1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay

104 638 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua 26 năm tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc- với số dân chiếm tới 1/5 trên thế giới, từ một đất nước vô cùng nghèo nàn lạc hậu vào cuối những năm 70 - đã có một cuộc bứt phá đầy ngo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Engel: Hệ số tỷ lệ mua thực phẩm trong tổng chi cho tiêu dùng

của dân cư

FAO: Tổ chức nông nghiệp, lương thực Liên Hợp Quốc FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

GNP: Tổng sản phẩm quốc dân

GNI: Tổng thu nhập quốc dân

HDI: Chỉ số phát triển con người

Trang 3

R&D: Nghiên cứu và triển khai (nghiên cứu và phát triển)

TFP: Năng suất tổng thể

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Quan hệ giữa nguồn nhân lực và phát triển kinh tế Trang 10 Bảng 2: Tình hình phổ cập giáo dục ở các nước đã phát triển Trang 10 Bảng 3: Diện tích nhà ở bình quân đầu người cư dân thành thị

Bảng 10: Lịch sử phát triển nguồn vốn nhân lực của Trung

Quốc (từ đầu công nguyên đến năm 2000)

Trang 44

Bảng 11: Thay đổi lực lượng lao động trong 3 khu vực Trang 47

Bảng 12: Thay đổi lực lượng lao động theo ngành Trang 47

Bảng 13: Chi tiêu cho giáo dục của Chính phủ Trung Quốc Trang 51

Bảng 15: So sánh thu nhập GNI của Trung Quốc và các nước Trang 57

Bảng 16: Hệ số Engel của gia đình nông thôn và thành thị Trung

Quốc

Trang 58

Trang 4

Bảng 17: Cơ cấu tiêu dùng của các gia đình ở thành thị và nông

thôn

Trang 59

Bảng 18: So sánh chỉ số phát triển con người của các nước Trang 61

Bảng 19: Một số chỉ tiêu về đời sống văn hoá của Trung Quốc Trang 61

Bảng 20: So sánh tỷ lệ nhân viên làm việc tại các cơ quan nghiên

cứu

Trang 66

Bảng 21: Tỷ lệ đầu tư cho giáo dục của các nước Trang 67

Bảng 22: So sánh đầu tư giáo dục thực tế của Trung Quốc và

Biểu đồ 1: Thời gian tăng gấp đôi thu nhập đầu người Trang 33

Biểu đồ 2: Số người theo học các chương trình giáo dục bậc cao

tăng rõ rệt

Trang 37

Biểu đồ 3: Bước chuyển nhanh chóng ra khỏi nông nghiệp Trang 48

Trang 5

3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về vai trò của giáo dục

trong cải cách mở cửa của Trung Quốc

7

1 Lí luận về cai trò của giáo dục với phát triển kinh tế- xã hội 7

2.2 Khái quát hệ thống giáo dục Trung Quốc hiện nay 26

Chương 2 Vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa của Trung

Quốc (từ năm 1978 đến nay)

2.1 Giáo dục và nâng cao tố chất quốc dân 36

2.3 Giáo dục và phát triển văn hoá xã hội 55 2.4 Giáo dục và xây dựng xã hội khá giả 56

Trang 6

Chương 3 Những vấn đề tồn tại và bài học kinh nghiệm 63

2 Phương hướng và các biện pháp giải quyết 74

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, tri thức và con người đang tạo ra những động lực ngày càng to lớn trong phát triển kinh tế xã hội Vì thế tìm hiểu về những khả năng đóng góp của con người với sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt thông qua lĩnh vực giáo dục đào tạo là một điều hết sức cần thiết

Qua 26 năm tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc- với số dân chiếm tới 1/5 trên thế giới, từ một đất nước vô cùng nghèo nàn lạc hậu vào cuối những năm

70 - đã có một cuộc bứt phá đầy ngoạn mục, tạo ra những thay đổi to lớn có tính bước ngoặt trong tất cả các mặt, thu hút được sự quan tâm chú ý của toàn thế giới:

dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc hiện đứng thứ 2 trên thế giới, đạt mức 483 tỷ USD (tính đến tháng 8/2004); GDP đứng thứ 6 trên thế giới; Trung Quốc là nước thứ 3 trên thế giới phóng thành công tàu có người lái bay vào vũ trụ ( sau Nga và Mỹ)…

Trong tất cả các nhân tố đóng góp tạo nên sự thành công huy hoàng đó, phải

kể tới việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào không ngừng đƣợc nâng cao về trình độ trên cơ sở nền giáo dục ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn Giáo dục Trung Quốc đang khẳng định vai trò quan trọng của mình,

đặc biệt là trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, giáo dục là “ nền tảng cho xây dựng kinh tế, chính trị, văn hoá, không những phải cung cấp nguồn dự trữ nhân tài

và trí lực cho công cuộc xây dựng hiện đại hoá mà còn phải trực tiếp tham gia vào

sự nghiệp xây dựng các mặt, góp phần cống hiến thúc đẩy các sự nghiệp xây dựng” [ 11, tr 456] Bên cạnh đó, quá trình phát triển của Trung Quốc không thể tách rời

Trang 8

quy luật phát triển chung của khu vực Đông Á nói riêng và khu vực Châu Á- Thái Bình Dương nói chung: sự phát triển của mỗi quốc gia đều có gắn bó vô cùng mật thiết với giáo dục-đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Hiện nay Việt Nam đang trong quá trình cải cách mở cửa kinh tế xã hội và cải cách sự nghiệp giáo dục Là một nước đi sau, Việt Nam có thuận lợi trong việc tránh những vấp váp; đồng thời học hỏi những kinh nghiệm qúy giá của Trung Quốc Việc tìm hiểu kinh nghiệm giáo dục đào tạo, đặc biệt là vai trò của giáo dục Trung Quốc trong quá trình cải cách mở cửa sẽ có nhiều đóng góp tích cực cho Việt Nam

Vì những lí do trên chúng tôi chọn đề tài:” Vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc ( từ năm 1978 đến nay)” làm luận văn thạc sỹ

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Nghiên cứu, tìm hiểu về giáo dục Trung Quốc từ lâu đã là một đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam Đặc biệt từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa đến nay, đề tài này lại càng được các nhà nghiên cứu trong và ngoài

nước quan tâm chú ýý ý hơn nữa Tuy nhiên những công trình nghiên cứu này mới

chỉ đề cập đến sự phát triển về số lượng hoặc tìm hiểu về hệ thống giáo dục, cải cách giáo dục, cách thức quản lý giáo dục Trung Quốc ở mức khái quát nhất Còn tìm hiểu về vai trò của giáo dục đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-

xã hội Trung Quốc thì hầu như còn rất ít

Viết về lịch sử giáo dục Trung Quốc, hai tác giả Nguyễn Gia Phu và

Nguyễn Huy Quý đã cố gắng dựng lại dù chỉ ở mức sơ lược nhất về quá trình hình

thành và phát triển của nền Giáo dục Trung Quốc trong tác phẩm: ”Lịch sử Trung Quốc” [51]

Trang 9

Tìm hiểu về tổng quan giáo dục Trung Quốc có công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả trong cuốn “Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI” đề cập tới

những vấn đề tổng quát nhất của hệ thống giáo dục Trung Quốc [18]

Nghiên cứu về cải cách giáo dục Trung Quốc có công trình “ Tổng quan giáo dục Châu Á” của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Công trình này nêu ra

những vấn đề tồn tại chủ yếu của nền giáo dục Trung Quốc và những yêu cầu chủ yếu của cải cách giáo dục [69] Cũng về lĩnh vực này, Viện khoa học giáo dục Việt

Nam còn có công trình: ”Giáo dục Trung Quốc trong cải cách” chủ yếu đề cập

tới những nhiệm vụ mục tiêu của giáo dục Trung Quốc trong từng giai đoạn cải cách của đất nước [68]

Thạc sỹ Lưu Văn Quảng với bài viết “Vài nét về giáo dục đại học ở Trung Quốc hiện nay” đã đề cập tới hệ thống giáo dục của Trung Quốc hiện nay, trong

đó nêu khái quát về hệ thống giáo dục ở Trung Quốc và những biện pháp tăng cường phát triển giáo dục đại học cũng như điểm qua những thành tựu mà nền giáo dục Trung Quốc hiện đại đã đạt được [49]

Vấn đề nhận thức về tầm quan trọng của nhân tài, của tri thức trong xây dựng đất nước, phát triển kinh tế –xã hội là một lĩnh vực rất quan trọng trong nghiên cứu về giáo dục Trung Quốc Về vấn đề này, tác giả Nguyễn Huy Quý có công trình: “Tìm hiểu cách thức phát huy nguồn lực nhân tài ở các nước Đông Á” [50] đã nêu ra các bài học kinh nghiệm về sử dụng và chú trọng tới nhân tài thông qua giáo dục đào tạo ở các nước Đông Á Tác phẩm “Vấn đề nhân tài trong nền kinh tế tri thức và cách giải quyết của Trung Quốc “[22, tr 681] của

tập thể các tác giả Trung tâm thông tin công tác khoa giáo-Ban Khoa Giáo TW nêu

rõ nhận thức về tầm quan trọng của nhân tài, của tri thức trong phát triển đất nước

GS Nguyễn Văn Hồng với công trình “ Nhận thức về chiến lược “khoa giáo hưng quốc” xây dựng văn hoá XHCN đặc sắc Trung Quốc” [25, tr 284] đã cho

