1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dân chủ với lao động sáng tạo của trí thức Việt Nam hiện nay

129 447 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, về lao động của trí thức và những yếu tố tác động đến lao động của trí thức, có các công trình sau: Đỗ inh Khuê 1989, “Tìm hiểu một số nhân tố kích thích lao động sáng tạo của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ THỊ HẰNG

DÂN CHỦ VỚI LAO ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA

TRÍ THỨC VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ THỊ HẰNG

DÂN CHỦ VỚI LAO ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA

TRÍ THỨC VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Phượng

Hà Nội – 2010

Trang 3

Chương 3: XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG DÂN CHỦ TRONG LAO

ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM HIỆN NAY 77

3.1 Lao động sáng tạo của trí thức Việt Nam hiện nay: Thành tựu

3.2 Những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện môi

trường dân chủ trong lao động sáng tạo của trí thức Việt Nam 104

Trang 4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

TW

QĐ XHCN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân loại đang dần chuyển sang một thời kỳ mới, đó là thời kỳ của nền kinh tế tri thức Cùng với nền kinh tế đó là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội và quá trình phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới Vì vậy, trong thời kỳ này, việc

sử dụng, phân phối trí lực và lao động sáng tạo của trí thức có ý nghĩa quan trọng Đội ngũ trí thức ngày càng có vai trò to lớn đối với sự phát triển và tiến bộ của xã hội Những quốc gia nào nhận thức rõ vai trò của đội ngũ trí thức, phát huy lao động sáng tạo của họ, tận dụng tối đa chất xám sẽ phát triển theo kịp xu thế của thời đại, còn ngược lại quốc gia đó sẽ tụt hậu và kém phát triển

Đặc trưng quan trọng nhất của trí thức là lao động sáng tạo - tài sản quý giá nhất của mỗi quốc gia và nhân loại, sức mạnh nội sinh tạo nên sự phồn vinh của đất nước Ngày nay thế giới đánh giá sức mạnh của mỗi quốc gia chủ yếu là vốn tài chính và vốn tri thức Xã hội loài người càng phát triển thì vị trí, vai trò của trí thức ngày càng tăng, đòi hỏi phải tạo ra nhiều tri thức mới – tiến bộ - hữu ích, sản phẩm phong phú, đa dạng…đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước Vì vậy, nước nào có vốn tri thức giàu có, biết phát huy lao động sáng tạo của trí thức thì nước đó sẽ phát triển nhanh, bền vững trong hiện tại và tương lai.Việc thúc đẩy lao động sáng tạo của trí thức là xu thế của thời đại, là một chiến lược phát triển của các quốc gia Để phát huy được lao động sáng tạo của trí thức phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trong đó dân chủ là yếu tố cơ bản, trực tiếp tác động tới lao động sáng tạo của trí thức Lao động của trí thức thực sự phát huy hết khả năng sáng tạo của mình khi có môi trường, thời gian, chế độ, không khí làm việc tự

do, dân chủ, công bằng, bình đẳng và tạo mọi điều kiện vật chất, tinh thần cho

họ Chỉ có đân chủ và môi trường làm việc dân chủ, công bằng mới đảm bảo sự phát triển khả năng sáng tạo và cống hiến của đội ngũ trí thức

Trang 6

Ở Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy tốt vai trò của mình Đội ngũ trí thức nước ta đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, trước bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thế giới, trí thức nước ta còn nhiều hạn chế, không ít hiện tượng lãng phí chất xám, bạc chất xám… đặc biệt đội ngũ này chưa phát huy hết khả năng sáng tạo của mình, còn thụ động, không phát huy hết tính tự giác, tích cực trong lao động và nghiên cứu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là do môi trường dân chủ chưa hoàn thiện, chưa tạo ra những môi trường thuận lợi để họ nhiệt tình, say mê, tích cực và sáng tạo hơn trong công tác chuyên môn của mình Như vậy, một trong những động lực trực tiếp và vô cùng quan trọng thúc đẩy lao động sáng tạo của trí thức Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay đó là yếu tố dân chủ và môi trường dân chủ

Với lý do đó, tôi chọn vấn đề “ Dân chủ với lao động sáng tạo của trí thức Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài luận văn, đã có nhiều công trình được công bố Có thể phân chia các công trình này thành các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, Về vị trí, vai trò của trí thức trong sự phát triển của xã hội, có các

công trình tiêu biểu sau:

Phan Việt Dũng (1988), “Vị trí, vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ

quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, luận án phó tiến sĩ triết học, đã phân

tích rõ vị trí, vai trò của tầng lớp trí thức Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa ác - Lênin, trên cơ sở đó, tác giả đã

phân tích sự hình thành của tầng lớp trí thức Việt Nam, xác định vai trò của tầng lớp này đối với ba cuộc cách mạng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trang 7

Nguyễn Thanh Tuấn (1998), Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, Nxb

CTQG, Hà Nội Cuốn sách đã nêu lên vị trí, vai trò, thực trạng của đội ngũ trí thức, những thành tựu mà đội ngũ trí thức đã đạt được sau mười năm đổi mới đất nước và những hạn chế của đội ngũ này, từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp cơ bản để khắc phục và tiếp tục phát huy

Phạm Tất Dong (2001), Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam

trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG Hà Nội, đề cập toàn diện và

sâu sắc hơn về tình hình của đội ngũ trí thức, khẳng định những thắng lợi của sự nghiệp đổi mới Trước những yêu cầu của thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt những yêu cầu, đòi hỏi của nền kinh tế tri thức, công trình đã đưa ra những những định hướng, giải pháp để đội ngũ trí thức tiếp tục phát huy năng lực của mình thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nguyễn Đắc Hưng (2005), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển của

đất nước, Nxb CTQG Hà Nội, nghiên cứu, phân tích rõ thực trạng của đội ngũ trí

thức hiện nay về chất lượng, số lượng, cơ cấu, sự phân bố đội ngũ trí thức ở các vùng miền, độ tuổi, giới tính … cụ thể hóa bằng một số các bảng biểu, số liệu cụ thể để từ đó đưa ra những giải pháp hữu ích trong thực tế

Thứ hai, về lao động của trí thức và những yếu tố tác động đến lao động

của trí thức, có các công trình sau:

Đỗ inh Khuê (1989), “Tìm hiểu một số nhân tố kích thích lao động sáng

tạo của người trí thức”, Tạp chí Khoa học xã hội (Số 1) Tác giả đã bước đầu

thấy được vai trò lao động sáng tạo của trí thức và tìm hiểu những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến lao động sáng tạo, đặc biệt sau những năm đổi mới;

Phan Thanh Khôi (1992), “Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở

nước ta hiện nay”, luận án Phó Tiến sĩ khoa học, cơ bản đã phân tích và làm rõ

khái niệm, đặc điểm của trí thức và những đặc trưng lao động sáng tạo của trí thức, từ đó tác giả nghiên cứu sâu hệ thống các yếu tố động lực thúc đẩy lao động sáng tạo và đưa ra những giải pháp cơ bản góp phần thúc đẩy lao động

Trang 8

sáng tạo khắc phục những hiện tượng “bạc chất xám”, “chảy chất xám”… đang diễn ra ở nước ta thời kỳ này…

Nhìn chung, có nhiều công trình, sách báo quan tâm nghiên cứu về đội ngũ trí thức, nhưng tất cả các công trình đó đều nghiên cứu ở các góc độ, khía cạnh khác nhau Gần đây, xuất hiện nhiều công trình bàn về đội ngũ trí thức trong các lĩnh vực cụ thể như trí thức khoa học xã hội nhân văn, trí thức trẻ, trí thức nữ… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về động lực trong lao động sáng tạo của trí thức còn ít Đặc biệt, chưa có công trình khoa học độc lập nào nghiên cứu tác động của dân chủ tới lao động sáng tạo của trí thức nói chung và trí thức Việt Nam nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Lao động sáng tạo của trí thức và dân chủ - động lực thúc đẩy lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: chủ yếu tập trung làm rõ dân chủ với tư cách là động lực trực tiếp thúc đẩy lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay (từ sau năm 1986)

4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

- ục đích: Luận văn làm rõ tác động của dân chủ, như một động lực thúc đẩy lao động sáng tạo của trí thức Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng và hoàn thiện môi trường dân chủ đối với trí thức Việt Nam hiện nay

- Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

Trang 9

+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu xây dựng và hoàn thiện môi trường dân chủ đối với lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn thực hiện dựa trên lý luận của chủ nghĩa ác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí inh, các văn kiện, nghị quyết Đại hội của Đảng và Nhà nước liên quan đến trí thức và đội ngũ trí thức nước ta hiện nay Ngoài ra, luận văn còn kế thừa, tiếp thu các công trình nghiên cứu, bài viết, luận án… trong và ngoài nước

Cơ sở thực tiễn: Luận văn dựa trên tình hình thực tiễn của đội ngũ trí thức nước ta từ sau khi đổi mới (1986) đến nay

Phương pháp nghiên cứu: luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic và lịch sử…

6 Ý nghĩa của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Luận văn làm rõ tác động của dân chủ với lao động sáng tạo của trí thức và đề xuất một số giải pháp xây dựng và hoàn thiện dân chủ trong lao động sáng tạo của trí thức Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu

và giảng dạy những vấn đề liên quan đến trí thức Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần ở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 10

Chương 1 TRÍ THỨC VÀ LAO ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA TRÍ THỨC

1.1 Quan niệm về trí thức

1.1.1 Khái niệm trí thức

Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Intelligentia” chỉ những người có hiểu biết, thông thái, có tri thức… Đến nay, việc đưa ra một khái niệm về trí thức hoàn chỉnh, đầy đủ về mặt nội hàm rất phức tạp vì sự xuất hiện của tầng lớp trí thức rất đa dạng trong từng giai đoạn lịch sử ỗi người đều có cách tiếp cận riêng về khái niệm trí thức và mỗi khái niệm đều có tính hợp lý của nó Theo lý luận của chủ nghĩa ác – Lênin, trí thức được đề cập đến như một tầng lớp xã hội đặc biệt Vào giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã đạt được những bước tiến quan trọng về kinh tế, nền đại công nghiệp đã cơ bản hoàn thành ở các nước tư bản Châu Âu, nhờ sự phát triển của khoa học và kỹ thuật,

