Cuộc sống của người Việt là cuộc sống gắn bó với làng xóm, gia đình trong một mối quan hệ thân tộc bền chặt và thủy chung do vậy bộ phận những bài ca dao về quan hệ gia đình đã chiếm một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ PHƯƠNG THẢO
QUAN HỆ GIA ĐÌNH TRONG CÁI NHÌN SO SÁNH GIỮA
CA DAO NAM BỘ VÀ CA DAO BẮC BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn ho ̣c dân gian
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ PHƯƠNG THẢO
QUAN HÊ ̣ GIA ĐÌNH TRONG CÁI NHÌN SO SÁNH GIỮA
CA DAO NAM BỘ VÀ CA DAO BẮC BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn ho ̣c dân gian
Mã số: 60 22 36
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 7
1.1 Giới thuyết các khái niệm 7
1.1.1 Gia đình và gia đình Việt Nam truyền thống 7
1.1.2 Ca dao và dân ca 10
1.1.3 Vùng văn hóa 13
1.2 Vùng văn hóa Bắc Bộ 13
1.2.1 Ranh giới địa lý, hành chính 13
1.2.2 Đặc điểm lịch sử, tự nhiên, xã hội 14
1.2.3 Đặc điểm văn hóa, nghệ thuật 16
1.2.4 Đặc điểm tín ngưỡng, lễ hội 17
1.3 Vùng văn hóa Nam Bộ 20
1.3.1 Ranh giới địa lý, hành chính 20
1.3.2 Đặc điểm lịch sử, tự nhiên, xã hội 21
1.3.3 Đặc điểm tín ngưỡng, lễ hội 23
1.3.4 Đặc điểm văn học, nghệ thuật 24
Chương 2: SO SÁNH NỘI DUNG CÁC BÀI CA DAO QUAN HỆ GIA ĐÌNH TRONG CA DAO BẮC BỘ VÀ CA DAO NAM BỘ 27
2.1 Trình bày sự giống và khác nhau 27
2.1.1 Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái 28
2.1.2 Mối quan hệ vợ chồng 41
2.1.3 Mối quan hệ anh em 54
2.2 Giải thích nguyên nhân sự giống nhau và khác nhau 58
2.2.1 Do điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội 58
2.2.2 Do giao lưu và ảnh hưởng văn hóa 60
2.2.3 Do đặc trưng thể loại 61
Trang 4Chương 3: SO SÁNH NGHỆ THUẬT CA DAO VỀ QUAN HỆ GIA
ĐÌNH TRONG CA DAO BẮC BỘ VÀ CA DAO NAM BỘ 63
3.1 Trình bày sự giống và khác nhau 63
3.1.1 Về thể thơ 63
3.1.2 Về ngữ nghĩa ( văn bản tạo hình và biểu hiện) 67
3.1.3 Cách dùng phương ngữ 69
3.1.4 Cách dùng từ gốc Hán và điển tích, điển cố Hán 74
3.1.5 Sử dụng lối so sánh 81
3.1.6 Sử dụng lối diễn đạt thậm xưng, ngoa dụ 83
3.1.7 Cách dùng biểu tượng, hình ảnh 84
3.2 Giải thích sự giống nhau và khác nhau 88
3.2.1 Do điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa 88
3.1.2 Do giao lưu và ảnh hưởng văn hóa 90
3.1.3 Do đặc trưng thể loại 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ca dao là hình thức văn hóa dân gian phổ biến trong đời sống tinh thần của người Việt Có thể nói rằng thấu hiểu ca dao là thấu hiểu tâm hồn người Việt Nam Từ hàng ngàn năm trước, ca dao đã thay tiếng tâm tình, thay tiếng than, thay lời vui sướng, thay lời đồng cảm để bày tỏ những xúc cảm, nghĩ suy, tâm tư của nhân dân Chính vì thế, ta có thể thấy người Việt đã phản ánh trong ca dao tất cả những vấn đề của đời sống thường nhật cũng như tất cả các sắc thái của đời sống tinh thần của mình Cuộc sống của người Việt là cuộc sống gắn bó với làng xóm, gia đình trong một mối quan
hệ thân tộc bền chặt và thủy chung do vậy bộ phận những bài ca dao về quan hệ gia đình đã chiếm một số lượng lớn và đóng vai trò khá quan trọng trong gương mặt ca dao Việt Nam
Ca dao là một phần của văn hóa dân gian Văn hóa dân gian cũng bị quy định bởi sự khác biệt vùng miền địa lý Người Việt ở khắp nơi trên đất nước đều cất giữ những câu ca riêng về quan hệ gia đình nên những câu ca dao này vô cùng phong phú và mang sắc thái vùng miền rõ nét Ở đây người viết xin được xét tới dấu ấn vùng miền đó ở hai vùng đất rộng lớn ở hai đầu đất nước là Nam Bộ và Bắc Bộ
Nam Bộ và Bắc Bộ ngoài việc là hai vùng đất quan trọng góp phần tạo nên lãnh thổ Việt Nam còn là hai vùng văn hóa với những màu sắc riêng biệt
do vậy giữa hai miền đất này, ca dao về quan hệ gia đình ngoài những điểm tương đồng còn có các nét khác biệt Tương đồng là do bản chất chung của quá trình sáng tạo folklore của nhân dân, do nền tảng tình cảm và các giá trị đạo đức chung của dân tộc, do sự giao lưu tiếp biến văn hóa Khác biệt là do
sự quy định của bản sắc văn hóa riêng của từng miền, do điều kiện địa lý, lịch
Trang 8sử tự nhiên Thông qua việc so sánh quan hệ gia đình trong ca dao Nam Bộ và
ca dao Bắc Bộ, luận văn muốn chỉ ra màu sắc đặc trưng của ca dao hai miền, cho thấy cái nhìn cụ thể về cách ứng xử của người Việt với các thành viên trong gia đình Qua đó, luận văn mong muốn góp phần vào việc nhận thức tính thống nhất trong sự đa dạng của ca dao cũng như của văn hóa Việt Nam truyền thống
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ gia đình trong ca dao là vấn đề đã nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu thông qua nhiều công trình sưu tầm, biên soạn với nhiều
thành tựu đáng được ghi nhận Tiêu biểu trong số đó phải kể tới cuốn Tục
ngữ, ca dao về quan hệ gia đình [29] của tác giả Phạm Việt Long Đây là một
công trình nghiên cứu chuyên biệt với đối tượng là tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Tác giả đã có những khảo sát, thống kê khách quan, thận trọng dựa trên khối lượng tư liệu đồ sộ, phong phú và đa dạng Đối với những chủ đề khác nhau của quan hệ gia đình, tác giả lại có sự thống kê cụ thể và chi tiết Thậm chí trong cùng một chủ đề ví dụ như mối quan hệ vợ chồng, tác giả cũng có sự thống kê riêng đối với những bài nói về vợ chồng cùng lao động,
vợ đợi chồng đi chinh chiến, lời than của người vợ v.v Tác giả cũng đồng thời có những lí giải rất cặn kẽ về sự phân chia chủ đề đó dựa trên sự tìm hiểu
về nền tảng văn hóa và điều kiện lịch sử của xã hội Việt Nam Công trình của tác giả Phạm Việt Long đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về quan hệ gia đình trong ca dao và đã tập hợp được nguồn tư liệu quý báu về các bài ca dao
có chủ đề trên để người đọc có thể dễ dàng tham khảo
Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình [29] được xây dựng dựa trên việc
khảo sát một công trình dày dặn và chuyên biệt khác về ca dao là cuốn Kho
tàng ca dao người Việt [24] do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật đồng
chủ biên (tái bản năm 2001) Cuốn sách này đã tổng kết khối lượng tư liệu về
Trang 9dân ca, ca dao của 40 cuốn sách (gồm 49 tập) đã được biên soạn từ cuối thế kỉ XVIII đến năm 1975 Những bài ca dao về quan hệ gia đình trong công trình này đã được Phạm Việt Long thống kê là có 1.179 đơn vị trên tổng số 11.825 đơn vị của toàn cuốn sách
Trên đây là một số các công trình có lịch sử vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn ở phương diện quan hệ gia đình trong ca dao Nhưng sự phân chia các câu ca dao về quan hệ gia đình trong ca dao hai miền Nam Bắc thì chưa có công trình cụ thể nào đề cập tới một cách chi tiết Chúng
ta chỉ có thể dựa trên tư liệu là những tập ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ đã được biên soạn Tuy nhiên, với ca dao Bắc Bộ, chúng ta cũng chưa thực sự có công trình nào sưu tập, biên soạn đầy đủ, có hệ thống mà chủ yếu là những tập ca
dao riêng lẻ của từng địa phương như Văn học dân gian Thái Bình [11], Ca
dao tục ngữ Nam Hà [10], Ca dao ngạn ngữ Hà Nội [12]… Còn về ca dao
Nam Bộ thì cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ [16] của tác giả Bảo Định Giang,
Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị là một công trình tiêu biểu,
