 30 làng nghề đang tồn tại
và phát triển mạnh như: nghề dệt, nghề thêu, trồng dâu nuôi tằm, nghề làm trống, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề chế biến nông sản, thực phẩm, nghề nuôi
cá giống, nghề mộc cổ truyền Trong đó có nhiều làng nghề nổi tiếng như: Lụa Nha Xá, Mây giang đan -Ngọc Động, sừng Mỹ nghệ Đô Hai, thêu ren An Hòa, Hòa Ngãi, giũa cưa Đại Phu - An Đổ, mộc Cao Đà, gốm Đanh Xá, trống Đọi Tam
Đặc biệt Hà Nam là quê hương của nhiều lễ hội truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc, toàn tỉnh có hơn 100 lễ hội, trong đó có 5 lễ hội vùng được tổ chức quy mô theo đúng quy trình và nghi thức của lễ hội truyền thống, các nghi thức tế lễ, rước, trò chơi dân gian, sinh hoạt nghệ thuật dân gianđược tổ
Trang 27chức long trọng, sinh động tăng cường tính cộng đồng, cộng cảm của làng xã như: Lễ hội đền Trần Thương - Lý Nhân, lễ hội chùa Đọi, lễ hội đền Lảnh Giang ở Duy Tiên, lễ hội đền Trúc - Ngũ Động Sơn ở Kim Bảng, lễ hội vật võ Liễu Đôi, lễ hội đình Vũ Cố ở Thanh Liêm, lễ hội đình công Đồng ở Bình Lục, lễ hội làng Dâu ở Lý Nhân
Hà Nam cũng là cái nôi của nền nghệ thuật truyền thống đang được kế thừa và phát huy như các chiếu chèo sân đình tiêu biểu: Chiếu chèo làng Ngò, chiếu chèo làng Thọ Chương, chiếu chèo Xuân Khê Lý Nhân, chiếu chèo Đồng Hóa Kim Bảng, chiếu chèo Châu Giang Duy Tiên, hát tuồng Bạch Thượng Duy Tiên Bên cạnh đó còn có vốn dân ca mang đậm đà bản sắc riêng như: Hát dậm Quyển Sơn - Kim Bảng
* Lễ hội truyền thống ở Hà Nam
Các loại hình lễ hội truyền thống
+ Lễ hội Đền
Lễ hội Đền là loại hình lễ hội được tổ chức tại đền và ngôi đền trở thành không gian lý tưởng là trung tâm và diễn trường của lễ hội như lễ hội đền Lảnh Giang (huyện Duy Tiên) được tổ chức từ tháng 6 đến tháng 8 âm lịch hàng năm, lễ hội đền Trần Thương (Lý Nhân) được tổ chức từ ngày 18 đến 20/8 (âm lịch) hàng năm
Tên lễ hội ở đây được gọi theo loại hình di tích (đền là địa điểm) cộng với tên làng, xã hoặc thờ vị thần thánh được tôn thờ nơi đó
+ Lễ hội Đình
Là loại hình lễ hội truyền thống được tổ chức tại Đình, vì vậy đình trở thành không gian tâm linh lý tưởng, là trung tâm và diễn trường của lễ hội Đây là loại hình lễ hội chiếm số lượng lớn nhất so với các loại hình lễ hội trong địa bàn tỉnh Tiêu biểu nhất là lễ hội thả diều
Trang 28+ Lễ hội Chùa
Là loại hình lễ hội truyền thống được tổ chức tại chùa, vì vậy ngôi chùa trở thành không gian tâm linh lý tưởng, là trung tâm và diễn trường của lễ hội Loại hình này chiếm số lượng khá nhỏ so với các loại hình lễ hội khác như: lễ hội chùa Long Đọi Sơn (Đọi Sơn – Duy Tiên) được tổ chức từ ngày 18 đến 21 tháng 3 (âm lịch) hàng năm, lễ hội chùa Bà Đanh…Tên của lễ hội được gọi theo tên của ngôi chùa cộng địa danh làng, xã
Trên đây là 3 loại hình lễ hội chính trong hệ thống lễ hội truyền thống của tỉnh Hà Nam Sở dĩ cần phân loại như vậy để mọi người dễ hiểu và mang tinh chính xác, khoa học Qua cách phân chia lễ hội truyền thống theo loại hình di tích
- Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu của tỉnh Hà Nam
+ Lễ hội Tịch Điền
