Là một cơ quan ngôn luận chính thống của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, các tác phẩm, chương trình phát thanh thông tin, tuyên truyền về biển đảo trên só
Trang 1Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học Xã HộI Và NHâN VĂN
Hà Nội – 2011
Trang 2Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học Xã HộI Và NHâN VĂN
Mó số: 60 32 01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Dương Xuõn Sơn
Hà Nội – 2011
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
PHÁT THANH 7
1.1 Tổng quan về biển, đảo Việt Nam 7
1.1.1 Một số định nghĩa 7
1.1.2 Vị trí địa kinh tế và địa chính trị của biển, đảo Việt Nam 8
1.1.3 Những thành tựu chủ yếu về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đảo Việt Nam 10
1.1.4 Những thách thức đặt ra đối với biển, đảo Việt Nam hiện nay 17
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề biển, đảo 21
1.3 Cơ sở, điều kiện để Đài TNVN trở thành cơ quan ngôn luận hàng đầu trong việc thông tin, tuyên truyền về biển đảo 24
1.4 Những khái niệm cơ bản sử dụng trong luận văn 26
1.4.1 Tìm hiểu về loại hình phát thanh (báo nói) 26
1.4.2 Hệ phát thanh là gì? 28
1.4.3 Chương trình phát thanh 29
1.4.4 Sóng phát thanh Đài TNVN thể hiện đầy đủ các ưu điểm của báo nói 30
Chương 2: VIỆC THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN VỀ BIỂN, ĐẢO TRÊN SÓNG HỆ THỜI SỰ CHÍNH TRỊ TỔNG HỢP VOV1, ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 33
2.1 Việc thông tin, tuyên truyền về biển, đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN 33
2.1.1 Vị trí, vai trò của thông tin tuyên truyền về biển, đảo trên sóng Đài TNVN 33
2.1.2 Biện pháp khắc phục gần đây 35
2.2 Việc thông tin, tuyên truyền về biển, đảo trên sóng phát thanh Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1 38
2.2.1 Tính chất quan trọng của Hệ phát thanh VOV1 38
2.2.2 Công tác tuyên truyền về biển, đảo được Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1 chú trọng 41
2.3 Thực trạng vận hành của các chương trình Biển đảo Việt Nam, Tâm tình nơi biên giới hải đảo (qua 200 chương trình trong 4 năm (từ 2008 đến 2011)) 45
2.3.1 Các chương trình đã thể hiện tốt chức năng xã hội của báo chí 45
2.3.2 Thực trạng vận hành của chương trình Biển đảo Việt Nam 48
2.3.3 Thực trạng vận hành của chương trình Tâm tình nơi biên giới hải đảo 53
Trang 42.3.4 Đóng góp của các chương trình phát thanh thông tin, tuyên truyền về biển, đảo trên sóng Hệ VOV1 58
Chương 3: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH VỀ BIỂN, ĐẢO TRÊN HỆ THỜI SỰ CHÍNH TRỊ TỔNG HỢP VOV1 68 3.1 Mục tiêu và định hướng trong tuyên truyền về biển đảo trên Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1 68
3.1.1 Mục tiêu 68 3.1.2 Định hướng tuyên truyền 71
3.2 Một số giải pháp, khuyến nghị nâng cao chất lượng chương trình về biển đảo trên sóng phát thanh
Hệ VOV1 73
3.2.1 Giải pháp trong việc đổi mới hình thức, nội dung và đổi mới quy trình sản xuất các chương trình phát thanh tuyên truyền về biển, đảo 73 3.2.2 Giải pháp trong việc điều tra, nghiên cứu thính giả và công tác quảng bá các chương trình phát thanh tuyên truyền về biển, đảo 80
PHẦN KẾT LUẬN 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác tuyên truyền biển, đảo được xác định là một trong những nhiệm vụ, giải pháp đi trước một bước nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư (số 09- NQ/TW, ngày 09-02-2007) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Kể từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết, công tác tuyên truyền biển, đảo đã đạt được kết quả tích cực trên một số mặt Tuy nhiên, kết quả đó vẫn còn chưa đủ so với yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới Nội dung tuyên truyền chậm đổi mới, hình thức tuyên truyền chưa đa dạng, phong phú, điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền biển, đảo đối với các địa phương trong thời gian qua
Là một cơ quan ngôn luận chính thống của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, các tác phẩm, chương trình phát thanh thông tin, tuyên truyền về biển đảo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (Đài TNVN) cũng cần phải đổi mới và nâng cao chất lượng hơn nữa, bởi vì:
Thứ nhất: Biển, đảo có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã
hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về phát triển các lĩnh vực liên quan biển, đảo Vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo Việt Nam đã được xác định trong Nghị quyết Hội nghị TƯ 4 (khoá X) về chiến lược biển, trong đó “phấn đấu để nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế- xã hội với đảm bảo quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường… giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể về đời sống nhân dân vùng biển và ven biển” Những năm qua, công tác tuyên truyền biển, đảo đã góp phần làm cho nhận thức của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược của biển, đảo từng bước được nâng cao Nhận thức về tầm quan trọng của biển, đảo đã được thể hiện trong chính sách phát triển của những ngành liên quan và các địa phương có biển
Trang 6Thứ hai: Biển Đông (trong đó có vùng biển Việt Nam) là một trong số nhiều
vùng biển đang có tranh chấp trên thế giới Vì vậy hợp tác quốc tế bảo vệ chủ quyền quốc gia, góp phần giữ gìn hoà bình, tăng cường tình hữu nghị với các nước láng giềng, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Thứ ba: Công tác tuyên truyền biển đảo góp phần làm cho nhận thức của các
cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành, các lực lượng vũ trang và nhân dân về chủ quyền biển đảo; vị trí chiến lược của biển, đảo được thể hiện khá rõ trong chương trình hành động, trong chính sách phát triển về biển đảo, trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh biển đảo của các ngành có liên quan và các địa phương có biển đảo
Thứ tư: Ngày 04/02/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2008/NĐ-CP
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài TNVN, theo đó Đài TNVN sẽ có 06 hệ phát thanh, bao gồm: Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp VOV1; Hệ Văn hoá - Đời sống - Khoa giáo VOV2; Hệ Âm nhạc - Thông tin - Giải trí VOV3; Hệ Phát thanh Dân tộc VOV4; Hệ phát thanh đối ngoại VOV5 và Hệ phát thanh có hình VOVTV Trong đó, Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (Hệ VOV1) là hệ phát thanh đối nội quan trọng hàng đầu với những thông tin, vấn đề, sự kiện thời sự chính trị, kinh tế xã hội … do đó cần phải có sự đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình trên Hệ nói chung và các chương trình phát thanh tuyên truyền về biển đảo nói riêng để phù hợp với nội dung và cách thức thông tin trên Hệ, nhằm tăng lượng thính giả nghe đài
Chính vì vậy, vấn đề Nâng cao chất lượng chương trình về biển đảo trên sóng
phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam (Qua thực tế các chương trình trên Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1) được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ với mong
muốn góp phần vào việc đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình về biển đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN nói riêng và các đài phát thanh trên toàn quốc nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ năm 2004, việc nghiên cứu các hệ phát thanh tại Đài TNVN đã được quan tâm và hàng năm đều có các đề tài khoa học nghiên cứu hoạt động của từng hệ phát
Trang 7thanh riêng lẻ hoặc được đề cập trong một số đề tài nghiên cứu khoa học ở các lĩnh vực khác Cụ thể là:
Một số cuốn sách, như: Cuốn “Nửa thế kỷ Tiếng nói Việt Nam” - xuất bản năm 1995; Cuốn “Đài Phát thanh giải phóng A - Một thời để nhớ” - Hồi ký của nhiều tác giả - xuất bản năm 2000; Cuốn “60 năm Tiếng nói Việt Nam” - xuất bản năm 2005 nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của Đài TNVN; Một số luận văn (thạc sĩ) nghiên cứu về Đài TNVN và việc đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình Thời sự của Đài TNVN; Đổi mới trong cách viết tin thời sự trên Đài TNVN…
Về những đổi mới của Đài TNVN và Hệ VOV1 đã có những công trình nghiên cứu khoa học, như:
- Đề tài „Nghiên cứu tổng kết 60 năm phát thanh Việt Nam” (Văn phòng Đài TNVN, 2005) do GS TS Vũ Văn Hiền làm chủ nhiệm đề tài
- Đề tài “Nghiên cứu Hệ Thời sự chính trị tổng hợp” (Ban Thời sự Đài TNVN, 2004) do Th.s Tạ Toàn làm chủ nhiệm đề tài
Và một số nghiên cứu của sinh viên các trường đại học khi thực hiện đề tài khoá luận tốt nghiệp;
Về các tài liệu liên quan đến biển đảo Việt Nam có cuốn “Bạch Long Vỹ- đảo
thanh niên”- NXB Thanh niên năm 2002; đề cương tuyên truyền “50 năm Hải quân
Nhân dân Việt Nam anh hùng” do Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Hải quân xuất bản tháng