Trang 10

thấy nhận thức vô cùng sâu sắc về chiến lược phát triển giáo dục phục vụ sự

nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc

Bên cạnh đó còn có các tác phẩm tuy không đề cập trực tiếp tới giáo dục,

nhưng đều bàn tới tác động hoặc thành quả của giáo dục như công trình: ”Quá trình cải cách kinh tế xã hội của nước CHND Trung Hoa từ năm 1978 đến nay” [61] của Ts Đinh Công Tuấn đã nêu bật được những đóng góp tích cực của

giáo dục với quá trình cải cách hơn 20 năm qua của Trung Quốc Các tác phẩm

khác như “Chất lượng tăng trưởng nhìn từ Đông Á”[63] của Ts Trần Văn Tùng; báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Trung Quốc “ Trung Quốc 2020” [42] đều

trình bày những tác động của giáo dục đối với sự nghiệp cải cách mở cửa của

Trung Quốc

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác của các tác giả như: Th.s

Bùi Đức Thiệp với công trình: ”Tư tưởng giáo dục ở CHND Trung Hoa ( từ năm

nhiệm vụ, mục tiêu của cải cách giáo dục trong những thập niên cuối ở Trung

Quốc qua tác phẩm “Cải cách giáo dục trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ

XX ở CHND Trung Hoa” [14]

Qua sự phân tích trên, chúng tôi tạm phân chia các lĩnh vực nghiên cứu về giáo dục Trung Quốc như sau:

1 Nghiên cứu về tổng quan giáo dục, hệ thống giáo dục, quá trình

phát triển của giáo dục Trung Quốc

2 Nghiên cứu về vấn đề nhân tài, tri thức trong giáo dục Trung Quốc

Trang 11

Việc nghiên cứu và tìm hiểu về vai trò của giáo dục đối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội của Trung Quốc trong 26 năm qua hầu như còn rất ít Vì thế, tuy công trình này còn có nhiều thiếu sót nhưng với nỗ lực lớn của tác giả và sự giúp đỡ chân tình của TS Đinh Công Tuấn, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần bổ sung thêm về khía cạnh này trong nghiên cứu giáo dục Trung Quốc; và góp phần làm phong phú hơn về đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục Trung Quốc, đồng thời cũng tích luỹ được nhiều kinh nghiệm hơn và có những đóng góp thiết thực cho nền giáo dục Việt Nam trên con đường đổi mới

3 ĐỐI TƢỢNG, NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu: giáo dục Trung Quốc và vai trò của giáo dục trong

quá trình cải cách mở cửa của Trung Quốc ( từ 1978 đến nay)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tổng quan về tình hình giáo dục Trung Quốc

- Phân tích rõ những đóng góp của giáo dục cho quá trình phát triển kinh tế-

xã hội từ năm 1978 đến nay trên các lĩnh vực: chính trị- tư tưởng; văn hoá-

xã hội; kinh tế- sản xuất

- Nêu những thành tựu và tồn tại của hệ thống giáo dục Trung Quốc và rút ra bài học kinh nghiệm, kiến nghị để giáo dục đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội và đóng góp tích cực hơn cho quá trình xây dựng kinh tế- xã hội tại Việt Nam

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

- Thời gian: nghiên cứu đóng góp của giáo dục với quá trình phát triển kinh tế

xã hội của Trung Quốc từ 1978 đến nay

- Không gian: Trung Quốc lục địa, không bao gồm hai đặc khu Macao và Hồngkông

Trang 12

4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

 Trình bày tổng quan về quá trình phát triển của giáo dục Trung Quốc: lịch sử giáo dục, hệ thống giáo dục Trung Quốc

 Vai trò của giáo dục trong quá trình cải cách mở cửa, phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc trên các lĩnh vực: chính trị- tư tưởng; văn hoá- xã hội; kinh tế- sản xuất

 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

 Đóng góp cho nguồn tư liệu nghiên cứu về đề tài giáo dục Trung Quốc tại Việt Nam

5 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Nguồn tư liệu:

Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng trong luận án này bao gồm:

- Nghị quyết, văn kiện, các báo cáo nghiên cứu cấp Trung ương, Quốc Vụ Viện Trung Quốc

- Sách báo, báo điện tử

- Luận văn, luận án nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành luận án này, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh, biên niên sự kiện theo chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa của Trung Quốc

Trang 13

Chương 2: Vai trò của giáo dục trong công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay

Chương 3: Những vấn đề tồn tại và bài học kinh nghiệm

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

VỀ VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC TRONG CẢI CÁCH

MỞ CỬA CỦA TRUNG QUỐC

Trong chương này, chúng ta sẽ tập trung nghiên cứu lý luận về vai trò của giáo dục với phát triển kinh tế xã hội và tổng quan hệ thống giáo dục Trung Quốc

1 LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC VỚI PHÁT TRIỂN KINH

TẾ XÃ HỘI

Trang 14

Khổng Tử nói:” Ngọc bất trác bất thành khí; nhân bất học bất tri lý” (

nghĩa là: ngọc nếu không được mài giũa cũng không thành vật sử dụng được;

người nếu không học không biết đạo lý) Giăcđlo viết:” Sự đóng góp cho xã hội loài người của giáo dục là thiết yếu, và giáo dục cũng là một trong những công

cụ mạnh nhất có trong tay để nhào nặn nên tương lai” Vậy giáo dục là gì? vai

trò của giáo dục như thế nào?

Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn

bị cho con người tham gia vào đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người

Giáo dục là quá trình rèn luyện, đào tạo và phát triển toàn diện cá nhân phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội Giáo dục không chỉ đào tạo ra nguồn nhân lực cho đất nước mà còn là cơ sở cho nghiên cứu, tiếp thu khoa học, công nghệ và vận dụng vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội Giáo dục chính là chiếc chìa khoá mở

ra những cơ hội phát triển và hội nhập cho các nước, các dân tộc Điều này cũng có nghĩa là nước nào nắm trong tay nguồn nhân lực có kỹ năng, có tri thức, có sức khoẻ thì nước đó có khả năng phát triển nhanh, có sức cạnh tranh mạnh mẽ, đặc biệt trong thời đại của nền kinh tế chất xám- nền kinh tế tri thức Do đó vai trò của giáo dục trong thời hiện đại ngày càng trở nên quan trọng

Trong các công trình nghiên cứu về giáo dục, các tác giả đưa ra nhiều cách phân chia khác nhau về chức năng, vai trò cuả giáo dục

* Theo Unesco, giáo dục có 7 chức năng chính:

1.Đóng góp phát triển toàn diện cho cá nhân

2.Giáo dục các thành viên trong xã hội cùng tồn tại và hợp tác

3.Giáo dục tinh thần công dân

4.Giáo dục phục vụ kết cấu xã hội

5.Giáo dục với lao động và việc làm

6.Giáo dục và phát triển

Trang 15

7.Giáo dục nghiên cứu khoa học tạo ra tri thức

Còn theo GS Hà Thế Ngữ trong cuốn ” Giáo dục học- một số vấn đề lí luận và thực tiễn” chức năng của giáo dục bao gồm:

*Chức năng kinh tế- sản xuất

*Chức năng chính trị-xã hội

*Chức năng tư tưởng -văn hoá

Nhưng cho dù có phân chia như thế nào thì có thể nói, giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo và phát triển các tiềm năng của con người; giáo dục có vai trò quyết định trong phát triển và thực hiện các chức năng về kinh tế- xã hội-văn hoá

Nghiên cứu về vai trò của giáo dục với tăng trưởng kinh tế trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng chưa phải là nhiều Trước đây các nhà kinh tế

cũng có đặt vấn đề về vai trò của giáo dục với phát triển kinh tế nhưng chưa đầy đủ ( Adamsmith; Apphred Marshall…) Chỉ đến những năm cuối thế kỷ XX, do những đóng góp quan trọng của vốn nhân lực với sự phát triển kinh tế- xã hội rất lớn mà vai trò của giáo dục mới được nghiên cứu và đánh giá đầy đủ hơn ( R.Solow, Denison, Milton Friendma, Simon Kuznet, Lucas, Gary Becker…) Đặc điểm quan trọng nhất trong nghiên cứu ảnh hưởng của giáo dục với phát triển kinh

tế xã hội là các nhà kinh tế học đã chứng minh được ảnh hưởng to lớn của giáo dục trong phát triển và đưa giáo dục trở thành một đối tượng nghiên cứu của kinh tế

Sự phát triển của một đất nước, một mô hình kinh tế gắn bó chặt chẽ với ba yếu tố: tài nguyên, con người và vốn Lịch sử nhân loại cho thấy, kể từ thời nguyên thuỷ đến trước khi cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ nhất nổ ra, nền kinh

tế thế giới phát triển rất chậm, chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có CMCN lần 1 ra đời đã tạo ra bước ngoặt lớn trong phát triển kinh tế Kinh tế phát triển nhanh và quy mô được mở rộng gấp hàng ngàn lần nhưng sự phát triển này lại chủ yếu là do tích luỹ tư bản Do đó, kể từ thời điểm này cho đến

Trang 16

thập kỷ 70 thế kỷ XX, yếu tố đóng vai trò chính trong phát triển kinh tế lại là vốn Chỉ từ khi cách mạng công nghệ thông tin bắt đầu với những thành quả ứng dụng trong kinh tế vô cùng lớn lao, vai trò của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khả năng sáng tạo của con người mới được chú trọng Vì thế mà yếu tố đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn này là chất xám, là con người

