Trong lịch sử tư tưởng triết học về nhà nước phương Tây, Hegel với tác phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền nguyên gốc tiếng Đức: Grundlinien der Philosophie des Rechts thể hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN VĂN HUẤN
QUAN NIỆM CỦA G.W.F HEGEL VỀ NHÀ NƯỚC
TRONG TÁC PHẨM
CÁC NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -NGUYỄN VĂN HUẤN
QUAN NIỆM CỦA G.W.F HEGEL VỀ NHÀ NƯỚC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Minh Hợp Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn có xuất
Trang 4Lời cảm ơn!
Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của tất cả các thầy cô giáo cùng các đồng nghiệp và gia đình
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Minh Hợp đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn Thầy không chỉ truyền đạt cho tôi những kiến thức và phương pháp quan trọng trong quá trình nghiên cứu khoa học mà còn hết lòng giúp đỡ, động viên, tin tưởng và cho tôi những bài học sâu sắc về cuộc sống
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã nhiệt tình dạy
dỗ, trang bị cho tôi những kiến thức quan trọng trong 6 năm học Những kiến thức này chính là nền tảng cho quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy tôi những chuyên đề quan trọng và bổ ích trong quá trình học cao học vừa qua Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình và tất cả bạn bè đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Học viên
Nguyễn Văn Huấn
Trang 5MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA G.W.F.HEGEL VỀ NHÀ NƯỚC TRONG TÁC PHẨM CÁC NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN 14
1.1 Bối cảnh lịch sử Tây Âu và nước Phổ cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX 14
1.2 Tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng của Hegel về nhà nước 25
1.3 Khái quát tác phẩm “Các nguyên lý của triết học pháp quyền” 45
Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG G.W.F.HEGEL VỀ NHÀ NƯỚC TRONG TÁC PHẨM CÁC NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN 54
2.1 Về mối quan hệ giữa xã hội dân sự và Nhà nước 54
2.2 Về Hiến pháp, pháp luật và vai trò của chúng trong Nhà nước 63
2.3 Vấn đề quyền lực nhà nước 71
2.4 Vấn đề quyền con người trong Nhà nước 80
2.5 Bước đầu đánh giá hạn chế và ý nghĩa quan niệm của Hegel về nhà nước trong tác phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền 90
2.5.1 Đánh giá của C.Mác, Ph.Ăngghen về hạn chế của quan niệm Hegel về Nhà nước 90
2.5.2 Ý nghĩa hiện thời quan niệm của Hegel về nhà nước 97
C KẾT LUẬN 102
CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.Những thảm họa (hai cuộc thế chiến, sự xung đột kéo dài gần nửa thế
kỷ - chiến tranh lạnh, sự đàn áp và sát hại hàng chục triệu người vô tội ở các chế độ toàn trị, v.v.) đã giáng xuống đầu nhân loại ở thế kỷ XX, sự thất bại của các nhà nước xã hội ở Tây Âu, sự phá sản của các nước xã hội ở Liên Xô
cũ và Đông Âu đặt ra nhiều vấn đề quan trọng và gay gắt về nền tảng lý luận (quan điểm triết học chính trị và pháp luật) của các nhà nước ấy Trong các tác phẩm của mình*, K.Popper đã gắn liền nguồn gốc của chế độ toàn trị với
tư duy chủ toàn bắt nguồn từ Platon và tiếp nối cho tới Hegel và Mác Trong văn cảnh này, việc làm rõ quan điểm triết học chính trị (quan niệm về nhà nước và đi liền với nó là pháp luật) của Hegel có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách, vì nó cho phép không chỉ bảo vệ chủ nghĩa Mác và còn nghiên cứu sâu sắc hơn cội nguồn và bản chất của nhà nước toàn trị, từ đó vạch ra con đường khắc phục nó để xây dựng nhà nước pháp quyền
2.Quan điểm triết học pháp quyền của Hegel nói chung và nhà nước nói
riêng được thể hiện cách hệ thống và rõ ràng trong tác phẩm nổi tiếng Các
nguyên lý của triết học pháp quyền Nói tới triết học pháp quyền của Hegel,
Mác cho rằng, “triết học Đức về pháp quyền và về nhà nước là cái lịch sử
Đức duy nhất đứng ngang tầm với hiện thực hiện đại chính thống”1
[6, tr.146] Nói cách khác, triết học pháp quyền của Hegel kết tinh, phản ánh thực hành pháp luật thời ông trong tư tưởng Trong triết học pháp quyền, Hegel đưa ra các quan điểm cơ bản của ông về các vấn đề phát triển xã hội, trong đó đặc biệt quan tâm nghiên cứu bản chất và nguồn gốc của nhà nước Nhưng tính chất mâu thuẫn vốn có ở triết học Hegel nói chung và ở triết học pháp quyền nói riêng đã tạo ra nguyên cớ cho những sự lý giải đối lập nhau về quan điểm chính trị - xã hội của ông Vì vậy, việc nghiên cứu sâu nội dung
*
“Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” (nên dịch là “Sự khốn cùng của chủ nghĩa lịch sử”, vì tác giả cố nhái lại cách đặt tên của Mác khi phê phán Proudon trong cuốn “Sự khốn cùng của triết học”) và “Xã hội mở và kẻ
Trang 7của triết học pháp quyền Hegel, một mặt, giúp cho việc nhận thức đúng đắn giá trị của tư tưởng Hegel và mặt khác, làm rõ được cuộc cách mạng của Mác trong lịch sử triết học Ăngghen đã chỉ ra rằng, cần phán xét mỗi nhà triết học theo những gì là có giá trị và tiến bộ trong hoạt động của nhà triết học ấy, loại
bỏ những gì là nhất thời và phản động Theo đó, “điều quan trọng hơn nhiều
là phát hiện ra dưới hình thức không chính xác và quan hệ giả tạo ấy cái đúng đắn và cái thiên tài” (Trích theo, 6, tr.105)
Nhưng thực tế cho thấy, nghiên cứu triết học lịch sử và triết học pháp quyền của Hegel chưa được các nhà triết học mácxít quan tâm thỏa đáng, vì
họ coi đóng góp chủ yếu của Hegel đối với triết học mácxít chỉ là phép biện
chứng được trình bày trong Khoa học Logic Đúng là nhận thức luận Kant và
lôgíc học Hegel có nhiều tư tưởng quý báu, nhưng hai ông còn có đóng góp quan trọng cả trong triết học đạo đức, triết học pháp quyền và triết học lịch
sử Thực tế, trong thế kỷ XX, ảnh hưởng và tầm quan trọng của tư tưởng triết học chính trị của Hegel không hề giảm sút mà còn tăng lên, nhiều nhà triết học lớn thế kỷ XX đã xét lại quan điểm của Hegel về nhà nước theo các cách khác nhau Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải đưa ra thái độ của mình đối với triết học chính trị của Hegel
3.Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đặt ra nhiều vấn
đề lý luận về nhà nước Giải quyết các vấn đề lý luận này, chúng ta cần tiếp thu những tư tưởng triết học về nhà nước Trong lịch sử tư tưởng triết học về
nhà nước phương Tây, Hegel với tác phẩm Các nguyên lý của triết học pháp
quyền (nguyên gốc tiếng Đức: Grundlinien der Philosophie des Rechts) thể
hiện ra là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất Tư tưởng triết học của Hegel về quan hệ “xã hội - nhà nước - con người”, về mô hình “nhà nước đạo đức”, “nhà nước mạnh” có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện lý luận về nhà nước pháp quyền của Việt Nam
Trang 8Với những lý do trên đây, tác giả đã chọn: “Quan niệm của
G.W.F.Hegel về nhà nước trong tác phẩm Các nguyên lý của triết học
pháp quyền” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Đúng như dịch giả Lê Tuấn Huy đã viết: “Hegel, với bạn đọc triết học Việt Nam, là một tên tuổi hết sức quen thuộc (…) đến độ, với ông, dường như không cần gì phải tìm hiểu hơn nữa ngoài các “kết luận” đã được chuẩn hóa
Tuy nhiên, đây lại là một nhân vật có nhiều thăng trầm trong việc đánh giá vị
trí học thuật trong lịch sử triết học, ngay ở thế kỷ XX đầy những biến động, chứ không phải chỉ khuôn vào thời đại của ông Đây chính là một tình tiết rất lớn mà bấy lâu nay chúng ta ít hoặc không được biết đến” [59, tr.7] Bởi thực
tế này, nên không chỉ riêng Hegel mà nhiều nhà triết học châu Âu nổi tiếng khác cũng được nghiên cứu lại một cách chuyên sâu và cẩn trọng hơn như I.Kant, Friedrich Nietzsche, Edmund Husserl, thậm chí cả các nhà thần học Trung cổ như Thomas Von Aquin v.v Do vậy, trong phần tổng quan nghiên cứu này, chúng tôi tập trung phân tích các nghiên cứu ở Việt Nam về triết học pháp quyền Hegel nói chung và quan niệm của ông về nhà nước nói riêng Thực tế là, cho tới nay, ở Việt Nam đã có không ít những công trình nghiên cứu cơ bản về lôgic học, phép biện chứng, thẩm mỹ học, triết học lịch
sử, lịch sử triết học… của Hegel Có thể kể tới các công trình như: Chân dung
triết gia Đức do Quang Chiến (Chủ biên - 2000); Loạt sách của tác giả
Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp viết: “Quan niệm của Hêghen về bản
chất của triết học” xuất bản năm 1998, “Vấn đề tư duy trong triết học Hêghen” năm 1999, “Quan điểm lịch sử triết học của Hêghen” năm 2001;
cuốn “Triết học cổ điển Đức: những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học”,
Lê Công Sự (2006), Triết học cổ điển Đức, Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên) (2003), Lịch sử triết học, v.v cùng một số sách giáo trình và tham khảo khác
Về sách dịch, có thể kể tới bộ “Mỹ học” của Hegel đã được dịch giả Phan
Trang 9Ngọc chuyển ngữ, dù chất lượng của bản dịch còn có nhiều ý kiến trái chiều (như Phạm Thị Hoài) Về bài viết có thể kể tới loạt bài nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Đình Tường trên Tạp chí Triết học như: “Quan niệm của Hegel về
