Thời trung cổ, thống trị lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội là tư tưởng thần quyền, nhưng những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền vẫn tồn tại và ẩn sâu ngay trong chính các nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
====================
NGUYỄN THỊ TƯƠI
TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ XVII – XVIII
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Triết học
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
====================
NGUYỄN THỊ TƯƠI
TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ XVII – XVIII
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học : Ts Trương Quốc Chính
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 10 Chương 1: TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ XVII -XVIII 10 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII 10 1.2 Cơ sở lý luận của tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII 13
1.2.1 Tư tưởng sơ khai về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây
Âu thời cổ đại 13 1.2.2 Tư tưởng thần quyền thời trung cổ và học thuyết chính trị phi tôn giáo của Makiaveli thời Phục hưng 23
Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG VỀ
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ XVII - VIII 34 2.1 Quan điểm về quyền tự nhiên, chủ quyền nhân dân và khế ước
xã hội 34 2.2 Quan điểm về sự phân quyền 55 2.3 Quan điểm về nhà nước và pháp luật 75 2.4 Một số giá trị và hạn chế của tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII 83 KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta, bên cạnh những đổi mới mạnh
mẽ về kinh tế, xây dựng và phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thì về mặt chính trị, ở kiến trúc thượng tầng, vấn
đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu khách quan Đảng và Nhà nước luôn xác định một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng
là tiếp tục xây dựng nhà nước ta theo hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân, với tính chất là công cụ bảo vệ vững chắc các quyền tự do của nhân dân
Lý thuyết nhà nước pháp quyền được coi là xuất phát ở Tây Âu, gắn liền với tên tuổi của các nhà triết học - chính trị như G.Lôccơ, S.L Môngtexkiơ và G.G Rutxô Cội nguồn của lý thuyết này xâu xa hơn phải
kể từ triết học Phương Tây thời cổ đại và đạt đến đỉnh cao ở thế kỷ XVII – XVIII Thời cổ đại, nó mới chỉ là sự phôi thai dưới dạng các ý tưởng mang tính đơn biệt của việc tổ chức quyền lực nhà nước, đề cao và phát huy vai trò của pháp luật cũng như mối liên hệ giữa nhà nước và pháp luật Thời trung cổ, thống trị lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội là tư tưởng thần quyền, nhưng những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền vẫn tồn tại và ẩn sâu ngay trong chính các nhà thần học, bởi tư tưởng về nhà nước pháp quyền là những tư tưởng tiến bộ phản ánh hiện thực khách quan của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, hướng đến bình đẳng, dân chủ và
tự do Đến thời Phục hưng và cận đại, những tư tưởng này được tiếp tục bổ sung, phát triển vượt bậc, có những thay đổi căn bản về chất và trở thành những tư tưởng có giá trị phổ biến mang tính nhân loại Công lao ấy không thể không kể đến sự đóng góp lớn của các nhà tư tưởng như G Lôccơ, S.L
Trang 5Ở Việt Nam, tư tưởng về nhà nước pháp quyền xuất hiện chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, thể hiện ở quan điểm về vai trò
của pháp luật với tư cách là công cụ quản lí nhà nước Với Tuyên ngôn độc
lập và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã thể hiện tư tưởng về một nhà nước độc lập, dân chủ, cộng hòa và bước đầu định hình về một nhà nước mà quyền lực thuộc về nhân dân Sau đó, ý tưởng hướng đến một nhà nước có yếu tố pháp quyền được thể hiện trong nguyên tắc quyền lực nhà nước và tổ chức quyền lực nhà nước của Hiến Pháp năm 1946 Đến Đại hội VI (12/1986), tư tưởng pháp quyền đã bắt đầu định hình trong quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước, nhưng thuật ngữ nhà nước pháp quyền chưa được sử dụng trong văn kiện Đến tận Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (4/1994), lần đầu tiên thuật ngữ này mới được sử dụng trong văn kiện Tư tưởng đó được phát triển liên tục qua các Đại hội VII, VIII và đến Đại hội IX
(4/2001), Đảng ta xác định Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng và chỉ rõ: “Nhà nước ta là công cụ chủ
yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”[13, 131] Đại hội X, Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
Như vậy có thể thấy, trong quá trình lãnh đạo đất nước từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định việc tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thực tế cho thấy chúng ta cũng đang ở giai đoạn định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chứ không có nghĩa là đã đạt được nhà nước pháp quyền một
Trang 6cách đầy đủ Để công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam có thể thu được những kết quả thực sự, bên cạnh việc trở lại nghiên cứu những tư tưởng kinh điển của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước thì việc nghiên cứu những tư tưởng về nhà nước pháp quyền ở Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII là hết sức quan trọng Trong một thế giới đầy biến động như hiện nay, vai trò của nhà nước cũng như các vấn đề
về nhà nước và pháp luật ngày càng trở nên phức tạp và có ý nghĩa quan trọng đối với việc nhận thức cũng như thực tiễn tổ chức hoạt động của nhà nước một cách có hiệu quả
Tìm hiểu tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII sẽ cung cấp thêm nhiều cơ sở lí luận cho việc thực thi quyền lực nhà nước, đổi mới hệ thống chính trị, đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân Điều này còn đặc biệt quan trọng khi chúng ta đang trong công cuộc xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Vì những lí do trên tôi chọn vấn đề
“Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII –
XVIII” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền cũng như các vấn đề về nhà nước pháp quyền trong lịch sử từ lâu đã được các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
Trước hết, trực tiếp liên quan đến luận văn là ba tác phẩm nổi tiếng của ba nhà triết học G Lôccơ, S.L Môngtexkiơ và G.G.Rutxô Những tác phẩm đó đã được các tác giả Việt Nam dịch sang tiếng Việt
Năm 1689, Lôccơ viết cuốn Khảo luận thứ hai về chính quyền -
Trang 7học thuyết về nhà nước dựa trên cơ sở lý thuyết về quyền tự nhiên và khế ước xã hội Với những nội dung hợp lí, tiến bộ trong tác phẩm, G Lôccơ được xem là người chính thức khởi thảo ra học thuyết phân quyền Đây là tác phẩm thu hút sự quan tâm của nhiều nhà chính trị trong đó có S.L Môngtexkiơ và G.G Rutxô Cuốn sách này đã được dịch giả Lê Tuấn Huy dịch, nhà xuất bản Tri thức in năm 2007
Năm 1996, nhà xuất bản Giáo dục và trường Đại học Khoa học Xã
hội Nhân văn Hà Nội xuất bản tác phẩm Tinh thần pháp luật (L’esprit des
lois) của S.L Môngtexkiơ cũng do dịch giả Hoàng Thanh Đạm dịch Cuốn sách được xuất bản năm 1748 Tác phẩm đã phác thảo những nét cơ bản về
xã hội công dân và nhà nước pháp quyền Trong đó đã tiếp tục phát triển lí
thuyết phân quyền và xây dựng ý tưởng về cơ chế kiềm chế, kiểm soát lẫn nhau của ba bộ phận lập pháp, hành pháp, tư pháp S.L Môngtexkiơ đã đề cập và lí giải hàng loạt vấn đề lí luận và thực tiễn trong luật học cũng như khoa học đương thời Đây là cuốn sách mà S.L Môngtexkiơ đã “làm việc bằng cả cuộc đời mình” Cuốn sách có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với chính tác giả cũng như các học giả sau này
Tác phẩm Bàn về khế ước xã hội của G.G Rutxô ra đời năm 1762
thường được coi là tác phẩm kinh điển chứa đựng những tư tưởng tiên phong về cách mạng dân chủ Trong đó trình bày những tư tưởng cơ bản của G.G G.G Rutxô về xã hội, xây dựng xã hội công dân và nhà nước pháp quyền Tác phẩm này được dịch giả Hoàng Thanh Đạm dịch xong năm
1982, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh in năm 1992 Tác giả Trọng
Chân trong bài Tìm hiểu Khế ước xã hội, được trích ở đầu tác phẩm đã viết:
“Có những cuốn sách khi tác giả của nó còn sống thì bị cấm đoán, truy nã, nhưng tư tưởng của sách thì tạo ra sự chuyển biến lớn lao trong xã hội và
đã trở thành di sản trí tuệ quý báu cho nhiều thế hệ mai sau” [49, 11]