Những năm 80 của thế kỷ XX đã đánh dấu bước ngoặt lớn của sự phát triển nhân loại: thời đại công nghệ thông tin bùng nổ; thời đại của phát triển công nghệ cao, thời đại của nền kinh tế tri thức đã mở ra những cơ hội phát triển vô cùng to lớn cho nước nào biết tận dụng những ưu thế này và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực được đào tạo tốt (trong lịch sử nhân loại, cuộc cải cách Minh Trị ở Nhật Bản là một minh chứng rõ ràng nhất) Một mô hình kinh tế mới ra đời với đặc điểm chính

là lợi nhuận lớn và tăng trưởng dựa trên cơ sở tri thức Tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo ra sự phát triển Giáo dục là cơ sở đầu tiên tạo ra tri thức

Thực vậy, các kết quả nghiên cứu cũng như các số liệu thực tế cho thấy, nguồn nhân lực có tri thức, có kỹ năng lao động cao, có sức khoẻ và kinh nghiệm lao động là sự đảm bảo chắc chắn cho tăng trưởng kinh tế Để có được

nguồn nhân lực như thế, trước hết và chủ yếu là phải thông qua giáo dục Giáo dục với vai trò đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của một quốc gia đã có đóng góp đáng kể cho tăng trưởng Giáo dục đã đóng góp tới 23% vào tăng trưởng kinh tế và 42% cho tăng thu nhập bình quân đầu người ở Mỹ ( 1929-1958) [36, tr.31] Giáo dục cũng tạo ra tăng trưởng nhanh chóng cho Hàn Quốc trong 4 thập kỷ sau thế chiến II [20, tr.40]

Thực tế cho thấy giữa tăng trưởng về kinh tế và sự phát triển nguồn nhân lực có gắn bó hết sức mật thiết Hay nói cách khác, cùng với số lượng

người được giáo dục lâu hơn thì nền kinh tế cũng phát triển hơn Các giai đoạn phát triển và mở rộng của giáo dục đều có quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế Nghiên cứu về các nước phát triển cho thấy, sự phát triển và tăng trưởng của tất cả

Trang 17

các nước này đều dựa trên cơ sở về nguồn nhân lực đã được phổ cập gần như 100% và thời gian giáo dục lâu dài.( xem các bảng sau)

Bảng 1: Quan hệ giữa nguồn nhân lực và phát triển kinh tế

Nước Thời gian GDP của nước theo sau so

với nước đi trước ( %)

Tỷ lệ số năm được GD của nước đi sau so với nước đi trước(%)

Thời kỳ đầu Thời kỳ cuối Thời kỳ đầu Thời kỳ cuối

Nguồn: Educational Research-4/2003, tr 11

Bảng 2: Tình hình phổ cập giáo dục ở các nước đã phát triển

Nước

Số năm giáo dục nghĩa vụ

Tỷ lệ phổ cập(%)

Nguồn: Educational Research-4/2003, tr 16

Bên cạnh những đóng góp cho kinh tế, giáo dục cũng góp phần làm giảm đói nghèo và ổn định xã hội Giáo dục tốt hơn đồng nghĩa với việc có cơ hội tìm

việc làm tốt hơn, thu nhập ổn định hơn, và đó là cơ sở để giảm đói nghèo và góp phần ổn định xã hội

Một trong những vai trò quan trọng khác của giáo dục là giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Trong thời đại toàn cầu hoá, thời đại của hội nhập, việc bảo tồn

Trang 18

và giữ gìn các giá trị văn hoá truyền thống, mang bản sắc dân tộc là điều hết sức cần thiết Giáo dục là biện pháp, là công cụ tốt nhất để truyền đạt lại các giá trị văn hoá, lịch sử, giáo dục con người về truyền thống, những giá trị nhân văn, bản sắc dân tộc Giáo dục còn giúp đưa ra các định hướng trong việc tiếp thu văn hoá ngoại lai một cách có chọn lọc và hiệu quả

Giáo dục còn có một vai trò mới vô cùng quan trọng, đó là tiếp thu công nghệ và nghiên cứu khoa học Với các nước đang phát triển, các nước kém phát

triển, nơi mà trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, công nghệ sản xuất thấp kém thì nhập khẩu khoa học công nghệ là điều tất yếu Một đội ngũ công nhân được đào tạo lành nghề, hiểu biết kỹ thuật, công nghệ, có khả năng tiếp thu, nắm bắt nhanh tri thức mới là cơ sở đảm bảo cho việc nắm bắt tốt công nghệ sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá Trình độ dân trí được nâng cao thông qua giáo dục sẽ có đóng góp tích cực cho tiếp thu công nghệ, khả năng nghiên cứu khoa học kỹ thuật, phục vụ đắc lực cho kinh tế và phát triển xã hội

Trong 26 năm tiến hành cải cách mở cửa vừa qua, nền giáo dục của Trung Quốc đã phát triển trong bối cảnh cần xây dựng được một nền giáo dục lớn trong

điều kiện kinh tế đất nước còn lạc hậu.Nền giáo dục cần phải “ nỗ lực bồi dưỡng con người mới “ bốn có” ” ( có lýý tưởng , có đạo đức, có văn hoá, có kỷ luật) phát triển con người toàn diện cả về đạo đức, trí tuệ và thể lực [ 11- tr 449, 450]

Hay nói khác đi, đó là nền giáo dục mà tôn chỉ cơ bản của nó là “ nâng cao tố chất quốc dân” để phục vụ cho sưk nghiệp xây dựng XHCN đặc sắc Trung Quốc Điều này được các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc trăn trở, tìm tòi, đưa đến những nhận thức đầy tính sáng tạo về đóng góp của giáo dục, khoa học kỹ thuật với sự nghiệp hiện đại hoá, xây dựng XHCN đặc sắc Trung Quốc với phương châm nổi tiếng là :” Giáo dục hướng tới hiện đại hoá, hướng ra thế giới, hướng tới tương lai” Đồng

chí Đặng Tiểu Bình từng nói:” Nếu không nắm khoa học, giáo dục, 4 hiện đại

Trang 19

hoá (HĐH) không có hi vọng…” hay nói về vấn đề nhân tài: ” Cơ sở cho việc bồi dưỡng nhân tài là giáo dục” Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã ý thức hết sức sâu sắc rằng, giáo dục chính là cơ sở để đào tạo ra nhân tài, và con người là nguồn vốn quý nhất của xã hội Và chỉ có con người, bằng tri thức, bằng sự sáng tạo mới

tạo ra sự phát triển của khoa học kỹ thuật, và đó chính là mấu chốt để đất nước Trung Quốc phát triển, bởi vì “ Khoa học kỹ thuật ( KHKT) là lực lượng sản xuất

số một” Đồng chí Giang Trạch Dân trong các bài phát biểu của mình về vấn đề khoa học giáo dục đều nhấn mạnh: “ Chỉ có làm tốt giáo dục mới có thể tăng cường về căn bản sức mạnh tổng hợp của đất nước, mới có thể giành được địa vị chủ động trong cạnh tranh quốc tế gay gắt”; “Thực hiện khoa học giáo dục chấn hưng đất nước nhất định sẽ nâng cao với mức độ chất lượng lớn và trình độ phát triển kinh tế Trung Quốc, khiến lực lượng sản xuất có sự giải phóng mới và sự phát triển lớn hơn” [11- tr 399,400]

Sự chú trọng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, của các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc về giáo dục cho thấy nhận thức sâu sắc về vai trò và đóng góp của giáo dục với sự nghiệp trồng người nói riêng và sự nghiệp “ chấn hưng đất nước” nói chung Đó vừa là sự kế thừa, phát huy truyền thống, vừa là nhận thức mang tính thời đại, đầy sức sáng tạo Trên cơ sở đó, giáo dục đã đạt được những thành tựu to lớn và là một trong những nhân tố quan trọng tạo ra sự thành công và đảm bảo con đường xây dựng phát triển của Trung Quốc

2 TỔNG QUAN VỀ NỀN GIÁO DỤC TRUNG QUỐC

Trang 20

2.1 LỊCH SỬ GIÁO DỤC TRUNG QUỐC

Trung Quốc là một đất nước có truyền thống văn hoá lâu đời và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, có nhiều cống hiến cho nền văn minh nhân loại Trong các thành tố cấu thành nên nền văn hoá sâu dày đó, giáo dục phát triển từ rất sớm, liên tục và có vai trò hết sức quan trọng Lịch sử giáo dục Trung Quốc được chia thành các giai đoạn như sau:

2.1.1 Trước năm 1840

Khó có thể nói chính xác giáo dục xuất hiện vào thời gian nào nhưng chắc chắn

là đã có mầm mống ngay từ thời nguyên thuỷ Thời kỳ này có một nơi để truyền đạt lại kinh nghiệm được gọi là “ yảng” ( dưỡng) Đây là mô hình giáo dục đầu tiên của Trung Quốc Hình thức giáo dục thời kỳ này thường là thông qua các điệu múa, hình thức ca hát Đảm nhiệm công việc này đa phần là những người lớn tuổi trong thị tộc, bộ lạc Với những người có thể trở thành thủ lĩnh, người lãnh đạo của

bộ lạc, việc giáo dục khắt khe hơn nhiều thông qua các hoạt động rèn luyện cũng như thử thách bản lĩnh Cùng với sự phát triển của xã hội và quá trình tích luỹ tri thức, chữ viết ra đời Do đó giáo dục cũng dần trở nên có hệ thống và quy củ hơn