có thể coi là nguồn tư liệu dồi dào về ca dao, dân ca Nam Bộ Các công trình trên được biên soạn, sắp xếp theo chủ đề và chủ đề về quan hệ gia đình đã cho thấy số lượng đáng kể cũng như vị trí của nó trong diện mạo ca dao của cả hai
miền Đặc biệt, với cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ [16] ngoài việc chỉ ra được
những đặc điểm vùng miền đặc sắc cũng như tính cách Nam Bộ trong các bài
ca dao, các tác giả khi đi tìm đặc trưng của ca dao Nam Bộ đã đều có sự so sánh, sự đối chiếu ca dao Nam Bộ với ca dao của những vùng miền khác trên đất nước Sự so sánh này đã phần nào mở ra được hướng tiếp cận ca dao về quan hệ gia đình của hai miền Nam Bắc trên phương diện sắc thái địa phương “Khác với ca dao, dân ca các miền khác, ca dao, dân ca Nam Bộ thể hiện niềm thương, nỗi nhớ, thể hiện tình yêu một cách bộc trực, tự nhiên hơn.” [16, tr44]
Trang 10Việc so sánh để tìm hiểu sắc thái riêng của ca dao các vùng miền khác nhau đã được sử dụng trong khá nhiều công trình nghiên cứu ví dụ như luận
án Tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người Việt ba miền Bắc,
Trung, Nam [28] của Trần Thị Kim Liên hay bài nghiên cứu của Nguyên
Phương Châm là Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc
trên tạp chí Văn hóa dân gian năm 1997 [6] Các công trình nghiên cứu trên đều có được những tổng kết chung về tính cách của các vùng miền thể hiện trong ca dao, đặc biệt là về phương diện hình thức thể hiện tâm tư tình cảm Theo đó, hai tác giả đều cho rằng tình cảm trong ca dao Bắc Bộ thường được thể hiện bóng gió, sử dụng hình ảnh xa xôi, mượt mà, êm dịu, tế nhị Trong khi tình cảm trong ca dao xứ Nghệ thì được thể hiện quyết liệt, bộc trực, thẳng thắn còn tình cảm trong ca dao Nam Bộ thì lúc dễ thương, dịu dàng khi
lại mạnh mẽ và tếu táo Luận án Tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca
dao người Việt ở ba miền Nam, Trung, Bắc [28] của Trần Thị Kim Liên là một
công trình khá đầy đủ so sánh ca dao ba miền trên phương diện nội dung và nghệ thuật Chủ đề tình cảm gia đình cùng với chủ đề yêu nước và tình yêu đôi lứa là một trong ba chủ đề chính được xem xét, đối chiếu kĩ lưỡng và tỉ mỉ nhất
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích
Nam Bộ và Bắc Bộ là hai vùng văn hóa lớn của Việt Nam Ca dao của hai vùng đất này vừa mang những đặc điểm chung của ca dao người Việt, vừa mang những đặc điểm văn hóa vùng miền riêng của mình Việc so sánh quan
hệ gia đình trong ca dao Nam Bộ và ca dao Bắc Bộ ở đây không thể chỉ ra sự hơn kém mà nhằm chỉ ra sự tương đồng và khác biệt Chúng tôi sẽ thống kê, phân tích và so sánh để tìm ra sự tương đồng, khác biệt của ca dao về quan hệ gia đình giữa hai miền Nam, Bắc qua những mối quan hệ gia đình chính Qua
đó chỉ ra tính cách riêng biệt, độc đáo của người dân hai miền cũng như những sắc thái văn hóa đặc sắc của hai vùng đất Nam Bộ và Bắc Bộ
Trang 11- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quan hệ gia đình với ba mối quan hệ chính là quan hệ vợ - chồng, quan hệ cha mẹ - con cái và quan hệ anh em trong ca dao
về quan hệ gia đình của Nam Bộ và Bắc Bộ
Với đề tài Quan hệ gia đình trong cái nhìn so sánh giữa ca dao Nam
Bộ và ca dao Bắc Bộ, phạm vi nghiên cứu rất rộng với đối tượng là ba mối
quan hệ gia đình chính của người Việt ở Nam Bộ và Bắc Bộ Tương ứng với
ba mối quan hệ này là những đặc điểm nội dung và hình thức thể hiện giống
và khác nhau với những sắc thái rất đa dạng của ca dao hai miền Do vậy, trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi xin được so sánh dựa trên một số nội dung cơ bản và hình thức chủ yếu của những bài ca dao cổ truyền về quan
hệ gia đình của Nam Bộ và Bắc Bộ
Phạm vi tư liệu khảo sát trong luận văn chủ yếu:
Cuốn Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính và Phan
Đăng Nhật đồng chủ biên [24])
Cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ (Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát,
Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn [16])
Cuốn Tục ngữ và ca dao về quan hệ gia đình ( Phạm Việt Long [29])
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, chứng minh, so sánh đồng thời có sự tiếp cận với những kiến thức về địa lý, lịch sử, văn hóa cũng như tiếp thu những thành tựu từ các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước
5 Bố cục luận văn
Mở đầu
Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung
Trang 12Chương 2: So sánh nội dung các bài ca dao về quan hệ gia đình trong
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Giới thuyết các khái niệm
1.1.1 Gia đình và gia đình Việt Nam truyền thống
Khái niệm gia đình: Gia đình là một tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, qua hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một hình ảnh thu nhỏ cơ bản nhất của xã hội Gia đình hình thành từ sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài đóng một vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng nhân cách con người, phát triển kinh tế, xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốc gia trong tiến trình lịch sử
Gia đình Việt Nam theo truyền thống có lẽ nên được hiểu theo nghĩa rộng chứ không phải là một gia đình gồm hai thế hệ cha mẹ và con cái Theo cách hiểu của học giả Đào Duy Anh thì gia đình của người Việt chỉ những người thân thuộc trong một nhà Gia đình Việt Nam truyền thống là gia đình của ông bà, cha mẹ, con cái, của anh chị em và thậm chí còn được mở rộng ra với những người trong cùng họ tộc Những người có quan hệ huyết thống trong xã hội xưa cũng thường có khuynh hướng tụ tập sống chung với nhau trong cùng một khu vực để nương tựa và chia sẻ với nhau Có lẽ vì vậy, mối quan hệ anh em thân tộc cũng quan trọng không kém bất kì mối quan hệ gia đình nào khác Tục ngữ Việt Nam có câu “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” cũng là để phản ánh sự tôn trọng, sự đề cao mối quan hệ gia đình mang nghĩa
“rộng”, mang tính huyết thống này Tác giả Toan Ánh trong cuốn Tìm hiểu
phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình đã giới thiệu tóm tắt về thành phần
Trang 14gia đình Việt Nam như sau “Qua các thành phần trên cho thấy rằng gia đình Việt Nam bao quát rất rộng và mọi người đều có tình thân thuộc với nhau qua mọi thế hệ không kể bởi nội, ngoại, nhiều khi là cả hai bên nội ngoại”
Người Việt luôn luôn nhìn nhận gia đình với một giá trị rất cao trong đời sống tinh thần của mình do vậy tất cả mọi vấn đề của người Việt đều liên quan tới gia đình kể cả là danh dự của một cá nhân thành viên trong gia đình
đó Bởi lẽ hành vi và danh dự của cá nhân đó cũng được coi là mang lại sự vinh dự hay mối nhục cho gia đình Các cá nhân trong gia đình luôn hi sinh để bảo vệ và xây đắp cho gia đình mình Có thể vì thế mà người Việt luôn trung thành với gia đình mình, gắn bó với gia đình mình, lo lắng cho hạnh phúc của gia đình hơn là hạnh phúc của cá nhân Từ đó hình thành nên trong mối quan
hệ gia đình những quy định đạo đức, bổn phận và tình cảm mà các thành viên luôn tâm niệm như lòng hiếu nghĩa, sự thủy chung, sự sẻ chia… Có thể nói với người Việt gia đình hầu như là tất cả vì đó là trung tâm đời sống của cá nhân, là nơi cá nhân nương tựa để phát triển
