Chúng tôi luôn ý thức được rằng mỗi phương pháp và kỹ thuật được sử dụng cần phải phù hợp với từng nội dung nghiên cứu cụ thể và phải được đặt trong các mối quan hệ tổng thể để có thể n
Trang 10
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-
BÙI VĂN TUẤN
ĐÔ THỊ HÓA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ-XÃ HỘI VÙNG VEN ĐÔ HÀ NỘI HIỆN NAY [Trường hợp nghiên cứu xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội]
CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
MÃ SỐ: 60 31 60
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2011
Trang 21
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-
BÙI VĂN TUẤN
ĐÔ THỊ HÓA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG VEN ĐÔ HÀ NỘI HIỆN NAY [Trường hợp nghiên cứu xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội]
CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
MÃ SỐ: 60 31 60
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN QUANG NGỌC
HÀ NỘI - 2011
Trang 3vi
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu của luận văn……… 3
3 Đối tượng và phạm vi khu vực nghiên cứu……… 3
4 Phương pháp nghiên cứu……… 4
5 Khung lý thuyết nghiên cứu……… 6
6 Đóng góp của luận văn ……… 6
7 Cấu trúc của luận văn……… 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ HÓA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ-XÃ HỘI VÙNG VEN ĐÔ 7 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu……… 7
1.1.1 Nghiên cứu đô thị hóa trên thế giới……… 7
1.1.2 Nghiên cứu đô thị hoá ở Việt Nam ……… 12
1.2 Cơ sở lý thuyết của luận văn……… 20
1.2.1 Các hướng tiếp cận lý thuyết nghiên cứu ……… 20
1.2.1.1 Tiếp cận nghiên cứu đô thị hóa theo quan điểm lịch sử……… 20
1.2.1.2 Tiếp cận nghiên cứu đô thị hóa từ góc nhìn văn hóa……… 20
1.2.1.3 Đô thị hóa từ cách tiếp cận nhân học và địa lý……… 21
1.2.1.4 Tiếp cận nghiên cứu đô thị hóa theo quan điểm xã hội học……… 21
1.2.1.5 Tiếp cận kinh tế học……… 21
1.2.2 Một số lý thuyết nghiên cứu 22
1.3 Các khái niệm công cụ nghiên cứu……… 23
1.3.1 Đô thị……… 23
1.3.2 Vùng ven đô……… 24
1.3.3 Đô thị hóa ……… 26
1.3.4 Đô thị hóa vùng ven……… 27
1.3.5 Biến đổi xã hội……… 27
Trang 4vii
1.3.6 Lối sống đô thị……… 27
Chương 2 ĐÔ THỊ HÓA VÙNG VEN HÀ NỘI TRƯỜNG HỢP: XÃ MỄ TRÌ-HUYỆN TỪ LIÊM 29 2.1 Các nhân tố tác động đến quá trình đô thị hóa vùng ven 29
2.1.1 Nhân tố kinh tế……… 29
2.1.2 Nhân tố khoa học-kỹ thuật……… 29
2.1.3 Cơ chế chính sách……… 30
2.1.4 Xu thế hội nhập và kinh tế thị trường……… 30
2.1.5 Điều kiện địa lý tự nhiên môi trường sinh thái……… 31
2.1.6 Nhân tố văn hóa xã hội……… 31
2.2 Vai trò của vùng ven đối với sự phát triển của Hà Nội 32
2.3 Khái quát đô thị hóa ở Hà Nội……… 34
2.4 Khái quát xã Mễ Trì……….……… 46
2.4.1 Lịch sử hình thành……… 46
2.4.2 Đặc điểm tự nhiên……… 46
2.4.3 Vài nét khái quát về tình hình kinh tế- xã hội Mễ Trì trước năm 2000 49
Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI KINH TẾ-XÃ HỘI XÃ MỄ TRÌ, HUYỆN TỪ LIÊM HIỆN NAY 58 3.1 Tác động của đô thị hóa đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế …… ……… 58
3.1.1 Biến đổi cơ cấu sử dụng đất……… 58
3.1.2 Chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp……… 60
3.1.3 Tác động của đô thị hóa đến đời sống kinh tế của người dân……… 66
3.2 Tác động của đô thị hóa đến các vấn đề xã hội ……… 76
3.2.1 Đô thị hóa tác động đến cơ cấu dân số……… 77
3.2.2 Hoạt động giáo dục, y tế ……… 78
3.2.3 Biến đổi văn hóa, lối sống của cư dân trong quá trình đô thi hóa……… 81
3.2.4 Biến đổi trong quan hệ cộng đồng 84
3.2.5 Chuyển đổi lao động, việc làm ……… 89
3.2.6 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến tệ nạn xã hội……… 96
Trang 5viii
3.2.7 Đô thị hóa làm biến đổi cảnh quan, môi trường ……… 100 3.2.8 Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và phát triển đô thị ………… 104 3.3 Tiểu kết……… 107
DANH SÁCH CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
Trang 7iii
DANH MỤC BIỂU, BẢNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
2 Biểu đồ 2.1 Hà Nội phát triển qua từng thời kỳ 36
3 Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Hà Nội (2001-2010) 36
4 Biểu đồ 2.3 Mật độ dân số Hà Nội qua các năm 40
5 Biểu đồ 3.1 Đất nông nghiệp xã Mễ Trì qua các năm 59
6 Biểu đồ 3.2 Mức độ chuyển đổi nghề nghiệp của các hộ gia đình 60
7 Biểu đồ 3.3 Cơ cấu kinh tế xã Mễ Trì hiện nay 60
8 Biểu đồ 3.4 Diện tích đất nông nghiệp ở các thôn xã Mễ Trì 61
9 Biểu đồ 3.5 Lý do chuyển đổi nghề nghiệp của người dân 64
10 Biểu đồ 3.6 Loại hình nhà ở của các hộ gia đình 66
11 Biểu đồ 3.7 Mức độ hài lòng về nhà ở của người dân Mễ Trì 68
13 Biểu đồ 3.9 Thu nhập bình quân của người dân (2003-2010) 70
14 Biểu đồ 3.10 Tiện nghi sinh hoạt trong gia đình của các hộ dân 72
15 Biểu đồ 3.11 Mức độ hài lòng với các dịch vụ ở địa phương hiện nay 74
16 Biểu đồ 3.12 Kinh tế hộ gia đình hiện nay thuộc đối tượng 74
17 Biểu đồ 3.13 Kinh tế hiện nay của hộ gia đình so với trước năm 2000 75
18 Biểu đồ 3.14 Mức độ hài lòng về cuộc sống 76
19 Biểu đồ 3.15 Hoạt động của người dân khi có thời gian rảnh rỗi 83
20 Biểu đồ 3.16 Tương quan về mối quan hệ hàng xóm láng giềng 89
21 Biểu đồ 3.17 Cơ cấu lao động phân theo nhóm ngành 90
22 Biểu đồ 3.18 Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực hiện nay ở địa phương 94
23 Biểu đồ 3.19 Các đối tượng dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội 98
24 Biểu đồ 3.20 Đánh giá hoạt động tuyên truyền về tệ nạn xã hội của các tổ
chức đoàn thể
99
25 Bảng 1.1 Thông tin cơ cấu mẫu khảo sát ở Mễ Trì 5
26 Bảng 2.1 Biến động về ranh giới nội ngoại thành Hà Nội 1991-2010 35
27 Bảng 2.2 GDP bình quân đầu người của Hà Nội và cả nước 2000-2010 38
28 Bảng 2.3 Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội (2001-2010) 40
29 Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội 58
30 Bảng 3.2 Loại đất bị thu hồi của các hộ gia đình 59
Trang 8iv
32 Bảng 3.4 Cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình 63
33 Bảng 3.5 Hình thức sử dụng tiền đền bù đất đai của người dân 67
34 Bảng 3.6 Nguồn thu nhập của các hộ gia đình trước 2000 và hiện nay 70
35 Bảng 3.7 Tương quan cơ cấu thu nhập giữa các thôn ở Mễ Trì 71
36 Bảng 3.8 Đánh giá về sự đầu tư cho học tập của con cái của người dân 79
37 Bảng 3.9 So sánh thực trạng tham gia vào các hoạt động xã hội
ở Mễ Trì của người dân trước năm 2000 và hiện nay
86
38 Bảng 3.10 Những khó khăn của người dân sau khi chuyển đổi việc làm 91
39 Bảng 3.11 Hoạt động của chính quyền hỗ trợ dân trong lĩnh vực việc làm 94
40 Bảng 3.12 Đánh giá về thực trạng các tệ nạn xã hội ở Mễ Trì 96
41 Bảng 3.13 Đánh giá của người dân về môi trường tự nhiên 101
42 Bảng 3.14 Trách nhiệm của người dân đối với vấn đề môi trường 103
43 Bảng 3.15 Người dân tham gia góp ý kiến đối với công tác quy hoạch,
quản lý đô thị ở Mễ Trì
105
44 Bảng 3.16 Mong muốn được tham gia vào các lĩnh vực quản lý
của người dân
106
45 Bảng 3.17 So sánh thực trạng tham gia vào các hoạt động xã hội của
người dân trước và trong quá trình đô thị hoá
106
Trang 9v
DANH MỤC HÌNH ẢNH SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
1 Hình 2.1 Bản đồ định hướng phát triển không gian Hà Nội 2020 đến 2050 33
Trang 10cơ sở hạ tầng thay đổi theo xu hướng thuận lợi ch o công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đô thị hóa làm cho các làng xã trước đây trở thành các phố, phường, các khu đô thị mở rộng và phát triển
Ở Việt Nam quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội chung của đất nước Nhiều con số thống kê cho thấy từ năm 1991 đến nay, đô thị hóa ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh, năm 1989 (18,5%), năm 1995 (20,7%), năm 2000 (24,2%), năm 2006 (27%) và 2010 đạt 29,6% Trong định hướng phát triển đô thị Việt Nam, dự báo đến 2015 dân số đô thị chiếm 38%, năm 2020 chiếm 45% và đến năm 2025 chiếm 50% dân số (dân số đô thị dự báo lúc này khoảng 52 triệu)1
Hà Nội là một trong hai thành phố có tốc độ đô thị hóa đạt mức cao nhất của
cả nước và có sức lan tỏa theo chiều rộng Những địa chỉ hấp dẫn đã tạo nên tốc độ
đô thị hóa nhanh nhất, các điểm dân cư ven đô; những khu vực có khả năng tạo động lực phát triển đô thị; những quỹ đất thuận lợi đã liên tục được khoác lên mình những chiếc áo đô thị ngày một rộng hơn Diện tích đất tự nhiên của Hà Nội hiện nay đã lên tới trên 300 nghìn ha (tăng lên gấp 3,6 lần so với trước) Dân số Hà Nội gia tăng với tốc độ cao, năm 1990 Hà Nội mới chỉ có 2 triệu dân, đến năm 2000 là 2,67 triệu và đến năm 2009 đã đạt tới 6,5 triệu dân2 Trong vòng 10 năm, dân số Hà Nội đã tăng lên khoảng gần 4 triệu người và trong tương lai, Hà Nội đang phấn đấu gia nhập hàng ngũ các thành phố có dân số lớn hơn 10 triệu người của thế giới
Có thể nói rằng, trong khi mức độ và tốc độ đô thị hóa trên phạm vi toàn quốc
ở Việt Nam chậm hơn so với các nước khác trên thế giới và trong khu vực, thì Hà Nội đã có tốc độ đô thị hóa nhanh hơn nếu so sánh với chính bản thân thành phố qua các thời điểm, nó đã đạt được tương đương với tỷ lệ đô thị hóa ở các thành phố của các nước phát triển trong khu vực châu Á
Quá trình đô thị hóa ở Hà Nội được tập trung ở các vùng ven đô và vùng ngoại thành, vừa mang những đặc trưng chung của các vùng đô thị hóa, vừa có
1 Số liệu tác giả tổng hợp từ các báo cáo tham luận tại Hôi thảo Quốc tế: Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn
hiến, anh hùng, vì hòa bình, Hà Nội 2010
2 Ngô Thắng Lợi, Đô thị hóa ở Hà Nội nhìn từ góc độ phát triển bền vững Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tê:
Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình, Hà Nội 2010, tr 834
Trang 112
những đặc thù riêng của Thủ đô Vùng ven đô được xem là các quận, huyện nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực nội thành và ngoại thành, ở đó nền văn minh nông nghiệp được tiếp xúc nhanh với nền văn minh công nghiệp, thương mại Trong hơn một thập kỷ qua, khu vực này đã có những chuyển biến khá nhanh, đang từng ngày làm đổi thay và có tác động trực tiếp đến cuộc sống dân cư, diện mạo vùng ven Quá trình đô thị hóa nhanh ở Hà Nội đã biến nhiều khu vực ven đô thành khu vực nội thành, nhiều vùng ngoại ô trở thành vùng ven đô Đi kèm với quá trình này là sự thay đổi mạnh mẽ từ cảnh quan, môi trường, hoạt động nghề nghiệp, đến sự biến đổi lối sống, phong tục, tập quán, từ biến đổi kinh tế đến những biến đổi xã hội trên bình diện xã hội lẫn bình diện cá nhân
Mễ Trì là một xã nằm trên khu vực ven đô, chịu sự tác động của đô thị hóa nhanh Hà Nội đã làm cho kinh tế-xã hội của Mễ Trì phát triển mạnh mẽ, có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của cư dân Cơ cấu kinh tế-xã hội đã có nhiều biến đổi, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được xây dựng, nhiều khu đô thị hiện đại xuất hiện, do đó đời sống của người dân cũng dần được thay đổi Có thể nói trước những năm 2000,
Mễ Trì là một xã thuần nông thì hiện nay với những chính sách phát triển của Thủ đô,
Mễ Trì đã được quy hoạch, xây dựng lại và phát triển mạnh mẽ, nông nghiệp không còn là hoạt động chính của địa phương Tuy vậy, đô thị hóa nhanh và tự phát trên diện rộng cũng làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực như: tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, phân tầng xã hội ngày một sâu sắc và một số vấn đề về quy h oạch, quản lý đô thị đã và đang diễn ra có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân, gây nhiều áp lực đối với sự phát triển chung của đô thị Hà Nội và vùng ven đô hiện nay
Những vấn đề trên nếu không được nghiên cứu và giải quyết một cách cụ thể, kịp thời và triệt để sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tăng trưởng và phát triển của khu vực ven đô Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi muốn làm rõ và khẳng định vai trò của các nhân tố đô thị hóa đối với sự biến đổi kinh tế -xã hội ở vùng ven đô hiện nay qua trường hợp nghiên cứu xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội Những nhân tố đó đã tác động, ảnh hưởng đến biến đổi kinh tế-xã hội và đời sống của người dân vùng ven hiện nay như thế nào, ra sao?