Để đọc được và viết được cần phải được dạy dỗ chữ nghĩa Đó cũng là cơ sở cho

sự nghiệp giáo dục và nhà trường phát triển

Nhà trường xuất hiện chính thức ở Trung Quốc vào thời điểm nào thì có nhiều quan điểm khác nhau Theo Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý trong cuốn “ Lịch

sử Trung Quốc” hay như Surowski trong “ History of the educational system of China” thì cho rằng vào khoảng đời Thương Còn tác giả Phan Khoang trong “ Trung Quốc sử lược” và các tác giả trong cuốn “ Lịch sử văn hoá Trung Quốc” thì cho rằng nhà trường còn xuất hiện sớm hơn nữa Theo nguồn tài liệu cổ thì đời Hạ

đã có nhà trường chính thức “ đạo thời Tam đại, ở thôn làng có trường học, thời Hạ gọi là hiệu, thời Ân gọi là Tường, thời Chu gọi là Tự” [ 27, tr 484] Đời Ngu, đời

Hạ có nhà học, Đại học gọi là Đông tự, Tiểu học gọi là Tây tự; đến đời

Trang 21

Ân-Thương, Đại học gọi là Hữu học, Tiểu học gọi là Tả học; đời Chu, nhà học gọi là Tịch Ung hoặc Thành Quân [ 28, tr 44] Như vậy nếu tính sớm nhất đời Hạ đã có nhà trường chính thức

Về hình thức trường học, mỗi thời có cách phân chia khác nhau Đời Chu trường học chia làm hai loại gọi là “ Quốc học” và “ Hương học” Quốc học là trường học dành cho con em bậc đại quý tộc, mở tại Vương đô và Quốc đô các nước chư hầu Còn “Hương học”, theo Phan Khoang [ 28, tr 39] là để dành cho con nhà bình dân nhưng theo Surowski thì “Hương học” là nơi theo học của con

em quý tộc bậc trung Nếu xét về tình hình xã hội lúc bấy giờ, học tập là một đặc quyền của giới chủ nô, quý tộc ( điều này đúng với cả các xã hội cổ đại khác như Athen, Ai cập, Hy Lạp) thì “ Hương học” phải là của con em quý tộc bậc trung mới đúng

Xét về trình độ, trường học gồm hai cấp bậc: tiểu học và đại học Lứa tuổi tiểu học bắt đầu từ 8-14, 15 tuổi Nội dung giảng dạy ở bậc này là dạy chữ, dạy ứng đối, dạy các quy củ phép tắc, kính nhường và dạy đủ lục nghệ ( lễ, nhạc, xạ, thư, ngự, số) Đại học bắt đầu từ 14,15 tuổi cho đến ngoài 20 tuổi Đại học dạy về tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Ngoài ra, thời kỳ này, trường học còn có một chức năng khác là nơi dưỡng lão [27, tr 25]

Thời Xuân Thu-Chiến Quốc do tình hình xã hội có nhiều biến động nên giáo dục cũng có sự thay đổi lớn Về chế độ, từ chỗ chỉ có một chế độ “ Quan học” do nhà nước quản lý , bắt đầu xuất hiện chế độ “ Tư học” Cũng do trường tư phát triển nên sách vở, lúc đầu vốn chỉ lưu hành trong quan phủ cũng truyền dần ra ngoài Trong giai đoạn này, học thuật vô cùng phát triển, các trường phái xuất hiện nhiều dẫn đến hiện tượng “ Bách gia tranh minh”, những người đứng đầu các học phái đó đồng thời cũng thường mở các trường tư, thu nhận đồ đệ và dạy học, thậm chí nhiều người còn bày mưu kế sách lược cho các chư hầu Một trong những người đi đầu trong việc mở trường tư và có công lớn trong việc dạy học là Khổng

Trang 22

tử- người được tôn là Vạn thế sư biểu- người thầy của muôn đời Khổng tử còn là người đã thay việc dạy “ Lục nghệ” bằng “ Lục kinh” ( Lục nghệ là dạy lễ- lễ tiết; nhạc- âm nhạc, vũ đạo; xạ-bắn cung; thư- viết chữ; ngự- đánh xe; số- tính toán Lục kinh là dạy kinh lễ-lễ tiết; thư- viết chữ; thi- thơ; nhạc-âm nhạc vũ đạo; kinh Xuân Thu- lịch sử; kinh Dịch-bói toán) Tư tưởng giáo dục của Khổng tử có ảnh hưởng rất lớn tới học phong của Trung Hoa

Đời Tần, Tần Thuỷ Hoàng là người có công lớn trong việc thống nhất chữ viết nhưng lại là kẻ “ đốt sách chôn Nho” gây ra những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng cho nền giáo dục phong kiến Trung Hoa

Bắt đầu từ thời Tây Hán, giáo dục phát triển mạnh mẽ Tư học được khôi phục

và phát triển Hán Vũ Đế tạo nên bước ngoặt lịch sử khi ông đem kết hợp chặt chẽ việc học và việc làm quan với nhau Điều này có ảnh hưởng sâu sắc trong việc học

ở Trung Quốc Yêu thích việc học, Hán Vũ Đế theo chính sách của Đổng Trọng Thư là “ độc tôn Nho thuật”, cho xây dựng nhà Thái học ở Trường An; đặt chức Ngũ kinh bác sỹ để dạy Kinh thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu Học sinh thời Tây Hán gọi là Bác sỹ đệ tử, những bác sỹ này từ 18 tuổi trở lên, mỗi người theo học một kinh, ai có thành tích xuất sắc ( trải qua thi cử, mỗi năm một lần) sẽ được bổ nhiệm làm quan Thời Đông Hán học sinh gọi là Thái học sinh Đó cũng là khởi nguồn cho việc học bám sát theo Ngũ kinh trong lịch sử Phong kiến Trung Hoa

Khổng Tử- Người thầy của muôn đời

Khổng Tử ( - 551-479), người sáng lập Nho gia, là người mở trường tư sớm nhất ở Trung Quốc thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc Ông rất chú trọng tới việc giáo dục, đặc biệt là giáo dục nhân cách “ Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý” Học trò của ông có tới hơn 3000 người, trong đó có 72 người học trò ưu tú,

Trang 23

tinh thông lục nghệ Tư tưởng về giáo dục, cách dạy học của ông đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho đời sau và có ảnh hưởng vô cùng sâu sắc tới nền giáo dục Trung Quốc Những quan niệm, tư tưởng và cách dạy chính của ông là:

 Đối tượng giáo dục: ông là người đi đầu trong việc mở trường tư Trước thời Khổng Tử, giáo dục là đặc quyền đặc lợi của tầng lớp quý tộc Với việc mở trường

tư ông đã đưa cơ hội giáo dục đến với các tầng lớp khác nhau, tạo cơ hội học tập cho tất cả mọi người với quan điểm chính là “ hữu giáo vô loại” và “ tính tương cận, tập tương viễn”

 Mục đích giáo dục: mục đích giáo dục cơ bản xuyên suốt cả đời dạy học của Khổng Tử là dạy cho con người ta biết nhân nghĩa, quan trọng nhất là dạy cho người ta đạt đến bậc nhân Tư tưởng chính của ông là: học nhi ưu tắc tính; biếm học canh giá; bồi dưỡng quân tử

 Nội dung giáo dục: theo Luận ngữ thì Khổng tử dạy bốn nội dung cơ bản là: văn, hành, trung, tín Còn Sử ký viết Khổng Tử dạy Thi, Thư, Lễ, Nhạc Vì mục đích dạy xuyên suốt cả đời Khổng Tử là dạy người ta đạt đến bậc nhân nên nền tảng cơ bản cho sự học của Khổng Tử là hiếu đễ và lễ nhạc

 Nguyên tắc giáo dục: học để dụng; giáo dục đúng đối tượng; khêu gợi dẫn đạo

 Thái độ học: học không mệt mỏi, cầu thị

 Phương pháp dạy: tuỳ từng đối tượng mà dạy; lúc nào cũng học; ôn cố tri tân; không biết thì hỏi; hỏi đến hiểu mới thôi; học kết hợp với hành

 Đặc điểm giáo dục: tính thực dụng, tính lý tưởng và tính sáng tạo

Nguồn: Trần Trọng Kim Đại cương triết học Trung Quốc Nho giáo NXB

TP Hồ Chí Minh.1992 [27]

Đây cũng là thời kỳ hình thành nên hệ thống trường học từ trung ương đến

địa phương Trường ở quận, quốc gọi là học; ở huyện, ấp gọi là hiệu; ở làng, xóm

Trang 24

gọi là tường, tự Ở học và hiệu đặt một kinh sư, ở tường, tự đặt một “hiếu kinh sư”

[28, tr 486] Tuy nhiên các trường học ở địa phương không được coi trọng lắm

Đến đời Nam Bắc triều, việc học càng phát triển hơn nữa, nhất là ở miền Nam Các vua đời này đều mở nhà Nho học Đạo Võ Đế còn quy định cụ thể: ở quận lớn có 2 bác sỹ, 4 trợ giáo dạy 100 học sinh; quận vừa có 2 bác sỹ, 2 trợ giáo, dạy 80 học sinh; quận nhỏ 1 bác sỹ, 2 trợ giáo, 60 học sinh; quận nhỏ nhất 1 bác

sỹ, 1 trợ giáo, 40 học sinh Qua đây có thể thấy việc học hành rất được sự quan tâm của vua chúa