lịch sử triết học” (1992); “Tìm hiểu nguyên tắc nghiên cứu lịch sử Hegel”
(1993); “Quan niệm của Hegel về triết học Hy Lạp cổ đại” (1994); “Quan
niệm của Hegel về triết học cận đại” (1995); “Nguyên tắc lịch sử trong triết học Hegel” (1996); “Những đánh giá khác nhau về vai trò của triết học Hegel trong lịch sử triết học” (1999) v.v và các nhà nghiên cứu khác
Tuy nhiên, việc nghiên cứu quan niệm chính trị - xã hội nói chung và triết học pháp quyền, tư tưởng về nhà nước nói riêng là vấn đề chưa được chú
ý nhiều
Có thể nói, trong buổi đầu sự nghiệp triết học của mình, không phải ngẫu nhiên mà Marx lại lấy triết học pháp quyền Hegel làm đối tượng phê phán
trong công trình Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel Không chỉ
bởi Marx cũng là học trò tư tưởng của Hegel (thuộc Phái Hegel trẻ) mà còn vì
lý thuyết về Nhà nước của Hegel không giải đáp được một cách khoa học và triệt để các vấn đề của thực tiễn xã hội nước Đức khi đó Marx cho rằng, căn nguyên sâu xa của sự kiện trên là do Hegel đã phản ánh lộn ngược về hiện thực xã hội, dẫn đến học thuyết về Nhà nước của Hegel có tính chất duy tâm
và có nhiều luận điểm mang tính phản động Đây chính là cái “kết luận đã
được chuẩn hóa” mà dịch giả Lê Tuấn Huy ám chỉ trong Lời người dịch cho tác phẩm Thông diễn học của Hegel Cái “kết luận” có tính ấn định đó gây ấn
tượng sâu đậm trong lịch sử tiếp nhận tư tưởng về Nhà nước của Hegel Theo
đó, hầu như không có mấy học giả đặt lại vấn đề về vai trò, ý nghĩa tích cực của tư tưởng nhà nước của Hegel đối với thực tiễn cách mạng cho đến khi (từ năm 2000 trở lại đây) tác phẩm của các nhà tư tưởng Châu Âu như I.Kant, J.G.Fichte, S.Freud, F.Nietzsche, E.Husserl, Max Weber đặc biệt là G.W.F.Hegel được Bùi Văn Nam Sơn chuyển ngữ sang tiếng Việt Theo đó,
Trang 10việc nghiên cứu triết học Đức được tiến hành hệ thống hơn, chuyên sâu hơn theo xu hướng hội nhập quốc tế Nhưng sâu hơn thì có thể kể tới sự thay đổi
về tư duy của Đảng được đánh dấu trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VII (1991), Văn kiện Hội nghị TW 6 (Khóa VII), đặc biệt là Nghị quyết Trung
ương V (khóa VIII) có viết: “tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa
học, tiến bộ của nước ngoài” Chính sự mở lối tư duy của Đảng đã định
hướng cách thức tiếp cận đối với tư tưởng về Nhà nước của Hegel cũng như triết học pháp quyền của ông Việc chỉ ra những đóng góp, những điểm tiến
bộ có ý nghĩa hiện thời cũng như ảnh hưởng của nó tới mô hình các nhà nước phương Tây là cách ứng xử của giới học giả, nhà nghiên cứu hiện nay đối với các học thuyết triết học chính trị tư sản
Xét một cách tổng quát tình hình nghiên cứu quan niệm của Hegel về nhà
nước không khỏi phải bắt đầu với tác phẩm Grundlinien der Philosophie des
Rechts của Hegel (1821) đã được dịch sang tiếng Việt với tên gọi Các nguyên lý của triết học pháp quyền do Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, được Nhà xuất
bản Tri thức ấn hành năm 2010 Cũng giống như các dịch phẩm trước đó về
Hegel như cuốn Hiện tượng học tinh thần và Khoa học Lôgic (gần đây có xuất hiện thêm bản dịch cuốn Khoa học lôgích này của Phạm Chiến Khu), trong công
trình này, Bùi Văn Nam Sơn đã không dừng lại ở việc dịch trọn vẹn tác phẩm kinh điển mà còn chú giải một cách công phu đến từng chương sách nhằm làm sáng tỏ tư tưởng có tính hệ thống của Hegel Hơn nữa, dịch giả Bùi Văn Nam
Sơn còn dày công viết Mấy lời giới thiệu và lưu ý của người dịch tác
phẩm của Hegel đem lại một cái nhìn khá toàn diện về triết học pháp quyền
Hegel cũng như quan niệm của ông về nhà nước trong dòng chảy lịch sử triết học phương Tây Trong phần giới thiệu, lưu ý cũng như phần chú giải (đặc biệt là ở chương 3), Bùi Văn Nam Sơn đã làm sáng rõ, về phương diện lịch sử và lôgíc, các khái niệm “Pháp quyền”, “Xã hội dân sự”, “Nhà nước”, “Hiến pháp”, về cấu trúc
Trang 11khái niệm của Nhà nước, cấu trúc định chế của Nhà nước v.v Do vậy, ấn phẩm này chính là tài liệu cơ bản và hữu ích để chúng tôi nghiên cứu và trích dẫn
Khái quát tình hình nghiên cứu quan niệm của Hegel về nhà nước ở Việt Nam, có thể chia các tài liệu có liên quan đến nội dung của đề tài này thành bốn loại hình cơ bản sau:
- Loại hình thứ nhất là công trình chuyên khảo về triết học pháp quyền
nói chung và quan niệm của Hegel về nhà nước nói riêng
Cuốn Triết học pháp quyền của Hêghen của Nguyễn Trọng Chuẩn và Đỗ
Minh Hợp (2002) là một công trình như thế Trong công trình này, các tác giả
đã phân tích một cách sâu sắc về bối cảnh chính trị - xã hội nước Đức, về sự tiến hoá quan điểm chính trị của Hegel cũng như nội dung giai cấp của Triết
học pháp quyền trong chương 1 của cuốn sách: “Triết học pháp quyền trong
sự nghiệp sáng tạo của Hêghen” Tiếp đó, chương 2, là phần quan trọng nhất
của cuốn sách, nhóm tác giả bàn tới các nội dung của triết học pháp quyền Hegel một cách chuyên sâu và có hệ thống Trong chương sách này, quan niệm của Hegel về nhà nước cũng được các tác giả phân tích một cách tương đối toàn diện và sát thực như: vấn đề bản chất của luật pháp; mối quan hệ giữa xã hội công dân2 và nhà nước; vấn đề con người và vấn đề quan hệ giữa nhà nước và lịch sử toàn cầu Bên cạnh đó, nhóm tác giả còn trình bày lịch sử tiếp nhận và lý giải về triết học pháp quyền Hegel từ Mác, Ăngghen, cho tới
chuyển ngữ sang tiếng Việt của cùng một thuật ngữ civil society trong tiếng Anh, société civile trong tiếng Pháp, hay bürgeliche Gesellschaft trong tiếng Đức (Nguyễn Như Phát, Bùi Xuân Đức, Bùi Việt Hương, v.v) Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng, đây là hai khái niệm không đồng nhất về mặt nội hàm (rộng hơn hoặc khác nhau) Tiêu biểu như: Trần Việt Phương, Xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền, bài nói tại Ban
Nghiên cứu của Thủ tướng chính phủ; Phạm Văn Đức, Trần Tuấn Phong, Xã hội dân sự: từ cách nhìn của lịch sử triết học, Tạp chí Khoa học xã hội, số 7, 2008, tr.3-12; Trần Hữu Quang, Một số quan niệm cổ điển về
xã hội dân sự, Tạp chi ́ Khoa học xã hội, số 07 (131), 2009, trang 3-16; Tương lai, Xã hội dân sự và mấy vấn
đề của các tổ chức xã hội, Tạp chí Khoa học Pháp lý Số 4(41)/2007; Vũ Duy Phú (chủ biên), Xã hội dân sự: Một số vấn đề chọn lọc, Nxb Tri thức v.v Chính vì chưa có sự thống nhất về mặt thuật ngữ như trên dẫn đến
thực tế là trong không ít công trình nghiên cứu hai khái niệm này vẫn bị dùng lẫn lộn, không có sự phân tách
rõ ràng Điều này cũng xảy ra khi nghiên cứu quan niệm của Hegel và cả Mác về bürgerliche Gesellschaft Trong Bộ C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, thuật ngữ tiếng Đức “Die bürgerliche Gesellschaft”, được dịch là
“xã hội công dân” và có chỗ là “xã hội thị dân”, “xã hội tư sản” Ở đây, chúng tôi sử dụng khái niệm “xã hội dân sự” theo bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn, nhưng chúng tôi cho rằng, với trường hợp Hegel, khái niệm
Trang 12Chủ nghĩa Hegel mới và các nhà triết học hiện đại, qua chương 3 của cuốn
sách: “Số phận lịch sử của triết học pháp quyền Hêghen” Tuy nhiên, vấn đề
phân chia quyền lực cũng như quyền con người chưa được các tác giả chú ý đúng mức và phân tích đầy đủ Ngoài ra, phần tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng về triết học pháp quyền của Hegel không được các tác giả tách thành một nội dung riêng biệt và trình bày một cách có hệ thống
Nhưng không thể phủ nhận một điều rằng, công trình này là tác phẩm tiên phong trong việc phân tích và phê phán một cách hệ thống và khoa học
về triết học pháp quyền Hegel ở Việt Nam Công trình là tài liệu hữu ích cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này
- Loại hình thứ hai là những cuốn sách, Kỷ yếu Hội thảo và các bài báo
được đăng tải trên các tạp chí có đề cập một cách trực tiếp hoặc dán tiếp đến quan niệm của Hegel về nhà nước
Về sách, chúng ta có thể kể tới các công trình như: Lịch sử triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên (2003); Lê Công Sự (2006), Triết học cổ điển Đức;
Đỗ Minh Hợp (2010), Đại cương lịch sử triết học v.v
Về Kỷ yếu Hội thảo, có thể kể đến sách Kỷ yếu hai Hội thảo Quốc tế
Triết học cổ điển Đức: những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học (2006)
và Nhà nước pháp quyền: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2013) do Khoa
Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội tổ chức
Về bài viết trong các sách và tạp chí có thể kể tới các công trình như: Nguyễn Chí Hiếu (2000), Về khái niệm “tinh thần tuyệt đối” trong triết học
Hêghen, Tạp chí Triết học (số 12); Nguyễn Chí Hiếu (2008), Tư tưởng về
“nhà nước mạnh” của Hegel và thực tế hiện thực hóa nó ở Đức, Tạp chí Phát
triển nguồn nhân lực (số 4); Nguyễn Chí Hiếu (2013): Christian Wolff – nhà
triết học tiên phong của chủ nghĩa duy lý và trào lưu Khai sáng Đức nửa đầu
thế kỷ XVIII, Tạp chí Triết học (số 9); Phạm Chiến Khu (2002), Tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hegel, Tạp chí Triết học (số 6); Nguyễn Đình
Trang 13Tường (2009), Quan niệm Hêghen về xã hội công dân, Tạp chí Triết học; Trần Tuấn Phong, Xã hội công dân và xã hội dân sự: từ Arixtot đến Hêghen,
