Khó khăn Bên cạnh những thuận lợi như đã nói ở trên thì trong quá trình dạy – học , bảnthân tôi cũng gặp không ít khó khăn đó là sự tiếp thu bài của học sinh còn nhiều hạn chế ; nhiều
Trang 1Từ thuở còn nằm nôi , đứa bé đã được nâng niu , bồi dưỡng bằng văn chương qua lời hát ru âu yếm Khi đi học , bài trước nhất phải là “học ăn , học nói” Rồi con người đi vào đời sống dân tộc qua những bài văn , bài thơ Chính vì lẽ
đó , dạy văn và học văn , điều cơ bản có lẽ là ở sự “hứng thú” Trong các chức năng của văn học, nhất là văn học với nhà trường , nhà văn Nguyễn Đình Thi sau khi nêu những điểm chính , ông nói rằng : “ văn học còn có chức năng rung đùi” Thực tế nhà văn muốn nhấn mạnh đến những hứng thú , những niềm vui ,
sự yêu thích mà văn học đã đem lại cho người đọc Trong cấu trúc chương trìnhngữ văn lớp 8 , 17 tiết dạy những tác phẩm tự sự , 12 tiết dạy những tác phẩm trữ tình , các bài trích giảng đều là những bài thơ , bài văn thật hay nên dạy và học cả giáo viên và học sinh đều có hứng thú Hứng thú tự đến , giáo viên có nhiều cảm hứng truyền chức năng đó về phía học sinh và học sinh cũng cảm nhận được cái hay , cái đẹp của từng câu , từng chữ trong các văn bản văn
chương Vậy mà chỉ có 7 tiết dạy tác phẩm nghị luận, giáo viên và học sinh làmcách nào để có “hứng thú” được đây? Hơn nữa mục đích của văn nghị lụân là bàn bạc , thảo luận , phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng , một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp , một giai cấp nhất định
2 Cơ sở thực tiễn
Quan niệm tác phẩm nghị luận vừa khó lại vừa khô , hình như đã ít nhiều
ảnh hưởng trong nhận thức của người dạy và người học Bản thân tôi ban đầu cũng có ý ngần ngại , không mấy hứng thú với văn nghị luận Để ý quan sát cácđồng nghiệp , tôi cũng nhận ra sự “ đồng cảm” không đáng có này Dạy thì vẫn
Trang 2dạy theo yêu cầu của chương trình , theo chuẩn kiến thức kỹ năng , nhưng khi chọn bài để thao giảng hoặc làm báo cáo chuyên đề … thì tỉ lệ các bài được chọn là văn nghị luận thường thì rất ít Đa số thường chọn những bài hay mang tính chất biểu cảm , trữ tình như “ Quê hương”, “vọng nguyệt” , “ khi con tu hú”…nhưng ít khi chọn bài kiểu bài như : Chiếu dời đô; Bàn luận về phép học…
Từ thực tế này , tôi quyết định chọn : “Làm thế nào để dạy- học phần văn bản nghị luận trong chương trình ngữ văn 8 có hiệu quả” Hy vọng đóng góp
một phần nhỏ bé của mình để cho đồng nghiệp khi dạy phần văn nghị luận không còn cảm thấy nó “ khô” và “ khó” nữa
đa phần là năng nổ , nhiệt tình trong việc tiếp thu bài và đóng góp những ý kiến
để giáo viên chắt lọc được những ý cần thiết trong quá trình học môn ngữ văn Mặt khác việc đánh giá , rút kinh nghiệm cũng rất tích cực của các đồng nghiệp
đã đóng góp ý kiến một cách thẳng thắn nên phần nào dạy văn bản nghị luận đã
có sự tiến bộ rõ rệt
2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi như đã nói ở trên thì trong quá trình dạy – học , bảnthân tôi cũng gặp không ít khó khăn đó là sự tiếp thu bài của học sinh còn nhiều hạn chế ; nhiều học sinh còn khó hiểu , còn lơ mơ khi học phần văn bản nghị luận Một số học sinh còn học theo kiểu rập khuôn ,máy móc nên giáo viên gặp không ít khó khăn … Chính vì thế tôi tìm cách khắc phục cho các giờ dạy sau hay hơn bằng cách tìm hiểu các tài liệu tham khảo để chắt lọc ra những ý chính ,các luận điểm trong các bài văn