Thời Tuỳ, Đường, nền giáo dục Trung Quốc có sự phát triển rất quan trọng, nhiều trường chuyên ngành được thành lập Có cơ quan chuyên cai quản việc học Đứng đầu là Quốc tử giám Trong Quốc tử giám có sáu trường: Quốc tử học, Thái học, Tứ môn học ( đây là những trường dành cho con em giới quý tộc); Luật học, Thư học, Toán học ( đây là các trường mang tính chuyên môn) Ngoài ra còn có các trường không nằm trong hệ thống Quốc tử giám như Sùng văn quán; Hoằng văn quán; Quảng văn quán Đời Đường còn mở Hằng văn điện chứa hơn 20.000 quyển sách Ở các địa phương có Phủ học, Châu học, Huyện học Do việc học phụ thuộc vào khoa cử nên nội dung dạy học của thời kỳ này vẫn là Ngũ kinh Thầy dạy trong trường được gọi là Bác sỹ kèm theo tên trường ( Bác sỹ Quốc tử học, Bác sỹ Thái học…); Trường địa phương có chức Bác sỹ, văn học, trợ giáo Tuổi học bắt đầu từ 14-19 tuổi; riêng trường luật từ 18-25 tuổi [39, tr 487] Các trường học đều có hạn ngạch về số học sinh Tư liệu phong phú về giáo dục thời kỳ này cho thấy sự phát triển cực thịnh của giáo dục Tuy nhiên giáo dục giai đoạn này cũng như nền giáo dục của cả chế độ phong kiến vẫn không thoát khỏi lối kinh học, việc học và khoa cử kết hợp chặt chẽ với nhau

Đời Tống, Liêu, Kim, Nguyên đều tôn sùng Khổng tử và Kinh học tuy mỗi thời mỗi khác Thời Tống, ngoài Thái học còn mở thêm các trường về luật, toán, thư, hoạ, y, quân sự ( Vũ học), công nghiệp quân sự ( Quân giám học)… Đời Tống

Trang 25

đặt chế độ Tam xá trong trường Thái học, đó là Ngoại xá, Nội xá, Thương xá Học sinh mới vào học ở trường Ngoại xá , sau kỳ thi nếu đạt kết quả nhất, nhì và có đức hạnh thì được lên Nội xá Sau hai năm, Nội xá sinh thi lên Thượng xá Những người tốt nghiệp Thượng xá loại ưu coi như có tư cách tiến sỹ

Thư viện là một đặc điểm nổi bật trong phát triển giáo dục đời

Tống-Nguyên Đời Tống, thư viện mở nhiều, thu hút hàng nghìn học sinh đến học Đầu

đời Tống có bốn thư viện lớn là Bạch Lộc thư viện, Nhạc Mi thư viện, Ứng Thiên thư viện, Tùng Dương thư viện Thư viện thường do tư nhân mở Thư viện không những là nơi dạy học, nơi tự do thảo luận, đọc sách mà còn là một mô hình kinh tế độc lập với ruộng đất và tài sản riêng Thư viện cũng tổ chức học giống mô hình tam xá của nhà nước Thư viện được chia làm ba cấp, học sinh dựa vào kết quả thi

cử để học lên tiếp Đời Nguyên, có tới hơn một trăm thư viện, thậm chí ở những

nơi xa xôi cũng có thư viện (như Thư viện Tô Đông Pha ở đảo Hải Nam) [ 27, tr.188]

Đời Minh, Thanh tuy giáo dục được phổ cập nhưng học thuật lại xơ cứng, không có sức sống Nguyên nhân của tình trạng này là lối thi văn bát cổ đã khiến cho học sinh bám sát theo kinh điển, không còn sức sáng tạo nữa Về hệ thống

trường học, ở Trung ương có Quốc Tử Giám Đời Minh, Quốc Tử Giám mở ở hai

địa điểm là Bắc Kinh và Nam Kinh Học sinh ở Quốc Tử Giám gọi là Cống sinh, Giám sinh Thành phần học sinh rất đa dạng, có cả người thiểu số và lưu học sinh (

người Nhật Bản, Triều Tiên) Đến đời Thanh, Quốc Tử Giám chỉ còn một trường

ở Bắc Kinh Đời Thanh xuất hiện ngũ cống: Bạt cống, Ưu cống, Phó cống, Ân cống, Tuế cống Họ là các cống sỹ ở địa phương được gửi lên học ở Kinh đô

Ở địa phương, theo sự phân chia hành chính có các phủ học, châu học, huyện học Những nơi này đều có Khổng miếu (nơi tế tự Khổng tử), sau Khổng miếu là trường học Giáo quan ở phủ gọi là giáo thụ, ở huyện gọi là giáo dụ, ở châu

Trang 26

gọi là học chính; chức phó đều được gọi là huấn đạo Đây thực chất là cơ quan quản lý tú tài vì chỉ có các sinh viên ( tú tài) thi đỗ mới được vào học

Thư viện đời Minh phần lớn là do tư nhân quản lý, còn đời Thanh là do nhà nước quản lý, chế độ rất nghiêm ngặt

Giáo dục tiểu học đời Minh, Thanh phát triển nhất, đặc biệt đời Thanh Thời

kỳ này có rất nhiều nghiên cứu về tiểu học tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành khoa học khác Đặc điểm giáo dục vỡ lòng thời kỳ này chủ yếu dựa vào học thục Học thục vốn xuất hiện từ đời Đường, dạy các nội dung chủ yếu như là chữ, Tứ

thư, Ngũ kinh Đến đời Minh, Thanh, giáo dục vỡ lòng có ba mô hình: một là tƣ thục, thầy giáo dạy tại nhà; hai là nghĩa học, do các quan hoặc người có tiền thuê

từ đường miếu mạo và mời thầy giáo đến dạy cho con em nhà bình dân; ba là

chuyên quán, do nhà giàu thuê thày tới dạy cho con mình Nội dung dạy vẫn là

dạy chữ, Tứ thư, Ngũ kinh, cao hơn là Sử ký Phương pháp dạy học thời kỳ này rất

hà khắc, ngoài ba ngày lễ Tết, Đoan dương và Trung thu, học sinh học quanh năm,

từ sáng đến tối phải học chữ, học thuộc sách, làm văn, đối chữ và chịu đòn

Thời cổ, giáo dục Trung Quốc rất phát triển Thời Thương Chu, giáo dục luân lý là trung tâm của việc giáo dục, cho dù học các chuyên ngành gì cũng vẫn phải bám theo cột trụ là luân lý và để phục vụ cho giáo dục luân lý Bắt đầu từ đời Hán, Kinh học trở thành nội dung giáo dục chính Tuỳ từng thời, các chế độ giáo dục khác nhau nhưng nhìn chung đều tôn sùng Khổng tử, dạy Kinh học, lối thi khoa cử Nhỏ thì được dạy Tứ Thư, Ngũ Kinh, lớn thì học tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Truyền thống giáo dục lâu đời tuy có được không ít thành tựu, đào tạo được rất nhiều nhân tài, nhưng lại chỉ thiên về lý thuyết, xa rời thực tiễn, lối học khô cứng Chính những điều này đã đẩy Trung Quốc tụt hậu rất xa khi bước vào thời cận đại, bị các nước đế quốc xâu xé Nhưng đó cũng lại là một điều may mắn khi chính điều này đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho các trí thức Trung Quốc tìm ra con đường đi mới cho dân tộc

Trang 27

Như vậy, trải qua các triều đại phong kiến khác nhau, về quy mô giáo dục có khác nhau nhưng nhìn chung cơ cấu giáo dục Trung Quốc trong thời kỳ phong kiến được chia thành các loại như sau:

Loại 1: Giáo dục quan học: do nhà nước mở trường, gồm hai loại là Quốc học và Hương học Giáo viên là các quan phủ, học sinh là các con em tầng lớp quý tộc

Loại 2: Giáo dục tư thục: người đầu tiên mở trường là Khổng Tử với phương châm “ hữu giáo vô loại” đã mở rộng cơ hội học tập đến cho mọi người, góp phần rất lớn trong việc đào tạo nhân tài, phát triển văn hoá, học thuật, đặc biệt thời Xuân Thu, Chiến Quốc

Loại 3: Giáo dục thư viện: là loại giáo dục tư thục cao cấp Điểm khác biệt của nó là: những người đến đây học chủ yếu nghiên cứu học thuật, tu thân, không tham gia khoa cử mà mục đích học chính là theo đuổi học vấn

Đặc điểm chung của giáo dục Trung Quốc phong kiến là: nội dung dạy là kinh điển Nho gia, dạy luân lý; yếu về khoa học tự nhiên; phương pháp giáo dục cứng nhắc; mục tiêu giáo dục chủ yếu là đào tạo nhân tài ra để làm quan Vì thế giáo dục mang tính chính trị sâu sắc

Trong suốt mấy ngàn năm phong kiến, cho dù giáo dục là sự truyền đạt lại kinh nghiệm, tri thức một cách giáo điều, cứng nhắc nhưng giáo dục đã đóng vai trò hết sức quan trọng, cụ thể là: duy trì tư tưởng thống trị của tầng lớp phong kiến, xây dựng một hệ thống xã hội tôn ti trật tự, coi trọng luân lý, sống trong khuôn khổ

“ tam cương, ngũ thường”; đồng thời giáo dục là sự kết tinh trí tuệ ngàn đời, truyền

bá và làm phong phú, phát triển văn hoá Trung Quốc

2.1.2 1840-1949

Những dấu ấn huy hoàng của các nền văn minh Phương Đông cổ đại đã dần lùi vào quá khứ để nhường chỗ cho một Phương Tây rực rỡ phát triển khi mà lịch sử thế giới bước sang trang Cận đại Thời kỳ này, do khoa học phát triển mạnh mẽ,

Trang 28

nhiều phát minh ra đời đã làm thay đổi toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội Phương Tây Các cuộc thám hiểm, phát minh, cách mạng công nghiệp đã diễn ra lần lượt ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Anh…đã đưa đến cho các nước này một sự phát triển chưa từng có trong lịch sử Và kèm theo đó là sự thèm khát về những nguồn tài nguyên thiên nhiên đầy màu mỡ, vô tận ở các lục địa khác Cả Châu Á đã phải thức tỉnh trước những chiến thuyền và tiếng súng đại bác của Châu

Những biến động to lớn của xã hội đã tác động mạnh mẽ đến nền giáo dục Trung Quốc thời kỳ gần 100 năm này Lịch sử đã chứng kiến hàng loạt các cuộc Duy tân, các phong trào cách mạng và đưa đến nhận thức mới về giáo dục; các phong trào Dương vụ, phong trào Thái Bình Thiên Quốc, Nghĩa Hoà Đoàn, Duy Tân Mậu Tuất, Cách mạng Tân Hợi, Phong trào Ngũ Tứ… trong đó đều nổi bật lên vấn đề nhân tài, khoa học kỹ thuật, những bức xúc và đòi hỏi gay gắt cần phải cải cách giáo dục Chỉ có cải cách giáo dục, có một nền giáo dục mới, thay lối Kinh học xa rời thực tế bằng phương châm học để dụng, nhất là học tập khoa kỹ của Phương Tây mới là con đường giúp Trung Quốc thoát khỏi sự xâm lược của các nước đế quốc, mới đưa Trung Quốc đuổi kịp và phát triển bằng và vượt các nước Phương Tây

Trang 29

Ngay từ cuối đời Minh đầu đời Thanh, việc truyền thụ các kiến thức Phương Tây đã đến Trung Quốc, trước hết là qua con đường truyền giáo Các giáo sỹ đem đến kiến thức về thiên văn, toán học, cơ khí, hoả pháp, thuỷ lực học…Các trường học về khoa học, toán học lần lượt ra đời

Chiến tranh Nha phiến kết thúc với việc Hồng Kông thuộc về Anh cũng đã mở

ra một cục diện mới cho giáo dục: các trường phương Tây xuất hiện trên đất Hồng Kông, sau đó là các trường Mỹ, trường châu Âu

Chiến thắng của Nhật trong chiến tranh Trung- Nhật là bằng chứng thuyết phục nhất về sự thành công của Duy Tân Nhật Bản Điều này cũng đã khiến cho số người đi du học Nhật Bản trong giai đoạn này rất đông Năm 1906, số người du học Nhật Bản là 13.000 người, nếu kể cả số người đi du học Mỹ và các nước khác khoảng 20.000 người Lúc này, trường học theo mô hình của Nhật cũng đã xuất hiện trên mảnh đất Trung Hoa

Thời kỳ này xuất hiện các cuộc tranh luận về học thuật vô cùng mạnh mẽ Phong trào Ngũ Tứ ( 1915-1920) đã có những cuộc tranh luận dữ dội về hệ thống giáo dục của Trung Quốc, đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng cần phải theo học khoa kỹ Phương Tây Đảng Cộng Sản ra đời năm 1921 đã rất quan tâm tới giáo dục và muốn nâng cao chất lượng giáo dục

Đấu tranh phê phán cựu học diễn ra mạnh mẽ Lỗ Tấn, Thái Nguyên Bồi phê phán gay gắt lối giáo dục, khoa cử cũ Cũng trong giai đoạn này, có rất nhiều chủ trương về một nền giáo dục mới được đưa ra như là giáo dục bình dân thay cho giáo dục quý tộc của Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu Số lượng người đi du học Nhật Bản, Mỹ đông Điều này cho thấy một tâm thế mới, một luồng gió mới, một quyết tâm mới trong vấn đề cải cách học phong nói riêng và tìm đường cứu nước nói chung của tầng lớp tri thức yêu nước tiến bộ lúc bấy giờ

Trang 30

Từ năm 1840-1949 là giai đoạn đầy biến động của Lịch sử Trung Quốc nói chung và lịch sử giáo dục nói riêng Giáo dục trong giai đoạn này có các đặc điểm sau:

 Giáo dục phát triển tương đối phức tạp: vừa kết thúc chế độ giáo dục cũ vừa mở

 Các trường chuyên nghiệp phát triển mạnh

 Xuất hiện mô hình giáo dục nước ngoài

 Số lượng người đi du học Nhật Bản và Mỹ đông

2.1.3 1949-1966

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, nhân dân Trung Quốc tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng và giành được thắng lợi Ngày 1.10.1949, nước CHND Trung Hoa chính thức ra đời, đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử Trung Quốc Đất nước Trung Quốc bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước, xây dựng XHCN theo mô hình truyền thống, học tập mô hình của Liên Xô Giáo dục cũng không phải là trường hợp ngoại lệ

Đặc điểm lớn của giáo dục trong thời kỳ này là bước chuyển từ giáo dục nửa thực dân, nửa phong kiến sang giáo dục XHCN với mô hình giáo dục của Liên Xô Thời kỳ này đưa ra bốn nhiệm vụ giáo dục:

1 Quán triệt tư tưởng văn hoá, giáo dục của Mao Trạch Đông

2 Học tập kinh nghiệm giáo dục của Liên Xô

3 Tổng kết kinh nghiệm ở các khu giải phóng

Trang 31

4 Phê phán các tư tưởng, hệ thống giáo dục cũ

Năm 1958 Trung Quốc đưa ra phương châm giáo dục: giáo dục phục vụ đường lối chính trị của giai cấp vô sản; giáo dục kết hợp với lao động sản xuất; giáo dục nhất thiết phải chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Cũng trong thời kỳ này, Trung Quốc thực thi các biện pháp nhà trường thành lập công xưởng và nông trường; công trường và hợp tác xã mở trường học; đào tạo đội ngũ vừa hồng vừa chuyên…

Thời kỳ này Trung Quốc cũng đã đạt được các tiến bộ đáng kể: trao thêm quyền cho Bộ Giáo dục và Đào tạo; nâng cao chất lượng giảng dạy; tăng số lượng các trường chuyên nghiệp dạy nghề; số lượng học sinh các cấp đều tăng; việc cử học sinh đi du học các nước và tiếp nhận lưu học sinh tăng…

Tuy nhiên việc áp dụng máy móc mô hình giáo dục của Liên Xô đã không đưa tới sự tiến bộ cần có trong ngành giáo dục Mô hình giáo dục ngày càng trở nên không phù hợp, nhất là vào cuối những năm 1950 Công tác Đảng và sự phát triển kinh tế không phù hợp; tư tưởng tả khuynh và đấu tranh giai cấp trở nên căng thẳng hơn; thất bại của Đại nhảy vọt và những căng thẳng trong quan hệ Xô- Trung

đã khiến Trung Quốc xem xét lại nhiều mặt, trong đó có giáo dục

1966-1978

Trong hơn 10 năm từ 1966-1978 là những năm biến động vô cùng lớn

lao của lịch sử Trung Quốc với cuộc “ Đại cách mạng văn hoá” Thực chất của Đại cách mạng văn hoá là sự đấu tranh tranh giành quyền lực, đấu tranh gay gắt về chính trị và cuốn theo nó là sự biến động hỗn loạn thảm khốc của cả xã hội Trung Quốc với những hậu qủa vô cùng nghiêm trọng Sau Đại nhảy vọt đến Đại cách mạng văn hoá, đất nước Trung Quốc gánh chịu tổn thất về nhiều mặt, trong đó đặc biệt nghiêm trọng là vấn đề văn hoá, giáo dục

Thông tri về việc phát động Đại cách mạng văn hoá được Bộ Chính trị mở rộng đưa ra ngày 16.5.1965 Ngày 26.5.1966 sự kiện Báo chữ to do Nhiếp Nguyên

Trang 32

và sáu bạn học khơi mào đã châm ngòi kích động học sinh đấu tranh chống lại những người quản lý nhà trường Phong trào phản đối này nhanh chóng lan ra khắp