Trang 8Ở Việt Nam những năm gần đây, có nhiều cuốn sách viết về chủ đề nhà nước pháp quyền được công bố Trước hết, các nghiên cứu về nhà nước pháp quyền tại Pháp, Mỹ, Đức…trong vài thập niên qua đã được trình
bày tổng thuật trong chuyên khảo Tìm hiểu về nhà nước pháp quyền do
viện nhà nước và pháp luật chủ trì, Đào Trí Úc chủ biên, nhà xuất bản Pháp lý ấn hành năm 1992 Đây là một trong những công trình sớm nhất về nhà nước pháp quyền tại nước ta Năm 1995, Viện Nghiên cứu Nhà nước
và Pháp luật, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành cuốn Những lý luận
cơ bản về nhà nước và pháp luật, đây là một trong những công trình rất có
ý nghĩa trong việc bàn về nhà nước dưới khía cạnh pháp lý
Bên cạnh đó còn có những cuốn sách quan trọng liên quan đến các
vấn đề lý luận về nhà nước và pháp luật như: Nhập môn triết học chính trị của Phạm Xuân Đế, (nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1994); Lý luận
chung về nhà nước và pháp luật do Trần Ngọc Đường chủ biên, (nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, 1999); Lịch sử Triết học phương Tây trước Mác do
Trần Văn Phòng chủ biên, (nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2003); cuốn
Triết học chính trị của Môngtexkiơ với việc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Lê Tuấn Huy, (nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh, 2006) …Nhìn chung, các tác phẩm này đều chứa đựng những nội dung rất có giá trị liên quan đến nhà nước và pháp luật, tư tưởng
về nhà nước pháp quyền, về khoa học chính trị, và là nguồn tư liệu phong phú cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về nhà nước, pháp quyền, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Liên quan đến nội dung về nhà nước pháp quyền còn có nhiều luận văn, luận án của nhiều tác giả khác như:
Luận văn Thạc sĩ của Trần Hương Giang Vấn đề tự do và bình đẳng
Trang 9tưởng về tự do và bình đẳng của hai nhà tư tưởng lớn thời kỳ cận đại ở Tây
Âu là S.L Môngtexkiơ và G.G Rutxô
Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Dịu, thực hiện năm 2010 với đề
tài Quan niệm chính trị - xã hội của G Lôccơ cũng giúp ta tiếp cận sâu hơn
tư tưởng về nhà nước pháp quyền của ông, thông qua việc phân tích tác
phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền
Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Châu Loan, thực hiện năm 2007
với đề tài Tư tưởng triết học chính trị Rutxô trong tác phẩm “Bàn về khế ước
xã hội, giúp ta hiểu một cách chi tiết và khái quát những tư tưởng chính trị nổi
bật của G.G Rutxô, thể hiện trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội
Luận văn thạc sĩ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay do tác giả Nguyễn Thị Phương Quỳnh thực hiện năm 2010 Tác
giả luận văn đã trình bày khái quát những tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử; đồng thời chỉ ra những thành quả, phân tích những mặt chưa làm được, giải pháp cho vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Ngoài ra, vấn đề về nhà nước pháp quyền và tư tưởng về nhà nước pháp quyền cũng được đề cập ở nhiều bài viết trên nhiều tạp chí khác
nhau, dưới nhiều khía cạnh: Một số tư tưởng triết học chính trị của G
Lôccơ, thực chất và ý nghĩa lịch sử của tác giả Đinh Ngọc Thạch, Tạp chí
Triết học, số 1 - 2007; G Lôccơ – nhà triết học lớn của phong trào khai
sáng (Phạm Văn Đức, Tạp chí Triết học, số 2 - 2008); Quan niệm của G Lôccơ về sự hình thành và bản chất quyền lực nhà nước trên Tạp chí Thông
tin Chính trị học, số 9 - 2008 của tác giả Lê Công Sự Bài Tư tưởng về nhà
nước pháp quyền trong lịch sử triết học trước Mác của tác giả Hoàng Thị
Hạnh, đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 11 - 2008
Trang 10Như vậy, có thể thấy rằng, trong các lí thuyết xã hội, vấn đề nhà nước là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả
và đã có rất nhiều công trình của nhiều nhà khoa học đề cập đến vấn đề nhà nước Tuy nhiên, những công trình đó chỉ mới đề cập đến một khía cạnh nào đó, hay tìm hiểu tư tưởng của riêng một tác giả nào đó, mà chưa khái quát những tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong một thời kỳ lịch sử một cách logic, có hệ thống theo quy luật phát triển như một dòng chảy của lịch
sử vấn đề Luận văn này mong muốn bước đầu thực hiện việc hệ thống lại các tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII, với việc tìm hiểu, phân tích, so sánh tư tưởng về nhà nước pháp quyền của các triết gia tiêu biểu thời kỳ này là G.Lôccơ, S.L Môngtexkiơ
và G.G Rutxô
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ một số nội dung cơ bản của tư tưởng
về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII cũng như bước ngoặt mà nó tạo ra trong lịch sử triết học chính trị
Để thực hiện mục đích trên, luận văn xác định một số nhiệm vụ sau:
- Phân tích điều kiện kinh tế - xã hội và cơ sở lý luận hình thành tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII
- Làm rõ nội dung tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII, thông qua tìm hiểu tư tưởng của một số triết gia tiêu biểu của thời kỳ này Đánh giá về giá trị và ý nghĩa của những tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là quan
Trang 11- Phương pháp nghiên cứu: để thực hiện đề tài, ngoài việc vận dụng
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: kết hợp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, diễn dịch và quy nạp, đối chiếu, so sánh, khái quát hoá
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tâp trung vào một số nội dung
trong quan niệm về nhà nước pháp quyền của triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát những tư tưởng về nhà
nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII qua các nhà
tư tưởng tiêu biểu của thời kỳ này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần vào hệ thống lại tư tưởng của các triết học Tây
Âu thế kỷ XVII - XVIII về nhà nước pháp quyền, nêu những đóng góp mà các nhà triết học thời kỳ này đã đem lại cho thực tiễn chính trị cũng như kho tàng tri thức nhân loại
Có thể dùng kết quả nghiên cứu của luận văn làm tư liệu tham khảo trong hoạt động quản lý nhà nước, trong hoạt động nghiên cứu và giảng dạy các chuyên môn có liên quan, phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên Luận văn đồng thời có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các tác giả khác muốn nghiên cứu đề tài này
7 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có hai chương, bốn tiết
Chương 1, “Tiền đề ra đời của tư tưởng về nhà nước pháp quyền
trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII”
Chương 2, “Một số nội dung cơ bản của tư tưởng về nhà nước pháp
Trang 12NỘI DUNG Chương 1:
TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ XVII -XVIII
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII
Thế kỷ XIV, ở châu Âu có nhiều chuyển biến lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và tạo ra bước ngoặt lịch sử mới Trước hết, các phát minh kỹ thuật và sự phát triển của khoa học đã mở màn những chuyển biến lớn về kinh tế - xã hội Việc sử dụng la bàn, kỹ thuật in và máy
in là ba phát minh được xem như tạo nên tiền đề cho phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với nền sản xuất hiện đại, năng xuất lao động cao xuất hiện đã thay thế nền sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu trước đây Những phát minh ra máy dệt, máy hơi nước
đã làm cho công nghiệp dệt, nghề luyện kim phát triển Nhất là việc chế tạo đồng hồ cơ học giúp người lao động sản xuất có kế hoạch, tăng trưởng năng suất lao động Công cụ sản xuất nông nghiệp dần được thay thế bằng các công cụ hiện đại hơn Nhờ đó, công nghiệp ngày càng phát triển, công trường thủ công xuất hiện ở Italia, sau đó lan sang Anh, Pháp và nhiều nước khác Việc phát minh ra thuốc súng, la bàn làm thay đổi quân đội và phát triển ngành đóng tàu, hàng hải, tạo ra con đường thông thương giữa các nước trong khu vực Việc sử dụng cơ giới hoá và sản xuất hàng loạt đã mang đến những bước phát triển đột phá cho công nghiệp thương mại Những phát kiến địa lý đã mở rộng không gian thương mại Châu Âu, thúc đẩy sản xuất hàng hoá theo hướng tư bản chủ nghĩa Việc tìm ra Châu
Mỹ của Crixtôp Côlômbô đã làm cho kinh tế châu Âu hùng mạnh lên những năm sau đó Việc mở rộng không gian địa lý của các châu lục cũng