2-2005; sách “Hỏi- đáp Những điều Ngư dân cần biết trong hoạt động thuỷ sản” của
Ban Tuyên giáo TƯ- Nhà xuất bản Thế giới 2007; sách “Biển và hải đảo Việt Nam”
do Trung tâm Thông tin công tác tư tưởng phối hợp với Cục Chính trị Quân chủng Hải
quân biên soạn năm 2007; cuốn “Chiến lược biển Việt Nam từ quan điểm đến thực
tiễn” của Ban Tuyên giáo TƯ- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- 2010… cùng một số
sách, báo tạp chí nghiên cứu riêng lẻ các khía cạnh nhỏ trong công tác tuyên truyền về biển đảo cho quân và dân ở các vùng biên giới hải đảo
……
Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách cụ thể những giải pháp về việc đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình về biển
Trang 8đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN Vì vậy, luận văn Nâng cao chất lượng chương
trình về biển đảo trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam (Qua thực tế các chương trình trên Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1) là một công trình khoa học
mới, độc lập, mang tính thời sự, có kế thừa kết quả nghiên cứu của các đề tài và công trình khoa học cũng như sách, báo, tạp chí… có liên quan
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá đúng vị trí, tầm quan trọng của biển đảo Việt Nam, của các nhiệm vụ phát triển chiến lược biển Việt Nam, đánh giá đúng thực trạng và định ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền về biển đảo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên sóng phát thanh từ trước tới nay và những năm tiếp theo,
mục đích chung của đề tài là tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền
về biển đảo trên sóng Đài TNVN
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ thứ nhất là đề tài nghiên cứu thời cơ và thách thức đặt ra đối với việc
thông tin tuyên truyền về biển đảo trong thời đại ngày nay Thông qua đó, làm rõ tính tất yếu phải nâng cao chất lượng các chương trình tuyên truyền về biển đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN - một kênh thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước Việt
Nam
Nhiệm vụ thứ hai là đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận báo chí nói chung và cơ sở
lý luận về loại hình báo phát thanh, những hình thức hiện đang sử dụng để tuyên truyền về biển đảo trên sóng Đài TNVN, trong đó đi sâu vào nghiên cứu các chương trình phát thanh thông tin tuyên truyền chính về biển đảo Từ đó đánh giá đúng thực trạng về nội dung, hình thức thể hiện của các chương trình, tác phẩm, đóng góp vào
hiệu quả tuyên truyền về biển đảo cùng với các phương tiện thông tin đại chúng khác
Nhiệm vụ thứ ba là từ kết quả nghiên cứu trên sẽ đề xuất những giải pháp để đổi
mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền về biển đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu những tác phẩm, chương trình phát thanh thông tin, tuyên truyền về biển đảo trên sóng Đài TNVN, đi sâu vào phân tích các chương trình chuyên đề tuyên truyền về biển đảo trên Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1- hệ phát thanh chủ lực của Đài TNVN
sóng Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, việc ứng dụng kết quả đề tài là một cơ hội để những người trực tiếp làm nội dung ở Đài TNVN (khối biên tập) tổng kết, đúc rút kinh nghiệm trong việc tuyên truyền về mảng nội dung khó, nhạy cảm này để tuyên truyền trên sóng Đài TNVN có hiệu quả hơn
Chúng tôi cũng hy vọng đề tài sẽ là gợi ý cho các đồng nghiệp ở các đài phát thanh địa phương và các cơ quan thông tin đại chúng khác trong quá trình cải tiến nội dung, cách thức tuyên truyền về biển đảo, nhằm phục vụ tốt hơn việc thực hiện Nghị quyết TƯ 4 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu văn bản tác phẩm báo phát thanh
Trang 10Do đặc thù đối tượng khảo sát của chương trình là ngư dân và cán bộ chiến sĩ ở các quần đảo xa nên chúng tôi không có điều kiện làm phiếu điều tra (bảng hỏi) phát rộng rãi mà chỉ phân tích kết quả các đợt thăm dò ý kiến thính giả Đài TNVN tiến hành hàng quý Trong đó phân tích ý kiến thính giả trong thư từ, điện thoại gửi về các chương trình, nhận xét góp ý nội dung, hình thức tuyên truyền về biển đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN Nhóm nghiên cứu cũng tiến hành phỏng vấn chuyên sâu đối với các chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực biển, đảo Việt Nam; lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương; chỉ huy các lực lượng vũ trang; quân dân một số tỉnh, thành ven biển- những người gắn bó với sóng phát thanh Đài TNVN và ít nhiều có liên quan đến vấn đề biển, đảo
Đồng thời, đề tài cũng kế thừa có chọn lọc kết quả và quan điểm, phương pháp tiếp cận của các công trình nghiên cứu, tư liệu liên quan
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn: Nâng cao chất lượng chương trình về biển đảo trên sóng phát thanh
của Đài Tiếng nói Việt Nam (Qua thực tế các chương trình trên Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1) ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, có 3
chương:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT THANH
Chương 2: VIỆC THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN VỀ BIỂN, ĐẢO TRÊN SÓNG
HỆ THỜI SỰ CHÍNH TRỊ TỔNG HỢP VOV1- ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
Chương 3: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH VỀ BIỂN, ĐẢO TRÊN HỆ THỜI SỰ CHÍNH TRỊ TỔNG HỢP VOV1
Trang 11Trong Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, Điều 121 quy
định: Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên, vùng đất
này vẫn ở trên mặt nước (trích Điều 121, Công ước Luật biển 1982)
Đảo theo cách hiểu thông thường là một vùng đất có nước bao quanh Đối với người đi biển thì đảo được hiểu là các hải đảo nói chung, bao gồm các đảo, đá
Theo nghĩa pháp lý: Điều 46 Công ước Luật biển 1982 quy định: “Quần đảo là một nhóm đảo, kể cả các bộ phận của các đảo , các vùng nước nối giữa các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử”
Một nước ven biển có năm vùng biển: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa [7, tr.13]
Nội thủy: Là vùng biển nằm ở phía trong của đường cơ sở để tính chiều rộng
lãnh hải Vùng nước thuộc nội thủy có chế độ pháp lý như lãnh thổ trên đất liền
Lãnh hải: là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở nhìn từ phía
bờ ra biển, có chế độ pháp lý tương tự như lãnh thổ trên đất liền
Vùng tiếp giáp: Là vùng biển rộng 12 hải lý tiếp giáp và tính từ ranh giới ngoài
của lãnh hải
Vùng đặc quyền kinh tế: Là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (trừ
lãnh hải thì chiều rộng là 188 hải lý)
Thềm lục địa: là vùng đáy và lòng đất đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của
nước ven biển trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc tới giới hạn 200 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn
Trang 12Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định tại
Điều 1: Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời
Lãnh hải Việt Nam được xác lập theo Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày
12-5-1977 về các vùng biển của Việt Nam: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời phía trên, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải (trích Tuyên
bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ngày 12-5-1977) Chiều rộng của lãnh hải được xác lập là 12 hải lý tính từ đường cơ sở trở ra Điều này phù hợp với luật quốc tế
1.1.2 Vị trí địa kinh tế và địa chính trị của biển, đảo Việt Nam
Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 Bờ biển Việt Nam dài khoảng 3.444 km ở cả 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam, trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ này của thế giới) Ven bờ
có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng l.700 km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn l km2 và khoảng trên l.400 đảo chưa
có tên Vì vậy, biển, đảo đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế
- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước
Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu
Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Biển Đông đóng vai trò là chiếc ''cầu nối'' cực kỳ quan trọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt
là với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn của thế giới
Trang 13Vị trí địa lý và hình dáng vùng biển nước ta có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành các đặc điểm tự nhiên, từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức khai thác tài nguyên Nét độc đáo của vị trí địa lý vùng biển nước ta ở chỗ: đây là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, văn hoá lớn trên thế giới Đây là điều kiện rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới
Hệ thống cảng của nước ta gồm cảng biển và cảng sông với khoảng trên 90 cảng lớn nhỏ; những cảng lớn chủ yếu nằm ở ranh giới châu thổ thuỷ triều và châu thổ bồi tụ, nên tàu ra vào cảng phải đi theo luồng lạch và phụ thuộc vào mức nước thuỷ triều Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hoá xuất, nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc, đồng thời thu hút cả vùng Tây Nam Trung Quốc, Lào, Đông Bắc Thái Lan và Campuchia
Biển nước ta chủ yếu là vùng biển nhiệt đới mang tính chất địa phương, có tính chất riêng về nhiều mặt như khí tượng - hải văn, chế độ thủy triều Hiện tượng nổi bật là sự xuất hiện vùng nước trồi - một vùng sinh thái đặc biệt phong phú, đa dạng và
là nơi tập trung nhiều loài sinh vật biển Nguồn lợi hải sản của biển nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 - 4,0 triệu tấn/năm, cho phép hàng năm khai thác 1,9 triệu tấn, trong đó vùng biển gần bờ chỉ khoảng 500 nghìn tấn, còn lại là vùng xa bờ Hải sản ở vùng biển nước ta là nguồn lợi hết sức quan trọng, không chỉ cung cấp thực phẩm, nguồn dinh dưỡng hàng ngày cho nhân dân (chiếm 50% lượng đạm động vật trong thành phần dinh dưỡng), mà còn tạo nguồn xuất khẩu lớn
Ngoài ra, nước ta còn có rất nhiều lợi thế về du lịch biển Với nhiều trung tâm
du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những tụ điểm về du lịch biển Vùng biển nước
ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại
Trang 14hình du lịch Phần lục địa với các hình đồi, núi, đồng bằng đa dạng làm tôn lên vẻ đẹp của hàng chục bãi tắm tốt, cùng với mặt nước, đáy biển và hải đảo tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú, sơn thủy hữu tình Khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho việc tổ chức du lịch biển quanh năm, đặc biệt là ở các tỉnh ven biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào Các thảm thực vật phong phú, các nguồn nước khoáng, các loại động vật quý hiếm, tạo sức hấp dẫn thu hút khách du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, thể thao, chữa bệnh Mỗi năm Việt Nam thu hút trên 10 triệu lượt khách nội địa và khoảng 4 triệu lượt khách quốc tế, trong đó có 50 - 60% khách du lịch biển
1.1.3 Những thành tựu chủ yếu về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đảo Việt Nam
1.1.3.1 Các ngành và địa phương đã tích cực xây dựng nhiều chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực liên quan đến biển
Thực hiện chủ trương của Đảng, chấp hành Chỉ thị 399/TTg của Thủ tướng Chính phủ, các ngành, các địa phương đã tiến hành quy hoạch, trong đó, rõ nhất là quy hoạch chuyên ngành thuỷ sản (khai thác xa bờ, nuôi tôm và hải sản ở các vùng đồng bằng sông Hồng, miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long, thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản ở bán đảo Cà Mau, quy hoạch thông tin cứu nạn ngành thuỷ sản ); chiến lược phát triển ngành dầu khí; quy hoạch phát triển ngành tàu thuỷ; các quy hoạch về phát triển cảng, tìm kiếm cứu nạn Đến nay, các tỉnh ven biển đều có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, có nội dung định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực về biển Ngoài ra, đã tiến hành một số quy hoạch liên quan đến phát triển kinh
tế biển như quy hoạch phát triển các đảo Phú Quốc, Phú Quý, Côn Đảo; quy hoạch phát triển một số khu kinh tế ven biển như Vân Phong, Cam Ranh, Chân Mây, Chu Lai, Nhơn Hội…
1.1.3.2 Quy mô kinh tế biển tăng lên, cơ cấu ngành, nghề có thay đổi cùng với sự xuất hiện ngành kinh tế mới
Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chiếm 12% GDP và khoảng 50% giá trị xuất khẩu của cả nước trong
đó, khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng
Trang 15biển) 11%; du lịch biển trên 9% Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ, hải sản, thông tin liên lạc bước đầu phát triển
Dầu khí là nguồn tài nguyên mũi nhọn, có ưu thế nổi trội nhất của vùng biển Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đã xác định tiềm năng và trữ lượng dầu khí của Việt Nam khoảng 3 - 4 tỷ m3 dầu quy đổi, trong đó 0,9 - 1,2 tỉ m3 dầu và 2100 - 2800 tỷ m3 khí Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam ước tính khoảng 10 tỉ tấn dầu quy đổi Hiện nay chúng ta đang khai thác mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Ruby, Rạng Đông, Sư Tử Đen , đã phát hiện được trên 20 vị trí có tích tụ dầu khí Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một trong những ngành có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển; đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu
và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hoá dầu, giao
thông vận tải, thương mại trong nước và khu vực (Nguồn:http://www.vietnamplus.vn)
Các ngành khác như vận tải biển, đóng sửa chữa tàu biển, xuất khẩu thuyền viên, v.v đã đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh có trữ lượng khai thác công nghiệp
và làm vật liệu xây dựng Tiềm năng về khí - điện - đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh
tế đảo Việt Nam đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ xác định: phấn đấu đến năm
2020 kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53 - 55% tổng GDP cả nước Theo đó, phấn đấu nâng mức đóng góp của kinh tế biển đảo trong kinh tế cả nước từ 0,2% hiện nay lên 0,5% vào năm 2020 và tốc độ tăng trưởng kinh tế đảo đạt bình quân 14-15%/năm
Đến nay, trên các vùng biển đã có các trung tâm kinh tế biển như các thành phố
Hạ Long, Hải Phòng (vùng biển Bắc Bộ); Huế, Đà Nẵng, Nha Trang - Cam Ranh (vùng biển miền Trung); Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh (vùng biển phía Nam) và
Trang 16Rạch Giá, Cà Mau, khu kinh tế đảo Phú Quốc (vùng biển phía Tây Nam) Đây là những khu vực đã có sự phát triển tổng hợp các ngành, nghề biển như hậu cần nghề cá; công nghiệp gắn với cảng; cảng biển và vận tải biển, du lịch biển, nghiên cứu khoa học
về biển
Ở những đảo có điều kiện phát triển đều có dân cư, kết cấu hạ tầng được tăng lên rõ rệt (hình thành hệ thống giao thông trên đảo, nhiều đảo gần bờ có điện lưới, các đảo xa bờ có máy phát điện, một số đảo sử dụng điện mặt trời, trên các đảo đã xây dựng các cơ sở cung cấp nước ngọt) Vai trò kinh tế của các đảo tăng lên rõ rệt, nhiều đảo đã phát triển mạnh nghề cá, đặc biệt là đánh bắt xa bờ, phát triển du lịch, bảo vệ và phát triển rừng Tương lai có nhiều đảo như Vân Đồn, Cát Hải, Côn Đảo, Phú Quốc phát triển thành những trung tâm để ra biển
Khả năng phát triển cảng và vận tải biển là nguồn lực rất quan trọng để phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Dọc bờ biển đã xác định nhiều khu vực có thể xây dựng cảng, trong đó một số nơi có khả năng xây dựng cảng nước sâu như Cái Lân, một số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Nghi Sơn, Hòn La - Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải… Việt Nam đã xây dựng được đội tàu biển quốc gia, trực tiếp tham gia thị trường khu vực, khách hàng nước ngoài đã sử dụng trên 50% năng lực đội tàu của Việt Nam Quy mô cảng ngày càng tăng, hiện nay trên 24 tỉnh thành vùng duyên hải Việt Nam đã có 266 cảng biển lớn nhỏ,đảm nhiệm thông qua hầu hết lượng hàng ngoại thương, góp phần đưa nước ta từng bước tiếp cận và hội nhập với khu vực
và thế giới Hơn 80% khối lượng hàng xuất nhập khẩu được vận chuyển thông qua hệ thống cảng biển Trình độ, năng lực đóng, sửa chữa tàu so với trước đây đã có tiến bộ vượt bậc, hiện đại hoá một bước theo hướng tập trung quy mô lớn, bước đầu có phân công chuyên môn hoá, vươn ra đóng tàu cỡ lớn từ 50.000 đến 400.000 tấn, chuyên dùng đạt chất lượng đăng kiểm quốc tế [45, tr.2]
Tài nguyên du lịch biển cũng là một ưu thế đặc biệt, mở ra triển vọng khai thác tổng hợp để phát triển mạnh Ngành du lịch biển cũng phát triển mạnh, thu hút hàng năm 73% số lượt khách du lịch quốc tế trong cả nước, đạt tốc độ tăng bình quân gần
Trang 1713%/năm Dọc bờ biển đã xác định khoảng 125 bãi biển lớn và nhỏ thuận lợi cho phát triển du lịch, có dung lượng chứa khách cùng một lúc đến vài trăm ngàn người, trong
đó có khoảng 20 bãi biển đạt quy mô và tiêu chuẩn quốc tế Các bãi biển của Việt Nam nhìn chung khá bằng phẳng, nước trong, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ…, rất thích hợp cho tắm biển và vui chơi giải trí trên biển Sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan tự nhiên với cảnh quan văn hoá - xã hội của biển, vùng ven biển và các hải đảo cùng với điều kiện thuận lợi về vị trí, địa hình của vùng ven biển đã tạo cho du lịch biển có lợi thế phát triển hơn hẳn so với nhiều loại hình du lịch khác trên đất liền
Năm 2000
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2010
Năm 2020
Năm 2030
