1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề đạo đức trong kinh tế của Nho gia Tiên Tần

91 548 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ Mục đích nghiên cứu: Xuất phát từ Lý do chọn đề tài và Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, trên cơ sở phân tích một số vấn đề đạo đức trong kinh tế của các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG KINH TẾ

CỦA NHO GIA TIÊN TẦN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG KINH TẾ

CỦA NHO GIA TIÊN TẦN

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS TS Nguyễn Tài Thư

HÀ NỘI - 2008

Trang 3

1.1 Nhân tính luận trong Nho gia Tiên Tần 11

1.2 “Ái nhân” - Tư tưởng quản lý xã hội mang tinh thần nhân đạo sâu

sắc

16

1.3 “Đạo chi dĩ đức” - Quan điểm về cơ chế điều hành quản lý của

Nho gia Tiên Tần

21

1.4 “An nhân” - Mục tiêu quản lý của Nho gia Tiên Tần 29

Chương 2: VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TƯ TƯỞNG KINH TẾ CỦA NHO

GIA TIÊN TẦN VỚI VIỆC QUẢN LÝ KINH TẾ HIỆN ĐẠI

37

2.1 Một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng kinh tế của Nho gia Tiên

Tần

37

2.2 Những vấn đề đạo đức có tính định hướng cho hoạt động kinh tế

của Nho gia Tiên Tần và ý nghĩa của nó trong quản lý kinh tế hiện đại

59

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nho gia là một hệ thống tư tưởng lớn, có vị trí quan trọng trong văn hoá truyền thống của Trung Quốc và các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam Tuy phải trải qua nhiều thăm trầm nhưng về cơ bản, Nho gia đã chiếm

vị trí thống trị trong xã hội phong kiến trước đây, là công cụ để giai cấp thống trị quản lý quốc gia Trong xã hội hiện đại ngày nay, chúng ta cũng không thể phủ định sự tồn tại và ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống tư tưởng này đối với mọi mặt của đời sống Do đó, việc nhận thức, nghiên cứu và chọn lọc tiếp thu những tinh hoa tư tưởng để phục vụ cho con người, xã hội hiện đại là một vấn

đề rất cần thiết và có tính chiến lược lâu dài

Về mặt lý luận, tư tưởng của Nho gia, đặc biệt là tư tưởng của Khổng

Tử đã và đang được quan tâm nghiên cứu rất sôi nổi Trên thế giới hiện nay

đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại này như: Nho gia và kết cấu nhân cách lý tưởng, Nho gia và hình tượng người trí thức, Nho gia và vấn đề tu dưỡng cá nhân, Nho gia và luân lý gia đình và Nho gia với quản lý hiện đại, Mục đích của những nghiên cứu này là góp phần khai thác tinh hoa truyền thống, làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn và phát triển bền vững

Hiện nay nhiều nước chịu ảnh hưởng của Nho gia đã nghiên cứu kết hợp giữa tư tưởng kinh tế của Nho gia nói chung và Khổng Tử nói riêng với kinh tế hiện đại, nhằm tạo ra phương cách quản lý phù hợp với hoàn cảnh văn hoá, xã hội đặc thù của nước mình Và Việt Nam hiện nay cũng đã bước đầu quan tâm,

đề cập đến đề tài này ở một số góc độ, trong đó có góc độ kinh tế

Tư tưởng Nho gia Tiên Tần chứa đựng những lý luận kinh tế và nguyên tắc quản lý kinh tế rất có giá trị, mặc dù họ chỉ xem kinh tế là một thuộc tính của

tư tưởng chính trị - đạo đức, là điều kiện để đạt đến mục tiêu chính trị Nhà Nho

Trang 5

rất coi trọng đạo đức con người và xã hội Tinh thần này ảnh hưởng rất lớn tới tư tưởng kinh tế của họ Họ cho rằng tăng trưởng kinh tế ngoài biện pháp kinh tế còn phải cần đến các biện pháp khác như chính trị, đạo đức

Về mặt thực tiễn, sản xuất hàng hoá và cơ thế thị trường là động lực làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng đồng thời cũng có thể là nguyên nhân cho con người bị tha hoá, bị biến chất, chỉ biết quyền lợi ích kỷ của bản thân Hơn một thập kỷ trở lại đây, trước những biến động hết sức phức tạp của đời sống xã hội, không chỉ ở nước ngoài, trong giới nghiên cứu Việt Nam đã có

xu hướng đặt lại, nghiên cứu trở lại vấn đề Nho gia trên tinh thần phê phán nhằm gạn lọc, tiếp thu những nhân tố hợp lý, những giá trị chung của Nho gia

Trong thời đại hiện nay, kinh doanh không chỉ đơn thuần là hoạt động

để sinh ra lợi nhuận mà còn để nâng cao đời sống cho con người cả về vật chất và tinh thần, hướng tới yếu tố văn hoá Thực tế cho thấy chỉ có con đường phát

triển nền kinh tế gắn liền với văn hoá, đạo đức mới đảm bảo sự phát triển bền vững cho mỗi quốc gia Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tầm quan trọng của văn hoá, đạo đức ngày càng được khẳng định vững chắc hơn Ngày nay, chính phủ các quốc gia trên thế giới đều ý thức được rằng chỉ có thể đạt được sự phát triển bền vững trên nền tảng một xã hội có văn hoá, đạo đức Nếu muốn đứng vững trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thì nhà kinh doanh không chỉ phải trang bị kiến thức, công nghệ mà còn cần trang bị một nền tảng văn hoá, đạo đức vững chắc cho chính mình

Đó chính là vấn đề xây dựng đạo đức trong kinh tế thị trường, mà tư tưởng Nho gia là một hướng được quan tâm

Vì vậy, lựa chọn đề tài “Một số vấn đề đạo đức trong kinh tế của Nho

gia tiên Tần”, tác giả hy vọng sẽ khai thác được những yếu tố tích cực của kho

tàng tri thức Nho gia vô giá, từ đó giúp cho chúng ta có được một nguồn vốn

Trang 6

nhân văn đa tầng, đa diện có ý nghĩa đối với quá trình phát triển, hoàn thiện các lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam ngày nay, trong đó có lĩnh vực kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu

Các đề tài về sự chuyển biến mới của Nho gia trong xã hội hiện đại, sự kết hợp giữa tư tưởng Nho gia với các lĩnh vực trong thực tiễn cuộc sống đã được giới học thuật nghiên cứu, bàn luận rất sôi nổi trong một thời gian dài gần đây Tư tưởng Nho gia với kinh tế hiện đại cũng là một trong số những vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm, chú ý

Ở Trung Quốc quê hương của Khổng Tử và Nho gia, vấn đề cũng đã được tích cực nghiên cứu với mục tiêu kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, trên cơ sở đó tìm ra phương hướng cho lý luận và phương thức quản lý kinh

tế mang đặc sắc Trung Quốc Cho tới nay, các học giả Trung Quốc đã cho ra đời rất nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu về tư tưởng Nho gia và kinh tế hiện đại có giá trị

Nho gia và sự phát triển kinh tế là vấn đề được rất nhiều người quan tâm, chú ý đặc biệt là từ sau khi Nhật Bản, một nước có truyền thống Nho giáo, có sự phát triển thần kỳ về kinh tế và nhất là từ khi xuất hiện bốn con rồng kinh tế mới ở châu Á Thực tế cho thấy Nhật Bản và bốn nước công nghiệp phát triển trên - vốn là những nước tôn sùng Nho gia trong quá khứ và hiện nay - có sự phát triển kinh tế nhanh chóng, trong khi các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Á - phê phán Nho gia - lại có nền kinh tế phát triển chậm Chính hiện tượng này đã dẫn đến hai quan điểm trái ngược nhau:

* Quan điểm thứ nhất phủ nhận vai trò tích cực của Nho gia đối với sự

phát triển kinh tế Phần nhiều các học giả của Việt Nam nghiêng theo quan điểm này Nhiều công trình nghiên cứu gần đây cho rằng Nho gia từ Khổng

Tử trở đi ít bàn, ít quan tâm đến vấn đề kinh tế, đến lợi ích vật chất mà chỉ tập

Trang 7

trung vào vấn đề chính trị, đạo đức Trong "Nho giáo xưa và nay", tác giả

Trần Đình Hượu cho rằng: "Những vấn đề kinh tế không được đặt ra theo góc

độ kinh tế mà theo góc độ chính trị xã hội, được giải quyết không theo cách kinh tế mà theo cách đạo đức, hành chính Nếu không làm được cho mọi người no ấm hơn thì cũng làm cho mọi người vui với cảnh nghèo khổ trong trật tự phận vị" [18, 100]

Giáo sư Hoàng Việt cũng có tư tưởng tương tự, ông cho Nho gia không thể đóng vai trò gì trong sự phát triển kinh tế ở Việt Nam [18, 206 - 216]

Tác giả Tương Lai, trong bài viết "Đạo đức và vấn đề thực hiện ba lợi

ích", tạp chí Văn hoá Nghệ thuật số 5, 1982 nói rằng: "Nho giáo đối lập đạo

đức với lợi ích, đặc biệt là lợi ích vật chất"

Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng: "Nho giáo với tính chất giáo điều duy tâm

và bảo thủ như trên, vốn là sản phẩm của trì trệ đất nước, lại trở thành nhân tố củng cố thêm sự trì trệ ấy Tóm lại, nó cùng với chế độ quan liêu và nền kinh

tế xã hội Việt Nam tạo nên cái kiềng ba chân của tình trạng lạc hậu lâu dài trên đất nước Việt Nam" [18, 336]

Giáo sư Trần Văn Giàu, trong bài viết "Đạo đức Nho giáo và đạo đức

truyền thống Việt Nam", Tạp chí Triết học số 1, 1987 cho rằng Nho gia cản

trở tiến trình hiện đại hoá Có tác giả cho rằng Nho gia về cơ bản mâu thuẫn với văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam và chữ Hán, Nho gia không thuộc truyền thống dân tộc

Tác giả Hà Thúc Minh thì khẳng định: "Không thể cho Nho giáo là động lực phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay được" và "đối với các nước đang trong tình trạng kinh tế chậm phát triển, thực ra không cần kỳ vọng gì vào động lực Nho giáo" [28, 24] Ông cho rằng Nho gia vào thời kỳ của nó cũng chưa là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, thì ngày nay, đối với nền kinh tế thị trường thì càng khó có thể coi Nho gia là một động lực phát triển

Trang 8

kinh tế Nho gia đối lập đạo đức với kinh tế "Vi nhân bất phú, vi phú bất nhân", Nho gia đã cho rằng có cái nọ thì không có cái kia

Như vậy, nhìn chung các học giả của Việt Nam phủ nhận vai trò tích cực của Nho gia đối với sự phát triển kinh tế

* Quan điểm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu thế giới thì lại có quan

điểm khác Nhà Đông phương học người Pháp, L.Vandermensch cho rằng Nho gia đã làm cho kinh tế Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển nhanh, còn Việt Nam sở dĩ kinh tế phát triển chậm vì Nho gia ở Việt Nam không phát triển bằng hai nước trên [18, 84]

Một giáo sư trường Đại học Kim Sơn, Hàn Quốc, ông Kim Nhật Tân nói: "Nho giáo là nền văn hoá quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế các nước Đông Á phát triển" [18, 303]