Tạp chí Triết học; Phạm Thái Việt (2006), Phạm trù “thực tiễn” trong triết
học cổ điển Đức, trong sách “Triết học cổ điển Đức: những vấn đề nhận thức
luận và đạo đức học”; Nguyễn Chí Hiếu (2000), Về khái niệm “tinh thần
tuyệt đối” trong triết học Hêghen, Tạp chí Triết học v.v
Trong bài viết “Tư tưởng về “nhà nước mạnh” của Hegel và thực tế hiện
thực hóa nó ở Đức”, tác giả Nguyễn Chí Hiếu cũng đã làm rõ tư tưởng Hegel
về nhà nước mạnh nhằm đảm bảo các quyền con người thông qua các hoạt động bảo vệ và sáng tạo của nhà nước Hegel ý thức rõ rằng, quyền lực nhà nước mạnh là điều kiện cần thiết của tự do và nhân dân cần phải tham gia vào hoạt động lập pháp của nhà nước, vào việc giải quyết những vấn đề trọng đại của quốc gia Nhưng ông cũng đã lên tiếng chống lại mưu đồ tư hữu hóa quyền lực nhà nước Theo đó, việc ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan và quan chức nhà nước cần đến sự giám sát cả từ bên trên và bên dưới Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Chí Hiếu cũng đã phân tích nguyên tắc liên hệ hữu cơ giữa chỉnh thể và bộ phận của Hegel trong việc ông luận giải quan hệ giữa cá nhân, xã hội và nhà nước, trong việc tổ chức quyền lực nhà nước
Trong bài “Tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hegel”, tác giả Phạm
Chiến Khu đã, thứ nhất, phân biệt phép biện chứng của Hegel với phép biện chứng của Mác, Ăngghen; thứ hai, làm rõ tư tưởng Hegel trong việc ông sử
dụng phép biện chứng để luận chứng cho sự tất yếu ra đời của hình thái nhà nước pháp quyền tư sản Tác giả cho rằng, trong quan niệm của Hegel, nhà nước pháp quyền tư sản được hình thành dựa trên hai nền tảng là gia đình và
xã hội dân sự Nhà nước này thể hiện sự thống nhất quyền lực sống động trên
cơ sở phân hóa, khác biệt hợp lý của ba loại quyền lực: quyền của cái phổ biến, quyền của cái đặc thù và quyền của cái đơn nhất Cũng trong bài viết
Trang 14này, thông qua việc làm sáng tỏ tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hegel, tác giả tiến hành phân biệt nó với quan niệm nhà nước pháp trị trên các khía cạnh: sự ra đời, luật pháp, cách thức tổ chức quyền lực và các quyền con người trong nhà nước
Tác giả Nguyễn Đình Tường trong bài “Quan niệm Hêghen về xã hội
công dân” trên Tạp chí Triết học, đã phân tích một cách khái quát quan niệm
của Hêghen về xã hội công dân (xã hội dân sự), về các mối quan hệ kinh tế của xã hội công dân cũng như cơ cấu đẳng cấp và biện chứng của xã hội công dân Theo tác giả, Hêghen đã đứng trên cơ sở của chủ nghĩa duy tâm khách quan, thần bí để xem xét mối quan hệ giữa xã hội công dân và nhà nước, coi nhà nước là cái có trước, là cơ sở và động lực của xã hội công dân Có thể nói, công trình này đã bàn luận một cách trực tiếp tới một số nội dung của luận văn Tác giả đã đứng trên quan điểm duy vật biện chứng của Mác, đặc biệt là trong cuốn “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen”, để chỉ
ra những bản chất tư tưởng Hegel về nhà nước
Tựu chung lại, các công trình trên đã dành dung lượng nhất định cho việc nghiên cứu về khái niệm nhà nước pháp quyền và xã hội công dân theo cách hiểu của Hegel Những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở sự khái quát chung về các nội dung triết học Hegel, chứ chưa đi sâu phân tích, đánh giá quan niệm của Hegel về nhà nước một cách có hệ thống và chuyên sâu, qua đó, đem lại cách hiểu đúng đắn
và toàn diện về tư tưởng của Hegel về Nhà nước
sĩ và Luận án Tiến sĩ về triết học cổ điển Đức nói chung và hệ thống triết học Hegel và quan niệm về nhà nước nói riêng
Thứ nhất, về những công trình đề cập đến về triết học cổ điển Đức nói
chung và hệ thống triết học Hegel nói riêng Chẳng hạn, chúng ta có thể kể tới
các công trình như: Luận án triết học của tác giả Lê Công Sự: Học thuyết
phạm trù trong triết học I.Cantơ (2004); Luận văn thạc sĩ của tác giả Khuất
Trang 15Duy Dũng: Chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong nhận thức luận của I.Cantơ (2006); Luận án triết học về đề tài: Triết học đạo đức của Immanuel Kant và
ảnh hưởng của nó đối với triết Đức thế kỷ XIX, của tác giả Ngô Thị Mỹ Dung
(2007); Luận án Tiến sĩ về đề tài: Vấn đề bản thể luận trong triết học duy tâm
cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX của tác giả Nguyễn Chí
Hiếu (2010); Luận văn thạc sỹ triết học Bước đầu tìm hiểu lý luận nhận thức
trong triết học I.Kant và G.W.F.Hegel của tác giả Đinh Thị Phượng, Viện
Triết học (2007); Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Thu Lan với đề tài: Đạo
đức học I.Kant và những giá trị, hạn chế của nó, Học viện Khoa học xã hội
(2011); Luận án triết học Quan điểm triết học lịch sử của I.Kant của tác giả
Nguyễn thị Hảo, Viện Triết học (2012), v.v Ở đây, các tác giả có bàn nhiều tới vấn đề nhận thức luận, bản thể luận của triết học Hegel và quan điểm triết học lịch sử của I.Kant nhưng các nội dung của triết học pháp quyền cũng như
tư tưởng về nhà nước của Hegel thì còn là vấn đề bỏ ngỏ
Thứ hai, về những công trình có bàn luận trực tiếp hoặc gián tiếp đến
quan niệm của Hegel về nhà nước Chẳng hạn, Luận án tiến sĩ triết học Triết
học lịch sử của G.W.F.Hegel của tác giả Trịnh Văn Toàn (2014); Luận văn
thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt: Quan niệm của G.W.F.Hegel về
quyền con người trong tác phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền
(2014)
Trong Luận án tiến sĩ “Triết học lịch sử của G.W.F.Hegel”, tác giả Trịnh
Văn Toàn đã phân tích về biện chứng của tự do và tất yếu cũng như các nguyên tắc và nội dung cơ bản của triết học lịch sử Hegel Theo tác giả, trong quan niệm của Hegel, nhà nước thể hiện ra như một mômen (thời điểm) trong
sự vận động của Tinh thần thế giới, của Ý niệm tuyệt đối Qua đó, tác giả luận
án đã đem lại một cái nhìn toàn diện về vấn đề nhà nước trong quan hệ với lịch sử thế giới
Trang 16Tác giả Nguyễn Thị Nguyện trong luận văn thạc sĩ “Quan niệm của
G.W.F.Hegel về quyền con người trong tác phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền”, đã bàn luận một cách sâu rộng quan niệm của Hegel về quyền
con người trong chương hai của luận văn Đặc biệt, tác giả đã luận chứng khá sâu về vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo các quyền con người một cách vững chắc nhất trong chương ba Đây là công trình rất hữu ích cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này Cố nhiên, vấn đề bản chất và nguồn gốc của nhà nước chưa được tác giả bàn luận một cách chuyên sâu
nhiều nhưng không hệ thống đến những nội dung của triết học pháp quyền cùng như quan niệm của Hegel về nhà nước đã được dịch ra tiếng Việt
Chúng ta có thể có kể tới các tác phẩm: Paul Redding, Thông diễn học của
Hegel, do TS Lê Tuấn Huy dịch; Karl R Popper, Sự nghèo nàn của thuyết sử luận, Chu Lan Đình dịch; Karl R Popper, Xã hội mở và kẻ thù của nó, 2 Hegel và Marx, Nguyễn Quang A dịch; Michel Vadée: Marx nhà tư tưởng của cái có thể, Viện Thông tin khoa học xã hội; Lịch sử phép biện chứng, tập
III, phép biện chứng cổ điển Đức; Triết học mở và xã hội mở, Maurice
Cornforth, Đỗ Minh Hợp dịch v.v Các công trình này là các cách hiểu và lý giải khác nhau về hệ thống triết học Hegel nói chung và triết học pháp quyền nói riêng (phần nào đã được đề cập trong bài giới thiệu của Bùi Văn Nam Sơn
trong Các nguyên lý của triết học pháp quyền và trong Chương 3 thuộc công trình Triết học pháp quyền của Hêghen của Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh
Hợp) Đây cũng là tài liệu hữu ích cho việc đánh giá hệ thống Hegel nói chung và triết học pháp quyền nói riêng trong dòng chảy lịch sử tư tưởng phương Tây
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, những công trình nguyên cứu về triết học pháp quyền nói chung cũng như quan niệm của Hegel về nhà nước nói riêng còn ít được chú ý Vậy nên, cần phải nghiên cứu chuyên sâu quan
Trang 17niệm về nhà nước qua những tác phẩm chính của Hegel để từ đó, chúng ta có một cái nhìn toàn diện về các di sản của ông Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả của những người đi trước, luận văn này tập trung vào việc phân tích, trình bày một cách hệ thống và khoa học tư tưởng về nhà nước của Hegel thông
qua việc khảo cứu tác phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn:
Luận văn làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong quan niệm
G.W.F.Hegel về nhà nước thể hiện trong tác phẩm Các nguyên lý của triết
học pháp quyền, và từ đó, bước đầu đưa ra những đánh giá mang tính khái
quát về ý nghĩa và hạn chế trong quan niệm về nhà nước của G.W.F.Hegel
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích bối cảnh lịch sử và tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng của G.W.F.Hegel về nhà nước
- Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng G.W.F.Hegel về nhà nước
được thể hiện trong tác phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm về nhà nước của G.W.F.Hegel trong
tác phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tập trung vào nội dung cơ bản