Trang 3Nói tóm lại , Để thực hiện được vấn đề đã đưa ra tôi đã trực tiếp tìm hiểu các giáo viên đã từng dạy môn ngữ văn lớp 7 , 8 của một số trường và ở trường tôi Tôi đã nhận thấy hầu hết các giáo viên đều cho rằng dạy văn nghị luận rất khó
và khô Đặc biệt là phần tìm ra hoặc trình bày các luận điểm và cách lập luận của bài văn
Mặt khác , trong quá trình dạy giáo viên thường chỉ chú ý đến khai thác nội dung làm toát lên những quan điểm , tư tưởng của tác giả mà ít chú ý đến vẻ đẹp
về hình thức nghệ thuật cảu tác phẩm Vì thế việc dạy – học phần văn bản nghị thường không hấp dẫn đối với học sinh nên dẫn đến tình trạng học chán học
II) Biện pháp thực hiện
Để tạo được hứng thú trong mỗi lần dạy văn bản nghị luận người giáo viên cần phải tìm hiểu , tích luỹ để tạo hứng thú dạy và học tác phẩm nghị
luận Muốn làm được điều đó trước hết người giáo viên cần phải xác định:
2 Đặc trưng
a Tìm hiểu tác phẩm nghị luận có đúng là khô và khó không?
Trang 4Từ khi tôi còn ngồi học trên ghế nhà trương CĐSP , mội lần nọ có người nói chuyện về thơ Xuân Diệu , hôm đó người ngồi đông kín cả hội trường , nhưng
do người nói không có “duyên” với Xuân Diệu nên không gây được hứng thú cho người nghe , làm cho mọi người bỏ về rất đông Nhưng một lần khác , trongmột cuộc nói chuyện về vấn đề “an toàn giao thông”, có tự sự , có miêu tả , có hình ảnh , có phân tích , có bình luận , đánh giá khiến cho người nghe cảm thấy hay và thích thú vô cùng
Từ đó , tôi đã biết rằng khi trình bày một vấn đề nghị luận vê một lĩnh vực nào
đó chính là ở khả năng của người truyền đạt chứ không nhất thiết là nội dung như thế nào? thì ra nghị luận giỏi vẫn có khả năng cuốn hút người nghe như các loại văn chương khác
b Xác định đúng tầm quan trọng của văn nghị luận trong đời sống con người là một việc làm cần thiết , tuy nhiên chỉ có vậy thôi thì chưa đủ mà chúng ta cần phải hiểu rõ đặc trưng của kiểu văn bản này:
Khác với các kiểu văn ban khác , văn bản nghị luận được xây dựng trên cơ sở
tư duy lô- gic , trừu tượng và lý tính , chúng ta bắt gặp những suy nghĩ của người viết và sự phân tích giảng giải những khái niệm , những vấn đề ở trong văn bản nghị luận , ngoài ra trong diễn đạt văn nghị luận đòi hỏi người viết phải biết lập luận chặt chẽ , trình bày ý tưởng một cách chính xác , rõ ràng
Trong văn bản nghị luận , tuy nó có vẻ khô khan , cứng nhắc nhưng đằng sau
nó là cả một hệ thống tình cảm , cảm xúc nồng nàn của người viết trước những vấn đề mà họ đưa ra
Chú ý tới vị trí đặc trưng của kiểu văn bản này , đồng thời kết hợp với
phương pháp đổi mới trong việc dạy – học văn hiện nay , tức là dạy theo phươngpháp tích hợp , tích cực , biết bám sát chuẩn kiến thức , kỹ năng ; đặc biệt là biếttổng hợp kiến thức bằng bản đồ tư duy để học sinh dễ nắm bắt thì tôi tin rằng người dạy sẽ thành công khi dạy các văn bản nghị luận
3 Nắm được yêu cầu chung của văn bản nghị luận
a) Yêu cầu chung :
Trang 5* Nội dung