Một giáo sư Viện Dân tộc Trung ương của Đài Loan, ông Ngưu Kim Chung, cho rằng: "Nho giáo ít nhất không gây trở ngại cho việc hiện đại hoá

và thậm chí nó còn có tác dụng tích cực" [18, 304]

Nhà nghiên cứu Nhật Bản Michi Morishima, trong cuốn "Chủ nghĩa tư

bản và Nho giáo", cho rằng Nho gia nằm trong di sản văn hoá, nếu khinh rẻ

nó thì sẽ không có sự phát triển [18, 300]

Song nhiều người cho rằng Nho gia không phải là động lực trực tiếp đối với kinh tế, nhưng theo họ, nó tác động một cách gián tiếp đến sự phát triển kinh tế thông qua con người Điều đó thể hiện ở chỗ nó góp phần bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của con người, nó góp phần xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Nho gia không đề cao chủ nghĩa cá nhân mà đề cao tính cộng đồng, Nho gia không đề cao cuộc sống hưởng thụ mà đề cao tinh thần tự lực, tự cường, ý chí cống hiến (Nghĩa) cho xã hội, chứ không phải ý thức đòi hỏi hưởng thụ (Lợi) Thực tế phát triển kinh tế của Nhật Bản và bốn con rồng châu Á, hoặc nhiều, hoặc ít đã chứng minh điều đó, và cho thấy đặc

Trang 9

điểm của hoạt động kinh tế theo kiểu phương Đông là kết hợp kinh tế thị trường với đạo đức Nho gia

Tóm lại, hai quan điểm trên mâu thuẫn với nhau và mỗi loại đều có lý riêng của nó Tuy nhiên hai khuynh hướng tư tưởng này có điểm chung là

chưa được trình bày một cách có hệ thống và có luận điểm còn khiên cưỡng

Tất cả đều đang đòi hỏi được phân tích sâu và hệ thống lại có cơ sở hơn

Ở Việt Nam, mặc dù vấn đề Nho gia vẫn rất được quan tâm nhưng đề tài Nho gia với phát triển kinh tế còn khá mới mẻ và chưa được đi sâu nghiên cứu nhiều Hiện mới chỉ có một số tác phẩm dịch có liên quan đến đề tài như cuốn: “Khổng Tử với tư tưởng quản lý và kinh doanh hiện đại” của tác giả Trung Quốc Phan Nải Việt, “Đạo của quản lý” của tác giả Trung Quốc Lê Hồng Lôi, Những tác phẩm này tuy có đề cập đến tư tưởng Khổng Tử và quản lý kinh tế hiện đại nhưng chưa được đầy đủ và còn thiếu tính hệ thống Trong luận văn này, người viết sẽ đi sâu phân tích các quan niệm đạo đức trong tư tưởng kinh tế của Nho gia Tiên Tần, trên cơ sở đó vận dụng vào lĩnh vực quản lý kinh tế ở Việt Nam, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước Mặc dù đây mới chỉ là những nghiên cứu hoàn toàn trên phương diện nhận thức, nhưng người viết hy vọng luận văn của mình sẽ là đóng góp có ý nghĩa cho những nghiên cứu về khoa học kinh tế của chúng ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích nghiên cứu: Xuất phát từ Lý do chọn đề tài và Tình hình

nghiên cứu liên quan đến đề tài, trên cơ sở phân tích một số vấn đề đạo đức trong kinh tế của các nhà Nho Tiên Tần, luận văn chỉ ra những khía cạnh hữu dụng, có ý nghĩa của tư tưởng kinh tế Nho gia Tiên Tần đối với quản lý kinh

tế ở Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung

làm rõ các vấn đề chủ yếu sau:

Trang 10

- Cơ sở lý luận của Nho gia Tiên Tần trong giải quyết vấn đề kinh tế

- Các quan niệm đạo đức trong tư tưởng kinh tế của Nho gia Tiên Tần

và vai trò của chúng trong quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Triết học Mác -

Lênin về xã hội và con người

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp

biện chứng duy vật của Triết học Mác - Lênin kết hợp với một số phương pháp khác như: phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học, phương pháp lôgíc

và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp đối chiếu và so sánh, phương pháp liên ngành khoa học xã hội

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu : một số quan niệm đạo đức trong tư tưởng

kinh tế của Nho gia Tiên Tần có ý nghĩa đối với sự vận hành kinh tế hiện đại

Phạm vi nghiên cứu :

- Tài liệu nghiên cứu về các nhà Nho Tiên Tần, trong đó chủ yếu là

Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử

- Tài liệu gốc có liên quan như sách Tứ thư, sách Tuân Tử

- Luận văn chủ yếu tập trung khai thác một số phương diện đạo đức tích cực, phù hợp với thời đại và có giá trị của tư tưởng kinh tế Nho gia Tiên Tần, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý kinh tế

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn khẳng định và làm rõ một số phương diện đạo đức có giá trị trong tư tưởng kinh tế của các nhà Nho Tiên Tần đối với quản lý kinh tế hiện đại Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu về quản lý kinh tế và sự chuyển biến mới của Nho gia trong xã hội hiện đại

Trang 11

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2

chương, 6 tiết

Trang 12

cơ sở cho tư tưởng kinh tế của họ Bên cạnh đó, người viết cũng chú ý đến các quan điểm, phương pháp quản lý cụ thể rất đa dạng và rất có giá trị với quản lý kinh tế hiện đại

Trước tiên, xét nền tảng nhân tính luận trong tư tưởng của Khổng Tử Trong nhân tính luận, ông cho rằng, tính của con người vốn lành, ngây thơ, mộc mạc nhưng không phải là nhất thành bất biến mà có thể thay đổi, uốn nắn được và khuynh hướng của nó là hướng về tính thiện và con người thông qua giáo dục, tu dưỡng để đạt được những phẩm chất đạo đức tốt đẹp Trên cơ sở

đó, Khổng Tử đề ra tư tưởng chung cho quản lý xã hội với tinh thần nhân đạo

Trang 13

sâu sắc “nhân giả ái nhân” - nhấn mạnh ý nghĩa của tình cảm yêu thương, tôn trọng lẫn nhau giữa con người với con người Về cơ chế quản lý, Khổng Tử

đề ra “đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ” với mong muốn khuyến khích, khiến cho con người có thể tự giác tuân thủ theo các quy định, nguyên tắc quản lý và chủ động, tích cực trong công việc Khổng Tử còn đưa ra mục tiêu quản lý của mình, đó là “an nhân” Mục tiêu quản lý này đóng vai trò là một loại mục tiêu quản lý trừu tượng, có tính phổ biến và tinh thần của nó phù hợp với hoạt động quản lý của các thời đại khác nhau và trong các xã hội khác nhau Đây

là những điểm nổi bật nhất trong lý luận quản lý “dĩ nhân vi bản” của Khổng

Tử và đó chính là cơ sở để giải quyết những vấn đề kinh tế của Nho gia Tiên Tần

1.1 Nhân tính luận trong Nho gia Tiên Tần

Lịch sử của hoạt động quản lý cũng lâu đời như nền văn minh của nhân loại, mọi hoạt động của con người đều cần có sự quản lý Quản lý suy cho cùng đều là quản lý con người Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của hoạt động quản lý Vì vậy, trong thực tiễn quản lý lâu dài của mình, loài người đã nhận ra rằng: việc nghiên cứu con người, nhận thức con người là một điều rất quan trọng để thực hiện mục tiêu quản lý, tiến hành quản lý, khiến cho những người bị quản lý tự giác tuân thủ các quy định, phát huy tính chủ động và năng động của mình Những điều này đều có liên hệ rất mật thiết với góc độ chính xác và sâu sắc của nhận thức nhân tính Các nhà tư tưởng đã phải tốn rất nhiều tâm sức vào việc nhận thức con người, tìm hiểu về nhân tính và cũng đã đưa ra nhiều học thuyết về vấn đề này Mặt khác, nhân tính cũng là tiền đề tất yếu của lý luận quản lý Trên thực tế, bất kỳ lý luận nào cũng lấy một nhân tính luận nhất định làm tiền đề cơ bản của mình

Các nhà tư tưởng Trung Quốc từ rất sớm đã đi sâu tìm hiểu và có được một hệ thống quan niệm khá hoàn chỉnh về con người, về nhân tính và mối quan hệ giữa con người và phương pháp quản lý con người Trong số đó

Trang 14

không thể không nói đến tư tưởng Khổng Tử và những lý thuyết về nhân tính

đa dạng của Nho gia Quan niệm nhân tính mà Khổng Tử đưa ra là tính của con người có thể đào luyện, uốn nắn được Xuất phát từ đó, các nhà Nho đã đưa ra nhiều lý luận nhân tính khác như: “Tính thiện luận” của Mạnh Tử,

“Tính ác luận” của Tuân Tử, “Tính không thiện không ác luận” của Cáo Tử

và “Tính có thiện có ác luận” của Thế Thạc, Với các đặc điểm riêng cơ bản của tư tưởng Nho gia Tiên Tần, những lý luận này đã đề cập tới vấn đề nhân tính từ góc độ khác nhau Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu con người và nhân tính luận của các nhà Nho Tiên Tần có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định chính xác tư tưởng kinh tế của họ

Nhân tính là sự thống nhất giữa tính tự nhiên, tính xã hội và tính tinh thần Bản chất của con người người bao hàm trong tính xã hội của con người còn tính tự nhiên cũng là “tự nhiên” đã bị xã hội hoá Có thể thấy, nhân tính khiến con người thoát khỏi tự nhiên, là thuộc tính đặc hữu của loài người, do vậy, con người là quý giá nhất, linh thiêng nhất trong vũ trụ

Người ta đã tiến hành nhiều nghiên cứu về vấn đề này và đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về con người, ví dụ: “Con người là động vật lý tính”, “con người là động vật chính trị”, “con người là động vật tôn giáo”, “con người là động vật văn hoá”, “con người là động vật kinh tế”, nhưng nhận thức của loài người về bản thân vẫn còn mông lung, nhận thức về nhân tính vẫn còn ở những biểu hiện bề ngoài, chưa thật sự đi sâu vào bản chất bên trong của nó

Con người là tồn tại xã hội phức tạp, nhân tính cũng là một vấn đề vô cùng phức tạp Nhận thức về con người và nhân tính có ý nghĩa thực tiễn quan trọng và các nhà tư tưởng từ trước đến nay vẫn không ngừng theo đuổi, nghiên cứu về nó Trong tác phẩm “C Mác, Ăngghen toàn tập”, tập 3, trang

11, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 1995, Các Mác viết: “Trong tính hiện thực

của nó bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” Luận điểm của

Trang 15

Mác đã tiến thêm một bước đi sâu vào bản chất con người, đồng thời chỉ ra một phương hướng đúng đắn cho những nghiên cứu sau này

Học thuyết của Nho gia Tiên Tần, tiêu biểu là học thuyết của Khổng Tử

có bao hàm tư tưởng kinh tế rất phong phú chúng còn có giá trị rất lớn trong thời kỳ hiện đại của Trung Quốc Hơn nữa, nó còn ảnh hưởng rất lớn đến các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singgapo và Việt Nam Tư tưởng kinh tế Khổng Tử mang màu sắc nhân bản rõ nét, nó xuất phát từ việc coi trọng con người, lấy nhân tính thiện làm nền tảng, lấy trật tự đạo đức làm hạt nhân, lấy an dân, phú dân làm mục tiêu quản lý, từ đó xây dựng nên mô thức quản lý đầy nhân tính Việc nghiên cứu những tư tưởng của Nho gia Tiên Tần về con người và nhân tính trong quản lý thật sự có ý nghĩa đối với vấn đề kinh tế hiện nay