của tư tưởng G.W.F.Hegel về nhà nước được thể hiện trong tác phẩm Các
nguyên lý của triết học pháp quyền
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; lý luận Mác-Lênin về lịch sử triết học
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng các nguyên lý của
triết học mácxít như nguyên lý phát triển, các nguyên tắc thống nhất
Trang 18giữa cái lôgíc và cái lịch sử, đi từ trừu tượng đến cụ thể, phân tích và tổng hợp, phương pháp nghiên cứu văn bản v.v
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu và trình bày một cách tập trung, có hệ thống những nội dung cơ bản của quan niệm G.W.F.Hegel về nhà nước thể hiện trong tác
phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học pháp quyền G.W.F.Hegel nói riêng và hệ thống triết học G.W.F.Hegel nói chung
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 8 tiết
Trang 19B NỘI DUNG Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG CỦA G.W.F.HEGEL VỀ NHÀ NƯỚC TRONG TÁC
PHẨM CÁC NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN
1.1 Bối cảnh lịch sử Tây Âu và nước Phổ cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX
C.Mác, trong Bài xã luận báo “Kolnische Zeitung số 179” có viết rằng:
“Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại của mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [45, tr.156] Thật vậy, triết học là giá trị văn hóa tinh thần tinh tuý nhất, là thời đại lịch sử được tái hiện dưới hình thức tư tưởng, trong hệ thống các vấn đề triết học, nó làm nên diện mạo tinh thần của thời đại Theo đó, hệ thống triết học của Hegel là sự thấu hiểu, sự phản ánh một cách bao trùm và sâu sắc nhất của thời đại trong phạm
vi tư tưởng Sự thực, Hegel là đứa con của thời đại lịch sử diễn ra cuộc đấu tranh sống còn của giai cấp tư sản chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến Đây chính là thời kỳ lịch sử của sự quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản Với nghĩa ấy, hệ thống triết học Hegel nói chung và triết học
pháp quyền nói riêng, có đặc tính, như Mác đã vạch ra, “là lý luận Đức của
cuộc cách mạng Pháp”, là sự chuẩn bị về hệ tư tưởng cho cách mạng dân chủ
tư sản ở Đức
Có thể khẳng định rằng, sự ra đời của hệ thống Hegel nói chung và triết học pháp quyền nói riêng là có tính quy luật Thực tế là, triết học pháp quyền Hegel ra đời không phải trên một mảnh đất hoang Nói cách khác, sự xuất hiện của nó là dựa trên một nền tảng, một bối cảnh lịch sử cụ thể Bối cảnh ấy
Trang 20chính là hiện thực lịch sử, văn hóa, xã hội nước Đức3 và châu Âu cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX
Bối cảnh lịch sử Tây Âu cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX
Thời điểm lịch sử cho sự xuất hiện mầm mống của giai cấp tư sản cũng
là thời điểm báo hiệu giờ cáo chung của chế độ phong kiến châu Âu đã đến là bắt đầu từ thế kỷ XV Ở Tây Âu, cụ thể là ở Italia, ngay từ thế kỷ XV đã có sự xuất hiện của các công trường thủ công cùng với nó là nền sản xuất công trường thủ công đem lại năng suất lao động rất cao Việc cải tiến, sáng chế ra công cụ lao động mới như máy tự kéo sợi, máy in cùng với những phát kiến địa lý, như việc tìm ra châu Mỹ và các đường biển đến những miền đất mới…càng tạo điều kiện cho sự phát triển của nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa Chính những bước tiến đó của nhân loại đã dẫn đến sự ra đời của một loạt các nước tư bản chủ nghĩa sớm phát triển như Anh, Italia, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan
Sự ra đời công cụ lao động mới có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển vượt bậc của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ như: Cơ học, Toán học, Thiên văn học Sự phát triển của khoa học tự nhiên thời kỳ này là nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất tạo ra sự khác biệt của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa so với tất cả các xã hội trước đó Những phát minh khoa học được ứng dụng, thâm nhập vào cuộc sống, có vai trò rất lớn trong việc cấu thành một phương thức sản xuất mới Không dừng lại ở đó, khoa học còn thâm nhập vào địa hạt kiến trúc thượng tầng của xã hội, tương tác với các bộ phận của nó Những phát minh khoa học đã tạo nên những bước ngoặt trong lịch sử nhận thức nhân loại
và có ảnh hưởng quan trọng đến tư tưởng triết học Hegel
Chính sự xuất hiện của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mà nguồn gốc cuối cùng của nó là sự ra đời của công cụ lao động mới, dẫn đến việc nhân loại đã sáng tạo ra một lượng của cải vật chất gấp hàng trăm lần lượng của cải mà
Trang 21phương thức cũ đã tạo ra được Thực tế này đã được C.Mác ghi nhận: “Giai
cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất
cả các xã hội trước kia gộp lại” [48, tr.603] Đặc biệt là cuộc cách mạng công
nghiệp Anh như một biến cố kinh tế quan trọng nhất trong đời sống kinh tế –
xã hội châu Âu lúc bấy giờ, làm tăng trưởng mạnh mẽ trình độ, khối lượng và nhịp độ sản xuất của xã hội, đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có
Sự kiện này khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức thế giới; nó thể hiện khả năng, sức mạnh sáng tạo của lao động sản xuất, sức mạnh xã hội của con người trong việc chinh phục tự nhiên, cải tạo thế giới Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác nhận định: “Giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên đã cho
chúng ta thấy hoạt động của con người có khả năng làm được những gì” [48,
tr.544] Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa phá tan dần các quan hệ kinh tế phong kiến, làm nảy sinh một giai cấp mới – giai cấp tư sản Giai cấp tư sản
đã nhanh chóng trở thành một lực lượng xã hội tiến bộ đại diện cho một phương thức sản xuất mới – phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Trong xã hội phong kiến, giai cấp tư sản dưới hình thức mầm mống thuộc đẳng cấp thứ ba, tức đẳng cấp thấp nhất, phải chịu sự thống trị của đẳng cấp quý tộc và tăng lữ Đẳng cấp thứ ba này không chỉ bị sự áp bức về kinh tế
mà còn bị kìm kẹp về quyền lợi chính trị, cùng lúc phải chịu ách thống trị của
cả vương quyền và thần quyền Chính bởi có sự biến đổi của công cụ lao động – với tư cách là thành tố quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất – cùng với sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã làm cho quan hệ sản xuất cũ mà về cơ bản là chế độ sở hữu trở lên lạc hậu, lỗi thời, kìm hãm
sự phát triển chung của toàn xã hội Chế độ phong kiến châu Âu cùng với những đặc trưng của nó là sự chuyên chế, đặc quyền đã không còn phù hợp trước đòi hỏi của thời đại, của lịch sử lúc bấy giờ đặt ra Do đó, việc xoá bỏ chế độ phong kiến, đẳng cấp, xây dựng một chế độ xã hội mới dựa trên quan
Trang 22hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất là một xu thế lịch sử mà không gì có thể ngăn cản nổi
Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, giai cấp tư sản đã nhanh chóng khẳng định mình là một lực lượng chính trị độc lập Giai cấp này - đứng trước đòi hỏi bức thiết của sự phát triển lịch sử - cùng với quần chúng nhân dân đã tự mình tổ chức cuộc đấu tranh lâu dài và quyết liệt nhằm lật đổ sự thống trị của chế độ phong kiến và nhà thờ Các cuộc cách mạng tư sản đầu tiên đã nổ ra ở
Hà Lan, đặc biệt là ở Anh (1642-1648) Tuy rằng, cuộc cách mạng tư sản ở Anh đã giành được thắng lợi song đó là cuộc cách mạng chưa triệt để, theo nghĩa nó chưa thực hiện được nhiệm vụ lịch sử của mình là tiêu diệt tận gốc chế độ phong kiến châu Âu Tiếp bước cách mạng tư sản Anh là cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp (1789-1794) cùng với việc xử tử vua Lui XVI là một trong những đòn quyết định tiêu diệt chế độ phong kiến ở châu Âu
Đúng khi cuộc cách mạng Pháp hoàn thành thì lịch sử châu Âu lật sang một trang mới, tràn ngập ánh sáng Sự kiện vĩ đại đó cũng đồng nghĩa với sự tiêu vong, đồng nghĩa với việc chấm dứt sự tồn tại dai dẳng của chế độ phong kiến trong hơn một nghìn năm
Trong thời đại của Hegel, “tự do” trở thành khái niệm trung tâm của thời Cận Đại, là tinh thần của thời đại Hegel chỉ rõ, “cảm thức về sự tự do và trật
tự nảy sinh chủ yếu ở các thành thị”, ở thời đại nổi lên của giai cấp tư sản [18, tr.572] Cùng thời với Hegel, nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Pháp Denis
Diderot (1713-1784) cũng đã khái quát lại rằng: “mỗi một thế kỷ đều có tinh
thần riêng của nó Tinh thần của thời đại chúng ta là tinh thần tự do” [83,
tr.130] Thật vậy, tự do – đó là lý tưởng đấu tranh của cuộc Đại Cách mạng Pháp năm 1789 Dưới ngọn cờ tự do, giai cấp tư sản đã tập hợp, lôi cuốn được sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội Như một tất yếu không thể đảo ngược, triết học với tư cách là
sự phản ánh một cách bao trùm và sâu sắc nhất của thời đại trong phạm vi tư
Trang 23tưởng, sẽ là “tấm gương” phản ánh tinh thần tự do của thời đại cách mạng tư sản Nói như Hegel rằng, “chỉ một khi hiện thực đã đạt tới độ chín muồi thì cái lý tưởng mới xuất hiện ra như là cái đối lập lại với hiện tồn, nắm bắt thế giới hiện tồn trong bản thể của nó và tái tạo lại thế giới ấy dưới hình thái của một vương quốc trí tuệ” [18, tr.87] Không còn nghi ngờ gì nữa, thực tiễn cách mạng có tính chất tiến bộ trên chính là nguồn gốc sâu xa của những tư tưởng triết học đứng ngang tầm thời đại của Hegel