Khách du lịch biển quốc tế
Khách du lịch biển trong nội địa
Bảng thống kê lượng khách du lịch quốc tế, nội địa thăm biển đảo Việt Nam
và dự kiến thu hút khách du lịch biển đảo năm 2010-2030
(Nguồn: Tổng cục du lịch)
Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 1.000 loài có giá trị kinh tế Đến nay đã xác định 15 bãi cá lớn
Trang 18quan trọng, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi Dọc ven biển có trên 37 vạn héc ta mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn - lợ, nhất là nuôi các loại đặc sản xuất khẩu như tôm, cua, rong câu… Ngoài ra còn hơn 50 vạn ha các eo vịnh nông và đầm phá ven bờ như Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Phá Tam Giang, Vịnh Văn Phong… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển Với tiềm năng trên trong tương lai có thể phát triển mạnh ngành nuôi trồng hải sản ở biển và ven biển một cách toàn diện và hiện đại với sản lượng hàng chục vạn tấn/ năm
Nước ta có 20 tỉnh thành có nghề sản xuất muối biển với tổng diện tích 15.000
ha và trên 80 ngàn lao động nghề muối, sản xuất được bình quân 800 ngàn tấn đến 1,2 triệu tấn/năm Một số đồng muối ở miền Trung nước ta được đánh giá là muối sạch, ngon của thế giới, có khả năng xuất khẩu với số lượng lớn muối công nghiệp và muối
sạch cho tiêu dùng (Nguồn: Phòng nghề muối – Cục chế biến- Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn)
Các tài nguyên khoáng sản khác ven biển cũng là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các khoáng sản quan trọng và
có tiềm năng lớn ở vùng ven biển là than, sắt, titan, cát thuỷ tinh và các loại vật liệu xây dựng khác
1.1.3.3 Nguồn nhân lực dồi dào ven biển là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định kết quả khai thác tiềm năng nguồn lợi biển
Hiện nay có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển
Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là các thành phố, thị xã ở Trung Bộ nằm sát ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn, có nhiều sân bay, cảng biển quan trọng, các căn cứ hải quân, kho tàng, các công trình kinh tế - quốc phòng khác Các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc
Trang 19phòng Dự báo đến năm 2020, dân số vùng ven biển khoảng trên 30 triệu người, trong
đó, lao động khoảng gần 19 triệu người [3; tr.127]
Biểu đồ 1.2
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Năm 2003(tr) Năm 2007(tr) Năm 2010(tr)
Dân số cả nước Dân số biển Lao động biển
Biểu đồ thể hiện số dân lao động biển trong dân số cả nước
Do vậy, việc bố trí dân cư thực hiện chủ trương dân sự hóa trên biển, đảo phải gắn với
tổ chức dân cư, tổ chức sản xuất và khai thác biển Trong quá trình triển khai, chú ý đến chất lượng dân cư gắn với tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, có hệ thống trong nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhân dân nhận thức về vị trí chiến lược của biển Đồng thời coi trọng việc phát triển nguồn nhân lực biển, tạo điều kiện thay đổi chất lượng dân số, nâng cao dân trí
Trang 20Giải pháp cơ bản là phải đánh giá và dự báo đúng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của toàn hệ thống quản lý Nhà nước về biển và hải đảo, bao gồm: Cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, các chuyên gia
và đội ngũ lao động chuyên ngành kỹ thuật thuộc các lĩnh vực kinh tế biển Trên cơ sở
đó, lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực trung hạn và dài hạn, cùng với việc xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ chế cử tuyển để khuyến khích cán bộ khoa học và quản lý ra công tác tại các hải đảo và vùng ven biển Khuyến khích việc xây dựng một số cơ sở đào tạo ngành, nghề về biển ở bậc đại học, cao đẳng và dạy nghề tại các thành phố ven biển nước ta
Do các đặc thù của biển, công tác phát triển nguồn nhân lực quản lý Nhà nước
về biển và thay đổi chất lượng dân số gắn với đào tạo chuyên môn, ra biển và quản lý biển phải “có nghề” Đồng thời đa dạng hoá các hình thức đào tạo phù hợp với từng đối tượng, trong đó cần ưu tiên đào tạo con em ngư dân, người làm nghề biển, đội ngũ người lao động trên biển, đảo và ven biển thông qua “vừa học, vừa làm”, đào tạo qua công việc, tham quan học hỏi, tập huấn kỹ năng và nghiệp vụ, mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, thông qua các hoạt động khoa học- công nghệ và hợp tác quốc tế về biển và hải đảo
1.1.3.4 Công tác đối ngoại đã đạt được một số kết quả quan trọng
Cho đến nay, nước ta đã ký một số thỏa thuận trên biển với các nước láng giềng: Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia (l982), Thỏa thuận khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam - Malaixia (l992), Hiệp định về phân định ranh giới biển Việt Nam - Thái Lan (l997), Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc (2004) và Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam - Inđônêxia (2003) Ngoài
ra, ta cũng mở diễn đàn trao đổi về vấn đề chủ quyền hai quần đảo với Philippin (1995), Trung Quốc (1995) và Malaixia, tham gia ký kết các văn kiện mang tính chất khu vực về Biển Đông, triển khai một số dự án hợp tác song phương và đa phương với các nước liên quan, trong đó có dự án nghiên cứu khoa học biển Việt Nam - Philippin (JOMSRE) [3, tr.15]
Trang 21Về mặt pháp lý - chính trị, Quốc hội nước ta đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển 1982 vào ngày 23/6/1994 Công ước này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 Nhà nước ta đã chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế về phạm vi các vùng biển và thềm lục địa, tạo cơ sở vững chắc trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và thềm lục địa, bảo vệ lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo Đồng thời, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển Ngày 18/12/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 161/2003/NĐ-CP về Quy chế khu vực biên giới biển gồm 5 chương, 37 điều - quy định hoạt động của người, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài trong khu vực biên giới biển nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, duy trì an ninh trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển
1.1.4 Những thách thức đặt ra đối với biển, đảo Việt Nam hiện nay
1.1.4.1 Bảo vệ chủ quyền biển đảo
Biển Đông được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Brunây, Malaixia, Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu dân của các nước và vùng lãnh thổ này
Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển Hầu hết các nước trong khu vực châu
Á - Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông
Biển Đông (trong đó có vùng biển Việt Nam) có vị trí địa kinh tế và chính trị quan trọng như vậy, nên từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong Chiến lược phát triển không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một số cường quốc hàng hải khác trên thế giới Đó cũng là lý do quan trọng dẫn đến những mâu thuẫn kinh tế - chính trị của thế giới; tập trung những mặt đối lập, thuận lợi và khó khăn, hợp
Trang 22tác và đấu tranh, hòa bình và nguy cơ mất ổn định, dễ gây ra xung đột vũ trang Một trong những vấn đề đó là tồn tại tranh chấp biển, đảo giữa các nước và vùng lãnh thổ xung quanh Biển Đông; tạo nên tranh chấp đa phương và song phương, chứa đựng các mâu thuẫn cả về quốc phòng, kinh tế và đối ngoại Sự thay đổi chiến lược của các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn và sự thay đổi căn bản cục diện ở Đông Nam
Á, những tranh chấp biển và động thái mới nói trên đặt ra tình hình hình căng thẳng trên khu vực Biển Đông; đặt chúng ta trước tình thế phải khẩn trương đổi mới mạnh
mẽ tư duy chiến lược trên nhiều bình diện khác nhau, trong đó có chiến lược quốc phòng - an ninh trên biển và chiến lược phát triển kinh tế biển
Việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, những vi phạm trong quá trình sử dụng, khai thác tài nguyên biển chưa có các quy định cụ thể mang tính pháp quy như trong quản lý sử dụng đất trên đất liền và còn nhiều bất cập Trong bối cảnh
đó giữ cho được môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như hợp tác cứu hộ, chống cướp biển trên Biển Đông phải là phương châm ứng xử và hành động chung của các nước liên quan Tôn trọng, xây dựng lòng tin lẫn nhau, cũng như chủ động tìm kiếm, đề xuất các phương thức để giải quyết tranh chấp phải là những việc cần làm
1.1.4.2 Quản lý tổng hợp biển
Cho đến nay, nước ta chưa có một cơ quan Nhà nước để quản lý tổng hợp, thống nhất về biển Ở cấp Trung ương, tuy đã có Ban Chỉ đạo Nhà nước về biển Đông- hải đảo (thành lập năm 1993), nhưng rất hạn chế về công tác quản lý nhà nước Nhiều