Khổng Tử rất coi trọng vị trí và tác dụng của con người trong xã hội Trước tiên, ông luôn khẳng định giá trị của con người, thừa nhận nhân cách độc lập của con người Trong “Hiếu kinh - Chương Thánh trị” có dẫn câu nói của Khổng Tử: “Thiên địa chi tính, nhân vi quý” (giữa các loài có tính trong trời đất, con người là quý nhất) Có thể nói, tư tưởng “quý nhân” của Khổng

Tử trong câu nói này chính là quan niệm nền tảng của quan điểm kinh tế của Khổng Tử và các nhà Nho Tiên Tần

Khổng Tử luôn nhấn mạnh giá trị của con người Con người quý hơn đạo, “Tử viết: Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân” (Khổng Tử nói: Người phát huy được đạo, chứ đạo không phát huy được người) [30, 487]; con người quý hơn quỷ thần: “Tử viết: Vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ” ( Khổng Tử nói: “Chưa biết thờ người, làm sao có thể thờ quỷ” [30, 393]; Trong sách Lễ ký - Lễ vận viết con người quý hơn cả trời đất: “Cố nhân giả, thiên địa chi tâm dã, ngũ hành chi đoan đã, thực vị, biệt thanh, bị sắc nhi sinh giả dã” (Con người là tâm của trời đất, đầu mối sinh ra ngũ hành, sinh ra biết

Trang 16

phân biệt mùi vị, âm thanh, màu sắc” Tóm lại, theo Khổng Tử, con người là quý giá nhất trên thế giới này, là linh hồn của vạn vật trong vũ trụ

Thái độ khẳng định, đề cao giá trị con người này của Khổng Tử có ý nghĩa trong mọi thời đại, đặc biệt là đối với xã hội bấy giờ Bởi khi đó vẫn còn tồn tại phổ biến những tư tưởng coi thường con người, coi thường giá trị của con người Người cai trị có thể sai khiến, đánh đập, thậm chí giết hại dân, đối xử với dân như súc vật Quản Tử từng chủ trương: “Người cai trị như nước, nuôi dưỡng con người như nuôi dưỡng lục súc, dùng người như dùng cây cỏ” (Quản Tử - Thất pháp) Khổng Tử còn thừa nhận, mỗi con người đều

có ý chí độc lập của riêng mình, và ý chí, nhân cách của con người cần phải được tôn trọng, không thể bị làm tổn thương hoặc chà đạp

Về vấn đề nhân tính, Khổng Tử đã đề xuất ra chủ trương tính con người

có thể xây dựng, rèn luyện và uốn nắn được Đây chính là đặc điểm lớn nhất trong nhân tính luận của Khổng Tử và các nhà Nho Tiên Tần khác

Khổng Tử nói: “Tính tương cận dã, tập tương viễn dã” [30, 514] Ý của câu này là: Thiên tính (bản tính trời cho) của con người vốn là gần gũi với nhau, không có sự phân biệt gì lớn lắm, nhưng khi trải qua những hoàn cảnh, tập nhiễm sau này, giữa con người với con người sẽ dần dần kéo dài khoảng cách, không còn giữ nguyên như trước nữa Ở đây, Khổng Tử chưa đề cập đến nhân tính của con người rốt cuộc là thiện hay ác Ông chỉ khẳng định nhân tính có thể cải biến được Bản tính con người được trời trao cho, khi mới sinh ra hoàn toàn không có hình thái cố định và có thể được xây dựng, rèn luyện, biến đổi bởi hoàn cảnh sau này Hoàn cảnh khác nhau thì trạng thái tính cách cũng khác (hoặc là ác hoặc là thiện) Đối với Khổng Tử mà nói, đương nhiên ông mong muốn nhân tính sau khi tập nhiễm là tính thiện, đây cũng chính là căn cứ lập luận và mục đích cơ bản của “nhân học” của ông

Lý luận nhân tính với khuynh hướng thiện của Khổng Tử đã trở thành nền tảng chung trong các nhân tính luận của phái Nho gia Trên cơ sở đó, các

Trang 17

nhà Nho Tiên Tần sau này đã đưa ra những nhân tính luận khác nhau, tiêu biểu là “Tính thiện luận” của Mạnh Tử, “Tính ác luận” của Tuân Tử

Mạnh Tử chủ trương “Luận tính thiện”, cho rằng thiên tính mà con người được ban cho là lương thiện Con người sinh ra đã có lòng trắc ẩn (thương xót), tu ố (biết hổ thẹn), từ nhượng (từ chối không tiếp nhận) và thị phi (biết phân biệt phải trái); khi đem mở rộng và phát triển chúng thì chúng

sẽ trở thành những bản tính lương thiện: nhân, nghĩa, lễ, trí Do đó, theo Mạnh Tử, con đường tạo dựng xây đắp nhân tính, dẫn dắt con người làm điều thiện là ở chỗ “tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính” (Bảo tồn lương tâm mình, nuôi dưỡng bản tính của mình) [30, 755] Nổi bật lên ở đây là chữ “dưỡng” Tồn tâm dưỡng tính trước tiên phải bắt đầu từ người quản lý và nó cũng có quan

hệ rất lớn với người bị quản lý Mạnh Tử chỉ ra: “Dĩ thiện phục nhân giả, vị hữu năng phục nhân giả dã Dĩ thiện dưỡng nhân, nhiên hậu năng thiên hạ Thiên hạ bất tâm phục nhi vượng giả, vị chi hữu dã” (Người quản lý dựa vào điều thiện để khiến cho mọi người phải phục tùng thì chưa đủ, còn cần phải dựa vào điều thiện đó để giáo dục, bồi dưỡng họ, sau đó mới có thể làm cho

họ phục tùng Việc mọi người không tin phục người quản lý thì không thể tạo

ra được sự thịnh vượng) [30, 719], ý muốn đem cái thiện của nhân, nghĩa, lễ, trí để đào luyện giáo dưỡng con người, như thế mới có thể làm cho người trong thiên hạ thực sự quy phục Vì vậy, “tồn tâm dưỡng tính” cho đến

“dưỡng nhân vi thiện” là con đường duy nhất để quản lý quốc gia

Tuân Tử thì chủ trương “Tính ác luận”, cho rằng con người sinh ra vốn

đã có bản tính “cơ nhi dục bão, hàn nhi dục noãn, lao nhi dục tức, hiếu lợi nhi

ố hại” (Đói thì muốn ăn no, rét thì muốn ấm, mệt thì muốn nghỉ, thích lợi mà ghét hại), nếu thuận theo tự nhiên, không tiến hành hạn chế thì sẽ dẫn đến loạn Vì vậy, con đường nhào nặn xây dựng nhân tính, dẫn dắt nhân dân làm điều thiện chính là ở “hoá tính khởi nguỵ”, ở đây nổi bật là chữ “hoá” Nội dung của “hoá tính” ở đây bao gồm phương thức cử chỉ và phong tục tập

Trang 18

quán Trong hoàn cảnh nhất định và tập quán hành vi nhất định, qua sự góp nhặt, rèn luyện lâu ngày thì bản tính của con người có thể dần được cải biến Người quản lý hiểu đạo lý “hoá tính” nói trên thì cần đảm nhiệm trách nhiệm giáo hoá lễ nghĩa, xây dựng nhân cách một cách tự giác Tính người vốn là ác, nhưng thông qua giáo hoá lễ nghĩa của người quản lý thì có thể tiến hành những hạn chế cần thiết đối với tính, dẫn dắt tính theo cái thiện Tuy có mang dấu ấn của chế độ đẳng cấp phong kiến; nhưng việc Tuân Tử coi sự bồi dưỡng tạo dựng con người làm nhân tố quan trọng của sự phát triển xã hội là rất có ý nghĩa

Nhân tính luận mà Khổng Tử đề xướng không chỉ chi phối tư tưởng của các học giả thuộc phái Nho gia là Mạnh Tử và Tuân Tử mà cũng còn ảnh hưởng đến các tư tưởng nhân tính của các biệt phái Nho gia khác Ví dụ

“Luận tính vô thiện vô bất thiện” của Cáo Tử, “Luận tính hữu thiện hữu ác” của Thế Thạc,

Trong tư tưởng của các nhà Nho Tiên Tần, vấn đề nhân tính không chỉ

là tiền đề tất yếu của quan điểm kinh tế, mà hơn nữa là trọng tâm, hạt nhân của toàn bộ hoạt động kinh tế Mặc dù luận nhân tính chưa trực tiếp khẳng định bản tính thiện của nhân tính, nhưng Khổng Tử luôn đề cao việc học tập,

tu dưỡng, cải tạo nhân tính để hướng tới nhân tính thiện Định hướng đó đã quy định phương pháp giáo dục, tu dưỡng đối với con người và đồng thời cũng quy định các tư tưởng kinh tế của các nhà Nho Tiên Tần

1.2 “Ái nhân” - Tư tưởng quản lý xã hội mang tinh thần nhân đạo sâu sắc

“Ái nhân”, theo Nho gia Tiên Tần là mục đích, ước vọng cao nhất của con người và trong quan hệ giữa con người với con người Tình cảm yêu thương, tương thân tương ái là tiền đề của hài hoà, đoàn kết, hợp tác và cũng

là tiền đề của sự hoà hợp xã hội, sự hoà hợp giữa các thành viên trong cộng đồng Nếu con người mất đi lòng nhân ái, nhân tính trở nên tà ác, thì xã hội sẽ

Trang 19

đầy rẫy tội lỗi và bạo lực Tình thương yêu giữa con người với con người là một tiêu chí của xã hội văn minh, là điều kiện quan trọng không thể thiếu để xây dựng một xã hội tốt đẹp Vì vậy, khi xét đến động lực bên trong của quản

lý, trước tiên cần phải đề cập đến tư tưởng “nhân giả ái nhân” của Nho gia Tiên Tần

Trong toàn bộ học thuyết của Khổng Tử, chữ “nhân” chính là tư tưởng hạt nhân, đồng thời đó cũng chính là sợi dây xuyên suốt lý luận quản lý của ông, “nhân” là đối tượng trong quản lý Theo Nho gia, bản chất của quản lý là

“trị nhân” (trị người), tiền đề của quản lý là “nhân tính” Tóm lại, tất cả đều không thể xa rời “nhân”

Trong sách “Luận ngữ” của Khổng Tử, chữ “nhân” được xuất hiện hơn

109 lần “Thuyết văn” giải thích chữ “nhân” như sau: “Nhân, thân dã, tòng nhân tòng nhị”- kết cấu chữ “nhân” bao gồm chữ “nhân” là người và chữ

“nhị” là hai, ý nghĩa chỉ mối quan hệ giữa hai con người, giữa con người với con người, thể hiện là: thừa nhận cả ta và người đều là hai con người như nhau, hai con người có nhân cách độc lập, thể hiện quan hệ giữa con người với con người Con người là sinh vật xã hội hoá, không phải là những cá thể sống đơn độc mà luôn tồn tại trong mối quan hệ qua lại, liên hệ lẫn nhau Vì vậy, quan hệ xã hội giữa con người với con người là mối quan hệ cơ bản nhất của con người, của xã hội Không có sự quan hệ qua lại, hợp tác giữa con người với con người thì sẽ không có xã hội, quy luật xã hội, Khổng Tử đã sớm thấy được tầm quan trọng của các mối quan hệ này Vì vậy ông đặt trọng tâm nghiên cứu của mình vào “con người”, mối quan hệ giữa họ và đưa ra khái niệm “nhân”, tạo ra nền tảng tinh thần cho toàn bộ nền văn hoá Trung Hoa

