Là những năm của con sâu trong kén, sự phát triển có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất những năm gần đây dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã làm biến đổi sâu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LIÊN
MỐI LIÊN HỆ CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG
TRONG SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học
Mã ngành: 60.22.03.01
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LIÊN
MỐI LIÊN HỆ CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG
TRONG SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công
bố Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn có xuất xứ rõ ràng
Học viên
Nguyễn Thị Liên
Trang 4Thứ hai, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tập thể các Thầy, Cô giáo Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Trong cả chặng đường dài vừa qua, các Thầy Cô luôn luôn tạo dựng cho chúng em nền tảng tri thức vững chắc và chỗ dựa tinh thần để ngày hôm nay chúng em có thể chắp bút, nghiên cứu khoa học
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu lắng nhất tới gia đình, bạn bè và các anh chị em đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Học viên
Nguyễn Thị Liên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 6
8 Kết cấu 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ THUYẾT LIÊN HỆ GIỮA SẢN XUẤT VÀ KHOA HỌC 8
1.1 Quá trình phát triển sản xuất vật chất 8
1.1.1 Sản xuất vật chất như là sự cải biến thực tiễn đối với tự nhiên 8
1.1.2 Logic khách quan của sự phát triển sản xuất vật chất 12
1.1.3 Tính bị quyết định kép của sự phát triển sản xuất vật chất 19
1.2 Sự phát triển của khoa học tự nhiên 26
1.2.1 Khoa học tự nhiên như là sự phản ánh giới tự nhiên qua lăng kính thực tiễn 26
1.2.2 Các cuộc cách mạng theo chiều rộng và chiều sâu trong khoa học tự nhiên 31
1.2.3 Cơ sở thực tiễn cho sự nảy sinh khoa học lý thuyết 35
Tiểu kết chương 1 44
CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TRONG SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ CÁCH MẠNG TRONG KHOA HỌC TỰ NHIÊN 45
Trang 62.1 Các dấu mốc lịch sử chủ yếu của các cuộc cách mạng trong sản
xuất vật chất và khoa học tự nhiên 45
2.1.1 Sự hình thành và cuộc cách mạng trong phong cách tư duy khoa học từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại đến thế kỷ XVII 45
2.1.2 Cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ sản xuất vật chất giữa thế kỷ XVIII 57
2.1.3 Sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên với sản xuất vật chất trong thế kỷ XVIII - XIX 64
2.2 Sự kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên trong giai đoạn hiện nay 70
2.2.1 Cuộc cách mạng trong phong cách tư duy khoa học đầu thế kỷ XX 70
2.2.2 Cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ sản xuất vật chất thế kỷ XX 76
2.2.3 Sự kết hợp hiện nay giữa khoa học tự nhiên và sản xuất 82
Tiểu kết chương 2 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới trong những năm đầu của thế kỷ XXI đang bước vào một thời
kỳ chuyển biến mạnh mẽ, “một cơn đau đẻ” rất dữ dội, một cuộc đấu tranh
quyết liệt giữa cái cũ và cái mới Đó là sự chuyển tiếp mang tính toàn cầu từ
xã hội công nghiệp sang xã hội trí tuệ, gắn liền với nó là vấn đề sản xuất vật
chất, khoa học - công nghệ và hiện đại hoá xã hội
Là những năm của con sâu trong kén, sự phát triển có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất những năm gần đây dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã làm biến đổi sâu sắc nền kinh tế thế giới, tạo ra một bước ngoặt mới trong lịch sử phát triển của loài người, hình thành nền kinh tế tri thức Nếu như những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã trở thành điểm tựa, làm đòn bẩy cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, đưa chủ nghĩa tư bản tiến dần lên những nấc thang cao hơn, với những hình thức hoàn thiện hơn, thích ứng với những điều kiện sản xuất và xã hội do chính những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đem lại thì trong xã hội hiện đại, sự phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật - công nghệ đã xoá nhoà ranh giới giữa lao động thể lực và lao động trí óc Giờ đây, thực tiễn sản xuất trở thành mảnh đất màu mỡ, ươm trồng những sáng kiến khoa học; Lao động thai nghén nên khoa học kỹ thuật; khoa học kỹ thuật hoàn thiện hình thức, làm phong phú nội dung của lao động, sáng tạo ra các loại hình lao động trình độ cao hơn
Nằm trong dòng chảy chung đó, một trong các vấn đề quan trọng nhất trong sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong điều kiện triển khai mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và hội nhập quốc tế là vấn đề chủ động thực hiện cuộc cách mạng đó phù hợp với các tính quy luật khách quan của sự nảy sinh và phát triển của nó Vấn đề đó chỉ có thể được giải quyết
Trang 8hiệu quả trong trường hợp chủ thể quản lý (chủ thể sáng tạo, chủ thể vận dụng ) có lý luận tốt về mối liên hệ biện chứng giữa các cuộc cách mạng khoa học và cách mạng kỹ thuật nói chung ở thời đại chúng ta làm điểm tựa Các cuộc cách mạng đó thường là các quá trình độc lập tương đối với nhau và mới hợp nhất thành một quá trình cách mạng khoa học - kỹ thuật duy nhất
Đến lượt mình, việc xây dựng và nắm bắt lý luận đó lại cần phải dựa trên một sự hiểu biết tốt về mối liên hệ lẫn nhau của các cuộc cách mạng trong sự phát triển lịch sử của sản xuất vật chất với khoa học tự nhiên Chỉ có trên cơ sở một lý thuyết tổng quát về biện chứng của sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên, được kiểm chứng bằng toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại thì mới có thể hiểu và xây dựng được một lý thuyết chuyên biệt, cụ thể, đúng đắn, khách quan về cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại Từ đó mới có thể tìm ra những quy luật tất yếu của sự phát triển khoa học - công nghệ vốn đang là một vấn đề cấp thiết, có tính thời đại đối với mỗi quốc gia nhằm phát huy tiềm năng đất nước, thúc đẩy kinh tế - xă hội phát triển
Hơn nữa, vấn đề biện chứng của sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên
là hạt nhân cốt lõi và biến động nhất của một quan niệm triết học chung hơn
về mối quan hệ giữa “thực tiễn” và “nhận thức chân lý” Khi và chỉ khi hiểu một cách đúng đắn về vai trò của từng yếu tố và mối quan hệ biện chứng giữa chúng, để thấy được sự tác động song hành, nhịp nhàng giữa mỗi một bước tiến trong sản xuất với mỗi một bước chuyển mình trong khoa học thì mỗi
người mới có thể “cải tạo thế giới” theo chiều hướng tích cực
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Mối liên hệ của các cuộc cách mạng trong sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên” làm đề
tài luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Theo dòng chảy của lịch sử, vấn đề khoa học tự nhiên, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng khoa học - công nghệ cùng với lịch sử vấn đề sản
Trang 9xuất vật chất đã được khá nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau
Đầu tiên, có thể kể đến nhóm các tác phẩm kinh điển của C Mác, Ph
Ăngghen, V I Lênin mà điển hình là hai công trình Tư bản [32] và Biện
chứng của tự nhiên [31] Bằng những quan niệm, những luận thuyết của
mình, các nhà kinh điển đã đề cập đến vấn đề sản xuất vật chất, khoa học tự nhiên, những mâu thuẫn nội tại và xu hướng phát triển của nó Đặc biệt, C
Mác còn ưu ái khi dành hẳn một dung lượng số trang khá lớn để bàn về máy
móc và đại công nghiệp, trong đó, “sự phát triển của máy móc” được Người
đặc biệt chú trọng, coi như xuất phát điểm của sự vận hành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Song hành cùng với tác phẩm để đời trên của Mác, Ăngghen với những xấp bản thảo còn vội vàng nhưng đã khái quát được toàn bộ tính biện chứng của tự nhiên, những thành tựu của khoa học tự nhiên và đã đưa ra nhiều dự đoán đúng như GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn nhận xét: Thật là những tiên đoán thiên tài được khẳng định bằng những thành tựu tuyệt vời Đây chính là một trong những cơ sở đáng tin cậy để từ đó tác giả triển khai luận văn của mình
Tiếp theo, phải nói đến nhóm các tác phẩm chuyên sâu bàn về cách mạng khoa học, kỹ thuật, công nghệ của các tác giả nước ngoài, đã được dịch