bộ, ngành cùng tham gia quản lý biển nên có tình trạng chồng chéo Ở các địa phương, chưa có bộ máy tổ chức quản lý biển thống nhất nên có tình trạng buông lỏng, lúng túng Chúng ta cần có một hoạt động chỉ đạo chung đủ mạnh để đảm bảo thống nhất từ nhận thức đến hành động của các ngành, các cấp chính quyền về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển và vùng ven biển
1.1.4.3 Phát triển kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng
Nhìn chung quy mô kinh tế biển của Việt Nam còn nhỏ bé và đang ở trình độ thấp, chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế biển của nước ta Quy mô kinh tế biển
Trang 23Việt Nam chỉ đạt khoảng hơn 12 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước 1.300 tỷ USD, Nhật Bản là 468 tỷ USD, Hàn Quốc là 33 tỷ USD Các nghề mới như khai thác dầu khí, nuôi trồng hải sản đặc sản, du lịch biển đang trong quá trình phát triển bước đầu Do trình độ kỹ thuật khai thác biển còn thấp, phương tiện khai thác thô sơ, lạc hậu nên chỉ mới tập trung hoạt động gần bờ Nuôi trồng hải sản phần lớn là quảng canh, năng suất thấp Các nghề biển hướng tới tương lai như năng lượng sóng thuỷ triều, dược liệu biển, khai thác khoáng sản dưới lòng nước sâu, hoá chất và dược liệu biển chưa được nghiên cứu nhiều Kỹ thuật tổng thể khai thác kinh tế biển vẫn còn ở trình độ rất thấp Ô nhiễm biển, đặc biệt các vùng biển tập trung tài nguyên, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, vận tải biển và công nghiệp ven bờ đang gây ra nhiều vấn đề đối với phát triển bền vững Dịch vụ xây dựng hạ tầng biển và các công trình
kỹ thuật khác của biển còn nhiều yếu kém Tình hình trên đặt ra nhu cầu cấp bách phải
có một chiến lược phát triển kinh tế biển với căn cứ khoa học vững chắc, đáp ứng nhiệm vụ tăng tốc phát triển kinh tế trong thời kỳ mới hiện nay
Những năm tới được dự báo là kinh tế chung sẽ còn gặp nhiều khó khăn, do đó kinh tế biển càng phải vượt qua nhiều thách thức Để giàu từ biển, mạnh lên từ biển, nước ta cần phải xây dựng được một nền khoa học- công nghệ biển hiện đại; phát triển được một nền kinh tế biển hiệu quả, bền vững và có khả năng hội nhập quốc tế; có một phương thức quản lý tổng hợp biển và bảo đảm được an ninh chủ quyền vùng biển
1.1.4.4 Bão, áp thấp nhiệt đới thường xuyên xảy ra ở khu vực biển, đảo
Nước ta có vị trí địa lý trải dài trên hơn 15 vĩ độ, có bờ biển dài 3.260 km, nằm gần một trong năm trung tâm bão thế giới, hằng năm nước ta thường chịu ảnh hưởng của trung bình từ 6 - 7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hình thành từ Thái Bình Dương Năm 1997, cơn bão Linda đã làm thiệt hại hơn 3.000 ngư dân và 3.000 tàu thuyền đánh bắt cá bị chìm ngoài khơi Cơn bão số l (Chanchu) bị thiệt hại nhiều người, cơn bão số 9, nhiều tàu bị chìm do đã vào bờ nhưng thiếu nơi neo đậu an toàn Năm 2010,
số cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam từ 6-7 cơn (TBNN
là 5-6 cơn), tương đương với năm 2009 (Nguồn: www.chinhphu.vn)
Trang 24Ngoài ra, nước ta là một trong 5 nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ Các hệ sinh thái ven biển, các giá trị dịch vụ của chúng, người dân ven biển và trên các đảo là những đối tượng dễ bị tác động mạnh mẽ nhất, nhưng đến nay còn thiếu những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, cũng như chưa có giải pháp lồng ghép và mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển
1.1.4.5 Các lĩnh vực khác liên quan đến biển, đảo
Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển, nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn Các sân bay ven biển và trên một số đảo nhỏ bé Các thành phố, thị trấn, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển còn đang trong thời kỳ bắt đầu xây dựng
Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học- công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo thời tiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm
cứu hộ, cứu nạn trang bị còn thô sơ Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải
đảo còn yếu kém, lạc hậu Hệ thống cảng biển manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp Môi trường biển và vùng ven biển ở nhiều nơi
bị ô nhiễm, đặc biệt ở các vùng biển tập trung phát triển công nghiệp, vận tải biển, công nghiệp ven bờ, nuôi hải sản công nghiệp… (như Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu…)
Đối với các lĩnh vực kinh tế liên quan trực tiếp đến biển như chế biến sản phẩm dầu, khí; chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối biển công nghiệp, các dịch vụ kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tìm kiếm cứu nạn hàng hải, dịch vụ viễn thông công cộng biển trong nước và quốc tế, nghiên cứu khoa học- công nghệ biển, xuất khẩu thuyền viên ) hiện chủ yếu mới ở mức đang bắt đầu hình thành và quy mô còn nhỏ bé Ngành du lịch biển vẫn thiếu những sản phẩm dịch vụ biển- đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế, chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế Đến bây giờ, chúng ta vẫn chưa có quy hoạch tổng thể lẫn quy hoạch chi tiết để phát triển du lịch biển đảo của Việt Nam
Trang 251.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề biển đảo
Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta Vùng biển và ven biển nước ta có vị trí hết sức quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng nên từ lâu Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến phát triển kinh
tế biển, vùng ven biển và hải đảo; khẳng định phấn đấu “Trở thành một nước mạnh về biển là một mục tiêu chiến lược xuất phát từ các yêu cầu và điều kiện khách quan của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”
Năm 1990- 1992 đã đề ra chương trình Biển Đông- Hải đảo; tiếp sau là các chủ trương của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển, đấu tranh bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, về chương trình Biển Đông- Hải đảo đã mở rộng phạm vi đầu
tư cho các ngành, các địa phương, các dự án trọng điểm Chúng ta đã chủ động xây dựng và từng bước hoàn thiện thế trận quốc phòng - an ninh trên biển, thông qua nhiều biện pháp tổ chức giáo dục cho toàn dân về giá trị của biển, đảo trong quá trình thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược; ban hành 7 bộ luật và luật, 6 pháp lệnh, 2 bản tuyên bố, 19 nghị định và 6 quyết định liên quan đến quản lý và bảo vệ vùng biển, đảo Việt Nam
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 7- 1996) lần đầu tiên đã tập trung thời gian bàn về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đặc biệt là các biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm an ninh- quốc phòng Nghị quyết Đại hội VIII xác định: “Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa
mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển và ven biển, kết hợp với an ninh quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế- xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc” [21, tr.211]
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã xác định mục tiêu: “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn
1 triệu km2 thềm lục địa; đã đề ra hàng loạt phương hướng và giải pháp nhằm “tiến ra
Trang 26biển khơi” và nhấn mạnh: “Phát triển mạnh và phát huy vai trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển ” [25, tr.93]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng năm 2006 lại một lần nữa nhấn mạnh: “Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế” [26, tr.93]
Nguồn vốn đầu tư cho vùng biển và ven biển, đặc biệt là nguồn vốn biển Đông- hải đảo bảo đảm tăng cường khả năng bảo vệ các vùng biển, đảo quan trọng, có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị của đất nước và góp phần phát triển kinh tế biển, nâng cao đời sống của nhân dân trên hầu hết các đảo xa bờ có đông dân cư Chúng ta đã đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo thế đứng chân ổn định, vững chắc, sẵn sàng đối phó với các tình huống phức tạp xảy ra trên biển Xây dựng hệ thống nhà ở, tường, kè chống xói lở trên các đảo thuộc quần đảo; đã đầu tư hàng chục tỷ đồng cho xây dựng các công trình bảo đảm đời sống cho bộ đội và nhân dân huyện đảo Trường Sa Các lực lượng chuyên trách được xây dựng để từng bước thực hiện quản lý Nhà nước trên các
vùng biển thông qua việc xây dựng các lực lượng và phương tiện để chỉ huy điều hành
cứu hộ, cứu nạn trên biển như: hệ thống quan sát, trinh sát, cảnh giới từ xa, thông tin liên lạc hàng hải; thành lập đội tàu tuần tra biên phòng, kiểm ngư, hải quan; tổ chức xây dựng và trang bị cho lực lượng cảnh sát biển; xây dựng hệ thống đèn biển
Nhà nước đầu tư hỗ trợ phát triển nghề đánh cá xa bờ Với hàng trăm tỷ đồng
của chương trình Biển Đông- Hải đảo và nguồn vốn phát triển của ngân hàng Châu Á
(ADB) đã đầu tư xây dựng hàng chục công trình cảng và khu dịch vụ hậu cần nghề cá