Nội hàm của “nhân” vô cùng phong phú, nhưng cơ bản nhất là “ái nhân” Như học trò Phàn Trì hỏi Khổng Tử “nhân” là gì, Khổng Tử đã trả lời:

“Ái nhân” [30, 418] Ái nhân theo Khổng Tử, ông yêu cầu giữa con người với

Trang 20

người phải yêu thương nhau, tôn trọng nhau Tư tưởng ái nhân này của Khổng

Tử trước tiên được thể hiện ở sự khẳng định giá trị con người trong xã hội

Trong “thiên Hương đảng, sách Luận ngữ” có ghi câu chuyện như sau: Một

hôm chuồng ngựa nhà Khổng Tử bị cháy, Khổng Tử mãn chầu trở về, biết tin này liền vội vàng hỏi: “Người giữ ngựa có bị thương không?” chứ không hỏi đến ngựa Trong xã hội lúc bấy giờ, những người nô lệ không có được các quyền của một con người, lại càng không được tôn trọng như một con người

Họ bị coi như loài vật, bị sai bảo, đem buôn bán, biếu tặng, thậm chí là giết hại Giá trị của một nô lệ không bằng giá trị của một con ngựa Nhưng ở đây, khi chuồng ngựa bị cháy, Khổng Tử quan tâm hỏi đến trước tiên là người giữ ngựa chứ không phải là ngựa Điều này chứng tỏ, ông đặc biệt coi trọng con người Khổng Tử còn kịch liệt lên án và phản đối chế độ tuẫn tàng người, cho

đó là hành động bất nhân, vô nhân đạo Trong “chương Lương Huệ Vương

thượng, sách Mạnh Tử” có viết: Khổng Tử trách mắng kẻ dùng hình người để

chôn theo người chết sẽ bị tuyệt tử tuyệt tôn

Tóm lại, ý nghĩa căn bản đầu tiên trong tư tưởng “nhân giả ái nhân” là khẳng định giá trị của con người Trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, tư tưởng này của Khổng Tử có lẽ khó được tiếp nhận, nhưng nó thật sự có ý nghĩa tiến bộ và có giá trị cho đến tận ngày nay

Mặt khác, Khổng Tử cho rằng, “ái nhân” phải được bắt đầu từ trong gia đình, gia tộc, từ việc hiếu thuận với cha mẹ, kính trọng, thương yêu anh em

Trong “thiên Học nhi, sách Luận ngữ” có viết: Khổng Tử nói với học trò

Hữu Nhược: “Hiếu đễ dã giả, kỳ vị nhân chi bản dã” - hiếu đễ chính là gốc của “nhân” Vì vậy, Khổng Tử rất chú trọng giáo dục đức “hiếu” cho các học trò của mình Trong “Luận ngữ” có ghi lại rất nhiều lời dạy bảo của Khổng

Tử về đức hiếu đễ, chẳng hạn như: “Khi phụng dưỡng cha mẹ, nếu cha mẹ sai thì khuyên can nhẹ nhàng, thấy ý cha mẹ không theo thì vẫn phải kính trọng

mà không được làm trái nghịch, chịu khó nhọc mà không oán giận” [30, 273]

Trang 21

và “ đối với cha mẹ mà không kính trọng thì nuôi dưỡng cha mẹ và nuôi dưỡng súc vật có gì là khác biệt đâu?” [30, 228]

Hiếu đễ là sự thực hiện cái gốc căn bản của “nhân”, cũng là sự bắt đầu của quá trình đào luyện, uốn nắn nhân tính, xây dựng nên mô thức quản lý nhân tính Theo Khổng Tử và các nhà Nho Tiên Tần, một người mà đến cha

mẹ mình còn không có hiếu thì anh ta không thể có được tấm lòng nhân ái

Vì vậy, việc yêu người phải bắt đầu từ những người thân thiết của mình trong gia đình, gia tộc, sau đó mở rộng ra khắp mọi người và vạn vật xung quanh Tình cảm thương yêu con người cũng có thể khiến cho xã hội trở nên cân bằng, yêu vạn vật sẽ tạo ra sự cân bằng trong sinh thái tự nhiên Cân bằng xã hội và trong sinh thái tự nhiên chính là điều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu quản lý

Trong học thuyết của Khổng Tử, “nhân” là nấc thang đạo đức cao nhất của con người, của đời người Muốn đạt được đến điều “nhân”, làm được đến

“ái nhân” không phải là chuyện dễ dàng Trong “chương Ung Dã, sách Luận

ngữ” có viết: Có lần Tử Cống hỏi Khổng Tử: “Nếu một người có thể đem ân

huệ đến cho mọi người, tạo cho mọi người cuộc sống ấm no đầy đủ thì có thể coi là người nhân không?” Khổng Tử tra lời: “Người đó không chỉ là người nhân mà đã là thánh nhân rồi! Đến đức Nghiêu Tuấn cũng khó mà làm được như vậy Người có nhân là người bản thân muốn lập mà lập cho người khác, bản thân muốn thông đạt mà làm cho người khác cũng được thông đạt Xuất phát từ mong muốn bản thân mình mà thúc đẩy người khác Đó có thể coi là phương pháp để đạt đến điều nhân” [30, 314]

Còn trong “chương Nhan Uyên, sách Luận ngữ”, viết: Trọng Cung hỏi

làm thế nào để thực hành đạo nhân, Khổng Tử trả lời: “Lúc ra cửa phải trang trọng, nghiêm chỉnh giống như sẽ gặp khách quý, sai khiến dân chúng phải cẩn thận, trang nghiêm giống như hành đại lễ Những gì mình không thích thì không được áp dụng cho người khác Như vậy, trong nước mới không có ai

Trang 22

oán hận ngươi, trong nhà không có ai oán hận ngươi” [30, 412] và để thưch hành đạo nhân, Khổng Tử còn nói: “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (bản thân muốn lập mà lập cho người khác, bản thân muốn thông đạt mà làm cho người khác cũng được thông đạt) và “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Những gì mình không thích thì không được áp dụng cho người khác) Khổng Tử cho rằng, xuất phát từ ý nguyện của mình để thúc đẩy người khác, những gì mà người khác muốn thì mình giúp họ đạt được, những gì mà họ không muốn thì không nên ép họ Làm như vậy sẽ xử lý tốt được mối quan hệ giữa con người với con người Đó chính là “ái nhân”

Trong sách “Đại học” còn trình bày cụ thể hơn về vấn đề này: “Những việc mà mình không muốn người trên thi hành với mình thì không nên dùng

để đối đãi với người dưới; những việc mà mình không thích người dưới làm thì không nên dùng nó để đối đãi với người trên; những gì mà người phía trước mình không thích thì không nên áp dụng cho người phía sau; những gì

mà người phía sau mình không thích thì không nên áp dụng cho người bên trái mình; những gì mà người bên trái mình không thích thì không nên áp dụng cho người bên phải mình” [30, 29]

Trên thực tế, đây chính là một cách giải thích thuyết “ái nhân” của Khổng Tử, theo đó “ái nhân” là “đạo trung thứ” “Đạo trung thứ” là tư tưởng xuyên suốt học thuyết của Khổng Tử Tăng Tử từng nói: “Phu Tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ dã” (Đạo của Phu Tử chính là đạo trung thứ) [30, 270] Theo Tăng Tử, toàn bộ học thuyết của Khổng Tử có thể dùng hai chữ “trung thứ” này để khái quát Thật ra, cả “trung” và “thứ” đều là những nội dung quan trọng của “nhân” Ý nghĩa cơ bản của “trung” là: tận tâm tân lực, làm hết sức mình một cách công chính, vô tư Trong “Thuyết văn” ghi: “Trung, kính dã Tận tâm viết trung” (Trung là tận tâm, làm hết sức), “Quảng Vận” viết:

“Trung, vô tư dã” (Trung là vô tư) Vì vậy, “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” chính là đạo “trung” Còn “thứ” là một mặt khác của

Trang 23

“nhân” “Thuyết Văn” ghi: “Thứ, nhân dã” (Thứ là đức nhân), Chu Hy giải thích: “Suy kỷ vị chi thứ (Từ mong muốn của bản thân mình mà suy nghĩ cho người khác gọi là thứ) Do đó, “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” chính là “thứ” Qua đây, ta có thể thấy sự khác biệt giữa “trung” và “thứ” “Trung” là thái độ chân thành đối với con người và vạn vật xuất phát từ nội tâm, lấy thái độ đó

để làm việc, mưu sự cho người khác “Thứ” là dựa vào tấm lòng nhân ái của mình để đoán định lòng người khác, từ đó xử lý được tốt đẹp, chính xác các mối quan hệ xã hội và biết thông cảm, lượng giải cho những điều chưa được chu toàn và không thoả đáng của người khác

Đạo trung thứ của Khổng Tử có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với hậu thế

Có người còn cho rằng: Người bình thường nếu nắm được đạo trung thứ thì sẽ

có thể trở thành người “nhân”, còn người quản lý mà nắm được đạo trung thứ thì sẽ có khả năng quản lý tốt khắp cả thiên hạ

Trong xã hội loài người, trong tổ chức doanh nghiệp từ xưa đến nay, tình cảm yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, tương thân tương ái vẫn luôn được khẳng định và hướng tới Hiện nay, trong quản lý kinh tế hiện đại cũng cần phải thực thi ái nhân bên cạnh việc áp dụng các chế độ kỷ luật nghiêm khắc

Tóm lại, một doanh nghiệp nếu tạo ra được môi trường hợp tác tương thân tương ái, tôn trọng, yêu thương lẫn nhau giữa các cán bộ quản lý, giữa các nhân viên, cán bộ quản lý với nhân viên, giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, xã hội thì doanh nghiệp này nhất định sẽ có được sức mạnh nội tại rất lớn, khả năng cạnh tranh mạnh, và tất nhiên theo đó sẽ là những lợi ích kinh

tế lớn

1.3 “Đạo chi dĩ đức” - Quan điểm về cơ chế điều hành quản lý của Nho gia Tiên Tần

Trong thời đại của Khổng Tử có hai loại phương thức quản lý: một là

“đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ”, coi trọng sự dẫn dắt, chỉ dạy, giáo hoá; còn một loại là “đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình”, nặng về cưỡng chế, trừng phạt

Trang 24

Khổng Tử chỉ ra: hiệu quả của hai phương thức này hoàn toàn khác nhau Nếu người quản lý dùng đạo đức để dẫn dắt, dùng lễ pháp để ước thúc thì sẽ có được hiệu quả “hữu sỉ thả cách” - người bị quản lý sẽ có cảm giác xấu hổ, liêm sỉ và có thể tự giác sửa đổi những sai lầm của mình Ngược lại, nếu dùng pháp chế chính lệnh để dẫn dắt, dùng hình phạt để trừng trị thì sẽ tạo ra hiệu quả “dân miễn nhi vô sỉ” - mọi người có thể tránh khỏi việc phạm pháp mà không biết đến xấu hổ khi phạm pháp (Luận ngữ - Vi chính) Vì vậy, Khổng

Tử chủ trương dùng phương pháp “đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ” để tiến hành quản lý, bên cạnh đó sử dụng “lễ” như một biện pháp ước thúc bên ngoài, từ

đó đạt tới sự cân bằng và hài hoà trong quản lý và xã hội Đó chính là “đức trị” - biện pháp quản lý quan trọng của Nho gia Tiên Tần, là sợi dây xuyên suốt tư tưởng quản lý của Khổng Tử Nắm bắt được vấn đề này chính là đã nắm bắt được đặc trưng tiêu biểu của tư tưởng quản lý xã hội của các nhà Nho Tiên Tần

Trong “Luận ngữ - Vi chính” có viết: “Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ; đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách” [30, 227]

“Đạo” ở đây có nghĩa là dẫn dắt, khuyến dụ, dạy bảo; “chính” dùng với nghĩa hẹp, tức là chỉ chính trị và pháp luật Còn chữ “cách” vốn có rất nhiều nghĩa,

có thể giải thích là “chính”, “kính”, nhưng trong “Lễ ký - Tri y” có dẫn câu nói của Khổng Tử là: “Phù dân, giáo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, tắc dân hữu cách tâm Giáo chi dĩ hình, tề chi dĩ hình, tắc dân hữu độn tâm” (Dẫn dắt dân bằng đạo đức, chỉnh đốn dân bằng lễ thì dân sẽ quy thuận Dẫn dắt dân bằng hình pháp thì dân sẽ trốn tránh) Chữ “độn” ở đây có nghĩa là trốn tránh, ngược với trốn tránh là thân cận, quy phục, hướng đến Dựa vào đây, ông Dương Bá Tuấn trong “Luận ngữ dịch chú” đã đem giải thích chữ “cách” là “quy phục nhân tâm” Tóm lại, đại ý câu nói này của Khổng Tử là: Dùng chính pháp để dẫn dắt dân chúng, dùng hình phạt để chỉnh đốn họ thì họ chỉ tạm thời tránh tội mà không có lòng liêm sỉ, không biết xấu hổ Nếu dùng đạo để dẫn dắt họ,

Trang 25

dùng lễ để chỉnh đốn họ thì dân chúng không những biết xấu hổ, liêm sỉ mà còn thật lòng quy phục

Khổng Tử nhấn mạnh việc cai trị quốc gia nên coi giáo hoá đạo đức làm gốc mà không nên nhấn mạnh một cách phiến diện các hình phạt, giết chóc Đây chính là cái gọi là “Thiện nhân vi bang bách niên, diệc khả dĩ thắng tàn khử hát hĩ” (Nếu có những người lương thiện nối tiếp nhau làm việc nước trong trăm năm, cũng có thể cảm hoá kẻ tàn bạo trở thành lương thiện) [30, 432] Vì vậy, Khổng Tử mới nói rằng: “Thính tụng, ngô do dân dã, tất đã sử

vô tụng hồ” (Xử lý kiện tụng ta cũng giống như người khác Nhưng theo ta thì nhất định phải làm cho sự kiện tụng hoàn toàn bị mất đi thì mới tốt) [30, 415]

Có một lần, Quý Khang Tử xin thỉnh giáo Khổng Tử về việc cai trị: “Nếu như giết hết những kẻ xấu mà gần gũi thân cận với người tốt thì thế nào?”, Khổng

Tử đáp: “Người xử lý việc chính trị, tại sao phải giết chóc? Người muốn làm cho quốc gia trở nên tốt đẹp thì trăm họ sẽ tốt lên Đức hạnh của người lãnh đạo giống như gió, đức hạnh của nhân dân trăm họ giống như cỏ, gió thổi về hướng nào thì cỏ ngả theo hướng đó” [30, 416] Qua đây Khổng Tử đã khẳng định làm việc chính sự là dùng đạo đức để dẫn dắt, quy thuận dân chúng

Tuy nhiên, Khổng Tử cũng không hoàn toàn chủ trương không dùng đến hình luật Ông đã từng nói rằng: “Quân tử hoài hình, tiểu nhân hoài huệ” (Người quân tử để tâm đến hình phạt, kẻ tiểu nhân để tâm đến ân huệ) [30, 272] “Hoài hình” ở đây chính là chủ trương người thống trị phải quan tâm đến hình pháp Ông còn chỉ ra “Hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc” (Hình phạt không đúng, không hợp lý thì dân không biết để tay chân vào đâu) [30, 430] Điều này chứng tỏ, Khổng Tử không phản đối “hình” mà chủ trương hình phạt phải “trúng”, phải thích đáng, đúng mức Mặt khác, theo Khổng Tử, đạo đức so với hình pháp dễ được lòng dân hơn, từ đó có thể đạt được hiệu quả quản lý cao hơn và lâu dài hơn Phái Pháp gia và Hàn Phi Tử đều cho rằng, quản lý bằng cách giáo hoá đạo đức không thể nhanh chóng

Trang 26

được như quản lý bằng hình pháp (Hàn Phi Tử) Nhưng theo Khổng Tử, cái

“nhanh” của pháp lệnh là cái nhanh kiểu “dục tốc bất đạt” (nhanh mà không đạt) “Thuyết Uyển - Tạp ngôn” có dẫn lời Khổng Tử rằng: “Dưới roi vọt thì không thể làm nên được một con hiếu, dưới hình phạt tàn sát không thể làm ra được một người dân thuận” Vì vậy, để đạt được đến hiệu qủa quản lý tích cực, vững vàng và lâu dài thì chỉ có thể dựa vào “đức trị”, giáo hoá đạo đức cho dân

Giáo hoá bằng đạo đức chính là tiền đề của quản lý Muốn làm cho các nguyên tắc, quy định trong quản lý được thực thi rộng rãi thì người quản lý phải lấy mình làm gương; muốn làm cho người bị quản lý quy phục một cách nhanh chóng mà lâu bền thì người quản lý phải dẫn dắt dựa vào đạo đức Do vậy, Khổng Tử rất chú trọng việc tu dưỡng đạo đức của người quản lý, lãnh đạo Ông cho rằng: “Nếu dùng đạo đức để cai trị, quản lý thì người lãnh đạo cũng giống như sao Bắc Đẩu, đứng yên ở một chỗ mà các sao khác quy về” [30, 227] và “Làm cho mình trở nên ngay thẳng thì không phải ra mệnh lệnh

mà dân vẫn nghe theo” [30, 449]

Đệ tử Khổng môn trong quá trình “vi chính” đã ra sức thực thi quản lý

“đạo chi dĩ đức” và lưu lại hậu thế nhiều câu chuyện hay, có ý nghĩa Dưới đây là câu chuyện rất có ý nghĩa được ghi trong “Khổng Tử gia ngữ - Khuất Tiết giải”: Mẫn Tử Khiên - học trò của Khổng Tử đảm nhiệm chức quan của huyện Đan Phụ, ông rất chú trọng đến việc thi hành giáo hoá đạo đức Sau ba năm, Khổng Tử phái Vu Mã Kỳ đến huyện Đan Phụ xem xét tình hình Khi đến nơi, Vu Mã Kỳ gặp một người đánh cá trong đêm tối, thấy ông ta câu cá lên rồi sau đó lại thả nó xuống sông.Vu Mã Kỳ cảm thấy rất kỳ lạ liền đến hỏi nguyên do Người đánh cá trả lời rằng: “Mã Kỳ Tử mong muốn mọi người không bắt cá nhỏ, muốn để cho chúng lớn lên mới bắt (để bảo vệ nguồn cá) Những con cá mà tôi vừa thả xuống hồ là những con cá nhỏ” Vu Mã Kỳ nghe xong rất cảm động, trở về nói với Khổng Tử: “Đức chính của Mẫn Tử Khiên

Trang 27

thật là đã đạt đến đỉnh điểm rồi Đến một người dân bình thường trong bóng tối cũng tự giác hành động tuân thủ theo quy củ, giống như là có hình phạt nghiêm khắc đang ở ngay bên cạnh vậy Xin hỏi thầy Mẫn Tử Khiên làm sao

có thể làm được như vậy?” Khổng Tử trả lời: “Ta đã từng nói với Tử Khiên rằng: Phải dựa vào tự giác đạo đức của nhân dân chứ không được đơn thuần chỉ dùng hình pháp Tử Khiên chính là đã vận dụng đạo lý này để quản lý huyện Đan Phụ”

Dùng ngôn ngữ hiện đại mà nói thì “đạo chi dĩ đức” của Nho gia chính

là nhấn mạnh tác dụng chỉ đạo của tinh thần và giá trị đạo đức Nó yêu cầu người quản lý thông qua mẫu hình hành vi của bản thân, đem truyền nhập những quan niệm giá trị nhất định cho những thành viên trong tổ chức, làm cho nó trở thành hành vi tự giác xuất phát từ nội tâm Đây là một loại phương pháp quản lý nhấn mạnh sự khống chế bên trong

Khổng Tử cùng lúc nêu ra “tề chi dĩ lễ” (dùng lễ để ước thúc) và “đạo chi dĩ đức” (dùng đạo đức để dẫn dắt) cho rằng, kết hợp cả hai sẽ tạo ra cơ chế quản lý “đức trị” đạt hiệu quả cao Trong xã hội cổ đại, nội dung của lễ rất phong phú, nó bao gồm các điển chương chế độ, quy phạm hành vi đạo đức Nhưng mục đích chủ yếu của nó là dùng để ước thúc hành vi con người, điều tiết các mối quan hệ xã hội, khiến cho những người thuộc các tầng lớp, giai cấp khác nhau phải dựa vào phạm vi mà “lễ” quy định để hành động, từ

đó khiến cho quản lý xã hội đẳng cấp thời kỳ phong kiến đạt đến sự hài hoà,

có trật tự

Trong tư tưởng của Khổng Tử, “lễ” là quy tắc cơ bản để quản lý quốc gia, để điều chỉnh chế độ đẳng cấp, là quy phạm hành vi duy trì trật tự xã hội đương thời Trong “Lễ Ký - Khúc lễ thượng” chỉ ra: “Phù lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềm nghi, biệt đồng dị, minh thị phi dã” (Lễ là để phân định thân sơ, giải quyết hiềm nghi, phân biệt giống khác, làm rõ đúng sai) “Lễ ký - Trọng ni yến cư” dẫn lời Khổng Tử: “Lễ là sắp xếp mọi việc được tề chỉnh

Trang 28

Người quản lý nếu có được điều này tất sẽ có được tề chỉnh Quản lý mà không có lễ, giống như người mù không có chỗ dựa, không biết phải dò dẫm như thế nào Hay như căn phòng không có đuốc lúc đêm không thể nhìn thấy

gì Nếu không có lễ thì chân tay không biết đặt như thế nào, tai mắt không biết dùng như thế nào, tiến thoái lưỡng nan không biết phải làm thế nào” Qua đây có thể thấy, Khổng Tử coi “lễ” là quy phạm khống chế, xử lý mọi việc, khiến cho mọi việc trở nên trật tự, tề chỉnh Nếu như cai trị xã hội không dùng

lễ để ước thúc thì sẽ trở nên hỗn loạn, không có trật tự như người mù không

có người dẫn dắt, như ở trong căn phòng tối không có ánh đèn đuốc, mất hết phương hướng, không biết phải làm thế nào mới đúng Vì vậy, “lễ” đóng vai trò là một quy phạm khống chế, điều chỉnh các loại quan hệ xã hội, liên kết xã hội thành một thể thống nhất Hơn nữa, “lễ” còn là tiêu chí để trị dân Khổng

Tử cho rằng: “An thượng trị dân, mạc thiện ưu lễ” (Ngự trên ngôi cao mà cai trị dân thì không gì tốt bằng lễ) (Lễ ký - Kinh giải) Vì vậy, Khổng Tử rất coi trọng tác dụng của “lễ” trong quản lý quốc gia và coi đó là tiêu chuẩn tu dưỡng cơ bản của người quản lý

Mặt khác, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh nội dung của “lễ” là “nhân”

“Nhân” và “lễ” có quan hệ với nhau, mối quan hệ này là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức “Lễ” đóng vai trò là hình thức của “nhân” nên phải xuất phát từ “nhân”, nếu không thì sẽ không còn đúng theo nghĩa của nó nữa “Lễ” đòi hỏi mọi người phải tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở tuân thủ theo danh phận, địa vị của mình trong tổ chức, doanh nghiệp, xã hội Nhưng sự tôn trọng này cần phải xuất phát từ tấm lòng chân thành, không giả tạo Trong “Luận ngữ - Công Dã Tràng”, Khổng Tử lên án những kẻ dùng lời nói khéo, giả sắc mặt hiền lành và cung kính thái quá là đáng hổ thẹn) [30, 289] “Lễ” phải quán triệt tinh thần của “nhân”, xa rời nội dung “nhân” thì mọi thể hiện trên phương diện hình thức của “lễ” sẽ không còn ý nghĩa nữa: “Nhân nhi bất nhân, như lễ hà” (Con người mà không có lòng nhân ái sẽ dùng lễ như thế

Trang 29

nào?) [30, 249]; “Lễ vân lễ vân, ngọc bạch vân hồ tai” (Lễ ư? Lẽ nào chỉ gồm những lễ vật như gấm vóc ngọc ngà thôi sao?) [30, 518] Chỉ có “lễ” và những quy định lễ nghi phù hợp với “nhân” mới có thể điều tiết được các quan hệ con người và con người với xã hội Sự điều tiết này thực chất có tác dụng mang tính ước thúc Chức năng xã hội của “lễ” là thông qua sự ước thúc bên ngoài để tiến tới chuyển hoá thành tính quy định tâm lý bên trong của con người

Do đó, Khổng Tử yêu cầu người quản lý muốn thực hiện “đức trị” thì cần phải đặt tu dưỡng đạo đức lên hàng đầu, cần phải làm cố gắng hướng tới thực hiện điều “nhân” mà theo ông “Khắc kỷ phục lễ vi nhân” [30, 411], nghĩa là người quản lý phải biết kiềm chế bản thân, khiến cho lời nói và hành động đều phải phù hợp với lễ Yêu cầu cụ thể là: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động:” (Không nhìn những gì không hợp với

lễ, không nghe những gì không hợp với lễ, không nói những gì không hợp với

lễ, không làm những gì không hợp với lễ) [30, 411] Có thể thấy, lễ chính là chế độ ước thúc từ bên ngoài

Trong học thuyết của Khổng Tử, “lễ” có một vị trí rất quan trọng trong

tổ chức xã hội và quản lý hành chính Vì vậy, ông nhấn mạnh “bất học lễ, vô

dĩ lập” [30, 502]; “bất tri lễ, vô dĩ lập dã” [30, 562] - tức là không học, không biết điều lễ thì không thể lập thân trong xã hội được Đương nhiên, chúng ta không thể phủ nhận phạm trù “lễ” mà Khổng Tử đưa ra cũng có những điểm sai lầm, mang tính hạn chế lịch sử, hạn chế xã hội và có phần kìm hãm sự phát triển tự do của con người Nhưng ở đây, chúng tôi chú trọng đến việc chỉ ra những điểm đáng tiếp thu, học hỏi từ quan điểm quản lý chính trị, kinh

tế, xã hội của Khổng Tử, những điểm vẫn còn ý nghĩa, có tác dụng trên phương diện quản lý Vì vậy, trong những phần viết này chỉ nêu ra những điểm tích cực mà không đi sâu tìm hiểu, đánh giá những điểm tiêu cực trong

tư tưởng của Khổng Tử

Trang 30

Khổng Tử đã đem kết hợp giữa “đạo đức” với quản lý, cho rằng giáo hoá đạo đức có thể khiến cho con người tự giác làm đúng theo những quy chuẩn đạo đức, đúng với lương tâm, nhân cách, trách nhiệm, nghĩa vụ và những giá trị tương ứng Theo ông, đó mới là động lực nội tại lâu bền nhất của hành vi con người

Nền tảng căn cứ để Khổng Tử chủ trương dùng phương pháp “đạo chi

dĩ đức, tề chi dĩ lễ” tiến hành quản lý là những đánh giá về giá trị con người của ông Theo ông, con người là tồn tại quý giá nhất trong vũ trụ, trời đất, là trung tâm của xã hội Khổng Tử khẳng định, con người khác với con vật và đặc trưng quan trọng khiến cho con người khác với con vật ở chỗ con người

có quan niệm về đạo đức và những quy định hành vi biểu hiện quan niệm này

Từ đó, ông đặt ra “lễ” để quy phạm hành vi của con người, coi “lễ” là biểu hiện bên ngoài của quan niệm đạo đức Ông mong muốn dẫn dắt con người bằng đạo đức, ước thúc con người bằng “lễ”, đề cao sự tu dưỡng bản thân, tự giác hoàn thiện nhân cách của con người Đồng thời, việc này phải được thực hiện trước tiên ở những người quản lý Người quản lý thực hiện làm gương, sau đó mọi người nhìn vào noi theo

Quản lý thực chất là quản lý con người, vì vậy, rõ ràng đạo đức và quản

lý có quan hệ mật thiết với nhau Việc thông qua giáo hoá, tu tâm dưỡng tính

để khiến cho những quy phạm đạo đức xâm nhập, chuyển hoá thành tình cảm,

ý chí và quan niệm của con người có thể đưa đến kết quả quản lý rất ưu việt Nếu một người có khả năng tiếp thu quy phạm đạo đức, có được tự giác đạo đức cao thì anh ta sẽ tự giác tuân thủ các chế độ quy định của tổ chức, doanh nghiệp và xã hội Những người như thế không cần người khác phải ép buộc anh ta làm những việc nên làm, mà tự bản thân anh ta có được ý thức về điều

đó và tự giác làm Hơn nữa, những người có nhân cách hoàn thiện luôn theo đuổi mục tiêu tự khẳng định bản thân, mong muốn thực hiện giá trị nhân sinh mạnh mẽ Anh ta sẽ không ngừng cố gắng phấn đấu, thậm chí quên mình vì lý

Trang 31

tưởng Mặt khác, những người có đạo đức cao luôn là những người có trách nhiệm với công việc, gia đình và xã hội, ý thức được nghĩa vụ của bản thân đối với mọi người, với gia đình, tổ chức, doanh nghiệp, quốc gia và xã hội

Và việc phấn đấu thực hiện những trách nhiệm, nghĩa vụ này là điều đương nhiên phải làm không cần gì đến ép buộc, cưỡng chế,

Có thể nói rằng, nếu dùng “đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ” để quản lý thì sẽ đem lại hiệu quả quản lý tốt và bền vững Tuy nhiên, có một điều cần phải khẳng định là, con người vốn vô cùng phức tạp, hoàn cảnh xã hội thì đa biến,

do vậy, không thể tuyệt đối hoá tác dụng của đạo đức, rơi vào chủ nghĩa duy đạo đức, đó là điều thật sự sai lầm Nhưng chúng ta cũng không nên coi thường tác dụng và giá trị của đạo đức, bởi nếu làm như vậy, chúng ta đã đánh mất đi một số yếu tố rất có ý nghĩa trong quản lý của mọi thời đại

Lý luận quản lý phương Tây hiện đại đặt nhu cầu sinh tồn của con người vào vị trí hàng đầu trong các yếu tố kích thích tính tích cực, chủ động

và sáng tạo của con người, còn tư tưởng quản lý của Khổng Tử và Nho gia lại đặt những nhu cầu đạo đức, xã hội lên vị trí trọng yếu Nhưng lý luận quản lý phương Tây hoàn toàn không phải không coi trọng nhu cầu đạo đức, tinh thần của con người, còn Khổng Tử cũng hoàn toàn không coi nhẹ những điều kiện vật chất sinh tồn của con người, chỉ chẳng qua là trọng điểm nhấn mạnh của mỗi bên khác nhau mà thôi Bản chất đạo đức và những hành vi có ý thức của con người chính là một loại động lực nội tại vĩnh cửu thúc đẩy con người Trong con người luôn ẩn chứa tiềm năng cực kỳ phong phú, khi được phát huy thì có thể sẽ trở thành sức mạnh vật chất cực lớn Vì vậy, quản lý học hiện đại càng ngày càng coi trọng tính đạo đức trong quản lý Coi trọng sức mạnh của đạo đức không phải là không cần những thoả mãn vật chất Tinh thần không thể tách rời với vật chất, dưới tiền đề nhu cầu vật chất được đáp ứng thì tinh thần sẽ càng có giá trị hơn

Trang 32

1.4 “An nhân” - Mục tiêu quản lý của Nho gia Tiên Tần

Mục tiêu kinh tế là tiêu điểm mà các lý luận kinh tế và thực tiễn kinh tế theo đuổi Mục tiêu cơ bản của quản lý của Khổng Tử là “an nhân” Mà tư tưởng quản lý của Khổng Tử là quản lý cả chính trị, kinh tế, xã hội Dưới tiền

đề lớn này, các nhân vật đại diện cho Nho gia sau này cũng đã đưa ra những

mô hình mục tiêu cụ thể như “nhân chính” của Mạnh Tử, “vương chế” của Tuân Tử, rồi “đại đồng” trong “Lễ ký - Lễ vận” Cùng với sự thay đổi của thời đại, những mô hình này có lẽ trở nên lạc hậu, nhưng lý tưởng cao đẹp nhất bao hàm trong đó là “an nhân” thì luôn có ý nghĩa đối với hoạt động kinh

tế mọi thời đại

Trong quản lý học hiện đại, quản lý không đơn giản là sản phẩm kinh tế

mà còn sáng tạo ra kinh tế Chỉ có trở thành chủ thể của hoàn cảnh kinh tế, đồng thời dựa vào những hoạt động có ý thức và mục đích để thay đổi hoàn cảnh, đây mới đáng được gọi là quản lý chân chính

Vì vậy, quản lý một doanh nghiệp phải định ra mục tiêu rõ ràng Xác định mục tiêu này phải căn cứ vào từng doanh nghiệp cụ thể, không thể chỉ quan tâm đến cái trước mắt mà không suy xét đến lâu dài, cũng không thể chỉ

là sự đón đầu một làn sóng kinh tế mới Tác dụng của mục tiêu đối với doanh nghiệp cũng giống như tác dụng của la bàn đối với những người đi biển Xác định mục tiêu có thể khiến cho doanh nghiệp có thể đi đến điểm cần đến mà không bị chi phối bởi các sự việc ngoài ý muốn

Trong lịch sử, các lý luận quản lý tuy không đề xuất một cách chính thức khái niệm “mục tiêu quản lý” nhưng đóng vai trò là tiêu điểm của lý luận quản lý, mục tiêu quản lý tất nhiên là tồn tại trong bất cứ lý luận quản lý nào Đối tượng nghiên cứu trong học thuyết quản lý của Khổng Tử và các nhà Nho Tiên Tần là quản lý quốc gia, quản lý chính trị, kinh tế, xã hội, nó cũng rất coi trọng việc lập nên những mục tiêu quản lý, được đề cập trong thuyết

“nhân chính” của Mạnh Tử, “vương chế” do Tuân Tử chủ trương và “đại

Trang 33

đồng” trong “Lễ ký” miêu tả, nhưng lý tưởng “an nhân” do Khổng Tử đề xuất chính là sợi chỉ xuyên suốt các mục tiêu cụ thể này

Quan niệm “an nhân” là do Khổng Tử đề xuất ra Khi Phàn Trì hỏi về Nhân, Khổng Tử trả lời: Nhân là yêu người [30, 418] Ông chỉ ra: “Tu kỷ dĩ

an nhân”, “du kỷ dĩ an bách tính” [30, 460] Xét đối tượng “an nhân” của Khổng Tử, không chỉ bao gồm những người quản lý, hơn nữa còn bao gồm người bị quản lý Trong “Luận ngữ - Quý Thị” viết: “Quân vô bần, hoà vô quả, an vô khuynh” (Mọi người đều bằng nhau thì không nghèo, hoà hợp với nhau thì không thấy ít, sống an định yên ổn thì không bị nghiêng đổ) [30, 503] Trong những người bị quản lý không chỉ bao gồm người dân thông thường, mà còn bao gồm cả những người cần phải đặc biệt quan tâm đến, ví như những người goá bụa cô độc, người già và trẻ con: “Lão giả an chi, , thiếu giả hoài chi” (Người già được an vui, , trẻ con thì được nuôi dưỡng, dạy dỗ) [30, 290]; không chỉ bao gồm dân trong nước còn bao gồm cả những người bên ngoài biên giới: “Viễn nhân bất phục, tắc tu văn đức dĩ lai chi Ký lai chi, tắc an chi” (Nếu người ở xa không phục thì cần phải sửa văn đức để người ta đến với mình Khi người ta đã đến thì hãy giúp cho họ được an định) [30, 503] Từ đó có thể thấy, đối tượng “an nhân” của Khổng Tử rất rộng rãi

và phổ biến

Khổng Tử cho rằng: “An nhân” đóng vai trò là mục tiêu cao nhất của quản lý quốc gia, không chỉ là người quản lý thông thường mà chính là những thánh vương như Nghiêu, Thuấn cũng vẫn chưa chắc có thể làm được, “Tu kỷ

dĩ an bách tính, Nghiêu Thuấn kỳ do bệnh chư?” (Sửa mình để làm cho mọi người được an lành, đến như vua Nghiêu, vua Thuấn còn khó làm được) [30, 460] Trong “Luận ngữ - Ung Dã” cũng ghi lại câu chuyện: Tử cống hỏi đức Khổng Tử: “Nếu có người làm ơn cho khắp nhân dân, mà hay cứu giúp mọi người sẽ như thế nào? Có thể gọi là người nhân được chăng?” Khổng Tử đáp:

“Sao chỉ gọi là người nhân? Đó hẳn là bậc thánh Đến như vua Nghiêu, vua

Trang 34

Thuấn còn lo ngại chẳng làm được đầy đủ như thế” Người quản lý trong thực

tế khó mà hoàn toàn thực hiện được mục tiêu “an nhân”, vậy thì tại sao lại xác lập nó làm mục tiêu căn bản của quản lý? Điều này chính đã phản ánh suy nghĩ sâu xa của Khổng Tử Mục đích của ông là coi “an nhân” là phương hướng, mục tiêu mà phải người quản lý phải không ngừng nỗ lực vươn tới, biến nó thành sự thôi thúc và khích lệ người quản lý làm cho tốt công việc quản lý của mình

Tư tưởng “an nhân” của Khổng Tử là nền tảng cho các mục tiêu quản

lý của các nhà Nho sau này Nổi bật trên hết là mục tiêu “nhân chính” của Mạnh Tử, mục tiêu “vương chế” của Tuân Tử và mục tiêu “đại đồng” trong

Lễ Ký, không có cái nào là không lấy “an nhân” làm hạt nhân căn bản của mình

Mục tiêu “nhân chính” của Mạnh Tử được đưa trong bối cảnh thời kỳ

Chiến Quốc, chư hầu tranh hùng, xã hội biến động, nhân dân khổ cực lầm than Mạnh Tử từ “bất nhẫn nhân chi tâm” (lòng không nỡ nhẫn tâm) mở rộng

ra thành “bất nhẫn nhân chi chính” (nền chính trị không nhẫn tâm), mục tiêu

là hướng tới “an nhân” Học thuyết “nhân chính” của Mạnh Tử, nói một cách

cụ thể chính là bảo vệ dân, yêu dân, dưỡng dân, giáo dục dân, trị dân, mà suy cho cùng chính là an dân Ông nói: “Dưỡng sinh tang tử vô hám, vương đạo chi thuỷ dã” (Nuôi người sống được no ấm, chôn người chết được đủ lễ, đó là bước đầu của một nền cai trị thịnh vượng); “Lê dân bất cơ bất hàn, nhiên nhi bất vương giả, vị chi hữu dã” (Mọi người không bị đói không bị lạnh, thì thế nào nền cai trị cũng được thịnh vượng); “Lão ngô lão dĩ cập nhân chi lão; ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu Thiên hạ khả vận ư chưởng” (Mình kính trọng bậc cha anh mình, rồi từ đó, mình kính trọng bậc cha anh của mọi người; mình thương yêu hàng con em mình, rồi tư đó thương yêu cả hàng con em của mọi người Nếu làm được như vậy thì việc quản lý sẽ dễ như trở bàn tay) [30, 594]

Trang 35

Trong thuyết "nhân chính", Mạnh Tử rất đề cao Nhân - Nghĩa Theo thuyết này, việc trị nước, chăm dân của các bậc vương giả phải vì nhân nghĩa chứ không vì lợi Khi Mạnh Tử vào yết kiến Lương Huệ Vương, nhà vua hỏi:

"Cụ không quản ngại đường xa ngàn dặm tới đây, chắc có điều gì dạy bảo để làm lợi cho nước tôi chăng?" Mạnh Tử đáp: "Nhà vua cớ sao cứ phải nói đến lợi, chỉ có nhân nghĩa (là nên nói đến) mà thôi! Nhà vua nói: làm gì để lợi cho nước ta, đại phu nói: làm gì để lợi cho nhà ta, kẻ sĩ và thứ dân cùng nói: làm

gì để có lợi cho bản thân ta, trên dưới đua nhau tranh mối lợi, như vậy nước

sẽ nguy mất" ("Mạnh Tử kiến Lượng Huệ Vương Vương viết: Tẩu bất viễn thiên lý nhi lai, diệc tương hữu dĩ lợi ngô quốc hồ Mạnh Tử đối viết: Vương

hà tất viết lợi, diệc hữu nhân nghĩa nhi dĩ hĩ Vương viết hà dĩ lợi ngô quốc Đại phu viết hã dĩ lợi ngô gia Sĩ thứ nhân viết hà dĩ lợi ngô thân Thượng hạ giao chinh lợi, nhi quốc nguy hĩ!" [30, 594]

“An nhân” cũng là điểm cơ bản của mục tiêu “vương chế” của Tuân Tử

Mục tiêu “vương chế” được chế định từ góc độ thống trị, vì vậy ông nhận thức được một cách rõ ràng, giữa sự an lành, yên ổn của nhân dân và sự an lập của người quản lý có tồn tại một loại quan hệ nhân quả tất nhiên Tuân Tử chỉ ra: “Nếu như con ngựa kéo xe bị sợ hãi lồng lên, thì người ngồi trên xe sẽ không được yên ổn, nếu như mọi người không được yên ổn dưới sự cai quản của người quản lý thì người quản lý dù ở chức vị cao cũng sẽ không được yên ổn Khi mọi người được an định dưới sự cai trị của người quản lý thì người quản lý cũng sẽ được yên ổn trên vị trí của mình” (Tuân Tử - Vương Chế)

Theo ông, “Nhân mạc quý hồ sinh, mạc lạc hồ an” (Đối với con người không có gì quý bằng mạng sống, không có gì vui bằng được an bình) (Tuân

Tử - Cường Quốc), an lành là hạnh phúc và niềm vui lớn nhất của đời người

Vì vậy, trong mục tiêu “vương chế” của Tuân Tử có nói nhiều lần cảnh tượng: “Trong bốn biển cũng như trong một nhà, người ở gần không giấu giếm tài năng của mình, người ở xa không sợ lao động cực khổ Không có

Trang 36

quốc gia bị ngăn cách, phản đối lại vua Tất cả đều bằng lòng với sai khiến của vua mà cảm thấy vui vẻ” (Tuân Tử - Vương Chế) Trong môi trường đó thì mọi vật đều phát huy được hết tác dụng của mình, con người thì phát huy được hết tài năng của mình, người gần thì dốc sức tận tâm, người ở xa thì hết lòng quy phục Đó đúng là một bức tranh “an nhân”

“An nhân” cũng là đường lối chính của mục tiêu “đại đồng”, qua “Lễ

vận đại đồng”, chúng ta sẽ thấy bức tranh về một xã hội đại đồng được miêu

tả như sau: “Khi đạo lớn được thi hành, thiên hạ là công hữu, những người được lựa chọn là những người hiền đức và có tài năng, những gì được coi là tín nghĩa, những gì cần phải tu tập là thân thiết hoà thuận Mọi người không chỉ yêu quý cha mẹ mình, không chỉ yêu thương con cái mình Người già có được nơi quy tụ, người trưởng thành có thể phát huy được sở trường của mình, trẻ em được nuôi dưỡng, những người goá bụa cô độc và tàn tật đều được nuôi dưỡng Con trai có phân công chức nghiệp, con gái thì có nơi có chốn tốt đẹp Mọi người chỉ lo lắng cho tài sản hàng hoá bị rơi trên đất không dùng được, mà không nhất định phải lấy làm của riêng, lo lắng không thể cống hiến được hết khả năng của bản thân mà không nhất định phải mưu lợi cho bản thân Vì vậy, không có tính toán mưu kế, cũng không lừa dối lẫn nhau, cửa lớn của các nhà cũng không cần phải đóng” Đó được gọi là đại đồng Trong bức tranh này, “an nhân” là đường lối chủ yếu xuyên suốt Mọi người đều có được chỗ của mình, an cư lạc nghiệp; mọi người đều nói điều tín nghĩa, quây quần hoà thuận, sống với nhau một cách an bình, xã hội an định hoà bình, không bị biến động - Có thể nói đây đã đạt đến mức cao nhất của “an nhân”

Tóm lại, lý tưởng “an nhân” mà Khổng Tử đề xướng là mục tiêu căn bản của tư tưởng quản lý kinh tế của Nho gia Tiên Tần

Từ thời đại của Khổng Tử cho đến ngày hôm nay, nhân loại đã trải qua quá trình phát triển hơn 26 thế kỷ Thời đại đã tiến bộ, xã hội cũng đã thay đổi