Thời kỳ này, giáo dục và nhà trường đã có những biến đổi quan trọng cả về hình thức lẫn nội dung, chức năng giáo dục Nhà trường được tổ chức theo mô hình quân giải phóng; nhà trường trở thành các cứ điểm cách mạng; thành lập các tổ chức chính trị kiểu quân giải phóng trong nhà trường; học sinh trở thành các Hồng

vệ binh, tiểu vệ binh; các đội Hồng vệ binh, Tiểu vệ binh này tham gia vào các vụ phá phách, bắt người của các cơ quan tổ chức Đảng; đốt sách vở; phá hoại các di tích văn hoá, lịch sử… Nội dung giáo dục trong giai đoạn này là giáo dục các lý tưởng trung thành với Mao chủ tịch Việc vào học ở các trường đại học, cao đẳng dựa vào chế độ xét tuyển “ quần chúng giới thiệu, lãnh đạo phê duyệt, nhà trường thẩm tra” với đối tượng là “ công, nông, binh ưu tú có kinh nghiệm thực tiễn trên hai năm” Các hoạt động khác liên quan tới giáo dục cũng bị đình chỉ như việc cử học sinh đi du học và tiếp nhận lưu học sinh…

Đấu tranh giáo dục trong giai đoạn này cũng có sự thay đổi nghiêm trọng với các nội dung: phủ nhận tri thức; thủ tiêu giáo dục; phá hoại sự nghiệp giáo dục; các đòi hỏi phá vỡ hệ thống, đường lối giáo dục cũ để thiết lập một hệ thống mới…

Trang 33

Từ năm 1976-1978 là giai đoạn chỉnh đốn, khắc phục những sai lầm của Đảng và nhà nước Trung Quốc trên mọi lĩnh vực, trong có bao gồm cả giáo dục Công tác chỉnh đốn giáo dục trong giai đoạn này chủ yếu là: xây dựng lại hệ thống giáo dục; khôi phục lại chế độ tuyển sinh, xác lập vị trí quan trọng của giáo dục, tăng cường đầu tư cho giáo dục; điều chỉnh kết cấu giáo dục

2.1.5 Từ 1978 đến nay

Năm 1978 Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách-mở cửa Giáo dục là một trong những nội dung cải cách quan trọng trong thời kỳ này

Từ năm 1978 đến nay, giáo dục Trung Quốc có những đặc điểm như sau:

2.1.5.1 Khôi phục và thiết lập lại hệ thống giáo dục

Trong thời kỳ Đại cách mạng văn hoá, các trường lớp hoặc bị phá hoại hoặc

bị biến thành mô hình kiểu quân giải phóng; học sinh trở thành các Hồng vệ binh, Tiểu hồng binh Sau Đại cách mạng văn hoá, khôi phục lại hệ thống giáo dục 6-3-3 ( sáu năm tiểu học, 3 năm trung học cơ sở và 3 năm trung học phổ thông) Số lượng học sinh các cấp tăng lên nhanh chóng

Công tác khôi phục lại giáo dục bao gồm các nội dung chính sau:

- Khôi phục lại chế độ tuyển sinh

- Khôi phục và nâng cao đội ngũ giáo viên các cấp tiểu-trung học

- Khôi phục lại các trường đại học

- Giải tán các đội Hồng vệ binh, Tiểu hồng binh; khôi phục lại tổ chức thiếu niên tiền phong

thanh-2.1.5.2 Tiến hành cải cách giáo dục

Tháng 10.1984, Hội nghị Trung ương3 khoá XII ra “ Quyết định về cải cách thể chế kinh tế” Quyết định cũng chỉ ra, cải cách kinh tế cần có một cơ chế giáo dục thích hợp, do đó cải cách giáo dục, khoa học kỹ thuật là một nhiệm vụ cấp bách Ngày 27.5.1985, Bộ Chính trị Trung ương ra “ Quyết định cải cách thể chế giáo dục” Công cuộc cải cách diễn ra toàn diện ở tất cả các bậc, các cấp học, các địa

Trang 34

phương với phương châm là: Giáo dục hướng tới hiện đại hoá; giáo dục hướng

ra thế giới; giáo dục hướng tới tương lai

2.2 KHÁI QUÁT HỆ THỐNG GIÁO DỤC TRUNG QUỐC

HIỆN NAY

2.2.1 Hệ thống giáo dục

Giáo dục Trung Quốc, kể từ ngày Giải phóng đến nay, tuy trải qua những thăng trầm khác nhau, nhưng trên cơ sở một nền giáo dục đã có bề dày truyền thống và nhất là sau 17 năm tiến hành khôi phục và cải cách giáo dục, giáo dục Trung Quốc không những được nâng cao về vai trò mà ngày càng hoàn thiện hơn

 Giáo dục tiểu học và phổ thông trung học:

Giáo dục tiểu học kéo dài 6 năm Nội dung học chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, toán cơ

sở và được giáo dục về đạo đức và ngoại ngữ ( tiếng Anh) Ngoài ra,

 trẻ em cũng tham gia vào các hoạt động thể thao và hoạt động xã hội

Giáo dục trung học có hai bậc là trung học cơ sở và trung học phổ thông Trung học cơ sở kéo dài khoảng 3 hoặc 4 năm Giai đoạn này học sinh học các môn như là hoá học, vật lý học, lịch sử, địa lý, ngoại ngữ Giáo dục sinh lý đang được khuyến khích nhiều hơn Giáo dục tiểu học 6 năm và trung học cơ sở 3 năm là giáo dục bắt buộc, được gọi là K9 Như vậy một người được phổ cập giáo dục ở Trung Quốc kết thúc vào khoảng 12-14 tuổi

Trang 35

Trung học phổ thông tiếp tục với các môn học như ở bậc trung học cơ sở nhưng chuyên sâu hơn về lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Mục đích giáo dục chính là chuẩn bị kiến thức cho học sinh chuẩn bị vào cao đẳng, đại học Trung học phổ thông có hai mô hình là: mô hình phổ biến với chương trình 3 năm trong đó có một số trường chuyên; mô hình thứ hai là chương trình hai năm, tuổi nhập học không quá 22

 Giáo dục cao đẳng-đại học: chương trình đại học chính quy thường kéo dài 4-5 năm, riêng trường Y từ 7-8 năm; hệ cao đẳng, trung cấp kỹ thuật thường từ 2-3 năm

 Giáo dục sau đại học: đào tạo thạc sỹ khoảng từ 2-3 năm; tuổi học không quá 40; chương trình đào tạo tiến sỹ 3 năm, tuổi không quá 45

 Trung học dạy nghề: khoảng 3-4 năm

 Các chương trình giáo dục cho người trưởng thành: nguyên tắc giáo dục là cùng trình độ và cùng chuẩn Thời gian học tập trung tương tự như các trường thường Riêng chương trình tại chức kéo dài hơn 1 năm so với các trường thường

Sơ đồ quản lý giáo dục Trung Quốc nhƣ sau:

Trang 36

Tiểu kết chương 1:

1.Trung Quốc là nước có truyền thống giáo dục lâu đời Trọng tâm giáo dục trong thời kỳ phong kiến là giáo dục luân lý, Ngũ kinh; xa rời thực tế, yếu kém về khoa học tự nhiên

2.Giáo dục truyền thống của Trung Quốc mang tính chính trị- tư tưởng sâu sắc

3.Giáo dục truyền thống Trung Quốc có đóng góp rất lớn trong việc xây dựng nên nền văn hoá rực rỡ và đào tạo ra nhiều nhân tài

ủy ban GD của các

TP lớn trực thuộc

Trung ưong

Bộ Giáo dục Các cơ quan trực thuộc

Hội đồng GD quốc gia

Phòng GD cấp TP

Các Sở GD của các tỉnh và các khu tự trị

Các Vụ chức năng

Phòng GD

cấp huyện

Phòng GD cấp thị xã

Phòng GD

huyện

Phòng GD cấp thị xã

Trang 37

4.Trước năm 1980 trọng tâm của giáo dục là chính trị; sau năm 1980 trọng tâm của giáo dục là kinh tế

5.Nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về chiến lược phát triển con người, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; đào tạo nhân tài; chiến lược giáo dục trong xây dựng đất nước

6.Đưa ra phương châm giáo dục trong thời kỳ mới: Giáo dục hướng tới hiện đại hoá; giáo dục hướng ra thế giới; giáo dục hướng tới tương lai

CHƯƠNG 2

Trang 38

VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC TRONG CẢI CÁCH MỞ CỬA CỦA

TRUNG QUỐC ( TỪ 1978 ĐẾN NAY)

1 QUÁ TRÌNH VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CẢI CÁCH MỞ CỬA 1.1 Khái quát về quá trình cải cách mở cửa của Trung Quốc

( từ năm 1978 đến nay)

1.1.1 Sự cần thiết phải tiến hành cải cách mở cửa

Công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, tình hình khu vực và trong nước có nhiều biến động lớn

Gần 30 năm sau ngày giải phóng, tình hình kinh tế- xã hội Trung Quốc đã

có nhiều thay đổi Trong suốt quá trình đó, đã có thời kỳ phát triển lành mạnh và đạt được nhiều thành tựu rực rõ Tuy nhiên do khuynh hướng tả khuynh phát triển mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, do nhận thức sai lầm về chủ nghĩa xã hội đã dẫn đến sản xuất bị đình trệ, đời sống nhân dân ngày càng thấp kém, tình hình xã hội ngày càng rối ren, phức tạp, điều này đã khiến Trung Quốc phải nhanh chóng tiến hành công cuộc cải cách

Bước vào thập kỷ 80, thế giới có những thay đổi to lớn Do có những cải cách và đường lối phát triển đúng đắn, vận dụng kịp thời những ứng dụng của khoa học công nghệ vào sản xuất mà nhiều nước đã vươn lên thành các nước công nghiệp mới và đạt được tốc độ phát triển cao Tại khu vực Đông Á, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế của thế giới; các nước công nghiệp mới (NICs), các nước trong khu vực Đông Nam Á được coi là những nước phát triển năng động nhất trên thế giới Điều này đã có tác động hết sức mạnh mẽ tới Trung Quốc