Luận văn chọn xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội làm địa bàn nghiên cứu là
vì các lý do: (1) Mễ Trì là địa phương diễn ra tốc độ đô thị hóa nhanh so với các địa phương khác trong khu vực ven đô nhưng lại có những đặc thù chung và riêng với khu vực ven đô trong quá trình đô thị hóa của Thủ đô, nông nghiệp không còn là hoạt động chính của địa phương; (2) Mễ Trì là địa phương được quy hoạch, xây dựng và phát triển thành khu thương mại, văn hóa thể thao Quốc gia nói chung và Hà Nội nói riêng Do đó sự giao thoa trong sinh hoạt đời sống của cư dân ven đô với Hà Nội diễn
ra với tần suất lớn, nên tính chất đô thị đã xuất hiện nhiều trong cuộc sống của người
Trang 123
dân Vị thế của một bộ phận không nhỏ dân cư đã thay đổi về căn bản, từ cư dân nông thôn đã được công nhận là thị dân một cách chính thức (3) Những biến đổi về
hệ thống giá trị với tư cách là nhân tố điều chỉnh hành vi của các chủ thể hành động
sẽ cho chúng ta thấy khả năng thích ứng của người dân đang sống ở vùng ven đô hiện nay trước sự biến đổi chức năng từ một xã hội tự cung, tự cấp sang xã hội bị điều tiết bởi kinh tế thị trường có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước, từ sự biến đổi chức năng sản xuất dần tới biến đổi cấu trúc nghề nghiệp xã hội Cuối cùng, Mễ Trì là nơi thuận lợi cho việc triển khai nghiên cứu, gần và dễ tìm hiểu tài liệu, thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn Tất cả những lý do trên sẽ được chúng tôi phân tích rõ ở các phần, các chương nghiên cứu dưới đây
Có thể nói, nghiên cứu trường hợp xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội như là một mô hình về biến đổi kinh tế-xã hội khu vực ven đô dưới sự tác động của đô thị hoá ở Hà Nội hiện nay
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của đô thị hóa tới các vấn đề kinh tế-xã hội khu vực vùng ven đô, qua nghiên cứu trường hợp đô thị hóa ở Mễ Trì luận văn mong muốn sẽ góp phần làm rõ thực trạng và những nguyên nhân tác động
tích cực, tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến đời sống kinh tế-xã hội của người dân
vùng ven đô hiện nay Từ đó đưa ra kết luận và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị
về quản lý, quy hoạch, phát triển kinh tế-xã hội ở Mễ Trì và khu vực ven đô trong quá trình đô thị hóa nhằm phát triển vùng ven đô Hà Nội hài hòa và bền vững
3 Đối tượng và phạm vi khu vực nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đô thị hóa và những vấn đề kinh tế-xã hội vùng ven đô Hà Nội hiện nay tại xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội
3.2 Phạm vi khu vực nghiên cứu: xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Tp Hà Nội 3.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu: từ 2000 trở lại đây Sở dĩ tác giả luận văn
quyết định chọn thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến nay là vì đây có thể là giai đoạn thể hiện rõ nét nhất về quá trình đô thị hóa ở Mễ Trì và nó được khởi đầu từ những năm 2000 Điều này được thể hiện qua Chiến lượng phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Mễ Trì lần thứ XX (2000), cũng trong giai đoạn này Đảng, Nhà nước và UBND thành phố Hà Nội đã ban hành một số quyết định, thông tư về việc quy hoạch mở rộng và phát triển khu vực phía Tây của TP Hà Nội , trong đó địa bàn xã Mễ Trì thuộc khu vực trên : Quyết định số 56/1999/QĐ-UB của UBND TP Hà Nội về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết khu liên hợp thể thao quốc gia (1999); Quyết định về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết khu đô thị mới Mỹ Đình-Mễ Trì, huyện Từ Liêm (2000); Quyết định của UBND thành phố về việc phê duệt Quy hoạch chi tiết khu đô thị Mễ Trì Hạ, Mễ Trì Thượng
(2001); Quyết định của UBND thành phố về về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết
khu nhà ở tại xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm (2002)…
Trang 134
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sưu tầm và phân tích tư liệu được sử dụng trong luận văn nhằm nghiên cứu, thu thập tư liệu trên cơ sở các sách, bài báo chuyên khảo đã được công
bố, từ đó phân loại, hệ thống và hình thành hệ thống thư mục các tài liệu nghiên cứu
để thấy được đặc điểm chung cũng như đặc trưng riêng của quá trình đô thị hóa vùng ven đô Hà Nội trước đây và hiện nay Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số tài liệu chính từ các kết quả khảo sát, bài viết trên sách, báo và tạp chí đặc biệt là các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu luận văn đề cập tới
Phương pháp xã hội học lịch sử được sử dụng trong nghiên cứu quá trình hình thành, vận động và phát triển của Mễ Trì từ trước tới nay, đặt nghiên cứu gắn với hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể Phương pháp lôgíc được thể hiện xuyên suốt quá trình nghiên cứu, chi phối đến lựa chọn nội dung, kết cấu tổng quan cũng như xử lý từng vấn đề cụ thể của đối tượng nghiên cứu để rút ra bản chất, hiện tượng và các quy
luật hình thành và phát triển của đô thị hóa
Phương pháp điều tra Xã hội học được vận dụng với ba hình thức chủ yếu trong quá trình nghiên cứu luận văn là phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và điều tra
bằng bảng hỏi Điều tra bảng hỏi được tiến hành gắn liền với thiết kế phiếu trưng cầu
ý kiến bao gồm hệ thống các câu hỏi mang tính giả thuyết theo phương án phù hợp
với mục tiêu nghiên cứu Quy mô, mẫu khảo sát cũng phải đảm bảo tính đại diện, hợp lýcủa đối tượng nghiên cứu Trong xử lý kết quả điều tra, nghiên cứu sẽ nhờ sự
hỗ trợ tối đa của phần mềm chuyên dụng, đặc biệt là chương trình thống kê kinh tế-xã hội SPSS
Phương pháp quan sát, nhằm quan sát cách thức sinh hoạt của người dân tại
Mễ Trì trong một thời gian nhất định, nhằm tìm hiểu về thói quen sinh hoạt, sự thích nghi lối sống đô thị trong cách xây dựng nhà ở, cách chi tiêu sinh hoạt, sử dụng các dịch vụ, thời gian nhàn rỗi, quan hệ gia đình, cộng đồng cũng như các sinh hoạt tập thể Qua quan sát thực tế kết hợp với phỏng vấn nhanh người dân, tác giả phần nào đánh giá được những tác động của đô thị hóa đối với đời sống kinh tế-xã hội của người dân hiện nay, qua đó có thêm cơ sở cho những phân tích, đánh giá phục vụ nghiên cứu
Chúng tôi luôn ý thức được rằng mỗi phương pháp và kỹ thuật được sử dụng cần phải phù hợp với từng nội dung nghiên cứu cụ thể và phải được đặt trong các mối quan hệ tổng thể để có thể nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện toàn bộ quá trình hình thành, biến đổi, các mối quan hệ, các chiều tác động của đô thị hóa đối với đời sống kinh tế-xã hội của người dân vùng ven đô hiện nay Đến đây phương pháp nghiên cứu liên ngành được sử dụng như một phương pháp chủ công trong quá trình nghiên cứu của luận văn
Thông tin về mẫu khảo sát
Cơ cấu mẫu khảo sát của luận văn được lựa chọn trên cơ sở: giới tính, trình độ
Trang 14Bảng 1.1 Thông tin cấu mẫu khảo sát ở xã Mễ Trì
Cơ cấu nghề nghiệp
Kinh doanh, buôn bán 40 20,0%
Học sinh, sinh viên 24 12,0%
Đại học, Sau đại học 56 28,0%
Cơ cấu tuổi
Phỏng vấn sâu, ở mỗi thôn chúng tôi cũng thực hiện 5 cuộc phỏng vấn sâu Đối tượng phỏng vấn sâu là: Đại diện chính quyền xã; Đại diện chính quyền 3 thôn; Đại diện nhóm mất đất hoặc chuyển hẳn sang nghề phi nông nghiệp của 3 thôn Tổng cộng là 15 cuộc phỏng vấn sâu
Trang 156
5 Khung lý thuyết nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
Có thể góp phần cung cấp thông tin, bổ sung nguồn tư liệu cho nghiên cứu về vấn đề đô thị hóa vùng ven đô hiện nay
Qua nghiên cứu này, tác giả luận văn mong muốn giúp người đọc có cái nhìn
toàn diện về thực trạng và những yếu tố tác động của quá trình đô thị hóa đến đời
sống kinh tế-xã hội của người dân vùng ven đô hiện nay, qua trường hợp nghiên cứu
xã Mễ Trì-Từ Liêm-Hà Nội Giúp các nhà hoạch định chính sách, quy hoạch đô thị
có thêm tài liệu tham khảo về thực trạng đô thị hóa và phát triển ở khu vực vùng ven
đô hiện nay Qua đó có hướng phát triển hài hòa và bền vững khu vực này
Qua nghiên cứu, tác giả luận văn đề xuất một số hướng nghiên cứu về lĩnh vực này trong giai đoạn tiếp theo làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn tập trung vào ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp tiếp cận nghiên cứu đô thị
hóa và những vấn đề kinh tế-xã hội vùng ven đô
Chương 2: Đô thị hóa vùng ven đô Hà Nội: trường hợp nghiên cứu xã Mễ Trì,
huyện Từ Liêm
Chương 3: Tác động của đô thị hóa đến sự biến đổi kinh tế-xã hội xã Mễ Trì,
huyện Từ Liêm hiện nay
Đô thị hóa vùng ven đô HN
Biến đổi kinh tế Biến đổi đời sống xã hội
TTCN- TMDV
NN-Tác động đến đời sống kinh tế người dân
Dân
số, lao động, việc làm
Giáo dục,
Y tế
Văn hóa, lối sống
Tệ nạn
xã hội
Chính sách phát triển đô thị
Môi
trường
Trang 167
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN
VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ HÓA
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ-XÃ HỘI VÙNG VEN ĐÔ
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đô thị và đô thị hóa là chủ đề đã và đang được giới nghiên cứu trong nước và quốc tế đặc biệt quan tâm Trong những năm qua đã có nhiều thành tựu quan trọng nghiên cứu đến các vấn đề chung của đô thị, phát triển đô thị và đô thị hóa Mỗi công trình lại có một hướng tiếp cận nghiên cứu riêng, những kết quả nghiên cứu tập hợp lại tạo thành một bức tranh đa dạng và phong phú về vấn đề phát triển đô thị, đô thị
hóa và đô thị hóa vùng ven hiện nay
1.2.1 Nghiên cứu đô thị hóa trên thế giới
Những thành tựu quan trọng nghiên cứu đô thị , đô thị hóa của các học giả nước ngoài l iên quan đến đề tài luận văn có thể phân thành các nhóm là những nghiên cứu về đô thị hóa nói chung và những nghiên cứu đô thị hóa ở Việt Nam và
Hà Nội nói riêng
Nhóm thứ nhất, chủ yếu ở giai đoạn của cuộc cách mạng công nghiệp, tập
trung vào những vấn đề cơ bản của khái niệm đô thị hoá và được nêu lên như: những biểu hiện của đô thị hoá, thước đo đô thị hoá, nguyên nhân hình thành đô thị và đô thị
hóa tiêu biểu như công trình nghiên cứu Lý luận chung về đô thị hoá của I.Cerdraf
(1867) đã đưa ra quan niệm về đô thị hoá3, cuốn Cuộc cách mạng đô thị của V.G
Childe (1950), lại nhấn mạnh đến một số đặc trưng đầu tiên của quá trình đô thị hóa
là sự chuyên môn hoá các hoạt động kinh tế4
Tuy nhiên cũng như nhận định của một số các nhà khoa học ở giai đoạn sau thì sự nhìn nhận về quá trình đô thị hoá của nhóm này còn mang ý nghĩa hẹp, mới nhìn nhận trên hiện tượng mà chưa khái quát được bản chất, lý luận còn đi sau sự phát triển của thực tế Chính vì vậy, sự phát triển của đô thị trong giai đoạn cách mạng công nghiệp cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc định hướng phát triển và
nó như một quy luật tất yếu trong quá trình nhận thức, quá trình đô thị hoá lần đầu
3 Trong tác phẩm này, ông đã đưa ra quan niệm về đô thị như một hiện tượng nhiều tầm và đa diện: kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường ở, những biểu hiện cụ thể về phát triển thủ công nghiệp, công nghiệp, sản xuất hàng hoá, phân công lao động xã hội, chuyển đổi nơi ở và nghề nghiệp, thay đổi lối sống và mức sống, sự hình thành
xã hội tiêu thụ, xã hội đại chúng và đám đông cô đơn… Xin xem thêm Trương Quang Thao: Đô thị học những
khái niệm mở đầu, NXB Xây dựng, 2003
4V.G Childe (1950), The urban revolution Town plangning review 1950
Trang 17và ảnh hưởng sâu sắc đối với khu vực nông nghiệp-nông thôn Do đó, ở giai đoạn này
đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu một cách rõ nét hơn về đô thị hóa cũng
như các yếu tố tác động đến nó Tiêu biểu như nghiên cứu Một số mối liên hệ của đô
thị hoá và mô hình phát triển kinh tế cơ bản của B.J.L.Berry (1962) đã phân tích mối
quan hệ giữa kinh tế và đô thị hoá, ông thừa nhận “Đã tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa trình độ phát triển kinh tế của một nước và trình độ đô thị hoá mà nước đó đạt được và đưa ra các chỉ sốđể phân tích các thành phần chủ yếu của quá trình đô thị
hoá của một số quốc gia trên thế giới Tác giả Pivôvarov (1972) với bài viết Đô thị
hoá hiện nay, bản chất, các nhân tố và đặc điểm nghiên cứu in trong Những vấn đề
đô thị hóa hiện nay lại nêu khá đầy đủ về những quan điểm mới về khái niệm đô thị