sang tiếng Việt như cuốn sách của X.V Sukhardin, (1979), Cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật hiện đại [42]; cuốn Tìm hiểu về cách mạng khoa học kỹ thuật (1978) do A Guxarov và B Rađaev viết [17] hay cuốn sách Khoa học năm 2000 [25] của B G Kuznetxôv, (1976) được Lâm Quỳnh và Linh Anh
dịch cùng rất nhiều các công trình mang tính hành lang khác Dưới nhãn quan
lịch sử của các học giả nước ngoài, các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ trên thế giới lần lượt được tái hiện bằng góc nhìn phân tích, tổng hợp, logic và lịch sử Thế nhưng cây cầu nối đến cuộc cách mạng trong sản xuất và sự khởi điểm của nó từ khoa học tự nhiên lại chưa được đề cập đến một cách thỏa đáng
Trang 10Chung tay giải quyết vấn đề này, ở Việt Nam cũng có nhiều tác gia tâm huyết nghiên cứu và khẳng định thành quả của sự nghiên cứu đó bằng những đứa con tinh thần của mình Không thể không kể đến nhóm các công trình
mới đây của PGS TS Nguyễn Như Hải, (2013), Tương tác khoa học [20]; Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ấn hành công trình Khoa học và công
nghệ thế giới: Kinh nghiệm và định hướng chiến lược năm 2002 [4]; công
trình chuyên sâu của tập thể tác giả Lê Hữu Nghĩa và Phạm Duy Hải (1998):
Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ [38] hay
cuốn Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật thế kỷ 20 [26] của tác giả Đinh
Ngọc Lân (1976)… Các ấn phẩm khoa học kể trên đã tiếp nối dòng chảy của lịch sử thế giới, luận bàn về các cuộc cách mạng từ khoa học tự nhiên cho đến khoa học, kỹ thuật, công nghệ và sản xuất trên nền tảng của sự tương tác và thay đổi đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Không có tham vọng giải quyết được mảng đề tài to lớn đó nhưng các bài báo ngắn, được đăng trên các tạp chí khoa học cũng đã có công giải quyết từng mắt xích nhỏ trong chuỗi dây chuyền sản xuất, kỹ thuật và khoa học tự nhiên Gần gũi nhất với mảng đề tài trên là bài viết của Vũ Văn Viên (1977),
Về sự tiến triển của phong cách tư duy khoa học tự nhiên [52]; tác giả Lê Huy
Thực (2003) với bài viết Về luận điểm “Khoa học trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp” [45] hay gián tiếp hơn là công trình Về hậu quả tiêu cực và những thách thức của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại [49]
được viết bởi Phạm Thị Ngọc Trầm (2000) Mỗi bài viết đều giải quyết được vấn đề đúng như tên gọi và mang một dấu ấn riêng, những cái riêng đó tạo thành một nét chung duy nhất là trở thành mô hình lý luận cho tác giả tham khảo nghiên cứu vấn đề của luận văn
Nhìn chung, các công trình mang tính chuyên khảo trên đã đi sâu nghiên cứu, phân tích đến cả những giai đoạn thai nghén và phát triển của các cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên, đưa ra các cách hiểu về khoa học,
Trang 11kỹ thuật, công nghệ và chỉ ra bản chất sự khác biệt giữa các giai đoạn của các cuộc cách mạng trong lịch sử gắn với sự vận động của thực tiễn sản xuất Tuy nhiên, hầu hết các công trình đó mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, khảo sát bước đầu trong giai đoạn hiện đại mà chưa lược khảo được hết tất cả tiến trình vận động không ngừng của lịch sử nhân loại trong sản xuất vật chất cùng khoa học tự nhiên Dẫu sao, các tài liệu trên vẫn trở thành nguồn tư liệu quý báu để tác giả nghiên cứu đề tài của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Khảo sát và phân tích mối liên hệ giữa các cuộc cách mạng
trong phương thức kỹ thuật của sản xuất vật chất và trong khoa học tự nhiên,
từ đó nêu cách hiểu về mối quan hệ biện chứng của chúng
Nhiệm vụ:
+ Luận văn đi sâu tìm hiểu những nội dung cơ bản của lý thuyết liên hệ giữa sản xuất và khoa học, bao gồm quá trình phát triển của sản xuất vật chất
và sự phát triển của khoa học tự nhiên
+ Luận văn đi sâu nghiên cứu, vạch ra mối quan hệ biện chứng giữa các cuộc cách mạng trong sản xuất vật chất và cách mạng trong khoa học tự nhiên thông qua việc khảo sát về các điểm mốc lịch sử của chúng tiến tới sự vận động song hành của cả hai
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
+ Luận văn được thực hiện dựa trên cách hiểu duy vật lịch sử về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, khẳng định vị trí hàng đầu của sản xuất vật chất so với sản xuất tinh thần ở mọi thời kỳ lịch sử nhân loại và ở mọi cuộc cách mạng trong khoa học
+ Luận văn còn dựa trên quan điểm duy vật biện chứng về thực tiễn như là cơ sở của nhận thức, từ đó cho phép hiểu về mối liên hệ không tách rời
Trang 12giữa sự phản ánh tư tưởng (lý luận) về thế giới bên ngoài với sự cải biến nó một cách vật chất (thực tiễn)
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên phương pháp luận biện
chứng duy vật với việc vận dụng các phương pháp thống nhất lịch sử - logic; phân tích - tổng hợp; so sánh; khái quát hóa và đi từ trừu tượng đến cụ thể
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Mối liên hệ chuyển hóa lẫn nhau của các cuộc cách mạng
trong sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên từ thời kỳ đầu tiên của lịch sử nhân loại cho đến hiện nay
Phạm vi: lịch sử phát triển của sản xuất vật chất và lịch sử phát triển
khoa học tự nhiên từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ hiện đại (thế kỷ XX)
6 Đóng góp của luận văn
Thực hiện việc cụ thể hóa logic - lịch sử luận điểm chung về thực tiễn (sản xuất vật chất) như là cơ sở của nhận thức (khoa học tự nhiên) và nói riêng, vạch ra nội dung của luận điểm đó ứng với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Khẳng định tính chân lý của cách hiểu duy vật
về lịch sử về xuất phát điểm của nó: nguyên tắc thực tiễn như là cơ sở của nhận thức và nguyên tắc tính vượt trội (ưu tiên) của sản xuất vật chất đối với sản xuất tinh thần
Khảo sát được tiến trình vận động không ngừng của lịch sử sản xuất vật chất và lịch sử phát triển của khoa học tự nhiên như những đối tượng luôn thâm nhập vào nhau, trở thành cơ sở, bước đệm cho nhau phát triển
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn vạch ra được mối quan hệ biện chứng giữa
các cuộc cách mạng trong sản xuất vật chất và trong khoa học tự nhiên Trước tiên, nó đã bổ sung và góp phần khẳng định tính đúng đắn của kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin dù ở các thời đại lịch sử khác nhau về tính biện chứng giữa sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, về vai trò của thực tiễn như là cơ sở kiểm tra chân lý
Trang 13Mặt khác, trên phương diện thực tiễn, từ việc luận văn chỉ ra được sự
vận động song hành giữa hai lĩnh vực quan trọng của đời sống, mà từ đó chúng ta hiểu, chủ động nắm bắt và góp phần điều chỉnh chúng theo hướng có lợi cho con người
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học một số chuyên đề triết học Mác - Lênin, lôgic học biện chứng và nói chung cho những ai quan tâm đến vấn đề sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần
8 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 4 tiết
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA
LÝ THUYẾT LIÊN HỆ GIỮA SẢN XUẤT VÀ KHOA HỌC
1.1 Quá trình phát triển sản xuất vật chất
1.1.1 Sản xuất vật chất như là sự cải biến thực tiễn đối với tự nhiên
Hoạt động sản xuất của con người là hình thức tương tác đặc biệt mang tính cải biến vật chất - trao đổi chất và năng lượng giữa các khách thể vật chất như xã hội loài người với toàn bộ thế giới bên ngoài, với tự nhiên Quá trình
trao đổi đó là sự cải biến mang tính xã hội đối với tự nhiên nhằm thỏa mãn các nhu cầu người được trung giới bởi việc đặt ra các nhiệm vụ có ý thức và
các phương tiện nhân tạo nhằm đạt tới các mục đích sản xuất của nhân loại -
bằng kỹ thuật mà con người đặt giữa mình với giới tự nhiên Từ 3 điểm cơ
bản đó của sản xuất vật chất phát sinh ra một loạt các điểm đặc biệt của nó như một hình thức thực tiễn xã hội làm cơ sở của tất cả các hình thức còn lại của nó Tuy nhiên, luận văn chỉ khảo sát một số trong các điểm đặc biệt đó – chỉ những điểm liên quan trực tiếp tới chuỗi “sự cải biến sản xuất - thực tiễn đối với tự nhiên” – “sự cải biến thực nghiệm - thực tiễn đối với tự nhiên” –
“khoa học tự nhiên” Nói khác đi, ở đây chỉ phân tích những điểm đặc thù của thực tiễn sản xuất vốn trực tiếp hay gián tiếp thông qua thực tiễn khoa học - thực nghiệm quyết định tính chất mối liên hệ biện chứng giữa sản xuất vật chất và khoa học tự nhiên, sự phát triển của cái sau trên cơ sở sự phát triển của cái trước