Đi cùng với thời đại chuyển tiếp từ chủ nghĩa phong kiến sang chủ nghĩa
tư bản thì một yêu cầu mới đã nảy sinh đối với ý thức hệ tiên tiến (ý thức hệ của giai cấp tư sản) là: phải phê phán tất cả những gì là cản trở đối với lợi ích
tư sản, đồng thời luận chứng cho tất cả những gì là chính đáng cho lợi ích tư sản, trong tương quan đối lập với lợi ích phong kiến Các nhà tư tưởng tư sản đòi trả lại cho con người những cái mà hệ tư tưởng phong kiến đã và đang phủ nhận như: quyền tự do, bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân
và quyền mưu cầu hạnh phúc Trong tư tưởng, tính chuyển tiếp của lịch sử được thể hiện ra ở việc “hạ bệ” thuyết Thần là trung tâm đồng hành với sự
xây dựng thuyết Con người là trung tâm (Anthropocentrism) Hệ tư tưởng tư
sản tuyên bố: con người là thực thể tối cao, con người phải vươn tới trí tuệ và
tự do, phải thực hiện tiến bộ xã hội và hạnh phúc cho con người Chính thời đại đã đặt ra cho triết học vấn đề là, phải đánh giá lại vị trí và vai trò của con người trong xã hội, đề cao tự do như là phẩm giá cao nhất, như bản tính cố hữu của con người, qua đó hình thành một thế giới quan mới, tiến bộ Như vậy, tinh thần phê phán và tinh thần ca ngợi tính tích cực của con người cá nhân chính là hai đặc trưng của văn hoá tinh thần Tây Âu Cận Đại
Về phương diện nào đó, có thể nói, hệ thống triết học của Hegel nói chung và triết học pháp quyền Hegel nói riêng là một hiện tượng nằm trong bối cảnh phát triển văn hóa và triết học Cận đại, nó biểu thị những đặc điểm của một chặng đường phát triển tinh thần và văn hóa của Tây Âu Nói khác,
Trang 24triết học Hegel có liên hệ nội tại với toàn bộ văn hóa châu Âu thời Cận đại - thời đại Khai Sáng
Thực tế, khoa học tự nhiên đi cùng với nó là lý tính đã trở thành tiền đề cho sự xuất hiện thời đại Khai Sáng – thời đại của lý tính, của niềm tin vào tư
duy khoa học Chính Kant, nơi tác phẩm “Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì ”
đã xem xét đến bản chất của “Khai sáng” Ông cho rằng, khai sáng là “sự
thoát ly của con người ra khỏi tình trạng vị thành niên do chính con người gây ra Vị thành niên là sự bất lực không thể vận dụng trí tuệ của mình một
cách độc lập mà không cần sự chỉ đạo của người khác…Hãy can đảm sử dụng
trí tuệ của mình! Đó là phương châm của khai sáng” [30] Theo đó, tinh thần
chung của Khai sáng là tin tưởng và kêu gọi sự mở đường cho lý trí, nhưng để làm được việc đó thì tự do phải là điều kiện tất yếu Như thế, niềm tin thái quá vào tư duy khoa học hay sự sùng bái lý tính là thực chất của văn hoá tinh thần Tây Âu Cận Đại thế kỷ XVIII
Hoà chung với tinh thần thời đại, trên đất Đức, thông qua sự lan toả của làn sóng văn hoá Tây Âu, đã dấy lên một trào lưu Khai sáng mà đỉnh cao của
nó là khoảng giữa những năm 1750 – 1780 như lời Kant đã khái quát là “Thế
kỷ của Friedrich” gắn liền với những nhà tư tưởng, triết học lớn như Johannes
Althusius, Samuel Pufendorf, Thomasius Christian, Christian Wolff, Gotthold Ephraim Lessing, v.v… Từ trong nguồn suối của “dòng chảy văn hoá” này, hệ thống triết học của Hegel, đặc biệt là triết học pháp quyền, một cách trực tiếp, đã được hình thành Bởi, xét trên một ý nghĩa nào đó, triết học của mỗi thời đại chẳng qua là sự kết tinh những tinh hoa văn hoá, tư tưởng của thời đại đó
Bối cảnh lịch sử nước Phổ cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX
Trái ngược với sự phát triển mạnh mẽ của Anh, Pháp, Italia, Hà Lan thì Nhà nước Phổ của thế kỷ XVIII còn đang chìm trong giấc ngủ mùa Đông và
về thực chất vẫn chỉ là một nước quân chủ chuyên chế phân quyền chứa đựng
Trang 25trong mình đầy đủ tính chất lạc hậu và bảo thủ của một chế độ xã hội cần phải
bị đào thải bởi lịch sử Toàn bộ cơ thể già nua này nằm giữa lòng châu Âu đang lớn dậy khi đó chính thức được gọi là “đế quốc La Mã thần thánh của dân tộc Germanh” Nhà nước Phổ lúc bấy giờ chỉ là một tổ hợp của khoảng
300 nhà nước tự chủ nhỏ, những nhà nước này là những lãnh địa phong kiến cha truyền con nối Những lãnh địa này mà đứng đầu là các ông Hoàng lúc đó thể hiện ra là một chuyên chế độc tài có sức mạnh vô hạn trong việc cai trị thần dân của mình Trong mỗi lãnh địa đều có quân đội, cảnh sát, tiền tệ, thuế quan riêng Chính sự phân tán về chính trị và kinh tế đó là lực cản lớn ngăn trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa
Về kinh tế: Trong khi nước Anh đã thực hiện hai cuộc cách mạng công
nghiệp từ giữa thế kỷ XVI và XVIII với máy công cụ phục vụ cho sản xuất lớn trong các xí nghiệp thay cho sản xuất thủ công, và máy động cơ hơi nước
áp dụng trong giao thông vận tải thì nước Phổ vẫn còn là một nước nặng nề
về nông nghiệp với 85% dân số sống ở nông thôn Nước Phổ là một bãi chiến trường triền miên trước đó với những tàn phá nặng nề [Chiến tranh ba mươi năm (Dreiigjähriger Krieg, 1618-1648), chiến tranh Schlesien, 1740-1745; chiến tranh bảy năm (Siebenjähriger Krieg, 1756-1763)], không có hệ thống giao thông nối liền địa lý với nhau, không có một thị trường chung, bị chia cắt bởi quá nhiều hàng rào thuế quan giữa khu vực
Về chính trị: Một mặt, tập đoàn phong kiến Phổ đứng đầu là Vua
Friedrich Wilhem II, vẫn rất bảo thủ và ngoan cố tăng cường quyền lực, duy trì chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc, muốn dẫn nhân dân mình quay trở về thời Trung cổ, ngăn cản đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Mặt khác, giai cấp tư sản Đức hồi này còn yếu đuối, hèn nhát, không phải như giai cấp tư sản Pháp đã có một lực lượng dồi dào của một giai cấp cách mạng Chúng chỉ ngồi trông mong, chờ đợi ở công việc của các dân tộc các nước
Trang 26khác Nói như lời Mác: Giai cấp tư sản Đức hồi này khác với giai cấp tư sản các nước khác ở chỗ nó là một tầng lớp “phân phối trên quy mô tủn mủn mà lại ôm những tham vọng lớn” Với riêng tầng lớp trí thức Đức đương thời thì lại bộc lộ rõ tính chất cải lương, thoả hiệp về tư tưởng chính trị Điều này đã
có ảnh hưởng lớn đến Hegel
Bởi Nhà nước Phổ ngày càng trở nên lạc hậu, yếu kém trước sự phát triển của thời đại, dẫn đến sự kiện là, ngày 14 tháng 10 năm 1806, khi quân đội Phổ, một đội quân hầu như không hề biết thua trận, đã bị quân của Napoléon Bonaparte đánh tan chỉ trong một ngày tại Jena và Auerstedt; và Nhà nước Phổ buộc phải chấp nhận hòa ước Jena, chấp nhận mất toàn bộ phía Tây song Rhein, bằng một nửa lãnh thổ của Phổ! Vương quốc 900 năm
“Heiliges Römisches Reich Deutscher Nation” bây giờ chấm dứt Một vương quốc cũ kỹ, nặng nề, lạc hậu về mọi mặt, không có thực lực trước sức mạnh cách mạng của các nước láng giềng
Nhìn chung, bức tranh toàn cảnh của xã hội Đức đương thời phủ đầy một màu xám, đúng như sự khắc hoạ của Ph.Ăngghen: “Không ai cảm thấy mình
dễ chịu… Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn bao trùm cả nước Không
có giáo dục… không có tự do báo chí, không có dư luận xã hội – không có gì
cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự lợi, lề thói con buôn hèn mạt, xum xoe nịnh hót
thảm hại, đã xâm nhập toàn dân Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp
sụp đổ, thậm chí chẳng còn một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi”
[45, tr.754]
Đứng trước thực trạng xã hội rối ren và mâu thuẫn chồng chất như vậy, trong tâm trạng của tầng lớp tri thức Đức đương thời đã xuất hiện tình trạng bi quan, bất lực - đó là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, xuôi chiều; phủ nhận việc cải tạo xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, song le với việc biện hộ cho sự tồn tại cách hợp lý của xã hội đương
Trang 27thời Không dám làm cách mạng bằng bạo lực trong hiện thực như các nhà tư tưởng khai sáng Pháp, các nhà tư tưởng Đức quay về làm cuộc cách mạng trong suy nghĩ, trong lý luận trừu tượng Họ lấy tư duy triết học làm vũ khí phê phán và chuyển tải tư tưởng cách mạng Đối với họ, triết học là nơi thể hiện khát vọng cải tạo xã hội của con người Rõ ràng, cuộc Đại Cách mạng Pháp năm 1789 là phong trào vĩ đại của nhân loại tiến bộ khi ấy, nhưng tiếc rằng, theo Hegel, cuộc cách mạng đó đã kết thúc trong sự “khủng bố”4 Là một người tôn thờ sự tự do và là một chứng nhân lịch sử của cuộc cách mạng, Hegel không thể chấp nhận hiện thực đó Ông có tham vọng giải quyết nhiệm
vụ mà cuộc Đại Cách mạng Pháp đã không thể đảm đương được – đó là hiện thực hóa sự Tự do đúng thật Theo Hegel, sự tự do đúng thật sẽ di chuyển từ
“hiện thực tự phá hủy chính mình [nước Pháp] sang mảnh đất khác của Tinh thần tự giác” [19, tr.1191-1246], tức sang nước Đức với cuộc Cách mạng tinh
thần mà Kant đã phát động với bộ ba tác phẩm “Phê phán” 5 Bởi Hegel quan niệm rằng, lao động triết học hay lao động lý thuyết làm được nhiều điều hơn lao động thực hành Đúng như lời nhận xét của Mác: “Giống như các dân tộc
cổ đại đã trải qua thời kỳ tiền sử của mình trong tưởng tượng, trong thần