Trang 13nghĩa thực dân Các nước tư bản sớm phát triển như Anh, Pháp, Tây Ban Nha tiến hành xâm chiếm thuộc địa, mở rộng thị trường tiêu thụ và cơ vét tài nguyên của các nước thuộc địa Thời kỳ này được Mác - Ăngghen nhận xét: “Giờ đây lần đầu tiên người ta đã thật sự phát hiện ra trái đất và đặt nền móng cho buôn bán quốc tế sau này và … đại công nghiệp hiện đại” [35, 459]
Tuy nhiên, sự chia cắt về kinh tế, chính trị, xã hội dưới chế độ cát cứ phong kiến ngày càng cản trở xu thế phát triển của lịch sử Tầng lớp tư sản
dù mới xất hiện nhưng ngày càng có vị trí quan trọng đối với đời sống kinh
tế - xã hội Trong bối cảnh đó, tại Italia - nơi được coi là quốc gia tư bản sớm nhất của Tây Âu đã bắt đầu một trào lưu văn hoá lớn - văn hoá Phục hưng Phong trào Phục hưng phát triển trong suốt thế kỷ XIV - XV và đạt cực thịnh ở thế kỷ XVI Trong phong trào Phục hưng, các giá trị văn hoá, tinh thần, nhân văn cổ đại sau “đêm trường trung cổ” bị lãng quên nay được phục hồi Những di sản văn hoá đó có ý nghĩa lớn đối với xã hội Tây
Âu thời kỳ này, như Ăngghen từng nói: “Không có sơ sở của nền văn minh
Hy Lạp và đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại” [35, 254] Nhiều công trình kiến trúc, những giá trị văn hóa tinh thần quật khởi và anh hùng thời cổ đại sau giấc ngủ dài giờ đây được sống lại và mang đến những luồng sinh khí mới cho cả Châu Âu Con người châu Âu khát khao một cuộc sống thực sự là của chính mình, cuộc sống mới có sự soi rọi của ánh bình minh của xã hội mới
Khát khao trở dậy vươn mình trong ánh bình minh của nền văn minh công nghiệp ấy của người châu Âu cùng với ước muốn giải phóng mình đến mãnh liệt đã đưa đến việc nổ ra nhiều cuộc cách mạng tư sản lớn ở nhiều nước Tây Âu Cuộc cách mạng tư sản đầu tiên nổ ra ở Hà Lan, sau
đó cuộc cách mang tư sản Anh nổ ra (1642 - 1648) báo hiệu giờ cáo chung
Trang 14của chế độ phong kiến châu Âu đã đến Tiếp theo, đại cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794) nổ ra đã có ảnh hưởng lớn tới lịch sử thế giới nói chung
và lịch sử triết học Tây Âu cận đại nói riêng Có thể nói, sự quá độ từ chế
độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa là nền tảng thực tiễn xã hội của triết học Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII Nền tảng thực tiễn ấy đã đưa tới một thế giới quan mới cho các nhà triết học thời kỳ này như: Bêcơn, T Hốpxơ, G Lôccơ và sau này là S.L Môngtexkiơ, G.G Rutxô Cũng vào thời gian này, xuất hiện phong trào cải cách tôn giáo và ngày càng có tiếng vang lớn đối với đời sống chính trị, văn hoá châu Âu Phong trào này thu hút sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân đấu tranh bảo vệ quyền lợi của tầng lớp mình Các học thuyết chính trị - xã hội được hình thành trên cơ sở sự khác nhau của các tầng lớp trong xã hội Từ trong phong trào cải cách tôn giáo, khái niệm bình đẳng, tự do được sử dụng, bắt đầu từ tư tưởng của của cộng đồng Cơ đốc giáo cho rằng không ai có thể là
kẻ dưới của người khác Hai khái niệm bình đẳng, tự do sau đó đã trở thành nền tảng của hệ tư tưởng dân chủ của giai cấp tư sản cấp tiến ở châu Âu Phong trào này đã thực hiện các hoạt động cải cách giáo hội, huỷ bỏ tu viện, loại bỏ giáo sĩ, giải phóng con người khỏi uy quyền áp đặt của nhà thờ Những hoạt động đó góp phần giúp con người có thể thoát khỏi ách thống trị về chính trị và tư tưởng của nhà thờ Từ đó mà liên minh nhà nước, nhà thờ dần trở nên lỏng lẻo Người ta kêu gọi con người hãy đặt lòng tin ở chính mình chứ không phải đặt lòng tin nơi Chúa như trước đây Người châu Âu sau ngàn năm đọc kinh cầu Chúa, nay đã cảm nhận được hạnh phúc, tự do, thiên đường ở ngay chính cuộc sống của họ Vẻ đẹp của những thiên thần, Đức Mẹ hay các thánh chính là vẻ đẹp của những thiếu
nữ, những cô bé, cậu bé, những người đàn ông khỏe mạnh đang hiện hữu
Trang 15trong chính cuộc sống trần tục Điều đó dần thể hiện sự thắng lợi của chủ nghĩa vô thần đối với hữu thần
Có thể nói, hoàn cảnh lịch sử Tây Âu thế kỷ XV - XVIII và nền tảng
tư tưởng trên đây đã đưa đến sự ra đời những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thời kỳ cận đại Tư tưởng về nhà nước pháp quyền thời kỳ này không chỉ là sự tiếp thu giá trị của các tư tưởng truyền thống mà còn phát triển ngày càng sâu sắc với những màu sắc riêng Nói về thời kỳ này, Ăngghen nhận xét: “Đó là một cuộc đảo lộn tiến
bộ nhất mà từ xưa tới nay, nhân loại đã trải qua; đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng
lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lằm tài, lắm nghề và các mặt học thức sâu rộng” [35, 459 - 460]
1.2 Cơ sở lý luận của tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII
1.2.1 Tư tưởng sơ khai về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thời cổ đại
Lịch sử các học thuyết chính trị và pháp luật trên thế giới cho thấy,
sự phôi thai các tư tưởng về nhà nước pháp quyền đầu tiên của nhân loại có
từ rất lâu đời Ở phương Tây cổ đại, tư tưởng đó ra đời gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp Ngay
từ thời Hy Lạp cổ đại, người ta đã quan tâm tới vai trò của pháp luật cũng như mối quan hệ giữa công dân và nhà nước trong việc thiết lập một trật tự chung Thế kỷ XI - VI (TCN) các nhà tư tưởng Hy lạp cổ đại đã chỉ ra rằng, sự khẳng định các nguyên tắc công bằng, pháp chế và một cuộc sống vĩnh hằng bao giờ cũng gắn liền với quyền năng của các thiên thần trên núi Ôlimpơ, đứng đầu là thần Zơt Thần Zơt (trong trường ca nổi tiếng Iliat và
Trang 16Ôđixê) được miêu tả như một đấng tối cao ban phát công lí chung và trừng trị những kẻ gây nên bạo lực
Cũng tại Hy lạp cổ đại, vào khoảng thế kỷ V (TCN) đã xuất hiện nền dân chủ sớm nhất trong lịch sử loài người, nền dân chủ trực tiếp Những tư tưởng triết học chính trị đầu tiên bắt đầu từ mảnh đất này Cùng với đó là
sự xuất hiện của nền cộng hòa Rome (509 - 31 TCN) với sự kết hợp giữa những yếu tố của một nền “quân chủ kép”, một chính thể quý tộc và một nền dân chủ
Một trong những nhà cải cách đầu tiên đưa ra những tư tưởng về nhà nước và dân chủ ở Hy lạp là Xôlông (638 - 559), ông là một nhà lập pháp, một nhà hoạt động xã hội đã thực hiện những cải cách xã hội lớn có
ý nghĩa Ông đã áp dụng tư tưởng kết hợp sức mạnh với pháp luật trong việc tổ chức nhà nước trên nguyên tắc dân chủ Xôlông đã từng khẳng
định: Ta giải phóng tất cả người bằng quyền lực pháp luật, bằng sự kết hợp
sức mạnh với pháp luật Ông cho rằng để đạt tới tự do và công bằng thì
quyền lực nhà nước phải đặt ngang hàng với pháp luật: “chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất” [39, 220] Tư tưởng của Xôlông về nhà nước và pháp luật lúc bấy giờ đã đặt nền móng cho những
tư tưởng của những nhà hoạt động xã hội sau này
Xôcrát (469 - 399 TCN) là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất
của lịch sử tư tưởng nhân loại Ông được Hêghen sau này coi là “bước ngoặt lịch sử vĩ đại” trong triết học Hy Lạp cổ đại Xôcrát không để lại tác phẩm nào vì ông chỉ thể hiện tư tưởng của mình qua đối thoại, diễn thuyết Tuy nhiên những gì mà Xôcrát để lại cho nhân loại là rất lớn lao, trong đó
có tư tưởng về đạo đức, về nhà nước và pháp luật Bản thân không trực tiếp tham gia vào các công việc nhà nước, nhưng ông được đánh giá là “người
Trang 17về quan hệ khế ước giữa nhà nước và công dân của mình” [dẫn theo 24, 120] Trước tình trạng nền dân chủ Athen cuối thế kỷ V (TCN) lâm vào khủng hoảng, Xôcrát đã lên tiếng phản đối nền dân chủ Athen Ông khẳng định “quyền lực căn cứ không phải trên pháp luật, mà trên thói chuyên quyền của người cầm quyền, quyền lực như vậy chống lại nhân dân” [dẫn theo 45, 175] Tuy nhiên sự phản đối đó không phải là ông muốn dùng bạo lực để thay thế nó bằng một hình thái chính trị khác, mà là ông muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện nền dân chủ, ở đó có người cầm quyền xứng đáng, mang lại hạnh phúc cho nhân dân Ngoài ra, Xôcrát còn thể hiện quan điểm lên án kịch liệt đối với nền bạo chính độc đoán, dã man, phản tiến bộ
Xôcrát ủng hộ triệt để nguyên tắc tư tưởng pháp chế khi cho rằng, việc
tổ chức đời sống nhà nước có đạo đức không thể thiếu luật pháp, cũng như không thể có thứ luật pháp nào đứng bên ngoài nhà nước Ủng hộ nguyên tắc tuân thủ pháp luật, ông cho rằng: công lí nằm ở trong sự tuân thủ pháp luật hiện hành; sự công minh và sự hợp pháp đều là một Mỗi một công dân mới của nhà nước đều phải tôn trọng các trật tự, quy định của nhà nước, đó
là sự tuân thủ pháp luật, và nếu công dân của nhà nước nào tuân thủ pháp luật thì nhà nước đó sẽ vững mạnh Vì thế, ông kêu gọi mỗi công dân hãy thể hiện sự trung thành tuyệt đối của mình với nhà nước và luật pháp