trên các đảo và một số điểm ven bờ, đóng mới nhiều tàu dịch vụ hậu cần nghề cá Đã
hỗ trợ nhiều tỷ đồng đầu tư cho các hoạt động tuyên truyền về chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc trên biển đảo; đấu tranh quốc phòng- an ninh, ngoại giao; nghiên cứu và điều tra cơ bản Đã từng bước hoàn chỉnh bộ hồ sơ cơ bản về quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển
Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) đã ra Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020“ nhằm nhanh chóng đưa nước ta
Trang 27trở thành một nước mạnh về biển, trong đó đề ra các mục tiêu và những giải pháp chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thời kỳ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tích cực hợp tác và đấu tranh để thực hiện các cam kết quốc tế về biển Đồng thời, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo gắn với phát triển kinh tế biển, tạo môi trường thuận lợi để nước ta mở rộng quan hệ trao đổi khoa học kỹ thuật, đầu tư, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa trang bị cho quốc phòng - an ninh; tăng cường hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia thành viên trong khu vực và quốc tế , với mục đích cao nhất là ổn định để phát triển đất nước; sử dụng biển tương xứng với tầm vóc của nó trong cơ cấu kinh tế cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Để phát huy hơn nữa vai trò kinh tế biển đối với tăng cường quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc chúng ta có thể và cần phải quan tâm hơn đến các giải pháp như: Điều chỉnh Chiến lược phát triển kinh tế biển kết hợp với tăng cường quốc phòng - an ninh trên biển phù hợp với tư duy mới về biển và đại dương; cụ thể hoá các nội dung chiến lược bằng quy hoạch, kế hoạch, các dự án và bằng pháp luật, chính sách phù hợp với tình hình thực tế Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục quốc phòng - an ninh biển cho toàn dân, coi trọng bồi dưỡng các lực lượng trực tiếp hoạt động trên biển, đảo; nghiên cứu sâu hơn về chiến lược biển của các nước trong khu vực và thế giới để đề ra các chính sách phù hợp nhằm bảo vệ hữu hiệu chủ quyền quốc gia trên biển, đảo Tích cực hoạt động ngoại giao để bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu quả của Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông có lợi cho hoà bình, ổn định và phát triển trong khu vực Tiếp tục xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng - an ninh, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh trên vùng biển, đảo; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân trên vùng biển, đảo của Tổ quốc
Trong những năm qua, tàu cá nước ngoài liên tục vào sâu trong lãnh hải Việt Nam để đánh bắt, khai thác thủy sản với số lượng hàng trăm tàu Số lượng tàu cá nước
Trang 28ngoài vi phạm trên các vùng biển thuộc quyền tài phán của Việt Nam tăng lên rất nhiều
Trước thực trạng này, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ ngư dân hoạt động nghề cá trên mọi nơi tại vùng biển Việt Nam để bảo vệ chủ quyền biển đảo vì chính ngư dân là lực lượng quan trọng nhất để khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên biển Lúc này cần tuyên truyền cho ngư dân hiểu rõ ranh giới các vùng biển, hiểu rõ khu vực các vùng biển đang tranh chấp, khuyến cáo ngư dân chủ động tránh các va chạm trên biển, và xử lý nghiêm các tàu các nước ngoài vi phạm quyền đánh cả trên các vùng biển thuộc quyền tài phán Việt Nam, thành lập lực lượng kiểm ngư Về lâu dài là tăng cường nội lực cho lĩnh vực luật quốc tế, tăng cường sức mạnh quân sự và cảnh sát biển
1.3 Cơ sở, điều kiện để Đài TNVN trở thành cơ quan ngôn luận hàng đầu trong việc thông tin, tuyên truyền về biển đảo
Đài TNVN là đài phát thanh quốc gia, là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình phát thanh, phát thanh trên Internet, phát thanh có hình và báo viết
11h30 ngày 7/9/1945- Tiếng nói Việt Nam chính thức ngân vang trên sóng phát thanh, báo hiệu một sức vóc và bước phát triển mới của hệ thống báo chí Cách mạng Việt Nam Vừa là chứng nhân phản ánh, vừa tham gia góp phần làm nên lịch sử cách mạng Việt Nam, các thế hệ nối tiếp của Đài TNVN đã vượt qua bao khó khăn gian khổ, lập nên những thành tích to lớn góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, làn sóng của Đài đã thực sự là món ăn tinh thần kịp thời động viên, tiếp thêm nghị lực và niềm tin tất thắng cho đồng bào chiến sĩ cả nước lập nhiều kỳ tích, đó cũng là vũ khí sắc bén làm cho mọi kẻ thù phải khiếp sợ Thời kỳ đổi mới, Đài TNVN là người bạn tin cậy, người đồng hành của các tầng lớp nhân dân, của đồng bào, chiến sĩ
Đài đã đột phá trong việc sử dụng công nghệ phát thanh hiện đại, tăng tính tương tác, giao lưu với thính giả; tăng thời lượng, nâng cao chất lượng nội dung tuyên
Trang 29truyền; hàng ngày phát sóng trên 200 giờ với hơn 200 chương trình phát thanh Hệ thống các đài phát sóng của Đài TNVN trải rộng trên phạm vi cả nước với những máy phát mới, có công suất lớn, công nghệ hiện đại, phủ sóng ổn định tới 99% địa bàn dân
cư cả nước Trong lĩnh vực kỹ thuật, Đài không ngừng đổi mới kỹ thuật phát thanh hiện đại, tăng diện phủ sóng và chất lượng sóng; có nhiều phương thức truyền dẫn, phát sóng: sóng cực ngắn, sóng trung, sóng ngắn, vệ tinh, phát trực tuyến trên mạng Internet
Đài đã xây dựng các trạm phát sóng FM tại các điểm cao ở vùng núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, Tây Nam bộ để tăng diện phủ sóng cho vùng sâu, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đến nay, hơn 99% khu vực dân cư trong nước và nhiều khu vực, địa bàn trọng điểm trên thế giới nghe được các chương trình phát thanh của Đài
Hiện nay, Đài TNVN đang xây dựng chiến lược phát triển và quy hoạch phát sóng phát thanh- truyền hình Việt Nam giai đoạn 2011-2020 với việc ứng dụng những
kỹ năng, thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến nhất của thế giới vào quy trình thực hiện để phục vụ người dân ngày càng tốt hơn Đồng thời xây dựng Đài TNVN thành Đài quốc gia mạnh, có uy tín cao trong khu vực và quốc tế
Sự kiện đặc biệt đối với thính giả cả nước là ngày 29/8/2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đến dự Lễ phát lệnh phát sóng biển Đông và bấm nút đưa tổ hợp máy phát sóng của Đài TNVN chính thức đi vào hoạt động Đến nay, Dự án đã hoàn thành các hạng mục xây dựng và lắp đặt với máy móc, trang thiết bị đảm bảo các tiêu chuẩn tốt nhất, sẵn sàng đưa vào sử dụng Với tầm phủ sóng 3.500- 4000 km tính
từ bờ biển, bao gồm toàn bộ khu vực lãnh hải Việt Nam và hầu hết những vùng đánh bắt cá xa bờ của ngư dân ta, dự án “Phủ sóng biển Đông” giai đoạn I góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin tuyên truyền; đồng thời phục vụ hiệu quả công tác phòng, tránh thiên tai, cứu hộ, cứu nạn trên biển Với sự kiện này, cộng đồng ngư dân và đồng bào- chiến sĩ đang canh giữ biển trời Tổ Quốc có thêm một kênh thông tin chuẩn mực, nhanh nhạy, kịp thời, ổn định và liên tục về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội trong nước và quốc tế
Trang 30Với truyền thống dựng xây và phát triển trong suốt 65 năm, cùng với sự kiện
đưa tổ hợp máy phát sóng biển Đông chính thức hoạt động, sóng Tiếng nói Việt Nam
đã rõ hơn, vươn xa hơn trên biển khơi, khẳng định chủ quyền quốc gia Đây cũng là cơ
sở, điều kiện để Đài TNVN tiếp tục phát triển trong hệ thống truyền thông đại chúng, trở thành cơ quan ngôn luận hàng đầu trong việc thông tin, tuyên truyền về biển đảo, đồng thời phục vụ hiệu quả công tác phòng tránh thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, hạn chế thiệt hại về tính mạng và tài sản của ngư dân và các phương tiện hoạt động trên biển Nhiều ngư dân ví sóng của Đài TNVN như “ngọn hải đăng” càng tỏa sáng trong bão, cảnh báo ẩn họa thiên tai, tiếng nói Việt Nam như lời Tổ quốc có trên từng ngọn sóng, từng con tàu, nhà giàn, đảo, bãi đá… tạo thành một sức mạnh toàn dân trong công cuộc phát triển kinh tế và gìn giữ chủ quyền
VD: Chủ tàu đánh cá QN 9625 Huỳnh Công Nhiệm khẳng định: “Những ngư
dân đánh cá như chúng tôi thường nghe dự báo thời tiết của Đài TNVN Năm ngoái, nhờ dự báo thời tiết biển của chương trình Biển đảo Việt Nam- Đài TNVN mà chúng tôi đã phòng ngừa được thiệt hại xảy ra Cảm ơn bản tin Đài TNVN đã đến kịp thời,
giúp chúng tôi tránh được tai nạn”
Ngư dân Nguyễn Đáng, 52 tuổi, bị nạn phải lênh đênh trên biển nhiều ngày liền,
nhờ thông tin tìm kiếm cứu hộ của Đài TNVN đã trở về đất liền 4h chiều ngày
11-9-2010, xúc động nói qua làn sóng phát thanh: “Tối qua khi nằm trên tàu cá nghe sóng Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo sẽ có cảnh sát biển “trong nhà” ra đón về, chín anh