Lễ hội tịch Điền được tiến hành đầu tiên dưới thời vua Lê Đại Hành Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" vào năm 987, khi Lê Đại Hành đích thân xuống ruộng cày ở núi Đọi (Duy Tiên, Hà Nam) đã đào được một hũ vàng Sau đó, lại cày ở núi Bàn Hải (có lẽ là núi Điệp gần đó) lại được một hũ bạc,
vì vậy hai thửa ruộng trên được đặt tên là "Kim ngân điền" Sau đó đến thời
Lý - Trần, các lễ này được tổ chức long trọng hơn và là một trong những ngày hội chính của đất nước vào mùa xuân Vào thời Lý, Vua Lý Thái Tông là người rất chăm lo cho nông nghiệp nước nhà Ông đã nhiều lần tự mình xuống cày Sử cũ có ghi rõ, ngày 14 tháng 10 năm 1030 (Canh Ngọ), vua đích thân ra ruộng ở Điều Lộ xem gặt; ngày 1 tháng 4 năm 1032 (Nhâm Thân) vua
đi cày tịch Điền ở Đỗ Động Giang, hôm ấy, có nhà nông dâng Vua một cây lúa 9 bông; tháng 3 năm 1042(Nhâm Ngọ), vua đi cày ruộng tịch điền ở Khả Lâm Tuy vậy, một số quan lại không ưa gì việc vua đi làm ruộng Sách đại việt sử kí toàn thư còn ghi lại một điển tích như thế này: Mùa xuân tháng 2 năm Mậu Dần 1038, Vua ngự ra Bố Hải cày ruông tịch điền Vua sai Hữu
Trang 29Ti dọn cỏ đắp đàn rồi thân tế Thần Nông, tế xong, vua tự cầm cày để muốn làm lễ tự cày Các quan tả hữu có người can rặng: Đó là việc của nông phu, bệ
hạ cần gì làm thế? Vua nói - Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo? Nói xong vua đẩy cày ba lần rồi thôi Sử thần Ngô Sĩ
Liên nói: thái Tông khôi phục lễ cổ, từ mình cày ruộng tịch điền để nêu gương
cho thiên hạ, trên thì để cúng tôn miếu, dưới thì để nuôi muôn dân, công hiệu trị nước dẫn đến của giàu dân đông, nên thay Đến đời Trần, do bận việc giữ
nước, chống ngoại bang nên lễ cày tịch điền không hưng thịnh như trước Tuy nhiên, khi có điều kiện, các vua vẫn đích thân điều hành lễ này Đến các thời nhà Hồ, thì hầu như phong tục này không còn được gìn giữ
Nước ta là nước nông nghiệp, Vua đã biết chăm lo đến nghề nông thật
là một điều đáng để đời sau ghi ơn Đó là việc làm hết sức ý nghĩa tạo cho người dân lòng tin và noi gương Hơn nữa, như người xưa đã nói, hành động
có công hiệu hơn ngàn lời nói Chẳng thế mà kỉ cương phép nước giữ vững Đất nước vững vàng, kinh tế cực phát triển, cũng nhờ công lớn lắm của các vua thời trước
Với ý nghĩa to lớn đó, hàng năm vào đầu xuân, các triều đại sau đó đều duy trì nghi lễ cày tịch điền với các hình thức khác nhau nhằm mục đích cho mùa màng bội thu, quốc thái dân an Riêng đến triều Nguyễn, lễ tịch điền có nhiều "niêm luật" cụ thể, được tổ chức quy mô, do bộ lễ chủ trì nhưng lễ này cũng chấm dứt dưới thời vua Khải Định
Lễ tịch Điền không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của các vị vua đối với người nông dân mà còn tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, lòng biết ơn tiền nhân, tích cực phát triển sản xuất
Sau nhiều năm thất truyền lần đầu tiên lễ hội tịch Điền được khôi phục vào thế kỷ X ở Hà Nam, trên quê hương vua Lê Đại Hành, sau một thời gian
Trang 30Bởi thế, mỗi người dân Hà Nam nói riêng, Việt Nam nói chung cần phát huy truyền thống thi đua lao động, sản xuất, phát triển kinh tế trên chính mảnh đất quê hương mình
Lễ hội tịch Điền bao gồm liên hoàn các nghi lễ và diễn xướng, kết hợp với văn hóa, nghệ thuật, thể thao Lễ hội được diễn ra diễn ra trong không gian rộng từ mồng 5-7 tết âm lịch với nhiều hoạt động Lễ hội gồm: Phần lễ (lễ cáo yết xin Thành Hoàng cho mở lễ hội tại đình Đọi Tam; lễ rước nước lên chùa Đọi; lễ sái tịnh tại chùa Đọi; hội thi vẽ và trang trí trâu; lễ cầu an trên chùa Đọi; biểu diễn nghệ thuật và đốt cây bông, pháo thăng thiên; lễ rước kiệu của làng Đọi Tam đi đón vua; lễ rước kiệu vua từ trên chùa xuống núi Đọi; cuối cùng là lễ tịch điền) Các nghi lễ này đều được phục dựng theo lối
cổ Phần hội (tổ chức các gian hàng trưng bày sản phẩm, bán hàng lưu niệm;
tổ chức giải vật Tịch điền Đọi Sơn và một số trò chơi dân gian, vui chơi giải trí)
Nghi lễ chính trong toàn bộ lễ hội là lễ tịch điền Đọi Sơn, tái hiện huyền tích từ thời Thập đạo tướng quân Lê Hoàn khi ông nhận thấy núi Đọi
có vị trí chiến lược quan trọng đối với kinh đô Hoa Lư đến khi lên ngôi vua,
Lê Đại Hành về chân núi Đọi cày ruộng để khuyến khích mở mang nông trang Lễ tịch điền được tiến hành theo thứ tự: vua Lê Đại Hành cày 3 sá, lãnh đạo tỉnh Hà Nam cày 5 sá, lãnh đạo huyện Duy Tiên cày 7 sá, lãnh đạo xã Đọi Sơn và các bô lão cày 9 sá
Vào năm 2010, lần đầu tiên chủ tịch nước Việt Nam ông Nguyễn Minh Triết cũng đã đến mặc áo nông dân cầm cày thực hiện nghi lễ tịch điền Đọi Sơn
Hội thi trang trí trâu cũng là một hoạt động khá sôi nổi trong lễ hội này Thay vì trang trí bằng vải đỏ thời xưa, nay những chú trâu tham gia lễ tịch điền được trang trí bằng những nét vẽ tứ linh, tứ quý Khoảng 30 chú trâu đã được 30 hoạ sĩ vẽ với những đề tài rất đa dạng, từ các hoa văn cổ, thư pháp chữ Hán, thư pháp quốc ngữ đến tranh phong cảnh Nhiều du khách, trong
Trang 31đó có cả du khách nước ngoài đã rất ngạc nhiên, thích thú và chụp ảnh lưu niệm với cảnh tượng đàn trâu tuyệt đẹp.… Chú trâu đoạt giải Nhất trong cuộc thi vẽ được dùng để cày khai lễ Tịch Điền diễn ra vào sáng 7 Tết Năm 2009 cũng là năm đầu tiên mà tỉnh Hà Nam tổ chức giải đấu vật tại Đọi Sơn, Duy Tiên (hàng năm đấu vật chỉ được tổ chức duy nhất ở làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam) nhằm tăng thêm phần tưng bừng cho lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn năm nay.Hơn 60 đô vật đến từ 6 huyện trong tỉnh với đủ các hạng cân giao đấu để tìm ra người thắng cuộc lọt vào vòng chung kết
Lễ hội góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời quảng bá tiềm năng du lịch của huyện Duy Tiên, nơi có nhiều danh thắng đẹp, có chùa Long Đọi Sơn
+ Lễ hội đền Trần Thương
Lễ hội Đền Trần Thương Thuộc thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, nằm
ở phía Đông của huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam giáp sông Hồng Hàng năm vào ngày 18 - 20/8 (âm lịch ) nhân dân địa phương nơi đây mở lễ hội phát lương nhằm tưỏng nhớ công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn
Đền Trần Thương là 1 trong 3 ngôi đền lớn của cả nước thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Lễ hội phát lương đền Trần Thương xuất phát từ sự tích Hưng Đạo Vương đặt ở đây 6 kho lương thực với đội quân thường xuyên canh gác để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ hai (1285) Địa điểm đền Trần Thương hiện nay là kho lương chính
Đền được dựng vào thời hậu Lê, sang thời Nguyễn thì làm lại Năm
1893, niên hiệu vua Thành Thái thứ năm thì trùng tu lần đầu Đền được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá năm 1989 Năm 2009 được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp nguồn tôn tạo, trùng tu lại ngôi đền và được
Trang 32Trung ương cấp ngân sách quy hoạch mở rộng, cho phép mở Đại lễ kỷ niệm
710 năm ngày mất của Trần Hưng Đạo vào năm 2010 Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cùng với UBND huyện, Hội Đồng hương Hà Nam ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhân dân và khách thập phương xa gần tâm đức cúng tiến, đền đã được trùng tu và xây dựng trong tổng diện tích là 25 ha để kịp cho Đại lễ
Dân gian có câu: “Tháng tám giỗ Cha” là nói về ngày giỗ Đức Thánh Trần Ngày “Giỗ Cha” là khi Trần Quốc Tuấn qua đời, ngày 20/8 năm Canh
Tý (tức năm Hưng Long thứ tám, ngày 5 tháng 9 năm 1300) Ông mất tại tư dinh ở Phủ Đệ Vạn Kiếp, nay là đền thờ Kiếp Bạc thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Kiếp Bạc cùng với Bảo Lộc (Nam Định - quê hương ông) và Trần Thương là 3 nơi chính tổ chức lễ hội hằng năm đáp ứng tâm nguyện của nhân dân về chiêm bái và “Giỗ Cha” Cũng rất nhiều nơi lập đền thờ ông, song nhân dân về Trần Thương vừa “Giỗ Cha” vừa bái yết xin
“Lương”, xin lộc như ở đền Bà Chúa Kho vậy
Có câu: “Sinh Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc” Chữ thác ở đây là gửi, là phó thác Ngay từ lúc sinh thời, Trần Hưng Đạo đã gửi gắm sinh phần ở Trần Thương, chính vì vậy mà nhiều người cho rằng “thác Trần Thương” có nghĩa là ông để phần mộ ở đây Ngay cả một số nhà ngoại cảm hiện nay cũng cho là như vậy Theo truyền thuyết, Kiếp Bạc là nơi sau kháng chiến chống quân Nguyên - Mông kết thúc thắng lợi (1288), ông xa giá hai Vua về Thăng Long (Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông) rồi trở về tư dinh tại Phủ Đệ, bên thung lũng Kiếp Bạc cạnh Lục Đầu Giang Đến khi lâm bệnh nặng, ông dặn con cháu: “Ta chết phải hỏa táng, cho xương vào những ống tròn chôn ở vườn An Lạc rồi trồng cây như cũ để người đời sau không biết đâu mà tìm” Lời di chúc này liệu có gắn với “Viên Lăng” (tức là vườn
mộ của ông) mà dân gian thường gọi ở một quả đồi nhỏ cách Kiếp Bạc 100m
Trang 33về phía Nam Cho đến nay, các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được mộ phần của Trần Hưng Đạo ở đâu Theo truyền thuyết, đám tang của ông có trên 70 chiếc quan tài từ tư dinh cùng một lúc xuất phát và đưa tang rải đi khắp nơi, có vợ con ông chia ra đi cùng
Tuy chưa biết nơi nào ông yên nghỉ, song với tâm thức của người dân dành tình cảm kính trọng Đức Thánh Trần là Cha, biểu tượng thiêng liêng về bậc Đại Nhân, Đại Trí, Đại Dũng của trăm họ nên hằng năm vào ngày 20/8
âm lịch, nhân dân và khách thập phương xa gần về chiêm bái và tưởng niệm Đức Thánh Trần trong ý niệm thiêng liêng là “Tháng tám giỗ Cha” đã từ lâu
Hàng năm, từ ngày 18 – 20/8 âm lịch, Ban Quản lý đền lại tổ chức lễ hội đền Trần Thương nhằm tri ân công đức to lớn của Đức Thánh Trần, đồng thời phát huy đạo lý uống nước nhớ nguồn, góp phần đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của nhân dân và du khách thập phương
Từ ngày mồng một đầu tháng, nhân dân đã đến cúng bái lấy phúc Đến mồng 10 là rước nước từ sông Hồng về Các cụ kể lại tục “rước nước” vừa
“nhập lương” như sau:
Nghi thức phát lương: Nghi thức này nhằm tái hiện lịch sử về “Phát
quân lương” khao quân của quân đội nhà Trần khi đánh thắng giặc Nguyên - Mông lần thứ 3 (1288) Lễ tế từ Tết Cả (tết Nguyên Đán) có gạo, hạt sen, đỗ
là sản phẩm của quê hương Dân gian có câu: “Cá Nhân Đạo, gạo Trần Thương” Đến giờ Tý ngày 15 tháng Giêng (Tết Thượng Nguyên - rằm Nguyên Tiêu, còn gọi là ngày Vía của Phật Tổ) là tiến hành tế, lễ rồi “Xuất lương - Phát lộc” (Lộc Đức Thánh Trần) Ngoài ra, trong các ngày mồng một
và rằm hằng tháng, cả 12 cái tết trong năm cũng đều cầu cho mùa màng, lương thực phúc lộc dồi dào Bà con ở xa đến cúng lễ và công đức đều có
“lương” ở đây mang về
Trang 34Tục rước nước: Trong Lễ hội ở nhiều nơi có tục rước nước để thực
hiện nghi thức gọi là “Mộc Dục” (tẩy uế, hoặc rửa vật linh, tắm tượng) Nhưng ở đền Trần Thương, rước nước về tức là giữ vận nước may mắn cho đời sau Không những thế, tục rước nước còn thể hiện là “nghinh lộc”, đón tinh khí của trời đất đem đến cho mùa màng
Còn có các nghi lễ cầu đảo, cúng tế đầu năm vào ngày tết Nguyên Đán, các vụ chiêm - mùa thì cầu cho bội thu với tâm ý là nơi kho lương của Đức Thánh Trần Ngày mười rằm hương đăng hoa quả, ngày 18 là ngày cúng Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng (con thứ 3 của ông) Ngày 20 là tổ chức dâng hương giỗ chính, tiến hành phần “Lễ” gọi là phần thiêng, trong không khí thiêng hóa làm lòng người cùng cộng cảm và cộng mệnh Hương trầm ngát tỏa, tất cả như thấy Hưng Đạo Đại Vương trên cao xanh, đang trầm
tư vạch kế sách giữ nước với những áng thiên cổ hùng văn bất hủ như:
“Vạn Kiếp Bí Tông Truyền thư”, “Binh Gia Diệu Lý Lếu lược” và “Hịch Tướng sỹ”
Lễ hội đền Trần Thương gồm hai phần Phần lễ có các nghi thức như:
lễ rước kiệu, lễ dâng hương, tế lễ… trong đó lễ “diễn xướng Thanh Đồng” và rước nước là những lễ nghi đặc trưng với ý nghĩa tôn vinh công lao, tài, đức của Đức Thánh Trần; đồng thời cầu cho “mưa thuận, gió hòa”, “phong đăng, hòa cốc”, “quốc thái, dân an”
Phần hội gồm nhiều trò chơi mang đậm màu sắc văn hóa dân gian truyền thống như đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm,kéo co, bịt mắt đập niêu, bắt vịt dưới nước, Trong đó, thi đấu cờ tướng là một hoạt động văn hóa rất có ý nghĩa nhằm tái hiện tài thao lược quân sự của Trần Hưng Đạo
Trang 35Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn bởi vì số lượng người về lễ đăng ký dự tế khá đông nên cần thêm ngày để
bố trí cho các đội tế Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền
Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội
có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm… Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng Tục này diễn ra trước các trò hội Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế Chủ
tế làm lề cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái Sau đó, cuộc chơi bắt đầu Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta
Lễ hội đền Trần Thương là một trong ba lễ hội vùng của tỉnh Hà Nam
Lễ hội này có ý nghĩa là một cuộc hành hương về cội nguồn không chỉ đối với người dân địa phương mà đối với người dân cả nước
+ Lễ hội đền Lảnh Giang
Đền Lảnh Giang thuộc thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên bên bờ hữu ngạn sông Hồng, sát cạnh chân đê nối với các tỉnh Hà Tây, Hà Nội, Nam Định nên rất thuận tiện cho giao lưu bằng đường sông và đường bộ
Đền Lảnh Giang thờ 3 vị tướng thời Hùng Duệ Vương Căn cứ vào cuốn thần tích “Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích” (Sự tích ra đời của một vị thuỷ thần triều vua Hùng) cùng sắc phong câu đối, truyền thuyết
Trang 36của địa phương thì ba vị tướng này đều là con của Bát Hải Long Vương và nàng Quý Khi giặc phương bắc kéo tới bao vây bờ cõi đánh chiếm nước ta, định cướp ngôi báu của Hùng Duệ Vương thì ba ông đã giúp vua Hùng đánh tan giặc giữ yên bờ cõi giang sơn. Chuyện kể rằng, một hôm nàng Quý ra bãi biển tắm, có một con thuồng luồng quấn quanh mình, về nhà nàng mang thai, sau đó sinh ra ba người con mặt rồng, mình cá chép, cao tám thước khác người Khi giặc phương Bắc bao vây bờ cõi, định cướp ngôi báu của vua Hùng Duệ Vương, ba vị bỗng trở thành các tướng giúp vua đánh tan giặc
Câu chuyện trên cho biết, nàng Quý ra biển tắm, là thuở đó vùng đền Lảnh Giang và vùng lân cận còn là cửa biển của sông Hồng Câu chuyện trên
có nói đến vua Hùng nên cũng liên quan đến truyền thuyết “Bà Âu Cơ đẻ trăm trứng” Bà Âu Cơ gặp Lạc Long Quân trên núi Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) và hợp hôn với ngài Bà là giống Tiên (chim) trên rừng, Long Quân là giống Rồng (tiền thân là rắn, thuồng luồng, sau này được các triều đại phong kiến ngày một trìu tượng hóa để lấy làm thần quyền) dưới sông nước
Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nở trăm người con trai 50 con theo mẹ lên rừng làm Sơn tinh (sơn thần), 49 con theo cha xuống bể làm Thuỷ tinh (thuỷ thần) Còn người con trai cả ở lại, được tôn phong làm vua Hùng thứ nhất
Như vậy, theo tư duy dân gian có thể suy ra tương ứng: Bát Hải Long Vương là do Lạc Long Quân biến hóa, nàng Quý chính là mẫu Âu Cơ, ba vị thuỷ thần thờ ở đền Lảnh Giang theo cha Lạc Long Quân xuống biển đã hóa thân thành các vị tướng giúp vua Hùng đời thứ XVIII đánh giặc (trong lễ hội đền Lảnh Giang ba vị thần này hiện lên là ba con thuồng luồng nở ra từ ba quả trứng
Cùng với việc thờ ba vị tướng thời Hùng, đền Lảnh Giang còn thờ Tiên Dung công chúa con gái vua Hùng và thờ Chử Đồng Tử một trong bốn vị
Trang 37thần bất tử của dân tộc Câu chuyện tình của hai người là một “Thiên tình sử” đẹp, được dân gian phủ lên chất huyền thoại lung linh
Truyền thuyết kể rằng: Chử Đồng Tử người làng Chử Xá (huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên ngày nay) Chẳng may nhà bị cháy, mất hết của cải, hai cha con Chử chỉ còn độc chiếc khố Lúc cha mất, Chử lấy khố liệm cha, còn mình thì ở trần truồng, ban ngày dầm nửa người dưới sông bắt cá bán cho các thuyền buôn qua lại Thuở ấy vua Hùng thứ XVIII có cô con gái tên là Tiên Dung, thích ngao du, không chịu lấy chồng Một hôm thuyền của Tiên Dung đến vùng, nghe thấy tiếng chiêng trống, lại thấy nghi trượng…, Chử hoảng sợ vùi mình vào cát lẩn tránh Thấy cảnh hoang sơ, sông nước mát mẻ, Tiên Dung ghé lên bờ sai người quây màn ở bụi lau để tắm Ngờ đâu đúng ngay chỗ Chử Đồng Tử, nước xối dần để lộ một thân hình trần trụi Tiên Dung kinh ngạc, hỏi han sự tình, nghĩ là do ý trời nên xin được cùng Chử Đồng Tử nên duyên chồng vợ
Vua Hùng biết chuyện, giận dữ vô cùng, không cho con gái về cung Tiên Dung ở lại cùng chồng mở chợ, đổi chác với dân gian, buôn bán tấp nập với người trong nước và ngoài nước Một lần đi buôn, Chử Đồng Tử gặp đạo
sĩ Phật Quang trên núi, bèn xin học phép thuật Phật Quang cho Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, dụ rằng đây là những vật thần thông Về nhà Chử Đồng Tử bàn với vợ cùng đi tầm thầy học đạo Một hôm đi giữa đường thì trời tối, vợ chồng Chử bèn cắm gậy, úp nón lên cùng nghỉ Bỗng nửa đêm chỗ đó nổi lên thành quách, cung vàng, điện ngọc nguy nga, lính tráng người hầu tấp nập Sáng hôm sau dân chúng quanh vùng kinh ngạc, bèn dâng hoa thơm quả ngọt, xin làm bầy tôi Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng Nghe tin, vua Hùng cho rằng vợ chồng Chử Đồng Tử có ý tạo phản, vội xuất binh đến đánh Tiên Dung từ chối không kháng cự cha mình Trời tối, nhà vua đóng quân ở bãi Tự nhiên cách đó một con sông Đến nửa
Trang 38đêm bỗng nhiên bão to gió lớn nổi lên, thành trì, cung điện, lính tráng và cả bầy tôi cùng Tiên Dung - Chử Đồng Tử phút chốc bay lên trời, chỗ nền đất cũ bỗng sụp xuống thành một cái đầm lớn Dân trong vùng gọi đó là đầm Nhất
Dạ Trạch (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự nhiên hoặc Bãi Màn Trù, và chợ đó gọi là chợ Hà Thị
Như vậy mối tình Tiên Dung - Chử Đồng Tử được dân gian coi là lẽ tự nhiên, do ý trời Khi cộng đồng người Việt cổ chưa có sự phân hóa giai cấp, đang theo dòng sông Hồng chảy về phía biển lùi, chinh phục những vùng đất mới màu mỡ phù sa, thì họ coi đó cũng là lẽ tự nhiên của sự sống Người Việt
cổ thấy rằng, những bãi phù sa tự nhiên đó nhanh chóng cho họ một cuộc sống sung túc, vượt bậc (nên trong truyền thuyết Tiên Dung - Chử Đồng Tử nói chỉ trong vòng nửa đêm thành quách, cung điện nguy nga… nổi lên) Chử Đồng Tử được người Việt cổ suy tôn là người anh hùng văn hóa trong việc khai khẩn và làm chủ những vùng đất ấy, là vị thần bất tử trong đời sống tâm linh người Việt
Đền Lảnh Giang là một công trình kiến trúc quy mô mang đậm nét phong cách cổ truyền của dân tộc.Tổng thể kiến trúc gồm ba toà với 14 gian lớn nhỏ làm theo kiểu chữ Công.Hai bên có nhà khách, mặt bằng nội công ngoại quốc Đặc biệt toà Trung đường làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái cong Bàn tay khéo léo của các nghệ nhân xưa đục, chạm, gọt, tỉa tạo nên các mảng trạm khắc với các đề tài tứ linh (Long, Ly ,Quy, Phượng) cổ kính trang nghiêm và thanh thoát sinh động.Trong quần thể di tích đền Lảnh Giang còn có đền Cửa Sông (Đền cờ) cách đền Lảnh Giang độ 50m về phía đông Đền Cửa Sông cũng là một công trình kiến trúc đồ sộ làm theo kiểu chồng diêm mái cong lợp ngói nam, mặt tiền giáp với sông hồng, cảnh quan thật thơ mộng, sóng nước dạt dào
Trang 39Lễ hội đền Lảnh Giang hàng năm được tổ chức vào các ngày từ 18 đến
25 tháng 6 và tháng 8 hàng năm Tục lệ xưa: Ngày 18 nhân dân địa phương tổ chức chồng kiệu, kéo cờ thần trước cửa đền, Những ngày sau là công việc chuẩn bị cho tế lễ Ngày 21 làm lễ cáo kỵ, từ 22 – 24 là chính tế, ngày 25 lễ
tạ, hạ cờ Đồ tế thường là cỗ chay, lợn đen, rượu, hoa quả, bánh trái…Cùng với tế lễ, địa phương còn tổ chức rước kiệu thánh xung quanh đền Trong những ngày tế chính nhân dân các thôn xã lân cận Hoàn Dương, Đô quan, đền Yên Từ - nơi thờ Nguyệt Hoa công chúa đệ nhị cung tần cua Hùng thứ 18 (Hùng Duệ Vương) cũng đều chồng kiệu rước về đền Lảnh Giang bái vọng Phần hội được tổ chức phong phú đa dạng với các trò chơi truyền thống như múa rồng, múa lân, múa sư tử, võ thuật, đánh gậy, chọi gà, tổ tôm điếm, bắt vịt dưới nước, cùng các hoạt động văn nghệ như chiếu chèo sân đền…Bên cạnh các trò chơi truyền thống, các hoạt động văn hoá thể thao diễn ra càng làm tăng thêm không khí tưng bừng của ngày hội như thi đấu cầu lông, bóng bàn, bóng truyền, bóng đá và các tối giao lưu văn nghệ giữa các thôn trong xã
và giữa các xã trong huyện Lễ hội đền Lảnh Giang là dịp để nhân dân tưởng nhớ những người có công với dân với nước, đồng thời động viên mọi người phấn đấu yên tâm xây dựng gia đình, quê hương đất nước
Từ lâu đền Lảnh Giang vẫn được coi là nơi linh thiêng Khách đến đền Lảnh Giang không chỉ vào hai kỳ tháng 6 và tháng 8 mở lễ hội, mà những năm gần đây diễn ra hầu như quanh năm Khách ở nhiều tỉnh thành phố như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh …về đây để được đáp ứng nhiều nhu cầu: tín ngưỡng, tâm linh, tìm hiểu lịch sử, thưởng ngoạn cảnh đẹp…
Du khách hành hương về đền Lảnh Giang, cầu khấn các vị thuỷ thần thời Hùng vương, cầu khấn mẫu Tiên Dung, thăm thú quần thể di tích, cảnh quan nơi đây, nhớ qua cầu Yên Lệnh tiếp tục hành hương thăm viếng Bãi Tự nhiên, Đầm Nhất Trạch - nơi ghi dấu Thiên tình sử Tiên Dung - Chử Đồng Tử
Trang 40mà ngẫm nghĩ về cội nguồn, cùng quá trình phát triển của dân tộc nơi hạ lưu vực sông Hồng.
+ Lễ hội chùa Bà Đanh
Khái quát chung về di tích lịch sử chùa Bà Đanh - Núi Ngọc Chùa Bà Đanh và Núi Ngọc nằm về phía Đông Nam xã Ngọc Sơn Ba mặt khu di tích này có dòng sông Đáy bao quanh Trước cách mạng tháng tám năm 1945 khu vực chùa Bà Đanh nằm tách ra xa khu dân cư Tại đây cây cối um tùm nên vắng người qua lại Mỗi khi dân làng có việc phải lên chùa vào buổi tối lại phải đốt đuốc và gõ chiêng gõ trống để xua đuổi thú dữ Chính vì vậy dân gian truyền tụng câu: “Vắng như chùa Bà Đanh”
Sự kiện nhân vật lịch sử liên quan đến di tích Chùa Bà Đanh cũng như nhiều chùa khác ở miền Bắc Việt Nam trên điện thờ rất phong phú gồm nhiều tượng Phật và tượng Bồ Tát Đây là nét tiêu biểu chung cho các chùa thờ Phật theo phái Đại Thừa Trong chùa không chỉ có tượng Phật mà còn có tượng của Đạo giáo như: Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu và các tượng Tam Phủ, Tứ Phủ của tín ngưỡng dân gian Chùa còn thờ Tứ Pháp là một sản phẩm tôn giáo hoàn toàn mang tính chất bản địa
Chùa Bà Đanh còn có tên chữ là Bảo Sơn tự, cạnh hòn núi Ngọc nổi tiếng thơ mộng và linh thiêng Từ bao đời nay, ngôi chùa này được thêu dệt với nhiều truyền thuyết lạ kỳ mà tâm điểm là tượng Bà Đanh
Căn cứ vào ngọc phả và truyền thuyết còn truyền tụng trong nhân dân thì lịch sử nhân vật được thờ như sau: Vào thế kỉ thứ II ở Mãn Xá, huyện Siêu Loại, Thuận Thành (Bắc Ninh) có gia đình ông Tu Định hay làm việc thiện nhưng khó về đường con cái, sau vì thành kính cúng lễ ở chùa nên sinh đuợc một nguời con gái, đặt tên là Man Nương Nàng là một phụ nữ tính rất ôn hòa, không thích lấy chồng chỉ thích tuần nhật niệm phật cầu kinh