Xôcrát được biết đến là một nhà đạo đức duy lí, ông đã vận dụng những quan điểm về đạo đức duy lí vào quan điểm chính trị để thực hiện chủ trương duy lí hóa nhà nước Điều này thể hiện ở chỗ, ông đưa ra tiêu chuẩn của người cầm quyền nhà nước là phải có tri thức và năng lực, phải xứng đáng và biết cai trị Họ phải là người biết kết hợp giữa đạo đức và pháp luật, mà những người có phẩm chất đạo đức lại thuộc tầng lớp quý tộc Bên cạnh đó, người cầm quyền theo Xôcrát phải luôn học cách kìm chế
Trang 18dục vọng cá nhân, luôn học hỏi, trau dồi, nâng cao tri thức để phụng sự sự nghiệp của nhà nước và cũng như mang lại cuộc sống tốt nhất cho công dân của nhà nước đó, tức là đạt tới phúc lợi cho toàn bộ nhà nước Vậy nên, cùng với việc phê phán nền bạo chúa, Xôcrát đã cho rằng nhà nước quý tộc
là ưu việt nhất
Như vậy, từ sự vận dụng những quan điểm đạo đức duy lí vào quan điểm chính trị, Xôcrát đã có những tư tưởng tiến bộ về vấn đề nhà nước và pháp luật khi khẳng định tính tất yếu của luật pháp trong việc xây dựng một nhà nước có trật tự Những tư tưởng đó cũng như cuộc đời bản thân Xôcrát
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự nghiệp triết học của người học trò của ông
là Platôn
Platôn (427 - 347 TCN) là một trong những nhà triết học, nhà tư
tưởng kiệt xuất nhất thời cổ đại Ông xuất thân trong một dòng họ quý tộc Athen, dòng họ này đã cống hiến cho Hy Lạp cổ nhiều nhà hoạt động chính trị, nhiều tướng lĩnh quân sự và nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng Xuất phát đó
có ảnh hưởng nhất định đến sự thành công của ông trong các học thuyết chính trị - triết học Các tư tưởng chính trị - triết học của ông được trình
bày trong ba tác phẩm: Chính khách (Statesman), Luật pháp (Law) và Nền
cộng hòa (Republic)
Trong tác phẩm Nền cộng hòa, ông xác định, người cầm quyền phải
gạt ý chí, quyền lợi cá nhân sang một bên để tuân thủ ý chí của pháp luật Ông cho rằng sẽ có sự sụp đổ mau chóng của nhà nước ở nơi nào mà pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của ai đó, còn ở đâu mà
“Luật pháp đứng trên nhà cầm quyền, còn họ chỉ là nô lệ của luật pháp thì
có sự cứu thoát của nhà nước” [61, 11] Nhà nước phải xây dựng một đạo luật chính trị công bằng xác định vị thế ngang nhau giữa con người trong
Trang 19phải cao hơn lợi ích cá nhân Một nhà nước công lý và hoàn thiện là cái cao quý mà con người phải trân trọng, vì thế theo ông, con người phải sống vì nhà nước chứ không phải nhà nước vì con người
Theo đuổi mô hình nhà nước lí tưởng, nhà nước của sự công bằng, Platôn cho rằng nhà nước xuất hiện một cách tự nhiên, từ những nhu cầu của con người, trên cơ sở cùng hợp tác giữa họ cùng hướng đến lợi ích cộng đồng Nhà nước công bằng theo Platôn phải được xây dựng dựa trên chức phận xã hội, năng lực khác nhau của mỗi người và sự phân chia các thành phần của linh hồn con người Theo đó, ông phân chia xã hội thành ba hạng người tùy theo bộ phận linh hồn nào của họ đóng vai trò chủ đạo
Thứ nhất, đó là những người lao động, người buôn bán thuộc đẳng cấp đồng và sắt, có nhiệm vụ phục tùng trật tự đã được đặt ra Đó là đẳng
cấp gần với các sự vật cảm tính, thích hợp với lao động chân tay và họ có đức hạnh chủ yếu là sự cam chịu, ôn hòa, thực hiện nhiệm vụ nuôi sống xã hội, đảm bảo cuộc sống cho nhà nước
Thứ hai, đó là các chiến binh – đẳng cấp bạc, tương ứng phần ý chí
của linh hồn Họ là những người lính làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho nhà nước lí tưởng Vì thế, những người này được đào tạo kỹ lưỡng cả về thể chất lẫn tinh thần, họ là những người dũng cảm và gan dạ
Cho rằng những người lính chiến phải là những người cường tráng,
vì thế Platôn kêu gọi thanh niên phải biết sinh hoạt điều độ trong tình ái và
ăn uống, luyện tập thể thao để học cách buộc cơ thể phải tuân theo sự điều chỉnh của tinh thần Ngoài ra, ông còn chú trọng đến việc giáo dục giới tính
cho thanh niên Trong Nền cộng hòa, ông viết: Những người đàn ông ưu tú
nhất phải được thường xuyên chung sống với những phụ nữ ưu tú nhất trong khả năng cho phép Ngược lại, những người đàn ông nào yếu kém thì cũng cần hạn chế tới mức tối đa chung sống với những người phụ nữ yếu
Trang 20kém Con cái của những cặp vợ chồng thuộc nhóm thứ nhất cần được bồi dưỡng đào tạo, còn con cái của những cặp vợ chồng thuộc nhóm thứ hai thì không được phép tồn tại nếu như cộng đồng muốn đạt đến phát triển đỉnh cao
Những người lính chiến theo Platôn không nên sở hữu của cải nhiều,
vì nó dễ ảnh hưởng đến nhân cách, làm người ta tham lam và sinh ra nhiều
tệ nạn trong nhà nước Họ phải là những người biết hi sinh vì cộng đồng và thực hiện sứ mệnh cao cả của mình là bảo vệ an ninh cho nhà nước
Thứ ba, đó là các triết gia – đẳng cấp vàng Đó là những người mà lí
tính đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động của họ Họ là những người vừa tài giỏi, đã được rèn luyện cả về thể lực và trí lực, vừa có phẩm chất ôn hòa (kiềm chế, tự chủ, khôn ngoan), vừa có đức hạnh phù hợp với sứ mệnh của
họ trong nhà nước - đó là sự thông thái Vì thế, họ mang đến sự uyên thâm cho nhà nước, được coi là những “đầu não” của nhà nước, là những người bảo vệ hoàn hảo cho nhà nước lí tưởng Họ là những nhà cai trị nhưng cũng
là những nhà triết học để thực hiện việc xây dựng nhà nước trên nền tảng đạo đức và những lí tưởng cao đẹp Vua chúa phải là những nhà triết học thì mới mang lại chính nghĩa, mang lại trật tự lý tưởng trong hoạt động tổ chức xã hội
Với quan điểm chọn những người ưu tú nhất làm thủ lĩnh cai trị nhà nước, Platôn đã cho thấy nhà nước mà ông hình dung xây dựng chính là nhà nước quý tộc Người đứng đầu nhà nước là những người tài giỏi và có đức hạnh, lẽ tất nhiên họ có quyền uy và được phép dùng quyền uy ấy điều hành nhà nước một cách công bằng, chính đáng Có quyền uy nhưng họ không phải là những người độc tài, mà họ luôn được lý tính ưu ái, mang đến cho việc sở hữu “nghệ thuật làm vua”, linh hoạt tổ chức có hiệu quả các hoạt
Trang 21Trong mô hình nhà nước đó, mọi công dân sống chung, ăn chung trong doanh trại, kể cả phụ nữ cũng là của chung Nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và bảo đảm an ninh cho mọi thành viên, còn các công dân có nhiệm vụ tuân thủ pháp luật, nhất là cần phải tuân thủ pháp luật một cách tự giác Tuy nhiên, nhà nước lí tưởng của Platôn chủ trương thủ tiêu sở hữu tư nhân và gia đình đối với tầng lớp chiến binh, phủ nhận khoa học và nghệ thuật Điểm này về sau đã bị nhiều nhà tư tưởng phản đối
Xây dựng mô hình nhà nước lí tưởng, Platôn gắn liền nhà nước này với quyền tối thượng của luật pháp Mọi công dân không phân biệt vị trí đều phải tuân thủ pháp luật như nhau Nhận thấy pháp luật có vai trò quan trọng trong hoạt động nhà nước, Platôn cho rằng cần phải xây dựng một hệ thống biện pháp đặc biệt bảo đảm sự ổn định, vững chắc, có sức răn đe với mọi người Đây là điểm quan trọng, có ý nghĩa để các nhà tư tưởng sau này
kế thừa trong học thuyết chính trị - triết học của mình
Arixtốt (384 - 322 TCN) được coi là bộ “bách khoa toàn thư” thời cổ
đại Sự sụp đổ của nền dân chủ Athen giữa thế kỉ thứ IV (TCN) là cơ sở thực tiễn mà trên đó Arixtốt tiếp tục phát triển và làm sâu sắc hơn các quan điểm chính trị, pháp luật của Platôn cũng như việc đưa ra các kết luận mới
về nhà nước Những tư tưởng ấy được thể hiện rõ trong hai tác phẩm: Hiến
chế Athens (Athenian constitution, 350 TCN), và Chính trị (Politics, 350
TCN)
Trong các tác phẩm của mình, Arixtốt đã nêu ra những lập luận quan trọng về các vấn đề liên quan đến nhà nước và pháp luật Ông cho rằng nhà nước là một tổ chức phức tạp, tập hợp của những cá thể khác nhau về chức phận, về tình trạng tài sản, về phẩm chất đạo đức, về trình độ học vấn; khả năng tham gia của công chúng đối với công việc nhà nước quy định thể
Trang 22chế chính trị của nó Nhà nước ra đời để phục vụ cuộc sống con người, hướng con người tới những đức hạnh cao cả, còn luật pháp là cái được xây dựng nên từ những giá trị truyền thống, phong tục
Cũng như các nhà hoạt động xã hội đề cao tính tất yếu của luật pháp, Arixtốt cho rằng nhà nước nào không cai quản bằng pháp luật thì không có
kỉ cương nhà nước Nhờ luật pháp mà con người trở nên cao quý, còn không có luật pháp thì con người chẳng khác gì một con thú hoang Pháp luật có vai trò quan trọng với sự tồn tại của nhà nước Pháp luật có nhiệm