C ác đã nhận rõ vị trí, vai trò của trí thức ặc dù chưa đưa ra khái niệm đầy

đủ về trí thức, nhưng trong tác phẩm “Lý luận về giá trị thặng dư” Tập IV của

Bộ “Tư Bản” C.Mác đã căn cứ vào những hình thức cơ bản của lao động trí óc

để chia trí thức thành ba nhóm: Hai hình thức lao động trí óc là hình thức lao động của các nhà văn, nhà báo, những người hoạt động nghệ thuật và hình thức lao động của các nhà lý luận tuyên truyền, giáo viên, bác sĩ, luật sư, giới sỹ quan, viên chức, các nhà hoạt động chính trị Hai hình thức này nằm trong khu vực sản xuất phi vật chất, còn hình thức thức ba là hình thức lao động của các kỹ sư, các nhà khoa học, kinh tế nằm trong khu vực sản xuất vật chất Theo C ác, thời đại càng phát triển thì càng cần những con người có một khối lượng kiến thức chung

và chuyên sâu nhất định, một trình độ văn hóa nhất định mới tham gia vào nền sản xuất xã hội Bộ phận trí thức thứ ba với lao động trí tuệ của mình đã tham gia trực tiếp vào việc sản xuất ra của cải vật chất, biến lao động của mình thành

tư bản Từ đó C ác quan niệm thành phần xã hội của trí thức gồm những đối tượng cụ thể sau:

+ Các nhà văn, nhà báo, những người hoạt động nghệ thuật

Trang 11

+ Các nhà lý luận tuyên truyền, giáo viên, bác sĩ, luật sư, giới sỹ quan, viên chức và các nhà hoạt động chính trị

+ Các kỹ sư, các nhà khoa học, kinh tế

Đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xuất phát từ nhu cầu của

thực tiễn, V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa trí thức: “Tôi dùng từ trí thức, giới trí

thức để dịch những danh từ Đức Literat, Literatentum là những danh từ có nghĩa bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc (tức là những người mà người Anh gọi là Brainworker khác với những đại biểu của lao động chân tay” [36, tr 372] Người đã quan tâm đến

trí thức như một tầng lớp xã hội đặc biệt, không có hệ tư tưởng riêng, luôn phục

vụ cho một giai cấp nhất định trong xã hội Vì vậy, trong xã hội đương thời, nhất

là xã hội nước Nga, V.I.Lênin chia trí thức thành 3 nhóm: trí thức tư sản, trí thức tiểu tư sản, trí thức vô sản Dưới chủ nghĩa tư bản, số lượng trí thức được tăng lên hết sức nhanh chóng nhờ kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật V.I Lênin yêu cầu phải có cách ứng xử và phương pháp tiếp cận khác nhau đối với từng nhóm trí thức V.I.Lênin đánh giá rất cao về khả năng, sức mạnh và tính độc lập của trí thức trong xã hội Các lãnh tụ của một giai cấp nhất định ở mọi nơi thường là những người tiến bộ và có tri thức nhất định Đặc biệt là, V.I.Lênin chú ý tới giới sinh viên, coi sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất V.I.Lênin gọi sinh viên là người châm ngòi, là bộ phận luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh chống các thế lực phản động V.I.Lênin đã nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của trí thức, đưa ra định nghĩa trí thức toàn diện hơn, coi trí thức là một tầng lớp trung gian, là những người có hiểu biết và trình độ văn hóa cao so với các tầng lớp xã hội khác

Tóm lại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa ác - Lênin nhận thấy trí thức là

lực lượng xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân Xã hội càng phát triển thì tầng lớp trí thức càng có vai trò to lớn, nhất là trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và văn hóa tư tưởng

Trang 12

Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về trí thức Trong cuốn từ điển

Triết học của Nhà xuất bản atxcơva, ban hành năm 1986, có ghi: “Trí thức –

tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm: kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sỹ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức” [64, tr 598] Ở định nghĩa này,

lao động trí óc được coi là tiêu chí cơ bản để xác định trí thức Trong từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học của Nhà xuất bản atxcơva, được ban hành cùng

năm 1986 lại viết: “Trí thức - một nhóm xã hội bao gồm những người chuyên

làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó” [ 65, tr 111] Ở đây, tiêu chí để xác định trí thức không chỉ

là lao động trí óc, cụ thể hơn là lao động trí óc phức tạp mà còn bao gồm cả trình

độ học vấn Trong Bách khoa toàn thư Pháp, tập X viết như sau: “Trí thức là một

phạm trù lịch sử Ở mỗi nước khác nhau, khái niệm trí thức có khác nhau Ở thời đại khác, chức năng của trí thức có khác nhau Trong đời sống xã hội, trí thức

có vị trí nhất định Họ có thể có thái độ đơn thuần “trùm chăn”, cũng có thể tích cực dấn thân vào hoạt động chính trị Người ta có thể nói trí thức là kỹ sư, quan chức, nhà phản biện xã hội tâm lý học, nhà hoạt động cách mạng Trong xã hội

ổn định, trí thức có thể là những quan chức của chế độ hiện hành, trong xã hội khủng hoảng, họ có thể trở thành nhà lý luận cách mạng, trong xã hội buồn thảm, thậm chí họ bị coi là kẻ bung xung” [ Dẫn theo 12, tr 5] Theo định nghĩa

này, quan niệm trí thức ở mỗi nước sẽ là khác nhau, vị trí và vai trò của họ trong

xã hội cũng khác nhau

Ở Việt Nam, trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến rất quan tâm đến trí thức Từ khi Văn miếu Quốc Tử Giám – trường Đại học đầu tiên của Việt Nam được xây dựng, việc đào tạo nhân tài ngày càng được coi trọng hơn Kế thừa truyền thống đó, ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, vai trò của đội ngũ trí thức càng

Trang 13

được nhấn mạnh Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta định nghĩa: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” [18, tr 81]

Trí thức Việt Nam xuất thân từ nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội, nhất là từ công nhân và nông dân, phần lớn trưởng thành trong xã hội mới, được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp nhau, trong đó có bộ phận khá đông trí thức người Việt Nam ở nước ngoài

Từ những quan niệm về trí thức như trên có thể hiểu trí thức là một tầng

lớp xã hội đặc biệt, bao gồm những người lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có khả năng sáng tạo ra những tri thức mới – tiến

bộ - hữu ích và truyền bá những tri thức đó đồng thời ứng dụng nó vào thực tiễn

1.1.2 Đặc trưng của trí thức

Thứ nhất, trí thức là người lao động trí óc

Trí thức là người lao động trí óc, lao động đòi hỏi sự hao phí năng lượng thần kinh ở mức độ cao hơn Đó là điều đầu tiên để phân biệt trí thức với những người lao động chân tay Đặc trưng của lao động trí óc là những thao tác của tư duy, còn đặc trưng của lao động chân tay là những thao tác của cơ bắp

Khi lực lượng sản xuất còn hết sức lạc hậu, thấp kém, xã hội chưa có sự phân biệt giữa lao động chân tay với lao động trí óc thì chưa xuất hiện trí thức Vào giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy, hình thành sự phân công lao động xã hội trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển hơn, trong đó có sự phân công giữa lao động trí óc và lao động chân tay Sự xuất hiện của lao động trí óc dẫn đến sự

ra đời của trí thức Đó cũng là khi xã hội có sự phân chia giai cấp và nhà nước ra đời Do vậy, trí thức ra đời mang tính lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới của nhân loại Trí thức xuất hiện gắn liền với sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay Lao động trí óc là đặc trưng của trí thức

Trang 14

Tuy nhiên, sự phân biệt lao động trí óc và lao động chân tay chỉ mang tính chất tương đối, thể hiện ở chỗ: trong quá trình thực hiện công việc, chủ yếu là chi phí năng lượng thần kinh trung ương hay chi phí năng lượng cơ bắp Sản phẩm trực tiếp của lao động trí óc là giá trị tinh thần, còn sản phẩm trực tiếp của lao động chân tay là giá trị vật chất Lao động của “trí thức” là lao động “chất xám” tạo ra những sản phẩm trí tuệ Nhà khoa học, kiến trúc sư, nhà văn… không phải là những người đi vào trực tiếp sản xuất, trực tiếp thao tác với các công cụ lao động, họ đều là những người lao động trí óc Còn người công nhân thực hiện những công trình, những bản vẽ, sáng chế của họ là những người trực tiếp sản xuất, người lao động chân tay Tất cả những nhà văn, kỹ sư, bác học, những người trí thức lao động ngay trong công xưởng, nhà máy cùng với người công nhân nhưng với công việc đặc thù chuyên môn khác nhau

Lao động trí óc của con người không tách rời và đối lập với lao động chân tay Hơn nữa cùng với sự phát triển của khoa học và sự phát triển về quy mô và chất lượng của hoạt động khoa học mà dần dần tiến bộ xã hội sẽ đạt được ở mức

độ mở rộng hàm lượng lao động trí óc, hàm lượng trí tuệ ngay trong lĩnh vực sản xuất vật chất trực tiếp Lao động của con người ngày càng được trí tuệ hóa, tiến

bộ khoa học kỹ thuật - công nghệ sẽ tăng cường khả năng giải phóng con người

ra khỏi lao động chân tay, cơ bắp nặng nhọc, nhân lực lao động có trình độ phát triển trí tuệ cao hơn và nguồn lực trí tuệ ngày càng phát huy được vai trò của mình đối với sự phát triển của xã hội Đặc trưng của lao động trí óc là huy động năng lực trí tuệ tập trung ở mức độ cao nên hoạt động nhận thức phải có tính mục đích, tính tự giác, tính sáng tạo Đó là chỗ phân biệt nhận thức thông thường

ở tất cả mọi người bình thường với nhận thức khoa học ở cấp độ lý luận Đồng thời, đó cũng là sự phân biệt giữa ý thức thông thường trong đời sống hàng ngày

và hệ tư tưởng ọi công dân trong xã hội có học vấn và học thức đến một trình

độ nhất định đều có quyền tham gia vào hoạt động khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật là chuyện bình thường, lành mạnh Điều đó phản ánh quyền dân