thoại, những người chúng ta cũng vậy, chúng ta đang trải qua lịch sử tương
lai của chúng ta trong tư tưởng, trong triết học Triết học Đức là sự tiếp tục
của lịch sử Đức trong ý niệm” [45, tr.577]
Sự thực, trong thế giới tinh thần của nhà triết học khi ấy diễn ra mâu thuẫn rằng: phải làm gì và làm như thế nào để cùng một lúc đạt được hai mục đích Một mặt, đề cao tư tưởng khoa học, vai trò của lý tính, phản ánh nguyện vọng của quần chúng muốn lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế mục ruỗng tiến đến việc xây dựng một xã hội dân chủ tư sản có tính cách tiến bộ, qua đó, đem lại quyền lợi cho mọi công dân Mặt khác, đảm nhiệm vai trò ý thức hệ
4
Ngày 27/07/1794, nền chuyên chính Jacobin – đỉnh cao của cách mạng tư sản Pháp – tan dã hoàn toàn bởi cuộc đảo chính của các lực lượng phản cách mạng Cuộc cách mạng dân chủ kết thúc
5
Trang 28chính thống của nhà nước hiện tồn Mâu thuẫn tâm lý đó và sự dung hòa tạm thời được dịch chuyển vào trong tư tưởng và biểu hiện cách đa diện trong hệ thống triết học của Hegel Nhưng đứng trước hiện trạng hỗn loạn và sự sống còn của bản thân dân tộc Đức phụ thuộc rất lớn vào việc giải quyết vấn đề phục hồi và kiện toàn nhà nước Đức, Hegel nhận thấy sự cần thiết phải xây dựng một “nhà nước mạnh” hơn bao giờ hết Đó chính là đòi hỏi của lịch sử nước Đức khi ấy
Nhưng bước sang thế kỷ XIX là thế kỷ của canh tân và chuyển biến của Đức Đầu thế kỷ XIX, lịch sử chứng kiến một số chuyển biến tích cực của Nhà nước Phổ với việc tiến hành hàng loạt cuộc cải cách để vực đất nước dậy, với mục tiêu giải phóng đất nước Sự kiện quan trọng đó gắn liền với cuộc cải cách tư sản trong khoảng 1807-1814 do các quan đại thần Heinrich Karl vom Stein (1757-1831) và Karl August von Hardenberg (1750-1822) tiến hành Đó chính là quá trình canh tân của nước Đức Không hề nói ngoa, cuộc cải cách của Stein và Hardenberg đã có tác động mạnh đến tư tưởng triết học chính trị của Hegel: ví như về việc phát triển các yếu tố của xã hội dân sự, về sự cần thiết của Nhà nước mạnh, về pháp luật và các quyền cơ bản của con người Stein đã tiến hành hiện đại hóa nước Phổ, bao gồm giải phóng nông dân khỏi chế độ nông nô, giải phóng và ban quyền công dân cho người Do Thái, thiết lập thể chế tự trị cho các đô thị Cùng với đó, hệ thống trường học được sắp xếp lại Sắc lệnh (The Edict) ngày 9 tháng 7 năm 1807 đã thủ tiêu chế độ nông nô và sự phụ thuộc truyền đời Song sự thủ tiêu này chỉ dừng lại trên giấy tờ Hoàn toàn trái ngược với sắc lệnh này, từ năm 1808 đến năm 1810 đã xuất hiện bốn sắc lệnh cho phép địa chủ cướp đất đai của nông dân một cách không thương tiếc Để có khả năng phát triển quan hệ tư sản trong nông nghiệp thì những hạn chế đối với việc tự do chuyển nhượng đất đai bị gạt bỏ Song, nông dân vẫn phải chịu đựng sự áp bức về kinh tế và về chính trị của địa chủ; chế độ nhà nước quân chủ vẫn đứng vững; đặc quyền của các tỉnh
Trang 29riêng biệt bị thủ tiêu, sự phân chia lãnh thổ của đất nước bị xem xét lại; sự phân tầng một nhà nước thống nhất đã được tạo ra; Stein bị phế truất nhưng nhiều cải cách của ông (bất chấp thái độ với Napoléon) lấy cảm hứng từ các
cải cách của Pháp vẫn được tiếp tục từ năm 1811 với Hardenberg nhằm tạo ra
những điều kiện tối thiểu để phát triển quan hệ tư sản cùng với việc đồng thời duy trì các nền tảng của chế độ nhà nước chuyên chế phong kiến
Năm 1808, luật tự do kinh doanh (Gewerbefreiheit) được ban hành bởi Hardenberg Tiếp đó, sắc lệnh ngày 27 tháng 10 năm 1810 tuyên bố sự bình đẳng của công dân trong lĩnh vực nộp sưu thuế, song sở hữu phong kiến vẫn không bị đụng chạm tới Việc bán tài sản bị sung công của giáo hội đã làm tăng số lượng tiểu điền chủ tự do Tổ chức thủ công nghiệp mang tính cưỡng bức ở thời trung cổ bị thủ tiêu Như vậy, đến năm 1810, chế độ nông nô (Leibeigenschaft) ở Đức bị xóa bỏ, lực lượng nông dân được giải phóng, quyền tư hữu được xác lập rộng rãi Ngay sau sắc lệnh năm 1810 là sắc lệnh ngày 17 tháng 9 năm 1811 đã dành cho nông dân và các chủ sở hữu quyền phân chia tài sản thừa kế, trở thành điền chủ tự do Nhưng sau khi Napoléon Bonaparte thất bại, địa chủ Phổ đòi xóa bỏ sắc lệnh này, sự nhượng bộ cho nông dân lại bị xóa bỏ Đến năm 1818, tất cả các hàng rào thuế quan giữa các vương quốc Phổ được xóa bỏ, một biểu thuế chung được áp dụng Một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế bắt đầu
Chính nhờ cuộc cải cách của Stein và Hardenberg nhằm canh tân đất nước, bởi vậy, trong các năm 1813 – 1815, Nhà nước Phổ đã chặn đứng và đại phá tan tành đại quân của Napoléon, dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của chế
độ Napoléon và giải phóng nước Đức Trong khi nước Phổ trở nên hùng mạnh, chiến thắng vang dội này làm gia tăng tinh thần dân tộc chủ nghĩa và tự
do chủ nghĩa với khát vọng một nước Đức thống nhất
Như vậy, hệ thống của Hegel nói chung và triết học pháp quyền nói riêng là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa nước Đức
Trang 30và châu Âu cuối thế kỷ XVIII Nó phản ánh một cách đúng đắn thực trạng xã hội Đức với những mâu thuẫn phát sinh trong lòng xã hội đó Nói khác, thực chất tinh thần là phản ánh thực tế khách quan, vậy nếu không có mâu thuẫn và biến chuyển trong thực tế khách quan, thì cũng không thể nào có mâu thuẫn
và biến chuyển trong tinh thần
Rõ ràng, triết học pháp luật Hegel xuất hiện với một hình thức duy tâm, nhưng cái mặt chân chính, cái “hạt nhân hợp lý” của nó, lại là đối lập với chủ nghĩa duy tâm, và chỉ có thể bắt nguồn từ một cơ sở duy vật nào đấy Theo Trần Đức Thảo, “thực ra thì ngược hẳn với lập trường duy tâm, nhờ ảnh hưởng của phong trào cách mạng đương thời ở Âu châu, Hegel đã tiếp thu trong tư tưởng một nội dung duy vật phong phú, tuy nội dung ấy cũng như phương pháp đã bị hoàn toàn đảo lộn, do tình trạng lạc hậu của giai cấp tư sản Đức mà Hegel đại diện” [71, tr.18]
Thật vậy, nghiên cứu một hệ thống triết học nhất định cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể, đặc biệt là bối cảnh văn hóa xã hội đương thời cho sự
hình thành một tư tưởng nhất định Về vấn đề này, Hegel viết rằng, “để phát
hiện tinh thần sống động trong một nền triết học, cần phải tái sinh nó trong một tinh thần đồng điệu Nếu chỉ nhằm đơn thuần rút ra những kiến thức, thì,
trước thái độ ấy, Tinh thần sống động ắt sẽ trượt qua như một hiện tượng xa lạ
và không phơi bày phần thâm sâu của nó” [20, XII] Cái tinh thần đồng điệu
mà Hegel nói tới ở đây hàm ý chủ thể (nghiên cứu) cần sống chính cuộc sống của đối tượng, cần phải đắm mình vào dòng chảy của thế giới, đưa tới sự thống nhất cụ thể của khách – chủ thể Đây là quan điểm rất độc đáo của Hegel nhằm hiểu thấu đáo tư tưởng trong các thời đại nhất định
1.2 Tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng của Hegel về nhà nước
Mặc dù sự ra đời của triết học pháp luật Hegel dựa trên hoàn cảnh kinh tế – xã hội châu Âu cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, song le, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nó có tính độc lập tương đối
Trang 31Vì ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển của mình, nên không thể giải thích được quan niệm của Hegel về nhà nước nếu chỉ dựa vào thực tiễn lịch sử – văn hóa xã hội thời đại Hegel sống, mà không chú ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó
Triết học chính trị Hy La Cổ đại
Trước tiên, có thể nói, Platon và Aristotele là những suối nguồn tư tưởng của Hegel Chính Hegel đã nhận định rằng, “có thể nói từ bao thế kỷ nay, kho báu Arixtotele đã không được biết đến” [Trích theo 76, tr.29] Thực tế, Hegel chịu ảnh hưởng từ quan niệm hữu cơ của Platon và Aristotele về nhà nước, về mối quan hệ giữa chỉnh thể đạo đức và bộ phận, giữa con người và nhà nước
Về mặt phương pháp luận, Hegel bị tác động mạnh bởi Aristotele Trong tác
phẩm Chính Trị Luận, Aristotele đã dùng phương pháp luận lý quy nạp, đi từ
đơn vị xã hội nhỏ nhất là gia đình tới xã hội và cuối cùng là quốc gia, để tìm
ra những đặc tính thiết yếu mà nhà nước phải có để trở thành một nhà nước lý tưởng Ngoài phương pháp quy nạp, Aristotele cũng dùng phương pháp so sánh giữa mô hình nhà nước “lý tưởng” và mô hình nhà nước trong thực tế và đưa ra những nguyên lý xây dựng một nền chính trị mang lại “cái Thiện toàn hảo”, cái chí thiện cho con người Ngoài ra, tư tưởng pháp trị của Aristotele cũng có ảnh hưởng đến triết học pháp luật Hegel Theo Aristotele, cần phải để luật pháp, chứ không phải con người có quyền tối thượng, vì con người luôn luôn để tư lợi và tình cảm xen vào Sự thực, Aristotele không phải là người đưa ra thuyết phân quyền theo tinh thần của lý luận về nhà nước pháp quyền, nhưng ông đã đưa ra tư tưởng cho rằng trong bất kỳ nhà nước nào cũng phải
có ba yếu tố: cơ quan làm luật trông coi việc nước, các cơ quan thực thi và các toà án
Vậy nhưng, trên thực tế, Hegel lại thường quy chiếu tới các học thuyết chính trị của Platon hơn là của Aristotele, vì ông tin, một cách không đúng,
rằng Platon đã mô tả polis hiện thực của người Hy Lạp chứ không phải là một
Trang 32lý tưởng Nhưng theo Hegel, trong nước Cộng hoà của Platon, sự tự do chủ quan chưa được thừa nhận Bằng chứng là Platon đã không thể xử lý được nguyên tắc của tính độc lập-tự tồn hay “sự phát triển độc lập-tự tồn của tính đặc thù” khi nó “đột ngột thâm nhập vào trong đời sống đạo đức Hy Lạp ở thời đại ông bằng cách nào khác hơn là đặt Nhà nước đơn thuần có tính bản thể của ông đối lập lại với nó và hoàn toàn loại trừ nó [ra khỏi Nhà nước này], ngay từ chỗ khởi thuỷ của nó ở trong sở hữu tư nhân và gia đình” [18, tr.547-548]
Về phương diện nào đó, bản thân quan niệm của riêng Hegel lại tỏ ra gần với Aristotele hơn Nhưng ông cho phép tự do chủ quan mở rộng phạm vi hơn
so với, theo quan niệm của ông, những gì mà polis đã làm Hegel cho rằng,
“trong nước Cộng hòa của Platon, sự tự do chủ quan chưa được thừa
nhận, vì những cá nhân vẫn còn bị các cơ quan quyền lực của Nhà nước
chỉ định những nhiệm vụ phải làm” [18, tr.691] Do vậy, theo Hegel, nhà nước hợp lý tính hiện đại phải bao gồm tất cả những giá trị quan trọng được hiện thân ở các nhà nước trong quá khứ, và vì thế không “phiến diện” như trước đây
Triết học chính trị thời Cận đại
Nhưng không chỉ có Platon và Aristoteles, mà triết học pháp quyền Hegel còn tiếp thu các công trình triết học thực hành Cận đại Sự thực, ngay
từ hồi thanh niên, Hegel đã tỏ ra say mê các tư tưởng tiến bộ về tự do, bình đẳng của các nhà Khai sáng Pháp như Rousseau, Montesquieu Ông nhiệt tình ủng hộ và theo dõi rất sát diễn biến của cuộc cách mạng tư sản Pháp do Napoléon lãnh đạo Hegel nồng nhiệt thảo luận về cách mạng Pháp và hy vọng luồng sóng này tràn được sang miền Tây Nam nước Đức Cao trào của
sự nhiệt tình ủng hộ cách mạng Pháp là sự kiện mùa xuân năm 1791, nhiều thanh niên, trong đó có Hegel và Schelling, kéo nhau ra bãi cỏ gần thành phố
Trang 33Tübingen và dựng một cây tự do theo kiểu người Pháp đang làm như một
biểu trưng cho sự Tự do
Về phương diện lý luận, có thể nói, trong các triết gia chính trị, Montesquieu (1689-1755) là người có ảnh hưởng mạnh nhất đến Hegel Ngay
từ năm 1802, Hegel đã nhắc đến Montesquieu trong các nghiên cứu của ông
về pháp quyền tự nhiên Hegel cho rằng, “Montesquieu trong tác phẩm thời
danh của ông: Tinh thần pháp luật, đã tập trung và nỗ lực xem xét một cách
chi tiết tư tưởng cho rằng mọi pháp luật, kể cả luật dân sự nói riêng, là phụ thuộc vào tính cách nhất định của Nhà nước và cả quan niệm triết học rằng bộ phận chỉ có thể được xét trong quan hệ với cái toàn bộ” [18, tr.688] Vậy là, Montesquieu đã có tư duy biện chứng dù chưa cao (nhờ các thành tựu của khoa sinh học đường thời) trong việc luận giải các vấn đề về nhà nước và pháp luật Bằng chứng là, Hegel đánh giá cao Montesquieu khi đã đề ra được
“một quan niệm lịch sử đúng đắn, một quan điểm triết học đích thực khi cho
rằng việc ban bố pháp luật nói chung cũng như các quy định đặc thù của nó không được phép xem xét một cách cô lập và trừu tượng, mà đúng hơn là một mômen phụ thuộc vào một toàn thể, trong sự kết nối với mọi quy định khác, tạo nên tính cách của một quốc gia và một thời đại, và, chỉ ở trong sự kết nối này chúng mới có được ý nghĩa đúng thật và do đó, có được sự biện minh” [18, tr.119]
Sự thực, Montesquieu chính là người đã mở đầu cho phong trào giải phóng tư tưởng vĩ đại, tiếp tục phát triển và hoàn thiện lý luận về quyền con người Nhưng xa hơn, không thể không kể tới T Hobbes và J Locke Thực
tế, Hobbes là nhà tư tưởng đầu tiên “thoát ly” khỏi sự ảnh hưởng của nhà thờ Kitô giáo trong quan niệm về xã hội cũng như về nhà nước Theo Hobbes thì nhà nước, con người và quyền con người hoàn toàn không phải là sản phẩm thuần tuý của Chúa mà nó là kết quả của chính hoạt động thực tiễn của con người Nhưng phải đến Locke thì lý luận về quyền con người mới thực sự trở
Trang 34thành một học thuyết mang tính hệ thống với thuyết tam quyền phân lập Ông
nhấn mạnh tính chất không thể tước bỏ của các quyền con người: “Mọi con
người…tự bản chất đều tự do, bình đẳng và độc lập, không ai có thể bị loại ra khỏi một quốc gia này và bắt lệ thuộc vào chính quyền của một nước khác mà không có sự ưng thuận của chính họ” [Trích theo 2, tr.221- 222] Do vậy, mọi
người sinh ra đều bình đẳng và cần được bình đẳng về quyền Đến Montesquieu, một trong những tư tưởng chính trị quan trọng nhất của ông là
tư tưởng tự do công dân gắn liền với việc tuân thủ pháp luật Theo ông, “tự do
là quyền được làm tất cả những gì mà luật pháp cho phép” [49, tr.99] Trong
chế độ dân chủ, tự do theo quan niệm của Montesquieu có mối liên hệ trực tiếp với bình đẳng Xét trên bình diện chính trị, bình đẳng là sự bình đẳng về
nghĩa vụ và quyền lợi “Bình đẳng chân chính không phải là làm cho mọi
người đều chỉ huy hoặc không ai bị chỉ huy cả, mà là chỉ huy những người bình đẳng với mình và phục tùng con người bình đẳng với mình” [49, tr.87]
Biết rằng, Hegel vừa tiếp thu tư tưởng triết học chính trị của Montesquieu, vừa phê phán kịch liệt thuyết tam quyền phân lập của ông Điều này thể hiện đặc biệt rõ trong tư tưởng Hegel về vấn đề phân quyền Hegel cho rằng, trong Nhà nước đạo đức thì có sự phân quyền nhưng không theo mô hình tam quyền phân lập của Montesquieu, trái lại theo mô hình phân công trong sự thống nhất hữu cơ của nhà nước Hegel xem xét nhà nước và các cơ quan quyền lực của nó như một chỉnh thể, một cái toàn bộ Trong vấn đề này, Hegel đã có kế thừa tư tưởng về một nhà nước thể hiện được cái ý chí chung
của mọi công dân trong tác phẩm Khế ước xã hội của J J Rousseau
(1712-1778) - là người có ảnh hưởng to lớn đối với triết học pháp luật Hegel Chính Rousseau là người đã tiếp nhận và phát triển quan điểm của Hobbes về Nhà nước và xã hội công dân lên một trình độ hoàn chỉnh hơn
Trong tư tưởng về Nhà nước, Rousseau quan niệm, chủ quyền/quyền lực
tối cao – tức sự thực hiện ý chí chung của toàn thể dân chúng - là không thể
Trang 35phân chia Nghiên cứu thực tiễn chính trị đương thời, Rousseau nhận định:
“tuy về nguyên tắc thì quyền lực tối cao là không thề phân chia, nhưng trên
thực tế người ta vẫn chia tách nó trong đối tượng Họ chia nó thành lực lượng
và ý chí, thành quyền lực lập pháp và quân lực hành pháp, thành quyền quan thuế, quyền tư pháp, quyền chiến tranh, thành cai trị đối nội và ứng phó đối ngoại ( ) Họ biến quyền lực tối cao thành một thứ quái dị, ghép lại bằng nhiều mảnh” [62, tr.81] Như vậy, Rousseau không phải là nhà tư tưởng của thuyết tam quyền phân lập theo đúng nghĩa Trong quan niệm của Rousseau, quyền lực nhà nước là phải thống nhất, như là một chỉnh thể, một cái toàn thể Nhưng rõ ràng, Nhà nước trong tư tưởng của Rousseau thể hiện ra là Nhà nước pháp quyền, theo nghĩa pháp luật có địa vị tối thượng Ngay như vị nguyên thủ cũng phải đứng dưới luật vì ông ta chỉ là một thành viên của Nhà nước mà thôi
Trong tác phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền, Hegel cho rằng, trong việc đi tìm Khái niệm/Ý niệm về Nhà nước, “Rousseau đã có
cống hiến, đó là xem ý chí như là nguyên tắc của Nhà nước, một nguyên tắc
đã được suy tưởng không chỉ như là hình thức của nó (như với bản năng xã hội chẳng hạn, hoặc với quyền uy thần linh) mà còn như là nội dung của nó,
và, trong thực tế, chính là bản thân tư duy Chỉ có điều, Rousseau đã xem ý
chí chỉ trong hình thức quy định của ý chí cá biệt [ý chí cá nhân] (giống như Fichte đã làm sau này) và đã xem ý chí phổ biến không phải như là tính hợp-
lý tính tự-mình-và-cho-mình của ý chí, mà chỉ như là cái chung nảy sinh từ ý chí cá biệt này như là một ý chí có ý thức Vì thế, sự hợp nhất của những cá
nhân với Nhà nước trở thành một khế ước dựa trên ý chí tùy tiện, tư kiến và
sự tán thành công khai do ý thích của họ” [18, tr.676]
Bên cạnh đó, Hegel cũng chị ảnh hưởng quan niệm của Rousseau về xã
hội dân sự Trong tác phẩm Khế ước xã hội, Rousseau khẳng định rằng, chính
sự phát triển của công cụ lao động đã làm cho của cải trong xã hội ngày càng
Trang 36gia tăng Nhưng cũng từ sự phát triển này, đã làm xuất hiện chế độ tư hữu tư nhân, từ đây dẫn đến phá vỡ “trạng thái tự nhiên” của con người – xã hội dân
sự xuất hiện Ông viết: “người đầu tiên rào rậu một mảnh đất nhỏ lại và tuyên
bố: đây là của tôi Và tìm được những người chất phác hồn nhiên để tin vào điều đó, thì người đó thực sự là người sáng lập ra xã hội công dân” [Trích
theo 81, tr.358] Như vậy, nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của “xã hội dân sự”, theo quan niệm của Rousseau chính là việc sáng tạo ra công cụ lao động mới
và kéo theo đó là sự xuất hiện của chế độ sở hữu tư nhân
Các triết gia thời Cận đại như Hobbes, Locke đều đã đặt ra vấn đề tự do
cá nhân của công dân, với tư cách là thành viên của nhà nước chính trị Kế thừa một cách có phê phán lý luận về các quyền tự do và bình đẳng của các bậc tiền bối, Rousseau khẳng định tự do là quyền tự nhiên mà tạo hóa đã ban tặng cho con người từ khi con người sinh ra Nghiên cứu con người và quá trình phát triển của xã hội từ trước tới giờ, Rousseau khẳng định rằng, bản chất của con người là tự do, nhưng trong sự phát triển của quá khứ, khát vọng
tự do của nó luôn bị kìm hãm bởi xã hội: “người ta sinh ra tự do, nhưng rồi
đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích” [62, tr.28] Đây chính là tình
trạng phổ biến của sự mất tự do Điều đó có nghĩa, tự do với tư cách là tài sản của con người đã bị tha hoá bởi sự cưỡng bức Vậy là, hiện thực cuộc sống thể hiện ra như là sự đối lập với bản chất tự do của con người Trong thực tại, con người bị tha hoá khỏi bản chất tự nhiên của chính mình, đã đánh mất mình trong một xã hội công dân đầy dẫy những bất công và áp bức Con người trở nên xa lạ với chính mình, xa lạ với chính thế giới mà con người đang sống
Theo Rousseau, tình trạng của sự tha hoá bản chất con người chỉ bị loại
bỏ nhờ pháp luật Ông cho rằng, không phải gắn liền tự do một cách giản đơn với tất yếu mà là với pháp luật – cái không phải là ý chí của nhà cầm quyền được nâng lên thành luật pháp (tức thói độc đoán về thực chất) mà là chủ
Trang 37quyền của nhân dân Mà bản chất của luật pháp là thể hiện “ý chí chung” Đến
lượt mình, “ý chí chung” này trở thành đối lập với ý chí của các cá nhân riêng biệt Nếu như ý chí của các cá nhân hướng tới đặc quyền thì trái lại, ý chí chung hướng tới sự bình đẳng Với sự ra đời của nhà nước, sau khi thiết lập được “ý chí chung”, đã làm cho mọi người đều bình đẳng một cách hài hoà Trong tư tưởng của Rousseau, con người, khi tham gia khế ước xã hội,
sẽ mất đi tự do thiên nhiên của mình, mất đi quyền vô hạn đối với tất cả những gì anh ta đang có Cái mà anh ta giành được, đó là tự do dân sự và quyền sở hữu đối với tất cả những gì anh ta đang có Tiếp đó, Rousseau thực hiện sự phân biệt giữa tự do thiên nhiên và tự do dân sự Theo đó, giới hạn của tự do tự nhiên chỉ là sức lực của cá nhân Còn giới hạn của tự do dân sự là
ý chí chung Trong tư tưởng của Rousseau, sự thoả thuận giữa mọi công dân không phá vỡ tình trạng bất bình đẳng tự nhiên nhưng lập lại bình đẳng về đạo đức và pháp luật, mọi người có vị trí ngang nhau trong khế ước Rousseau
viết: “sự thoả thuận cơ bản không những không phá vỡ bình đẳng, tự nhiên
mà ngược lại, thay thế sự bình đẳng về thế lực mà giới tự nhiên có thể tạo ra, bằng sự bình đẳng về đạo đức và pháp luật” [62, tr.359] Đó chính là vấn đề
cơ bản khế ước xã hội đề ra cách giải quyết Tất nhiên, đối với chúng ta rõ
ràng là “ý chí chung” hướng tới sự bình đẳng một cách hài hoà của Rousseau
đã che đậy ý chí và quyền lực của giai cấp tư sản – giai cấp mới đang lên cầm quyền và gán cho xã hội ý chí của mình
Truyền thống tư tưởng pháp luật Đức
Nhưng sẽ là không thỏa đáng, nếu không đề cập đến truyền thống tư tưởng pháp luật Đức trong sự hình thành tư tưởng về Nhà nước nói riêng và
triết học pháp quyền của Hegel nói chung
Thực tế lịch sử cho thấy, tư tưởng pháp luật đóng vai trò không nhỏ trong quá trình phát triển về mặt tinh thần của nước Đức Đến cuối thế kỷ XVIII, nước Đức đã định hình một truyền thống lý luận trong sự luận
Trang 38chứng cho pháp luật về mặt đạo đức, truyền thống bắt nguồn từ Johannes Althusius, Samuel Pufendorf, Thomasius Christian và được Gottfried Leibniz, Christian Wolff bổ sung, chỉnh lý Truyền thống này coi pháp luật
là đối tượng đạo đức, có nguồn gốc không phải là bản tính vật lý mà là bản tính lý tính của con người Nói khác, nó đặt luật pháp của nhà nước trên nền tảng của lý trí hay lý tính
Johannes Althusius (1563-1638) chính là nhà tư tưởng khởi đầu của truyền thống pháp luật Đức Ông là nhà lý luận chính trị, nổi tiếng ở cuối thế
kỷ XVI Althusius trình bày triết học chính trị của ông trong tác phẩm chính
Politica methodice digesta (1603, mở rộng hơn vào năm 1610 và 1614) Tác
phẩm là công trình đầu tiên trình bày một lý thuyết toàn diện về chủ nghĩa cộng hoà liên bang khởi nguồn từ giao ước của xã hội loài người, nhưng không phụ thuộc vào một hệ thống thần học Trong tác phẩm này, Althusius
đề cao vai trò của hiến pháp và pháp luật trong việc điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội cũng như sử dụng quyền lực Nhà nước Althusius cho rằng, pháp luật cao hơn tất cả mọi người Theo đó, bản thân sự cai trị của nhà vua nếu đi ngược lại với những quy định của pháp luật thì ông cũng phải bị trừng phạt bởi pháp luật Như vậy, vua đứng dưới luật Cũng theo Althusius thì quyền lực nhà nước cần phải được hạn chế Hiến pháp chính trị là bản văn chính thống, cơ bản nhất quy định một cách rõ ràng về quyền lực nhà nước Ông cho rằng, cần phải gia tăng vai trò của người dân và các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc phản biện và kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước, dù quyền lực đó là do chính nhân dân ủy nhiệm
Tiếp nối Althusius, Samuel von Pufendorf (1632-1694) – là nhà luật học
và sử học – đã phát triển tư tưởng pháp luật nên một nấc thang cao hơn Pufendorf chính là người sáng lập ra luật tự nhiên dựa trên lý trí con người để phân biệt với thần học Trong học thuyết triết học chính trị, Pufendorf phân biệt “xã hội của những công dân” với “xã hội của những Kitô hữu” (tức là
Trang 39Giáo hội), cũng như với “xã hội” theo nghĩa là tập hợp đơn thuần, tự nhiên của những cá nhân, không do một thoả ước tập thể nhằm kiến lập một quyền lực chung Bàn về nhà nước, Pufendorf cho rằng, nhà nước đảm nhiệm chức năng đối nội và đối ngoại Theo Pufendorf thì trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào của nhà nước, pháp luật luôn có vai trò quan trọng trong việc quy định các mối quan hệ xã hội cũng như bảo vệ các quyền con người Hơn hết, Pufendorf bàn tới luật tự nhiên – Thiên Chúa chính là tác giả của luật tự nhiên, nơi mà chính trị được coi như một hình thức đạo đức xã hội Pufendorf quan niệm, nhà nước là một thực thể đạo đức, theo nghĩa nhà nước điều hòa các xung đột xã hội, bảo vệ các thành viên trước mối đe dọa từ những người khác Về vấn đề chủ quyền (Sovereignty) của nhà nước, theo Pufendorf, chủ quyền tối cao hay quyền tối cao là không thể phân chia Pufendorf cho rằng, chủ quyền tối cao có thể là tuyệt đối hoặc hạn chế Do sự không hoàn hảo của con người nên Pufendorf đã ủng hộ chủ quyền hạn chế nhưng ông cũng chỉ trích cả hai thái độ sợ hãi và lạm dụng chủ quyền tuyệt đối
Giống với triết gia người Anh Thomas Hobbes và John Locke – những người cũng sống trong một thế kỷ XVII, Pufendorf đã đồng hóa xã hội dân sự
với nhà nước/quốc gia Điều này thể hiện đặc biệt rõ trong quyển “De jure
naturae et gentium” (Bàn về luật pháp của tự nhiên và của người dân) Trong
tác phẩm này, ông đã tô đậm thêm sự đồng hóa này nhằm phân biệt với xã hội
cơ đốc, chịu sự chi phối của Giáo hội hay với “xã hội” đơn thuần, do tự nhiên chứ không do khế ước mà có
Sau Pufendorf là tư tưởng pháp luật của Thomasius Christian 1728) Thomasius đã ủng hộ và tiếp thu tư tưởng của Pufendorf về luật tự nhiên dựa trên lý trí con người Trong tư cách là nhà tư tưởng quan trọng của Khai sáng Đức, Thomasius đã ủng hộ việc sử dụng lý tính tự do, cố gắng giải phóng các nghiên cứu về luật học từ sự kiểm soát của thần học Ông muốn
Trang 40(1655-xây dựng một nhà nước lý tưởng dựa trên luật của lý trí Tư tưởng triết học của Thomasius trở thành cơ sở quan trọng cho những nghiên cứu sau này của Wolff và Kant, đặc biệt là trong các lĩnh vực đạo đức và luật tự nhiên
Trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng Khai sáng Đức, cùng với Gottfried Leibniz thì Christian Wolff đã bổ sung, chỉnh lý tư tưởng pháp luật của các bậc tiền bối
Christian Wolff (1679-1754), còn được gọi là Christian von Wolfius, là nhà triết học duy lý quan trọng nhất trong nửa đầu thế kỷ XVIII ở Đức Ông
là người đã cải tạo và phát triển triết học Leibniz thành một hệ thống triết học thuần túy tiêu biểu trong thời Khai sáng ở Đức, được gọi chung là “trường phái Leibniz-Wolff” Triết lý của ông đã tạo ra được một hệ thống có tính chặt chẽ nhất trong thế kỷ XVIII trước Kant Ảnh hưởng của Wolff đến Kant, Hegel là rất lớn, đặc biệt là Kant khi đã từng là môn đệ của triết học Wolff trong một thời gian dài trước khi “tỉnh khỏi cơn mê giáo điều”
Wolff là người Đức đầu tiên viết hầu hết các tác phẩm triết học bằng tiếng Đức, do vậy Hegel đã tôn vinh ông là “người thầy của dân tộc Đức” Theo đó, kể từ Wolff trở đi, người Đức mới có truyền thống triết lý và tiếng Đức dần trở thành ngôn ngữ uyên thâm về triết học và khoa học Nhưng sâu
xa thì không thể không kể tới Martin Luther khi ông mạnh dạn dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức, từ đó, mới bắt đầu có ngôn ngữ văn xuôi Đức trôi chảy Tiếp sau Martin Luther và Wolff, Kant đã cố gắng dịch các thuật ngữ Latinh sang tiếng Đức đặt nền móng cho ngôn ngữ triết học Đức ngày nay
Về vấn đề này, Hegel cho rằng, “một khoa học chỉ thuộc về một dân tộc khi
dân tộc ấy chiếm lĩnh được nó bằng ngôn ngữ riêng có của dân tộc mình; đối với triết học thì đòi hỏi này lại càng là tiên quyết nhất” [Trích theo 27, tr.56]
Nhưng nguyên nhân chủ yếu làm cho Wolff nổi tiếng và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nhà triết học ở châu Âu đường thời là bởi Wolff đã xây dựng
hệ thống triết học của ông trên cơ sở một phương pháp diễn dịch duy lý hết