vụ “trợ giúp” các công dân thỏa mãn quyền lợi của mình, hay nói cách khác các quyền chung của công dân được thể chế bằng luật pháp Và nếu như Xôcrát kết hợp đạo đức và luật pháp, thì Arixtốt quan niệm các khuynh hướng đạo đức phải có khuynh hướng phục vụ cho pháp luật
Với Platôn, để xây dựng tính thống nhất về quyền lực nhà nước, ông nhập phụ nữ vào tài sản chung, cho rằng các chiến binh không nên có gia đình; còn Arixtốt cho rằng từ bỏ gia đình đồng nghĩa với việc từ bỏ những giá trị cao quý nhất của con người Tuy nhiên, xuất phát từ lập trường giai cấp và hạn chế của thời đại, cả hai ông đều ủng hộ sự tồn tại của nô lệ và có
sự phân biệt nam, nữ, chủng tộc giữa các dân tộc với nhau Hai ông thường hướng tới những con người thuộc đẳng cấp cao hơn, bảo vệ và bênh vực quyền lợi cho tầng lớp quý tộc
Trong quan niệm về các hình thức nhà nước, xem khả năng phụng sự lợi ích chung là tiêu chuẩn xác định nhà nước kiểu mẫu, Arixtốt cho rằng
có ba hình thức nhà nước cai trị đúng đắn trong lịch sử: 1 Quân chủ, nơi quyền lực tập trung trong tay một người nhưng không bị lạm dụng; 2 Quý
tộc, quyền lực thuộc về một số người ưu tú đã được xã hội thừa nhận; và 3 Cộng hòa, nơi quyền lực thuộc về số đông Ba hình thức nhà nước đúng
Trang 23sai không phù hợp với lợi ích chung: 1 Nền bạo chính, bảo vệ lợi ích cho một người; 2 Những tập đoàn, bảo vệ lợi ích số ít; 3 Chế độ dân chủ,
quyền lực trong tay số đông dốt nát nghèo khổ và xu nịnh
Trong sự phân chia ấy Arixtốt ca ngợi nhà nước quân chủ, cho rằng đó
là nhà nước lý tưởng nhất Tuy nhiên đây là hình thức nhà nước không thể
có được Nhà nước quý tộc có thể thực hiện nhưng phải kết hợp cùng các dạng nhà nước do một tập đoàn thống trị và dân chủ, trong đó tập trung vào việc thiết lập và ủng hộ tầng lớp trung lưu Ông cho rằng quá giàu hay quá nghèo đều là những thái cực không tốt Arixtốt đưa ra lời khuyên cho các nhà hoạt động xã hội là không nên nhìn phiến diện, một chiều mà cũng nên nhìn nhận những điểm tích cực của những hình thức nhà nước khác
Điểm độc đáo nữa của Arixtốt thể hiện ở chỗ, ông là người đầu tiên có
ý tưởng phân loại quyền lực nhà nước Theo đó, nhà nước được phân tách thành ba bộ phận: cơ quan tư vấn pháp lý cho hoạt động nhà nước, tòa thị chính và cơ quan xét xử, “bóng dáng” của ba bộ phận đó chính là ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong lý thuyết phân quyền của Môngtexkiơ và trong bộ máy nhà nước hiện đại Tư tưởng chính trị của Arixtốt có ảnh hưởng sâu đậm tới nhiều nhà triết học chính trị ở phương Tây sau này
Vào khoảng thế kỷ I (TCN), cuộc đấu tranh chính trị ở các nước cộng hoà La Mã đã trở nên sâu sắc Trong bối cảnh ấy, giới quý tộc chủ nô
tiến hành đấu tranh dưới khẩu hiệu vì quyền lợi “ái quốc chung” và đã đưa
đến sự thiết lập một nền độc tài quân sự tại nơi đây Thực chất, đó là các hoạt động bảo vệ quyền lợi của tầng lớp chủ nô thống trị trong xã hội La
Mã mà Xixêrông là một trong những đại diện xuất sắc nhất
Máccơ Tunli Xixêrông (427 - 347 TCN) là một nhà triết học, nhà
hoạt động nhà nước và hùng biện nổi tiếng Ông để lại các công trình
Trang 24nghiên cứu nổi tiếng như: Về nhà nước; Về đạo luật và Về các nghĩa vụ
Những công trình đó thể hiện rõ tư tưởng chính trị của ông Là một nhà tư tưởng lớn trong giới quý tộc chủ nô, tư tưởng chính trị Xixêrông luôn chứa đựng ý muốn bảo vệ quyền lợi các tầng lớp quý tộc, đại điền chủ và quan chức
Xixêrông hiểu nhà nước như một cộng đồng pháp lý công khai Con người sống trong một xã hội cần có sự giao tiếp với nhau và để đáp ứng nhu cầu cuộc sống, con người đã gắn kết với nhau, dẫn đến sự ra đời của nhà nước Giữa họ có những lợi ích chung và nhiệm vụ của họ là bảo vệ sở hữu cá nhân cũng như tài sản nhà nước Mỗi một công dân được gọi là công dân lí tưởng phải tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị, còn pháp luật là cội nguồn và thiết yếu của nhà nước
Bảo vệ quyền lợi của giai cấp chủ nô, Xixêrông đã biện minh cho sự bất công trong xã hội bằng quy luật tự nhiên Ông cũng cho rằng, nhà nước
ra đời trên nền tảng pháp luật tự nhiên Bản chất nhà nước trên cơ sở ý chí con người kết hợp với quy luật tự nhiên Các đạo luật nhà nước phải phù hợp với pháp luật tự nhiên mới là nhhững đạo luật đúng đắn, và chỉ có thế thì mới có được sự tuân thủ pháp luật từ phía người dân Khẳng định nhiệm
vụ của nhà nước là bảo vệ tài sản cho dân, nhưng thực chất đó chỉ là tài sản của chính những người chủ nô mà thôi Còn những người nghèo theo ông không nên để họ tham gia nhiều vào công việc quốc gia Điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt tới hoạt động của nhà nước
Xixêrông còn chú ý tới việc phân loại các hình thức nhà nước, theo ông, có các hình thức nhà nước là nhà nước dân chủ, quý tộc và quân chủ Ông phê phán kịch liệt chế độ dân chủ khi cho rằng đó là một trong những hình thức thể chế nhà nước xấu nhất, đồng thời khẳng định: không có gì
Trang 25đông tự ngộ nhận mình là nhân dân Quan điểm đó cho thấy thái độ kỳ thị của ông đối với dân chúng
Phê phán chế độ dân chủ, Xixêrông chỉ ra sự ưu việt của chế độ quân chủ, đó là sự thể hiện những tư tưởng của nền độc tài quân sự La Mã, dùng
ý chí để cai quản nô lệ Quan điểm của Xixêrông về nhà nước và pháp luật thể hiện sự tiến bộ khi cho rằng: người hoạt động trong các lĩnh vực nhà nước cần phải sáng suốt, công minh, có khả năng hùng biện và hiểu được những nguyên lý cơ bản của pháp luật, nếu thiếu kiến thức đó thì không thể công minh được Đặc biệt hơn ông còn đưa ra nguyên tắc pháp lý quan trọng: Tất cả mọi người đều phải tuân thủ pháp luật Ông luận giải quan điểm này như sau: sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật nhà nước xuất phát từ chỗ bản thân nhà nước là pháp luật chung của mọi công dân
Đó là nguyên tắc mà hiện nay được xem là nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền
Như vậy, tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại về nhà nước và pháp luật đã bước đầu đặt nền móng tư tưởng sơ khai cho những quan điểm về nhà nước pháp quyền Các nhà tư tưởng đã chú ý tới tính tối cao của luật pháp, thấy được mối liên hệ thiết yếu không thể tách rời giữa nhà nước và pháp luật Các nhà tư tưởng cũng đã chú ý tới việc tổ chức hợp lý hệ thống quyền lực nhà nước và pháp luật, tổ chức các cơ quan nhà nước
1.2.2 Tư tưởng thần quyền thời trung cổ và học thuyết chính trị phi tôn giáo của Makiaveli thời Phục hưng
Thời kỳ trung cổ là một giai đoạn phát triển khác biệt trong lịch sử tư tưởng nhân loại Xu hướng giáo phụ học và kinh viện đã chi phối thế giới quan của các nhà triết học cũng như các nhà hoạt động xã hội Giáo hội và nhà thờ đã đưa ra các học thuyết nhằm biện giải cho sự bất công xã hội Có
Trang 26người cho rằng do sự ngự trị của bóng đêm thần học trong hàng ngàn năm trung cổ, nên thời kỳ này không có mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền Cũng có người cho rằng vẫn ẩn giấu những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp quyền ngay trong chính các nhà thần học, bởi tư tưởng về nhà nước pháp quyền chính là những tư tưởng tiến bộ, hướng đến bình đẳng, công bằng, dân chủ Dù trong hoàn cảnh xã hội như thế nào thì những tư tưởng đó vẫn tồn tại dưới một số hình thức nhất định Thực ra, chính trong sự thống trị của nhũng đạo luật hà khắc thời trung cổ ấy, vì bị mất đi quyền tự nhiên, mất đi tự do cá nhân…nên mới tất yếu dẫn đến yêu cầu giải phóng con người, và các nhà tư tưởng là những người đầu tiên nói lên tiếng nói chống đối lại những đạo luật đó Từ những học thuyết chính trị thần quyền thời trung cổ đã đưa đến những tư tưởng về quyền tự nhiên,
về chủ quyền nhân dân, về nhà nước và pháp luật của các nhà triết học -
chính trị sau này Vì thế, có thể coi tư tưởng thần quyền thời trung cổ và
học thuyết chính trị phi tôn giáo của Makiaveli thời Phục hưng là một trong những cơ sở lí luận cho sự ra đời của tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII
Trước hết là học thuyết chính trị thần quyền của Augustinô
Augustinô (354 - 430) được coi là đỉnh cao của triết học thời kỳ các
giáo phụ Ông được các giáo sỹ coi là “Thánh” Nhà nghiên cứu
M.Gradman từng nhận định: “Ảnh hưởng của thời kỳ các giáo phụ đối với triết học trung cổ đồng nghĩa với việc kế thừa và phát triển những di sản của Augustinô trong thời trung cổ” [dẫn theo 26, 37]
Augustinô để lại một kho tàng tác phẩm quý giá, ngay cả khi vương quốc La Mã suy tàn, các tác phẩm của ông vẫn trở thành bất hủ, đó là nguồn tư liệu quý đối với triết học và tôn giáo phương Tây Trong số đó có
Trang 27tác phẩm Thành đô của thượng đế được coi là chứa đựng nhiều tư tưởng sâu sắc về nhà nước và các vấn đề lịch sử xã hội
Bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ, Augustinô khẳng định chế độ nô lệ là
do Chúa định Màu sắc tôn giáo nhuốm đậm trong học thuyết về nhà nước của Augustinô khi ông cho rằng: Sở hữu cá nhân, bất công xã hội; xã hội có
kẻ giàu người nghèo là do “ý Chúa” Ông nói: “Sinh ra người giàu là để
giúp người nghèo, sinh ra người nghèo là để thử thách người giàu” [dẫn theo 60, 128] Ông đưa ra lời khuyên cho nô lệ là hãy cam chịu phục vụ chủ nô của mình, không nên chống lại vì đó là sự trừng phạt tội lỗi trước Chúa Theo đó, quyền lực nhà nước phải được thực hiện như một thứ quyền lực phục vụ, thực ra đó là sự phục vụ quyền lực thần quyền Và rõ ràng, Augustinô đã dùng vỏ bọc tôn giáo để che đậy ý đồ bảo vệ sự vĩnh cửu của chế độ bóc lột
Trong tác phẩm Thành đô của thượng đế, Augustinô đã phân tích mối
tương quan giữa nhà thờ và nhà nước Ông cho rằng: trong thế giới có sự
tồn tại của “hai đô thành”: “đô thành của thượng đế” (giáo hội) và “đô
thành trần gian” (nhà nước) Giáo hội được coi là vương quốc ngàn năm,
cao hơn “đô thành trần gian” là nhà nước Nhà nước phải phụ thuộc vào
giáo hội, nếu không sẽ là nhà nước cực quyền, không khác gì những băng nhóm kẻ cướp
Tuy nhiên, cũng theo cách lý giải của Augustinô, sự không tương thích giữa hai đô thành không phải là sự không tương thích giữa giáo hội
và nhà nước, mà thực chất ông đang nói đến một cộng đồng theo ý của Chúa trời hay đi ngược lại ý của Chúa trời Theo đó, cộng đồng theo ý chí của Thiên Chúa là những người mộ đạo, đề cao tình yêu lý trí, yêu kính Chúa quên thân mình, đó là cộng đồng có trật tự, là cộng đồng lý tưởng
Trang 28mọi người thương yêu nhau, còn cộng đồng đi ngược lại ý Chúa chỉ ham
mê thưởng thức những lạc thú vật chất, yêu bản thân mình hơn yêu Chúa Sống trong vương quốc của Chúa là những con người suốt đời tuân thủ những quy định vĩnh hằng của Chúa trời, sống trong tình yêu thương của Chúa thông qua một trật tự lý tưởng Augustinô hướng tới xây dựng một nhà nước của sự hợp quần nhân loại, nhà nước ấy hướng con người tới sự bình an, hướng tới ý chí Chúa trời
Thuyết của Augustinô về nhà nước thực chất là sự bảo vệ đế chế thần quyền Tuy nhiên ông cũng thể hiện sự tiến bộ khi cho rằng, sự sa sút về phẩm chất và tư cách nhà cầm quyền là nguyên nhân sụp đổ nhà nước Phẩm chất cá nhân con người nắm quyền lực nhà nước, chi phối sự tồn tại của nhà nước Đồng thời ông mong muốn xây dựng một nhà nước hướng tới sự bình an cho con người
Tômát Aquinô (1225 - 1274) là một nhà thần học, một nhà triết học
có nhiều đóng góp đối với lịch sử tư tưởng chính trị, đạo đức, pháp quyền thời trung cổ Với lập trường duy tâm thần học, ông cho rằng: Thế giới được xây dựng trên những hình thức tôn ti thánh thần, đứng đầu tôn ti đó là Chúa Ông tuyên truyền cho sự thống trị của nhà thờ đối với công dân và
khẳng định đó là quyền lực tối cao của xã hội Tômát Aquinô đã thần thánh
hoá thể chế đẳng cấp phong kiến đương thời
Vì sao con người cần tới luật pháp? Tômát Aquinô suy luận: Trong bản chất con người còn tiềm ẩn rất nhiều xung lực, những xung lực này cần phải được lái theo một đường hướng đúng, do vậy cần tới giáo dục Thanh thiếu niên thì có thể bố mẹ quán xuyến được, còn những kẻ hỗn láo, vô lễ thì phải dùng tới những hình phạt của xã hội, thậm chí phải dùng quyền lực nhà nước để ngăn chặn Hơn thế, thông qua luật pháp con người trở thành
Trang 29một sinh linh cao quý, nếu không con người chỉ là súc vật Vì thế con người không thể không cần đến luật pháp
Theo Tômát Aquinô, luật được định nghĩa như là một trật tự được xác lập bởi lý trí nhằm phục vụ lợi ích xã hội và được người uỷ thác thay mặt cộng đồng công bố Đề cao vai trò của luật pháp ông cho rằng, chính luật pháp sẽ đem lại cho xã hội một trật tự mà ở đó con người có thể phát triển
cả về thể chất lẫn tinh thần Tômát Aquinô đưa ra quan điểm phân chia luật
thành hai loại là “luật tự nhiên” và “luật thành văn” Sự kết hợp giữa hai
luật này tạo thành bốn loại luật khác nhau:
1.“Luật vĩnh cửu” (thần luật tự nhiên): Là cơ sở cho tự nhiên và xã
hội, là trật tự của toàn thế giới; ông nói: chính trí tuệ của Thiên Chúa điều hành thế giới
2.“Luật tự nhiên” (nhân luật tự nhiên): Là sự phản chiếu luật vĩnh
cửu bằng lý trí của con nguời, như quy luật bảo tồn nòi giống và quy luật chung sống của con người
3 “Nhân luật” (nhân luật thành văn): Là pháp luật phong kiến hiện
hành, phản ánh những đòi hỏi của luật tự nhiên được rút ra từ trí tuệ của Chúa Sở dĩ có luật này theo ông vì con người suy đồi nên sinh ra “ý chí méo mó”,nên cần buộc họ phải có đạo đức bằng cách dùng vũ lực và trừng phạt để đe doạ Mọi sự phản kháng luật đó đều được coi là “trọng tội”
4 “Thần luật” (thần luật thành văn): Đó là luật của Kinh thánh
hướng dẫn con người đạt tới chân lý và công bằng
Nhân luật không được phản tự nhiên, nghĩa là người cầm quyền không được cấm thần dân được sống, hôn nhân và sinh đẻ Tuy nhiên luật thành văn vẫn có lợi cho các vua chúa phong kiến để ràng buộc giai cấp nông nô
và xã hội Có một điểm được xem là tích cực của Tômát Aquinô là trong
Trang 30quan điểm của ông về các quan hệ phong kiến, chúa phong kiến không được giết nông nô như quan hệ chủ nô – nô lệ trước đây
Trong học thuyết về nhà nước, Tômát Aquinô cũng thể hiện rõ sự chịu ảnh hưởng của Arixtốt, như nhà nghiên cứu Baeumke từng nhận định:
“không có ai chịu ảnh hưởng sâu nặng bởi học thuyết xã hội của Arixtốt như Tômát Aquinô” [dẫn theo 26, 262] Điều này biểu hiện ở chỗ, trong khi
lý giải nguồn gốc ra đời của nhà nước, hai ông đều cho rằng, bản chất con người là một sinh linh xã hội, không thể sống đơn lẻ một mình mà phải sống trong cộng đồng Sống trong cộng đồng con người cần có lý trí và nó cho phép con người thực hiện những sáng tạo, khám phá quy luật cuộc sống Trong đời sống cộng đồng sẽ nảy sinh những vấn đề và để duy trì trật
tự cần phải có một quy pháp chung, được thực hiện từ gia đình đến làng xã,
từ bộ tộc tới nhà nước, sự cố kết đó hình thành nhà nước
Mục đích tối cao của nhà nước là tạo điều kiện để mọi người đạt được
lý tưởng cao đẹp của mình hạnh phúc bên đức Chúa Nhà nước tạo điều kiện để các công dân đảm nhận những trọng trách tôn giáo và như vậy nhà nước không chỉ thực hiện mục đích trần thế mà còn thực hiện mục đích siêu trần thế Quan điểm đó thể hiện ý đồ bảo vệ sự thống soái của các đạo luật giáo hội của nhà thần học Tômát Aquinô
Ngoài ra, ông còn bàn về “bản chất của chính quyền” Theo đó, bản
chất của chính quyền là trật tự điều hành và tuân thủ do chúa quy định, nó bao gồm ba yếu tố là bản chất, nguồn gốc và việc sử dụng Trong các thể chế quân chủ, quý tộc, tập đoàn thống trị và chuyên quyền, Tômát Aquinô cho rằng quân chủ là hình thức nhà nước tối ưu nhất Tuy nhiên sự ảnh hưởng sâu nặng các học thuyết của Arixtốt đã đưa Tômát Aquinô đến kết
Trang 31thức nhà nước bạo Chúa, cho rằng đó là hình thức nhà nước tồi tệ nhất nhưng cũng phê phán việc giết chết bạo chúa
Lập trường thần học luôn chi phối quan điểm của Tômát Aquinô về mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội Ông cho rằng chính giáo hội quy định nhà nước và người đứng đầu giáo hội mới là người quyết định cuối cùng mọi công việc Tuy nhiên ông không cho rằng giáo hội thống trị nhà nước một cách tuyệt đối mà chừng nào luật trần thế mang tính nhất thời hướng tới luật siêu trần thế vĩnh cửu thì phải chịu sự chi phối của luật siêu trần thế
Tóm lại, trong thời kì trung cổ ở phương Tây, hệ tư tưởng thần học đã trở thành tư tưởng thống trị, ảnh hưởng và chi phối các lĩnh vực khác nhau, trong đó có chính trị Nhận thấy vai trò của nhà nước và luật pháp, nhưng các nhà thần học luôn chứng minh quyền lực nhà nước nằm dưới sự điều hành của Chúa Họ đã viện đến Chúa để giải quyết những vấn đề chưa được giải quyết trong các quan niệm chính trị - xã hội Vì thế, những vấn
đề về chủ quyền nhân dân, về tự do, về luật pháp và pháp quyền vẫn chưa được giải quyết Ănghen nhận định về vấn đề này: “Trong tay bọn giáo sĩ, chính trị, luật cũng như tất cả các ngành của các khoa học khác, vẫn là những ngành của khoa thần học và những nguyên lí giá trị thần học cũng được áp dụng cho chính trị và thần học” [36, 193]
Tuy nhiên, cũng chính những ưu điểm và hạn chế đó của các nhà chính trị thời kì này đã đưa đến nhu cầu cần phải có hướng giải quyết khác, và sự thật nó đã được giải quyết ở thời kỳ Phục hưng Thời kì Phục hưng đạt đến đỉnh cao ở thế kỉ XVI đã đem lại một sức mạnh thời đại, một diện mạo mới sau giai đoạn “đêm trường” đúng như tên gọi của nó Thời kì này, cùng với những thành tựu trên các lĩnh vực văn học nghệ thuật, khoa học, kĩ thuật, trên bình diện triết học chính trị cũng được đánh dấu những mốc son trong
Trang 32lộ trình phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại Mốc son ấy được đánh dấu bằng việc gạt bỏ những giáo lý của nhà thờ ra khỏi đời sống con người,
đề cập đến quyền tự do, quyền công dân, đòi tách tôn giáo khỏi nhà nước, tách nhà thờ ra khỏi trường học và nhà nước được xem là một lĩnh vực độc lập
Thực hiện bước đột phá ấy trong lĩnh vực chính trị là Nicôlô Makiaveli (1469 - 1527) - “ông tổ của chính trị học” [24, 309] Ông là một nhà tư tưởng được Ănghen đánh giá: “là một nhà chính trị, một nhà sử học, nhà thơ, đồng thời là tác giả đầu tiên viết về đề tài quân sự được nêu tên trong
thời kì cận đại” [35, 460] Bên cạnh những tác phẩm như Luận về sách lịch
sử La Mã của Livi (1517), Nghệ thuật chiến tranh (1520), Cải cách ở Florence (1520), thì Quân vương (1513) là tác phẩm giữ vị trí quan trọng,
được coi là tác phẩm đầu tiên đặt nền tảng cho chính trị học hiện đại
Qua các tác phẩm của mình, Makiaveli đã bác bỏ sự chi phối của thần quyền đối với cuộc sống hiện thực con người, bước đầu phác hoạ các thiết chế trong đời sống xã hội Đồng thời qua tác phẩm, Makiaveli đã viết lên một “cẩm nang” để giúp nhà cầm quyền củng cố địa vị của mình Tư tưởng này đã có ảnh hưởng nhất định tới việc ra đời của những tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII Những nhận xét của Makiaveli về bản tính mưu mô, quỷ quyệt của con người đã
ảnh hưởng lớn đến quan niệm về nhà nước của Hôpxơ trong Leviathan (1651) Cũng trong Quân vương, việc Makiaveli sử dụng phương pháp đưa
ra kết luận trên cơ sở những ví dụ trong thực tế đã có ảnh hưởng đến phương pháp mà S.L Môngtexkiơ đã áp dụng để viết lên tác phẩm nổi tiếng
Tinh thần pháp luật (1748 ) Sau này, phương pháp đó được sử dụng có
hiệu quả trong nghiên cứu chính trị học hiện đại
Trang 33Makiaveli đã luận chứng cho tính độc lập của các lĩnh vực chính trị khi
giải quyết mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo, đạo đức Theo ông, đạo
đức và tôn giáo nghiên cứu trách nhiệm của công dân với nhau trong xã hội, còn đối tượng của chính trị là vấn đề quyền lực, chúng có sự khác nhau căn bản Tuy vậy, ông vẫn không phủ nhận vai trò của tôn giáo nói chung Ông cho rằng tôn giáo cần thiết cho việc thiết lập kỉ luật quân sự, đảm bảo trật tự xã hội, nếu người lãnh đạo biết lợi dụng tình cảm tôn giáo của những người dân ngoan đạo Tôn giáo là vũ khí trong tay nhà nước, trợ giúp việc củng cố chính quyền thế tục Quan điểm này đã in dấu ấn lên quan niệm về thần quyền và thế quyền của Môngtexkiơ sau này, khi ông luận giải về
“pháp luật trong tương quan với tôn giáo” Cũng như Makiaveli, S.L Môngtexkiơ khẳng định chính trị và tôn giáo là hai lĩnh vực riêng biệt, không cùng chung đối tượng nhưng lại có mối quan hệ với nhau Vậy nên nhà cầm quyền phải biết kết hợp hài hòa hai lĩnh vực đó để thực hiện được nhiệm vụ của mình
Makiaveli còn có đóng góp quan trọng trong lý luận về người cầm
quyền Trong tác phẩm Quân Vương ông khẳng định, một thủ lĩnh chính trị
chỉ có thể có được sức mạnh quân sự khi chú ý tới tâm lí, các đặc điểm tư duy, các nguyên tắc đạo đức, những ưu điểm và khuyết điểm của người khác Ông cũng xác định sự ủng hộ của dân chúng là lực lượng sẽ đưa “một
cá nhân công dân trở thành một quân vương”, nhưng cũng có thể là lực lượng huỷ hoại ông ta nếu như nhà cầm quyền vi phạm các quyền về tài sản và nhân cách công dân Vì thế, quân vương phải biết sống hoà vào trong dân chúng của mình, không được tham lam “chiếm đoạt tài sản, vợ con của thần dân” [40, 147] Và phải làm cho thần dân mãn nguyện, an tâm kiếm tiền và sinh con đẻ cái, có như vậy mới nhận được thiện cảm, sự yêu mến và lòng kính trọng của thần dân
Trang 34Gần giống với quan niệm của Hàn Phi Tử ở phương Đông về “thuật thưởng phạt”, Makiaveli cho rằng người cầm quyền phải biết khéo léo kết
hợp giữa ban thưởng và trừng phạt Ban thưởng phải xứng đáng còn trừng phạt thì phải ngay lập tức và với liều lượng mạnh Makiaveli cũng cho rằng
người cầm quyền phải hội tụ trong mình phẩm chất của con sư tử (sức mạnh,
sự trung thực) và phẩm chất của con cáo (thần bí hóa, dối trá), nghĩa là phải biết kết hợp sức mạnh của sư tử với sự tinh ranh của cáo Đồng thời cũng cần biết vận dụng thật không ngoan những bản tính của người và dã thú Những phẩm chất đó được hình thành trong quá trình rèn luyện, trau dồi, trải nghiệm của bản thân
Bậc quân vương theo Makiaveli cần phải có trí tuệ luôn sẵn sàng tùy
cơ ứng biến theo vận mệnh và sự biến đổi của thời thế Phải để cho thần dân thấy được sự “vĩ đại, nghị lực, sự tôn nghiêm và sức mạnh trong các hành động của mình” [40, 148] Phải luôn biết thể hiện để thần dân thấy được sự hội tụ đủ năm phẩm chất của mình là: Bao dung, trung thành, nhân từ, đáng tin cậy và sùng đạo
Cũng trong Quân Vương, Makiaveli nêu ra các tiêu chí phân loại
quyền lực chính trị Quyền lực chính trị được phân loại dựa trên việc xác định
hành vi của con người Hành vi con người có động cơ từ tình yêu và nỗi sợ
hãi Ông chỉ ra một thực tế là, những người giàu có sợ hãi những gì họ đã tích
lũy được, còn những người nghèo lại cháy bỏng khát vọng có được những gì
mà người giàu đang có Cả hai khát vọng ấy đều ẩn chứa nguy cơ của sự phá
hủy Vì thế, nhà cầm quyền nên để cho dân sợ hãi nhưng cũng không nên để lòng sợ hãi ấy biến thành lòng căm thù, dẫn đến nguy cơ lật đổ thủ lĩnh
Trong quan điểm về nhà nước, với lập trường vô thần ông cho rằng, nhà nước ra đời là do con người lập ra phục vụ nhu cầu của con người chứ
Trang 35tài sản và bảo đảm an toàn trong cuộc sống của con người Makiaveli phân tích nhà nước thành ba hình thức nhà nước tồi là nền bạo chính, chế độ đầu
sỏ và hình thức vô chính phủ Đối lập với ba hình thức đó là ba hình thức nhà nước tốt: chế độ quân chủ, quý tộc và dân chủ Một điểm được cho là tiến bộ ở ông đó là, dù đứng trên lập trường giai cấp nhưng ông vẫn luôn cho rằng nhân dân hơn vua ở sự thông minh, kiên định và sự nhiệt tình cách mạng của nhân dân có sức mạnh rất lớn
Học thuyết chính trị phi tôn giáo của Makiaveli có ý nghĩa lớn trong việc đấu tranh chống lại thuyết thần quyền, chống tàn dư của chế độ phong kiến Những tư tưởng hợp lí, tiến bộ của Makiaveli về nhà nước, về quyền lực, về công dân, về ý thức cá nhân tiếp tục được các nhà triết học cận đại tiếp nhận và phát triển
Kết luận chương 1:
Trước những biến động của lịch sử thế giới, lịch sử châu Âu thế kỷ
XV – XVI cũng trải qua những bước ngoặt lớn Sự phát triển của khoa học cùng với những phát kiến địa lý tạo ra những mầm mống xuất hiện của chủ nghĩa tư bản Cũng lúc này, mâu thuẫn giữa tầng lớp đại diện cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với giai cấp phong kiến xuất hiện và ngày càng sâu sắc Nhiều cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra ở nhiều nơi trên thế giới như ở Hà Lan, Anh, Pháp…Chế độ phong kiến với nền sản xuất cũ đã lỗi thời và các đạo luật hà khắc trung cổ đã bước vào thời kỳ tan rã
Sự phát triển của phong trào Phục hưng thế kỷ XIV – XVII, đỉnh cao ở thế kỷ XVI đã đưa đến sự ra đời của những tư tưởng mới về nhà nước, pháp luật và mối liên hệ giữa nhà nước với pháp luật Những tư tưởng về con người, về nhà nước, về tự do và quyền con người thời kỳ này là tiền đề cho sự ra đời của phong trào Khai sáng Đó là sự đáp ứng của đòi hỏi lịch
sử, là một phản ứng về mặt văn hóa, tư tưởng và tư duy học thuật trước trật
tự xã hội hiện hành
Trang 36Chương 2:
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỶ XVII - VIII 2.1 Quan điểm về quyền tự nhiên, chủ quyền nhân dân và khế ước xã hội
* Quan điểm về quyền tự nhiên
Do sự thống trị hà khắc của nền quân chủ chuyên chế, giới quý tộc và nhà thờ thời trung cổ, các nhà tư tưởng tư sản thời kỳ này có khuynh hướng muốn vứt bỏ vòng hào quang thiêng liêng của tôn giáo bao trùm lên chế độ phong kiến, tách các vấn đề nhà nước và pháp luật ra khỏi tôn giáo Khuynh hướng ấy đưa đến sự ra đời của các học thuyết về pháp quyền tự nhiên, tiêu biểu là Grôxi, Xpinôda và Hôpxơ