Tính chất xã hội của sản xuất vật chất con người quy định tính phổ
quát, tính vô hạn của sự cải biến sản xuất - thực tiễn đối với tự nhiên bởi con
người khác với tính chất hạn chế của sự cải biến thế giới bên ngoài bởi con vật Theo Ăngghen: “Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã
hội loài vật là ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm trong khi con người lại
sản xuất” [33, tr 241] Con vật chỉ thể hiện được sự tích cực đối với nhóm rất
hạn chế các đối tượng ngoài và các thuộc tính khách quan của chúng, còn con
Trang 15người là sinh thể đa năng theo nghĩa nó có thể thể hiện tính tích cực của mình
về nguyên tắc với bất kỳ khách thể tự nhiên nào, với sự đa dạng khách quan các thuộc tính của chúng Và tính chất xã hội của việc thỏa mãn các nhu cầu con người bởi chính mình, hình thức xã hội của sự tương tác người với tự nhiên, đã làm con người thành sinh thể đa năng như vậy Hình thức xã hội đó quy định sự gia tăng vô hạn các nhu cầu người và như vậy, cả sự vô hạn về mặt lịch sử các mục đích của sự tác động cải biến của con người lên thế giới bên ngoài Chính sự thỏa mãn mang tính tập thể các nhu cầu con người dẫn tới việc ngày càng xuất hiện ở họ các nhu cầu mới định hình những mục đích cải biến tự nhiên ngày càng mới bởi chính họ Do đó, người ta coi “sản xuất vật chất là một trong những loại hoạt động đặc trưng của con người - đó cũng chính là một loại hình hoạt động thực tiễn với mục đích cải biến các đối tượng của giới tự nhiên theo nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội” [2, tr 128]
Nhưng về mặt lịch sử, do hoạt động người là phương thức duy nhất thỏa mãn các nhu cầu của nó, nên hoạt động cải tạo vô hạn tự nhiên bởi con người cần phải được tương thích với sự gia tăng vô hạn các nhu cầu đó Và suy ra, tính chất xã hội của sự tương tác con người với tự nhiên đưa tới chỗ về nguyên tắc, tất cả giới tự nhiên trong chỉnh thể, trong toàn bộ sự đa dạng vô hạn của khách thể vật chất và các thuộc tính của chúng đều có khả năng trở thành đối tượng của sự tác động, cải biến mang tính người Phương thức xã hội của sự tồn tại người biến con người thành sinh thể có khả năng phát triển
vô hạn trong lịch sử nhờ sự biến đổi bản tính xã hội, chứ không phải bản tính sinh học, thành sinh thể có khả năng về nguyên tắc biến toàn bộ hiện thực
thiên nhiên thành hiện thực xã hội - tự nhiên, thành “tự nhiên được người
hóa” trong tiến trình lịch sử vô hạn của mình Tính đa năng phổ quát đó của
con người như sinh thể cải biến giới tự nhiên một cách thực tiễn, là cơ sở cho tính đa năng của con người như sinh thể phản ánh, nhận thức giới tự nhiên,
Trang 16tức là cơ sở của khả năng loài người nhận thức toàn bộ hiện thực tự nhiên trong toàn bộ tính đa dạng vô hạn các khách thể vật chất và các thuộc tính khách quan của chúng trong tiến trình lịch sử vô hạn của mình
Sự phát triển không giới hạn các mục đích cải biến sản xuất - thực tiễn của con người đối với tự nhiên đòi hỏi sự phát triển ở quy mô tương ứng các phương tiện nhằm đạt các mục đích đó Các khí quan tự nhiên của con người như là phương tiện hiện thực hóa các chức năng sản xuất này hay khác - các chức năng mà việc thực hiện chúng là thiết yếu để cải biến tự nhiên thành đối tượng tiêu dùng của con người là quá hạn chế Tuy nhiên, khi sở hữu các phương tiện kỹ thuật nhân tạo để thực hiện các chức năng sản xuất, nhân loại bằng cách đó sở hữu luôn cả các phương tiện sản xuất phổ quát ở cái nghĩa là chúng có khả năng phát triển không giới hạn phù hợp với sự tăng cường vô hạn trong lịch sử các mục đích cải biến mang tính sản xuất - xã hội đối với tự nhiên bởi con người Sự phát triển không giới hạn đó của kỹ thuật cải biến sản xuất - thực tiễn đối với tự nhiên trở thành cơ sở cho sự phát triển tương ứng của kỹ thuật biến đổi thực nghiệm - thực tiễn, tức là của sự biến đổi vật chất đối với tự nhiên nhằm mục đích nhận thức nó
Sản xuất vật chất có kỹ thuật chế tạo các sản phẩm tiêu dùng từ các đối tượng tự nhiên - kỹ thuật sản xuất – tự thân là thiết bị khổng lồ cho các nghiên cứu khoa học tự nhiên, là phòng thí nghiệm đặc thù của khoa học tự nhiên Ở những thời kỳ sơ khởi của lịch sử nhân loại, sản xuất vật chất trong quan hệ với khoa học tự nhiên thể hiện là phương tiện duy nhất đặt ra cho tự nhiên (thường không có chủ định) những câu hỏi xác định và cũng là phương tiện trả lời cho các câu hỏi đó Ở các nấc thang phát triển cao hơn, sản xuất vật chất cho phép tạo ra các phương tiện chuyên môn dành cho việc nhận thức thực nghiệm về tự nhiên Trong quá trình đó, do khoảng cách được định hình trong lịch sử giữa sản xuất các vật phẩm và sản xuất các tri thức khoa học về chúng mà khoa học tự nhiên đã khá hiếm khi sử dụng sản xuất vật chất như là
Trang 17dụng cụ đặc thù và như phòng thí nghiệm đặc biệt Khoa học tự nhiên thích các dụng cụ và phòng thí nghiệm chuyên dụng trực tiếp để cải biến các đối tượng tự nhiên với mục đích thu nhận các tri thức về chúng Ở giai đoạn hiện nay, một lần nữa sản xuất lại trở thành phương tiện nhận thức khá mạnh về thế giới, mặc dù còn ở mức độ lớn hơn so với trước đây, sản xuất cho phép hiện thực hóa nói chung và trong tổng thể ước muốn hợp lẽ của khoa học tự nhiên được cung cấp những phương tiện chuyên dụng cho việc cải biến thực nghiệm đối với tự nhiên Trong tiến trình này, chỉ kỹ thuật sản xuất mới đẩy được nền tảng thực nghiệm của khoa học tự nhiên ra khỏi các giới hạn mà trong đó nó có thể phát triển độc lập tương đối với kỹ thuật cải biến sản xuất - thực tiễn đã được tạo ra
Sự biến đổi mang tính sản xuất - xã hội đối với tự nhiên bởi con người trong tiến trình sản xuất vật chất dẫn đến làm biến đổi bản chất sản xuất - xã hội của chính con người – cái bản chất người vốn trùng với cả việc họ sản
xuất ra cái gì, lẫn với việc, họ sản xuất như thế nào Nhân chuyện này, Mác
viết là, khi tác động vào thế giới ngoài và biến đổi nó để thu phục chất tự nhiên thành chất có ích cho cuộc sống riêng của mình, con người đồng thời làm thay đổi bản chất riêng của mình Sản xuất vật chất hóa ra là sản xuất không chỉ ra các đối tượng mà còn ra các nhu cầu mới, mà tổng thể của chúng
là cơ sở của bản chất sản xuất - xã hội biến đổi trong lịch sử của con người
Vì thế, khi sản xuất các vật nhờ làm thay đổi tự nhiên bên ngoài, nhân loại buộc phải thường xuyên thoát ra khỏi khuôn khổ bản chất sản xuất - xã hội trước đó của mình Mà lối thoát ra đó buộc họ phải vượt qua trình độ sản xuất vật chất đã đạt được, phát triển hơn lên nữa Như vậy, sản xuất vật chất chính
là hình thức thực tiễn đặc thù có chứa trong bản thân mình nguồn gốc, động lực của sự phát triển tiếp theo của mình
Mâu thuẫn giữa hình thức sản xuất đã có và các đối tượng với sự biến đổi bản chất sản xuất - xã hội của con người vốn do chính sản xuất đó quy
Trang 18định chính là nguồn gốc bên trong thúc đẩy sự phát triển không giới hạn của sản xuất vật chất Và nếu sản xuất vật chất luôn phát triển tiếp là nhờ tính tất
yếu khách quan bên trong của nó, thì tính tất yếu khách quan của sự phát triển
của tất cả các hình thức thực tiễn khác, bao gồm cả của sự cải biến thực
nghiệm - thực tiễn đối với tự nhiên, là bên ngoài đối với chúng Xét đến cùng,
tính quy luật khách quan của sự phát triển mọi hình thức thực tiễn đều bắt nguồn từ tính quy luật khách quan của sự phát triển sản xuất vật chất Ngày nay cũng như trước kia, động lực đích thực của sự phát triển này, nói cho cùng, thì đã và vẫn là thực tiễn vật chất, tức đòi hỏi của sản xuất, nhu cầu của
kỹ thuật Nhờ đó, sản xuất vật chất mới biểu hiện với tư cách là cơ sở khách quan của lịch sử nhân loại: tính quy luật của sự phát triển lịch sử nhân loại rốt cuộc do tính quy luật phát triển của sản xuất vật chất quy định
1.1.2 Logic khách quan của sự phát triển sản xuất vật chất
Nguồn gốc bên trong của sự phát triển sản xuất vật chất luôn gây “áp lực” lên trình độ sản xuất đã đạt được, không ngừng sinh ra những nhu cầu mới cho con người Khi đã đạt đến mức độ nhất định, “áp lực” đó tất yếu đòi hỏi phải cải biến hình thức sản xuất vật chất đã có thành hình thức mới, năng suất và hiệu quả hơn cho việc thỏa mãn các nhu cầu của con người Và tại đây người ta có thể đặt câu hỏi mang tính nguyên tắc và rất quan trọng về mặt thực tiễn là, sự phát triển của sản xuất vật chất từ hình thức này sang hình thức khác diễn ra theo chiều hướng nào, dưới dạng nào?