Phải nêu rõ được sự việc , hiện tượng có vấn đề , phân tích mặt đúng , mặt sai ,mặt lợi , mặt hại của nó , chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ , ý kiến , nhận định của người viết
và sự hấp dẫn thẩm mỹ riêng trong từng tác phẩm Chẳng hạn khi dạy bài “ thuếmáu” của Nguyễn Ái Quốc , giáo viên cần cho học sinh thấy rõ chất trào phúng
và tính chiến đấu mạnh mẽ với nhiều hình thức thể hiện đa dạng ( từ cách xây dựng mâu thuẫn , sử dụng giọng điệu đến bình diện ngôn từ ….) , tạo cho văn bản một sắc thái thẩm mỹ riêng
b) Cần phát hiện những luận điểm mới mẻ ở mỗi tác phẩm
Mỗi chúng ta đều biết , luận điểm là những tư tưởng , quan điểm của người viếtđối với vấn đề nghị luận trong bài văn Nó thường được thể hiện dưới hình thứctiêu đề bài văn hoặc những câu văn có tính chất khẳng định hay phủ định Luận điểm phải đúng đắn , sáng rõ , tập trung Thông thường một bài văn nghị luận bao giờ cũng có một luận điểm trung tâm Đồng thời có một hệ thống các luận điểm bộ phận nhằm triển khai luận điểm trung tâm theo những cách lập luận cụ thể
Chẳng hạn : khi dạy đoạn trích “ Nước Đại Việt ta” , người giáo viên phải cho học sinh thấy rõ luận điểm trung tâm là khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc được phát triển thật sâu sắc , hệ thống và toàn diện qua một loạt các luận điểm bộ phận đó là :
Trang 6- Nền văn hiến lâu đời
4 Đọc kỹ văn bản nghị luận , tìm hiểu vì sao người ta gọi “ Bình ngô đại cáo” và “Hịch tướng sĩ” là kim cổ hùng văn
Ở một cấp thấp hơn “Chiếu dời đô”, “ Bản án chế độ thực dân Pháp”, “ Bàn luận về phép học” , “ Đi bộ ngao du” … là mẫu mực về các phép biện luận Người xưa từng nói : “ Văn chương không khó , khó là ở vấn đề mà nó muốn đạt tới” Vấn đề mà các tiền bối nói ở đây theo tôi chính là chủ đề tư tưởng các tác phẩm Chủ đề càng cao , tư tưởng càng lớn thì dù viết ở thể loại văn học nàocũng có sức hấp dẫn , có giá trị đặc biệt ở đây có một vấn đề cần lưu ý là tài năng của người nghị luận Chủ đề tư tưởng thật lớn nhưng nếu không phải là Nguyễn Trãi , Trần Quốc Tuấn , Lý Thái Tổ , La Sơn phu Tử , Nguyễn Ái
Quốc , Ru – Xô …Thì chưa chắc các vấn đề được nghị luận lại sâu sắc , thanh thoát , cuốn hút chúng ta đến mức ấy Vậy nên , dạy một văn bản nghị luận ta phải có công đọc nhiều văn bản khác ; đọc thêm về thân thế, sự nghiệp văn phong của tác giả mà ta cần biết Có khi chỉ một mẩu chuyện , một giai thoại chung quanh tác giả và tác phẩm , cũng góp phần tạo hứng thú cho thầy và trò
5 Cần chú ý đến dạy học theo phương pháp tích hợp
Trang 7Trong quá tình dạy – học phần văn bản nghị luận , cần phải chú ý đến
phương pháp tích hợp Chẳng hạn , dạy “ Hịch tướng sĩ” có thể liên hệ tới “ Lờikêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh” ta thấy Trần Quốc Tuấn xưng hô với các quân sĩ là “ta” – khẩu khí của một đại vương ; nghe Nguyễn Trãi thay lời Lê Lợicũng tự xưng là “ta” trong “ bình ngô đại cáo” … Giáo viên cần cho học sinh xem lại “lời kêu gọi của chủ tich Hồ Chí Minh” , Người chỉ xưng “tôi” hoặc
“bác” , nghĩa là cách xưng hô đó đã gây được chú ý cho mọi người , nhất là đối với người học Sau đó giáo viên nhấn mạnh thêm : Lý Thái Tổ xưng là “