Grôxi (1583 - 1645), được coi là một trong những người đầu tiên nêu
ra tư tưởng về quyền tự nhiên Tư tưởng ấy thể hiện rõ trong tác phẩm Bàn
về pháp luật của chiến tranh và hòa bình (1625), trong đó cho rằng pháp
luật phải có tính tự nhiên và xác lập trên cơ sở ý chí Với ông, tính tự nhiên của luật pháp phải gắn với bản chất con người Bản chất đó hàm chứa trong
nó tính chất căn bản - đó là: “Sự không tơ hào tài sản của người khác, cũng như việc trả lại vật dụng của người khác và bồi thường những món lợi
đã thu được từ đó, trách nhiệm thực hiện lời hứa, bồi thường thiệt hại do mình gây ra, cũng như trừng phạt thích đáng kẻ phạm tội” [dẫn theo 60, 244] Pháp luật phải được xây dựng trên bản tính tự nhiên của con người Theo Grôxi, pháp luật phải được xác lập theo ý chí của nhà nước, phải phù hợp với nguyên tắc pháp luật tự nhiên Pháp luật ở đây được ông gọi là pháp luật thực định, bao gồm cả luật gia đình, luật dân sự và công pháp quốc tế Luật pháp phong kiến hiện tồn được coi là trái với bản tính
Trang 37luật của lý trí, mà thực chất đó là sự phù hợp với ý thức pháp luật tư sản Quan điểm cho rằng pháp luật theo ý chí nhà nước nhưng ý chí nhà nước tuân thủ quy luật tự nhiên thể hiện một sự tiến bộ của Grôxi, khi ông cố gắng tìm bản chất và nguồn gốc nhà nước từ lý tính chứ không phải từ tôn giáo
Học thuyết về quyền tự nhiên của Grôxi phản ánh quan điểm của tầng lớp tư sản Hà Lan lúc đó, sau này được các nhà tư tưởng của cách mạng tư sản tiếp tục phát triển, đặc biệt là nhà triết học duy vật Xpinôda
Baruc Xpinôda (1632 – 1677), là nhà triết học lỗi lạc người Hà Lan,
cuộc đời ông có nhiều điểm gần giống vơi Xôcrát thời cổ đại Bởi lẽ, ông bị
tố cáo là vô thần và cũng say mê triết học như một lối sống Tiếp nối tư tưởng của Grôxi về pháp lý tự nhiên, Xpinôda có ý định xây dựng học thuyết chính trị của mình trên cơ sở xem xét con người là một bộ phận của
tự nhiên Theo đó, mọi hành động của con người phụ thuộc vào các quy luật chung và mỗi người đều có quyền đối với những gì trong phạm vi sức mạnh và mong muốn của mình Tuy nhiên, mỗi người lại có những niềm say mê với những thú vui, những ham muốn trong cuộc sống của mình, và
nó đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa con người với con người, dẫn đến các cuộc đấu tranh Để hòa giải mâu thuẫn ấy, con người phải thực hiện những
chuyển giao sức khỏe và quyền của mỗi người cho nhà nước và nhà nước
buộc con người phải sống theo các “quy luật của lý trí” Nhà nước đã ra đời
để đảm bảo việc duy trì cuộc sống, thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của dân chúng
Như vậy, cũng giống Grôxi, Xpinôda cho rằng, nhà nước và pháp luật không phải do Chúa trời tạo ra mà do sự thỏa thuận giữa con người với nhau, là sự phù hợp với quyền tự nhiên và quy luật tự nhiên Theo đó, pháp quyền tự nhiên là những quy định trong luật pháp gắn với bản tính tự nhiên
Trang 38vốn có của con người, không bị chi phối bởi một thế lực hay một thần lực nào Quyền tự nhiên của con người là do tính tự nhiên quy định, nên pháp luật tự nhiên phải bảo vệ quyền tự nhiên đó Ông cho rằng, những quyền tự nhiên của con người cần phải được luật hóa Pháp quyền chỉ xuất hiện khi con người từ trạng thái tự nhiên đi vào xã hội và thành lập nên nhà nước Trong mối quan hệ với nhà nước và pháp luật, ông cho rằng cần phải kết hợp giữa ý chí nhà nước và luật pháp để đảm bảo quyền tự do của con người Nhà nước cũng như các bộ phận của tự nhiên, đều muốn tự bảo vệ
và nâng cao sức mạnh của mình, sức mạnh ấy chỉ có được khi nhà nước nhận được sự đồng tình của dân chúng Muốn vậy, nhà nước phải đảm bảo duy trì cuộc sống và thực hiện việc thỏa mãn những nhu cầu của công dân Nhà nước phải thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quyền tự do ngôn luận và quyền tư do tín ngưỡng của con người
Lên án chế độ quân chủ chuyên chế, Xpinôda coi hình thức nhà nước tốt nhất là nhà nước dựa trên chế độ dân chủ Đây là hình thức nhà nước
mà quyền lợi và tự do của dân chúng được đảm bảo hơn và ông cho rằng pháp quyền tự nhiên chỉ tồn tại trong mô hình nhà nước này Nói về hình thức này, Xpinôda viết rằng, nhà nước dân chủ “tự nhiên hơn cả, gần với tự
do hơn cả, điều mà tự nhiên ban cho mỗi người bởi vì trong đó mỗi người chuyển giao quyền tự nhiên của mình không phải sang người khác, khi đã mất đi quyền đầu phiếu trong tương lai, mà sang phần đông của toàn xã hội, mà người đó là thành viên, trên cơ sở này tất cả đều bình đẳng như trước đây trong trạng thái tự nhiên” [dẫn theo, 60, 251]
Lý thuyết pháp quyền tự nhiên của Xpinoda nhằm khẳng định nhà nước và pháp luật không phải do Chúa tạo ra, mà do sự thỏa thuận của con người với nhau để phù hợp và bảo vệ quyền tự nhiên vốn có của mình Quan điểm đó của Xpinoda sau này được Môngtexkiơ kế thừa trong việc
Trang 39khi có những luật quy định thì đã có những luật của thiên nhiên tạo ra sự tồn tại của chúng ta
Tiếp tục phát triển học thuyết về quyền tự nhiên của Grôxi, Xpinôda
đã đóng góp thêm vào đó những nội dung mang tính cách mạng, đưa ra những kết luận mang tính sâu sắc hơn Là một trong những người đầu tiên đưa ra cơ sở lý luận để khẳng định nền dân chủ, các quyền và quyền tự do của con người, Xpinôda đã có nhiều đóng góp ý nghĩa đối với sự phát triển
tư tưởng chính trị tư sản Quan niệm hợp lí về dân chủ và tự do của Xpinôda sau này có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm của Môngtexkiơ
Quan điểm về quyền tự nhiên, lý thuyết pháp quyền tự nhiên của Xpinoda thể hiện lập trường của giai cấp tư sản mới lên, đấu tranh chống lại nhũng luật lệ phong kiến, xây dựng một trật tự xã hội mới phù hợp với nguyện vọng chính đáng của con người Song, nếu như Xpinôda bảo vệ chế
độ dân chủ, thì Hôpxơ lại là một trong số những đại diện tiêu biểu bảo vệ chế độ chuyên chế Anh
Thomas Hôpxơ (1588 – 1679), là một nhà triết học duy vật tiêu biểu ở
Anh thế kỷ XVII, đã khẳng định mạnh mẽ quyền tự nhiên của con người Ông
được biết đến với tác phẩm Những thành tố của luật tự nhiên và luật chính trị (1640) và đặc biệt là hai tác phẩm Công Dân và Leviathan ra đời vào năm
1651
Hôpxơ xây dựng học thuyết chính trị của mình xuất phát từ việc xem xét bản tính con người Hôpxơ khẳng định: trong trạng thái tự nhiên con người tự do và bình đẳng Con người có nhu cầu được bảo vệ và sống trong trạng thái hòa bình, đó là cơ sở để khẳng định quyền tự nhiên của con người Con người sinh ra vốn tự do và về bản tính con người là độc ác vì ban đầu ai cũng có nhu cầu, ước vọng, dẫn tới tự do của người này xâm phạm tự do của người khác nên đẩy họ tới việc thực hiện điều ác Ai cũng
Trang 40muốn thể hiện khát vọng và thỏa mãn nhu cầu của mình, nhưng lại không muốn chia sẻ lợi ích của mình với người khác, nên họ có thể vì quyền lợi
của mình mà chà đạp lên quyền lợi của người khác Hôpxơ viết: Con người
là một động vật độc ác và ranh ma hơn cả chó sói, gấu và rắn
Hôpxơ còn nhận ra rằng, sự thèm muốn quyền lực là phổ biến ở hầu như mọi người Con người luôn muốn thỏa mãn lợi ích cá nhân của mình hơn là lợi ích của xã hội Do đó, bản tính con người theo ông là ích kỷ, khi tính ích kỷ ấy của con người phát triển mà không có sự kiểm soát thì hậu quả sẽ như thế nào? Hôpxơ cho rằng chính sự ích kỷ, tư lợi ấy của con người đẩy họ vào một trạng thái chiến tranh hỗn loạn, làm cho luật tự nhiên của con người bị phá vỡ Theo Hôpxơ, xã hội là: “bellum omnium contraomnes” (cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả) Viết về trạng
thái xã hội này, trong tác phẩm Leviathan ông khẳng định: Trong một môi
trường như thế, cuộc sống quả là cô độc, nghèo nàn, ghê tởm, tàn bạo và ngắn ngủi Sau này Môngtexkiơ đã phê phán quan điểm đó của Hôpxơ, và cho rằng: “Hôpxơ cho rằng, ngay từ đầu con người đã kẻ này chinh phạt người khác Nói thế là không đúng Tư tưởng về đế quốc và sự thống trị là một tư tưởng phức tạp, phụ thuộc vào nhiều tư tưởng khác chứ không phải
là tư tưởng phát sinh ban đầu” [38, 42]
Từ bản tính của con người và từ trong chính cuộc đấu tranh của con người, để bảo vệ tính mạng và cuộc sống của mình, con người thỏa thuận với nhau và đi đến kí kết khế ước xã hội, kết quả là nhà nước xuất hiện Khế ước xã hội đã đưa xã hội chuyển từ giai đoạn tự nhiên sang giai đoạn
xã hội công dân (trạng thái có nhà nước) Nhà nước là sự thỏa thuận chung theo khế ước do bản thân nhân dân sáng tạo ra Nhà nước - con quái vật
khổng lồ Leviathan nắm trọn quyền lực tối cao có được từ sự chuyển