Xã hội Việt nam cổ truyền được chia thành 4 thành phần chính là sĩ, nông, công thương nhưng tiêu biểu nhất là hai thành phần nông và sĩ Do vậy, trong xã hội cũng tồn tại hai loại gia đình chính là gia đình nhà Nho và gia đình nông dân hay gia đình quan hộ và dân hộ Trong khi gia đình nông dân là kiểu gia đình sản xuất tự túc, đóng góp cho xã hội bằng thành quả lao động thì gia đình nhà Nho là kiểu gia đình hướng các thành viên theo đuổi con đường khoa cử, đóng góp cho xã hội bằng cách xây dựng nền nếp trong nhà cũng như trong xã hội Sự phân chia này dựa trên một đặc điểm tiêu biểu của văn hóa gia đình Việt Nam cổ truyền là việc chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo Sự ảnh hưởng này kéo dài và liên tục trong lịch sử cho tới tận khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp và bắt đầu quá trình Âu hóa Song như
PGS Trần Đình Hượu đã đề cập tới trong Gia đình truyền thống Việt Nam với
Trang 15ảnh hưởng Nho giáo thì khi tìm hiểu ảnh hưởng của Nho giáo với gia đình
truyền thống Việt Nam “không nên chỉ căn cứ vào lý thuyết Nho giáo mà nên nhìn gia đình trong thể chế chính trị- kinh tế- xã hội tổ chức và quản lý theo Nho giáo, bị điều kiện hóa trong thể chế đó mà vận động, phát triển” Ảnh hưởng đó cũng khác đi tùy thời kỳ, tùy từng vùng và từng loại gia đình khác nhau
Đi sâu vào tính chất của gia đình Việt cổ truyền có thể thấy một đặc điểm tiêu biểu nữa là tính chất phụ quyền của gia tộc Việt Tính chất phụ quyền này nhấn mạnh quyền uy tối cao của người cha với con cái, của người chồng đối với người vợ, của người con trai với toàn gia đình đặc biệt là người con trai trưởng Người đàn ông có vai trò quan trọng và là người duy nhất có quyền quyết định trong gia đình cũng như đại diện cho gia đình trong mối quan hệ với cộng đồng, làng xã Trong nhiều năm, dưới nền giáo dục Nho giáo, tính chất phụ quyền này càng được đề cao và tô đậm Song nói như vậy không có nghĩa là với ảnh hưởng của Nho giáo, mẫu hình gia đình Việt Nam truyền thống là mẫu hình “sao chép” của gia đình Trung Quốc Bên cạnh một
số tư tưởng Nho giáo như “xuất giá tòng phu”, “tam tòng tứ đức”… đã trở thành những quy chuẩn đạo đức mà các thành viên trong gia đình phải tuân thủ chặt chẽ đặc biệt là với các gia đình truyền thống ở Bắc Bộ thì với điều kiện kinh tế và xã hội khác biệt, gia đình Việt Nam truyền thống đã phát triển những đặc điểm của riêng mình, phân biệt hoàn toàn với gia đình truyền thống của Trung Quốc Gia đình truyền thống Việt Nam thường có quy mô nhỏ hơn, không coi trọng vấn đề đại tộc như một yếu tố so sánh, phân biệt đẳng cấp với các gia đình khác, gìn giữ cách xưng hô thân mật, nhấn mạnh tính cộng đồng hơn là nhấn mạnh tuyệt đối họ tộc như gia đình Trung Quốc
Những đặc điểm trên là những đặc điểm chung của gia đình Việt Nam
cổ truyền mà giá trị của nó rất nhiều các thế hệ người Việt đã cùng nhau gìn
Trang 16giữ Với hai vùng văn hóa Bắc Bộ và Nam Bộ thì những đặc điểm này đã có những thay đổi để phù hợp với tính cách của người dân cũng như phù hợp với điều kiện lịch sử, địa lý riêng của hai vùng đất Thông qua việc tìm hiểu về tổ chức và tính chất gia đình Việt Nam truyền thống, chúng ta có thể có sự đối chiếu, so sánh với các hình mẫu gia đình mà ca dao Nam Bộ
và Bắc Bộ phản ánh
1.1.2 Ca dao và dân ca
Ca dao là một thể loại văn học dân gian, có tính trữ tình, có vần điệu (phần lớn là thể lục bát hoặc lục bát biến thể) do nhân dân sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ, dùng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tình cảm Nhiều câu ca dao vốn là lời của những bài dân ca Vào giai đoạn muộn
về sau, ca dao cũng được sáng tác độc lập
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong sách Thi pháp ca dao [26] thì
sinh hoạt ca hát của người Việt có từ rất sớm Người Việt xưa chưa có những tên gọi có tính chất khái quát cao mà thường dùng những từ chỉ những hiện tượng ca hát cụ thể như ví, hò, hát, hát trống quân, hát xoan, hát ghẹo, hát phường vải, hát ru, hò giã gạo, hò mái đẩy, lí tương tư, lí ngựa ô, lí chim quyên…
Cách gọi “phong dao”, “ca dao” đã được biết đến từ đầu thế kỉ XIX
đến đầu thế kỉ XX trong các sách quốc ngữ được xuất bản đầu thế kỷ XX Tên
gọi “phong dao” xuất hiện lần đầu tiên bằng chữ quốc ngữ năm 1928 trong cuốn Tục ngữ phong dao do Nguyễn Văn Ngọc biên soạn, Nxb Vĩnh Hưng Long Từ “ca dao” xuất hiện lần đầu bằng chữ quốc ngữ năm 1931 với bài Ca
dao cổ trên tạp chí Nam phong số 167 “Ca dao” và “phong dao” được cho là
có cùng một phạm vi phản ánh Sở dĩ “ca dao” được gọi là “phong dao” là do
có một số bài “ca dao” đã phản ánh phong tục của địa phương, của thời đại Lâu dần tên gọi “phong dao” phai nhạt dần nhường chỗ cho từ “ca dao” Cho
Trang 17đến những năm 50 của thế kỷ XX thì từ “phong dao” hầu như không còn được sử dụng nữa, “ca dao” trở thành từ duy nhất chỉ một thứ thơ dân gian
So với “ca dao”, thuật ngữ “dân ca” xuất hiện ở Việt Nam muộn hơn Mãi cho đến năm 1956, qua cuốn sách Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, từ “dân ca” mới trở nên quen thuộc Nói đến “dân ca” là nói đến
cả làn điệu và những thể thức biểu hiện nhất định Các nhà nghiên cứu văn
học dân gian hiện nay cho rằng “dân ca” bao gồm phần lời (câu hoặc bài),
phần giai điệu ( giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát
“Ca dao” và “dân ca” có một mối quan hệ đặc biệt Theo các soạn giả của bộ sách Kho tàng ca dao người Việt [24] thì thuật ngữ ca dao được hiểu theo ba nghĩa khác nhau và đều có mối liên hệ chặt chẽ với “dân ca”
1 Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca
2 Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)
3 Không phải tất cả những câu hát của một loại dân ca nào đó tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi… thì sẽ đều là ca dao Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian
Theo cách hiểu thứ ba, là một thể thơ dân gian, ca dao cổ truyền có thể được thưởng thức như văn học viết (đọc, ngâm, xem bằng mắt) Khuynh hướng này được khởi xướng và phát triển bởi các nhà Nho Từ thế kỷ XV trở
đi, số Nho sĩ ngày càng nhiều Trong các cuộc thi hương có tới hàng vạn Nho
Trang 18số người cáo quan lui về ở ẩn Chính lớp Nho sĩ không đỗ đạt và ở ẩn này đã sưu tầm thơ dân gian và thưởng thức ca dao như thưởng thức thơ ca bác học
Thuật ngữ “ca dao” theo cách hiểu thứ nhất và thứ hai có thể tìm thấy trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hân, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi chủ biên Cách hiểu thứ ba ở trên cũng được sự đồng tình của nhiều học giả khác, như Vũ Ngọc Phan: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca Dân ca
là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều hơn là về mặt hình thức Hầu hết các loại dân ca đều được xây dựng dựa trên cơ sở những câu ca dao, tục ngữ có sẵn Tùy theo từng loại dân ca mà người ta thêm vào những tiếng đệm, lót như tình bằng, tang tình, ấy mấy, v.v… Tiếng đệm nghĩa như ấy ai, em nhớ, v.v… những tiếng đưa hơi như ì ì, i ới a, hì hi v.v… Chính đặc điểm của những tiếng đệm ấy tạo nên những giai điệu riêng biệt của từng loại dân ca”