Trẫm” , giả sử Trần Hưng Đạo , Nguyễn Trãi , Bác Hồ thử xưng là “ Trẫm” thì các em thấy lời hịch, lời cáo , lời kêu gọi sẽ ra sao
- Hoặc dạy bày “ Bàn luận về phép học” , giáo viên cần phải lưu ý với học sinh
về hoàn cảnh ra đời bài tấu và vận dụng phương pháp học vào thực tế thông qua các phương pháp học mà La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã đề cập tới Học sinh
có thể tự do nghị luận và sẽ gây được hứng thú của các em
- Dạy bài “ Thuế máu” , giáo viên phải bám sát vào ba phần nhưng mặt khác cần phân tích các biện pháp tu từ , ngôn ngữ giễu nhại , mỉa mai , làm cho chất trào phúng hiện ra sâu sắc và dồn dập Điều này sẽ tạo cho học sinh hứng thú vàthấy sảng khoái hơn
- Khi dạy bài “ đi bộ ngao du” cũng thế Vấn đề là Ru- xô muốn chứng minh
đi bộ sẽ có lợi về nhiều mặt : Hiểu biết được nhiều mặt , làm cho đầu óc tỉnh táo , có lợi cho sức khoẻ ,vui vẻ và hài lòng hơn …Người giáo viên cần phải chohọc sinh liên hệ thực tế , cho học sinh phát biểu những quan điểm bản thân một cách tự do , thoải mái
6 Một phần không thể thiếu được trong dạy văn nghị luận là tổng hợp bằng sơ đồ tư duy cho học sinh dễ nắm bắt sau quá trình phân tích
Thực ra thì sơ đồ tư duy giúp cho chúng ta nhìn nhận vấn đề một cách khái quát nhất , đầy đủ nhất Nó giúp chúng ta nắm được trong một vấn đề có nhiều chủ điểm cần lưu ý Nó có nhiều điểm giống với việc chúng ta tóm gọn vấn đề bằng cách ghạch đầu dòng Nhưng sơ đồ tư duy sinh động , gây được nhiều
Trang 8chú ý nên dễ nhớ Chính vì vậy khái quát bằng sơ đồ tư duy sẽ cực kì hiệu quả , cho thấy cấu trúc tổng thể của một bài nghị luận và mực độ quan trọng của những phần riêng lẻ trong đó với nhau
III) Phần minh hoạ cho các vấn đề đã được đặt ra
Liên tiếp trong các giờ dạy , các giờ thao giảng , tôi đã soạn và dạy thử
nghiệm các văn bản nghị luận như : Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp , “ thuế máu” của Nguyễn ái Quốc , “ đi bộ ngao du” của Ru – Xô Dưới đây là một số tiết soạn minh hoạ :
- Những hiểu biết bước đầu về tấu
- Quan điểm tư tưởng tiến bộ của tác giả về mục đích , phương pháp học và mốiquan hệ của việc học với sự phát triển của đất nước
- Đặc điểm hình thức lập luận của văn bản
2 Kỹ năng
- Đọc – hiểu một văn bản viết theo thể tấu
- Nhận biết , phân tích cách trình bày luận điểm trong đoạn văn diễn dịch và quy nạp , cách sắp xếp và trình bày luận điểm trong văn bản
Trang 9- Sưu tầm bút tích của Quang Trung gửi Nguyễn Thiếp.
HS : Soạn theo các câu hỏi trong phần đọc hiểu văn bản
C.Các hoạt động dạy – học
1 Ổn định tổ chức
2.Kiểm tra bài cũ
GV: Nêu điểm giống và khác giữa Hịch và Cáo
? Đọc thuộc lòng đoạn trích Nước Đại Việt ta? Nêu nội dung của đoạn trích?HS: Lên bảng trình bày
GV: Nhận xét , cho điểm
3 Bài mới
Hoạt động 1:
Giới thiệu bài
GV: Học để làm gì ? Học cái gì? Học như thế nào? Nói chung, vấn đề học tập
đã được ông cha ta bàn đến từ lâu Một trong những ý kiến tuy ngắn gọn nhưng rất sâu sắc và thấu tình đạt lý là đoạn Luận về phép học trong bản tấu dâng vua Quang Trung của nhà nho lừng danh La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp Chúng ta sẽcùng nhau tìm hiểu
Trang 10HS : Thảo luận và nêu
GV: Em hãy nêu bố cục của văn bản?