Hiện nay, khi khoa học giữ vai trò sản xuất ngày càng tăng, một số nhà triết học mácxít, trong việc luận giải quan điểm của Mác về khả năng khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp đã hiểu vai trò sản xuất của nó theo kiểu, giờ đây chính nó - khoa học - xác định xu hướng phát triển của sản xuất vật chất, còn sự sản xuất tri thức khoa học và sự phát triển của nó lại diễn
ra theo logic riêng, độc lập với sản xuất vật chất Theo họ, nếu có các nhu cầu của kỹ thuật đặt ra trước khoa học, khiến chúng thúc đẩy chủ yếu là các
Trang 19nghiên cứu ứng dụng và xử lý các lý thuyết cơ bản đã được khám phá, nếu
quan hệ này (kỹ thuật - khoa học) tạo ra khả năng cải cách nền sản xuất, làm
thay đổi nền tảng công nghệ đang có của nó, thì các nhu cầu của khoa học đặt
ra cho kỹ nghệ và các thành tựu của nó, cho phép tạo ra các phương pháp và
kết cấu công nghệ mới hẳn, lại cho phép cách mạng hóa nền sản xuất Như
vậy, hướng quan hệ từ khoa học đến sản xuất ngày nay đã trở thành hướng chủ đạo quyết định sự tiến bộ khoa học - kỹ thuật Hoặc: hiện nay khoa học, khi đã tạo ra khối lượng tri thức vượt trước, đang chuẩn bị sẵn nền móng cho
sự phát triển cách mạng tiếp theo của kỹ thuật, công nghệ, khai phá những con đường mới cho sự tiến bộ kỹ thuật
Quan điểm trên được khá nhiều người nghiên cứu trong các giai đoạn nhất định của lịch sử đồng tình Họ khẳng định: “Ngày nay, khoa học có ảnh hưởng quyết định đối với nền sản xuất, đối với mọi địa bàn hoạt động của con người Khoa học không những chỉ có khả năng làm thay đổi các ngành công nghiệp, giao thông vận tải và nông nghiệp mà còn làm biến đổi cả các ngành phục vụ, đời sống và văn hóa” [42, tr 208] hay “Khoa học ngày nay đã tham gia trực tiếp vào sản xuất hàng ngày, đã trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất Khoa học thực sự xâm nhập vào sản xuất và trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp” [26, tr 43] Theo một cách khác,
“Thiên nhiên, nhà sáng tạo vĩ đại ấy đã tỏ ra không có khả năng đáp ứng những nhu cầu mới của sản xuất Bắt tay vào công việc đó là con người được
vũ trang bằng khoa học” [17, tr 12]
Như vậy, theo các quan điểm nêu trên thì vai trò của khoa học là, chính
nó định hướng phát triển tiếp theo cho sản xuất vật chất Cũng chính nó tự khám phá các quy luật nền tảng của tự nhiên hoàn toàn độc lập với các nhu cầu riêng của kỹ thuật, của sản xuất vật chất Và nếu nhất quán trên quan điểm đó, thì sẽ buộc phải kết luận, sự phát triển của sản xuất vật chất diễn ra
dưới hình thức các phát minh khoa học và sự vật chất hóa chúng thành các
Trang 20kết quả kỹ thuật và sản xuất, là do chính nội dung các phát minh đó quy định hoàn toàn, do chính các phát minh đó tạo ra Và như thế thì logic phát triển của sản xuất vật chất sẽ là như thế nào? Rõ ràng, sẽ chính là logic nội tại của
sự phát triển khoa học
Liên quan tới việc, trong những điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật, sự phát triển của khoa học hiển nhiên là đi trước, theo một ý nghĩa xác định, so với sự phát triển của kỹ thuật và sản xuất Từ đây có thể nảy ra vấn đề: liệu nói chung, vai trò động lực của toàn bộ sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và sản xuất có phải đã chuyển sang cho khoa học không? Nhà xã hội học Mỹ Đa-ni-en Ben mưu toan luận giải cho quan điểm trên bằng cách xây dựng “một nguyên lý về vai trò trung tâm của nhận thức lý luận”
Tuy nhiên, hiểu vai trò sản xuất của khoa học theo kiếu biến sản xuất vật chất thành sản phẩm phát triển theo logic riêngcủa khoa học là không hẳn chính xác dưới ánh sáng luận điểm của Mác rằng, sản xuất vật chất phát triển, cải biến từ hình thức này thành hình thức khác hoàn toàn không phải do khoa học làm ra các phát minh mà nội dung riêng của chúng xác định sự biến đổi
đó, mà trước hết là do các mâu thuẫn bên trong của chính hình thức sản xuất vật chất đã chín muồi Với lý do đó, Mác rất có lý khi cho rằng, sự phát triển các mâu thuẫn của hình thức sản xuất lịch sử đã biết - là con đường lịch sử duy nhất làm tan rã nó và hình thành hình thức mới…
Như vậy, theo Mác, sự phát triển của sản xuất vật chất từ một hình thái
này sang hình thái khác là do sự phát triển các mâu thuẫn riêng của sản xuất
vật chất Chính sự đặc thù của chúng xác định hướng cải biến sản xuất vật
chất từ hình thức đã có sang hình thức mới Vì thế phải khảo sát sự phát triển của sản xuất vật chất như quá trình diễn ra dưới hình thức nảy sinh và giải quyết liên tục các mâu thuẫn riêng của nó Đúng như C Mác đã khẳng định:
“… tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra
Trang 21lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” [30, tr 39 – 40] Thêm vào đó, sự phát triển của sản xuất vật chất còn có thể được xét cả như quá trình diễn ra dưới hình thức hiện thực hóa các thành tựu khoa học xác định (bởi chính đặc thù của các mâu thuẫn riêng của sản xuất vật chất) Thế nhưng mâu thuẫn riêng của sản xuất vật chất mà quá trình khách quan nảy sinh và giải quyết chúng cũng là logic (biện chứng) khách quan của sản xuất đó là gì? Để trả lời câu hỏi đó, luận văn phân tích các thành tố cơ bản tạo thành hình thái lịch sử của sản xuất vật chất
Nếu sản xuất vật chất là sự cải biến thực tiễn về bản chất mang tính xã
hội đối với tự nhiên nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu của con người thì
nó phải vận hành trong hệ thống xác định các quan hệ sản xuất Hệ thống đó
chính là “hình thức xã hội” của sản xuất Điều này đã được giới nghiên cứu
lịch sử đồng thuận: “Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản
tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật
chất của quá trình sản xuất còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá
hiện thực hóa các chức năng sản xuất Hệ thống đó chính là hình thức công
nghệ, hay phương thức (phương pháp) công nghệ của sản xuất Luận giải về
điều này, X.V Sukharđin viết: “Phương pháp công nghệ của sản xuất là tập hợp của ba yếu tố: 1, Tổ chức sử dụng các phương tiện kỹ thuật; 2, Phương
Trang 22pháp kỹ thuật để gắn bó người sản xuất với các phương tiện kỹ thuật; 3, Phân công lao động Cả ba yếu tố này đều gắn bó với nhau” [42, tr 16]
Như Mác đã chỉ ra trong Tư bản, cũng như trong các bản thảo chuẩn bị
cho tác phẩm đồ sộ đó, hình thái lịch sử mới của sản xuất được xác định bởi đặc thù của mâu thuẫn giữa các phương thức công nghệ của sản xuất, giữa lực lượng sản xuất đặc trưng cho phương thức công nghệ đó với các quan hệ sản
xuất đang được hình thành trên cơ sở của chúng Trong đó vai trò làm cơ sở cho sự phát triển của sản xuất vật chất, làm điều kiện cho sự hiện thực hóa nó,
theo Mác, là thuộc về lực lượng sản xuất, thuộc phương thức công nghệ của sản xuất Các mâu thuẫn giữa các phương thức công nghệ của sản xuất thường chín muồi chính trên cơ sở các mâu thuẫn nội tại của lực lượng sản xuất, của phương thức công nghệ sản xuất Những mâu thuẫn đó nói chung, bằng đặc thù của mình, quyết định hình thái lịch sử sản xuất mới Các mâu thuẫn nội tại của lực lượng sản xuất một cách trực tiếp chỉ quyết định hình thức công nghệ của sản xuất, đó là những mâu thuẫn giữa tính tất yếu phải nâng cao hiệu quả sự vận hành của chúng với kết cấu hiện tồn của chúng vốn không đủ khả năng cải tạo căn bản, đảm bảo cho những chức năng sản xuất mới tất yếu một cách khách quan Những nhu cầu mới xuất hiện ở con người
đòi hỏi lực lượng sản xuất hiện tồn một sự vận hành hiệu quả hơn, là điều chỉ
có thể đạt được nhờ sự cải biến tương ứng các yếu tố thực hiện chức năng sản
xuất, tức là của kết cấu lực lượng sản xuất
Mâu thuẫn giữa sự vận hành và kết cấu của lực lượng sản xuất - động lực bên trong cải biến chúng thành lực lượng sản xuất mới - đã được hình thành như thế Quá trình xuất hiện và giải quyết mâu thuẫn đó cũng chính là biện chứng, là logic khách quan của sự phát triển của sản xuất vật chất Biện chứng đó là tính quy luật khách quan tổng thể, xương sống, nền tảng nhất của
sự phát triển sản xuất vật chất và đồng thời với nó, còn là của tất cả các quan
hệ xã hội khác, bao gồm cả quan hệ lý luận của xã hội với tự nhiên - tức là
Trang 23khoa học Xét trong quan hệ với khoa học thì phép biện chứng đó chính là
“trục giữa” của đường cong phát triển lịch sử đầy phức tạp của khoa học Luận văn từ đây có nhiệm vụ phân tích chính cái “trục giữa” đó, trong khi không quy hết về nó toàn bộ sự phong phú của lịch sử hiện thực của khoa
học, nhưng cũng hoàn toàn không hòa tan vào sự phong phú đó đường
hướng phát triển tổng thể của khoa học trong mối liên hệ biện chứng với
sản xuất vật chất
Mặc dù các mâu thuẫn của lực lượng sản xuất có thể được giải quyết
nhờ cả thành tố kỹ thuật lẫn thành tố con người, thì tiến bộ kỹ thuật vẫn là cái