Trong luận văn này, chúng tôi hiểu ca dao theo nghĩa thứ hai và thứ ba Chúng tôi cũng đồng ý với quan niệm rằng ca dao cổ truyền là những lời ca dao được lưu hành từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ca dao hiện đại
là những sáng tác thơ ca dân gian được lưu hành từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Giống như tất cả các thể loại văn học, ca dao cũng hướng đến đối tượng trung tâm là con người, khám phá và phát hiện ra những vẻ đẹp của con người thể hiện trong cuộc sống Với đời sống tinh thần của người bình dân có thể nói tình và nghĩa luôn luôn là hai điều cốt lõi, được đề cao Tình và nghĩa đó được thể hiện ở mọi phương diện của cuộc sống, thể hiện trong cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt và đặc biệt là trong các mối quan hệ tình cảm
Trang 19Từ ngàn xưa, việc phân biệt văn hóa vùng miền đã được tồn tại trong ý thức của ông cha ta và ngày càng được chú trọng trong giới nghiên cứu ngày nay Tuy nhiên hiện còn nhiều ý kiến không đồng nhất theo từng khuynh hướng, từng tác giả
Trong số này, quan điểm phân chia vùng văn hóa của nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng có nhiều cơ sở hợp lí Theo đó, về tổng quát lãnh thổ Việt Nam được chia thành 6 vùng văn hóa bao gồm: vùng văn hóa Tây Bắc, vùng văn hóa Việt Bắc, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ, vùng văn hóa Trung Bộ, vùng văn hóa Trường Sơn- Tây Nguyên và vùng văn hóa Nam Bộ
1.2 Vùng văn hóa Bắc Bộ
1.2.1 Ranh giới địa lý, hành chính
Theo khu vực địa lý- hành chính thì Bắc Kỳ đã có từ thời Nguyễn Cuộc cải cách hành chính năm 1831-1832 dưới triều Minh Mệnh đã bãi bỏ Bắc Thành và Gia Định Thành, đổi trấn thành tỉnh, chia cả nước thành 31 đơn
vị hành chính trực thuộc triều đình trung ương trong đó Hà Nội, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương thuộc Bắc Kỳ Đến thời Pháp thuộc Bắc Kỳ
có địa giới tính từ phía nam tỉnh Ninh Bình trở tới biên giới Việt Trung Cho tới năm 1946, trong Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cách gọi Bắc Bộ mới chính thức xuất hiện lần đầu tiên Ở Bắc Bộ, ngoài thành phố
Hà Nội và Hải Phòng còn có 27 tỉnh khác ví dụ như: Bắc Giang, Bắc Cạn,
Trang 20Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Đông, Hà Giang, Hà Nam, Hải Dương… Tới năm
1959 thì sự phân chia này lại có sự thay đổi và cấp bộ không còn nữa
Cho tới hiện nay thì vùng lãnh thổ gần với ranh giới Bắc Bộ được gọi là vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình
Bắc Bộ là vùng đất cổ, là vùng văn hóa, là cái nôi hình thành dân tộc Việt Vùng văn hóa Bắc Bộ là một hình tam giác bao gồm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã với cư dân Việt (Kinh) sống quần tụ thành làng xã Đây là vùng đất đai trù phú bởi vậy nó từng là cái nôi văn hóa Đông Sơn thời thượng cổ, văn hóa Đại Việt thời trung cổ… với những thành tựu rất phong phú về mọi mặt Nó cũng là cội nguồn của văn hóa Việt ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ sau này
Văn hóa châu thổ Bắc Bộ vừa có những nét đặc trưng của văn hóa Việt lại vừa mang những nét riêng đặc sắc về văn hóa của vùng Ngoài ra văn hóa Bắc Bộ còn là sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người, phát triển dựa trên
sự kế thừa và sự phát huy bản sắc dân tộc kết hợp tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa khu vực và nhân loại PGS.TS Ngô Đức Thịnh đã từng nhận xét:
“Trong các sắc thái phong phú và đa dạng của văn hóa Việt Nam, đồng bằng Bắc Bộ là một vùng văn hóa độc đáo và đặc sắc.”
1.2.2 Đặc điểm lịch sử, tự nhiên, xã hội
Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực các con sông: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã Khi nói tới vùng văn hóa Bắc Bộ là nói tới vùng văn hóa thuộc địa phận các tỉnh Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, phần đồng bằng của tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
Trang 21Về vị trí địa lý, vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục: Tây - Đông và Bắc - Nam Vị trí này khiến cho nó trở thành mục tiêu xâm lược đầu tiên của tất cả các thế lực muốn bành trướng vào lãnh thổ Đông Nam Á nhưng nó cũng tạo điều kiện cho vùng có thuận lợi
về giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Đất đai trong vùng tương đối màu mỡ, thích hợp cho nền công nghiệp lúa nước phát triển với nguồn cung cấp nước chính là hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã Tuy nhiên chế độ nước phân hóa theo mùa: mùa
lũ dòng chảy lớn, nước đục, mùa cạn dòng chảy nhỏ, nước trong Chính yếu
tố nước này đã tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lý ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu vực, tạo nên nền văn minh lúa nước
Dựa vào những điều kiện tự nhiên thuận lợi và các thành tựu kinh tế đạt được, những cư dân vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả đã phát huy sức lao động và óc sáng tạo của mình để đẩy nhanh sự phát triển của xã hội, đạt đến thời đại văn mình vào khoảng thế khỉ VI-VII trước công nguyên Tồn tại trong khoảng hơn 5 thế kỷ, nền văn minh đó được mệnh danh là văn minh Văn Lang- Âu Lạc, tương ứng với hai quốc gia tiếp nối tồn tại trên đất Bắc Việt Nam đương thời
Cư dân nguyên thủy sống trên các vùng đồng bằng Bắc Việt Nam đương thời đều thuộc các chủng tộc Nam Á (Việt - Mường, Môn - Khơme, Hán – Thái) Với thời gian, các nhóm tộc người đó ít nhiều hòa lẫn vào nhau,
có tiếng nói gần gũi Những di chỉ được phát hiện chứng tỏ rằng các nhóm người đó đã sống gần gũi với nhau, cùng lấy nghề trồng lúa nước làm kinh tế chủ yếu và có những phong tục, tập quán giống nhau
Do yêu cầu phát triển sản xuất và tiêu dùng ngày càng tăng lên cùng với sự gia tăng dân số, do tính phức tạp của một số ngành nghề, trong xã hội
Trang 22thời đó đã nảy sinh sự phân công lao động Nghề luyện kim, đúc đồng ngày càng phát triển Các nghề thủ công khác như nghề gốm sứ, nghề dệt vải, nghề làm giấy, nghề mộc, nghề nhuộm… cũng xuất hiện
Nông nghiệp lúa nước trên châu thổ các con sông lớn đã trở thành ngành kinh tế chủ yếu, vừa tạo cơ sở cho sự định cư lâu dài vừa tạo ra lương thực cần thiết hàng ngày cho người dân Tất nhiên để có được những vụ mùa vững chắc, con người phải thích nghi với sông nước và từng bước xây dựng mối quan hệ với làng Cũng từ đây nảy sinh những sinh hoạt văn hóa phản ánh mối quan hệ giữa cộng đồng với tự nhiên, giữa người với người ở các cộng đồng nông nghiệp Làng của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ là làng cổ truyền nhất tiêu biểu nhất cho thiết chế làng xã ở nước ta Làng xã cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ là môi trường văn hóa, là hình ảnh cụ thể của văn hóa cổ truyền dân tộc Làng tồn tại trên nền tảng của các hương ước, khoán ước quy định chặt chẽ đời sống tinh thần và văn hóa của các gia đình Một trong những truyền thống của xã hội Việt Nam cổ truyền chính là tính cộng đồng được sản sinh và lưu giữ bền vững trong môi trường làng xã
Bên cạnh nghề nông, việc trồng rau, trồng cà, trồng cây ăn quả, trồng dâu chăn tằm, nuôi gia súc, gia cầm … cũng ngày càng phát triển Đời sống của người dân được đảm bảo vui tươi, ổn định hơn
1.2.3 Đặc điểm văn hóa, nghệ thuật
Vùng châu thổ Bắc Bộ có một kho báu vô giá truyền từ đời nọ sang đời kia Đó là một kho tàng di sản văn hoá phi vật thể đa dạng và phong phú: là nguồn ca dao, ngạn ngữ, huyền thoại, truyện cổ tích, truyện cười, giai thoại,
là các lễ hội truyền thống lâu đời đặc sắc, là cái nôi của ca nhạc dân gian, trò diễn, Có thể nói Bắc Bộ là mảnh đất màu mỡ cho văn hoá nghệ thuật của dân tộc Việt ươm chồi, nảy lộc
Trang 23Trên đất nước Việt Nam, đất nước của ca dao, thần thoại, văn học dân gian Bắc Bộ là một trong những viên ngọc quý giá nhất, mang nhiều nét đặc trưng, đúng như GS Trần Quốc Vượng đã nhận xét: “Kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ có thể coi như một loại mỏ với nhiều khoáng sản quý hiếm” Ca dao, dân ca xứ Bắc không những ngọt ngào, đằm thắm mà còn thấm thía ân tình Xứ Bắc có một kho tàng đồ sộ những tích truyện, truyện cổ dân gian, truyền thuyết, truyện cười với những hình ảnh ông Bụt, cô Tấm, những chàng Sơn tinh, Thuỷ Tinh đã đi vào tâm khảm người Việt hàng thế kỷ qua Đặc biệt, Bắc Bộ có truyện thần thoại - thể loại văn học dân gian mà không vùng miền khác nào có được Khác với các vùng khác, truyện Trạng của vùng thường thiên về nói chữ, chơi chữ, thể hiện trí tuệ vượt bậc của người xưa
Ở đây, các thể loại thuộc nghệ thuật sân khấu dân gian cũng khá đa dạng và mang sắc thái vùng đậm nét, bao gồm hát chèo, hát chầu văn, hát quan họ, múa rối,
Về ngôn ngữ thì sự hiện diện của chế độ giáo dục lâu đời và đội ngũ trí thức đông đảo là các nhà Nho ở vùng đồng bằng Bắc Bộ khiến cho ngôn ngữ văn học được sử dụng nhiều, thúc đẩy cho quá trình hình thành chữ viết Các câu ca dao của Bắc Bộ cũng vì thế mà ngôn từ nhìn chung đều có vẻ tinh tế, được chọn lựa cẩn thận chứ không chỉ là lời ăn tiếng nói hàng ngày
1.2.4 Đặc điểm tín ngưỡng, lễ hội
Nhìn vào đời sống văn hoá của vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ, ta thấy
rõ được tính đa dạng, phong phú trong đó, một trong những nét lớn là văn hoá tín ngưỡng Văn hoá tín ngưỡng ở vùng văn hoá Bắc Bộ là một hình thức văn hoá đặc thù bao chứa nhiều nội dung như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ ông tổ nghề và tín ngưỡng lễ hội,
Trang 24sự sinh sôi nảy nở của con người và tạo vật, lấy các biểu tượng sinh thực khí
và hành vi giao phối làm đối tượng
Có thế thấy văn hoá tín ngưỡng phồn thực của vùng văn hoá Bắc Bộ trên các tượng bằng đất nung (di tích Mã Đồng - Hà Tây); một số hình điêu khắc ở những ngôi đình như Đông Viên (Ba Vì), Đình Phùng (Đan Phượng), đình Thổ Tang (Phú Thọ), Đệ Tứ (Nam Định)
- Tín ngưỡng thờ thành hoàng
Đặc trưng của cư dân vùng văn hoá Bắc Bộ là sống quần xã, hình thành nên các đơn vị làng xã Do vậy, tục thờ thành hoàng làng được xem là điều không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân vùng văn hoá Bắc Bộ
Tất cả những làng xã ở vùng Bắc Bộ đều có một vị thành hoàng làng riêng cho làng mình Vị thành hoàng đó được xem như là một vị thánh của làng, là người mà đương thời có công lớn đối với quê hương, đất nước Với những người dân vùng văn hoá Bắc Bộ, thành hoàng là chỗ dựa tinh thần, là nơi gửi gắm niềm tin cho cuộc sống có không ít khó khăn, sóng gió của họ
Và việc thờ thành hoàng là một nét đẹp trong văn hoá tín ngưỡng của cư dân Bắc Bộ
Trang 25- Tín ngưỡng thờ Mẫu
Đây cũng được xem là một nét văn hoá tín ngưỡng lớn của cư dân vùng văn hoá Bắc Bộ Gắn bó với tín ngưỡng thờ mẫu là hệ thống các huyền thoại, thần tích, các bài văn chầu, truyện thơ Nôm, các bài giáng bút, câu đối, đại tự, hát xướng, hát chầu văn, lên đồng, múa bóng
Những thần ngưỡng của tín ngưỡng thờ Mẫu gồm các nhiên thần, nhân thần, trong đó có khá nhiều các nhân vật lịch sử anh hùng như Trần Hưng Đạo (Vị vua cha) Nhân vật của tín ngưỡng thờ Mẫu được thờ trong những điện, đền, phủ mà những di tích này nằm rải rác rất nhiều ở vùng văn hoá Bắc Bộ
- Tín ngưỡng thờ cụ tổ nghề
Ngoài ngành kinh tế nông nghiệp thuần nông thì các ngành nghề thủ công rất phổ biến ở các làng trong vùng văn hoá Bắc Bộ Những làng quê đó dần được phát triển thành những làng nghề chuyên nghiệp Do đó, việc thờ các ông tổ nghề (dệt, gốm, đúc đồng ) là nét không thể thiếu trong văn hoá tín ngưỡng của cư dân vùng văn hoá Bắc Bộ
- Tín ngưỡng lễ hội
Nét lớn cuối cùng trong văn hoá tín ngưỡng được xem là “sinh hoạt văn hoá tổng hợp” của vùng văn hoá Bắc Bộ đó là lễ hội Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá lớn, nó bao chứa các hình thức tín ngưỡng khác, hay nói cách khác là những hình thức này tiềm ẩn, tồn tại trong lễ hội
Như đã nói ở trên, đặc trưng của cư dân vùng văn hoá Bắc Bộ là sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa nước Vòng quay tự nhiên tạo ra tính chất mùa vụ và hình thức lễ hội ra đời trong thời gian đó Ban đầu, nó đơn thuần chỉ là hính thức văn hoá giải trí Dần dà, qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, nó lắng đọng lại và trở thành văn hoá tín ngưỡng
Trang 26Ở đồng bằng Bắc Bộ, lễ hội rất phong phú, đa dạng, rực rỡ về thời gian,
số lượng, mật độ, nội dung Theo thời gian, có thể chia lễ hội làm nhiều loại:
lễ hội mùa xuân, lễ hội mùa thu Theo không gian địa lý, lễ hội được phân làm những dạng: lễ làng, lễ hội vùng, lễ hội cả nước Tuy vậy, dù vào thời gian nào hay ở địa phương nào, lễ hội ở vùng văn hoá Bắc Bộ đều có đặc điểm chung là mang tính chất lễ hội nông nghiệp Điều này thể hiện rõ trong các hình thức lễ hội như thờ mẹ lúa, thờ thần mặt trời, cầu mưa
Lễ hội ở vùng văn hoá Bắc Bộ không chỉ là những nét phác thảo về văn hoá mà còn mang đậm tính chất tín ngưỡng tôn giáo Lễ hội thường được đồng nhất với lễ chùa chiền, miếu mạo nếu xét trong phạm vi hẹp nhất định
Trên mảnh đất thiêng này, ta có thể bắt gặp nhiều lễ hội truyền thống: hội chùa Hương (Hà Tây), hội Đền Hùng (Phú Thọ), hội Gióng (Hà Tây), hội Lim (Bắc Ninh) Những lễ hội ấy là kết quả của những tinh hoa văn hoá dân tộc được kế thừa, chọn lọc, kết tinh và lắng đọng qua các thời kỳ lịch sử,
là kết quả của quá trình tiếp diễn văn hoá Theo GS Đinh Gia Khánh
“Đây là một sinh hoạt tập thể long trọng thường đem lại niềm phấn chấn cho tất cả mọi người, cho mỗi một con người Những quy cách và những nghi thức trong lễ hội mà mỗi người phải tuân thủ theo tạo nên niềm thông cảm của toàn thể cộng đồng, làm cho mỗi người gắn bó chặt chẽ hơn với cộng đồng và do đó, thấy mình vươn lên ở những tầm vóc cao hơn với
một sức mạnh lớn hơn” (Trên đường tìm hiểu văn hoá Việt Nam - Nxb
Khoa Học Xã Hội Hà Nội)
1.3 Vùng văn hóa Nam Bộ
1.3.1 Ranh giới địa lý, hành chính
Tên gọi Nam Kì theo khu vực địa lý, hành chính cũng bắt đầu có từ thời Minh Mạng và bao gồm Gia Định, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Đến thời Pháp thuộc thì bao gồm địa giới từ phía nam tỉnh Bình Thuận trở
Trang 27vào trong Đến năm 1946, cùng cách gọi Bắc Bộ thì cách gọi Nam Bộ cũng lần đầu tiên được nhắc đến Cho đến nay thì cách gọi này tương ứng với vùng lãnh thổ có tên gọi là đồng bằng sông Cửu Long gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Nam Bộ theo phân vùng văn hóa thì thuộc vùng văn hóa Nam Bộ bao gồm 2 vùng văn hóa Đồng Nai- Gia Định (Đông Nam Bộ) và vùng văn hóa đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ)
Vùng văn hóa Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long, với khí hậu hai mùa (khô- mưa), với mênh mông sông nước
và kênh rạch Các cư dân Việt, Chăm, Hoa tới khai phá đã nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa (Khơme, Xtiêng, Chơro, Mnông) Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven kênh, ven lộ, bữa ăn giàu thủy sản, tính cách con người ưa phóng khoáng, tín ngưỡng tôn giáo hết sức phong phú và đa dạng, sớm tiếp cận và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với văn hóa phương Tây Đó là một số nét phác thảo về đặc trưng văn hóa của vùng này
1.3.2 Đặc điểm lịch sử, tự nhiên, xã hội
Nhắc đến Nam Bộ người ta thường liên tưởng đến một vùng đất còn nhiều vẻ hoang sơ và hết sức huyền bí, một vùng đất được “khai phá” chưa lâu, một vùng đất còn gắn liền với những “truyền thuyết dân gian” Nếu so với Bắc Bộ thì Nam Bộ còn là một vùng đất “mới” Tuy nhiên do đặc thù của địa lý và lịch sử hình thành mà Nam Bộ lại mang một nét văn hóa hết sức độc đáo, có dấu ấn và có bản sắc không thể lẫn lộn với bất cứ vùng miền nào
Nam Bộ được mệnh danh là xứ sở của những dòng sông, nơi có khoảng 54.000 km chiều dài sông, rạch Chính yếu tố sông rạch đã góp phần quan trọng vào cuộc sống của người dân nơi đây Công cuộc mở đất phương Nam, khẳng định vùng văn hóa phương Nam chỉ thực sự được định hình từ những
Trang 28cuộc di dân lớn của người Việt ở thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVIII Đó là quá trình chuyển cư tại chỗ Quá trình di dân tự nhiên này là quá trình di dân lẻ tẻ, chưa đủ để định hình bản sắc văn hóa của vùng đất Chỉ đến khi nhà Nguyễn tiến hành những cuộc di dân lớn từ vùng Ngũ Quảng vào, kết hợp với sự di dân cơ chế thất bại của nhà Minh trước triều Mãn Thanh, cùng với việc di dân
cơ chế trước thế kỷ XV của những lớp cư dân cổ Khơme từ nhiều vùng trên đất nước Campuchia, tràn về sông Tiền, sông Hậu để tránh họa diệt tộc của chúa Xiêm La và sự di dân cơ chế của người Chăm Hồi giáo đến cùng Châu Đốc kết hợp với quá trình chuyển cư tại chỗ của cộng đồng các tộc người để lập làng, lập ruộng, vùng văn hóa mang bản sắc Nam Bộ mới thực sự hình thành Chính nhờ quá trình chuyển cư tại chỗ mới có việc thúc đẩy sự gần gũi giữa các nhóm dân cư, giữa các cộng đồng dân tộc, mới làm xuất hiện những điều kiện khách quan, tạo nên những tiếp xúc văn hóa giữa các cộng đồng người có những đặc trưng văn hóa khác nhau, làm nên tính chất địa văn hóa, địa kinh tế của một vùng đất châu thổ phương Nam rộng lớn Đó chính là một vùng văn hóa trẻ, phong phú, đa dân tộc, đa tôn giáo, đa màu sắc
Nam Bộ có mật độ sông ngòi dày đặc Sông lớn sông bé khắp nơi Ở Nam Bộ có hai nhóm sông chính là sông Tiền và sông Hậu Sông Tiền có dòng chảy mở rộng, quanh co, giữa sông có những cù lao lớn, nước chảy chậm, bồi đắp phù sa cho vùng Sa Đéc, Mỹ Tho thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt Sông Hậu được hình thành muộn hơn, dòng chảy thẳng và nhanh Vùng đất quanh sông Hậu mới được khai phá mạnh vào đầu thời kỳ hình thành con sông này Thiên nhiên Nam Bộ tương đối thuận lợi cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Đất màu mỡ vì phù sa của các con sông bồi đắp Tài nguyên trên rừng dưới biển đều phong phú Người dân từ khắp nơi đổ về đây, nương tựa vào thiên nhiên mà sống Hầu hết dân Nam Bộ là dân thập phương tứ xứ, họ không có mối quan hệ thân tộc hay bất kì ràng
Trang 29buộc gì với nhau Do vậy những khoán ước, hương ước, quy định cộng đồng
ở Nam Bộ không quá chặt chẽ, nghiêm túc như ở Bắc Bộ
Dù nghề chính vẫn là nghề làm ruộng nhưng cư dân Nam Bộ không phải thâm canh như cư dân Bắc Bộ mà tập trung quảng canh và khai hoang Tập quán quảng canh, khai hoang này cũng khiến cho người dân Nam Bộ mang đậm tính cách tự do, không muốn ràng buộc hay nặng nề trong suy nghĩ Gia đình ở Nam Bộ có quy mô nhỏ hơn, thường chỉ có 2 đến 3 thế hệ sống quấn túm để phù hợp hơn với việc di chuyển Cư dân Nam Bộ cũng sống thành làng, thành ấp nhưng nhà cửa tản mát Làng xóm không có đất công Đất đai là do người dân tự đi khai phá, biến thành của riêng mình Người dân rất nhiều khi nay đây mai đó, di chuyển từ nơi này đến nơi khác nên cơ cấu xã hội ở làng không bền chắc như ở Bắc Bộ
1.3.3 Đặc điểm tín ngưỡng, lễ hội
Tín ngưỡng của cư dân Nam Bộ phản ánh rất rõ những đặc trưng nông nghiệp lúa nước của nền văn hóa Việt Nam Đó là sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên (tín ngưỡng sùng bái tự nhiên), sự phản ánh đậm nét nguyên lý Âm- Dương (từ đối tượng thờ cúng ở mọi làng quê: Mẹ Trời, Mẹ Đất, nữ thần Mây, Mưa…) là tính tổng hợp thể hiện ở tính đa thân, tính cộng đồng Tín ngưỡng của người Việt ở Nam Bộ thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người
Về lễ hội thì nếu như lễ hội cổ truyền của người Việt ở phía Bắc có cội
rễ lịch sử hàng ngàn năm (hội Đền Hùng, hội Phù Đổng…) thì ở Nam Bộ chỉ
có 300 năm tương ứng với lịch sử đi khẩn hoang Lễ hội Nam Bộ là một chặng đường mới tiếp nối lễ hội truyền thống từ Bắc vào Nam trong tiến trình lịch sử của dân tộc và có những bước phát triển mới Ví dụ: Lễ hội Nghinh Ông, Bà chúa Xứ, Dinh Cô… Lễ hội ở Nam Bộ có nền tảng chung là nghi lễ nông nghiệp của cư dân trồng lúa nước Những lễ hội này cũng thể hiện sự
Trang 30đan xen, pha trộn nhiều dòng văn hóa khác nhau Ví dụ: Giao lưu văn hóa Việt- Hoa: Lễ hội chùa bà ở Bình Dương (rước linh vị bà sang miếu Quan Thánh rồi sang chùa bà Chúa Thuận Thiên của người Việt), giao lưu văn hóa Khơme: lễ hội Linh Sơn Thánh Mẫu ở Tây Ninh
Lễ hội Nam Bộ còn có nội dung tưởng niệm những người anh hùng lịch
sử địa phương cận đại, những người có công khai hoang mở đất, bảo vệ đất nước (Nguyễn Trung Trực, Trương Định…) bắt nguồn từ nhu cầu bảo đảm liên kết cộng đồng để sống còn trước những thử thách nghiệt ngã của tự nhiên
và kẻ thù xâm lược
Lễ hội Nam Bộ đã định chế hóa loại hình diễn xướng Hát bội (Cung đình) và một số loại hình diễn xướng dân gian khác như múa bóng rỗi, địa Nàng, múa mâm vàng… (cúng miếu bà Chúa Xứ) vào lễ hội truyền thống của người Việt Nam Bộ Ngoài ra, một số lễ hội ở Nam Bộ còn tôn vinh nữ thần Đây được coi là một đặc điểm nổi trội của yếu tố giới, một đặc điểm độc đáo của lễ hội Nam Bộ
1.3.4 Đặc điểm văn học, nghệ thuật
Người dân Nam Bộ luôn sôi nổi trong những sinh hoạt văn hóa mang tính cộng đồng Những sinh hoạt này chính là môi trường sản sinh và nuôi dưỡng văn hóa dân gian Người Nam Bộ dù là sắc tộc nào, người Kinh, người Chăm hay người Khơme cũng đều yêu thích âm nhạc và ca hát Nói đến nghệ thuật ca hát dân ca cổ truyền Nam Bộ thì phải kể tới một loạt những loại hình nghệ thuật phổ biến như: đờn ca tài tử, cải lương, hát bội, lý… và một kho tàng dân ca nhạc cổ phong phú Có được kho tàng âm nhạc độc đáo như vậy cũng nhờ Nam Bộ có sự đa dạng và hài hòa giữa con người với thiên nhiên Những điệu hò, lý, điệu hát ru cũng mang đậm hình ảnh thiên nhiên và con người, chứa đựng những sắc thái riêng biệt Hình thức văn học truyền miệng
là hình thức phát triển mạnh mẽ và được ưa chuộng ở Nam Bộ Do vậy Nam
Trang 31Bộ cũng là mảnh đất màu mỡ cho ca dao, tục ngữ, truyện kể dân gian phát triển rực rỡ
Về ngôn ngữ thì đặc trưng của ngôn ngữ Nam Bộ là giàu tính hình tượng cụ thể, giàu hình ảnh và giàu chất hài hước Từ cách sống phóng khoáng của cư dân miệt vườn mà người dân Nam Bộ hình thành thói quen sử dụng từ tùy thích miễn là phản ánh đúng điều mà họ muốn nói tới Do đó ngôn ngữ của Nam Bộ trong các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian cũng rất bình dân, gần gũi Đặc biệt người Nam Bộ còn đưa phương ngữ vào những điệu lý, điệu hò, những câu ca dao, dân ca, những câu chuyện kể… một cách
vô cùng tự nhiên, tạo nên một đặc điểm riêng biệt, độc đáo cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian của mình
Tiểu kết
Giống như tất cả các thể loại văn học, ca dao cũng hướng đến đối tượng trung tâm là con người, khám phá và phát hiện ra những vẻ đẹp của con người thể hiện trong cuộc sống Với đời sống tinh thần của người bình dân có thể nói tình và nghĩa luôn luôn là hai điều cốt lõi, được đề cao Tình và nghĩa đó được thể hiện ở mọi phương diện của cuộc sống, thể hiện trong cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt và đặc biệt là trong các mối quan hệ tình cảm như tình yêu đôi lứa và tình cảm gia đình Ca dao về quan hệ gia đình, về mối quan hệ cha con, chồng vợ, anh em chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong kho tàng ca dao của người Việt
Người Việt luôn mang trong mình lòng yêu quý tổ tông, giống nòi nên tình cảm gia đình được coi là một nét đẹp truyền thống muôn đời và cũng chính vì vậy mảng ca dao về quan hệ gia đình luôn luôn phong phú và nhiều màu sắc Những câu ca dao về quan hệ gia đình có một đời sống riêng, có vị trí và vai trò không thể thay thế được trong ca dao dân tộc Tình cảm gia đình
Trang 32là một trong những tình cảm thiêng liêng, tôn quý mà không một người dân Việt Nam nào không trân trọng Có thể nói ca dao đã góp phần thể hiện và lưu giữ hoàn hảo nét đẹp cao quý, thiêng liêng của những mối quan hệ gia đình
đó trong khi quan hệ gia đình cũng là một yếu tố nội dung làm nổi bật lên được giá trị nhân văn của ca dao Việc so sánh ca dao về quan hệ gia đình giữa Nam Bộ và Bắc Bộ thiết nghĩ cho đến cùng cũng để chỉ ra giá trị và vị trí của những câu ca với chủ đề này trong kho tàng ca dao cổ truyền Việt Nam Việc phân vùng văn hóa để tìm hiểu về ca dao có ý nghĩa quan trọng để nghiên cứu sự chuyển động về mặt không gian và sự phát triển thể loại theo thời gian So sánh ca dao của hai vùng để chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau, chỉ ra sự thống nhất trong dòng chảy của ca dao Việt cũng như bản sắc độc đáo của mỗi vùng văn hóa đối với một chủ đề quen thuộc Để làm được điều này, luận văn sẽ xem xét và đối chiếu ca dao về quan hệ gia đình của Nam Bộ và Bắc Bộ ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật, phân tích những điểm giống, khác nhau và lí giải nguyên nhân Có thể kể ra ở đây nhiều mối quan hệ gia đình của người Việt như quan hệ mẹ chồng – nàng dâu, quan hệ giữa người làm dâu và anh em chồng, quan hệ giữa chàng rể với bố
mẹ hay anh em vợ, quan hệ mẹ kế - con chồng, quan hệ cô, bác, cậu, dì… nhưng luận văn sẽ tập trung so sánh dựa trên ba mối quan hệ gia đình chính mang tính rường cột, phản ánh đặc điểm chung của quan hệ gia đình Việt Nam: quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ vợ chồng và quan hệ anh em
Trang 33Chương 2
SO SÁNH NỘI DUNG CÁC BÀI CA DAO QUAN HỆ GIA ĐÌNH
TRONG CA DAO BẮC BỘ VÀ CA DAO NAM BỘ
2.1 Trình bày sự giống và khác nhau
Trong cuốn Kho tàng ca dao người Việt [24], các soạn giả đã chia nội
dung của ca dao Việt Nam thành 9 chủ đề lớn Theo Trần Thị Kim Liên, số lời ca dao thuộc 9 chủ đề lớn đó trên tổng số 12.487 đơn vị có thứ tự tỷ lệ từ cao xuống thấp như sau:
%
2 Quan hệ gia đình và xã hội 1334 10,6%
3 Những lời bông đùa khôi hài giải trí 1240 9,9%
Bảng phân loại ca dao theo chủ đề trong Kho tàng ca dao người Việt
Trong chủ đề quan hệ gia đình và xã hội, số lời thể hiện mối quan hệ tình cảm gia đình chiếm 87,9% Điều này cho thấy số lượng của những bài ca dao về quan hệ gia đình là rất nhiều, chỉ đứng sau ca dao về tình yêu đôi lứa
Trang 34Đồng thời điều này cũng cho thấy vị trí của tình cảm gia đình trong đời sống tinh thần của người Việt xưa Tình cảm bền chặt, gắn bó, sâu nặng đó với từng mối quan hệ trong gia đình lại có những mức độ biểu hiện khác nhau Bảng thống kê quan hệ gia đình và xã hội dưới đây sẽ cho thấy điều đó
%
1 Quan hệ vợ chồng 617 55,60%
2 Quan hệ giữa cha mẹ và con cái 318 28,65%
3 Quan hệ mẹ chồng nàng dâu, bố mẹ vợ, con
rể
98 8,82%
4 Anh em ruột, anh em rể, chị em dâu 35 3,15%
5 Ông bà tổ tiên và con cháu 11 0,99%
6 Quan hệ họ hàng, chú bác, cô, dì 31 2,79%
Bảng thống kê các mối quan hệ gia đình trong Kho tàng ca dao người Việt
Bảng thống kê cho thấy trong các mối quan hệ gia đình được phản ánh trong ca dao thì quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quan hệ anh chị em là ba mối quan hệ được phản ánh nhiều nhất, đóng vai trò quan trọng nhất trong ca dao về quan hệ gia đình Ba mối quan hệ này có thể coi là
ba mối quan hệ mang tính nòng cốt với nhiều tình cảm và sự gắn bó sâu sắc tạo nên diện mạo của gia đình Việt Nam Do vậy trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi sẽ xem xét quan hệ gia đình trong ca dao của hai miền Nam, Bắc thông qua ba mối quan hệ chính này
2.1.1 Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái
Người Việt luôn luôn lấy gia đình làm trung tâm của mọi mối quan hệ Cách hành xử này có thể xuất phát từ cuộc sống khép kín, không ra khỏi cổng
Trang 35làng, ít tham gia vào sự kiện lớn lao của đất nước Vì phần đông người Việt là nông dân, họ sống và gắn bó cả đời mình với làng xã, với mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn Cuộc sống của họ gói gọn trong hai mối quan hệ chính là quan
hệ gia đình và quan hệ với xóm làng Nhưng có lẽ, lí do mà gia đình trở thành trung tâm của cuộc sống của người Việt không chỉ có như vậy Với truyền thống trọng đạo lý, nặng nghĩa tình từ ngàn xưa, việc đặt gia đình với những người thương yêu nhất của mình như cha mẹ, như anh em ở vị trí quan trọng nhất của đời sống tinh thần, tình cảm của người Việt là chuyện hoàn toàn có thể lý giải được Gia đình là tổ ấm, là nơi che chở cho mỗi người từ khi cha
mẹ sinh ra Cho nên có thể nói rằng, mối quan hệ gia đình đầu tiên mà mỗi người biết tới chính là mối quan hệ với cha mẹ mình Cha mẹ sinh ra rồi giãi nắng dầm sương nuôi nấng ta thành người Trong mỗi bước trưởng thành của con người đều có bàn tay nâng đỡ, đều có giọt mồ hôi mặn chát của mẹ cha
Do vậy người Việt xưa mới luôn tâm niệm “thờ cha, kính mẹ” Đó không chỉ
là đạo lý mà còn là tình nghĩa sâu nặng của con cái đáp đền lại sự hi sinh của cha mẹ dành cho mình Chính vì thế, ca dao về quan hệ của cha mẹ và con cái của Nam Bộ và Bắc Bộ cùng thống nhất với nhau ở một số đặc điểm nội dung tiêu biểu mà đặc điểm đầu tiên chính là nội dung “tình yêu thương, sự hi sinh của cha mẹ dành cho con cái” Với ca dao Bắc Bộ, ta khắc khoải với hình ảnh cánh cò đã theo bao người vào giấc ngủ ấu thơ qua lời ầu ơ đượm buồn của mẹ:
Con cò bay lả bay la Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng Cha mẹ sinh đẻ tay không Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi
Trước là nuôi cái thân tôi Sau nuôi đàn trẻ, nuôi đời cò con
Trang 36Con cò là hình ảnh biểu trưng cho cha mẹ nghèo, vất vả ngược xuôi để nuôi con khôn lớn Cánh cò gầy chao trên những cánh đồng lúa mênh mông
vô cùng thân thuộc với người dân Việt cho nên nó dễ gợi, dễ nhớ, dễ đồng cảm Cái hình ảnh mảnh mai, gầy guộc mà mải miết của những cánh cò cũng thật giống với dáng hình của người mẹ tảo tần khuya sớm kiếm gạo nuôi con:
Mẹ nghèo chẳng có gì đâu Lời ru để lại sang giàu cho con
Dù cho vai áo mẹ sờn
Bờ sông gánh gạo nỉ non cánh cò Lời tâm tình của người mẹ nghèo đó để lại bao xúc cảm cho người nghe Người mẹ nghèo tự nhận rằng mình chỉ có lời ru là của để dành cho con
mà thôi Vì thế dù cho “vai áo rách sờn”, dù cho khổ cực, vất vả người mẹ vẫn miệt mài lao động để nuôi con Tình yêu thương đó, sự hi sinh đó, nỗi cực khổ đó chính là gia tài vô giá, là vẻ đẹp của tình mẫu tử, là sự thiêng liêng của hai tiếng gia đình mà biết bao người mẹ Việt Nam đã để lại cho con cháu mình Sự hi sinh đó bắt nguồn từ tình yêu thương, là biểu hiện của tình yêu thương mà cha mẹ dành cho con cái:
Ước gì mẹ có mười tay Tay kia bắt ca tay này hái rau Một tay ôm ấp con đau Một tay vay gạo, tay cầu cúng cha Một tay luồn chỉ luồn xa Một tay bếp núc cửa nhà con ơi Ước mơ của mẹ kỳ lạ mà giản đơn như vậy đó Mẹ mong mình có nhiều “tay”, nhiều sức lực để cáng đáng được nhiều việc, để lo lắng được cho con Hái rau, bắt cá lo cho con bữa ăn, ôm ấp, che chở con khi con đau yếu Lòng mẹ giản dị như vậy đó nhưng cũng thật là vĩ đại, bao la
Trang 37Cùng với cảm xúc yêu thương và hi sinh đó, ca dao Nam Bộ về quan hệ cha mẹ và con cái cũng ghi lại nhiều câu như:
Con ơi ở lại với bà
Má đi làm mãi tháng ba mới về
Má về có mắm con ăn
Có khô con nướng, có em con bồng Câu ca dao là lời từ biệt của người mẹ với con mình để đi làm xa Người mẹ vỗ về, an ủi con mình mà cũng như vỗ về chính bản thân Mẹ mong khi trở về sẽ có “mắm cho con ăn”, “khô cho con nướng” để con được đủ đầy
Có phải vì thế mà mẹ phải dứt lòng để con ở lại để đi kiếm ăn xa Nỗi lòng của mẹ qua những điều thật nhỏ bé lại thể hiện một mong ước lớn lao: mong ước được lo lắng cho con chu toàn Người mẹ Nam Bộ ở đây cũng thật tảo tần, vất vả:
Ví dầu cầu ván đóng đinh Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Ví dầu mẹ chẳng có chi Chỉ con với mẹ chẳng khi nào rời Người mẹ Nam Bộ cũng giống người mẹ Bắc Bộ ở câu ca trên ở cảnh
“chẳng có chi” Họ đều là những bậc cha mẹ nghèo nhưng tình yêu thương thì
vô bờ bến Họ luôn xác định sự gắn bó, sự chở che đến trọn đời mình dành cho con cái
Anh đi làm mướn nuôi ai Cho áo anh rách cho vai anh sờn Anh đi làm mướn nuôi con
Áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai
(Ca dao Nam Bộ)
Trang 38Có thể hình ảnh người cha ít được đề cập đến hơn người mẹ bởi không giống như mẹ cha không luôn kề cận, luôn ẵm bồng con Cha phải lo việc chung cho cả gia đình, cha là chỗ dựa, là trụ cột của cả gia đình Câu ca dao như lời đối đáp để người cha bày tỏ nỗi lòng mình với con Mặc “áo rách”, mặc “vai sờn” nghĩa là mặc bản thân mình ra sao, không quản gian lao, vất
vả, cha chỉ một lòng đau đáu muốn được nuôi nấng con thành người
Những việc làm mà cha mẹ dành cho con cái của mình với họ thì thật là nhỏ bé những lại truyền tải được thông điệp yêu thương rất thiêng liêng:
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ Năm canh chày thức đủ vừa năm
(Ca dao Nam Bộ) Hình ảnh người mẹ bên võng, bên nôi, với đôi bàn tay bế bồng, thức trọn đêm để dỗ giấc ngủ cho con có lẽ là hình ảnh đã gắn bó với tiềm thức của bao nhiêu người Việt Cùng với lời ru của mẹ, cùng với “con cá”, “mớ rau”
mà cha mẹ kiếm về, các con đã khôn lớn và trưởng thành Những bài ca dao
về tình cảm của cha mẹ dành cho con cái qua nhiều thế hệ cũng được đắp bồi thêm nhưng tình thương yêu, sự hi sinh của cha mẹ thì vẫn luôn luôn sâu sắc
và khắc khoải vẹn nguyên như thế
Nhận cho mình những tình cảm cao cả như vậy từ cha mẹ nên người con Việt Nam ở cả hai miền Nam Bộ và Bắc Bộ cùng thể hiện chung một thái
độ trân trọng, biết ơn sâu đậm Ca dao về quan hệ của cha mẹ và con cái của Nam Bộ và Bắc Bộ vì thế cũng thống nhất trong nội dung “làm con phải làm tròn chữ hiếu với cha mẹ”
Chữ hiếu đó đầu tiên thể hiện ở sự yêu thương kính trọng, biết ơn cha mẹ:
Có con nghĩ mẹ thương thay Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau
(Ca dao Bắc Bộ)
Trang 39Công ơn của cha mẹ với con cái phải kể trước nhất là công sinh thành Câu ca dao thể hiện sự ghi nhận công lao to lớn đó của người con đối với cha
mẹ mình Nhờ cha mẹ mà có con trên cõi đời này Chín tháng mười ngày mẹ hoài thai con, từ lúc con chưa ra đời mẹ đã trải nhiều vất vả Không có gì tội tình bằng không mẹ hay không cha, chịu kiếp mồ côi:
Mưa lâm râm ướt đầm lá hẹ
Em thương người có mẹ không cha
(Ca dao Nam Bộ)
Lụt nguồn trôi trái bòn bon Cha thác, mẹ còn chịu chữ mồ côi
Mồ côi tội lắm ai ơi Đói cơm không ai biết, lỡ lời không ai phân
(Ca dao Nam Bộ)
Từ lời than, lời thương những đứa con mồ côi, ta có thể thấy sự trân trọng của người con đối với cha mẹ mình Qua đó “chữ hiếu” dặn lòng của người con còn được thể hiện qua hành động đền đáp, phụng dưỡng, chăm lo cho cha mẹ:
Đói lòng ăn hột chà là
Để cơm nuôi mẹ mẹ già yếu răng
(Ca dao Nam Bộ)
Ba đồng một khía cá buôi Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già
(Ca dao Nam Bộ)
Ở đây, ta lại ghi nhận được sự hi sinh của con cái dành cho cha mẹ mình Để chăm sóc, phụng dưỡng cho cha mẹ, người con cũng không quản
Trang 40những thiếu thốn, thiệt thòi cho mình Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong ca dao người Việt đến đây đã cho thấy được một mối dây liên kết, một tình cảm đầy yêu thương và đạo nghĩa của người Việt Cha mẹ yêu thương, che chở cho con thì con cũng một dạ đáp đền Đó phải chăng là vẻ đẹp nhân văn cao cả trong tâm hồn và tính cách của người Việt mà ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ đã cùng chuyển tải Người con ở Nam Bộ lo cho cha mẹ như vậy thì người con ở Bắc Bộ lại nhắn gửi như sau:
Ai về tôi gửi buồng cau Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy
Ai về tôi gửi đôi giày Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi
Sự quan tâm, chăm sóc của người con thật tỉ mỉ, thật cẩn thận Qua sự quan tâm đó, ta cũng thấy được thái độ nâng niu hết mực của người con với cha mẹ cũng giống như câu ca dao sau:
Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp mật, như đường mía lau
(Ca dao Nam Bộ) Hình ảnh người mẹ già được so sánh với những sản vật quý giá trong cuộc sống để thể hiện sự nâng niu, sự quý trọng của người con Tấm lòng hiếu thảo của con cái đã được thể hiển rõ ràng trong thái độ và trong sự chăm sóc
ân cần miếng ăn, giấc ngủ cho cha mẹ Có thể nói lòng hiếu thảo đã trở thành thước đo nhân phẩm đạo đức của con người Do vậy ngoài việc đề cao đạo hiếu thì ca dao của hai miền Nam, Bắc cũng lên tiếng phê phá, chê trách những đứa con chưa làm tròn bổn phận, nghĩa vụ của mình:
Mẹ già hết gạo treo niêu
Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai
(Ca dao Nam Bộ)