- Đây là một bậc thầy lớn ở La Sơn, HàTĩnh
- Giúp Vua Quang Trung chấn hưngnền giáo dục của nước nhà
- Tháng 8 năm 1791 Nguyễn Thiếpdâng lên vua bản tấu này
-Tấu thuộc vào thể văn hành nghị luận
chính Bài tấu của Nguyễn Thiếp là loại văn
bản nghị luận trình bày , đề nghị mộtvấn đề, chủ trương , chính sách thuộclĩnh vực giáo dục đào tạo con người
4 Bố cục
- Trước đó còn 2 phần : Phần 1: Bàn về
Trang 11quân đức, phần 2 : bàn về dân tâm
- Đoạn trích học Bởi thế đoạn nàykhông có phần mở bài mà vào ngay vấn
đề, nêu ngay luận điểm và luận cứ Tuy nhiên vẫn có thể chia đoạn nhưsau:
a Bàn về mục đích chân chính của việc học : Ngọc không mài…đến : tệ
- Quan điểm của Nguyễn thiếp về sự học:
+ Việc học dành cho đối tượng rộng rãi
Trang 122 Phương pháp
Vấn đáp , gợi tìm , diễn giảng
GV: Em hãy tìm luận đề , luận điểm
của văn bản ?
HS : Trao đổi để tìm ra luận đề , luận
điểm
HS : Đọc từ đầu đến “điều tệ hại ấy”
GV: Tác giả đã nêu kết quả , mục đích
chân chính của việc học là gì ?
Tác giả đã nêu mục đích đó bằng cách
nào?
HS : Thảo luận , trình bày ý kiến, nhận
xét bổ sung
GV: Tác giả đã phê phán những lối
II – Tìm hiểu chi tiết về văn bản
- Luận đề : Bàn về phép học
- Luận điểm :
+ Mục đích chân chính của việc học + Phê phán những lệch lạc sai trái trong học tập
+ Khẳng định quan điểm , phương pháp đúng đắn trong học tập + Tác dụng của việc học chân chính
1 Mục đích chân chính của việc học
=> Mục đích chân chính của việc học
là học để làm người
2 Phê phán những việc học lệch lạc , sai trái
- Nền chính học bị thất truyền
Trang 13học lệch lạc nào ? tác hại của lối học
GV: Sau khi phê phán những biểu hiện
sai trái , lệch lạc trong việc học , tác
giả đã khẳng định quan điểm và
phương pháp đúng đắn trong học tập
HS : Đọc từ “cúi xin từ nay” đến “ xin
chớ bỏ qua”
GV: Để khuyến khích việc học ,
Nguyễn Thiếp khuyên vua Quang
- Đua nhau lối học hinhg thức , hòng cầu danh lợi
- Không biết đến tam cương ngũ thường
* Tác hại : Chúa trọng nịnh thần ,
người trên kẻ dưới đều thích chạy chọt , luồn cúi không có thực chất dẫn đến cảnh “ Nước mất nhà tan”
+ Tam cương : ba mối quan hệ gốc
trong xã hội phong kiến là quân thần , phụ tử , phu phụ
+ Ngũ thường : năm đức tính của con
người là: Nhân , lễ , nghĩa , trí , tín
- Lối học chuộng hình thức : Học thuộclòng câu chữ mà không hiểu nội dung ,chỉ có cái danh mà không thực chất
- Lối học cầu danh lợi : học để có danhtiếng , được trọng vọng , được nhàn nhã , được nhiều lợi lộc
3 Khẳng định quan điểm , phương pháp học tập đúng đắn trong việc học.
- Mở trường ,mở rộng thành phần người học , tạo điều kiện thuận lợi cho người đi học
- Việc học phải bắt đầu từ những kiến