Trang 37

rất lớn, các loại hình quản lý cũng ngày càng phức tạp Do vậy, nội dung cụ thể của “an nhân” chắc chắn cũng có những khác biệt - đó là khác biệt giữa sự

an định của thời đại nông nghiệp với sự an định của thời đại công nghiệp Thêm nữa, do sự thay đổi của xã hội mà đối tượng cụ thể của “an nhân” cũng

có khác biệt - đó là sự khác biệt giữa con người của xã hội tư hữu với con người của xã hội công hữu Do sự khác biệt của loại hình quản lý, cách làm

cụ thể của “an nhân” cũng có khác biệt - đó là khác biệt giữa theo đuổi sự an định của tổ chức quốc gia với theo đuổi sự an định của tổ chức doanh nghiệp Nhưng với vai trò là một loại mục tiêu quản lý cơ bản, lý tưởng “an nhân”, tinh thần “an nhân” không hề tiêu biến, không bị lạc hậu với thời gian

Vì “an nhân” đóng vai trò là một loại nguyên tắc quản lý cụ thể, cần thiết của một xã hội, nó không chỉ “mang tính thời đại”, mà còn “mang tính giai cấp” Liệu mục tiêu “an nhân” có thích hợp với hoạt động quản lý của bất

cứ quốc gia nào hay không? Muốn trả lời được vấn đề này phải tìm hiểu và phân tích cụ thể nội dung và đối tượng trong mục tiêu “an nhân” này

Trong chế độ áp bức bóc lột thời xưa, giữa người “an nhân” và người được “an” không chỉ tồn tại mối quan hệ giữa người quản lý và người bị quản

lý mà còn tồn tại mối quan hệ giữa người áp bức bóc lột và người bị áp bức bóc lột Vì vậy, mục tiêu “an nhân” khi đó vừa đóng vai trò là lợi ích chung của các thành viên trong cùng một xã hội, lại vừa phản ánh lợi ích đặc thù của từng giai cấp, hay một cách khác, “an” của người này luôn là “bất an” của người kia Người quản lý đòi hỏi người dân phải biết “an” phận bản thân còn nhân dân thì “bất an” với hiện trạng Sự mâu thuẫn và đấu tranh này đã xuyên suốt mấy nghìn năm lịch sử của xã hội giai cấp

Xã hội tư bản là một bước tiến lớn trong lịch sử nhân loại, nó phá vỡ các loại ước thúc của chế độ đẳng cấp phong kiến đối với con người, đặt con người vào mạng lưới quan hệ khế ước tương đối “tự do”, từ đó đã giải phóng

Trang 38

sức sản xuất ở một trình độ nhất định Nhưng nó vẫn chưa thể thay đổi về căn bản mâu thuẫn giữa “an” và “bất an” trong xã hội giai cấp nói trên

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa đã tiêu diệt sự bóc lột, điều này khiến cho lợi ích giữa người quản lý và người bị quản lý có khả năng đạt đến sự nhất trí hoàn toàn, hoạt động quản lý có khả năng hình thành nên nền tảng an định Khi đó, con người thật sự trở thành mục tiêu của quản lý chứ không phải là biện pháp, mọi người làm hết khả năng của mình, ai có chỗ của người

đó, giữa cá nhân và cá nhân, cá nhân và tập thể, cá nhân và xã hội có được sự

lý giải và hoà hợp hoàn thiện, từ đó hợp tác chân tình với nhau, tự do phát triển Nhưng vấn đề bức thiết mà các quốc gia xã hội chủ nghĩa đang phải đối mặt hiện nay chính là: phải ra sức phát triển sản xuất, thoả mãn nhu cầu văn hoá, vật chất ngày càng phát triển của quần chúng nhân dân, tạo ra sự thống nhất giữa lợi ích và công bằng, khiến cho xã hội có được sự “an định” theo đúng nghĩa của nó

***

Trên đây là những trình bày, phân tích về một số phương diện chính trị

- đạo đức với vai trò là cơ sở lý luận của tư tưởng kinh tế của Khổng Tử và các nhà Nho Tiên Tần Tư tưởng kinh tế của Nho gia Tiên Tần nhấn mạnh khai thác tính tích cực của con người thông qua đạo đức của họ Để làm được điều này, ông đã xây dựng nên nền tảng nhân tính luận khẳng định giá trị con người, hướng tới cái thiện, trên cơ sở đó đưa ra các tư tưởng “ái nhân” cùng cơ chế quản lý chú trọng sự dẫn dắt bằng đạo đức Qua đó ta thấy được rằng, tư tưởng kinh tế của Nho gia Tiên Tần chưa thoát khỏi chính trị và đạo đức, vấn

đề kinh tế chỉ được nhìn nhận trên phương diện chính trị và đạo đức Nói cách khác, khía cạnh kinh tế là một nội dung, phương diện của tư tưởng chính trị - đạo đức, là điều kiện để đạt mục tiêu chính trị Nội hàm của các khái niệm đạo đức được nhìn nhận với vấn đề kinh tế không phải là đạo đức nói chung

mà là đạo đức làm cơ sở cho đường lối cai trị, quản lý kinh tế Chính trị, đạo

Trang 39

đức chính là mục tiêu của hoạt động kinh tế, hiệu quả kinh tế trước hết là để thực hiện trách nhiệm chính trị, đạo đức Đây chính là nét đặc thù của tư tưởng kinh tế Nho gia Tiên Tần

Trong bối cảnh hiện nay, khi việc tìm hiểu, nghiên cứu động lực đạo đức của con người, làm thế nào để khuyến khích tính tích cực tự giác phát huy đạo đức nhân văn tiến bộ trong công việc vì lợi nhuận các cá nhân ngày càng trở thành vấn đề quan trọng trong quản lý kinh tế, thu hút được sự quan tâm của rất nhiều người, thì lý luận quản lý “dĩ nhân vi bản” của Khổng Tử và các nhà Nho Tiên Tần rõ ràng là rất đáng để tìm hiểu, tham khảo và học hỏi

Trang 40

Chương 2

VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG TƯ TƯỞNG KINH TẾ

CỦA NHO GIA TIÊN TẦN VỚI VIỆC QUẢN LÝ KINH TẾ HIỆN ĐẠI

Bên cạnh hệ thống lý luận khá đầy đủ là khá nhiều những quan niệm, phương pháp quản lý kinh tế cụ thể của các nhà Nho Tiên Tần Trong số đó

có không ít những điểm giá trị và vẫn hữu dụng đối với quản lý kinh tế hiện đại Trong chương này, luận văn sẽ trình bày và phân tích một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng kinh tế của các nhà Nho Tiên Tần và phân tích các vấn

đề đạo đức từ góc độ phương pháp quản lý có giá trị nổi bật nhất đối với quản

lý kinh tế hiện đại

Trước tiên là quan niệm về “nghĩa” và “lợi” trong tư tưởng các nhà nho

Tiên Tần Làm kinh tế không thể không nói đến “lợi”, nhưng điểm đặc biệt trong quan niệm của Khổng Tử về vấn đề này chính là ở chỗ: coi trọng phương pháp, con đường để đạt đến “lợi” Từ đó ông đưa ra mệnh đề “kiến lợi tư nghĩa”, coi đó là chuẩn tắc để người quản lý xử lý quan hệ giữa “nghĩa”

và “lợi” Thứ hai là nguyên tắc quản lý kinh tế rất được các nhà doanh nghiệp

hiện đại quan tâm - “hoà vi quý” Các nhà Nho Tiên Tần rất chú trọng đến

việc điều hoà các mâu thuẫn để đạt được đến trạng thái quản lý hài hoà Thứ

ba là quan niệm về “thành tín” - đây là một chuẩn tắc rất quan trọng trong xử

lý các mối quan hệ con người, doanh nghiệp và xã hội Đặc biệt hiện nay,

“thành tín” còn được coi là một trong những nhân tố cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế

Các quan niệm, phương pháp quản lý kinh tế bằng đạo đức của Khổng

Tử và của các nhà nho Tiên Tần rất phong phú và đa dạng, đề cập đến nhiều phương diện cụ thể trong quản lý Ở đây chỉ đưa một số khía cạnh mà người viết cho là có ý nghĩa nổi bật nhất và đang được các nhà quản lý quan tâm nhiều nhất

Ngày đăng: 24/03/2015, 08:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938). Khổng giáo phê bình tiểu luận. Nxb Quan hải Tùng thư. Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng giáo phê bình tiểu luận
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Quan hải Tùng thư. Huế
Năm: 1938
2. Minh Anh (2000). “Hồ Chí Minh với Nho giáo”. Tạp chí Triết học (số 6), tr 16 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với Nho giáo
Tác giả: Minh Anh
Năm: 2000
3. Nguyễn Thanh Bình (2000). “Nho giáo với vấn đề phát triển kinh tế và hoàn thiện con người”. Tạp chí Giáo dục lý luận (số 5), tr 35 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo với vấn đề phát triển kinh tế và hoàn thiện con người
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2000
5. Nguyễn Văn Bình (2002). “Quan niệm về Lễ của Nho giáo và những bài học cho chúng ta ngày nay”. Tạp chí Triết học (số 4), tr 46 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về Lễ của Nho giáo và những bài học cho chúng ta ngày nay
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 2002
8. Hoàng Tăng Cường (2002). “Quan niệm của Nho giáo về nghĩa và lợi“. Tạp chí Triết học (số 4), tr 50 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của Nho giáo về nghĩa và lợi
Tác giả: Hoàng Tăng Cường
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 2002
9. Nguyễn Thị Doan chủ biên (1996). Các học thuyết quản lý. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Tác giả: Nguyễn Thị Doan chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội
Năm: 1996
10. Phan Đại Doãn chủ biên (1998). Một số vấn đề về Nho gia Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Nho gia Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
11. Nguyễn Đăng Duy (1998). Nho giáo với Văn hoá Việt Nam. Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo với Văn hoá Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
12. Quang Đạm (1994). Nho giáo xưa và nay. Nxb Văn hoá. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hoá. Hà Nội
Năm: 1994
13. Cao Xuân Huy (1995). Tư tưởng triết học phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu. Nxb Văn học. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu
Tác giả: Cao Xuân Huy
Nhà XB: Nxb Văn học. Hà Nội
Năm: 1995
14. Trần Đình Hượu (1997). Đến hiện đại từ truyền thống. Nxb Văn hoá. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến hiện đại từ truyền thống
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1997
15. Trần Đình Hượu (2001). Các bài giảng về tư tưởng phương Đông. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về tư tưởng phương Đông
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội
Năm: 2001
16. Đặng Cảnh Khang (1999). Các nhân tố phi kinh tế xã hội học về sự phát triển. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố phi kinh tế xã hội học về sự phát triển
Tác giả: Đặng Cảnh Khang
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
17. Vũ Khiêu (1995). Đức trị và pháp trị trong Nho giáo. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đức trị và pháp trị trong Nho giáo
Tác giả: Vũ Khiêu
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội
Năm: 1995
18. Vũ Khiêu (1990). Nho giáo xưa và nay. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Vũ Khiêu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1990
19. Vũ Khiêu (1990). Nho giáo và đạo đức. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và đạo đức
Tác giả: Vũ Khiêu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội
Năm: 1990
20. Vũ Khiêu (1997). Nho giáo và phát triển ở Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Khiêu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội
Năm: 1997
21. Vũ Khiêu chủ biên (2000). Văn hoá Việt Nam xã hội và con người. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam xã hội và con người
Tác giả: Vũ Khiêu chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội
Năm: 2000
22. Trần Trọng Kim (2001). Đại cương triết học Trung Hoa. Nxb Văn hoá thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Hoa
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin. Hà Nội
Năm: 2001
23. Trần Trọng Kim (2001). Nho giáo. Nxb Văn hoá thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin. Hà Nội
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w