hóa và khác biệt giữa “đô thị hoá” và “đô thị” Ông cũng khẳng định quá trình đô thị hoá ở mỗi nước có sự khác nhau, bởi sự tác động và điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, lịch sử ở mỗi quốc gia là khác nhau5
Đối với Reiss Man (1964), Quá trình đô thị hoá lại đi sâu vào phân tích các
biến thể của quá trình đô thị hoá trên cơ sở tổng kết quá trình đô thị hoá đã diễn ra ở thế kỷ XX Tác giả đã đưa ra một số biến thể của quá trình đô thị hóa như: (1) Tăng trưởng dân cư đô thị, sự gia tăng dân cư ở thành phố có hơn 100.000 dân; (2) Công nghiệp hoá, hệ quả là sự vận động của xã hội từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp; (3) Sự cấu trúc lại các mối quan hệ quyền lực trong xã hội nhằm tạo điều kiện cho công nghiệp hoá phát triển; (4) Về sự đề cao chủ nghĩa dân tộc, tạo nên
hệ tư tưởng hành động có động cơ, lòng trung thành Trong mỗi biến thể lại phân thành 4 dạng, mỗi dạng xây dựng với đặc thù của từng nước, từng giai đoạn phát triển Ông cũng cho rằng đây là bằng chứng cho thấy không phải tất cả các nước đều tiến tới đô thị hoá như nhau Một số nước công nghiệp hóa trước, phát triển thành
5 Có khá nhiều tác giả khác cũng đồng tình với quan điểm về đô thị hoá này Ví dụ như L.B.Kogan người Nga
trong bài Quá trình đô thị hoá xã hội và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật-Những vấn đề triết học, 1969 đã
quan niệm đô thị hoá “như một quá trình lịch sử thế giới, gắn liền mật thiết với sự phát triển của lực lượng sản
xuất và của các hình thức giao tiếp xã hội” Hay H Carter (1977) trong tác phẩm Nguồn gốc đô thị Sự tiến bộ
trong địa lý nhân văn đã nêu lên rằng: Đô thị hoá là kết qủa của tính cấp thiết của việc tạo dựng khu vực hành
chính, sự lưu trữ hồ sơ, sự phát triển nghệ thuật, sự mở rộng thương mại, sự định hình của các nghề nghiệp đặc biệt Đô thị hoá có tính chất toàn thế giới, bao trùm lên nhiều nước có chế độ xã hội khác nhau Tác giả nhấn mạnh nguyên nhân của đô thị hoá chính là do việc phát triển kinh tế và nó phụ thuộc vào đặc điểm của tầng quốc gia mà phát triển
Trang 189
phố sau, một số nước ngược lại Ông cũng chỉ ra rằng công nghiệp hóa không phải là nguyên nhân duy nhất phát triển đô thị
Nhóm thứ ba, chủ yếu ở giai đoạn hậu công nghiệp, các nghiên cứu về đô thị
hóa được tiếp cận dưới nhiều góc độ và toàn diện hơn, do đó đô thị hóa cũng được
mở rộng hơn về khái niệm, nghiên cứu của H.S Geyer về Mở rộng nền tảng lý thuyết
đô thị hóa, tác giả đã đề cập đến khái niệm “Đô thị hoá khác biệt”, đây là một khái
niệm mới nói về các hiện tượng đô thị hoá trong các đô thị hiện nay không chỉ là các
dòng dịch cư chính nông thôn-đô thị mà tồn tại nhiều dòng dịch cư địa lý khác nhau
Và quá trình dịch cư trong mối quan hệ giữa vùng trung tâm đô thị và ngoại ô của
các đô thị lớn được quan tâm đặc biệt Quá trình này được tác giả cho rằng diễn ra
theo 4 bước: (1) Bước “Đô thị hoá” khi dân cư đô thị phát triển ở vùng nông thôn xung quanh; (2) Bước “Ngoại ô hoá” khi vùng ven phát triển tới trung tâm; (3) Bước
“Phi đô thị hoá” khi có sự giảm dân cư của vùng trung tâm vượt hơn sự tăng của vùng ngoại vi, kết quả là làm giảm dân cư của đô thị nói chung; (4) Bước “Đô thị hoá lại” khi vùng trung tâm tăng dân cư lại trong khi vùng ngoại vi tiếp tục giảm dân cư Đây là những phát hiện rất quan trọng đối với những lý luận về đô thị hoá, nó cho thấy mỗi một mức độ phát triển kinh tế xã hội của loài người, quá trình đô thị hoá lại
có những sắc thái riêng
Tác giả L.Wirth, R Park, E Burgess trong trường phái Xã hội học Chicago lại
đề cập đến những mặt trái của đô thị hoá như sự gia tăng tỷ lệ tội phạm, sự xuống cấp của môi trường xã hội , sự tan vỡ của thiết chế gia đình , sức ép đến lối sống ở nông thôn, đến những thiết chế xã hội đặc thù ở nông thôn như tổ chức dòng họ , hội nghề nghiệp, hôn nhân, lễ hội, tự quản cộng đồng, công tác xã hội với cộng đồng, di dân
Nghiên cứu của Preston, Samuel (1979) Về đô thị hóa và tăng trưởng đô thị ở
các nước đang phát triển6 nhấn mạnh quá trình đô thị hóa và sự tăng trưởng đô thị ở các nước đang phát triển theo hướng tiếp cận lý thuyết hiện đại hóa Qua chuyên khảo, tác giả cho rằng tỷ lệ thay đổi của tỷ trọng dân số đô thị giữa các nước phát triển trước đây và các nước đang phát triển hiện nay là tương tự nhau Dân số đô thị
và dân số nông thôn của các nước phát triển tăng chậm hơn so với các nước đang phát triển7 Những nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn có tỷ lệ di cư nông thôn-đô thị cao hơn Ngoài ra, tác giả công trình này còn phát hiện sự tăng trưởng đô
6 Trong công trình này ông đã nghiên cứu dựa trên nguồn số liệu về sự biến đổi dân số của 1.212 thành phố có dân số từ 100.000 trở lên từ 1950-1975, qua nghiên cứu ông đã kiểm chứng được một số khía cạnh của lý thuyết hiện đại hóa
7 Trong nghiên cứu này tác giả đã đưa ra tỷ lệ dân số đô thị và nông thôn ở các nước phát triển tăng thêm tương ứng 100% và 18%, trong khi ở các nước đang phát triển tương ứng là 188% và 49% Xin xem thêm Lê Thanh
Sang Đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau Đổi mới 1979-1989 và 1989-1999, NXB Khoa học
xã hội, 2008, 435 tr
Trang 1910
thị ở các nước đang phát triển không gắn với sự suy giảm tỷ số công nghiệp/đô thị
Tỷ số này năm 1950 là 0,552 và đến năm 1970 là 0,5788
Cùng với Preston, Bradshaw (1987) đã tiến hành một nghiên cứu để ủng hộ lý thuyết hiện đại hóa, tuy nhiên đối tượng nghiên cứu trong công trình của ông lại là 61 quốc gia kém phát triển trong giai đoạn 1960-1980 Kết quả của công trình nghiên cứu đã đưa ra những dẫn chứng để minh họa cho lý thuyết thiên vị đô thị9 và lý thuyết phụ thuộc
Một số hạn chế của công trình nghiên cứu này là việc lựa chọn biến đo lường không theo những chuẩn mực phổ biến Tác giả đã lựa chọn biến phụ thuộc đo lường
là đô thị hóa tương đối chứ không phải là mức độ đô thị hóa, và sự chênh lệch giữa nông thôn-đô thị không chỉ là biểu hiện những tác động của sự thiên vị đô thị mà còn
là của hiện đại hóa…10
Một hướng nghiên cứu khác của Firebaugh (1979), Điều kiện nông thôn của
27 quốc gia châu Á và Mỹ La tinh giai đoạn 1960-1970, ông đã tiến hành nghiên cứu
đô thị hóa từ các nhân tố đẩy ở hai hướng đo lường là mật độ dân số nông nghiệp và hình thức sử dụng đất Kết quả cho thấy, điều kiện nông thôn có ảnh hưởng quan trọng đối với đô thị hóa ở các nước thứ Ba, trực tiếp thông qua di cư nông thôn-đô thị
và gián tiếp thông qua sự khác nhau về mức sinh giữa nông thôn-đô thị Cụ thể, tác giả phát hiện rằng mật độ dân số nông nghiệp cao đã tạo ra thu nhập và các cơ hội việc làm từ nông nghiệp sẽ thấp, điều này đã tạo nên sức ép và thúc đẩy các làn di cư
từ nông thôn đến đô thị Ngoài ra, việc canh tác nông nghiệp dưới hình thức trang trại đòi hỏi phải tập trung ruộng đất tương đối lớn Điều này dẫn đến phân hóa, khiến một
bộ phận nông dân mất đất canh tác và phải tìm kiếm việc làm ngoài đô thị Chính việc di cư nông thôn-đô thị là nhân tố thúc đẩy quan trọng đã làm tăng tốc quá trình
đô thị hóa11 Như vậy theo Firebaugh, áp lực đất nông nghiệp là một yếu tố quan trọng giải thích cho tính chất đô thị hóa quá mức ở các đô thị nhưng chưa phải là điều kiện đủ cho đô thị hóa quá mức Cần tìm hiểu mối quan hệ giữa mức độ đô thị hóa và mức độ tăng trưởng kinh tế
Ở giai đoạn này một số công trình cũng đã chú ý nghiên cứu đến các vùng ngoại ô của đô thị, như nghiên cứu của Bourne.L.S (1990) về vùng ngoại ô của Mỹ
8Preston, Samuel (1979), Urban Growth in Developing Countries: A Demographic Reappraisal Population
and Development Review 5: 195-215
9 Để lý giải theo lý thuyết thiên vị đô thị, tác giả đã chỉ ra sự chênh lệch giữa nông thôn và đô thị năm 1960 có tác động tích cực và mạnh mẽ đối với đô thị hóa tương đối nhưng lại có ảnh hưởng tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế Còn lý giải theo lý thuyết phụ thuộc, công trình đã chỉ ra, do mức độ đô thị hóa tương đối thay đổi dẫn đến sự tăng lên của việc làm trong khu vực dịch vụ và điều này sẽ tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế
10Xin xem thêm Bradshaw, York W (1987) Urbanization and Underdevelopment: A Global Study of
Modernization, Urban Bias, and Economic Dêpndency American Sociological Review, Vol 52, No2: 224-239
11 Firebaugh, Glenn (1979), Structural Determinants of Urbanization in Asia and Latin America, 1950-1970
American Sociological Review 44: 199-215
Trang 2011
Qua nghiên cứu tác giả đã nhận định đang có một quy luật làm biến đổi vùng ngoại ô
và đưa ra khái niệm “không gian xã hội mới trong các vành đai đô thị”12
Có thể nói, đô thị và đô thị hoá đặc biệt thu hút sự quan tâm của giới học giả nước ngoài Nhiều chuyên gia về đô thị học quốc tế đã giữ vai trò chủ chốt trong hàng loạt các chương trình nghiên cứu và hội thảo khoa học quốc tế về đô thị Việt Nam truyền thống và hiện đại, về đô thị hoá hiện nay Có thể kể ra những bài viết của các chuyên gia Nhật Bản, Pháp, Đức, Mỹ, Hàn Quốc, Singapore… với một số công trình đã được dịch và giới thiệu với độc giả Việt Nam như Pedelahore Christian
(1983), Những yếu tố cấu thành của Hà Nội và những thành phố ở Việt Nam; Pandolfi Laurent (1995), Hiện đại hoá đô thị ở Hà Nội dưới góc độ mối quan hệ giữa
các khu công cộng và tư nhân; Nguyễn Laurence (1998), Phác thảo chiến lược hiện đại hoá và phát triển đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986- 1996; Philippe Papin (1997), Từ những làng trong thành phố đến những ngôi làng đô thị hoá Không gian và các hình thức quyền lực ở Hà Nội từ 1805 đến 1940; David
Koh Wee Hock (2000), Phường ở Hà Nội và quan hệ Nhà nước-xã hội ở Cộng hoà
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Trịnh Duy Luân, Micheal Leaf (1996),Vấn đề nhà ở đô thị trong nền kinh tế thị trường của thế giới thứ ba; Azrova Ekaterina (2001), Sự hình thành và phát triển nhà tập thể; I.S Turov(1995), Lối sống đô thị nhìn từ phương diện
lý thuyết; Michae Leaf (1993), Chính sách nhà ở và quá trình sản xuất nhà ở đô thị;
Pandolfi Laurent (2000), Sự chuyển thể đô thị và quá trình xây dựng các vùng ngoại
vi đô thị; Micheal Leaf (2000), Vùng ven đô Việt Nam: việc quản lý hành chính sự phát triển của Hà Nội và một hệ thống bài viết cho các tiểu ban Đô thị và Đô thị hoá
của các Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ nhất (1998) và lần thứ 3 (2008)13.…
12 Sự biến đổi của vùng ngoại ô được thể hiện rõ nét qua các số liệu khảo sát tại Mỹ trong nghiên cứu của Bourne.L.S (1990) cho thấy: năm 1950 vùng trung tâm thành phố có 57% dân số, chiếm 70% lượng việc làm, đến năm 1990 dân số thành phố trung tâm chỉ chiếm 37% và 45% lượng việc làm, còn lại dân số ngoại ô chiếm
tới 63% và 55% lượng việc làm Xem thêm Adrian Guillermo Aguilar (1999), Habitat International
13Trong Tiểu ban 10: Đô thị và đô thị hóa, Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ III (2008), tác giả
Timothy Gorman (Mỹ) bàn về “nền kinh tế hằng ngày” của những người mua gánh bán bưng, xe ba bánh, người nhập cư nông thôn lên thành phố kiếm sống Trong tham luận tác giả đưa ra một số giải pháp hợp tình hợp lý về bố trí tập trung chỗ buôn bán cho người bán hàng rong, sắp xếp chỗ cho người buôn bán nhỏ
Sandra Kurten, Rudiger Korff (Đức), đề cập vấn đề thay đổi không gian công cộng ở Hà Nội, nhằm tạo sức sống năng động hơn cho các quảng trường, công viên và cả hè phố, làng hoa truyền thống kiểu xã hội thị dân
mà Việt Nam đang hướng tới Tim Kaiser thì đúc kết một số kinh nghiệm từ các đô thị nhỏ ở phương Tây để hội nhập các thành phố nhỏ vào hệ thống các thành phố Việt Nam, tạo sự đóng góp hài hòa chung cho khu vực cũng như vai trò của chúng trong các hình mẫu di dân
Lisa Drummond cho rằng cơ cấu không gian đô thị Việt Nam đã thay đổi đáng kể sau 20 năm đổi mới Hà Nội không chỉ phát triển theo chiều ngang, lan tỏa ra vùng ven mà cả về chiều cao với khách sạn, nhà văn phòng và chung cư cao tầng Và tác giả cho rằng điều này có lẽ đã được tiên liệu trước nhưng với tốc độ phát triển quá nhanh như hiện nay thì cũng đáng báo động
Michael Leaf tập trung nghiên cứu các vùng ven thị Ðông Nam Á và Tp HCM Ðây là vùng đệm giữa đô thị cũ
và vùng nông thôn chung quanh và là nơi đang diễn ra sự thể nghiệm các khu đô thị mới với các khu công nghiệp, nhà ở, vui chơi giải trí Hiện tượng đô thị hóa vùng ven thị diễn ra ở nước ta càng phức tạp hơn khi xuất hiện việc chiếm dụng đất canh tác nông nghiệp, đầu cơ đất đai và nạn tham nhũng Tác giả nhấn mạnh chính
Trang 2112
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu của các tác giả về đô thị hóa trên thế
giới, có thể thấy quá trình đô thị hóa bị tác động bởi nhiều rất nhiều yếu tố Có thể kể
đến như: kinh tế, dân số, các mối quan hệ giữa nông thôn với đô thị, giữa trong và
ngoài nước, giữa những yếu tố lịch sử và đương đại trong quá trình phát triển kinh tế,
đô thị hóa và hình thành hệ thống đô thị với nhiều tính chất không đồng nhất trong
từng quốc gia, khu vực, quốc tế…Nhưng nhìn chung, những chuyên khảo về đô thị
và đô thị hóa có ý nghĩa gợi mở vấn đề, cung cấp nhiều thông tin có giá trị làm cơ sở
cho việc nghiên cứu đô thị, đô thị hóa nói chung và đô thị hóa vùng ven nói riêng ở
nước ta hiện nay Tuy nhiên, cũng phải thấy một thực tế là, cho đến nay vẫn chưa
một học giả nước ngoài nào đặt vấn đề nghiên cứu đô thị hóa và những vấn đề kinh
tế-xã hội vùng ven đô ở Việt Nam hiện nay
1.2.2 Nghiên cứu đô thị hoá ở Việt Nam
Không nằm ngoài xu hướng nghiên cứu đô thị và đô thị hóa trên thế giới, ở
Việt Nam trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt từ khi đất nước thực hiện công cuộc
Đổi mới, việc nghiên cứu đô thị, đô thị hóa từ truyền thống đến hiện đại của các học
giả trong nước có bước phát triển vượt bậc Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ đời sống
đô thị trên bình diện cả nước, từng vùng miền hoặc từng đô thị cụ thể, bao gồm cả
những nghiên cứu có tính tổng hợp, cả những nghiên cứu có tính chuyên biệt, trong
đó, vấn đề đô thị hóa là một nội dung trọng tâm, thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới
nghiên cứu cũng như các nhà quản lý đô thị Trên cơ sở các nghiên cứu chúng ta có
thể phân ra thành các chủ đề nghiên cứu về đô thị hóa ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu về vấn đề chung của đô thị hóa:
Trong số những nghiên cứu về vấn đề chung của đô thị hóa phải kể đến
nghiên cứu của Nguyễn Quang Ngọc-Nguyễn Văn Chính (1985), Khu Thập Tam
Trại: Nguồn gốc dân cư, tín ngưỡng thành hoàng và đặc điểm kinh tế đã đem đến
cho người đọc quan điểm về cấu trúc thành cổ Hà Nội và quá trình đô thị hoá của một
thành phố thời tiền thực dân14 Tiếp cho hướng nghiên cứu này chuyên khảo của
Trịnh Duy Luân, Hans Schenk (2000), Nơi ở và cuộc sống của cư dân Hà Nội 15 đã
mô tả về quá trình hình thành, thay đổi và cuộc sống của cư dân khu phố Tây-khu
phố thời kỳ thực dân Trong đó, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của thực
quyền phải xác định lại phương cách quản lý mới và tái cấu trúc lại lãnh thổ thì mới mong phát triển hài hòa
cho công cuộc đô thị hóa vùng ven đô
Nhìn chung các chuyên gia nhìn vấn đề đô thị và đô thị hóa ở nước ta theo lối quy hoạch đô thị công nghiệp
phương Tây thế kỷ XX Và như vậy thì họ đã chưa đưa ra được những góp ý tích cực hơn để giúp ta phát triển
đô thị theo hướng hậu công nghiệp mang tính nhân văn và bền vững của thế kỷ XXI.
và đặc điểm kinh tế, Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 1-1986; Nguyễn Quang Ngọc, Góp thêm
ý kiến về vấn đề Hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần và lịch sử “Thập tam trại”, Tạp chí Nghiên cứu lịch
sử, số 1-1986, tr.25-33
15 Trịnh Duy Luân, Hans Schenk (2000), Nơi ở và cuộc sống của cư dân Hà Nội, NXB Văn hóa-thông tin, Hà
Nội.
Trang 2213
dân Pháp trong thời kỳ phố Tây Chính công cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp
ở Đông Dương đã làm nảy sinh nhu cầu phát triển Hà Nội thành một đô thị kiểu châu
Âu với những đường phố rộng, các khuôn viên và các khu biệt thự kiểu pha trộn kiến trúc châu Âu và bản địa mà ngày nay chúng ta vẫn còn quan sát được Đáng chú ý là
dự án đào tạo chuyên ngành đô thị Hà Nội: Hà Nội-Chu kỳ của những đổi thay: Hình
thái kiến trúc và đô thị, do UBND thành phố Hà Nội hợp tác với vùng Ilede France là
tập hợp các bài nghiên cứu của các kiến trúc sư người Pháp và Việt Nam đã bổ khuyết lĩnh vực này của Hà Nội16
Bước sang thời kỳ đổi mới, với chính sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, đô thị hoá được coi trọng hơn, nhà nước đã bắt đầu có những chính sách khuyến khích phát triển đô thị Từ đó người ta bắt đầu nghiên cứu
về vấn đề quy hoạch, chính sách phát triển đô thị và nghèo đói đô thị…
Lê Thanh Sang (2008) với Đô thị hoá và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và
sau đổi mới 1979-1989 và 1989-1999 đã đem đến cái nhìn tổng quan về đô thị hoá và
các lý thuyết đô thị hóa ở Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại, tăng trưởng đô thị ở Việt
Nam trước và sau đổi mới… Cùng với đó, cuốn Thăng Long-Hà Nội, mười thế kỷ đô
thị hoá của Trần Hùng, Nguyễn Quốc Thông (2004), đã nhấn mạnh quá trình đô thị
hóa của Thăng Long-Hà Nội qua từng thời kỳ lịch sử, các giai đoạn, triển vọng phát triển Hà Nội trong tương lai
Trương Quang Thao (2003) với nghiên cứu Đô thị học, những khái niệm mở
đầu đã nêu những luận điểm rất cơ bản và toàn diện về đô thị hoá Tác giả đã đưa ra
những khái niệm cơ bản về đô thị hoá và các tác nhân của quá trình đô thị hóa như:
sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, sự phát triển của nền kinh tế hay các hệ quả như: hệ quả kinh tế xã hội (vấn đề dịch cư, cấu trúc xã hội, lao động, nghề nghiệp), hệ quả văn hoá xã hội (mức sống, lối sống và nhu cầu giao tiếp), hệ quả không gian-môi trường (biến động trong cấu trúc quần cư và hệ thống quần cư)… Tuy nhiên những khái niệm về đô thị hoá có liên quan đến đặc thù của Việt Nam chưa được nêu một cách đầy đủ trong cuốn sách này
Trong cuốn Đô thị Việt Nam, tác giả Đàm Trung Phường (1995) lại nhấn
mạnh đô thị hóa là một quá trình chuyển dịch lao động nhằm khai thác thiên nhiên sẵn có như: nông-lâm-ngư nghiệp, khai khoáng… phân tán trên một diện tích rộng khắp toàn quốc chuyển sang những hoạt động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất, xây dựng cơ bản, vận tải, sửa chữa, dịch vụ, thương mại, khoa học kỹ thuật cũng có thể nói là chuyển dịch từ hoạt động nông nghiệp (hiểu rộng) phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bàn thích hợp gọi là đô thị
16 Pierre Clément, Nathalie Lancret (chủ biên), Hà Nội-Chu kỳ của những đổi thay: Hình thái kiến trúc và đô
thị, NXB Khoa học và kỹ thuật, Nà Nội.
Trang 2314
Nguyễn Thế Bá (1998) trong cuốn Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị cho
rằng quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa đất nước Vì vậy cũng có người cho rằng đô thị hóa là người bạn đồng hành của công nghiệp hóa Quá trình đô thị hóa cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị và diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế xã hội Trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hóa và của phương thức tổ chức cuộc sống xã hội Đồng thời gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới
Trong cuốn Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam của Trần Ngọc Hiên,Trần Văn Chử(1998) chủ biên, đã phân tích công nghiệp hoá và tác động của nó đến quá trình đô thị hoá ở Việt Nam trong thời đại hiện nay Trong nghiên cứu, ngoài việc nêu rõ kể từ khi có cuộc cách mạng công nghiệp, loài người đã trải qua 4 đợt công nghiệp hóa, đô thị hóa, các tác giả còn nhấn mạnh một số chính sách đối với đô thị hóa ở Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH của đất nước
Vũ Hào Quang (2005), Những biến đổi xã hội ở nông thôn dưới tác động của
đô thị hóa và chính sách tích tụ ruộng đất (nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương) đã
nêu rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của đô thị hóa và chính sá ch dồn điền đổi thửa tới cấu trúc xã hội nông thôn hiện nay Trong công trình này, tác giả chủ yếu chỉ tập trung nghiên cứu và phân tích những nguyên nhân chủ quan đó là khả năng thích ứng của người nông dân đưới tác động của những nhân tố đô thị hoá, tích tụ ruộng đất và dồn điền đổi thửa với tư cách là những nhân tố khách quan Những biến đổi về hệ thống giá trị với tư cách là cái điều chỉnh hành vi của các chủ thể hành động
sẽ cho chúng ta thấy khả năng thích ứng của những người dân đang sống ở nông thôn hiện nay
Thứ hai, nghiên cứu đô thị hóa tác động đến kinh tế-xã hội:
Ở lĩnh vực này, nghiên cứu của Trịnh Duy Luân (1998) về Tác động kinh tế,
xã hội của đổi mới trong lĩnh vực nhà ở đô thị, đã đi vào nghiên cứu tác động kinh
tế-xã hội của đổi mới trên địa bàn đô thị và vấn đề nhà ở; động thái của quá trình sản xuất nhà ở đô thị trong thời kỳ đổi mới; phát triển và hoàn thiện lĩnh vực nhà ở đô thị Cùng nghiên cứu biến đổi kinh tế-xã hội trong quá trình đô thị hoá, Nguyễn Hữu
Minh (2003), Biến đổi kinh tế-xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị
hóa đã chỉ ra sự chuyển biến quá đột ngột về hành chính có thể làm cho một bộ phận
dân cư chưa kịp chuẩn bị với những đòi hỏi của cuộc sống đô thị, dẫn đến những hẫng hụt Nhịp sống, cơ cấu xã hội và các mối quan hệ xã hội ở nông thôn có thể thay đổi một cách cơ bản Tuy nhiên, ở nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
Trang 2415
về sự thay đổi các chuẩn mực văn hóa cộng đồng là sự thay đổi thái độ, hành vi và ứng xử của mỗi cư dân khu vực ven đô trong đời sống gia đình và xã hội
Lê Tiêu La (2007) với nghiên cứu Một số biến đổi xã hội ở nông thôn vùng
ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới đã trình bày một số khía cạnh lý luận và thực
tiễn của biến đổi xã hội Phân tích thực trạng và các nhân tố tác động đến sự biến đổi của một số vấn đề xã hội ở vùng nông thôn ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới Đồng thời đã đưa ra các dự báo một số xu hướng biến đổi về xã hội, đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững xã hội nông thôn vùng ven đô Hà Nội
Trong nghiên cứu Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị
hóa vùng ven đô ở nước ta của Vương Cường (1997) đã nghiên cứu những đặc điểm
cơ bản của việc đô thị hóa vùng ven đô nước ta và những vấn đề kinh tế-xã hội chủ yếu nảy sinh trong quá trình đô thị hóa vùng ven hiện nay Dưới góc độ lối sống đô
thị, Lê Như Hoa đã cho công bố một số công trình như: Lối sống trong đời sống đô
thị hiện nay (1993); Lối sống đô thị miền Trung mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
(1996) và Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại (2003) đã tập trung vào phân tích
lối sống đô thị và đưa ra những nhận xét về lối sống đô thị nước ta hiện nay Đặc biệt
trong cuốn Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại, tác giả cho rằng việc hình thành
lối sống đô thị hiện nay bị chi phối bởi một số nhân tố kinh tế-xã hội-văn hóa như: sự biến đổi cơ cấu xã hội-nghề nghiệp của dân cư đô thị; sự chuyển đổi định hướng giá trị của các nhóm xã hội; sự thay đổi chức năng, vai trò của các bộ phận trong guồng máy điều hành quản lý đô thị; điều kiện hiện thực (mức sống)
Ngô Văn Giá (2006) trong Những biến đổi về giá trị văn hoá truyền thống của
các làng ven đô thuộc địa bàn Hà Nội trong thời kỳ đổi mới đã phân tích những biến
đổi kinh tế-xã hội tác động tới sự biến đổi giá trị văn hoá truyền thống của các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới Làm rõ hiện trạng biến đổi giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới và đề xuất một số phương hướng và giải pháp phát triển và giữ gìn các giá trị văn hóa làng ven đô
Phan Thị Mai Hương (2010), Những biến đổi tâm lý cơ bản của cư dân vùng
ven đô đã được đô thị hóa 17 đã góp phần phác thảo nên bức tranh chung về quá trình
đô thị hóa ở vùng ven đô, tìm hiểu thực trạng và sự biến đổi một số mặt trong đời
sống tâm lý của cư dân vùng ven đô đã được đô thị hóa và những tác động của quá trình này đến đời sống tâm lý của người dân hiện nay
Thứ ba, nghiên cứu đô thị hóa tác động đến vấn đề lao động, việc làm:
Tác giả Trần Thị Tuyết Mai (1998), Lý luận, phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2020 đã trình bày cơ sở lý luận,
NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010.
Trang 2516
phương pháp luận nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Đề xuất nội dung, phương pháp nghiên cứu xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH-HĐH đến năm 2020
Bùi Thị Ngọc Lan (2006), Giải quyết việc làm cho nông dân vùng đồng bằng
Sông Hồng ở nước ta hiện nay, đã giới thiệu quan niệm về việc làm và những nhân tố
tác động đến việc làm của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng Đánh giá thực trạng
và triển vọng giải quyết việc làm cho nông dân vùng đồng bằng sông Hồng Đề xuất phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho nông dân vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010
Phan Thị Mai Hương (2008) với bài viết Chiến lược sống qua những dự định
nghề nghiệp của cư dân ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa 18 đã nghiên cứu chiến lược sống qua những dự định việc làm của người dân khu vực ven đô cho thấy yếu tố nội lực cho sự phát triển chưa trở thành một nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự đổi mới cho mỗi người Minh chứng cho sự bị động của người dân trước bối cảnh mới, cần sự chuẩn bị tâm lý chu đáo để tiếp cận với cơ hội phát triển một cách chủ động hơn
Đỗ Thị Lệ Hằng (2008), Thực trạng chuyển đổi nghề nghiệp của cư dân vùng
ven đô trong quá trình đô thị hóa 19 nêu rõ thực trạng chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp
và thu nhập của người dân vùng ven đô Hà Nội Thông qua những nghiên cứu, thống
kê về nghề nghiệp, thu nhập chính của các hộ gia đình thuộc 3 khu vực: Yên Mĩ, Yên
Sở, Mỹ Đình trong quá trình đô thị hóa
Trần Minh Ngọc (2009), Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến 2020, tập trung nghiên cứu, phân
tích và làm rõ thực trạng việc làm của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng những năm gần đây (2000-2007) Qua nghiên cứu, tác giả đã đánh giá những tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến thay đổi cơ cấu việc làm của nông dân và làm rõ những tác động của thị trường, vai trò của nhà nước đến việc làm của người lao động vùng đồng bằng sông Hồng Phân tích tác động của một số chính sách liên quan đến tạo việc làm cho nông dân, xu hướng di chuyển lao động trong nội vùng và với các vùng khác Từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến 2020
Thứ tư, nghiên cứu đô thị hóa gắn với phát triển khu vực làng xã ven đô:
trong quá trình đô thị hóa Tạp chí Tâm lý học, Số 12 tr.13-18
19 Đỗ Thị Lệ Hằng (2008), Thực trạng chuyển đổi nghề nghiệp của cư dân vùng ven đô trong qua trình đô thị
hóa Tạp chí Tâm lý học, Số 3, 2008, tr 37-40
Trang 2617
Có thể nói, vùng ven Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng chịu tác động mạnh của quá trình đô thị hoá, các khu dân cư nông nghiệp vùng ven đang chuyển dần thành các khu dân cư đô thị, đã có một số nghiên cứu về vấn đề này
Theo Phạm Hùng Cường (2001), Chuyển đổi cấu trúc làng xã vùng ven đô thị
lớn đồng bằng sông Hồng thành các đơn vị ở trong quá trình đô thị hoá Trên góc độ
nghiên cứu làng xã thì đô thị hóa là quá trình diễn biến toàn diện với sự chuyển biến
về nghề nghiệp, cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp; sự chuyển đổi đời sống văn hóa, xã hội, lối sống từ nông thôn sang đô thị; sự chuyển đổi không gian tương ứng với các thay đổi kinh tế, xã hội và là sự thay đổi bộ máy hành chính, quản lý từ nông thôn (xã) sang đô thị (phường) Tác giả nhấn mạnh sự chuyển biến thiếu tương đồng của các hệ quả đô thị hoá là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thiếu tính bền vững trong các làng xã đô thị hoá hiện nay Qua nghiên cứu, tác giả cho thấy quá trình đô thị hoá của Hà Nội không chỉ là sự tập trung dân cư từ nông thôn vào đô thị
mà có sự chuyển dịch phức tạp của nhiều dòng dịch cư, trong đó luồng dịch cư từ nội thành ra vùng ven là rất đáng kể và quá trình đô thị hoá vùng ven theo tác giả đòi hỏi phải cấu trúc lại các không gian làng xã truyền thống để phù hợp với những chuyển biến về xã hội, dân cư, lao động
Lê Văn Nãi (2004), Nghiên cứu đánh giá các mặt tích cực, tồn tại trong quá
trình đô thị hóa làng-xã thành phường ở Hà Nội và kiến nghị các giải pháp khắc phục 20 cho rằng đô thị hóa làng xã thành phường là quá trình biến đổi 4 vấn đề cơ bản sau: (1) Chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp thành sản xuất phi nông nghiệp; (2) Chuyển từ nơi dân cư phân tán, mật độ dân cư thấp thành nơi tập trung dân cư với mật độ cao; (3) Chuyển từ cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị; (4) Chuyển đổi từ xã hội-văn hóa nông thôn thành xã hội-văn hóa đô thị Tất cả các chuyển đổi đó làm cho làng xã thành phường có vai trò thúc đẩy sự đô thị hóa các làng xã tiếp theo
Theo Nguyễn Ngọc Quỳnh (2003), Làng truyền thống dưới ảnh hưởng của
quá trình đô thị hóa 21 là một quá trình mà tác động của nó làm thay đổi cơ bản hình
thái định cư từ nông thôn sang thành thị, từ canh tác nông nghiệp sang công nghiệp
và dịch vụ, từ hình thái tiêu thụ sản phẩm tự nhiên sang hàng hóa công nghiệp đã chế biến, từ cuộc sống cộng đồng sang cuộc sống cá nhân Tất cả sự thay đổi đó có thể nhận thấy được từng ngày, từ cảnh quan kiến trúc không gian cho đến con người, từ cộng đồng cho tới mỗi cá nhân cụ thể
20 Lê Văn Nãi (2004), Nghiên cứu đánh giá các mặt tích cực, tồn tại trong quá trình đô thị hóa làng-xã thành
phường ở Hà Nội và kiến nghị các giải pháp khắc phục Tạp chí Người xây dựng, số 2/2004.
21 Nguyễn Ngọc Quỳnh (2003), Làng truyền thống dưới ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa Tạp chí Kiến trúc
Việt Nam, số 4/2003
Trang 2718
Ngô Quốc Huy (2000), Vấn đề đô thị hóa nông thôn trong quá trình xây dựng
làng truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ 22 đánh giá đô thị hóa nông thôn là một xu hướng phát triển tất yếu của xã hội, nó được hợp thức cùng với sự phát triển, tiến bộ của dân trí, của hệ thống thông tin và khoa học kỹ thuật hướng tới một xã hội tiên tiến Tuy nhiên, không thể tránh khỏi có những vấn đề bất cập trong tiến trình thay đổi này Sự biến chuyển nhanh chóng, hay nói cách khác là hơi đột ngột khiến cho nếp sống mới của người dân có nhiều mâu thuẫn, phương thức lao động và sinh hoạt hoàn toàn mới dẫn tới ngành nghề phát triển mạnh, dân giầu lên nhanh chóng, có nhiều nhà xây to nhưng lộn xộn, ô nhiễm môi trường, xu hướng bỏ học ở học sinh tăng, khoảng cách giữa người giầu và người nghèo ngày càng rõ nét
Thứ năm, một số nghiên cứu về đô thị hóa ở Mễ Trì:
Kim Jong Ouk (2009) với Một số biến đổi ở làng xã châu thổ sông Hồng từ
đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX (qua trường hợp làng Mễ Trì) đã giới thiệu cho
người đọc một bức tranh về làng xã vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng trong quá trình thay đổi địa giới hành chính Qua luận án, tác giả đã làm rõ sự biến đổi của làng
xã vùng đồng bằng Bắc Bộ trên một số lĩnh vực trong giai đoạn chuyển tiếp cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX Vì đây là một nghiên cứu trường hợp lấy làng Mễ Trì làm điểm nghiên cứu, do đó tác giả làm rõ được sự biến đổi của một làng quê, tập trung chủ yếu vào ba lĩnh vực: bộ máy quản lý, tình hình sở hữu ruộng đất và giáo dục đặt trong mối quan hệ tổng thể với làng xã vùng Châu thổ sông Hồng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Kim Kyung (2009) trong Đô thị hóa và tác động của nó đến những biến đổi
làng xã ngoại thành Hà Nội chọn làng Phú Đô thuộc xã Mễ Trì làm trường hợp
nghiên cứu.Với bốn chương tác giả đã cho chúng ta có cái nhìn khái quát về lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, cơ cấu kinh tế và những thay đổi của một làng ven đô trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Ngoài ra, còn phải kể tên một số công trình có liên quan đến nội dung luận
văn nghiên cứu của luận văn như: Trần An Phương (1998), Về tính hai mặt của quá
trình đô thị hoá ở các nước Đông Nam Á; Lê Quý Đôn (2000), Nông nghiệp nông thôn ngoại thành Hà Nội trước xu thế đô thị hoá; Nguyễn Đăng Hải (2000), Vấn đề giải quyết vướng mắc của nông dân trong quá trình đô thị hoá; Trần Đan Tâm (2000)
với Những biến đổi xã hội vùng ven đô Tp Hồ Chí Minh dưới áp lực đô thị hoá; Nguyễn Minh Hoà, Nhìn lại những khuynh hướng thay đổi nghề nghiệp ở khu vực
ngoại thành trong quá trình đô thị hoá ở Tp Hồ Chí Minh; Trịnh Duy Luân, Nguyễn
Quang Vinh (1998), Tác động Kinh tế-xã hội của Đổi mới trong lĩnh vực nhà ở đô
thị; Trịnh Duy Luân, Sự phân tầng xã hội theo mức sống tại Hà Nội trong những
22 Ngô Quốc Huy (2000), Vấn đề đô thị hóa nông thôn trong quá trình xây dựng làng truyền thống vùng đồng
bằng Bắc Bộ Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, số 4/2000.
Trang 2819
năm đầu thực hiện Đổi mới; Phan Đăng Long (2010), Biến đổi của văn hóa đô thị Hà Nội: Thực trạng và giải pháp; Nguyễn Đình Phan (2001), Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng; Lê Hồng Kế (2004), Phân bố dân cư trong quá trình đô thị hoá trên cơ
sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2001-2020; Phan Thị Mai Hương (2006), Những biến đổi cơ bản về tâm lí của cư dân vùng ven đô đã được đô thị hoá; Nguyễn
Cao Đức, Quá trình đô thị hóa các đô thị lớn ở Việt Nam giai đoạn 1990-2000: Thực
trạng và giải pháp… và có thể kể đến bài viết của các tác giả nước ngoài và trong
nước viết cho tiểu ban Đô thị và Đô thị hoá của Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ nhất (1998) và lần thứ 3 (2008)23 Và đặc biệt trong Hội thảo khoa học quốc tế: Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội tháng 10 năm 2010, bàn về 1000 năm phát triển của Thăng Long-Hà Nội trên mọi lĩnh vực trong đó có nội dung đô thị và đô thị hóa
Những công trình kể trên đã có những đóng góp về thực tiễn cũng như lý luận trong quá trình phát triển đô thị và đô thị hóa hiện nay Đây là các công trình nghiên cứu một cách tổng thể quá trình đô thị hóa ở nước ta, là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu sâu các vấn đề về đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, lối sống đô thị Những nghiên cứu này đồng thời cũng là nguồn tài liệu quý để trên cơ sở thực tiễn tác giả luận văn tìm ra hướng đi cho mình khi nghiên cứu về vấn đề này
Có thể thấy, vấn đề đô thị, đô thị hóa nói chung, đô thị hóa vùng ven nói riêng
đã và đang được đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu, thu
được nhiều thành tựu quan trọng Tuy vậy, cho đến nay Đô thị hóa và những vấn đề
kinh tế-xã hội vùng ven đô Hà Nội hiện nay vẫn là một chủ đề nghiên cứu thu hút
12/2008: Christian Taillard, Từ đô thị hóa tuyến tính ở vùng ven đến siêu đô thị đa trung tâm với các khu đô thị
mới, trường hợp thành phố Đà Nẵng, Việt Nam; Patrick Gubry, Đô thị hóa ở Đông Nam Á-Con đường nghiên cứu từ kinh nghiệm của Việt Nam; Mike Douglass, Nỗi lo toàn cầu hóa-Đô thị hóa (vùng ven) ở Đông Nam Á: Bỏ rơi không gian công cộng); André Donzel, Đô thị hóa vùng ven và nhà ở tại Pháp: Những thách thức về môi trường và xã hội; Brigitte Bariol, Tổ chức vùng ven đô như thế nào? Phân tích một vài trường hợp ở Pháp bằng công cụ Scot; Trần Ngọc Hiên, Các cách tiếp cận khác nhau về đô thị hoá vùng ven trong bối cảnh Việt Nam và Đông Nam Á; Nguyễn Đăng Sơn, Phát triền bền vững vùng ven đô TP Hồ Chí Minh ; Lê Quang Ninh, Mô hình hóa điểm dân cư vùng ven; Nguyễn Hữu Thái, Quy hoạch bền vững cho vùng ven thị Việt Nam; Dư Phước Tân,
Đô thị hóa vùng ven tại TP Hồ Chí Minh - Nhận diện xu thế phát triển và đề xuất một số giải pháp định hướng trong công tác quản lý đô thị; Văn Thị Ngọc Lan, Các mô thức đô thị hóa và các yếu tố tác động đến quá trình
đô thị hóa vùng ngoại thành TP Hồ Chí Minh; Đỗ Bang, Quá trình phát triển đô thị Huế: Những giải pháp quy hoạch và phát triển của yếu tố đô thị hóa vùng ven; Nguyễn Quang Trung Tiến, Quá trình đô thị hóa vùng ven
ở Huế từ thế kỷ XIX và những vấn đề đặt ra; Võ Kim Cương, Đô thị hóa tự phát vùng ven-Thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Thế Cường, Những vấn đề xã hội-môi trường của vùng ven TP Hồ Chí Minh - Thách thức đối với chính sách công; Lê Văn Năm, Những chuyển đổi nghề nghiệp của nông dân tại vùng ven TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ; Nguyễn Xuân Hoản, Đô thị hóa trong làng nghề ở Vùng đồng bằng sông Hồng, nghiên cứu trường hợp tại Đồng Kỵ - Từ Sơn - Bắc Ninh; Ngô Văn Lệ, Đô thị hóa vùng ven với những tác động đến xã hội và văn hóa; Huỳnh Quốc Thắng, Vùng ven và văn hóa vùng ven trong quá trình đô thị hóa của Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh; Tôn Nữ Quỳnh Trân, Giao thoa văn hóa tại vùng ven - Trường hợp TP Hồ Chí Minh; Lê Tú Cẩm, Lối sống-nếp sống của người vùng ven trong quá trình đô thị hóa ở
TP Hồ Chí Minh
Trang 2920
được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý đô thị, đặc biệt nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện, tổng hợp và liên ngành vấn đề này là vô cùng cần thiết
1.2 Cơ sở lý thuyết của luận văn
1.2.1 Các hướng tiếp cận nghiên cứu đô thị hóa
1.2.1.1 Đô thị hóa tiếp cận nghiên cứu theo quan điểm lịch sử
Xem xét về quá khứ, lịch sử của quá trình đô thị hóa ở Hà Nội cũng như lịch
sử hình thành và phát triển của xã Mễ Trì để có cái nhìn toàn cảnh về quá trình đô thị hóa vùng ven đô Qua đó phân tích một cách chính xác những tác động của nó tới vấn đề kinh tế-xã hội của người dân vùng ven hiện nay Từ quan điểm lịch sử của quá trình này, chúng ta đưa ra những định hướng cho việc phát triển bền vững đô thị trong tương lai, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa vùng ven đô Hà Nội trong quá trình phát triển
1.2.1.2 Đô thị hóa tiếp cận nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa
Đô thị hoá là một quá trình phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố văn hoá Trong tiến trình phát triển chung, chính đô thị phải tiêu biểu cho trình
độ phát triển văn hoá hướng tới những tiêu chí văn hoá của thời đại nhưng không làm mất bản sắc văn hóa truyền thống Đây là những vấn đề thách thức đối với hệ thống
đô thị ở nước ta nói chung và Hà Nội nói riêng Sự gia tăng dân số phần nhiều mang tính tự phát do nông dân mất đất, mất việc làm, kéo nhau vào đô thị sinh sống Điều này đã làm cho bộ mặt văn hoá đô thị mang đậm nét văn hoá nông dân chứ không phải văn minh công nghiệp, văn minh đô thị, dẫn đến nhiều vấn đề xã hội nảy sinh…
Đô thị hóa vùng ven còn bị thách thức về văn hoá đô thị, bắt đầu từ quy hoạch
và kiến trúc đô thị Vấn đề quy hoạch đô thị và giải phóng mặt bằng trong xây dựng đang là vấn đề khó khăn của các nhà quản lý và đầu tư Nhiều quy hoạch và dự án đô thị (như dự án nhà tái định cư, nhà cho người thu nhập thấp ) làm dư luận ngạc nhiên, vì nó không thể hiện bộ mặt văn hoá “đô thị có xây dựng mà không có kiến trúc”, chỉ bộc lộ động cơ vì lợi ích một số cá nhân, cho thấy vấn đề văn hoá khi đô thị hoá ở Việt Nam nói chung và khu vực vùng ven đô nói riêng còn nhiều vấn đề
Nhược điểm của đô thị hoá vùng ven còn thể hiện ở sự lạc hậu về giáo dục, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng phát triển kinh tế và xã hội, nên trong mức sống còn thấp, lối sống còn nhiều vấn đề tiêu cực, pha lẫn lối sống nông thôn với lối sống thị dân, cản trở sự hình thành nền văn hoá đô thị mới Tuy vậy, khi đất nước hội nhập quốc tế thì cơ hội lớn đã đến để có thể phát triển nhanh về văn hoá, tạo cơ sở mới cho
đô thị đóng được vai trò là cực tăng trưởng bền vững Cơ hội đó lại đặt ra những thách thức về mặt lãnh đạo, quản lý đô thị Trong bối cảnh hiện nay, đây sẽ là khâu quyết định sự phát triển của đô thị và đô thị hóa vùng ven
Trang 3021
1.2.1.3 Đô thị hóa từ cách tiếp cận nhân học và địa lý học
Theo nhân học và địa lý học thì đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tâp trung ngày càng nhiều dân cư sống trong vùng lãnh thổ đô thị Nói cách khác, đó chính là quá trình gia tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tương quan với tổng dân số quốc gia24 Đây chính là một trong những dấu hiệu quan trọng để đánh giá mức độ đô thị hóa của một quốc gia, khu vực hay một đơn vị cụ thể Trong một
số trường hợp người ta sử dụng nó như một chỉ số duy nhất để đánh giá trình độ đô thị hóa Theo các nhà nhân học thì những dấu hiệu định lượng của đô thị có ý nghĩa nhất định trong việc đánh giá mức độ đô thị hóa Tuy vậy, nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận này thì sẽ không giải thích được vai trò cũng như sự biến đổi và ảnh hưởng của đô thị hóa đến sự phát triển chung của xã hội Do đó, bên cạnh các chỉ số về nhân khẩu, địa lý kinh tế còn đưa ra một loạt các chỉ số khác như: số lượng, kiểu loại, quy
mô của các đô thị…Ngày nay các nhà khoa học chủ yếu theo hướng nghiên cứu đô thị hóa như là một quá trình kinh tế-xã hội lịch sử mang tính quy luật, trên quy mô toàn cầu
1.2.1.4 Đô thị hóa vùng ven từ cách tiếp cận xã hội học
Ngoài việc sử dụng các cách tiếp cận nghiên cứu như đã nêu trên, chúng tôi còn sử dụng cách tiếp cận của các tác giả xã hội học như E Durkheim, T Parsons, H Spencer, R Merton, v.v Với lý thuyết cấu trúc chức năng và biến đổi xã hội các tác giả coi khu vực nghiên cứu như một tiểu hệ thống của hệ thống xã hội của một vùng, một quốc gia Tương tự như vậy, đơn vị xã là tiểu hệ thống của các huyện và các thôn
là tiểu hệ thống của các xã Việc biến đổi chức năng sản xuất nông nghiệp theo mô hình tự cung tự cấp sang mô hình sản xuất hàng hoá đã dẫn tới biến đổi chức năng của cộng đồng xã hội khu vực nghiên cứu Người dân phải có khả năng thích ứng với những vai trò mới là sản xuất hàng hoá theo nhu cầu mới của xã hội Nói cách khác
họ phải sản xuất những hàng hoá để có thể bán được trên thị trường Khi đó sức lao động trở thành hàng hoá, điều mà trong nền kinh tế cũ người nông dân chưa hề quen biết Nguyên nhân dẫn tới biến đổi cơ cấu nghề nghiệp ở vùng ven hiện nay là do biến đổi chức năng sản xuất hàng hoá của người nông dân và nó là hệ quả của quá trình đô thị hoá Một trong những nhân tố dẫn tới biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của người nông dân là việc nhà nước thu hồi đất đai của họ buộc họ phải chuyển sang nghề phi nông nghiệp Những nhân tố khác như khoa học công nghệ, sức thu hút lao động của các khu công nghiệp, khu chế xuất của địa phương cũng là những nguyên nhân quan trọng dẫn tới cấu trúc nghề nghiệp tại địa phương thay đổi
1.2.1.5 Tiếp cận kinh tế học
24 Dẫn theo Phạm Văn Quyết, Đô thị hóa, công nghiệp hóa ở Việt Nam: Vai trò của yếu tố đầu tư nước ngoài
Tạp chí Xã hội học, số 3, năm 2011, tr 18
Trang 3122
Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đánh giá về vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá ở nông thôn Chenery và Syrquin (1986) khẳng định rằng, trong quá trình tăng trưởng, sự đóng góp của các khu vực và lĩnh vực kinh tế có vai trò khác nhau25 Trong giai đoạn đầu, vai trò của nông nghiệp có tính chất quyết định Theo Mellor (1995), tăng trưởng nông nghiệp chủ yếu do việc tăng diện tích, đa dạng hoá sản phẩm và thay đổi kỹ thuật để tăng năng suất, đó là những nhân tố quyết định Việc đa dạng hoá lao động do thị trường xuất khẩu và tăng thu nhập trên đầu người có tác động mạnh đến nông nghiệp
Về mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội, G Ranis cho rằng, sự phát triển kinh tế nông nghiệp trong nước có ảnh hưởng lớn đến công nghiệp hoá hơn là thị trường xuất khẩu Các nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất tới chuyển đổi cơ cấu kinh tế là thay đổi kỹ thuật, thay đổi nhu cầu trong nước
và khu vực phi nông nghiệp nhỏ ở nông thôn Nhân tố kỹ thuật đã nâng cao sức mua của khu vực nông thôn, các xí nghiệp tư nhân vừa và nhỏ thúc đẩy sự phát triển thị trường cùng với sự tăng trưởng của nông nghiệp đi đôi với việc tăng số lượng việc làm ở khu vực này26
Có thể thấy rằng, điều quan trọng nhất đối với việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn không phải chỉ là đầu tư thích đáng cho nó, thúc đẩy cải tiến kỹ thuật nông nghiệp, mà yếu tố quyết định là có những thể chế phù hợp thích ứng như chính sách ruộng đất, tín dụng, tổ chức nông dân, thị trường… Thể chế này sẽ tạo ra khối lượng thặng dư nông nghiệp lớn cho số đông nông dân, kích thích lợi ích của người nông dân đối với việc phát triển hàng hóa thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất, rút dần lao động ra khỏi nông nghiệp Đây là nhân tố quan trọng và cơ bản nhất
để thúc đẩy sự chuyển đổi cấu trúc của nền kinh tế
1.2.2 Một số lý thuyết nghiên cứu
Cùng với quá trình nghiên cứu về đô thị các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước trong những năm qua đã đưa ra rất nhiều phương pháp tiếp cận và lý
thuyết nghiên cứu về đô thị, đô thị hóa như: Lý thuyết hiện đại hóa, Lý thuyết đô thị
hóa quá mức, Lý thuyết đô thị hóa phụ thuộc, Lý thuyết thiên vị xã hội và Lý thuyết
đô thị hóa xã hội chủ nghĩa…, Có thể thấy lý thuyết về đô thị hóa rất đa dạng và
phong phú, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả có thể nhóm lại
thành các vấn đề chính về lý thuyến nghiên cứu đô thị hóa Thứ nhất, nhóm nghiên
cứu về sinh thái học đô thị , đã tập trung nghiên cứu cấu trúc dân số đô thị, sinh thái học đô thị là sự phân bố dân cư trong môi trường đô thị phù hợp với môi trường sinh thái, cách thức tổ chức đời sống đô thị cùng với những vấn đề lối sống đô thị , giáo
25 Dẫn theo GS.VS Đào Thế Tuấn, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Số 3 năm 2003
học, Hà Nội, 2008
Trang 3223
dục, việc làm, thất nghiệp, tệ nạn xã hội…Thứ hai, nhóm nghiên cứu cộng đồng đô
thị, tập trung nghiên cứu mối quan hệ cộng đồng đô thị , sự phát triển và biến đổi cộng đồng đô thị Theo nhóm lý thuyết này , cấu trúc cộng đồng đô thị phụ thuộc ba quá trình là đô thị hóa, công nghiệp hóa và hành chính hóa Do quá trình đô thị hóa, một dòng người từ nông thôn xâm nhập vào đô thị tác động mạnh đến các thiết chế
xã hội đô thị sẵn có làm thay đổi các thiết chế Điều đó có thể dẫn tới các mối quan hệ xã hội mới trong cộng đồng đô thị Quá trình công nghiệp hóa dẫn tới sự chuyên môn hóa ngày càng mạnh theo chiều sâu nghề nghiệp chuyên môn , làm suy yếu vai trò của các nghề thủ công truyền thống Quá trình hành chính hóa ép buộc con người
đô thị phải tuân thủ các thủ tục hành chính pháp lý, làm giảm bớt tính tự chủ của các cộng đồng địa phương và cũng làm suy giảm quan hệ tình cảm cá nhân để thay thế
vào đó là các quan hệ hợp pháp, chính thống Thứ ba, nhóm nghiên cứu về phát triển
và biến đổi cộng đồng, nhóm này cho rằng trong lòng đô thị rộng lớn vẫn tồn tại các cộng đồng cư dân với những nét đặc trưng riêng về nghề nghiệp hoặc giai cấp xã hội Quá trình đô thị hóa tác động không đồng đều về không gian và văn hóa Trong khi
đó, quá trình phát triển và biến đổi các cộng đồng vẫn có những đặc trưng phát triển
và biến đổi đặc thù, không mất đi dấu hiệu riêng của cộng đồng Tuy nhiên, khả năng chịu sự tác động của quá trình đô thị hóa giữa các cộng đồng là khác nhau, nên có sự biến đổi khác nhau giữa chúng (cộng đồng ngoại ô công nghiệp , cộng đồng ngoại ô của khu dân cư lao động phổ thông và cộng đồng ngoại ô của khu dân cư công nhân mới hình thành27)
1.3 Các khái niệm công cụ nghiên cứu
1.3.1 Đô thị
Theo đại từ điển tiếng Việt, đô thị có thể hiểu là nơi đông dân, tập trung buôn
bán như thành phố, thị xã28 Đô thị là khái niệm chỉ không gian cư trú và hoạt động của cộng đồng cư dân phi nông nghiệp, là trung tâm của một vùng lãnh thổ, của một đơn vị hành chính-lãnh thổ của đất nước Ngày nay, khái niệm đô thị được dùng chỉ
quá trình đô thị hoá, 2008, tr 24-25
quản lý đô thị thì đô thị là khu dân cư tập trung có những đặc điểm sau:
- Về cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập
- Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện
Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị; quy mô dân số ít nhất là 4.000 người và mật độ dân
số tối thiểu phải đạt 2.000 người/km2
Trang 3324
các lãnh thổ nhân tạo với nhiều chức năng khác nhau như đô thị sinh thái, đô thị công
nghệ cao, đô thị đại học 29
Trong xã hội công nghiệp, đô thị là cực hút, do đó dân số và hoạt động kinh tế tập trung thành một tổng thể duy nhất Sự tập trung này là chỉ số chính của đô thị, các yếu tố sản xuất làm cho đô thị trở thành những cực tăng trưởng Và sự tăng trưởng này đưa đến sự đa dạng kinh tế và xã hội Làn sóng di dân xuất phát từ nhiều nơi có nền văn hóa khác nhau tràn vào đô thị nên nơi đây lại có thêm sự đa dạng về văn hóa
Do đó, đô thị được định nghĩa như là: nơi tập trung đông đúc dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo phong cách và lối sống khác với lối sống ở nông thôn
Dưới khía cạnh xã hội học, đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nội dung có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau Các nhà xã hội học đã đưa ra rất nhiều cơ sở khác nhau để phân biệt đô thị và nông thôn Sự phân chia đó có thể dựa trên cơ sở các lĩnh vực hoạt động sống của xã hội như lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, dịch vụ, hoặc dựa trên các thiết chế chủ yếu của xã hội như thiết chế kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, gia đình, hoặc theo các nhóm, các giai cấp, tầng lớp xã hội, hay theo bình diện lãnh thổ
Cũng có một số nhà lý luận xã hội học lại cho rằng, để phân biệt giữa đô thị và nông thôn theo sự khác biệt giữa chúng về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Như về mặt kinh tế thì giữa đô thị và nông thôn có sự khác biệt về lao động, nghề nghiệp, mức độ và cách thu nhập về dịch vụ, v.v Về mặt xã hội thì đó là sự khác biệt trong lối sống, giao tiếp, văn hóa, gia đình, mật độ dân số, nhà ở, Về mặt môi trường thì chủ yếu ở đây là môi trường tự nhiên, mức độ ô nhiễm, v.v
Nhấn mạnh từ góc độ xã hội thì cả đô thị và nông thôn đều được coi là những
hệ thống xã hội, những cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như những xã hội nhỏ và trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Vì vậy, trước hết đô thị và nông thôn cần được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó
có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau
1.3.2 Vùng ven đô
Khái niệm “vùng ven-peri-urban” là một vùng nóng đang có chuyển động đô thị hóa Vùng này là điểm quá độ, là khu đệm giữa nông thôn và thành thị, giữa cái yên tĩnh và cái sôi động, giữa cái chặt chẽ của nông thôn và cái thoáng mở của thành thị, là nơi chuyển đổi nhu cầu của nông thôn vào dân đô thị, và ngược lại mang lối sống của đô thị vào nông dân30 Nói một cách ngắn gọn nhất, “vùng ven” hay “vùng
29 Nguyễn Quang Ngọc,Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức và quản lý Nhà nước đặc thù của các đô thị trực
thuộc trung ương ở nước ta, Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước, mã số KX02-03/06-10, Viện Việt Nam học
và Khoa học phát triển Chủ trì.
trong quá trình đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh,NXB tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Trang 3425
ven đô” là vùng trung gian giữa nội thị (nơi đã hoàn thành cơ bản quá trình đô thị hóa) với khu vực ngoại thành (nơi còn đậm chất nông thôn, mới bắt đầu hoặc đang trong quá trình đô thị hóa) của một đô thị cụ thể
Khái niệm vùng ven theo nghĩa địa lý được hiểu là không gian bao quanh bên ngoài địa giới hành chính của một thành phố Do đó vùng ven không có địa giới hành chính, không có giới hạn cụ thể về không gian Vùng ven được xem là các quận, huyện nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực nội thành trung tâm và ngoại thành31
Vùng ven là vùng vành đai chuyển tiếp giữa một đô thị lớn và nông thôn xung quanh, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa đô thị đó , nhưng vẫn còn mang trong mình nhiều yếu tố của văn hóa nông thôn, nên không hẳn là nông thôn mà cũng chưa phải là đô thị thực sự32
Dựa trên một số định nghĩa của các nhà nghiên cứu về đô thị , chúng ta có thể tóm tắt các điểm chung nhất về vùng ven đô như sau: về mặt địa lý vùng ven đô được hiểu là khu vực cận kề với thành phố Vùng ven đô là nơi vừa có các hoạt động đặc trưng cho nông thôn vừa có các hoạt động mang tính chất đô thị Vùng ven đô không tồn tại độc lập mà nằm trong một miền liên thông nông thôn-ven đô-đô thị Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của các bộ phận hợp thành hệ thống nông thôn-ven đô-đô thị được thể hiện ở chỗ nông thôn và ven đô là nơi cung cấp thường xuyên, lâu dài lương thực thực phẩm, nguồn nguyên liệu và nguồn lao động cho đô thị, ngược lại đô thị tạo ra thị trường để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, tạo cơ hội việc làm và nơi
ở cho các dòng di dân từ nông thôn đến đô thị Nhiều trường hợp trong quá trình đô thị hóa, các chính sách quy hoạch và phát triển đô thị sẽ biến vùng ven đô thành đô thị và đô thị hóa một phần nông thôn thành vùng ven đô mới33
Do đó, khó có thể xác định được ranh giới của vùng ven đô thông qua các tiêu chuẩn cụ thể Thông thường, người ta xác định ranh giới của vùng ven đô dựa vào các chính sách quy hoạch đô thị và các biện pháp quản lý hành chính Trong nghiên cứu này chúng tôi coi tất cả các xã, phường, thị trấn có phần lãnh thổ tiếp giáp khu vực nội thành được xác định cụ thể qua các biện pháp quản lý hành chính là vùng ven đô
Như vậy, để có thể xếp loại một khu vực được gọi là vùng ven cần đáp ứng đầy đủ bốn tiêu chí như sau: (1) Là khu vực tiếp giáp sát các quận nội thành; (2) Khu vực nằm chuyển tiếp giữa nội thành và ngoại thành Tuy nhiên, vẫn có trường hợp một số khu vực nằm trong quy hoạch là hướng phát triển chính của không gian thành phố, nên có thể chuyển tiếp trực tiếp giữa nội thành và các tỉnh lân cận, mà không
31 Dư Phước Tân, Đô thị hóa vùng ven tại thành phố Hồ Chí Minh-nhận diện xu thế phát triển và đề xuất một số
giải pháp định hướng trong công tác quản lý đô thị Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Các xu hướng đô thị hóa vùng ven và đô thị hóa vùng ven ở Đông Nam Á” Tp Hồ Chí Minh 12/2008
32 Nguyễn Thế Cường , Những vấn đề xã hội-môi trường của vùng ven Tp Hồ Chí Minh-thách thức đối với
chính sách công Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Các xu hướng đô thị hóa vùng ven và đô thị hóa vùng ven
ở Đông Nam Á” Tp Hồ Chí Minh 12/2008
33 Iapuinta D.L and Drescher A.W (2002), Denfining the perri-urban: rural-urban linkages and institutional
connections Nebraska Wesleyan University.
Trang 3526
chuyển từ nội thành sang ngoại thành; (3) Khu vực còn diện tích đất nông nghiệp tối thiểu 10-30% trong tổng diện tích đất tự nhiên, hay nói cách khác đây là khu vực còn nhiều đất dự trữ cho phát triển đô thị; (4) Nơi diễn ra tốc độ đô thị hóa cao nhất so với toàn thành phố
1.3.3 Đô thị hóa
Cho đến nay, các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành đã nghiên cứu quá trình đô thị hóa và đưa ra không ít định ng hĩa cùng với những đánh giá về quy mô , tầm quan trọng và dự báo tương lai cho quá trình này Qua đó, đô thị hóa là một hiện tượng lịch sử xảy ra ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới Nhưng ở từng quốc gia, từng tộc người, quá trình đô thị hóa lại diễn ra hết sức khác nhau do các nguyên nhân khách quan và chủ quan cũng hết sức khác nhau, phản ánh sự phát triển không đồng đều, như là một hiện tượng có tính quy luật của tiến trình lịch sử nhân loại34
Với quan điểm coi biến đổi kinh tế và dân số là hai vấn đề chính khi nghiên
cứu về quá trình đô thị hóa, Chan (1994) đã đưa ra định nghĩa: “Đô thị hóa là một
quá trình đa diện và phức hợp nhưng về cơ bản nó là biểu hiện về mặt không gian của sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ các hoạt động dựa trên nông nghiệp sang các hoạt động dựa trên công nghiệp trong cấu trúc sản xuất” 35
Đô thị hoá là một quá trình xã hội-kinh tế nhiều mặt và phức tạp, hiện nay đang ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội, do đó đòi hỏi một phương pháp tiếp cận tổng hợp dựa trên sự hợp tác của nhiều ngành khoa học36
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô
thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hoá; còn theo cách thứ hai, nó có tên là
tốc độ đô thị hoá 37
Sự tăng trưởng của đô thị được tính trên cơ sở sự gia tăng của đô thị so với
kích thước (về dân số và diện tích) ban đầu của đô thị Do đó, sự tăng trưởng của đô
thị khác tốc độ đô thị hóa (là chỉ số thể hiện sự gia tăng theo các giai đoạn thời gian
xác định như 1 năm hay 5 năm)
Từ những định nghĩa trên chúng ta có thể nhận thấy rằng, quá trình đô thị hóa như một hiện tượng kinh tế, văn hóa, xã hội, không gian (môi trường) bao trùm với hai vế: tác nhân sinh ra hiện tượng và hệ quả mà hiện tượng ấy mang lại Về tác nhân,
ta thấy nổi rõ hai yếu tố: một là sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ sản
34 Ngô Văn Lệ, Đô thị hóa vùng ven với những tác động đến xã hội và văn hóa, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Các xu hướng đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven ở Đông Nam Á” TP Hồ Chí Minh, 12/2008.
35 Dẫn theo Lê Thanh Sang (2008), Đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau Đổi mới (1979-1989)
và (1989-1999), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 41
36 Pivovarov (1976), Những đặc điểm của công tác nghiên cứu đô thị và hiện tượng đô thị hoá, NXB Matscơva,
Trg 1
37 Nurul Amin (1993), Đô thị hóa, Môi trường và chính sách giải quyết con người, Viện Công nghệ châu Á,
Bangkok, Thái Lan.
Trang 3627
xuất, hai là sự phát triển của chính sản xuất tức nền kinh tế Về hệ quả, chúng ta có thể phân thành các nhóm chính: nhóm một là các hệ quả kinh tế-xã hội bao gồm những sự kiện quan trọng trong cấu trúc xã hội-nghề nghiệp và dịch cư xã hội cũng như những biến động trong cấu trúc gia đình Nhóm hai là các hệ quả văn hóa-xã hội gồm sự tăng trưởng mức sống, sự thay đổi trong lối sống và nhu cầu giao tiếp xã hội Nhóm ba là hệ quả không gian-môi trường gồm những biến động trong yếu tố tạo thị
và yếu tố kết tụ không gian trong cấu trúc của từng quần cư cũng như của hệ thống các quần cư
Như vậy, các định nghĩa về đô thị hóa về cơ bản coi đây là hiện tượng tất yếu, một quy luật mang tính khách quan và có tính toàn cầu, tiến bộ rõ rệt với sự chuyển đổi mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…từ nông thôn sang thành thị, sự tập trung dân cư tại các đô thị theo tỷ lệ ngày càng cao
1.3.4 Đô thị hóa vùng ven
Đô thị hóa vùng ven là việc mở rộng các đô thị hiện có nằm trong quá trình tất yếu không cưỡng lại được đó Tuy nhiên có một tình trạng khá phổ biến là việc mở rộng đô thị thường xảy một cách tự phát, khó kiểm soát Mỗi thời kỳ lịch sử đô thị có vùng ven khác nhau38
1.3.5 Biến đổi xã hội
Biến đổi xã hội là sự thay đổi xã hội từ một ngưỡng phát triển này sang một ngưỡng phát triển khác (cao hơn hoặc thấp hơn) về chất, xét dưới góc độ tổng thể các thiết chế và cấu trúc xã hội39
Biến đổi phát triển là sự biến đổi theo chiều hướng tích cực và phù hợp với mong muốn của xã hội như đạt được các mong muốn đặt ra trong tiến trình phát triển; hệ thống kinh tế, khoa học công nghệ phát triển Biến đổi suy thoái là theo chiều hướng tiêu cực, ngược lại so với sự biến đổi phát triển, đó là một xã hội bế tắc, nhiều xung đột phức tạp và không thể khắc phục được
1.3.6 Lối sống đô thị
Lối sống đô thị là một chủ đề nghiên cứu lớn trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, Luis Wirth -nhà xã hội học đô thị Mỹ thuộc trường phái Chicago từ những năm
30 của thế kỷ XX đã nêu định nghĩa về lối sống đô thị như là “các khuôn mẫu (patterns) của văn hoá và cấu trúc xã hội, đặc trưng ở các đô thị và khác căn bản với văn hoá của các cộng đồng nông thôn”40 Những đặc trưng của lối sống đô thị hiện
38 Võ Kim Cương, Đô thị hóa tự phát vùng ven-thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững Tp Hồ Chí
Minh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Các xu hướng đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven ở Đông Nam Á Tp
Hồ Chí Minh, 12/2008.
39 Vũ Quang Hà (chủ biên), Xã hội học đại cương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003, tr 195
40 Theo Wirth, những người ở thành phố gặp nhau trong các vai trò đã bị cắt rời, không phải trong những quan
hệ có liên quan đến toàn bộ con người Họ có những công việc chuyên môn hoá cao Những biểu tượng, vai trò, công việc và đặc biệt địa vị xã hội của họ là cực kỳ quan trọng Những cơ chế kiểm soát xã hội chính thức là quan trọng hơn những cơ chế không chính thức Các nhóm thân tộc và gia đình giữ vai trò kém quan trọng hơn trong đời sống đô thị, đặc biệt là ở các đô thị lớn Trong điều kiện như vậy, người dân ở các đô thị có thể rơi vào tình trạng thiếu chuẩn mực, khi mà họ không bằng lòng, không chấp nhận các chuẩn mực chung về một
Trang 3728
đại do Wirth đưa ra cho đến nay vẫn được nhiều nhà xã hội học xem như là những
phân tích rất có giá trị
Theo Michel Bassand thì lối sống đô thị được đặc trưng bởi những đặc điểm:
có nhu cầu về tinh thần cao, tiếp thu nền văn minh nhân loại nhanh chóng, có đầu tư
cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội đầy đủ và thuận tiện41
Bên cạnh những quan điểm lý luận chung, thực tế xã hội tại các đô thị ở mỗi
quốc gia, mỗi khu vực, mỗi vùng lại đòi hỏi phải có sự phản ánh cụ thể các quan
điểm lý luận chung hoặc các biến thể của chúng Có nghĩa là cần có sự định vị không
gian, thời gian cụ thể cho các quan điểm lý thuyết, tìm ra cái riêng, cái đặc thù trong
khái niệm “lối sống đô thị”
Xã hội Việt Nam trong đó có xã hội đô thị đang ở trong giai đoạn quá độ từ
nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường Về thực chất,
lối sống tương ứng cũng sẽ là một lối sống quá độ Trong các đô thị, lối sống như vậy
có thể mang đặc tính pha trộn, “xô bồ” do khuôn mẫu hành vi ứng xử cũ vẫn còn tồn
đọng, những khuôn mẫu hành vi ứng xử mới còn chưa ổn định, biến thể và được sàng
lọc Mặt khác, do đặc thù của cơ cấu xã hội đô thị là không thuần nhất, rất khó đề cập
đến một lối sống cho toàn bộ dân cư đô thị nói chung Lối sống đó phải gắn với nhóm
xã hội, với những giai tầng xã hội cụ thể chẳng hạn như giới trí thức, giới công chức,
tầng lớp thị dân, nhóm dân nghèo thành thị v.v…
Tuy nhiên, vẫn có thể xem xét từ góc độ chung nhất và chỉ ra được một số
nhân tố kinh tế-xã hội-văn hóa đang chi phối việc hình thành những nét đặc trưng của
lối sống đô thị Việt Nam hiện nay đó là: Sự biến đổi cơ cấu xã hội nghề nghiệp của
cư dân đô thị, Sự chuyển đổi các định hướng giá trị của các nhóm xã hội, Sự thay đổi
chức năng, vai trò của các bộ phận trong guồng máy điều hành quản lý đô thị, Điều
kiện mức sống thấp
Ngoài ra, lối sống đô thị Việt Nam cũng chịu sự tác động của một số yếu tố
chung có tính đặc trưng khắp toàn cầu đó là dân số đông, mật độ cư trú cao, sự hỗn
hợp về mặt xã hội, nguồn gốc cư trú và các dòng nhập cư thường xuyên hoặc di cư
con lắc từ nông thôn vào các đô thị, nhất là ở các đô thị lớn
Như vậy, có thể nhận thấy rất nhiều nhân tố phổ biến và đặc thù đang qui định
diện mạo của một lối sống đô thị Việt Nam hiện nay Có những nhân tố kinh tế-chính
trị-xã hội, có những nhân tố văn hóa truyền thống hoặc đương đại Nghiên cứu lối
sống đô thị Việt Nam hiện nay không thể nào bỏ qua việc xem xét các nhân tố này
Đặc biệt khi triển khai nghiên cứu trong những nhóm xã hội riêng biệt, lại cần khai
thác thêm các nhân tố phụ, đặc trưng cho từng nhóm xã hội riêng lẻ
hành vi đúng đắn, thậm chí chế diễu hoặc bỏ qua nó Đời sống đô thị qua lăng kính của Wirth hiện lên những
con người ẩn danh, tách biệt khỏi hàng xóm của họ, và nếu có liên quan đến những người khác thì chủ yếu là
tăng tối đa lợi ích kinh tế cá nhân của họ Xem thêm Trịnh Duy Luân (2004), Xã hội học đô thị, NXB Khoa học
xã hội, tr 129.
41 Michel Bassand, Antonio Cunha, Joseph Tarradellas, 2001: 189-191
Trang 3829
Chương 2
ĐÔ THỊ HÓA VÙNG VEN HÀ NỘI TRƯỜNG HỢP: XÃ MỄ TRÌ-HUYỆN TỪ LIÊM
2.1 Một số nhân tố tác động đến quá trình đô thị hóa vùng ven
Các tác nhân chính có thể kể ra đó là cơ chế chính sách, sự phát triển khoa học
kỹ thuật, các phương thức hoạt động của nền kinh tế, xu thế hội nhập … dẫn đến những hiện tượng của đô thị hóa, và đô thị hóa đến lượt nó lại sinh ra các hệ quả trong việc mở rộng không gian, phát triển kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật, biến
đổi cơ cấu xã hội và các xu hướng văn hóa Vì vậy, rất khó tách bạch rành rọt nguyên
nhân và hệ quả của đô thị hóa Trong khuôn khổ luận văn, tác giả xin chỉ ra một số
nhân tố đô thị hóa theo các mảng vấn đề: (1) Kinh tế; (2) Khoa học kỹ thuật; (3) Cơ chế chính sách; (4) Xu thế hội nhập và kinh tế thị trường; (5) Điều kiện địa lý tự
nhiên môi trường sinh thái; (6) Văn hóa xã hội
Các mảng vấn đề trên có thể chứa các tác nhân và các hệ quả của đô thị hóa, qua phân tích chúng ta có thể xác định được các quy luật chung, quy luật đặc thù của
đô thị hóa ở nước ta làm cơ sở cho việc đề ra quan điểm và tiêu chí khai thác các quy luật trên cho sự phát triển của vùng ven đô trong giai đoạn tới Như vậy, chỉ cần xác định các mảng vấn đề trên là những nhân tố không thể tách rời của đô thị hóa và chi phối các quy luật đô thị hóa
2.1.1 Nhân tố kinh tế
Có thể nói nhân tố kinh tế không thể tách rời khỏi đô thị hóa Sự phát triển của các đô thị trên thế giới đều gắn liền với động thái của nền kinh tế, bao gồm việc sản xuất, trao đổi và phân phối hàng hóa Những đô thị cổ với vai trò sản xuất không lớn nhưng luôn là trung tâm chính trị, tôn giáo và đặc biệt là trung tâm giao dịch thương mại cho dù giai đoạn đó, các giao dịch kinh tế rất đơn giản (trao đổi nông sản và các nhu yếu phẩm phục vụ đời sống hàng ngày) Thời kỳ văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp, đặc biệt là văn minh công nghệ cao thì những biểu hiện giữa quan hệ của sự phát triển kinh tế với sự phát triển đô thị, tầm vóc và vai trò của đô thị càng trở nên rõ rệt, phức tạp và khăng khít hơn Ngày nay, các thành phố lớn nhất trên thế giới cũng chính là nơi có nền kinh tế mạnh nhất thế giới
2.1.2 Nhân tố khoa học-kỹ thuật
Những nghiên cứu về đô thị hóa và những thực tế đô thị hóa đã luôn khẳng định mối quan hệ giữa sự phát triển của khoa học-kỹ thuật với đô thị hóa Có thể mục đích ban đầu của những phát triển khoa học-kỹ thuật không phải là để phục vụ
Trang 39nó trải ra trên một diện lớn-toàn cầu Giai đoạn này, sự phát triển các đô thị trên thế giới cũng phân ra các vùng với những quy luật phát triển chung và riêng cho từng vùng, từng quốc gia, từng thành phố Các biểu hiện của đô thị hóa cũng phức tạp hơn và khác hơn Đô thị hóa không chỉ còn là mở rộng đô thị mà còn là sự suy tàn của các thành phố, đặc biệt là khu vực trung tâm ở các quốc gia phát triển và sự hình thành các khu vực đô thị mới: xu hướng ngoại ô hóa, xu hướng hình thành các công viên công nghệ, xu hướng trưởng giả hóa trung tâm đô thị… Tóm lại sự phát
triển khoa học công nghệ là một trong những nhân tố đô thị hóa quan trọng
2.1.3 Nhân tố Chính sách, Chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Nhà
nước rõ ràng có ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế xã hội và do vậy có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển của hệ thống đô thị, đô thị hóa nói chung và đô thị hóa vùng ven Trong hơn hai thập kỷ trở lại đây, sự thay đổi về chính sách đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo nên quá trình đô thị hóa sâu rộng trong cả nước
2.1.4 Xu thế hội nhập và kinh tế thị trường
Ngày nay, không một quốc gia nào có thể phát triển một cách ổn định và hài hòa nếu không tham gia vào quá trình hội nhập, đó là xu thế tất yếu Việc hội nhập là tiền đề, là động lực cho sự phát triển Kinh tế đô thị vốn là con đẻ của kinh tế hàng hóa là kết quả phát huy tác dụng của cơ chế thị trường Nhưng chỉ có sản xuất thì không thể hình thành đô thị hoàn chỉnh, cần phải có sự bảo đảm thị trường lưu thông Thị trường phát triển nhanh hay chậm và được kiện toàn hay không, trên chừng mực khá lớn phụ thuộc vào sự lưu động các yếu tố sản xuất có thông suốt hay hợp lý hay không, ảnh hưởng đến thành bại và tiền đề phát triển của đô thị Thị trường là hệ thống lưu thông, có thị trường bên trong và bên ngoài đô thị và nó có rất nhiều khâu lưu thông Trên một ý nghĩa nào đó, thị trường bên ngoài càng quan trọng
Mỗi một khu lưu thông của thị trường hàng ngày, hàng giờ đều xảy ra “lưu thông hàng hóa”, “lưu thông hiện vật” Lưu thông người, lưu thông thông tin giống như tuần hoàn máu trong cơ thể không bao giờ ngưng lại là mạch đập của sự sống Thị trường có cơ chế điều tiết tự động, nó luôn luôn thay đổi khi kinh tế thị trường phát triển sẽ tạo ra nhiều nguồn lực phát triển đô thị Song nó phát triển và tác động
Trang 402.1.5 Điều kiện địa lý tự nhiên môi trường sinh thái
Sự phát triển kinh tế, phát triển giao thông và mở rộng đô thị của mỗi thành phố được thuận lợi hay khó khăn có một phần không nhỏ phụ thuộc vào vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trường sinh thái Chưa có nghiên cứu định lượng nào xác định mức độ ảnh hưởng của điều kiện địa lý tự nhiên đến đô thị hóa Nhưng chúng ta có thể dễ dàng chỉ ra mối quan hệ có tính chất định tính giữa chúng Các thành phố thịnh vượng nhất trên thế giới từ lịch sử đến hiện đại vẫn thường có vị trí gần sông, gần biển, cửa biển vì đây là điều kiện thuận lợi đầu tiên cho việc vận chuyển và phân phối hàng hóa Các đô thị ven sông thường có tiềm năng trở thành các trung tâm buôn bán quốc gia, các đô thị ven biển thì có tiềm năng trở thành các đô thị tầm cỡ quốc tế như 1 chuỗi các thành phố dọc theo bờ Thái bình dương như Trung Quốc, các đô thị nằm gần bờ Thái Bình Dương cũng phát triển hơn hẳn các đô thị nằm sâu trong lục địa Ở một khía cạnh khác, các nhân tố tự nhiên sẽ góp phần quy định đặc điểm lịch sử và văn hóa đối với mỗi địa phương đó Mễ Trì nằm ở phía Tây Hà Nội , mang những đặc điểm chung về địa lý
tự nhiên khu vực đồng bằng Bắc Bộ Về vị trí địa lý, trước hết của Mễ Trì là lợi thế thuộc trung tâm của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thành trung tâm hành chính quốc gia, trung tâm văn hóa, thể thao, thương mại, nhà ở cao cấp và công nghệ cao…Khu vực này cũng được kết nối với hàng loạt khu đô thị mới khu vực xung quanh, như Mỹ Đình, Trung Hòa-Nhân Chính, Cầu Giấy, Trần Duy Hưng, Mỗ Lao tạo nên chuỗi đô thị cao cấp và các văn phòng của các công ty, doanh nghiệp tập trung tại đây
Ngoài vị trí địa lý, các tiềm năng về khí hậu, môi trường, tài nguyên cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và đô thị của mỗi thành phố Và chính những sự khác biệt về điều kiện địa lý tự nhiên này cũng góp phần tạo nên các quy luật phát triển đặc thù của mỗi đô thị, mỗi vùng đô thị
2.1.6 Nhân tố văn hóa xã hội
Văn hóa xã hội là một khía cạnh của đô thị hóa Đô thị hóa thể hiện ở sự gia tăng và tập trung dân cư, là sự hình thành các giai tầng trong xã hội, là sự phân công lao động xã hội, là sự thay đổi nếp sống và lối sống Và ngược lại, các yếu tố