Trang 39

Cũng trong thời gian này, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đều có sự điều chỉnh thích ứng với nhịp độ phát triển của thế giới Đó là các nước như Liên Xô, Hungari, Nam Tư …

Đứng trước những tác động và thay đổi hết sức mạnh mẽ của bối cảnh thế giới cũng như khu vực, cùng với những yêu cầu bức xúc của bản thân Trung Quốc cần được giải phóng phát triển, Hội nghị Trung ương 3 khoá XI ĐCS Trung Quốc

đã quyết định tiến hành cải cách, mở cửa

1.1.2 Khái quát tiến trình cải cách mở cửa từ năm 1978 đến nay

1.1.2.1 Giai đoạn thứ nhất: tháng 12-1978 đến tháng 9-1984:

Đây là giai đoạn đầu của cải cách Trọng điểm của cải cách là nông thôn

với các nội dung chính là: Một là, giải quyết mối quan hệ giữa nông dân với “

công xã nhân dân” Mục đích là huỷ bỏ chế độ công xã nhân dân; khôi phục lại tổ chức chính quyền ở nông thôn, công xã nhân dân chuyển thành chính quyền nhân dân xã, đại đội sản xuất thành uỷ ban nhân dân thôn, đội sản xuất chuyển thành

xóm Hai là, phát triển mạnh mẽ thể chế kinh doanh hai tầng, kết hợp giữa kinh

doanh hợp tác xã và kinh doanh hộ cá thể, trong đó lấy khoán đến hộ gia đình làm

cơ sở Ba là, nhà nước nâng giá thu mua nông phẩm khuyến khích phát triển nông

nghiệp [60]

Ở thành thị, Trung Quốc tiến hành cải cách thăm dò, thử nghiệm với hai nội

dung: Một là, mở rộng quyền tự chủ của các xí nghiệp, tách quyền sở hữu ra khỏi quyền kinh doanh Hai là, thí điểm cải cách tổng hợp thể chế kinh tế thành thị với

74 thành phố loại lớn, vừa và nhỏ Năm 1980 xây dựng 4 đặc khu kinh tế; năm

1984, mở cửa 14 thành phố ven biển [60]

1.1.2.2 Giai đoạn thứ hai: từ tháng 10-1984 đến tháng 12-1991: Trọng điểm là cải cách ở thành phố, trong đó cải cách xí nghiệp quốc hữu là trọng tâm, cải cách giá cả là then chốt Cải cách từ lĩnh vực kinh tế chuyển dần sang

Trang 40

các lĩnh vực khác như khoa học kỹ thuật, giáo dục…Năm 1985 mở cửa các thành phố ven sông, năm 1986 mở cửa các bán đảo, đưa ra “Chiến lược kinh tế vùng ven biển”… [60]

1.1.2.3 Giai đoạn thứ ba: từ tháng 1-1992 đến nay:

Đây là giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN Qua cải cách, bộ khung của nền kinh tế thị trường XHCN dần được hoàn thiện gồm 8 vấn đề chính sau:1 Chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các xí nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế; 2 Đẩy mạnh phát triển hệ thống thị trường, cố gắng phát triển thị trường hàng hoá và thị trường tư liệu sản xuất, thị trường tiền tệ; 3 Đi sâu vào cải cách chế độ phân phối và chế độ bảo hiểm; 4 Đẩy mạnh tốc độ cải cách hành chính nhằm làm cho kiến trúc thượng tầng thích ứng với cơ sở kinh tế thị trường XHCN; 5 Ổn định các quan hệ sản xuất cơ bản ở khu vực nông thôn; 6 Cải cách

hệ thống khoa học, công nghệ, giáo dục; 7 Đẩy mạnh cải cách hệ thống pháp lý; 8 Đẩy mạnh cải cách kinh tế đối ngoại [60]

1.2 Thành tựu của cải cách mở cửa

Qua 26 năm tiến hành công cuộc cải cách mở cửa, xây dựng XHCN đặc sắc Trung Quốc, với những phương thức và cách làm độc đáo mang đặc sắc riêng, Đảng và nhân dân Trung Quốc đã đạt được những thành tựu rực rỡ khiến cả thế giới phải kinh ngạc

1.2.1 Nền kinh tế tăng trưởng cao liên tục

Kể từ khi tiến hành cải cách mở cửa từ năm 1978 đến nay, kinh tế Trung Quốc, trong 26 năm đã tăng trưởng cao đều đặn và liên tục Cho dù các số liệu tính toán có khác nhau, nhưng ước tính hàng năm tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc khoảng 9% [42, tr.146]

Ngày đăng: 24/03/2015, 08:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương. NXB Văn hoá thông tin. Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin. Hà Nội 2000
2. Đặng Tiểu Bình, Bàn về cải cách mở cửa của Trung Quốc (sách dịch). NXB Thế giới. Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải cách mở cửa của Trung Quốc (sách dịch)
Nhà XB: NXB Thế giới. Hà Nội 1995
3. Báo cáo con người, Công nghệ mới vì sự phát triển con người. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ mới vì sự phát triển con người
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội 2001
6. Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI. Kinh nghiệm của các quốc gia. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI. Kinh nghiệm của các quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2002
7. Chính sách phát triển kinh tế. Kinh nghiệm và những bài học của Trung Quốc . Tập 3. NXB Giao thông vận tải. Hà Nội.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển kinh tế. Kinh nghiệm và những bài học của Trung Quốc
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải. Hà Nội.2004
8. Nữu Tiền Chung, Dự báo chiến lược thế kỷ XXI (sách dịch). Học viện quan hệ quốc tế. Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo chiến lược thế kỷ XXI (sách dịch)
9. Hồ An Cương, Trung Quốc những chiến lược lớn (sách dịch). NXB Thông tấn Hà Nội . 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc những chiến lược lớn (sách dịch)
Nhà XB: NXB Thông tấn Hà Nội . 2003
10. Diêm Ái Dân, Gia giáo Trung Quốc cổ ( sách dịch). NXB Trẻ TP Hồ Chí Minh. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia giáo Trung Quốc cổ ( sách dịch)
Nhà XB: NXB Trẻ TP Hồ Chí Minh. 2001
11. Giang Trạch Dân, Bàn về CNXH đặc sắc Trung Quốc (sách dịch). NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về CNXH đặc sắc Trung Quốc (sách dịch)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội 2003
12. Đỗ Đức Định (chủ biên), CNH-HĐH. Phát huy lợi thế so sánh. Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNH-HĐH. Phát huy lợi thế so sánh. Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:           Tình hình phổ cập giáo dục ở các nước đã phát triển - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 2 Tình hình phổ cập giáo dục ở các nước đã phát triển (Trang 17)
Bảng 1:              Quan hệ giữa nguồn nhân lực và phát triển kinh tế. - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 1 Quan hệ giữa nguồn nhân lực và phát triển kinh tế (Trang 17)
Bảng  3:  Diện  tích  nhà  ở  bình  quân  đầu  người  của  cư  dân  thành  thị và  nông thôn ( m 2 ) 。 - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
ng 3: Diện tích nhà ở bình quân đầu người của cư dân thành thị và nông thôn ( m 2 ) 。 (Trang 43)
Bảng 5: Tổng hợp trình độ văn hoá của Trung Quốc - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 5 Tổng hợp trình độ văn hoá của Trung Quốc (Trang 47)
Bảng 6:               Nguồn vốn con người của Trung Quốc - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 6 Nguồn vốn con người của Trung Quốc (Trang 48)
Bảng 7:   So sánh nguồn vốn con người của Trung Quốc với các nước khác - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 7 So sánh nguồn vốn con người của Trung Quốc với các nước khác (Trang 49)
Bảng 8: Đóng góp vào tốc độ tăng trưởng của  Trung Quốc (%) - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 8 Đóng góp vào tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc (%) (Trang 50)
Bảng 10 : Lịch sử phát triển nguồn vốn nhân lực của Trung Quốc  ( từ đầu công nguyên đến 2000) - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 10 Lịch sử phát triển nguồn vốn nhân lực của Trung Quốc ( từ đầu công nguyên đến 2000) (Trang 52)
Bảng 11:       Thay đổi lực lượng lao động trong  3 khu vực - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 11 Thay đổi lực lượng lao động trong 3 khu vực (Trang 56)
Bảng 15:    So sánh thu nhập  GNI của Trung Quốc và các nước - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 15 So sánh thu nhập GNI của Trung Quốc và các nước (Trang 67)
Bảng 16: Hệ số Engel của gia đình nông thôn và thành thị ở  Trung Quốc - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 16 Hệ số Engel của gia đình nông thôn và thành thị ở Trung Quốc (Trang 68)
Bảng 19: Một số chỉ tiêu về đời sống văn hoá của Trung Quốc - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 19 Một số chỉ tiêu về đời sống văn hoá của Trung Quốc (Trang 72)
Bảng 23: So sánh đầu tư GD của Trung Quốc và các nước khác ( 1997) - vai trò của giáo dục trong cải cách mở cửa ở Trung Quốc (từ năm 1978 đến nay
Bảng 23 So sánh đầu tư GD của Trung Quốc và các nước khác ( 1997) (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w