em không ai ngủ được Cả buổi sáng đợi chờ, đến khoảng 13h một người nhìn thấy cờ
Tổ quốc tung bay phần phật trên nóc tàu lực luợng cứu hộ đã bật khóc”
1.4 Những khái niệm cơ bản sử dụng trong luận văn
1.4.1 Tìm hiểu về loại hình phát thanh (báo nói)
1.4.1.1 Khái niệm phát thanh: là một phương tiện truyền thông đại chúng dựa trên
nguyên tắc kỹ thuật truyền âm thanh để chuyển tải các chương trình tin tức, tri thức, nghệ thuật tới đông đảo công chúng thính giả cũng như cho các nhóm thính giả đặc
thù Trong đó âm thanh bao gồm ba yếu tố: lời nói, âm nhạc và tiếng động
Trang 31Nói đến phát thanh là nói đến radio với những kích cỡ phát triển đa dạng theo
dòng thời gian Phát thanh vẫn luôn có những thính giả trung thành của mình Radio là
tờ báo không cần giấy, không cần đường dây, không có khoảng cách, là cuộc mít tinh cho hàng triệu quần chúng (V.I.Lênin)
Phát thanh hiện đại vận dụng các thể loại báo chí một cách sáng tạo và thể hiện phù hợp với đặc trưng và các nguyên tắc viết của báo phát thanh, phân thành 3 nhóm: Thông tấn phát thanh (gồm: Tin, tường thuật, ghi nhanh, phỏng vấn), Tài liệu- nghệ thuật phát thanh (gồm: Bút ký, tiểu phẩm, bài phản ánh) và nhóm Chính luận phát thanh (gồm: bình luận, tọa đàm)
1.4.1.2 Phát thanh có 2 loại hình
- Phát thanh qua làn sóng điện
- Phát thanh truyền qua hệ thống dây đẫn
Trong đó loại hình thứ nhất là căn bản và là yếu tố quan trong nhất tạo nên sức mạnh to lớn của phát thanh Về mặt kỹ thuật công nghệ của phát thanh, bao gồm hai loại là AM và FM:
+ AM (Amplitute Modutation) là kỹ thuật điều biên được áp dụng trong sóng dài, sóng trung và sóng ngắn
+ FM ( Frequency Modutation) là kỹ thuật điều tần được áp dụng trong phát thanh cực ngắn
1.4.1.3 Các đặc tính của phát thanh
Các nhà nghiên cứu lý luận và những nhà thực hành phát thanh Việt Nam có quan điểm: truyền thông qua phát thanh có những đặc tính quan trọng chế định các nguyên tắc sản xuất chương trình
Đặc tính thứ nhất là tính quảng bá Phát thanh có độ phủ sóng rất rộng Sóng
phát thanh có thể phủ trên phạm vi rộng lớn của quốc gia hoặc quốc tế Một sự kiện được thông tin qua mạng lưới phát thanh có thể đến với hàng triệu người nghe ở những vùng địa lý khác nhau trong cùng một thời điểm Chính bởi vậy, thông số về độ phủ sóng của một đài phát trên một diện tích địa lý là yếu tố được chú trọng đầu tư Sóng phát thanh len lỏi vào những ngõ ngách mà nhiều khi truyền hình, báo in rất khó tiếp
Trang 32cận, chưa kể những phương tiện truyền thông khác còn nhiều hạn chế trong việc quảng
bá đại chúng rộng rãi Có thể nói phát thanh là phương tiện thông tin mang tính tiện lợi
và đại chúng nhất
Đặc tính thứ hai là tính đồng thời Khi sự kiện diễn ra, với phương tiên thu gọn
nhẹ, quy trình phát sóng tương đối đơn giản và năng động, phát thanh có khả năng truyền thông tin về sự kiện tức thời tới người nghe Các chương trình phát thanh trực tiếp phát huy cao nhất đặc tính này Thời gian xảy ra sự kiện trùng với thời gian thông tin Đặc tính này góp phần tăng tính chân thực, hấp dẫn của thông tin phát thanh Tính tức thời của thông tin thể hiện sự nhanh nhạy của thông tin Phát thanh có khả năng truyền đạt thông tin ngay khi sự kiện đang diễn ra cùng lúc với diễn biến của nó đến đông đảo công chúng Tính tức thời rút ngắn khoảng cách không gian, khiến người nghe được trực tiếp tiếp xúc với thông tin nhanh nhất, đáp ứng tốt sự mong đợi
Đặc tính thứ ba là tính hướng tới thính giả Đối tượng tiếp nhận thông tin của
phát thanh là người nghe, trừ người khiếm thính Tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng là tâm lý của người tiếp nhận thông tin bằng thính giác cùng với khả năng liên tưởng rất phong phú Với những chương trình mang tính tương tác cao như tọa đàm, khách mời trực tiếp, thính giả được tham gia đặt câu hỏi, bàn luận với chuyên gia, đặc tính này càng thể hiện rõ
1.4.2 Hệ phát thanh là gì?
Theo từ điển tiếng Việt thì hệ là từ rút gọn của từ hệ thống Hệ thống là một tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất Hệ thống còn có nghĩa là tập hợp những
tư tưởng, nguyên tắc, quy kết, liên kết với nhau một cách logic, làm thành một thể thống nhất Theo chuyên gia Patric Phiđu (Đài phát thanh quốc tế Pháp) thì nói đến hệ phát thanh là người ta nói đến tính đối tượng riêng, bản sắc riêng và gắn kết với nhau thành một thể thống nhất Khái niệm về hệ được phát triển từ khái niệm kênh phát thanh, mà đặc trưng cơ bản của kênh phát thanh là nói đến tần số phát sóng
Trang 33Như vậy có thể định nghĩa về hệ phát thanh như sau: “Hệ phát thanh là hệ
thống các chương trình phát thanh có cùng mục đích, cùng đối tượng phục vụ, có bản sắc riêng và hình thức thể hiện riêng và phát sóng trên tần số cố định”
Với định nghĩa như trên, Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1 có mục đích là truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân
1.4.3 Chương trình phát thanh
- Khái niệm: Chương trình phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin bài, bảng
tư liệu âm nhạc trong một thời lượng nhất định được mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc với lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh, đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe Chương trình phát thanh được coi như một số báo, bằng các phương thức sản xuất tại studio, đọc thẳng hoặc
phát thanh trực tiếp
- Đặc điểm: Mở đầu bằng nhạc hiệu, nhạc Chương trình, lời xướng của phát thanh viên, cấu trúc của Chương trình phát thanh, lời kết của Chương trình hoặc chào thính giả
- Phân loại: Chương trình thời sự tổng hợp, Chương trình thời sự đặc biệt, Chương trình chuyên đề
+ Chương trình thời sự tổng hợp (Thường có các phần: Nhạc hiệu, Lời giới thiệu; Phần tin tức: tin trong nước + tin thế giới (15 phút); Bài viết: Phóng sự, Phản ánh hoặc Điều tra… (5-7 phút); Tiết mục (3 phút) Dự báo thời tiết hoặc Thông tin thị trường hoặc tình hình giao thông…)
+ Chương trình thời sự đặc biệt (Thường cấu trúc như sau: Thông tin tư liệu (có tính dạo sóng, cung cấp các tư liệu, bối cảnh giúp thính giả hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn
về sự kiện sắp diễn ra); Bài bình luận khẳng định tầm cỡ, ý nghĩa sự kiện; Tường thuật trực tiếp đầy đủ sự kiện; Phỏng vấn những nhân chứng hoặc người trực tiếp tham gia sự kiện (xen giữa phần tường thuật); Một số ca khúc minh họa (xen giữa phần tường thuật))
Trang 34+ Chương trình chuyên đề (thường có kết cấu: Nhạc Chương trình; Giới thiệu; Phần tin chuyên đề; Bài chuyên đề; Diễn đàn hoặc Phỏng vấn…; Mẩu chuyện hoặc Tiểu phẩm…)
1.4.4 Sóng phát thanh Đài TNVN thể hiện đầy đủ các ưu điểm của báo nói
1.4.4.1 Các chương trình phát thanh trực tiếp được tăng cường
Đây là các chương trình đòi hỏi yêu cầu khắt khe với cả người biên tập, dẫn chương trình và kỹ thuật Với hệ VOV1, ngoài chương trình Thời sự và các bản tin trực tiếp hàng ngày, thì có nhiều chương trình trực tiếp khác như Khách mời cuối tuần, các diễn đàn như diễn đàn Kinh tế, diễn đàn Khoa học công nghệ, Tư vấn pháp luật, Bàn tròn âm nhạc, Bạn hãy nói với tôi… đây là các chương trình khá sinh động, hấp dẫn và thu hút được chú ý của thính giả Thông qua các diễn đàn này, người nghe được tham gia trực tiếp vào các chương trình phát thanh, khách mời hoặc biên tập viên được trò chuyện, giao lưu trực tiếp với thính giả
1.4.4.2 Tổ chức nhiều diễn đàn, nhiều chương trình toạ đàm
Có thể nói, đây là một trong những thành công của các hệ phát thanh Việc mở
ra nhiều diễn đàn, nhiều chương trình toạ đàm đã dem đến cho các chương trình làn gió mới góp phần vào việc làm hiệu quả thông tin trên làn sóng Hệ VOV1 có nhiều chương trình diễn đàn, Talk show khá hấp dẫn như: Nhân vật và sự kiện, Diễn đàn Tuổi trẻ, Diễn đàn kinh tế… vừa đáp ứng tính thời sự, vừa đáp ứng thông tin sâu, lại được thể hiện khá sinh động, hấp dẫn với sự tham gia của nhiều vị khách mời và có nhiều chương trình có sự tham gia của các thính giả
1.4.4.3 Tăng cường đáp ứng yêu cầu của thính giả
Điều này đã tạo cho các chương trình phát thanh của Đài TNVN gần gũi hơn với thính giả Các chương trình như Tiếp chuyện bạn nghe đài, Tư vấn pháp luật… đã trực tiếp trả lời yêu cầu của thính giả những vấn đề liên quan tới pháp luật, chế độ chính sách và nhiều vấn đề khác Chương trình Bạn hãy nói với tôi là nơi thính giả bày
tỏ gửi gắm tâm tư, tình cảm, suy nghĩ và ý kiến của mình với mọi người…Chương trình Diễn đàn tuổi trẻ giúp thính giả trẻ được bày tỏ suy nghĩ của mình về các vấn đề
mà tuổi trẻ đang quan tâm…Chương trình Nhà nông cần biết, Thông tin lao động việc
Trang 35làm trên sóng VOV1; giáo dục từ xa trên sóng VOV2… là những chương trình tư vấn, giúp trả lời nhiều câu hỏi của thính giả để họ có thêm kiến thức ứng dụng trong cuộc sống và nâng cao trình độ hiểu biết