tạo cơ sở của phép biện chứng, của logic khách quan của sự phát triển sản xuất vật chất đến nỗi mà các học giả đã khẳng định: “Việc nghiên cứu các phương thức kỹ thuật khác nhau cho phép chúng ta so sánh về mặt công nghệ giữa các thời đại sản xuất khác nhau” [42, tr 16] Điều này quá rõ nếu chú ý, một mặt, tới những khả năng hạn chế của sự phát triển kỹ thuật như là phương tiện giải quyết những mâu thuẫn nội tại của lực lượng sản xuất và mặt khác, đến sự hạn chế quá lớn của những khả năng tự nhiên của con người coi như là phương tiện hiện thực hóa các chức năng sản xuất Rốt cuộc mâu thuẫn giữa tính tất yếu phải nâng cao hiệu quả vận hành lực lượng sản xuất với kết cấu hiện có của nó luôn được giải quyết nhờ việc tạo ra những thiết bị kỹ thuật mới có thể làm phương tiện hiện thực hóa các chức năng sản xuất mới hiệu quả hơn
Tiến bộ kỹ thuật phụ thuộc vào tính chất các mâu thuẫn của lực lượng sản xuất mà nó cùng với các nhân tố xã hội khác, hướng đến giải quyết, có thể vẫn còn lại trong phạm vi cái đặc thù của sự phân chia các nhóm khác nhau trên nguyên tắc các chức năng sản xuất giữa con người và kỹ thuật vốn đặc trưng cho phương thức công nghệ của nền sản xuất đó Chẳng hạn, cho đến
Đây là nói rõ các nhóm chức năng sản xuất, giao thông, công nghệ và năng lượng vốn cùng nhau tạo thành các chức năng cải biến chất tự nhiên trong tiến hành sản xuất vật chất cũng như các chức
Trang 24tận giữa thế kỷ XVIII, đường hướng tiến bộ kỹ thuật chung vẫn gắn liền với
sự giải quyết mâu thuẫn giữa tính tất yếu phải tiếp tục nâng cao các năng lực sản xuất của các dụng cụ thủ công với những hình thức đã được tìm ra của chúng Mâu thuẫn đó được khắc phục nhờ sự tạo lập ráo riết các dụng cụ mới bằng các cách chuyên môn hóa và phân tách chúng Và sự phát triển như thế của kỹ thuật dụng cụ vẫn còn lại trong phạm vi đặc thù của phương thức sản xuất thủ công và chưa dẫn đến việc biến đổi sự phân chia các nhóm chức năng sản xuất khác nhau giữa các thành tố con người và kỹ thuật của lực lượng sản xuất Cho dù kỹ thuật dụng cụ có phát triển thế nào đi chăng nữa thì con người vẫn buộc phải thực hiện tất cả các nhóm chức năng sản xuất, ngoài các chức năng vốn gắn với sự tiếp xúc trực tiếp của các công cụ cải biến và vật chất tự nhiên bị cải biến
Tuy nhiên, các mâu thuẫn của lực lượng sản xuất có thể đòi hỏi cả sự tái phân chia căn bản các nhóm chức năng sản xuất giữa các thành tố người và
kỹ thuật của lực lượng sản xuất Sự tái phân chia như vậy luôn gắn liền với việc tạo lập kỹ thuật mới hẳn giành về mình việc thực hiện trên quy mô toàn
bộ nền sản xuất vật chất các nhóm chức năng sản xuất, mà sự hiện thực hóa
nó ở quy mô đó trước đây là đặc quyền tuyệt đối của con người Việc tạo ra
kỹ thuật như thế, trong khi, dĩ nhiên, là cuộc cách mạng kỹ thuật, đồng thời
cũng là cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ của sản xuất Điều này được lý giải như sau: “Cuộc cách mạng kỹ thuật, bản chất của cuộc cách
mạng này là sự xuất hiện và ứng dụng các phát minh đã gây ra một bước ngoặt (thay đổi tận gốc rễ) trong phương tiện lao động, trong các dạng năng lượng công nghệ sản xuất và các điều kiện vật chất chung của quá trình sản xuất Cuộc cách mạng kỹ thuật là quá trình chế tạo và sử dụng những phương năng quản lý - kiểm soát, lập trình công nghệ, các quá trình sản xuất và tính hướng đích vốn gắn với sản xuất vật chất, tức là các chức năng xử lý thông tin nhằm cung cấp cho các quá trình cải biến sản xuất vật chất mang tính hướng đích
Trang 25tiện kỹ thuật có khả năng chuẩn bị để bước sang một phương pháp công nghệ mới của sản xuất” [42, tr 40] Ví dụ cho cuộc cách mạng kiểu này là bước chuyển của tiến bộ kỹ thuật từ các cách thức hoàn thiện kỹ nghệ dụng cụ sang các cách thức tạo ra kỹ nghệ máy móc thực hiện thay con người nhóm các chức năng sản xuất
Mác là người đầu tiên đưa ra các tiêu chí của cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ của sản xuất chính như là cuộc cách mạng kỹ thuật
mà cơ sở của nó là kỹ thuật mới trong quy mô toàn bộ nền sản xuất thay thế cho con người, như là phương tiện thực hiện nhóm các chức năng sản xuất xác định Sự đưa ra các tiêu chí này được Mác xét cùng bước chuyển từ sản xuất thủ công sang máy móc Mác khảo sát bước chuyển đó như là cuộc cách mạng tư bản chủ nghĩa đặc thù trong phương thức công nghệ của sản xuất, như là sự biểu hiện công nghệ của cuộc cách mạng tư bản chủ nghĩa về bản chất trong lực lượng sản xuất Tuy nhiên, sự phân tích do Mác tiến hành đối với đặc thù của cuộc cách mạng đó vẫn có ý nghĩa phương pháp luận chung hơn Trong khi phân tích, Mác đã xây dựng, về thực chất, phương pháp nghiên cứu logic biện chứng phổ biến về sự phát triển của sản xuất vật chất như là cơ sở của tiến bộ xã hội Sự phân tích logic biện chứng các mâu thuẫn riêng của lực lượng sản xuất của một hình thái sản xuất vật chất tạo thành bản chất cô đọng của phương pháp đó Sự phân tích đó cho phép vạch ra tính quy luật khách quan của sự xuất hiện bất kỳ cuộc cách mạng kỹ thuật nào Tuy nhiên, luận văn chỉ khảo sát lịch sử phát triển của kỹ thuật, của sản xuất vật chất từ giác độ những mâu thuẫn của lực lượng sản xuất đã khơi mào các cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ của sản xuất tương ứng với đặc thù của chúng
1.1.3 Tính bị quyết định kép của sự phát triển sản xuất vật chất
Các con đường phát triển sản xuất vật chất, trong khi trước hết là các con đường tiến bộ kỹ thuật như là phương tiện chủ yếu giải quyết các mâu
Trang 26thuẫn nội tại của lực lượng sản xuất thì lại bị quyết định trước hết bởi đặc thù của các mâu thuẫn đó Sản xuất vật chất, kỹ thuật cần phát triển theo hướng nào ở một thời kỳ lịch sử nhất định? Câu trả lời chỉ có thể đáng tin cậy nếu nó dựa trên việc vạch ra các mâu thuẫn đặc thù của lực lượng sản xuất đã được con người tạo ra
Ở thời kỳ lịch sử đó, vì từ đặc thù của các mâu thuẫn giữa tính tất yếu phải nâng cao hiệu quả vận hành của lực lượng sản xuất với, xét đến cùng,
thành tố kỹ thuật của chúng để rút ra chính những chiều hướng phát triển tiếp
theo của sản xuất, của kỹ thuật, vốn bị quyết định một cách khách quan bởi bản chất riêng có của lực lượng sản xuất đã được tạo ra
Cái quyết định nội tại khởi nguồn từ chính phía sản xuất vật chất đó đối
với sự phát triển của nó luôn có xu hướng làm chín muồi trong chính “cơ thể” sản xuất vật chất tính tất yếu khách quan phải tạo ra kỹ nghệ hiện thực hóa hiệu quả hơn các chức năng sản xuất này hay khác Các mâu thuẫn của lực lượng sản xuất đang chín muồi ở thời kỳ phát triển này của chúng, chỉ xác
định mặt chức năng của kỹ nghệ mới vốn có khả năng giải quyết mâu thuẫn
đó, còn mặt kiến tạo của kỹ nghệ mới, của các tác nhân vật chất thực hiện các
chức năng đó vốn bị xác định bởi các mâu thuẫn đã chín muồi hoàn toàn của lực lượng sản xuất, lại do các quy luật của tự nhiên quyết định Để làm sáng
tỏ điều này, cần phải tuân theo kinh nghiệm của lịch sử, phân tích nó bằng ánh sáng của các luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin viết: “kỹ thuật cơ giới
và hóa học phục vụ mục đích của con người, chính là vì tính chất của nó (bản tính của nó) là ở chỗ nó được những điều kiện bên ngoài (những quy luật của giới tự nhiên) quy định” [28, tr 200].Nhờ đó, việc khám phá các quy luật tự nhiên, tri thức thực tiễn và khoa học về tự nhiên trở thành điều kiện thiết yếu cho việc tạo lập hiện thực những thiết bị kỹ thuật mới có khả năng thực hiện các chức năng sản xuất hiệu quả hơn và, như vậy, giải quyết được những mâu thuẫn tương ứng của lực lượng sản xuất
Trang 27Một mặt, kỹ thuật - là một trong các phương tiện giải quyết các mâu thuẫn nội tại của lực lượng sản xuất quan trọng nhất và do vậy, sự phát triển của nó ở khía cạnh chức năng bị quyết định bởi đặc thù của những mâu thuẫn
đó Mặt khác, các thiết bị kỹ thuật là những khí quan của bộ não người được
tạo ra bởi đôi bàn tay con người, là sức mạnh tri thức được vật hóa Và vì thế,
sự phát triển của kỹ thuật, của sản xuất vật chất một cách tương đối còn bị quy định bởi sản xuất tinh thần - sản xuất tri thức, bởi tiến bộ khoa học Thế
kỹ thuật nào sẽ được tạo ra ở thời kỳ phát triển tiếp theo của nó? Điều đó cũng một cách xác định - trên bình diện kiến tạo - phụ thuộc khá nhiều vào việc, tri thức khoa học nào đã được sản sinh ra hay còn phải đợi được sinh ra
Sự ghi nhận tính bị quyết định kép của sự phát triển sản xuất vật chất, của tiến bộ kỹ thuật, đòi hỏi phải giải quyết vấn đề mang tính nguyên tắc về tính chất của sự quyết định đó từ phía trong hay từ phía ngoài, từ chính mâu thuẫn nội tại của sản xuất vật chất hay từ phía khoa học Cái nào trong số hai yếu tố trên mang tính chủ đạo và quyết định?
Rõ ràng là, quan điểm mácxít về vấn đề này - quan điểm duy vật lịch sử
- rất cần cho câu trả lời xác định Theo đó, ở bất kỳ thời kỳ lịch sử nào của nhân loại thì cái quyết định bên trong sự phát triển của sản xuất vật chất luôn
là cái chính, cái chủ đạo Tuy nhiên, như đã nói ở trên, vẫn có một số nhà triết học mácxít cho rằng, ở thời kỳ tiến bộ khoa học - kỹ thuật hiện nay, vai trò quyết định trong sự phát triển của sản xuất vật chất, của kỹ thuật đã chuyển sang khoa học, dường như ngày nay khoa học tự thân đã quyết định các chiều hướng phát triển của sản xuất, còn bản thân nó phát triển không phụ thuộc vào sản xuất, vượt trước sự phát triển của sản xuất
Lẽ dĩ nhiên, quan điểm lịch sử - cụ thể một lần nữa lại trở nên cần thiết khi nghiên cứu, đánh giá các luận điểm sau đây: Ngay trong thế kỷ XIX, khả năng dự đoán của lý luận khoa học tự nhiên trong quan hệ với thực nghiệm và
Trang 28sản xuất cũng đã dần dần bộc lộ Nói một cách hình ảnh thì khoa học, khi ấy
đã có thể dùng làm kim chỉ nam, vạch ra phương hướng mà thực tiễn phải vận động và phát triển Đến giữa thế kỷ XX, khoa học không chỉ giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn sản xuất - kỹ thuật đặt ra trước nó dưới hình thức
rõ ràng mà còn giải quyết cả những vấn đề mà công nghiệp và kỹ thuật chỉ trong tương lai mới có hy vọng đạt tới Như thế, khoa học đã mở ra những con đường quan trọng nhất cho thực tiễn sản xuất tương lai…
Chúng ta đều biết, trong một loạt công trình của mình, Mác đã nghiên cứu đến vai trò của khoa học trong sự phát triển của sản xuất Chẳng hạn, khi nghiên cứu năng suất lao động, Mác đã phát hiện ra các nhân tố quyết định của nó trong số đó có mức độ phát triển khoa học và quy mô ứng dụng của
nó Ông viết: “Lực lượng lao động sản xuất được xác định bởi những điểm khác nhau, tựu trung là bởi trình độ nghệ thuật trung bình của người công nhân, bởi mức độ phát triển khoa học và bởi trình độ ứng dụng công nghệ của chúng, bởi cách hợp nhất xã hội của quá trình sản xuất, bởi các điều kiện thiên nhiên” [Trích theo 42, tr 184] Ngoài ra, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác còn chỉ rõ mối liên quan trực tiếp giữa việc tăng năng suất lao động và phát triển khoa học Nó thể hiện ở chỗ theo đà phát triển khoa học và
kỹ thuật, những máy và công cụ cũ được thay thế bằng những thứ mới có hiệu suất cao hơn, rẻ hơn so với kết quả công việc của chúng Do đó, Mác kết luận,
tư bản cũ tái sản xuất dưới hình thức có năng suất cao hơn làm cho lực lượng lao động sản xuất tăng lên, trước hết là trong lĩnh vực sản xuất ra các phương tiện sản xuất Quá trình này liên tục gắn liền với tiến bộ khoa học và kỹ thuật
Tất cả những nhận định trên đều gắn liền với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nó Thế nhưng, trước mưu toan phủ nhận vai trò của sản xuất trong mối tương quan với khoa học, nhiều học giả vẫn cố tình hiểu sai về vai trò của cả hai yếu tố sản xuất - khoa học trong lịch trình phát triển của nhân loại Kết quả của sự lầm lẫn các khía cạnh trong việc đánh giá các yếu tố phát triển của
Trang 29sản xuất vật chất một cách ngoài ý muốn đã làm rạn nứt cách giải quyết duy vật lịch sử về vấn đề tương quan giữa sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, giữa lý luận và thực tiễn Vậy đâu là nguyên nhân cơ bản của sự nhầm lẫn này? Câu trả lời ngắn gọn là ở tính giả tưởng, ở bề mặt, ở tính tưởng chừngcủa nhận thức Sự quyết định tiến bộ kỹ thuật từ phía khoa học dẫn đến việc, quá trình tạo lập kỹ thuật nhìn bề ngoài như là quá trình đồng nhất với quá trình vật chất hóa các tri thức khoa học, chỉ như là sự vận động theo đường
“từ khoa học đến kỹ thuật”, được thực hiện chỉ nhờ chính sự sản xuất ra tri thức Phân khúc đó, trong khi hoàn toàn không là tính quy luật cơ bản của tiến
bộ khoa học - kỹ thuật, bị che khuất bởi các hiện tượng của nó, mà có chăng cũng chỉ là một trong các biểu hiện bên ngoài của tính quy luật đó - của sự quyết định nội tại của sự phát triển sản xuất vật chất, của kỹ thuật, lại nằm trên bề mặt các quan hệ giữa sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, giữa kỹ thuật và khoa học Nó đập ngay vào mắt rõ đến nỗi xuất hiện mối đe dọa tuyệt đối hóa khoa học một cách ngoài ý muốn, xếp cái vốn chỉ là quyết định bên ngoài đối với sự phát triển sản xuất vật chất, kỹ thuật vào hạng cái quyết định duy nhất hay ít ra thì cũng là cái quyết định chủ đạo, chính yếu Ngay từ gần 1,5 thế kỷ trước, Ăngghen đã buộc phải nhấn mạnh: “Nếu kỹ thuật phụ thuộc trên mức độ đáng kể vào trạng thái của khoa học như ngài khẳng định, thì khoa
học phụ thuộc vào trạng thái và nhu cầu của kỹ thuật ở mức độ lớn hơn nhiều”
[34, tr 408]
Tuy nhiên, thời nay, do sự gia tăng còn mạnh mẽ hơn so với ở các thế
kỷ trước vai trò sản xuất của khoa học mà một số người đã nghiêng về việc thổi phồng khoa học vốn chỉ như cái quyết định bên ngoài đối với sự phát triển của sản xuất vật chất vào hạng quy luật cơ bản của tiến bộ khoa học - kỹ thuật đương đại Một khi kỹ thuật hiện đại thể hiện với tư cách sự vật chất hóa một số tri thức khoa học và sự tạo ra kỹ thuật thường đi sau phát minh khoa học xác định nào đó, mà nhiều người cho rằng, nó được tạo ra có nguyên
Trang 30nhân từ phát minh đó Thế thì ở đây vẫn là lỗi lôgic muôn thuở: lẫn lộn giữa tính kế tiếp về thời gian và quan hệ nhân quả Nguyên nhân thì phải có trước kết quả, nhưng không phải cái gì có trước cũng là nguyên nhân, điều đó giống như việc, một con chim én không làm nên mùa xuân Nhưng nếu thực sự là chính các tri thức khoa học tự thân, do chính một bối cảnh là đã có chúng, nên quyết định chiều hướng phát triển của kỹ thuật, của sản xuất vật chất, thì bước chuyển từ sản xuất thủ công sang sản xuất máy móc đã cần phải diễn ra từ thời Arixtốt, bởi lẽ, các tri thức kỹ thuật và các thành tựu thời Hy Lạp hóa tự thân đã khá đủ để tạo ra các máy móc cơ bản làm nên cách mạng công nghiệp
- các cỗ máy dệt đa năng có điều khiển và máy hơi nước
Tuy nhiên, trên thực tế, bước chuyển đó chỉ diễn ra vào giữa thế kỷ XVIII Vậy là hơn 2000 năm, tri thức về vận động cơ học vốn về bản chất là tri thức về kỹ nghệ cơ giới có khả năng cách mạng hóa sản xuất, đã không thể gây ra cuộc cách mạng nào phù hợp với nội dung của mình Trường hợp trên không phải là duy nhất, ngoại lệ, về sự thiếu thốn khả năng kéo dài nhiều thế
kỷ của tri thức khoa học (về thực chất là tri thức về kỹ thuật mới) hóa thân một cách hiện thực thành kỹ thuật tương ứng với nó Bởi vậy, lịch sử kỹ thuật chứa đầy những phát minh có giá trị mà không được áp dụng rộng rãi chỉ vì thiếu những điều kiện kinh tế - xã hội cần thiết
Tóm lại, sự bị quy định kép – trong và ngoài – đối với sự phát triển sản xuất vật chất có tính chất sau: Từ phía trong – phía sản xuất, phía kỹ thuật đã
có – thì những hình thức sản xuất mới được xác định bởi các mâu thuẫn đã chín muồi của lực lượng sản xuất vốn thực hiện chức năng là cơ sở khách quan cho bước chuyển đến những hình thức sản xuất mới, đến kỹ thuật mới
Do sự quyết định này mà có thực tế là kỹ thuật mới mà tính tất yếu khách
quan của nó chín muồi trong chính “cơ thể” của sản xuất vật chất, - kỹ thuật
có cơ sở bởi chính những nhu cầu riêng của sản xuất Từ phía ngoài – phía
khoa học - kỹ thuật mới được xác định bởi nội dung của tri thức mới giữ vai
Trang 31trò là điều kiện thiết yếu cho việc tạo lập nó một cách hiện thực Và do sự quyết định đó mà có thực tế là, kỹ thuật mới chỉ có thể được tạo lập trên cơ sở
tri thức khoa học vừa nhận được - kỹ thuật được xác định bởi các chức năng
của khoa học
Rõ ràng là, chỉ có sự gặp nhau giữa cơ sở và điều kiện của tiến bộ kỹ thuật mới làm xuất hiện kỹ thuật thực sự có hiệu quả cao về mặt kinh tế và giải quyết được những vấn đề hiện thực của sự phát triển sản xuất vật chất Chỉ khi kỹ thuật được tạo điều kiện bởi các khả năng của khoa học, sẽ đồng thời là kỹ thuật dựa trên cơ sở các nhu cầu của sản xuất, thì khi đó quá trình vật chất hoá tri thức khoa học mới đòi hỏi phí tổn tài chính và nhân lực thấp nhất, nhưng lại mang đến hiệu quả kinh tế nhiều nhất Bởi lẽ trong trường hợp này, sự vận động từ tri thức khoa học đến kỹ thuật mới tương ứng với nó sẽ diễn ra trong điều kiện chín muồi hoàn toàn của tất cả các tiền đề vật chất cần cho việc tạo lập mới kỹ thuật đó
Vì, như Mác là người đầu tiên đã khám phá ra, quy luật phổ biến của
sản xuất vật chất chính là việc các khả năng vật chất của hình thái sản xuất tiếp theo - cả các điều kiện công nghệ, lẫn kết cấu kinh tế của xí nghiệp - đều
đã được tạo ra ở hình thức trước Và sự chín muồi các mâu thuẫn xác định của lực lượng sản xuất vốn đòi hỏi cho sự giải quyết chúng việc phải tạo lập kỹ thuật mới, cũng có nghĩa là, ở hình thức sản xuất đang có đã tạo ra được tất cả những khả năng vật chất cần cho bước chuyển sang hình thái kế tiếp, rằng trình độ phát triển kỹ thuật đã đạt được bao chứa trong nó mọi tiền đề vật chất cần cho bước chuyển đến trình độ tiếp theo Sản xuất càng phức tạp, càng hiện đại thì lại càng đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu khoa học Từ trong lịch
sử, ở giai đoạn mà trình độ kỹ thuật sản xuất thấp và mức độ phát triển của bản thân khoa học cũng thấp kém nên chưa có sự liên hệ tương hỗ gắn bó giữa sản xuất và khoa học Tất nhiên, nhìn chung thì sự phát triển của những kiến thức khoa học là do sự phát triển sản xuất sinh ra Song mối liên hệ giữa
Trang 32khoa học và sản xuất lại mang một đặc tính rất chung, không cụ thể chút nào Khoa học tác động vào thực hành bằng những va chạm ngẫu nhiên với sản xuất Từ chỗ sử dụng kiến thức khoa học một cách ít nhiều tình cờ, tản mạn, không đều đặn thì càng về sau, khoa học và sản xuất đã thiết lập được mối quan hệ thường xuyên hơn, sản xuất cũng chỉ có thể phát triển được dựa trên một cơ sở khoa học chặt chẽ Ngược lại, “khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất” [37, tr 77]
Ở đây, mối quan hệ giữa khoa học và sản xuất, giữa lý luận và thực tiễn phải là mối quan hệ tương hỗ, chứ không phải một chiều Chính chúng phải mang tính chất của sự vận động tiến lại gặp nhau: khoa học phải quan tâm sao cho những kết quả của mình được thể hiện kịp thời và đầy đủ trong sản xuất; còn sản xuất thì về phía mình, cũng phải quan tâm không kém để sao cho có thể tiếp thu và chọn lọc được nhanh chóng hơn và đầy đủ hơn những thành tựu của khoa học Kỹ thuật, trong trường hợp này chính là khâu trung gian Đây cũng chính là cách hiểu đúng đắn, cụ thể hơn đối với nhận định mang tầm khái quát của Lênin: Sự khác biệt giữa tư tưởng và vật chất cũng không phải là tuyệt đối Do đó, “nếu quá trình sản xuất trở thành lĩnh vực ứng dụng khoa học thì ngược lại, khoa học trở thành yếu tố và có thể nói, trở thành chức năng của quá trình sản xuất” [42, tr 185] Hai yếu tố trên tác động song hành
và chính chúng quyết định sự phát triển của sản xuất vật chất
1.2 Sự phát triển của khoa học tự nhiên
1.2.1 Khoa học tự nhiên như là sự phản ánh giới tự nhiên qua lăng kính thực tiễn
Sản xuất vật chất (sự chiếm lĩnh giới tự nhiên nhằm mục đích thoả mãn các nhu cầu con người) và khoa học tự nhiên (sự chiếm lĩnh về mặt tinh thần giới tự nhiên) cùng xác định lẫn nhau - với tư cách là những mặt đối lập gắn
bó trực tiếp với sự vận động xã hội của vật chất Đồng thời chúng tương đối không phụ thuộc vào nhau trong sự phát triển của mình Vả lại trong số tất cả
Trang 33các kiểu nhận thức về tự nhiên thì sự không phụ thuộc nhiều nhất vào sản xuất vật chất thường là đặc trưng của khoa học tự nhiên lý thuyết (khoa học
cơ bản) - sự chiếm lĩnh lý luận đối với tự nhiên Loại hình khoa học cơ bản này chuyên nghiên cứu các hiện tượng, quy luật và phương pháp lý thuyết chung để triển khai khoa học ứng dụng Nó ở tầm lý thuyết cao, mức độ khái quát lớn, cách xa với kỹ thuật và sản xuất, khó hoặc chưa thể trực tiếp áp dụng vào sản xuất mà phải thông qua các công đoạn triển khai khác Do vậy, giữa khoa học tự nhiên lý thuyết và sản xuất vật chất khá thường xuyên không
có mối liên hệ trực tiếp nào Trong quá trình chiếm lĩnh lý luận đối với tự
nhiên, những nhiệm vụ nhận thức hoàn toàn không có quan hệ trực tiếp nào tới các nhiệm vụ chinh phục nó về mặt sản xuất thực tiễn có thể được giải quyết Còn khoa học tự nhiên thực tiễn (khoa học ứng dụng) - sự nhận thức tự nhiên đi liền với quá trình cải biến nó về mặt thực tiễn, chừng nào con người, trong khi tiến hành quá trình đó, tất yếu phải suy tư về những thuộc tính khách quan của các đối tượng tự nhiên được đưa vào guồng máy sản xuất, rõ ràng, luôn trực tiếp gắn với sản xuất vật chất, bị bao gồm vào nó
Nhưng cả khoa học tự nhiên lý thuyết lẫn thực tiễn đều là sự phản ánh
vào đầu óc con người giới tự nhiên đang được cải biến một cách thực tiễn,
hay, chính xác hơn, khoa học tự nhiên (khác nhau về trình độ và phương tiện)
là sự phản ánh giới tự nhiên qua lăng kính sự cải biến nó về mặt thực tiễn
Khoa học tự nhiên thực tiễn là sự phản ánh giới tự nhiên chỉ thông qua lăng kính thực tiễn sản xuất Khoa học tự nhiên lý thuyết là sự phản ánh giới tự nhiên qua lăng kính sự cải biến nó không chỉ trong thực tiễn sản xuất mà còn trong thực tiễn thực nghiệm, tức thông qua lăng kính sự cải biến nó về mặt vật chất nhằm không chỉ thoả mãn các nhu cầu vật chất của con người mà còn các nhu cầu nhận thức các quy luật tự nhiên
Thực sự vĩ đại việc khám phá ra rằng, tư duy, nhận thức con người là
sự phản ánh vào đầu óc con người thế giới vật chất được biến đổi về mặt thực tiễn Khám phá đó là công lao của triết học duy vật biện chứng Chủ nghĩa
Trang 34duy tâm đã và vẫn đang phủ nhận mối tuơng quan giữa tư duy và hiện thực khách quan như là sự phản ánh tư tưởng và nguyên mẫu vật chất của nó Chủ nghĩa duy tâm xuyên tạc phép biện chứng hiện thực của thực tiễn và nhận thức, tước đi ở nhận thức vai trò là cơ sở cho sự phản ánh sự phát triển của thực tiễn
Chủ nghĩa duy vật siêu hình, dù cũng xem xét tư duy con người ở tư cách là sự phản ánh thế giới khách quan, nhưng lại bám giữ lập trường trực quan, xem nhẹ vai trò của thực tiễn với tư cách là cơ sở của sự phản ánh Chủ nghĩa duy vật này cho rằng, thế giới khách quan, giới tự nhiên, tạo ra những dấu ấn trong đầu óc con người, những hình ảnh tư tưởng của các sự vật hiện thực khách quan, trong khi đó, thực ra thì những hình ảnh đó xuất hiện trong đầu óc con người phụ thuộc vào việc con người tạo ra các dấu ấn thực tiễn lên chính giới tự nhiên, tức là phụ thuộc vào sự cải biến vật chất đối với các sự vật của tự nhiên nhằm thoả mãn các nhu cầu con người Theo Mác: “Khiếm khuyết chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay – kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc – là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ
được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không
được nhận thức về mặt chủ quan” [30, tr 1] hay “Đời sống xã hội, về thực
chất, là có tính chất thực tiễn Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến
chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [30, tr 12]
Ở mọi thời kỳ lịch sử của mình, chỉ bằng thực tiễn của mình mà con người thực hiện nhờ kỹ thuật thực nghiệm và sản xuất, họ mới lấy ra được từ
vũ trụ vô tận một đoạn hữu hạn, biến nó thành khách thể nhận thức Và khúc đoạn nào của tự nhiên ở thời kỳ lịch sử nhân loại nào đó trở thành khách thể nhận thức, thì nói chung đều được xác định bởi những đặc thù của trình độ phát triển kỹ thuật ở thời kỳ đó, bởi đặc thù của kỹ thuật đã được nhân loại
Trang 35tạo ra Khoa học nhận thức chính cái khúc đoạn hữu hạn đó, bất chấp sự vô hạn thực sự của thế giới vật chất Và khoa học có thể chuyển từ sự phản ánh một đoạn, phân khúc thế giới vật chất này sang đoạn, khúc rộng hơn thì rút cuộc vẫn lại bị phụ thuộc vào sự mở rộng và làm sâu sắc hơn sự tương tác thực tiễn của con người với tự nhiên
Bản chất của thực tiễn như là cơ sở của nhận thức và hẹp hơn, của sản xuất vật chất như là cơ sở của khoa học tự nhiên là ở chỗ, khách thể của nhận thức luôn là giới tự nhiên bị và được cải biến, chứ không đơn thuần là giới tự nhiên tự thân như vốn có Và điều đó có nghĩa là, thực tiễn đi vào nhận thức với tư cách là cơ sở của nó hoàn toàn không chỉ bởi hệ vấn đề của nó, mà trước hết bởi các ý nghĩa mà các khách thể tự nhiên có được nhờ con người cải biến chúng một cách thực tiễn, hay chính xác hơn, bởi những ý nghĩa mà chúng phô bày ra cho con người do sự tương tác vật chất của con người với chúng Như một thể xã hội (chứ không phải sinh học), con người tiếp nhận các khách thể tự nhiên chỉ khi phù hợp với các ý nghĩa mà chúng có được trong thực tiễn của họ, trong hoạt động xã hội cải biến vật chất của con người
Tóm lại, mọi hình thức nhận thức của con người đều là sự phản ánh giới tự nhiên đã được cải biến một cách thực tiễn bởi nhân loại ở thời kỳ phát
triển đó của họ Đó là sự phản ánh vận dụng với tư cách là các sự vật khởi
điểm mà phương tiện duy nhất thiết lập chúng là sự tương tác thực tiễn, đối tượng - cảm tính, cải biến - vật chất của con người như là sinh thể sản xuất một cách xã hội và nhờ kỹ thuật với chúng Tuy nhiên, trong khi bắt đầu vận dụng chỉ các ý nghĩa của các đối tượng thế giới bên ngoài vốn được thiết lập trong tiến trình tương tác thực tiễn trực tiếp với chúng, nhận thức vạch rõ hơn những mối liên hệ khách quan giữa chúng, khám phá các quy luật biến đổi của các đối tượng tự nhiên được cuốn vào guồng quay của thực tiễn Và trên
cơ sở đó, một cách logic, nó rút ra các ý nghĩa mới của những đối tượng đó, cũng như xác lập khả năng tồn tại của các đối tượng tự nhiên đó và của các
Trang 36thiết bị nhân tạo mà nhân loại chưa hề tương tác với chúng một cách thực tiễn Nhờ cách đó mà nhận thức con người trở thành sự phản ánh về thế giới
đã và đang được cải biến bởi thực tiễn, vượt trước thực tiễn đang tồn tại
Thực tiễn (vốn nó vẫn không đổi về phương thức công nghệ của sản xuất vật chất nằm trong cơ sở của nó), chỉ cho phép khám phá các quy luật vận động khách quan của một phân khúc hiện thực hữu hạn, xác định Nhưng bản tính riêng của nhận thức cho phép nó rút ra từ các quy luật đó khả năng tồn tại của những cấu hình vật chất vốn còn chưa phải là khách thể cả của thực tiễn thực nghiệm lẫn thực tiễn sản xuất Thế giới mà nhân loại chinh phục nhằm thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình, tức thực tiễn sản xuất, là nền tảng mà trên đó nhân loại đưa vào lĩnh vực chinh phục thực tiễn - thực nghiệm – chinh phục bởi hoạt động thực nghiệm khoa học - một thế giới còn rộng lớn hơn rất nhiều Và trên cơ sở của thế giới đó, nhân loại lại tiếp tục chinh phục về mặt lý luận thế giới còn rộng hơn nữa - thế giới các khách thể vật chất giả định, mà nhân loại một cách thực tiễn chưa hề tương tác với cả về mặt sản xuất lẫn về mặt thực nghiệm, nhưng họ đã xác lập được khả năng tồn tại của chúng trên cơ sở các quy luật vận động của các khách thể vật chất đã được nhận thức và đã chịu sự cải biến thực tiễn
Tuy nhiên, thế giới mà trên một thời kỳ phát triển lịch sử của mình nhân loại có thể chinh phục về mặt lý luận, bị xác định hoàn toàn bởi thế giới
mà nhân loại đã có thể cải biến một cách thực tiễn trong các quá trình sản xuất của cải vật chất và thực nghiệm khoa học Nếu các hình thức cải biến thực tiễn thế giới vẫn không thay đổi về bản chất và chưa cho phép mở rộng
về chất phân khúc của tự nhiên được cải biến một cách thực tiễn thì cả nhận thức cũng không thể thoát ra khỏi phạm vi sự chinh phục lý luận đối với thế giới vốn được xác định về chất bởi bản chất của các hình thức thực tiễn đã có Nhận thức khoa học do bản tính thực tiễn của nó, rút cục không thể khai khẩn bất kỳ xu hướng phát triển mới, chủ yếu hay thứ yếu nào mà lại thiếu cuộc
Trang 37cách mạng trong phương thức công nghệ của sản xuất vật chất Chỉ có sự thay thế phương thức công nghệ sản xuất đã có mới có khả năng dỡ bỏ các giới hạn phát triển do thực tiễn đặt ra đối với nhận thức lý luận Lịch sử nhân loại cũng đã chỉ ra rằng, muốn có cuộc cách mạng trong thực tiễn thì trước hết phải có cuộc cách mạng trong tư duy và không gì khác, sự thay thế các phương thức công nghệ của sản xuất phải gắn liền với sự thay đổi của phong cách tư duy ở mỗi một giai đoạn lịch sử nhất định Điều này tiếp tục được làm
rõ ở các luận giải tiếp theo, gắn bó chặt chẽ với tính chất của các cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên
1.2.2 Các cuộc cách mạng theo chiều rộng và chiều sâu trong khoa học tự nhiên
Hệ quả tất yếu được rút ra từ bản tính thực tiễn của nhận thức khoa học
là mối liên hệ không tách rời giữa các cuộc cách mạng trong sản xuất vật chất
và khoa học tự nhiên Cũng do bản tính đó mà cả cuộc cách mạng đặc thù trong nhận thức khoa học cũng cần phải gắn với cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ của sản xuất vật chất Bởi lẽ, cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ của sản xuất vật chất được xét trong quan hệ với nhận thức khoa học có nghĩa là, nền tảng thực tiễn của toàn bộ toà nhà nhận thức khoa học được cải biến một cách căn bản, được mở rộng không chỉ về số lượng, mà còn cả về chất lượng Bởi trên cơ sở phương thức công nghệ sản xuất mới thì mới trở nên có thể và thực sự bắt đầu triển khai sự tương tác thực tiễn của nhân loại với những khách thể tự nhiên vốn trước đây “chưa hề tồn tại” đối với họ
Phương thức chinh phục sản xuất - thực tiễn mới đối với tự nhiên nhất định phải mở rộng các khả năng sử dụng như “các thành tố của sản xuất” những hiện tượng, lực lượng, quá trình mới của tự nhiên, mà con người trước đây chưa sử dụng chúng được do tính hạn chế của phương thức công nghệ sản xuất cũ Cuối cùng, trên cơ sở phương thức chinh phục thực tiễn sản xuất mới
Trang 38đối với tự nhiên mà nhất định cũng phải mở rộng cả những khả năng cải biến
nó một cách thực nghiệm thực tiễn Kỹ nghệ sản xuất vật chất mới cũng mang lại cho khoa học cả kỹ thuật lẫn thực nghiệm mới, và về nguyên tắc, là điều không thể không cuốn theo mình sự phát triển sôi động theo chiều sâu của các khoa học thực nghiệm mới hẳn và sự phát triển mới của các khoa học đã có
Suy ra, do bản tính thực tiễn của nhận thức khoa học, do việc khách thể nhận thức của khoa học là giới tự nhiên được cải biến một cách thực tiễn, nên mọi cuộc cách mạng trong phương thức công nghệ của sản xuất vật chất tất yếu phải là bước ngoặt trong khách thể nhận thức luận của khoa học, trong chính cơ sở thực tiễn của nhận thức khoa học Cũng vì cuộc cách mạng đó dẫn đến sự mở rộng vượt bậc cơ sở thực tiễn của khoa học, nên nó cũng cần phải gây ra sự mở rộng tương ứng của hệ thống khoa học đã có Sự mở rộng giới tự nhiên được cải biến thực tiễn như là khách thể nhận thức của khoa học không thể không gây ra sự mở rộng bùng nổ và căn bản của toàn
nó có đối tượng là các lĩnh vực nằm giáp ranh giữa các ngành khoa học hoặc
nó nghiên cứu các đối tượng mà có nhiều ngành khoa học cùng tham gia nghiên cứu và nó phải dựa trên những thành tựu của những ngành khoa học
Trang 39đó hay ký sinh trên các ngành khoa học khác [18, tr 3]); diễn ra theo logic riêng của sự cải biến sản xuất vật chất từ một hình thức công nghệ này thành hình thức khác vốn phát triển tương ứng với các tính quy luật khách quan của
sự thiết lập và phát triển của phương thức công nghệ sản xuất vật chất mới Dưới đây luận văn sẽ xét tới đặc trưng cụ thể của các cuộc cách mạng khoa học theo bề rộng đã từng diễn ra trong lịch sử
Cách mạng theo bề rộng trong khoa học diễn ra như là quá trình hình
thành những lĩnh vực tri thức khoa học mới mà vẫn giữ nguyên phong cách tư
duy khoa học đã có, các hình thức nhận thức khoa học vốn đã được hệ thống
nhận thức khoa học xây dựng lên, mà hệ thống đó lại định hình trên cơ sở phương thức công nghệ sản xuất vật chất cũ, các phương tiện và phương thức thực nghiệm khoa học cũ Trong tiến trình cách mạng theo bề rộng, nội dung của nhận thức khoa học bắt đầu thay đổi sôi động trước tiên là nhờ việc tạo ra các khoa học mới dưới áp lực của các nhu cầu thực tiễn Còn các hình thức nhận thức, các phương pháp, cơ sở logic của nó tại những điểm đầu vẫn nguyên xi như xưa, không mấy thay đổi; vẫn như là chúng đã hình thành trong tiến trình phát triển tương đối độc lập trước cuộc cách mạng theo bề rộng của khoa học trên cơ sở phương thức sản xuất vật chất cũ Nhưng cuối cùng, nội dung mới của nhận thức khoa học cần đòi hỏi phải thay thế các hình thức và phương pháp nhận thức cũ bằng mới, phù hợp hơn với nội dung đã phát triển của nó
Trong bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào, nội dung của nhận thức khoa học, dù nó diễn ra do kết quả sự phát triển tiến hoá hay cách mạng theo bề rộng của khoa học, thì cũng dẫn đến xuất hiện mâu thuẫn giữa nội dung và các hình thức của tư duy khoa học Việc giải quyết nó đòi hỏi phải có phong cách tư duy mới, những hình thức, phương pháp, cơ sở logic và các nguyên tắc mới của khoa học Và khi trong khuôn khổ phong cách tư duy khoa học cũ
đã tích luỹ được nội dung mới to lớn, thì, bất chấp việc “nền móng” thực tiễn
Trang 40của nó vẫn như xưa, chưa đổi về bản chất, nó vẫn buộc phải bước lên con đường xây dựng phong cách tư duy mới Đó là con đường cải tổ đến tận gốc
rễ toàn bộ “toà nhà” khoa học đã được xây dựng tương ứng với “diện mạo” lý luận mới mà nó có được nhờ thay thế phong cách tư duy khoa học
“Diện mạo” mới đó bao gồm các hình thức tư duy khoa học, các phương pháp, các cơ sở logic và các nguyên tắc xây dựng hệ thống lý thuyết của khoa học, nói chung là phong cách tư duy khoa học, như vẫn hay nói, phương thức “công nghệ” của sự sản xuất ra tri thức khoa học Và bước chuyển sang phương thức tư duy khoa học mới vốn được thực hiện nhờ sự thay đổi nội dung của nhận thức khoa học ở cùng nền tảng thực tiễn mà về bản chất vẫn chưa hề có mấy thay đổi của nó, là cuộc cách mạng khoa học đặc thù khác căn bản với cuộc cách mạng theo bề rộng Cuộc cách mạng đặc
thù trong khoa học đó là cuộc cách mạng theo chiều sâu, bởi nó diễn ra như
sự cải tổ toà nhà khoa học đã được xây đắp tương ứng với “bộ mặt” lý luận mới của mình, như sự sắp xếp toàn bộ nội dung nhận thức khoa học đã tích luỹ được vào hệ thống lý luận khoa học mới
Rõ ràng, nếu cách mạng khoa học theo bề rộng nảy nở và diễn ra chủ yếu theo logic phát triển riêng của sản xuất vật chất, về bản chất là chung
khoa học, thì cách mạng khoa học theo chiều sâu chỉ có thể diễn ra trên các
con đường phát triển của nhận thức khoa học chủ yếu theo logic riêng của sự vận động của nó từ nội dung đến hình thức khác vẫn trong khuôn khổ nền
tảng thực tiễn chưa thay đổi Thêm vào đó thì cách mạng khoa học theo chiều sâu có thể là chung, mà cũng có thể là cách mạng ở từng khoa học riêng rẽ
Ở một giác độ khác, có thể hiểu, cuộc cách mạng theo chiều rộng thì chưa đụng chạm gì đến phong cách tư duy, vẫn diễn ra trong địa hạt của phong cách tư duy cũ, còn cuộc cách mạng theo chiều sâu là phải thay đổi
căn bản phong cách tư duy, tạo ra một phong cách mới, khác hẳn về chất Nói khác đi, cách mạng theo chiều rộng thì như là sự tiến hoá đơn thuần chỉ có sự