Trang 15

chủ và trình độ phát triển văn hóa xã hội của quốc gia ặt khác, lao động trí óc của người trí thức đòi hỏi tính chuyên môn cao, được đào tạo chuyên nghiệp - đây cũng là bộ phận tiêu biểu, là tiềm lực quan trọng cho sự phát triển của một quốc gia Những nhà khoa học lớn, những chuyên gia bậc cao đi sâu vào những phát minh, sáng chế ở từng lĩnh vực chuyên môn khác nhau Thậm chí những người làm việc trong lĩnh vực ứng dụng, thực hành, kỹ thuật hay công nghệ hiện đại gắn trực tiếp với lao động sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội thì lao động của

họ cũng được huy động đến một mức độ lớn những năng lực trí tuệ chứ không phải những động tác cơ bắp giản đơn Dù trong số những người này, tất cả họ không phải đều là những nhà khoa học, là học giả hay các chuyên gia… mà họ chỉ là các chuyên viên kỹ thuật – công nghệ, các công nhân, thợ kỹ thuật… thì

họ cũng phải trải qua đào tạo, có nghiệp vụ, có tay nghề bậc cao

Với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng tăng thì lao động chân tay hiện nay đang biến đổi nhiều, làm việc khoa học, hiện đại hơn, lao động chân tay và lao động trí óc có khuynh hướng xích lại gần nhau C.Mác nói: “ ột người riêng rẽ không thể tác động đến tự nhiên nếu không vận động các bắp thịt của mình dưới sự kiểm soát của bộ não của mình Cũng như trong hệ thống tự nhiên, đầu và tay gắn bó với nhau, thì trong quá trình lao động, lao động trí óc và lao động chân tay cũng kết hợp lại với nhau.” [45, tr 718] Trong thực tế hiện nay, năng lượng trí tuệ của trí thức ngày càng nhiều, khối lượng tích lũy kiến thức ngày càng lớn để đáp ứng với nhu cầu phát triển của xã hội Vì vậy, người trí thức phải là người có trí tuệ và năng lực tư duy sáng tạo, có trình

độ học vấn cao và chuyên môn sâu nhất định Trình độ ở mức nào còn tùy thuộc vào thời đại, điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc Ngày nay người ta đã cơ bản thống nhất rằng: điều kiện cần để trở thành trí thức cần phải có trình độ học vấn ít nhất ở bậc đại học, cao đẳng

Trang 16

Thứ hai, sản phẩm lao động của trí thức là những tri thức khoa học

Sản phẩm lao động của trí thức là những tri thức khoa học, khác với lao động của công nhân, nông dân là tạo ra những giá trị vật chất, thông qua sản xuất trực tiếp mà có Sản phẩm lao động của trí thức bao gồm một hệ thống các tri thức của con người phản ánh kết quả và trình độ nhận thức của con người về thế giới đối tượng (gồm tự nhiên, xã hội và bản thân con người) Những tri thức đó được thể hiện bằng hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật… là những công cụ nhận thức, phản ánh hiện thực Đó là tri thức thuộc về các khoa học cơ bản được xây dựng từ những nghiên cứu lý thuyết cơ bản Nó là cơ sở, lý luận để đi vào nghiên cứu ứng dụng, đi vào các khoa học chuyên ngành ột khi các khoa học chuyên ngành ứng dụng vào trong thực tiễn lại góp phần thẩm định giá trị của khoa học, phát hiện ra những cái mới nảy sinh khi cọ sát với thực tiễn Vì thế nó thúc đẩy khoa học phát triển và hoàn thiện Trong mỗi bước tiến của sản xuất, mỗi khi nhu cầu của sản xuất xuất hiện, khoa học lại phải có những điều chỉnh

và phát triển mới đáp ứng nhu cầu đó… Những nguyên lý, những tư tưởng cũ bị phủ định, mở đường cho những tư tưởng tiến bộ, những công nghệ hiện đại trong khoa học phát triển và khẳng định Thành tựu ấy của khoa học lại mở đường cho

sự ra đời của kỹ thuật và công nghệ mới ra đời

Dù kỹ thuật, công nghệ nào cũng có cơ sở lý thuyết, khoa học làm nền tảng

Đó là chưa nói đến tính quy luật của sự phát triển khoa học có sự phân ngành, hợp thành và sự kết hợp giữa các ngành, chuyên ngành khoa học với nhau, đồng thời có sự liên hệ hữu cơ, không tách rời giữa khoa học, kỹ thuật và công nghệ Như vậy, tri thức lúc nào cũng được coi là cơ sở của khoa học, của lao động trí thức Nhà giáo dục học Xukhômlinxki (Liên Xô cũ) nói: Dạy cho con người ngay từ khi còn nhỏ tuổi biết làm quen với phương pháp lao động trí tuệ, coi đó

là lao động trung thực - dũng cảm - sáng tạo để sao cho mỗi bài học trong sách kết hợp tự nhiên nhất với lao động hàng ngày trở thành bài học tập luyện nhân cách vào đời Ông đã viết nên tác phẩm “ Giáo dục con người chân chính như

Trang 17

thế nào?” thể hiện chân thực và cảm động nhất lẽ sống, lý tưởng đạo đức, khoa học của người trí thức

Những tri thức khoa học cần thiết cho cuộc sống, cho xã hội nhưng nó không thể nhanh chóng sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng cho xã hội ngay được Những tri thức đó đi vào cuộc sống nếu được thực tiễn và con người kiểm nghiệm bởi tính đúng đắn và hữu ích điều đó có thể thúc đẩy sự phát triển của xã hội gấp nhiều lần những của cải vật chất có thể đo đếm được Tuy nhiên, từ tri thức khoa học đến công nghệ và từ công nghệ đi vào sản xuất ra của cải, hàng hóa… cần phải có thời gian Dù thế giới đang phát triển nhanh chóng, rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất, từ thí nghiệm đến sản xuất đại trà, thì vẫn cần phải có một thời gian nhất định cho bước chuyển hóa đó

Tri thức khoa học rất đa dạng ở các ngành như: Toán học, Hóa học, Sinh học, Địa lý, Tâm lý học, Xã hội học, Văn học… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: Khoa học Nhân văn, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Công nghệ, Khoa học Liên ngành Tri thức khoa học được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau: hệ thống các

lý thuyết khoa học, các học thuyết, các đề án thiết kế, các tác phẩm văn học, bài viết, bài báo, giáo trình, các công trình nghiên cứu…Thậm chí có những công trình nghiên cứu nhiều năm sau mới được thừa nhận và ứng dụng vào đời sống

xã hội Hầu hết các công trình khoa học nghiên cứu đều đi sâu giải quyết các vấn

đề của tự nhiên và xã hội, nhưng phản ánh một cách gián tiếp nên đôi khi không thể nhận biết ngay

Những tri thức khoa học là những phát hiện sáng tạo do cá nhân hay tập thể trí thức tạo ra, được thể hiện trong sản phẩm, được đánh giá và thừa nhận qua thẩm định của một hội đồng có thẩm quyền Những tri thức đó có ý nghĩa và giá trị trong thực tế như thế nào còn phải thông qua sự đánh giá rộng hơn khi sản phẩm được xã hội hóa, đưa vào sử dụng, ứng dụng trong thực tiễn Quy mô ảnh hưởng và hiệu quả kinh tế xã hội của những tri thức đó đến đâu, như thế nào lại

là một quá trình mà thời gian và thực tiễn xã hội sẽ cho câu trả lời Đó là sự thử

Trang 18

thách của cuộc sống và của khoa học đối với những công trình và tác giả của những công trình đó Thừa nhận những cống hiến, đóng góp của đội ngũ trí thức, đặc biệt là các nhà khoa học đối với đời sống xã hội, đến bối cảnh và với tất cả những đặc điểm lịch sử, với tính chất và trình độ phát triển của xã hội Lịch sử cho thấy, nhiều công trình khoa học, nhiều tri thức khoa học đã trải qua nhiều lần đánh giá Cụ thể như những tư tưởng lớn của C ác và Ph.Ăngghen, lúc sinh thời không được xã hội chấp nhận, thậm chí còn bị giai cấp tư sản coi những tri thức, tư tưởng của các ông là hoang đường, nguy hiểm cho xã hội Có nhiều tác phẩm, nhiều tri thức khoa học sau khi tác giả đó đã qua đời rất lâu mới được công nhận Cái mới về mặt khoa học ra đời không dễ dàng được thừa nhận mà thường trải qua những thử thách Chỉ có sự phát triển của thực tiễn cuộc sống mới đem lại sự công bằng, tường minh và sự đánh giá khách quan, chân thực nhất cho cái mới trong khoa học ra đời

Thứ ba, trí thức là người có trình độ học vấn, chuyên môn cao (so với mặt bằng dân trí)

Trí thức là người lao động trí óc, nhưng lao động trí óc là một khái niệm rộng, bao hàm cả những người lao động ở mức giản đơn đến phức tạp Như vậy, không có nghĩa là toàn bộ lao động trí óc là trí thức Thời kỳ đầu, trí thức được hình thành một cách tự phát, tự học, không qua trường lớp… Nhưng để có đội ngũ trí thức thực sự thì phải có hệ thống đào tạo chính quy với những bằng cấp nhất định Việc xác định trình độ tối thiểu của trí thức hiện nay ở các nước là khác nhau Trình độ học vấn, chuyên môn cao là cái không thể thiếu đối với trí thức để thực hiện lao động trí óc Nếu không có trình độ học vấn, chuyên môn cao người trí thức không thể hoàn thành công việc tạo ra những tri thức khoa học Người bác sĩ không có trình độ chuyên môn không thể thực hiện được ca

mổ, người giáo viên không có trình độ chuyên môn và bằng cấp nhất định sẽ không thể đứng giảng bài, một nhà nghiên cứu không có trình độ chuyên môn, không thể tạo ra được những công trình và sản phẩm khoa học… Còn đối với

Trang 19

công nhân, nông dân, những người lao động chân tay không nhất thiết phải có trình độ học vấn chuyên môn cao Họ chỉ cần có sức khỏe tốt là có thể hoàn thành công việc, làm ra những sản phẩm vật chất để phục vụ cuộc sống và nhu cầu của con người như lương thực, thực phẩm…

Đối với trí thức phải có trình độ học vấn chuyên môn cao thì mới có khả năng tiếp cận dần với kiểu lao động sáng tạo thật sự Tuy nhiên, bằng cấp chỉ là dấu hiệu bề ngoài, chỉ là điều kện cần, chứ chưa đủ để trở thành trí thức Vì đôi khi bằng cấp không tương xứng với trình độ, thậm chí có những người trình độ học vấn cao nhưng tách ra khỏi lĩnh vực lao động trí tuệ phức tạp để hướng vào lao động của nhóm xã hội khác như làm kinh doanh, buôn bán… thì cũng không được gọi là trí thức Ngược lại, một số người do điều kiện không được đào tạo nhiều qua trường lớp nhưng tự học hỏi qua sách vở, tài liệu, thực tiễn đảm nhiệm được nhiệm vụ của người lao động trí óc, có nhiều sáng tạo tri thức mới vẫn có thể được coi là trí thức Thậm chí còn trở thành nhà khoa học vĩ đại như Ph.Ăngghen, Alfred Nobel, Bill Gate… Ở xã hội phong kiến của Việt Nam có những phụ nữ không được đến trường lớp để học nhưng được xã hội tôn vinh như những trí thức thực thụ như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm…

Văn bằng, chứng chỉ (theo nghĩa thực chất và nghiêm túc nhất) là một thước đo đánh giá kết quả và mức độ được đào tạo nhưng nó không phải là căn

cứ chủ yếu và duy nhất để xác định và định danh cho người trí thức Chúng ta cần phải căn cứ vào năng lực thực chất và hiệu quả công việc của họ Thông tin

và tri thức khoa học càng bùng nổ dữ dội bao nhiêu, tuổi thọ của văn bằng càng

bị rút ngắn bấy nhiêu Vì vậy, nếu trí thức không thường xuyên cập nhật được những cái mới, trước hết là những tri thức mới trong lý thuyết và phương pháp thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình, không có năng lực, nhu cầu và thói quen

tự làm mới vốn liếng học vấn của mình, người trí thức sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu, tụt hậu về năng lực trí tuệ

Trang 20

Thứ tư, trí thức tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội

Trong thời kỳ chiến tranh cũng như thời kỳ hòa bình, thời đại của cách mạng khoa học và công nghệ, trí thức luôn là đội ngũ tiên phong, chủ thể lãnh đạo đất nước, góp phần to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trí thức là lực lượng chính góp phần phát kiến ra những ý tưởng mới, những công trình khoa học, những học thuyết, đường lối, chính sách cho đất nước, họ cũng là lực lượng chủ chốt trong nghiên cứu và ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ vào đời sống xã hội Đồng thời đội ngũ trí thức luôn duy trì, phát huy những giá trị tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc, xây dựng và phát triển con người, giải quyết những vấn đề toàn cầu thúc đẩy sự phát triển xã hội

Trí thức tham gia trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: sản xuất kinh doanh, hoạt động xã hội (nghiên cứu, viết sách, báo, hoạt động chính trị, ngoại giao, văn học, nghệ thuật…) hoạt động nghiên cứu ứng dụng, hoạt động thể thao, du lịch, hoạt động trong các ngành khoa học tự nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ… ỗi một lĩnh vực hoạt động lao động của trí thức có đặc thù riêng, sự sáng tạo riêng, không lĩnh vực nào giống lĩnh vực nào Vì vậy, trí thức cần phải năng động, sáng tạo, biến đổi nhanh cho phù hợp với từng lĩnh vực cụ thể Đối với trí thức khoa học xã hội đa số đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tạo khoa học, trở thành những chuyên gia, những nhà khoa học đầu ngành là những người cao tuổi có kinh nghiệm, còn đối với các ngành khoa học tự nhiên một người có trình độ chuyên sâu, có những phát kiến lớn về mặt khoa học mặc

dù ít có sự trải nghiệm thực tiễn vẫn có thể thành công khi còn trẻ…

Tóm lại, trí thức là một tầng lớp xã hội Như V.I.Lênin khẳng định trí thức

là “một tầng lớp xã hội đặc biệt” [32, tr 552] bởi vì họ không có quan hệ riêng

và trực tiếp với sở hữu tư liệu sản xuất Trong xã hội cũ, trí thức thường xuất thân từ các giai cấp giàu có và cũng bị bóc lột, chèn ép và bị phân hóa Khi xã hội phát triển, đặc biệt là trong chủ nghĩa tư bản, tầng lớp trí thức được bổ xung

Trang 21

từ nhiều thành phần, giai cấp khác nhau Thường trong một chế độ chính trị - xã hội nhất định, tính giai cấp của tất cả các tầng lớp trí thức do hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quy định Trí thức không phải là giai cấp, mà là một tầng lớp ở địa

vị trung gian đứng giữa hai giai cấp cơ bản đối kháng nhau trong xã hội Trong chủ nghĩa tư bản, tầng lớp này cũng bị bóc lột và chèn ép Họ có thể là đồng minh của giai cấp vô sản cách mạng nhưng không có hệ tư tưởng độc lập Tư tưởng của trí thức khó có sự thống nhất do họ phục vụ cho những giai cấp khác nhau Vì vậy, họ không thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng

Trí thức là một tầng lớp xã hội có những biến đổi lịch sử qua mỗi hình thái

xã hội, mỗi thời đại và chế độ, gắn với một chỉnh thể và thiết chế do giai cấp cầm quyền tạo ra và chi phối Trong lịch sử, giai cấp nào cầm quyền cũng dùng

ý thức hệ giai cấp của nó chi phối xã hội, biểu hiện thành ý thức hệ của xã hội,

sự chi phối tư tưởng này ảnh hưởng trực tiếp tới trí thức và thế giới quan, nhân sinh quan, tới hoạt động nghề nghiệp, thái độ và lối sống của đội ngũ trí thức Giai cấp thống trị nào cũng vậy, khi cầm quyền đều phải sử dụng lực lượng trí thức trong xã hội theo quan điểm và lợi ích của mình Thái độ đối với trí thức và việc sử dụng đội ngũ trí thức luôn bị chi phối bởi quan điểm chính trị, ý thức hệ

và lợi ích của giai cấp thống trị Do không phải là một giai cấp độc lập, không có

hệ tư tưởng riêng, nên trí thức luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những yêu cầu lịch sử của thời đại mà họ đang sống, trí thức phục vụ cho chế độ và giai cấp cầm quyền Tuy nhiên trí thức không phải chỉ do giai cấp thống trị chi phối mà

họ còn có mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân và dân tộc Dưới CNXH, giai cấp công nhân đại diện cho lợi ích đông đảo quần chúng lao động, cho lợi ích của dân tộc Sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân và dân tộc tạo điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội rất thuận lợi cho việc hình thành tầng lớp trí thức XHCN

Như vậy, trí thức là tầng lớp xã hội bao gồm những người lao động trí óc phức tạp, sáng tạo có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có khả năng sáng tạo tri thức khoa học mới, đồng thời truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học mới,

Trang 22

tiến bộ và hữu ích vào đời sống xã hội, góp phần to lớn vào sự phát triển chung của nhân loại

Xã hội càng hiện đại và phát triển thì đòi hỏi đội ngũ trí thức phải đông đảo

và chất lượng ngày càng cao Theo quy luật tiến hóa, khi xã hội chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin thì quy luật chọn lọc và đào thải lại càng nhanh Trí thức không phải chỉ cần có bằng cấp cao mà phải là những người lao động có trí tuệ và sáng tạo, gắn sự nghiệp và lợi ích của mình cùng với dân tộc

Xã hội càng phát triển, khoa học càng tiến bộ thì đội ngũ trí thức ngày càng đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, tương lai phát triển của mỗi quốc gia Tuy nhiên, vai trò của trí thức trong lực lượng sản xuất không phải toàn bộ con người nói chung, mà chỉ nghiên cứu những nhân tố sáng tạo nhất của đội ngũ trí thức Chỉ có như vậy mới thúc đẩy nhanh việc cải tiến công cụ sản xuất, tác động vào đối tượng sản xuất làm cho sản xuất ngày càng phát triển với năng suất, chất lượng cao làm thay đổi quan hệ sản xuất và các quan hệ khác, từ đó đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao

Trải qua các thời đại lịch sử trên thế giới đều cho thấy vai trò quan trọng của trí thức đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Ngày nay, xã hội phát triển cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, loài người đang bước vào nền kinh tế tri thức: trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người trở thành nguồn lực quan trọng nhất quyết định hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế

Sự phát triển nhanh bền vững của đất nước ngày càng mạnh thì vai trò của đội ngũ trí thức lại càng lớn và quan trọng hơn Hiện nay những vấn đề đặt ra không phải chỉ do một quốc gia giải quyết mà còn mang tính chất toàn cầu như các vấn đề: biến đổi khí hậu, sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả (vì tài nguyên thiên nhiên hiện nay đã cạn kiệt), phải tìm nguồn năng lượng mới để thay thế; khắc phục hậu quả của thiên tai, dich bệnh, khủng hoảng kinh tế tài chính; tìm ra con đường phát triển của mỗi quốc gia cũng như của loài người đều đi tới độc

Trang 23

lập tự do của Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, con người được phát triển toàn diện và hòa bình, hữu nghị và hợp tác với tất cả các dân tộc trên thế giới Tất cả điều đó không chỉ là trách nhiệm mỗi quốc gia, của các nhà lãnh đạo mà còn là tránh nhiệm của các nhà khoa học

1.2 Lao động sáng tạo của trí thức: đặc điểm và yếu tố tác động

1.2.1 Đặc điểm lao động sáng tạo của trí thức

Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm cải tạo

tự nhiên, xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Lao động, bất cứ ở dạng thức nào, lao động trí óc hay lao động chân tay bao giờ cũng mang tính sáng tạo Lao động sáng tạo của con người thể hiện ngay từ khi con người biết chế tạo và

sử dụng các công cụ lao động Nhờ vai trò của lao động và ngôn ngữ, vượn người mới trở thành con người có ý thức, biết tư duy Tư duy là một công cụ quan trọng nhất để sáng tạo trong lao động của con người Thông qua lao động, bằng hoạt động của tư duy con người phát hiện những mối quan hệ khách quan, bản chất của sự vật, hiện tượng biểu hiện bằng các khái niệm, phán đoán, suy luận, các nguyên lý, quy luật, các phạm trù… của thế giới khách quan Tuy nhiên, lao động sáng tạo của con người không chỉ thể hiện qua phương tiện tư duy, mà còn thể hiện trong ý nghĩa và mục đích của mình Bằng lao động sáng tạo, con người càng hoàn thiện bản thân mình

Con người muốn sống, muốn tồn tại phải quan hệ và tác động lên giới tự nhiên, cải tạo nó để tạo ra của cải vật chất phục vụ những nhu cầu đa dạng của bản thân Con người là sản phẩm tiến hóa cao nhất của giới tự nhiên, bước chuyển từ động vật lên con người nhờ quá trình lao động của con người, đánh dấu bằng những kết quả sáng tạo trong việc sử dụng và chế tạo ra các công cụ lao động ngày càng hiện đại, tinh vi hơn Con người phát triển từ cấu tạo sinh học đến hoạt động tâm lý, từ thấp đến cao nhờ hoạt động lao động sáng tạo bền

bỉ của mình Con người còn phản ánh những tác động trực tiếp, tác động bên ngoài, không chỉ bằng những hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn bằng hệ thống

Trang 24

tín hiệu thứ hai Những tri thức được lưu truyền từ đời này sang đời khác nhờ hệ thống ngôn ngữ, đó là một trong những yếu tố quan trọng để hình thành ý thức,

tư duy Nhờ có tư duy con người mới phát hiện ra những quy luật, bản chất, những mối quan hệ khách quan của sự vật, hiện tượng… Tư duy trở thành phương tiện quan trọng nhất của con người để sáng tạo trong lao động Cùng với

tư duy, lao động sáng tạo còn thể hiện ở mục tiêu, đối tượng và công cụ lao động

để tác động đến đối tượng phục vụ mục đích của mình Chính lao động sáng tạo giúp con người không ngừng phấn đấu, phát triển và hoàn thiện bản thân và trở thành chủ thể của lịch sử

Trong các chế độ xã hội khác nhau, tính chất của lao động cũng khác nhau,

nó phụ thuộc vào các quan hệ xã hội chi phối Sự sáng tạo của con người được phát huy tốt, tối đa phụ thuộc vào môi trường và các quan hệ xã hội… Trong xã hội có sự tha hóa lao động thì sự sáng tạo của lao động cũng bị hạn chế Sự tha hóa lao động ở các xã hội khác nhau nên sự sáng tạo của lao động ở mỗi xã hội cũng khác nhau Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mới xóa bỏ hoàn toàn sự bóc lột người, bình đẳng, công bằng, xã hội dân chủ, văn minh tạo điều kiện cho tất cả mọi người phát huy mọi năng lực sáng tạo của mình Chỉ có ở một xã hội như vậy mới tạo điều kiện cho con người thể hiện được sự sáng tạo của mình trong lao động, động viên, kích thích lao động của con người không ngừng sáng tạo góp phần vào sự phát triển chung của xã hội

Ở các phương thức của lao động đều mang tính sáng tạo Sáng tạo là thuộc tính cơ bản của lao động, nhưng trong đó lao động trí óc của trí thức mang tính sáng tạo ở mức độ cao về khoa học, phức tạp về nội dung Như vậy, hoạt động trí óc – “lao động sáng tạo” theo nghĩa rộng là lao động của con người nói chung, còn theo nghĩa hẹp là chỉ kiểu lao động của người trí thức

“Lao động sáng tạo là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của người trí thức Khi nói đến trí thức bao giờ cũng gắn liền với lao động sáng tạo Những đặc điểm cơ bản nhất của kiểu lao động sáng tạo của trí thức: tạo ra trí thức mới

Trang 25

– tiến bộ - hữu ích; sản phẩm không lặp lại, đa dạng, phong phú và mang dấu ấn của tác giả và có tính kế thừa những giá trị của các công trình trước đó… yêu cầu người trí thức cần phải có kiến thức rộng và chuyên sâu với phương pháp tư duy và thủ pháp làm việc thích hợp; lý trí phải kết hợp với tình cảm – cảm xúc sáng tạo, không nhàm chán, không đơn điệu về nội dung…” [29, tr 27]

Lao động sáng tạo của trí thức có những đặc điểm sau:

Trước tiên, về hình thức, lao động sáng tạo của trí thức là lao động trí óc phức tạp Khác với lao động chân tay và lao động trí óc giản đơn, lao động trí óc

phức tạp cần lượng chi phí năng lượng thần kinh trung ương cao mới tạo ra được những sản phẩm trí tuệ, tri thức khoa học Còn lao động chân tay cần một lượng chi phí năng lượng cơ bắp nhiều hơn để tạo ra những giá trị vật chất trực tiếp Lao động trí óc là một lĩnh vực tương đối rộng, gồm cả lao động trí óc giản đơn

và lao động trí óc phức tạp Lao động trí óc phức tạp cần sự hao phí năng lượng thần kinh trung ương cao hơn để thực hiện những hoạt động phức tạp của tư duy như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, khái quát hóa và trừu tượng hóa… những sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội thành hệ thống lý luận, những tri thức khoa học mới Còn lao động trí óc giản đơn gắn với lao động chân tay, nhưng cao hơn lao động chân tay vì lao động trí óc giản đơn không tạo ra tri thức khoa học mới mà chỉ tạo ra những tri thức kinh nghiệm thông thường Không phải tất cả những người lao động trí óc là trí thức, mà chỉ những người lao động trí óc phức tạp mới được coi là trí thức “Người trí thức cũng giống như những người lao động bình thường có mặt ở mọi nơi, mọi chốn, tham gia nhiều nghề nghiệp khác nhau duy chỉ có một điểm khác ở chỗ họ hướng sự nghiệp lao động của mình chủ yếu bằng lao động trí tuệ hoặc tư duy sáng tạo mang tính chất cá thể và thường có cá tính” [11, tr 126] Lao động sáng tạo là một dạng hoạt động trí óc phức tạp, đòi hỏi người trí thức phải có một lượng tri thức nhất định làm tiền đề cho sự sáng tạo Lượng trí thức đó được đo bằng những văn bằng, chứng chỉ nhất định hoặc tương đương Đồng thời, người trí thức phải luôn tích lũy, bồi

Trang 26

đắp thêm để có kiến thức rộng, phong phú, chuyên sâu và phương pháp làm việc thích hợp Trách nhiệm của người trí thức phải linh hoạt, năng động, lựa chọn các phương pháp thích hợp để chiếm lĩnh đối tượng Ngoài phương pháp nhận thức thì người trí thức phải có thủ pháp làm việc khoa học, mỗi người sử dụng những thủ pháp làm việc khác nhau để đạt được mục đích trong tất cả các khâu: nghe, đọc, viết, ghi chép, sử dụng tài liệu…

Quá trình phát triển của thế giới luôn đa dạng, phong phú, quanh co, phức tạp, nhiều chiều nên người trí thức luôn phải lựa chọn cho mình con đường tốt, nhanh và ngắn nhất để đi tới đích V.I.Lênin đã nói: “Thật là nực cười nếu cố ý đoán trước, các hình thức và ngày, giờ, chính xác của các bước tiến trong tương lai của cách mạng” [37, tr 350] Người trí thức khi đã được trang bị kiến thức cơ bản, chuyên môn nhất định, có phương pháp tư duy thích hợp sẽ góp phần rất lớn cho việc dự báo trước sự phát triển của xã hội, làm cơ sở cho những đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội của Đảng trong những năm tới, thậm chí có nhiều dự báo là kết quả nghiên cứu của nhiều tổ chức khoa học ở các nước trên thế giới phối hợp lại, từ đó mới có thể giải quyết được các vấn đề có tính chất toàn cầu như: dân số, môi trường, dịch bệnh, chiến tranh…

Tuy nhiên, trong quá trình lao động sáng tạo của người trí thức còn phải nói đến yếu tố năng khiếu Năng khiếu góp phần tạo ra những kết quả kỳ diệu… Năng khiếu được hình thành rất sớm, nhưng từ năng khiếu đến tài năng là một khoảng cách rất xa nếu không có quá trình lao động bền bỉ Trong công việc giảng dạy, người giáo viên giảng dạy cũng cần có năng khiếu mới dạy tốt, có một số người bằng cấp cao, trình độ chuyên môn tốt nhưng truyền đạt kém, không có sức thuyết phục…

Thứ hai, lao động sáng tạo của trí thức là lao động mang đậm tính cá nhân Hoạt động của tư duy diễn ra trong bộ não của từng người, sản phẩm mang

dấu ấn cá nhân Đó là điều khác biệt của trí thức với công nhân Lao động của công nhân mang tính xã hội rõ nét Trong những điều kiện, những lĩnh vực khác

Trang 27

nhau thì sự sáng tạo là khác nhau Không có bài thơ, bài văn, bản nhạc hay các công trình khoa học, mặc dù cùng một chủ đề nhưng lại giống nhau Sản phẩm của mỗi công trình đó đều có dấu ấn sự sáng tạo riêng của từng người Đặc biệt trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, mỗi người có những phong cách riêng, đó là

sự độc đáo được kết tinh trong sự sáng tạo của giới văn nghệ sỹ Tùy vào phong cách, sự sáng tạo của mỗi người để đánh giá sự thành công của họ Sự trưởng thành của nhà văn và sự phát triển của nền văn học thể hiện ở phong cách, sự sáng tạo của họ Tập thể, cộng đồng và môi trường xã hội nói chung rất quan trọng, nhưng không thay thế cho lao động cá biệt của các nhà khoa học với những đặc điểm cá tính riêng, với phong cách và nhân cách riêng của từng người Lao động của trí thức càng tự do bao nhiêu thì cảm hứng sáng tạo và kết quả sáng tạo càng lớn bấy nhiêu, càng gần với chân lý, với nhân cách của người trí thức Chính vì vậy, động lực quan trọng thúc đẩy nghiên cứu khoa học là đảm bảo dân chủ, tôn trọng nhân cách người trí thức, đánh giá công bằng, khách quan

từ xã hội

Thứ ba, sản phẩm lao động trí thức là những tri thức mới, không lặp lại, có

sự kế thừa Khác với sản phẩm lao động của công nhân, nông dân, lao động trí

óc giản đơn cũng là những sản phẩm mới, nhưng không lặp lại những sản phẩm

cũ Trong các khoa học xã hội tìm ra cái mới khi nghiên cứu bản chất, quy luật vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng được biểu hiện bằng các nguyên

lý, quy luật, phạm trù… được công bố trên báo chí, sách vở, các tham luận khoa học… Đó là khoa học cơ bản, có vai trò chỉ đạo cho các nghiên cứu ứng dụng, khoa học thực nghiệm phát triển Trong các ngành khoa học tự nhiên, cái mới được thể hiện thông qua các đồ án thiết kế, kế hoạch, các phát minh… để phục

vụ cuộc sống Trong các ngành khoa học thực nghiệm, nhiệm vụ của các kỹ sư là vận dụng các lý thuyết hiện có, từ những kinh nghiệm trong thực tiễn để sáng tạo

và phát minh ra những vật liệu, thiết bị, công nghệ mới… phục vụ cho sự phát triển của xã hội Đặc biệt, trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật thường phản ánh

Trang 28

gián tiếp đời sống xã hội thông qua biểu diễn qua các tác phẩm sách báo, văn thơ, truyện tranh, phim ảnh… Nhưng những tác phẩm đó có giá trị về mặt nội dung đều phải mang tính sáng tạo, không được lặp lại, không rập khuôn, sáo rỗng, phải phản ánh được “thần” của tác phẩm Trong lĩnh vực giáo dục, người giáo viên trong giảng dạy, truyền bá tri thức cũng luôn có sự sáng tạo, để mỗi bài giảng đều trở nên sống động, có “hồn” Việc giảng dạy, thật ra cũng là một nghệ thuật, đòi hỏi tính sáng tạo rất cao Ở đó, tùy từng đối tượng của người nghe, mà người giáo viên có cách thức truyền đạt khác nhau uốn vậy người giáo viên phải có phương pháp, trình độ hiểu biết và cả sự say mê nghề nghiệp, luôn tiếp cận những thông tin khoa học mới, tiến bộ, hữu ích để đáp ứng được sự phát triển của thời đại Tuy lao động sáng tạo không lặp lại cái cũ, nhưng nó lại có tính kế thừa rõ nét Tư tưởng của C ác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đều có sự kế thừa những tư tưởng trong lịch sử trước đó tư tưởng Hồ Chí inh cũng là sự kế thừa các tư tưởng ở cả phương Đông, phương Tây Nhưng sự kế thừa ở đây đều phải mang tính sáng tạo, không rập khuôn, không giáo điều

Nhờ có sự kế thừa, các sản phẩm trí tuệ tạo thành một dòng chảy liên tục của nhận thức, nhân loại phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ hiện tượng đến bản chất uốn cái mới ra đời, tiến bộ và phát triển hơn cái cũ thì phải kế thừa những di sản, tư tưởng trong lịch sử làm nền tảng cho cái mới ra đời Cái cũ là tiền đề, cơ sở, định hướng cho sự ra đời của cái mới Việc đóng cửa, không liên hệ với cái cũ là một quan điểm sai lầm, đi ngược lại với sự phát triển và tiến bộ xã hội Việc giáo dục trong các trường đại học, cao đẳng cũng phải theo một quy trình từ đại cương rồi đến các kiến thức chuyên ngành mới đảm bảo kiến thức cơ bản của người trí thức Đồng thời trong quá trình làm việc, lao động, người trí thức không ngừng củng cố, bồi dưỡng thêm những kiến thức

bổ ích, những kiến thức mới Đặc biệt với thời đại khoa học công nghệ thông tin bùng nổ và phát triển như vũ bão ngày nay, nhiều thông tin mới được cập nhật rất nhanh, người trí thức đòi hỏi phải có sự sàng lọc, có sự sáng tạo cao, năng

Trang 29

động, biết sử dụng thông tin để khai thác và kế thừa những yếu tố cũ làm cơ sở, nền tảng cho cái mới ra đời hữu ích và tiến bộ

Từ những đặc trưng trên cho thấy, lao động sáng tạo của trí thức không hoàn toàn giống với sự sáng tạo của những người lao động khác trong xã hội Với những đặc trưng đó, trí thức luôn đóng vai trò quan trọng trong bất cứ một chế độ xã hội nào Tuy vậy, mức độ, hiệu quả, tính thực tiễn… trong sự sáng tạo của trí thức còn phụ thuộc vào sự tác động của những yếu tố động lực

1.2.2 Yếu tố tác động đến lao động sáng tạo của trí thức

Sáng tạo trong những lĩnh vực khác nhau có những đặc điểm khác nhau, được kích thích bởi những động lực và trong những loại sản phẩm khác nhau: Sáng tạo của một công nhân có thể là một sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đổi mới sản phẩm; sáng tạo của một doanh nhân có thể là một cải tiến về tiếp thị, một giải pháp mới về quản lý kinh doanh; sáng tạo của một giáo viên là đổi mới về phương pháp giảng dạy; sáng tạo của một nhà khoa học là một phát hiện những điều bị ẩn giấu hay một phát minh ra những tri thức chưa từng biết… Cái chung nhất của sáng tạo là tìm kiếm những cái mới, những tri thức mới hay giải pháp mới về những vấn đề mà con người thường gặp phải trong cuộc sống Có những sáng tạo lớn làm nên tên tuổi lẫy lừng nhưng có những sáng tạo chỉ để thỏa mãn tinh thần trong cuộc sống Vậy, để người trí thức hăng say sáng tạo cần phải có những động lực mạnh mẽ, ham hiểu biết, tìm kiếm cái hay, cái đẹp từng là động lực thúc đẩy sự nghiệp sáng tạo của biết bao thế hệ các nhà bác học, văn nhân, nghệ sĩ… Lao động sáng tạo của trí thức phát huy ở mức độ nào là do sự tác động của

cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, từng cá nhân hay tập thể các nhà trí

thức Đối với mỗi cá nhân, những yếu tố bên trong là trình độ chuyên môn, phẩm

chất chính trị, đạo đức, năng khiếu, kiến thức, kỹ năng, cảm hứng sáng tạo, cảm xúc, năng lực sáng tạo của từng người

uốn có lao động sáng tạo của trí thức thì trước tiên người trí thức phải đảm bảo, trang bị những tri thức, kỹ năng cơ bản và cần thiết, những kiến thức,

Trang 30

trình độ chuyên môn và hiểu biết nhất định Đó là nền tảng, gốc của người trí thức để thực hiện lao động sáng tạo Nếu không có những kiến thức, trình độ chuyên môn và kỹ năng cần thiết đó thì không thể tạo ra những công trình khoa học, sản phẩm có giá trị Bởi vì, lao động của “trí thức” là lao động “chất xám” tạo ra những sản phẩm trí tuệ, mới, hữu ích Trình độ học vấn, chuyên môn cao

là cái không thể thiếu đối với trí thức để thực hiện lao động trí óc Nếu không có trình độ học vấn, chuyên môn cao người trí thức không thể hoàn thành công việc tạo ra những tri thức khoa học Như việc thực hiện được ca mổ, người bác sĩ phải có trình độ chuyên môn sâu; để giảng bài người giáo viên phải có trình độ chuyên môn và bằng cấp nhất định; một nhà nghiên cứu không có chuyên môn, trình độ không thể tạo ra được những công trình và sản phẩm khoa học… Trí thức phải có trình độ học vấn chuyên môn cao thì mới có khả năng tiếp cận dần với kiểu lao động sáng tạo thật sự Trí thức càng có trình độ chuyên môn, tay nghề vững thì khả năng đem lại những sản phẩm, công trình khoa học sáng tạo càng cao, chất lượng và hữu ích Nếu trình độ chuyên môn, kỹ năng không đảm bảo thì không thể có lao động sáng tạo và tạo ra những tri thức mới hoặc đôi khi gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội Vì vậy, trình độ chuyên môn là điều kiện cần đầu tiên không thể thiếu, đóngvai trò trực tiếp đối với lao động sáng tạo của trí thức

Lao động của người trí thức không chỉ phụ thuộc vào tư duy, lý trí, kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn mà còn bị tác động của yếu tố cảm xúc, tình cảm Đó là sự cảm động của con người đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình Người trí thức chứa đựng những sắc thái tình cảm riêng, có thể là những tình cảm, cảm xúc đó mang tính chủ động, tích cực, mạnh mẽ hoặc cũng có thể là những cảm xúc ở trạng thái bị động, tiêu cực không thỏa mãn Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực sáng tạo của trí thức Tình cảm, cảm xúc cộng thêm với những suy tư, những kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn cao thì những tâm trạng, tình cảm, niềm vui, nỗi buồn của người trí thức cũng

Trang 31

sâu sắc, nhạy cảm và sâu lắng, phức tạp hơn ỗi một lĩnh vực đều có đối tượng, phạm vi riêng của mình Đối với lao động cơ bắp, dù tình cảm, cảm xúc ở trạng thái tiêu cực, chán nản, nhưng người lao động cơ bắp vẫn lao động, sản xuất kinh doanh và làm ra sản phẩm đạt hiệu quả cao Nhưng đối với lao động sáng tạo, không thể thực hiện hoặc thực hiện ít hiệu quả nếu người trí thức có những trạng thái cảm xúc chán nản, tiêu cực, bởi vì khi ở trạng thái đó người trí thức không

có được cảm hứng sáng tạo

Cảm hứng sáng tạo là yếu tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả lao động của người trí thức Khi người trí thức có cảm hứng sáng tạo thì lúc đó là nội tâm thôi thúc, kích thích hưng phấn hệ thần kinh cao độ, người trí thức nhiệt tình, hăng say, lao vào công việc: tất cả năng lực, kiến thức, kỹ năng, những dự kiến, kinh nghiệm của trí thức được huy động và sử dụng hiệu quả cho công việc Đặc biệt đối với lĩnh vực văn nghệ sỹ thì cảm hứng sáng tạo là yếu tố quan trọng nhất Trong lĩnh vực nghệ thuật, tình cảm không chỉ là động lực thúc đẩy chủ thể sáng tạo (như các hoạt động khác) mà còn là một bộ phận quan trọng góp phần tạo nên giá trị của tác phẩm ột tác phẩm nghệ thuật có giá trị là một tác phẩm hòa quyện giữa cuộc đời, máu thịt, tâm hồn nhà văn Đôi khi những rung động mãnh liệt của tình yêu, nỗi nhớ, sự căm thù, nỗi buồn sâu lắng… những giây phút ngắn ngủi nhưng có thể tạo nên những tác phẩm bất hủ, có giá trị đến ngàn năm, đánh dấu cả cuộc đời sáng tạo của mình Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì cảm hứng sáng tạo là trạng thái tâm lý – tình cảm đặc biệt được nảy sinh gắn với quá trình học tập, lao động bền bỉ, tích lũy kinh nghiệm, một quá trình phấn đấu, học hỏi không ngừng chứ không phải chỉ ngồi chờ đợi, cầu may

để có những công trình sáng tạo Đó không phải là lối sống, phong cách của người trí thức chân chính Như vậy, sản phẩm khoa học, công trình khoa học có giá trị là sự kết quả của lý trí và tình cảm, cảm xúc cuả người trí thức Người trí thức làm việc, lao động sáng tạo bằng cả trái tim, nhiệt huyết và khối óc của mình

Trang 32

Ngoài ra, năng khiếu cũng là một trong những yếu tố cũng tác động rất lớn tới lao động sáng tạo của trí thức Ở một số lĩnh vực như thơ ca, toán học, âm nhạc… năng khiếu đóng vai trò quan trọng và được hình thành rất sớm Năng khiếu góp phần đưa lại những thành quả kỳ diệu trong lao động mà những người không có năng khiếu phải nỗ lực và cố gắng rất nhiều thì mới đạt được Vì vậy,

ở một số lĩnh vực phải đòi hỏi năng khiếu là yếu tố đầu tiên như hội họa, thơ ca, ngoại ngữ, nhạc họa… Tuy nhiên, nếu chỉ có năng khiếu mà không chịu lao động, rèn luyện bền bỉ thì không thể đạt đến tài năng, không có sản phẩm sáng tạo Từ năng khiếu đến tài năng là một khoảng cách rất xa, khi đó năng khiếu chỉ được coi là trí năng (mức độ hiểu biết và suy nghĩ được đánh dấu bằng học vấn

là những trí thức cơ bản và chuyên ngành…) Tất cả những yếu tố đó được rèn luyện bởi một quá trình lao động bền bỉ, một trạng thái tình cảm tích cực, môi trường làm việc thuận lợi thì sẽ tạo thành năng lực sáng tạo của trí thức Vì vậy, khi đánh giá trí thức chủ yếu dựa vào năng lực sáng tạo của họ

Đối với một tập thể trí thức hay đội ngũ trí thức thì yếu tố bên trong thúc

đẩy sự sáng tạo, ngoài trình độ, chuyên môn, kỹ năng, cảm xúc, tình cảm, năng khiếu… của từng cá nhân, còn các yếu tố khác như số lượng, cơ cấu của đội ngũ,

Trang 33

hội, khoa học kỹ thuật công nghệ Đồng thời khoa học và công nghệ hiện đại đang thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, trong đó thông tin viễn thông hiện nay đang giữ vai trò chủ đạo, nền kinh tế xã hội cũng đang thực hiện bước chuyển lớn, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức Kinh tế là căn nguyên sâu xa để tạo ra những sản phẩm lao động sáng tạo của trí thức Nó đóng vai trò là nhân tố quyết định chủ yếu tính hiện thực của những công trình khoa học sáng tạo và có giá trị Lợi ích kinh tế xưa nay vẫn là điểm nhạy cảm nhất đối với cuộc sống của đội ngũ trí thức, nó trực tiếp chi phối thái độ, hành vi tức là những phản ứng xã hội của người trí thức, của các mối quan hệ trí thức với nhau, quan hệ giữa trí thức với nhà nước Người trí thức, để phát triển và hoàn thiện mình, dĩ nhiên cần vươn tới các hoạt động văn hóa tinh thần, sáng tạo và cảm thụ các giá trị tinh thần, do đó cần đến những điểm tựa tinh thần, những định hướng giá trị thuộc về thế giới quan, hệ tư tưởng, đạo đức, lối sống Nhưng trước hết, người trí thức phải sống, phải sinh tồn, tức là phải được đảm bảo những nhu cầu để tồn tại theo quy luật sinh học mà C ác gọi là tính nhục thể của tồn tại người, một tồn tại hiện thực trực tiếp Hồ Chí inh thấu hiểu sâu sắc điều đó, Người nói: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” [46, tr 152] Sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại cũng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, từ đó góp phần vào việc tăng trưởng nền kinh tế thế giới mạnh mẽ Như vậy, sự phát triển của khoa học công nghệ ngày càng mang tính xã hội hóa, quốc tế hóa và toàn cầu hóa cao nên nhu cầu phát triển khoa học, yêu cầu của xã hội và sự cạnh tranh về kinh tế, thương mại, công nghiệp, công nghệ rất lớn… vừa tạo điều kiện nhưng cũng vừa đòi hỏi sự sáng tạo của trí thức ngày càng hiệu quả, hữu ích để đáp ứng với sự phát triển của khoa học công nghệ

Bên cạnh đó, trí thức cần có môi trường khoa học thuận lợi để sáng tạo, môi trường dân chủ, tự do tư tưởng để làm việc ôi trường thực sự khoa học dân chủ, phải có bầu không khí khoa học, một tập thể phải hăng say lao động,

Trang 34

đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ, động viên, quan tâm và có trách nhiệm để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ… Sự sáng tạo cần có những điều kiện: có động cơ đúng, trong sáng, vì sự tiến bộ xã hội và con người; phải tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm, cập nhật được nhiều thông tin; luôn suy nghĩ mài sắc năng lực tư duy, kiên trì hướng nghiên cứu đã chọn; có bản lĩnh tìm chân lý và bảo vệ chân lý, có môi trường lao động, học tập dân chủ, khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo Tất nhiên để trở thành người trí thức có những sáng tạo, chủ yếu vẫn nhờ học tập không ngừng trong thực tiễn, trong sách vở và có cả năng khiếu Không chỉ có thế, năng lực sáng tạo còn phụ thuộc vào cảm xúc tâm

lý, ý chí và cả sức khỏe thể chất và tinh thần Trong các tổ chức, tập thể khoa học, người lãnh đạo, cán bộ đầu đàn có vai trò quan trọng có trình độ, năng lực chuyên môn cao, trình độ quản lý tốt, có khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn

đề, có tầm nhìn xa và hướng tiếp cận mới mẻ… Như vậy, người lãnh đạo không nhất thiết phải tính bằng năm công tác và tuổi tác Hiện nay, chúng ta thiếu hụt đội ngũ nhà lãnh đạo, những người trí thức đầu đàn khoa học ở các lĩnh vực, các cán bộ đầu đàn ở một số cơ quan, tổ chức đã nhiều tuổi, đến tuổi nghỉ hưu, còn đội ngũ trẻ chưa đáp ứng được các điều kiện, trình độ và kỹ năng Cần phải xây dựng những đội ngũ trí thức đầu đàn khoa học để kế cận thế hệ trước và cần xây dựng những tập thể lao động hòa thuận, đoàn kết Tuy nhiên không phải vì vậy

mà hạn chế sự tranh luận khoa học ở các tập thể hoặc giữa các cá nhân trong tập thể Bởi vì sự tranh luận khoa học giữa các tập thể với nhau là môi trường thuận lợi để làm rõ và hoàn chỉnh những quan điểm của mình, do đó mới thúc đẩy sự phát triển khoa học

Không gian và thời gian làm việc cũng là một yếu tố quan trọng cho sự sáng tạo của trí thức Không gian và thời gian đó không đơn điệu, gò bó Địa điểm làm việc của trí thức thường diễn ra ở ba nơi: đơn vị chủ quản, các tổ chức liên kết như thư viện, nơi đi thực tế, đơn vị ký kết hợp tác… (trong và ngoài nước) và tại nhà Đôi khi ở nhà hoặc ở cơ quan là nơi làm việc chủ yếu và hiệu

Trang 35

quả, thậm chí ngay cả lúc đi đường, lúc ăn, lúc ngủ… người trí thức luôn suy nghĩ, tìm tòi… Những phát hiện bất ngờ, những kết quả vĩ đại như nhà khoa học Acsimét đã phát hiện ra định luật về trọng lượng ngay khi đang tắm Như vậy, không gian, thời gian làm việc của trí thức có thể ở nhiều nơi, khó xác định độ dài và rất không đều, có thể ở nhiều thời điểm khác nhau Khi được giao nhiệm

vụ, người trí thức không ngại ngày đêm tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo Thời gian

và không gian làm việc của người trí thức như vậy là do kiểu lao động độc lập của họ ặc dù, trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay đòi hỏi mọi việc đều xã hội hóa Nhiều tổ chức, nhiều cơ quan, tập thể cùng chung một đề tài khoa học, một công trình khoa học ột vấn đề lớn mang tầm quốc tế cần phải có nhiều tổ chức, nhiều quốc gia tham gia mới hoàn thành Sự phối hợp như vậy đòi hỏi phải chặt chẽ, logic và khoa học, nhưng hoạt động của người trí thức vẫn mang tính độc lập Người trí thức luôn được giao phó những nhiệm vụ

cụ thể, những mảng nghiên cứu nhất định và tự mình hoàn thành Tuy nhiên, không phải bất cứ lĩnh vực nào cũng vậy, nhưng đó là kiểu lao động, làm việc chung của người trí thức Vì vậy, thời gian và không gian của người trí thức phải luôn linh hoạt thì mới đảm bảo được hiệu quả của lao động sáng tạo

Những yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài có vị trí, tác động khác nhau đến sự sáng tạo của đội ngũ trí thức, chúng có mối liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau Trong đó, yếu tố bên trong là cơ sở, tiền đề, điều kiện, còn yếu tố bên ngoài bổ trợ, tác động, kích thích, quyết định lao động sáng tạo của trí thức Thiếu một trong hai yếu tố trên đều làm hạn chế năng lực sáng tạo của trí thức Nếu yếu tố bên trong đảm bảo, không có yếu tố bên ngoài thuận lợi như việc bố trí đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng trí thức không hợp lý hoặc không tạo ra môi trường làm việc phù hợp với họ sẽ không phát huy được hết năng lực sáng tạo của họ dẫn đến tình trạng lãng phí chất xám Ngược lại nếu đảm bảo được yếu tố bên ngoài, đảm bảo môi trường lao động thực sự dân chủ, Đảng và Nhà nước quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhưng yếu tố bên trong không đủ mạnh, trí thức hạn chế về

Trang 36

trình độ chuyên môn, phẩm chất, năng lực thì cũng không thể hoàn thành tốt chức năng và nhiệm vụ của mình

Vì vậy, muốn phát huy tối đa năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức phải chú ý cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Tức là, phải xây dựng đội ngũ này

đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, cơ cấu hợp lý; môi trường lao động sáng tạo, không gian, thời gian làm việc của trí thức thoải mái; mọi cơ chế, chính sách công bằng, hợp lý, trí thức được tự do tư tưởng, để có trình độ chuyên môn cao, những cảm xúc, năng lực cảm thụ phong phú, điều kiện phát huy được năng khiếu tạo ra những công trình, sản phẩm tiến bộ, hữu ích và có những dấu ấn riêng Dân chủ và môi trường dân chủ là điều kiện để đảm bảo, phát huy được trình độ chuyên môn, kỹ năng, năng khiếu, cảm xúc, tình cảm của trí thức, từ đó

có được những không gian, thời gian, môi trường làm việc độc lập, khoa học để sáng tạo Tóm lại, một trong những yếu tố trực tiếp thúc đẩy lao động trí óc phức tạp tạo ra những tri thức mới, tiến bộ, mang tính cá nhân đó là dân chủ và môi trường dân chủ

Trang 37

Chương 2 DÂN CHỦ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ VỚI LAO ĐỘNG

SÁNG TẠO CỦA TRÍ THỨC 2.1 Dân chủ và môi trường dân chủ đối với trí thức

2.1.1 Khái niệm dân chủ

Dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, là quyền lực của nhân dân, được thể hiện trực tiếp trong việc tổ chức và quản lý nhà nước, trong các hoạt động xây dựng và phát triển xã hội để thực hiện lợi ích, mưu cầu tự do và hạnh phúc của mình Lênin nói: “Dân chủ nghĩa là bình đẳng Rõ ràng là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để giành chính quyền bình đẳng và thực hiện khẩu hiệu bình đẳng có một ý nghĩa rất lớn, miễn là phải hiểu bình đẳng cho đúng, hiểu theo nghĩa xóa bỏ giai cấp” [38, tr 122]

Bác Hồ nói: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ Dân làm chủ thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đầy tớ Làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng” [49, tr.375]

Theo nghĩa hẹp, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội được bảo đảm bằng hiến pháp, pháp luật, chính sách và cơ chế đảm bảo cho con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và năng lực hoạt động Quyền con người phải được tôn trọng và đảm bảo Các quyền và lợi ích cá nhân, tự do cá nhân, tự do tư tưởng được tôn trọng và bảo vệ, không xâm phạm đến lợi ích và tự do của người khác và của cộng đồng Theo nghĩa rộng, dân chủ là chế độ chính trị, chế

độ nhà nước Chế độ xã hội của nước ta hiện nay là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của nhà nước

và quyền lực Xã hội tạo điều kiện và cơ chế đảm bảo cho nhân dân lao động tham gia vào công việc quản lý của nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm cho dân

có quyền tham gia, giám sát Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội

ọi hành vi xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, lợi ích quốc gia và lợi ích của

Trang 38

mỗi công dân đều bị nghiêm trị Ở nước ta, cùng với quá trình đổi mới là việc

mở đường cho quá trình dân chủ hóa xã hội nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân, động viên, khơi dậy sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân trong sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh Theo tư tưởng Hồ Chí inh, dân chủ là của quý báu nhất trên đời, là chìa khóa của tiến bộ và phát triển Dân chủ chính là dân là chủ, dân làm chủ và quyền lực thuộc về nhân dân Nhân dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải có nghĩa vụ của người chủ Nghĩa vụ ấy được hiểu là trách nhiệm xây dựng nhà nước, tham gia quản lý nhà nước, giúp đỡ chính phủ, giám sát công việc và phẩm chất đạo đức của các công chức cũng như hoạt động của nhà nước Quyền làm chủ tức là quyền lực thuộc về nhân dân, do dân quyết định, toàn vẹn không chia cắt Nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng chế độ ủy quyền Nhà nước thực hiện quyền lực của nhân dân, do dân ủy quyền, có chức năng quản lý, điều hành mọi hoạt động của xã hội, thể hiện lợi ích, ý chí và quyền lực của nhân dân Bản chất chân chính đó của dân chủ, của nhà nước không tự nhiên có được

Nó là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước của nhân dân ta chống lại ách áp bức bóc lột về kinh tế, chính trị, nô dịch về tinh thần Đấu tranh để thực hiện quyền lực chân chính của nhân dân là cuộc đấu tranh từng bước tiến tới dân chủ, tự do cho nhân dân, thực hiện giải phóng triệt để nhân dân dân ra khỏi ách bóc lột, áp bức và nô dịch

Lịch sử hình thành và phát triển các chế độ dân chủ trong đời sống nhân loại đã cho thấy chỉ có chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới có thể giải quyết triệt để các yêu cầu đó Trước chủ nghĩa xã hội, các nhà nước đều

là sản phẩm của những xung đột và đối kháng giai cấp dựa trên chế độ tư hữu về

tư liệu sản xuất, các nền dân chủ tương ứng với các chế độ nhà nước đó, kể cả nhà nước và nền dân chủ tư sản chỉ thực hiện quyền lực cho một số ít người mà thôi Nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời khi giai cấp công nhân lật

Trang 39

đổ giai cấp bóc lột, giành chính quyền Đây là nhà nước và nền dân chủ kiểu mới

mà bản chất của nó là thể hiện quyền lực của đa số nhân dân lao động V.I.Lênin cho rằng đây là lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân biết đến một thiết chế quyền lực thực sự là của mình, của số đông người lao động Đó là một kiểu dân chủ mà đại diện cho giai cấp nhân dân, lợi ích và quyền lực của nó gắn liền với lợi ích của xã hội, của cả dân tộc V.I.Lênin nói: “Chế độ dân chủ cũng là một hình thức nhà nước và sẽ mất đi khi nhà nước tiêu vong, nhưng điều đó chỉ xẩy ra khi chủ nghĩa xã hội thắng lợi hoàn toàn và được củng cố.” [37, tr 324].Trong chủ nghĩa

xã hội, đối kháng mất đi nhưng những mâu thuẫn giai cấp vẫn còn tồn tại Cơ sở kinh tế và cơ sở xã hội đó làm cho chủ nghĩa xã hội đảm bảo được sự thống nhất

và phù hợp nhất định giữa chế độ nhà nước và chế độ dân chủ

V.I.Lênin nói: “Chế độ dân chủ và nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số không phải là những chuyện giống hệt như nhau Chế độ dân chủ đó là một nhà nước thừa nhận việc thiểu số phục tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức bảo đảm cho một giai cấp thi hành bạo lực một cách có hệ thống chống lại một giai cấp khác, bảo đảm cho một bộ phận của dân cư thi hành bạo lực một cách có hệ thống chống lại một giai cấp khác” [38, tr 101]

Trong lịch sử, chế độ dân chủ nào cũng phải tự thể hiện mình thông qua chế độ nhà nước, song không phải bất cứ chế độ nhà nước và bất kỳ ở giai đoạn lịch sử nào cũng có thể là nhà nước dân chủ Pháp luật vừa là công cụ quản lý của nhà nước, vừa là một yếu tố cấu thành nội dung của dân chủ Không phải bất

cứ pháp luật nào cũng mang tính chất dân chủ và có ý nghĩa tiến bộ

Chủ nghĩa xã hội tuy có những cơ sở kinh tế xã hội khách quan cho phép thực hiện sự thống nhất, phù hợp giữa chế độ nhà nước với chế độ dân chủ, song

để cho khả năng đó trở thành hiện thực cũng phải trải qua một thời gian lịch sử lâu dài của việc tổ chức và xây dựng thể chế cũng như việc giáo dục ý thức dân chủ trong các tầng lớp nhân dân, kể cả giai cấp công nhân trong quá trình xây dựng chế độ mới Để cho dân chủ đi sâu vào đời sống xã hội, thành nhu cầu quản

Trang 40

lý và tự quản lý, thành thói quen và tập quán trong lối sống và hành vi của mỗi

cá nhân, tập thể và đội ngũ trí thức – điều ấy càng đòi hỏi có nhiều thời gian hơn, khó khăn và phức tạp hơn nhiều Nó liên quan mật thiết tới nhiều yếu tố: không chỉ là sự trưởng thành về ý thức và năng lực dân chủ của các công dân, mà còn là

sự hoàn hảo của hệ thống pháp luật, của cơ chế, chính sách, tính hợp lý của tổ chức bộ máy, trình độ thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, xã hội Sâu xa hơn những biến đổi tích cực của việc thực hiện và đảm bảo dân chủ trong thể chế, trong xã hội và trong các quan

hệ xã hội của người trí thức còn tùy thuộc phần lớn vào trình độ phát triển kinh

tế, trình độ văn hóa, sự ổn định vững mạnh và trong sạch của thể chế chính trị cũng như sự đảm bảo của hệ tư tưởng Xét về nguyên tắc và bản chất, chủ nghĩa

xã hội là một chế độ xã hội có được những đảm bảo đó Song, bản chất của nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ có thể được biểu hiện ra và phát huy được tính ưu việt của nó khi nó được xây dựng trong thực tế theo đúng những quy luật khách quan chi phối, khi nó đã phát triển ở trình độ điển hình, hơn nữa,

nó có được nền tảng kinh tế - chính trị - xã hội và văn hóa đủ sức phòng tránh và loại trừ những biến dạng, những tha hóa biến chất gây phương hại tới dân chủ, nổi bật nhất là tha hóa về sở hữu và tha hóa về quyền lực Dân chủ vừa là điều kiện, động lực trực tiếp của lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức, của tiến bộ xã hội, lại là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá, là mục tiêu của những tiến bộ

xã hội đó

Sự phát triển dân chủ qua các thời đại lịch sử là dẫn dắt lịch sử tiến tới chủ nghĩa xã hội một cách hợp quy luật tất yếu của lịch sử Không có sự phát triển nào của chủ nghĩa xã hội mà lại ở bên ngoài, lại tách rời yêu cầu của dân chủ Cũng như vậy, tính hiện thực đầy đủ và mục tiêu triệt để của dân chủ nhằm giải phóng con người, giải phóng những tiềm năng của đội ngũ trí thức và xã hội đòi hỏi phải xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Với bản chất đó, dân chủ gắn liền với tự do, công bằng và bình đẳng Chỉ ở trong những quan hệ

Ngày đăng: 24/03/2015, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Bách (1995), “ ấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát huy tài năng và trí tuệ”, Tạp chí công tác khoa giáo (số 4), tr6 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát huy tài năng và trí tuệ”, "Tạp chí công tác khoa giáo (số 4)
Tác giả: Nguyễn Đức Bách
Năm: 1995
2. Ban Khoa giáo (1996), “Đề xuất những chính sách của Đảng đối với trí thức trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Thông tin công tác khoa giáo (số 6),Tr 17- 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất những chính sách của Đảng đối với trí thức trong giai đoạn hiện nay”", Tạp chí Thông tin công tác khoa giáo (số 6)
Tác giả: Ban Khoa giáo
Năm: 1996
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Đại học (1994): Về hệ thống tín chỉ học tập, tài liệu sử dụng nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hệ thống tín chỉ học tập
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Đại học
Năm: 1994
4. Hoàng Chí Bảo (2006), Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội – nhân văn ở nước ta hiện nay, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội – nhân văn ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 2006
5. Hoàng Chí Bảo (1998), “Tính phức tạp đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn”, Tạp chí triết học (số 4), trang 22 -24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính phức tạp đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn”, "Tạp chí triết học (số 4)
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1998
6. Nguyễn Quốc Bảo – Đoàn Thị Lịch (1998), Trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước
Tác giả: Nguyễn Quốc Bảo, Đoàn Thị Lịch
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1998
7. Lê Thạc Cán (1990), Khái niệm học phần trong tổ chức quá trình đào tạo Đại học, Viện Nghiên cứu giáo dục đại học và chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm học phần trong tổ chức quá trình đào tạo Đại học
Tác giả: Lê Thạc Cán
Năm: 1990
8. Đỗ inh Cương (1998), Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ, xb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ
Tác giả: Đỗ inh Cương
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1998
9. Lê Đăng Doanh (2003), Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ ở Việt Nam, Nxb, Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2003
10. Phạm Tất Dong (1995), Trí thức Việt Nam, thực tiễn và triển vọng, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam, thực tiễn và triển vọng
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 1995
11. Phạm Tất Dong (2001), Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 2001
12. Phạm Tất Dong (1997), Khoa học xã hội và nhân văn, mười năm đổi mới và phát triển, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học xã hội và nhân văn, mười năm đổi mới và phát triển
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997
13. Ngô Doãn Đãi (2006), Về việc triển khai Đào tạo theo học chế tín chỉ, Bản tin Đại học quốc gia Hà Nội, số 180/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc triển khai Đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Ngô Doãn Đãi
Nhà XB: Bản tin Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam(1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 2006
18. . Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương khoá X, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 2006
19. Đảng Lao động Việt Nam (1958), Chính sách của Đảng Lao động Việt Nam đối với trí thức, Nxb Sự thật, tr. 7,8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Đảng Lao động Việt Nam đối với trí thức
Tác giả: Đảng Lao động Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1958
20. Phạm inh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH, Nxb CTQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH
Tác giả: Phạm inh Hạc
Nhà XB: Nxb CTQG Hà Nội
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w