1.4.4.4 Đổi mới cách dẫn dắt, giới thiệu chương trình
Hiện nay, trên các hệ tồn tại hai hình thức chính về dẫn chương trình, đó là dẫn
hệ và dẫn các chương trình Nguời dẫn hệ VOV1 là người nắm được toàn bộ các chương trình trong mỗi cụm mình phụ trách, vì vậy có trách nhiệm dẫn dắt, giới thiệu cho các chương trình và các phần trong mỗi chương trình đó Nhiệm vụ của người dẫn
là đọc trực tiếp các bản tin đầu giờ, dẫn phần đầu, giới thiệu các nội dung khái quát của chương trình và chào cuối các chương trình Xen kẽ giữa các chương trình người dẫn có thể tóm lược, quảng bá một số vấn đề đáng chú ý trong các chương trình tiếp theo để người nghe chú ý đón nghe Cách làm này có ưu điểm vượt trội so với loại hình phát thanh ghép nối băng các chương trình độc lập như trước đây Vì người dẫn trực suốt trên sóng nên xử lý được các tình huống khi có tin mới, tin nóng Khoảng cách giữa các chương trình phát thanh và người nghe được rút ngắn lại Đặc biệt trong các chương trình toạ đàm, diễn đàn và giao lưu, người dẫn đã tham gia và quyết định
sự thành công của chương trình Có thể kể một số tên tuổi dẫn chương trình trên sóng VOV1 như: Vân Anh, Hồng Nhung, Điệp Anh, Tuyết Yến, Công Hân, Đức Thành
Tiểu kết chương 1
Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo Việt Nam trong quá khứ Đó cũng chính là nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam, cần được giữ vững và phát huy hơn nữa trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Càng tự hào và trân trọng di sản quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng
của Tổ quốc, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngày trước ta chỉ có
Trang 36đêm và rừng Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp Ta phải biết giữ gìn lấy nó"
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thể hiện chính sách nhất quán của Việt Nam
về chủ quyền về vùng biển và hải đảo của nước ta, Nghị quyết hội nghị lần IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã đề ra chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với nhận định thế kỷ 21 là “thế kỷ của đại dương” Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng kinh tế xã hội cần gắn liền với việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước ta, trong đó có chủ quyền trên biển và hải đảo Chính sách này cần được đi sâu vào ý thức của người dân
Trong điều kiện đó, các cơ quan truyền thông đại chúng nói chung và Đài TNVN nói riêng cần thể hiện quan điểm nhất quán của mình trong tuyên truyền về chủ quyền biển đảo và phát triển kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết TƯ 4, nhằm góp chung tiếng nói quan trọng, thúc đẩy dư luận hành động, chung sức cho biển, đảo Việt Nam phát triển, giàu lên, mạnh lên như vốn tài nguyên đất nước chúng ta sẵn có
Trang 37Chương 2: VIỆC THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN VỀ BIỂN, ĐẢO TRÊN SÓNG
HỆ THỜI SỰ CHÍNH TRỊ TỔNG HỢP VOV1, ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 2.1 Việc thông tin, tuyên truyền về biển, đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN
2.1.1 Vị trí, vai trò của thông tin tuyên truyền về biển đảo trên sóng Đài TNVN
Trong những năm qua, công tác tuyên truyền về biển, đảo được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền về biển đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN được củng cố, góp phần đẩy mạnh công cuộc tuyên truyền vận động của Đảng về biển, đảo
Với các tiêu chí khảo sát theo lứa tuổi, giới tính, dân tộc, thu nhập, trình độ học vấn, kết quả khảo sát cho thấy, người dân nhận xét về việc tuyên truyền về biển đảo trên sóng phát thanh Đài TNVN ngày càng tích cực (năm 2008 có từ 17- 69,8% người được phỏng vấn đánh giá tích cực; con số này năm 2010 tăng lên từ 34,2- 82%) Người dân ở khu vực biển, đảo cho rằng đài phát thanh “đóng vai trò quan trọng và hiệu quả trong việc dự báo thời tiết trên biển”, người dân cũng biết nhiều hơn về quy định đánh bắt nghề cá, luật biển, vùng đặc quyền tranh chấp lãnh thổ…và có tới 70,9% người dân được hỏi năm 2010 tin rằng nắm bắt được luật biển là quan trọng và thiết thực, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của họ, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho họ, tăng đáng kể so với tỷ lệ 54% (năm 2008)
Nhận xét của người dân về việc tuyên truyền biển đảo trên sóng Đài TNVN
(Nguồn: Ban Thư ký Biên tập- Đài Tiếng nói Việt Nam)
Trang 38Không quan trọng và thiết thực
Nhận xét của người dân về việc nắm bắt luật biển qua sóng Đài TNVN
(Nguồn: Ban Thư ký Biên tập- Đài Tiếng nói Việt Nam)
Nhận thức được các phương tiện thông tin đại chúng là một “kênh” để kịp thời phổ biến các thông tin về biển, đảo đến với nhiều đối tượng, những năm qua, Đài TNVN đã phối hợp chặt chẽ với Cục Chính trị Quân chủng Hải quân cử cán bộ chiến
sĩ các đảo xa như Trường Sa, Thổ Chu, Côn Đảo, Bạch Long Vỹ tham gia cầu truyền thanh trong dịp Tết Nguyên đán Tổ chức kết nghĩa các khu vực thường trú với các cơ quan, đơn vị của từng Vùng hải quân trên địa bàn; triển khai Cuộc thi tìm hiểu về
“Biển, đảo quê hương - Người chiến sĩ Hải quân” Thông qua đó đã góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể địa phương các tỉnh, thành phố và các tầng lớp nhân dân địa phương ven biển về vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tuy nhiên, xét trên tính chất quan trọng của vấn đề với tầm phản ánh diện rộng của một cơ quan truyền thông lớn của Đảng- Nhà nước thì thời lượng và chất lượng của các tin, bài, chương trình về vấn đề biển đảo trên các Hệ phát thanh VOV2, VOV3, VOV4, VOV5 đều chưa tương xứng, chưa đầy đủ toàn diện và mang tính hệ thống
Trang 39Ngay trên Hệ VOV1 thì thông tin tuyên truyền về biển đảo chỉ tập trung nhất ở hai chương trình Biển đảo Việt Nam và Tâm tình nơi biên giới hải đảo Còn một số chương trình như Tạp chí Nông lâm Thủy sản, Diễn đàn kinh tế hay các bản tin thời
sự, vấn đề biển đảo chỉ thể hiện qua một số bài phóng sự, bình luận hoặc tọa đàm theo từng tuần
Những năm gần đây, Đài TNVN được Hiệp hội phát thanh truyền hình châu Á- Thái Bình Dương ABU xem như là một điển hình trong lĩnh vực truyền thông, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, khoa học - kỹ thuật… của đất nước Đài TNVN đang trên con đường số hoá, sản xuất phát thanh theo công nghệ
số, lưu trữ số Audio và Video, truyền dẫn tín hiệu qua vệ tinh VINASAT-1 Hệ thống phòng thu của Đài TNVN được đánh giá là ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới với thiết bị truyền dẫn tín hiệu kỹ thuật số qua vệ tinh, viba, cáp quang…
Hệ thống các đài phát sóng của Đài TNVN trải rộng trên phạm vi cả nước với những máy phát mới, có công suất lớn, công nghệ hiện đại, phủ sóng ổn định tới 99% địa bàn dân cư cả nước
Trang 40Đặc biệt, kể từ sự kiện ngày 29/8/2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã bấm nút đưa tổ hợp máy phát sóng biển Đông chính thức đi vào hoạt động, cộng đồng ngư dân và các chiến sĩ đang canh giữ biển trời Tổ Quốc có thêm một kênh thông tin chuẩn mực, nhanh nhạy, kịp thời, ổn định và liên tục về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội trong nước và quốc tế, đặc biệt là những thông tin dự báo thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn trên biển, giảm thiểu thiệt hại về người và của do thiên tai gây
ra Với 3 máy phát công suất 100kw được phát sóng trực tiếp từ Hà Nội, toàn bộ diện tích trên 1 triệu km2 của biển Đông trải dài từ Móng Cái, Quảng Ninh tới Kiên Giang
đã được phủ sóng phát thanh của Đài TNVN Với tầm phủ sóng lên tới 3500 km tính
từ bờ, làn sóng phát thanh của Đài TNVN đã vươn tới những vùng biển xa, bao gồm toàn bộ khu vực lãnh hải Việt Nam và hầu hết những vùng biển đánh bắt xa bờ của ngư dân ta Khoảng 1 triệu người Việt Nam đang sinh sống, làm việc và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trên vùng biển Đông - một ngư trường lớn nhất cả nước và tuyến đường vận tải biển quan trọng của thế giới có thể nghe được các chương trình của Đài TNVN bằng các máy thu thanh thông thường
Vừa qua, giai đoạn I Dự án Phủ sóng Biển Đông đã triển khai, thu được kết quả:
- Đầu tư trang bị 3 hệ thống máy phát, anten có công suất 100 KW và các thiết
bị phụ trợ đồng bộ, hiện đại phủ sóng theo 3 hướng:
+ Hướng phủ sóng khu vực biển quần đảo Hoàng Sa (TP Đà Nẵng) và vùng biển Philippin, tần số 7435 KHz
+ Hướng phủ sóng khu vực biển quần đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa) và vùng biển Indonesia
+ Hướng phủ sóng khu vực biển Vịnh Thái Lan và vùng biển Malaysia
- Đầu tư trang bị 2 hệ thống máy phát sóng FM 20KW nhằm tăng cường phủ sóng TNVN với cường độ mạnh, ổn định, liên tục với chất lượng cao tại khu vực ven biển tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu