Một số tương đồng và khác biệt giữa truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ Hà Hội với truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu Tân Hội, Trung Quốc.. Một số tương đồng giữa truyền
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 TRUYỀN THUYẾT VỀ TỨ VỊ THÁNH NƯƠNG Ở ĐỀN LỘ (HÀ NỘI) QUA ĐỐI SÁNH VỚI TRUYỀN THUYẾT VỀ DƯƠNG THÁI HẬU Ở ĐIỆN MẪU (TÂN HỘI, TRUNG QUỐC) 12
1.1.Khái niệm truyền thuyết 12
1.1.1 Khái niệm truyền thuyết theo học giả Việt Nam 12
1.1.2 Khái niệm truyền thuyết theo học giả Trung Quốc 15
1.1.3 Nhận xét 18
1.2 Truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 19
1.2.1 Dương Thái hậu qua các nguồn thư tịch 19
1.2.2 Truyền thuyết về Dương Thái hậu qua điền dã thực địa 21
1.2.3 Nhân xét 25
1.3 Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) 26
1.3.1 Một số truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương từ các bản ghi chép ở Việt Nam 26
1.3.2 Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) 29
1.3.3 Nhận xét 32
1.4 Một số tương đồng và khác biệt giữa truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Hội) với truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 33 1.4.1 Một số tương đồng giữa truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) với truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 33
1.4.2 Một số khác biệt giữa truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) với truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 34
1.4.3 Nhận xét 37
Trang 3CHƯƠNG 2 LỄ HỘI VỀ TỨ VỊ THÁNH NƯƠNG Ở ĐỀN LỘ (HÀ NỘI) QUA ĐỐI SÁNH VỚI LỄ HỘI VỀ DƯƠNG THÁI HẬU Ở ĐIỆN MẪU (TÂN HỘI TRUNG
QUỐC) 39
2.1 Khái niệm lễ hội 39
2.1.1 Khái niệm lễ hội theo học giả Việt Nam 39
2.1.2 Khái niệm lễ hội theo học giả Trung Quốc 42
2.1.3 Nhận xét 44
2.2 Lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 45
2.2.1 Thời gian, địa điểm tổ chức lễ hội 45
2.2.2 Tiến trình tổ chức lễ hội 48
2.3 Lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) 51
2.3.1 Thời gian, địa điểm tổ chức lễ hội 51
2.3.2 Tiến trình tổ chức lễ hội 55
2.4 Một số tương đồng và khác biệt giữa lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Hội) với lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 58
2.4.1 Một số tương đồng giữa lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) với lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 58
2.4.2 Một số khác biệt giữa lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) với lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 59
2.4.3 Nhận xét 61
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ CỦA TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI VỀ TỨ VỊ THÁNH NƯƠNG Ở ĐỀN LỘ (HÀ NỘI) QUA ĐỐI SÁNH VỚI GIÁ TRỊ CỦA TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI VỀ DƯƠNG THÁI HẬU Ở ĐIỆN MẪU (TÂN HỘI, TRUNG QUỐC) 64
3.1.Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) và mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 64
3.1.1 Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội 64
Trang 43.1.2 Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội,
Trung Quốc)… 66
3.1.3 Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội)…… 68
3.2.Giá trị của truyền thuyết và lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 70
3.2.1 Giá trị lịch sử 70
3.2.2 Giá trị tâm linh 71
3.2.3 Giá trị văn hóa 72
3.2.4 Giá trị kinh tế 74
3.3.Giá trị của truyền thuyết và lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) qua đối sánh với giá trị của truyền thuyết và lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) 75
3.3.1 Giá trị lịch sử 75
3.3.2 Giá trị tâm linh 78
3.3.3 Giá trị văn hóa 80
3.3.4 Giá trị kinh tế 81
PHẦN KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 94
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thông qua các nguồn tài liệu và các truyền thuyết về các vị thần được thờ cúng ở Việt Nam, chúng tôi được biết rất nhiều nơi ở miền Trung Việt Nam có đền thờ Tứ Vị Thánh Nương 四位圣娘 Tứ Vị Thánh Nương, như tên gọi, là để chỉ 4 vị thánh nữ Quá trình điền dã tại một số địa phương của Việt Nam, chúng tôi nhận thấy: cả bốn vị thần này đều là những vị thần có nguồn gốc, lai lịch từ Trung Quốc Theo một truyền thuyết phổ biến ở Việt Nam, vị nữ thần đóng vai trò chủ đạo trong số bốn vị nữ thần này chính là Dương Thái Hậu – mẹ của Tống Đế Bính 宋帝昺, vị vua cuối cùng của nhà Tống Sau khi quân Nguyên đánh úp quân Tống ở Nhai Sơn, nhà Nam Tống thất thủ, hoàng tộc nhà Tống nhảy xuống biển tự vẫn Dương Thái Hậu là một trong số những người đã tự vẫn theo vua Tống Đế Bính Tương truyền thi thể Dương Thái Hậu bị sóng đánh dạt vào cửa biển Việt Nam Người dân Việt Nam thấy vậy liền lập miếu thờ cúng bà như là một vị thần biển thiêng liêng
Đề tài này khơi gợi cho chúng tôi rất nhiều hứng thú Tại sao một vị Hoàng hậu Trung Quốc lại được người Việt Nam thờ cúng trên một phạm vi địa lí rộng như vậy? Tại sao một vị Hoàng hậu Trung Quốc lại dễ dàng xâm nhập vào tín ngưỡng của người Việt để trở thành một phần của văn hóa dân gian của người Việt như vậy? Việc làm rõ vấn đề này, theo chúng tôi, sẽ làm sáng tỏ nhiều vấn đề về giao lưu văn hóa Việt Nam – Trung Quốc trong lịch
sử, là một bước đi quan trọng tạo tiền đề cho những nghiên cứu trong tương lai về tín ngưỡng thờ cúng thần linh của hai nước
Một điều lý thú nữa, trong quá trình đi khảo sát để lựa chọn đề tài nghiên cứu, chúng tôi tình cờ phát hiện ra đền Lộ, thuộc thôn Đại Lộ, xã Ninh Sở,
Trang 6huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, một trong những tụ điểm tín ngưỡng lớn thu hút dân chúng ở khu vực đồng bằng sông Hồng, cũng chính là một địa điểm thờ Tứ Vị Thánh Nương Tại sao một điểm nằm sâu trong vùng châu thổ Bắc Bộ lại xuất hiện nơi thờ Tứ Vị Thánh Nương, vị thần bảo trợ cho những người đi biển? Vậy Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ còn được thờ như là vị thần biển nữa hay không hay đã mang thêm những nội dung, chức năng khác? Đấy là điều chúng tôi đặc biệt quan tâm Thông qua nguồn truyền thuyết dân gian và các sinh hoạt lễ hội liên quan tới Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ, chúng tôi hi vọng đưa ra một hướng tiếp cận để góp phần trả lời câu hỏi này Chúng tôi còn hi vọng làm rõ dấu vết của một nền văn hóa mang dấu ấn địa phương được thể hiện một cách rõ nét thông qua truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương cùng với những hoạt động lễ hội diễn ra trong đền thờ của các làng đồng bằng sông Hồng Truyền thuyết và lễ hội đều thuộc di sản văn học, văn hóa dân gian, là một thành tố góp phần vào việc định hình bản sắc dân tộc Để làm rõ được bản chất sự ra đời và lưu truyền của chúng, chúng tôi cho rằng không thể tách rời hai bộ phận truyền thuyết
và lễ hội mà sẽ tiến hành nghiên cứu chúng như một tổng thể không thể chia tách
Thứ nữa, để hiểu sâu hơn về Tứ Vị Thánh Nương và sự hiện diện của tín ngưỡng này trong đời sống tâm linh của người Việt Nam, chúng tôi cho rằng phải đặt vị thần này trong tương quan đối sánh với vị thần nguyên gốc, đó là Dương Thái Hậu được thờ ở điện Mẫu Tân Hội, Quảng Đông, Trung Quốc Việc so sánh này sẽ giúp chúng tôi làm rõ được những biến đổi của một vị thần từ nguyên gốc đến một vùng khác với nhiều nội dung phát sinh và những ý nghĩa mới
Một lý do nữa khiến chúng tôi chọn đề tài liên quan đến Tứ Vị Thánh Nương đó là do những thuận lợi của chúng tôi khi tiếp cận tư liệu nghiên
Trang 7cứu của Trung Quốc cũng như Việt Nam Là người mang quốc tịch Trung Quốc, lại được đào tào rất bài bản ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu so sánh là một ưu thế Chúng tôi rất bất ngờ và cảm thấy hứng thú khi biết có một Hoàng hậu người Trung Quốc là Dương Thái Hậu lại được thờ ở nhiều nơi Việt Nam Những học giả tiền bối, những người nghiên cứu về Tứ
Vị Thánh Nương ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc chưa có điều kiện nghiên cứu trong thế đối sánh một cách toàn diện những nguồn tư liệu Chúng tôi có điều kiện khai thác được nguồn tư liệu của cả hai nước, vì vậy chúng tôi nhận thấy cần phải tập trung nghiên cứu so sánh này nhằm đưa ra những hiểu biết toàn diện nhất có thể về đối tượng
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Truyền thuyết và lễ hội về Tứ
Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) qua đối sánh với truyền thuyết và lễ hội
về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) Quá trình nghiên
cứu, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ sự giao thoa, ảnh hưởng qua lại giữa văn hóa hai nước Trung - Việt và xu hướng địa phương hóa tín ngưỡng thờ Dương Thái Hậu ở Trung Quốc và Tứ Vị Thánh Nương ở Việt Nam Từ góc nhìn của lí thuyết nghiên cứu ảnh hưởng và nghiên cứu so sánh, chúng tôi nhận thấy việc tìm hiểu truyền thuyết và lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) trong tương quan với truyền thuyết và lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) sẽ có đóng góp nhất định, tạo tiền đề cho những giao lưu, trao đổi học thuật Trung Quốc và Việt Nam xung quanh vấn
đề này trong tương lai Đây là một nhu cầu cần thiết đặt ra với những nhà nghiên cứu văn học dân gian hai nước
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy tư liệu sớm nhất
có ghi chép về Tứ Vị Thánh Nương là Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ
Liên thế kỷ XV Cuốn sử sách này đã viết về sự kiện Tống phi hiện về báo
Trang 8mộng cho vua Trần Anh Tông: “…đêm mơ thấy một thần nữ khóc lóc nói với vua: Thiếp là cung phi nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách, gặp phải sóng gió, trôi giạt đến đây Thượng đế phong thiếp làm thần biển đã lâu Nay bệ
hạ mang quân đi, thiếp xin giúp đỡ lập công” [23, tr 44] Sau đó là cuốn Tục
biên Việt điện u linh của Nguyễn Văn Chất (1422-?) viết: “phu nhân họ
Triệu là công chúa nước Nam Tống, tất cả có ba mẹ con, phu nhân là con gái út… Phàm những thuyền đi bể, gặp khi sóng gió nguy hiểm, kêu cầu đều được thoát nạn Sau các nơi cửa bể đều lập đền thờ, đền nào cũng có tiếng thiêng” [51, tr 117]
Ngoài ra, nguồn tư liệu thần tích quý báu hiện đang được lưu giữ ở đền
Lộ như ngọc phả, bi ký, sắc phong, hoành phi câu đối… cũng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu của chúng tôi Trên cơ sở đó, đền Lộ đã nhờ các nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Hán nôm căn cứ vào thần phả
chữ Hán để dịch thuật Vào tháng 2 năm Bính Tý (năm 1996), Đại Lộ tối
linh từ được biên soạn, Phó giáo sư Nguyễn Tá Nhí hoàn thành việc dịch
thuật, trong đó có bản dịch nghĩa của “Ngọc Phả Bốn Vị Thánh Nương Nam Hải Đại Càn Quốc Gia (thờ phụng ở xã Đại Lộ)”, kê ra thời gian cụ thể của
16 sắc phong Tứ Vị Thánh Nương được các vị vua của các triều đại phong kiến ban, còn có bài hỏi đáp về những vấn đề liên quan đến sự tích Tứ Vị Thánh Nương và bài nói chuyện của Phó giáo sư Trần Lâm Biền với nhân dân thôn Đại Lộ vào ngày 30 tháng 7 năm 1993
Hiện nay các công trình nghiên cứu về Tứ Vị Thánh Nương chủ yếu tập trung vào những vấn đề liên quan đến đền Cờn (Nghệ An) và về văn hóa
biển ở Việt Nam Trong cuốn Tục thờ thần và thần tích Nghệ An (năm 2010),
Phó giáo sư Ninh Viết Giao đã dành một số trang nhất định để giới thiệu Tứ
Vị Thánh Nương, truy nguyên việc thờ cúng Tứ Vị Thánh Nương là xuất phát từ việc thờ thần nước, thần biển Năm 2009, Phó giáo sư, tiến sĩ Trần
Trang 9Thị An có bài viết “Tìm hiểu sự hình thành truyền thuyết Tứ Vị Thánh nương (qua các nguồn thư tịch, truyền thuyết dân gian và tục thờ cúng)”
đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học Trong bài viết này, tác giả Trần Thị
An đặt vấn đề “Tại sao các vị thần Trung Quốc được thờ rộng rãi đến thế ở Việt Nam” và bà đã giải mã câu hỏi trên từ các bình diện như văn hóa, lịch
sử, niềm tin và nhu cầu của nhân dân: “Sự hình thành của một truyền thuyết,
sự phát sinh, tồn tại và phát triển của một tục thờ không đơn giản chỉ xuất phát từ niềm tin và nhu cầu của người dân mà còn chịu sự tác động đa chiều trong mối quan hệ chồng chéo trong lịch sử” [4, tr 73]
Cũng năm 2009, bài viết của Trần Thị An là “Về ngôi đền thờ Tống Phi
ở Phố Hiến, Hưng Yên” được đăng trên Thông báo văn hoá Bài viết này đã
so sánh đền Mẫu Phố Hiến và đền Cờn, Quỳnh Lưu, đồng thời đưa ra quan điểm đền Mẫu và đền Cờn là sự kết nối truyền thuyết trên nền tín ngưỡng thờ thần biển: “Chính từ cái nền tín ngưỡng dân gian thờ thuỷ thần này mà truyền thuyết của hai vùng đã xích lại gần nhau” [5, tr 206]
Đáng chú ý là ngày 15-16 tháng 6 năm 2009, Hội thảo khoa học Lễ hội
đền Cờn, tục thờ Tứ Vị Thánh Nương với văn hóa biển ở Việt Nam đã được
tổ chức tại xã Quỳnh Phương huyện Quỳnh lưu tỉnh Nghệ An Trong hội thảo, các nhà khoa học nổi tiếng từ Trung ương và địa phương về tham dự
với nhiều báo cáo khoa học có chất lượng được trình bày Kết quả là Kỷ yếu
hội thảo khoa học Lễ hội đền Cờn, tục thờ Tứ Vị Thánh Nương với văn hóa biển ở Việt Nam được xuất bản vào năm 2010 Kỷ yếu dầy 370 trang, tập
hợp 23 bài viết của các nhà nghiên cứu như Ninh Viết Giao, Trần Thị An, Nguyễn Xuân Đức… trong đó phần lớn tác phẩm tập trung vào nơi thờ Tứ
Vị Thánh Nương khá tiêu biểu ở Việt Nam là đền Cờn, Nghệ An Trong kỉ yếu này, có những nghiên cứu tập trung và chứng minh quá trình biến thiên của truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương, có những nghiên cứu khác lại tiến
Trang 10hành miêu tả khá sâu về lễ hội đền Cờn và tiến hành bóc tách lớp văn hoá biển đền Cờn Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng đền Cờn (Nghệ An) – một đền nằm ở một ngôi làng ven biển là nơi phát tích và cũng là một trung tâm thờ cúng Tứ Vị Thánh Nương Những nghiên cứu này còn cho biết Tứ Vị Thánh Nương đã nhanh chóng hóa thân thành những vị thần biển của Việt Nam và trở thành một trong số những vị thần được thờ cúng phổ biến ở nhiều làng quê người Việt Những địa điểm thờ cúng Tứ Vị Thánh Nương khác ở các địa phương thuộc Bắc bộ, Trung bộ như Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Đà Nẵng… cũng đã được những nhà nghiên cứu trong hội thảo quan tâm đề cập đến Bài “Đền Lộ ở Hà Nội với tín ngưỡng thờ Tứ Vị Thánh Nương” của thạc sĩ Võ Hoàng Lan bước đầu tiến hành phân tích hiện tượng tín ngưỡng thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Đền Lộ Trong bài viết này, Võ Hoàng Lan có miêu tả truyền thuyết và lễ hội ở đền Lộ, nhưng chưa cụ thể
và thực sự chi tiết Những ý kiến đã nêu và bài viết của các nhà khoa học nghiên cứu về Tứ Vị Thánh Nương là tiền đề thuận lợi giúp chúng tôi giải quyết vấn đề nghiên cứu mà luận văn này đặt ra
3 Đối tượng và phạm vi
Đối tượng của đề tài: Truyền thuyết và lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở
đền Lộ (Hà Nội) và truyền thuyết và lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc)
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Địa bản khảo sát và nghiên cứu chính là
đền Lộ (Hà Nội), có mở rộng phạm vi nghiên cứu là điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) Ngoài ra, chúng tôi tiến hành tìm kiếm, khảo sát nhằm chứng minh nguồn gốc truyền thuyết và lễ hội Tứ Vị Thánh Nương thông qua hệ thống thư tịch Trung Quốc và Việt Nam hiện còn được lưu giữ Ngoài hoạt động chính là điều tra, điền dã tại đền Lộ (Hà Nội) và điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc), chúng tôi còn quan tâm theo dõi một số nơi thờ Tứ Vị Thánh
Trang 11Nương khác ở Việt Nam, đặc biệt là ở đền Cờn (Nghệ An), nơi được coi là điểm chính thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này bao gồm:
- Phương pháp tra cứu tài liệu
- Phương pháp điền dã thực địa
- Phương pháp so sánh loại hình
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
5 Mục tiêu của luận văn
Mục tiêu của luận văn bao gồm:
- Căn cứ vào các tư liệu điền dã, dựng lại truyền thuyết và lễ hội về Tứ
Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội)
- Qua việc so sánh truyền thuyết và lễ hội ở đền Lộ (Hà Nội) với truyền thuyết và lễ hội ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) làm rõ những nét tương đồng và khác biệt của chúng
- Làm rõ mối quan hệ giữa truyền thuyết, lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) và mối quan hệ giữa truyền thuyết, lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc)
- Đưa ra một số giá trị của truyền thuyết và lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) qua đối sánh với truyền thuyết và lễ hội về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc)
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp chính yếu sau:
- Luận văn cung cấp nguồn tư liệu thực địa phong phú là kết quả của quá trình điền dã ở những di tích lịch sử nhà Tống Tiến hành tìm kiếm, sưu
Trang 12tầm, tập hợp, nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống những sự tích liên quan đến truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương
- Luận văn thông qua việc so sánh truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) với truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương
ở đền Lộ (Hà Nội) để tìm ra những đặc điểm mang tính địa phương trong truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội)
- Luận văn thông qua việc đối sánh với lễ hội điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc), giới thiệu, miêu tả và phân tích lễ hội đền Lộ (Hà Nội) một cách cụ thể và toàn diện
- Luận văn hướng đến giải quyết câu hỏi: Tại sao đền Lộ (Hà Nội) thuộc vùng châu thổ Bắc Bộ lại thờ thần biển mặc dù xung quanh đó không
hề có biển?
- Luận văn hướng đến chứng minh quá trình lưu truyền truyền thuyết và
tổ chức lễ hội về Tứ Vị Thánh Nương là một quá trình có động cơ và đầy tính sáng tạo
- Quá trình triển khai đề tài, chúng tôi chứng minh sự đúng đắn của phương pháp nghiên cứu văn học dân gian hiện nay là gắn việc nghiên cứu văn bản (nghệ thuật ngôn từ) với môi trường diễn xướng của tác phẩm
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TRUYỀN THUYẾT VỀ TỨ VỊ THÁNH NƯƠNG Ở ĐỀN
LỘ (HÀ NỘI) QUA ĐỐI SÁNH VỚI TRUYỀN THUYẾT VỀ DƯƠNG
THÁI HẬU Ở ĐIỆN MẪU (TÂN HỘI, TRUNG QUỐC)
1.1 Khái niệm truyền thuyết
1.1.1 Khái niệm truyền thuyết theo học giả Việt Nam
Truyền thuyết ở Việt Nam có từ khá sớm, hình thành vào cuối thời kỳ công xã nguyên thủy Tuy nhiên thuật ngữ truyền thuyết và việc giới thiệu
nó ra đời lại khá muộn, vào khoảng giữa thế kỉ XX
Người đầu tiên đề cập đến truyền thuyết là Đào Duy Anh Khi ông viết
về vấn đề “Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta” trên tạp chí Tri Tân,
ông đã đề cập đến từ truyền thuyết: “Sách xưa của người Trung Quốc không chép việc Triệu Đà đánh An Dương Vương để chiếm Tượng Quận, nhưng
cứ truyền thuyết ấy, nếu ta bỏ đi những yếu tố hoang đường thì cũng còn lại
kỷ niệm của một cuộc chiến tranh hẳn có” [7, tr 126]
Đến những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ “truyền thuyết” đã được sử dụng nhiều hơn Định nghĩa đầu tiên về “truyền thuyết” có lẽ xuất hiện trong
công trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam Khi xác định gianh giới giữa
thần thoại với truyền thuyết, các tác giả Nhóm Lê Qúy Đôn đã bước đầu định nghĩa truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là tất cả những chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì bảo đảm” [26,
tr 60]
Năm 1961, trong bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của trường
Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả Đỗ Bình Trị thừa nhận truyền thuyết là một thể loại và đã đưa ra định nghĩa về nó: “Truyền thuyết là những truyện
có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kì diệu – là lịch sử hoang đường – hoặc
Trang 14là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử” [43, tr 176] Còn trong giáo trình của Đại học tổng hợp được viết và xuất bản từ năm
1962, Giáo sư Đinh Gia Khánh không thừa nhận có thể loại truyền thuyết
mà chỉ coi đó là cổ tích lịch sử
Báo Nhân dân số 549 ngày 29 tháng 4 năm 1969 đăng bài “Nhân ngày
Giỗ Tổ vua Hùng” của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng Bài báo đã nêu ra vấn
đề mẫu chốt của truyền thuyết là mối quan hệ giữa lịch sử và truyền thuyết:
“Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con cháu còn ưa thích” [29, tr 48-49]
Viết một cách khá công phu về truyền thuyết phải kể đến chuyên khảo
Truyền thống anh hùng trong thời kỳ phong kiến của tác giả Kiều Thu Hoạch
được công bố vào năm 1969, đây là một chuyên khảo khoa học được dư luận đồng tình và coi như một cái mốc đầu tiên trong việc nghiên cứu truyền thuyết như một thể loại của văn học dân gian Ông đã đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về truyền thuyết: “Truyền thuyết là một thể loại truyện
kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của
nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kì như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân,
mà thường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn,
nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch
sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng
Trang 15tượng” [14, tr 18-19] Trong cuốn sách Văn học dân gian người Việt – Góc
nhìn thể loại, Giáo sư Kiều Khu Hoạch công bố bài viết “Thể loại truyền
thuyết dưới mắt các nhà nghiên cứu FOLKLORE Nhật Bản và Trung Quốc”, giới thiệu quan điểm của học giả Trung Quốc, ông cho rằng muốn hiểu rõ loại truyền thuyết đích thực của Trung Quốc cần phải nắm vững 3 vấn đề là tính cố định, đặc trưng và mục đích Vấn đề tính cố định chỉ thời đại cố định, địa điểm cố định, nhân vật cố định, sự kiện cố định Vấn đề đặc trưng là tính đáng tin, tính cụ thể, tính không cố định của hình thức kể chuyện Còn mục đích của thể loại truyền thuyết là giáo huấn và giải thích
Năm 1971, trong công trình Truyền thuyết anh hùng trong loại hình tự
sự dân gian, tác giả Phan Trần có bài “Tinh thần dân tộc qua các truyền
thuyết lịch sử” đã nêu định nghĩa về truyền thuyết: “Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch sử Những nhân vật, sự việc đó được phản ánh qua trí tưởng tượng của con người, qua sự hư cấu của nhân dân” [32, tr 14]
Đầu những năm 90 của thế kỉ XX, Giáo sư, tiến sĩ Lê Chí Quế, trong
giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, phân loại và phân tích từ các dẫn
chứng cụ thể giúp người đọc hiểu đầy đủ hơn về thể loại truyền thuyết:
“Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những
sự kiện, nhân vật lịch sử hay di tích, cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kì” [31, tr 49] Đặc biệt, đối với giáo trình Văn học dân gian của Trường Đại học Tổng hợp mà nói, thì đây là một sự thay đổi lớn trong quan điểm biên soạn phần truyền thuyết Nếu như trước đây mấy chục năm, Giáo sư Đinh Gia Khánh không thừa nhận có thể loại truyền thuyết mà chỉ coi đó là cổ tích lịch sử, thì từ nay, trong bộ giáo trình này, tác giả Lê Chí Quế đã thừa nhận sự tồn tại độc lập của truyền thuyết như một thể loại trong kho tàng tự sự dân gian
Trang 161.1.2 Khái niệm truyền thuyết theo học giả Trung Quốc
Trong các bộ sách cổ Trung Quốc như Ngũ Kinh, Hán Thư v.v chúng ta
đã gặp từ “truyền thuyết” với hàm nghĩa hết sức phong phú Lúc đầu nó chỉ những dị bản khác của một tác phẩm, sau đó nó được sử dụng để chỉ sự khác biệt giữa cổ văn kinh học và kim văn kinh học, hoặc là chỉ hoạt động giải thích kinh điển Ngoài ra, khái niệm truyền thuyết còn được sử dụng để chỉ những ngôn luận bao gồm câu chuyện, tin tức, ca dao được lưu truyền trong dân gian v.v… Hiển nhiên, khái niệm truyền thuyết truyền thống khác với khái niệm truyền thuyết hiện đại mà chúng ta đang sử dụng Tuy nhiên, ở thời cổ đại Trung Quốc, chúng ta vẫn có thể tìm thấy những danh từ tương đương với khái niệm truyền thuyết hiện đại đó là
“truyền văn”, “truyền ngoa” v.v… Gọi là “truyền văn”, tức là chỉ những sự việc mà không phải chính tai mình nghe thấy, chính mắt mình trông thấy Gọi là “truyền ngoa” tức là chỉ vào những sự việc, những mẩu chuyện hoang đường kì quái được lưu truyền trong dân gian Những mẩu chuyện truyền văn, truyền ngoa ở một mức độ nào đó cũng có thể coi là truyền thuyết
Cho đến phong trào Ngũ Tứ của giai cấp công nhân và trí thức Trung Quốc bùng nổ ngày 4/5/1919, dưới sự ảnh hưởng của văn hóa, tư tưởng phương Tây, hầu hết các trí thức đều học tập theo phương Tây, họ nỗ lực thúc đẩy sự phát triển của văn hóa học thuật bản địa Trung Quốc hòa nhập quỹ đạo văn hóa quốc tế Khái niệm truyền thuyết và nhiều văn bản truyền thuyết phương Tây được dịch và giới thiệu giúp học giả Trung Quốc dần dần ý thức đến tính độc đáo của truyền thuyết, bước đầu coi truyền thuyết
như thể loại văn học dân gian, còn việc dịch những từ như Sage trong tiếng Đức và Legend trong tiếng Anh ra tiếng Trung là chỗ dựa quan trọng của
khái niệm truyền thuyết ra đời
Trang 17Từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã xuất hiện mấy định nghĩa khác nhau
về truyền thuyết dân gian Theo sự phát triển của thời đại, sự hiểu biết về khái niệm truyền thuyết cũng không ngừng phát triển Nói chung, khi xác định khái niệm truyền thuyết, học giả Trung Quốc chủ yếu quan tâm đến đặc trưng của thể loại là tính lịch sử, tính địa phương và tính văn học
Một số học giả coi trọng đặc trưng tính lịch sử và tính địa phương khi
định nghĩa khái niệm truyền thuyết Trương Tử Thần trong Tri thức cơ bản
văn học dân gian cho rằng: “Truyền thuyết dân gian, tức là những truyện
truyền miệng do nhân dân lao động sáng tác, gắn bó chặt chẽ với nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử cũng như cổ tích, phong tục địa phương v.v Truyền thuyết thường bắt đầu từ những nhân vật, sự kiện lịch sử nhất định và danh lam thắng cảnh của các địa phương… từ đó xây dựng những tình tiết sinh động, có sự giải thích bằng trí tưởng tượng về các sự vật hữu quan có tính lịch sử và tính khả tin” [75, tr 24] Chung Kính Văn cũng cho rằng “Truyền thuyết dân gian là những truyện do nhân dân lao động sáng tác có liên quan tới nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử, cổ tích địa phương, phong vật tự nhiên, tập tục xã hội nhất định” [77, tr 183] Ông đặc biệt nhấn mạnh sự liên hệ chặt chẽ giữa truyền thuyết và lịch sử, coi truyền thuyết là “lịch sử truyền miệng” Việc định nghĩa truyền thuyết liên quan chặt chẽ tới lịch sử và cổ tích, phong tục địa phương cho thấy quan điểm của các học giả rất coi trọng chức năng giải thích của truyền thuyết Quan điểm này thực ra nhấn mạnh vào nội dung lớp ngoài của truyền thuyết, vì vậy có thể nói, nó vẫn chỉ là một quan điểm có tính chất sơ bộ
Một số học giả ngoài việc coi trọng mối liên hệ giữa truyền thuyết và lịch sử, cổ tích, phong vật địa phương ra, còn nhấn mạnh đặc trưng tính văn
học của truyền thuyết Lưu Thủ Hoa trong Văn học dân gian khái luận thập
giảng vừa nhấn mạnh truyền thuyết như là “một loại truyện có tính lịch sử
Trang 18khá rõ ràng”, vừa nhấn mạnh nó là câu chuyện “có tính văn học nhất định”:
“Truyền thuyết dân gian liên quan tới nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử nhất định cũng như cổ tích địa phương, phong vật tự nhiên, phong tục, tập quán của địa phương đó v.v… vì vậy nó là một loại truyện có tính lịch sử khá rõ ràng Từ “truyền thuyết” có mấy hàm nghĩa khác nhau, truyền thuyết có thể
là một trong những loại hình văn học truyền miệng dân gian, tức là chỉ những truyện truyền miệng có tính văn học nhất định, mà truyện kể truyền miệng thô sơ không nằm trong lĩnh vực truyền thuyết dân gian” [65, tr 68]
Định nghĩa về truyền thuyết trong Thử tìm hiểu truyền thuyết và phong tục
dân gian cũng có quan điểm như thế này Công trình này quan niệm truyền
thuyết là “những truyện được hình thành thông qua hoạt động sáng tác của nhân dân các dân tộc, lưu truyền trong một thời gian dài, đặc biệt là thông qua quá trình điển hình hóa, các thủ pháp nghệ thuật hóa tương đối phức tạp như khoa trương, ảo hóa, đúc kết v.v để làm sáng tỏ bản chất sinh hoạt xã hội loài người” [52, tr 3]
Có nhiều học giả tỏ thái độ đồng thời coi trọng cả ba đặc trưng của truyền thuyết là tính lịch sử, tính địa phương và tính văn học khi xác định khái niệm truyền thuyết Nông Học Quan cho rằng: “Nói một cách khái quát, truyền thuyết dân gian là những câu chuyện được nhân dân các dân tộc sáng tác trên cơ sở vận dụng những thủ pháp biểu hiện của văn học và phương thức diễn đạt lịch sử, phản ánh những nhân vật, sự kiện lịch sử tại những thời kỳ khác nhau, hoặc danh lam thắng cảnh, phong vật tự nhiên, tập tục xã
hội ở các địa phương khác nhau” [52, tr 3] Hoàng Đào trong Khái luận văn
học dân gian Trung Quốc cho biết: “Truyền thuyết là những truyện truyền
kỳ do dân chúng sáng tác, truyền bá bằng miệng để miêu tả những nhân vật lịch sử hoặc sự kiện lịch sử, giải thích phong vật hoặc tập tục địa phương” [61, tr 143] Vạn Kiến Trung cũng cho rằng: “Truyền thuyết, tức là loại hình
Trang 19tự sự truyền kỳ bằng miệng, miêu tả những nhân vật lịch sử hoặc sự kiện lịch sử, giải thích phong vật hoặc tập tục địa phương” [52, tr 3]
Giáo sư, tiến sĩ Kiều Thu Hoạch, một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nổi tiếng của Việt Nam, trên cơ sở tham khảo công trình nghiên cứu của các học giả Trung Quốc, đã công bố bài viết với nhan đề “Thể loại truyền thuyết dưới mắt các nhà nghiên cứu FOLKLORE Nhật Bản và Trung Quốc” Theo quan điểm của giáo sư Kiều Thu Hoạch, các học giả Trung Quốc khi tiếp cận về truyền thuyết đã đưa ra lý thuyết về truyền thuyết như sau: “Khái niệm truyền thuyết theo nghĩa hẹp ở đây được hiểu là những truyện truyền miệng lấy nhân vật hoặc sự kiện lịch sử làm nội dung và hệ thống các tình tiết xoay quanh câu chuyện đều lấy sự kiện lịch sử làm cơ sở Cũng gọi là truyền thuyết theo nghĩa hẹp những câu chuyện dựa theo lịch sử để giải thích, thuyết minh các vật tự nhiên (núi, sông, động, thực vật…) hoặc các vật nhân tạo (đền miếu, chùa chiền, thành quách…) Muốn hiểu rõ loại truyền thuyết theo nghĩa hẹp, tức là truyền thuyết đích thực của Trung Quốc cần phải nắm vững 3 vấn đề sau: Một là vấn đề tính cố định – Hai là vấn đề đặc chưng –
Ba là vấn đề mục đích của truyền thuyết” [52, tr 3]
1.1.3 Nhận xét
Thông qua so sánh khái niệm truyền thuyết theo học giả hai nước Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta có thể thấy cách nhìn nhận về thể loại truyền thuyết của học giả hai nước cơ bản là tương đồng Mặc dù phương thức diễn đạt của các học giả Việt Nam và Trung Quốc có khác biệt, nhưng họ đều nhất trí coi truyền thuyết bám sát với lịch sử, truyền thuyết có yếu tố hư ảo, thần kì Điểm khác biệt rất nhỏ giữa học giả Trung Quốc và Việt Nam là có nhiều học giả Trung Quốc nhấn mạnh đến tính địa phương của truyền thuyết khi xác định khái niệm truyền thuyết
Trang 201.2 Truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc)
1.2.1 Dương Thái Hậu qua các nguồn thư tịch
Sử liệu sớm nhất có ghi chép về Dương Thái Hậu là Tống Sử 宋史:
“Thừa tướng Lục Tú Phu 陆秀夫… ngậm ngùi nước mắt cõng vị hoàng đế nhỏ mới 8 tuổi nhảy xuống biển tự tử Dương Thái Hậu biết tin con trai đã chết, bèn khóc than rằng: “Ta từ ngàn dặm xa xôi đến đây, cũng là vì cốt nhục của nhà Triệu, hôm nay chết rồi, ta còn sống được nữa ư?” Nói rồi cũng nhảy xuống biển tử tự theo con trai” [70, tr 243]
Cuốn Thành phố nổi tiếng văn hoá lịch sử Tân Hội đã ghi: “Dương Thái
Hậu, tức Dương Thục phi, là phi tử của Nam Tống Độ Tông Cuối thời Nam Tống, quân Nguyên tấn công Lâm An, Dương Thục phi đưa Triệu Thị 赵昰, Triệu Bính 赵昺 chạy về phía nam theo đường biển Quần thần tôn Triệu Thị (Đoan Tông) làm đế, Dương Thục phi làm Thái Hậu Tại trận Nhai Môn giữa quân Tống và quân Nguyên, Dương Thái Hậu nhảy xuống biển tự vẫn” [72, tr 32]
Sử liệu các đời cho phép chúng ta tái hiện lại bối cảnh lịch sử thời kỳ Dương Thái Hậu: Năm 1276, kinh đô Lâm An của nhà Nam Tống rơi vào tay quân đội Mông Cổ, vua nhà Tống là Tống Cung Tông bị bắt làm tù binh Dương Thục phi (phi tử của Tống Độ Tông) đưa hai hoàng tử bé là Triệu Thị, Triệu Bính chạy về phía nam qua đường biển, cùng những văn thần, võ tướng tiếp tục bất khuất chống Nguyên Lực lượng còn sót lại kéo đến Phúc Châu đã đưa Triệu Thị (tức Tống Đoan Tông), lúc này mới chỉ là một đứa trẻ 8 tuổi, lên ngôi báu, quân thần tôn Dương Thục phi là Thái Hậu, có quyền nhiếp chính Lúc bấy giờ, quân Nguyên tiếp tục đánh đuổi Tống Đoan Tông, buộc triều đình nhà Tống phải tiếp tục lênh đênh trên biển Chuyến đi
Trang 21vào ngày 8 tháng 5 năm 1278 tại trấn Mai Oa trên đảo Lạn Đầu Để duy trì nhà Tống, Dương Thái Hậu cùng các đại thần lại ủng hộ Triệu Bính (7 tuổi) làm vua, đây là Tống Đế Bính, vị vua cuối cùng của nhà Tống Cuối cùng nhà Tống thiên đô đến Nhai Sơn, Tân Hội, Giang Môn, Quảng Đông, vốn là một hải đảo bỏ hoang tương đối lớn ven biển, đây cũng là vùng có địa thế hết sức hiểm yếu, phía Đông là Nhai sơn 崖山, phía Tây là Thang Bình sơn khiến việc phòng thủ trở nên dễ dàng Tại đây, triều đình nhà Tống xây dựng hành cung 30 gian, trong đó chính điện hành cung là điện Từ Nguyên 慈元
殿, là cung điện dành cho Dương Thái Hậu và Tống Đế Bính vào triều nghị chính Bên ngoài cung điện có hơn 3000 gian nhà ở dành cho văn võ bách quan và quân đội, tất cả tổng cộng có khoảng 200 nghìn quân dân Triều đình nhà Tống tập hợp lực lượng, đóng chiến thuyền, rèn võ khí, tập luyện thủy quân, triệu tập quân dân các địa phương, chiêu binh cần vương Một hải đảo hoang vắng đã xuất hiện cảnh tượng phồn vinh trong một thời gian ngắn Nhai Sơn trở thành căn cứ địa cuối cùng của nhà Nam Tống, là nơi nhà Nam Tống đóng quân lâu nhất trong quá trình lưu vong (trong vòng 9 tháng) Vào ngày 25 tháng 2 năm 1279, lực lượng truy đuổi của nhà Nguyên tiến đánh quân Đế Bính, một trận quyết chiến lớn giữa hai bên đã diễn ra trên vùng biển ngoài khơi Nhai Môn Cuối cùng, thủy quân Nam Tống bị thua Ngày
19 tháng 3 năm 1279, ở vào thế đường cùng, Thừa tướng Lục Tú Phu ôm Tống Đế Bính mới có 8 tuổi nhảy xuống biển tự vẫn chứ không chịu rơi vào tay quân Nguyên, quần thần đều nhảy xuống theo Dương Thái Hậu biết tin
Đế Bính đã chết, cũng nhảy xuống biển tự tử Hôm sau trên biển nổi lên hơn
100 nghìn thi thể Nhà Nam Tống bị diệt vong
Bài viết “Từ N guyên tiểu khảo” của Lâm Phúc Kiệt được đăng trên Nhật
báo Giang Môn vào ngày 6 tháng 7 năm 2007 đã miêu tả về sự hi sinh cao
cả của Quốc Mẫu Dương Thái Hậu như sau: “Dương Thái hậu tên họ là
Trang 22Dương Cự Lương (1244 – 1279), sinh ngày 27 tháng 4 âm lịch năm 1244, là quý phi của Tống Độ Tông, là mẹ ruột của Tống Đoan Tông, tức Triệu Thị, khi Thị lên ngôi bà được tôn là Hoàng Thái Hậu “Từ Nguyên” là tên riêng dùng để chỉ Dương Thái Hậu “Bia miếu Từ Nguyên” 慈元庙碑 của nhà nho Trần Hiến Chương 陈献章 đã gọi Dương Thái Hậu là “Từ Nguyên Hậu” Dương Thái Hậu rất yêu thương người con ruột của mình là Triệu Thị, giúp đỡ Triệu Thị xử lý quốc gia đại sự sau khi Triệu Thị lên ngôi tại Phúc Châu vào năm 1276, sau Triệu Thị mắc bệnh qua đời, bà lại là người đã ủng
hộ Triệu Bính không phải con ruột mình lên ngôi, vẫn coi như con ruột, tận tâm dạy dỗ Đế Bính học văn và phụ trợ xử lý chính sự Nay tại miếu Từ Nguyên có bày tượng từ mẫu dạy dỗ con trai của Dương Thái hậu Tên gọi
Từ Nguyên ở đây có nghĩa là “Thiên hạ đệ nhất từ mẫu” [63]
1.2.2 Truyền thuyết về Dương Thái Hậu qua điền dã thực địa
Mặc dù trong 5000 năm lịch sử Trung Quốc, Dương Thái Hậu không phải là một nhân vật lịch sử nổi tiếng, sử sách cũng chỉ đề cập qua về Dương Thái Hậu Nhưng vùng Tân Hội, Giang Môn, Quảng Đông, nhất là ở các làng hoàng tộc, những câu chuyện lịch sử về Dương Thái Hậu được nhân dân truyền tụng từ đời này sang đời khác Ngày 30 tháng 5 năm 2011, chúng tôi đã khảo sát tại ba làng hoàng tộc là làng Quan Xung, làng Hà Lộ và làng
Từ Khê nằm xung quanh điện Mẫu, dân trong vùng còn gọi là điện Quốc Mẫu, chúng tôi phát hiện truyền thuyết Dương Thái Hậu được người dân kể
đi kể lại chủ yếu gắn bó chặt chẽ với trận hải chiến Nhai Môn giữa quân Tống và quân Nguyên 宋元崖门海战 Theo điều tra điền dã của chúng tôi, truyền thuyết về Dương Thái Hậu kể về cuộc đời của Dương Thái Hậu từ khi bà đưa hai hoàng tử bé chạy nạn sang Quảng Đông đến khi bà tự vẫn để không phải rơi vào tay quân Mông Cổ, cốt truyện gần giống như chính sử
Trang 23Tuy nhiên, truyện kể trong dân gian tràn đầy tình cảm kính mến, nhớ thương của nhân dân đối với Dương Thái Hậu Theo như lời kể của dân chúng, Dương Thái Hậu là người tài sắc, đức độ, và hiền hậu Bà ngày đêm
vì nước, vì dân, và là một người mẹ rất mực yêu thương con cái Những dị bản liên quan đến truyền thuyết về Dương Thái Hậu ngoài những truyện kể bám sát nội dung chính sử, được lưu truyền phố biến trong vùng Tân Hội, Giang Môn, Quảng Đông ra, còn một số truyền thuyết liên quan đến phong tục và cảnh vật địa phương
Trong dân gian, việc xây dựng điện Mẫu được cho là bắt đầu từ một truyền thuyết về việc Dương Thái Hậu hiển mộng Tương truyền Trần Bạch
Sa là một nhà Nho lớn nổi tiếng rất chú trọng việc ngợi ca và phát dương công tích đến những vị công thần liệt sĩ trong lịch sử Năm Hàm Hóa, ông kiến nghị tri huyện Đào Lỗ cho xây dựng đền Đại Trung tại Nhai Sơn để kỷ niệm Thừa tướng nhà Tống là Văn Thiên Tường, Lục Tú Phu và Thái phó Trương Thế Kiệt Sau đó, Trần Bạch Sa nằm mơ thấy một người đàn bà mặc quần áo trắng, đứng trước đền Đại Trung Nhai Sơn, cử chỉ trang nghiêm, than khóc mà nói: “Ta từ ngàn dặm xa xôi đến đây, cũng là vì giữ được nhà Tống, nay ta phiêu bạt không chỗ dựa, ông có thể giúp đỡ không.” Trần Bạch Sa nghe xong biết là Dương Thái Hậu, liền quì gối, chưa kịp bẩm báo, người dân bà ấy đã tiêu tan trước mắt Việc Dương Thái Hậu báo mộng khiến Trần Bạch Sa mãi không thể nào quên
Năm Hồng Trị, quan Chính sử hữu bố là Lưu Đại Hà đến Tân Hội, mời Trần Bạch Sa cùng đi Nhai Sơn thăm viếng chiến trường thời Nam Tống xưa Hai người đi thuyền đến Nhai Môn, khi đến chiến trường xưa, Trần Bạch Sa không khỏi cảm thán bi thương Lưu Đại Hà biết Trần Bạch Sa là người mang tinh thần dân tộc và là một quân tử trung nghĩa tiết liệt Để Trần Bạch Sa không phải quá sầu buồn, ông kiến nghị dừng thuyền đi lên di tích
Trang 24hành cung cổ Nhai Sơn thăm viếng Đứng trước cung điện nhà vua Nam Tống xưa, giờ đây chỉ sót lại tường long vách lở, một vùng vắng lặng, Trần Bạch Sa xúc động đọc mấy câu thơ:
Hoang sơn dã thủy vô nhân đáo,
Lạc nhật trường phong tiễn khách bi
Thiên địa cơ hội nhân biến quỷ,
Phong ba vạn lý mẫu tướng nhi
Núi sông hoang dã không người đến,
Chiều muộn, gió lạnh khiến lòng khách bi thương
Giữa đất trời bỗng nhiên người hóa thành quỷ,
Phong ba nghìn dặm mẹ làm tướng cho con.)
Những câu thơ của Trần Bạch Sa đọc lên nghe vừa thê lương vừa sầu thảm Lưu Đại Hà mới an ủi ông rằng: “Tiên sinh đừng quá đau buồn, nơi đây đã không hoang vu như xưa, đền Đại Trung do ông kiến nghị xây dựng
15 năm trước, nay chẳng phải đang đứng nguy nga trên Nhai Sơn hay sao? Nghe Lưu Đại Hà nói vậy, Trần Bạch Sa nhớ đến việc Dương Thái Hậu hiện mộng, liền trình bày tỉ mỉ cho Lưu Đại Hà nghe Lưu Đại Hà cũng tán thành xây dựng lại điện Từ Nguyên Một người đứng ra nhận việc cổ vũ, việc xây dựng này ở cấp tỉnh, một người đứng ra hô hào nhân dân trong huyện Bằng
sự nỗ lực của Trần Bạch Sa và Lưu Đại Hà và sự đóng góp tiền bạc của người dân làng Tam Giang là Triệu Tư Nhân, hậu duệ của hoàng tộc, cuối
Trang 25Dương Thái Hậu nhắn nhủ lại cho Trần Bạch Sa trong giấc mộng Từ đó miếu Từ Nguyên sừng sững ven biển Nhai Hải, bốn mùa được nhân dân thờ cúng rất đông
Còn có một truyền thuyết về Dương Thái Hậu lại liên quan đến loại cây quất là đặc sản của Tân Hội, Giang Môn Tương truyền sau khi Lục Tú Phu cõng vua bé nhảy xuống biển tự vẫn, Dương Thái Hậu cũng nhảy xuống biển chết theo con trai, Nam Tống bị tiêu vong Những người dân chài bản địa không muốn thi thể của họ trôi dạt đi nơi khác mà phải được an táng đàng hoàng tại đấy nên đã cố gắng tìm kiếm tại vùng Nhai Môn Sau đó họ tìm được thi hài của Dương Thái Hậu, vớt lên đặt trước cổng miếu Long Mẫu Những người dân làng chài nghĩ rằng, Dương Thái Hậu khi còn sống
đã hết lòng lo cho dân, vì dân mà nhiều phen vất vả, không thể để sau khi chết bà phải mặc bộ quần áo ướt Vì vậy họ cởi áo long bào của Dương Thái Hậu ra, phơi trên một cây quất trước miếu Không lâu, thân cây và cánh cây quất kia đều sinh ra đầu rồng, đuôi rồng, mắt rồng, vẩy và chân v.v… sinh động như con rồng thật Những cây quất ở nơi khác, tuy lá cây không có gì khác với cây quất ở Tân Hội, nhưng chỉ riêng thiếu “con rồng” trên thân cây
Vì vậy, người dân tại đây đã đặt một cái tên rất sang cho loại quất này là
“Triền Long Sơn Quất” Sau đó người dân xung quanh đã chặt những cành cây của loại quất này để làm thành những tẩu thuốc Tẩu thuốc tự nhiên đã
có hình dạng của một con rồng Người ta cho rằng hút thuốc bằng loại tẩu thuốc này, mùi thuốc đậm đà đặc biệt hơn rất nhiều Điều càng đáng quý là loại tẩu thuốc này còn có chức năng là lọc chất Nicotine gây hại, sử dụng thuốc lâu dài cũng không gây hại cho sức khỏe, vì vậy loại tẩu thuốc này đã trở thành báu vật rất có giá trị
Ngoài ra, người dân còn chôn cất Dương Thái Hậu rất chu đáo tại Thọ Tinh Đường, làng Quan Xung, dưới chân Nhai Sơn, họ xây tường bao bốn
Trang 26phía xung quanh ngôi mộ được đắp bằng vỏ con hàu là đặc sản địa phương Xung quanh nơi đây cây cối um tùm, núi non linh khí hội tụ, cố nhân hào khí trường tồn
Theo người dân trong làng, vào những đêm khuya yên tĩnh, thường nghe thấy có nhạc cõi tiên trong vùng Thọ Tinh Đường, kèm theo là cả những tiếng ngâm thơ, khiến cho người xúc động tâm can
Một món ăn đặc sắc trong Tân Hội, Giang Môn là món ngỗng quay Cổ Tỉnh rất ngon miệng và nổi tiếng khắp trong và ngoài tỉnh Theo truyền thuyết, món ăn này được nấu nướng dựa trên bí quyết của đầu bếp riêng của vua nhà Nam Tống Bí quyết này chỉ được “truyền cho nữ chứ không truyền cho nam”, người dân giải thích rằng: vì đầu bếp hoàng cung cảm thương những đức tính tốt đẹp của Dương Thái Hậu nên đã quyết định như vậy để thể hiện lòng thương nhớ Dương Thái Hậu
1.2.3 Nhận xét
1.2.3.1 Xu hướng chủ nghĩa ái quốc
Thông qua khảo sát truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc), chúng tôi phát hiện những truyền thuyết về Dương Thái Hậu đều nằm trong bối cảnh lịch sử là nhà Nam Tống lưu vong đến Quang Đông và cuối cùng bị tiêu diệt tại Nhai Hải, đại đa số truyền thuyết đã tái hiện lại quang cảnh thê lương của trận hải chiến Nhai Môn giữa quân Tống
và quân Nguyên, đề cao nhân vật Dương Thái Hậu, thể hiện lòng trung trinh
ái quốc theo đạo đức của Nho giáo, qua đó đề cao chủ nghĩa ái quốc và hào khí của dân tộc Trung Hoa Chính khía cảnh này đã tạo ra sức hút đối với dân chúng
1.2.3.2 Xu hướng địa phương hoá
Truyền thuyết về Dương Thái Hậu ngoài những nội dung theo sát với lịch sử, tràn đầy tinh thần dân tộc ra, còn gắn bó chặt chẽ với phong vật địa
Trang 27phương Quảng Đông Một số truyền thuyết về Dương Thái Hậu đã giải thích lai lịch của điện Mẫu là kiến trúc địa phương, cây quất Tân Hội là đặc sản địa phương và ngỗng quay Cổ Tỉnh là món ăn đặc sắc địa phương Những truyền thuyết này đã liên kết lịch sử với văn hóa địa phương rất khéo, thể hiện trí tuệ và niềm tự hào của người dân bản địa
1.2.3.3 Xu hướng thiêng hoá
Truyền thuyết về Dương Thái Hậu đã thiêng hoá nhân vật Dương Thái Hậu Dương Thái Hậu sau khi chết đã hoá thân thành thần bảo trợ cho dân, điện Mẫu thờ Dương Thái Hậu cũng được người dân coi là một nơi thờ cúng liêng thiêng nhất
1.3 Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội)
1.3.1 Một số truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương từ các bản ghi chép
ở Việt Nam
Tứ Vị Thánh Nương, như tên gọi, là để chỉ 4 vị thánh nữ, trong số đó, nhân vật chính theo truyền thuyết là mẹ của vị vua cuối cùng của nhà Tống Trung Quốc Mặc dù Tứ Vị Thánh Nương có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng được thờ ở nhiều nơi của Việt Nam Trải qua bao đời, truyền thuyết
về Tứ Vị Thánh Nương lưu truyền khá phổ biến ở các địa phương có thờ Tứ
Vị Thánh Nương và đã được các bộ sử, sách ghi chép
Tư liệu sớm nhất có ghi chép về Tứ Vị Thánh Nương là Đại Việt sử ký
toàn thư: “Hưng Long thứ 19 (1311), mùa đông, tháng 12, vua thân đi đánh
Chiêm Thành vì chúa nước ấy là Chế Chí phản trắc Hưng Long thứ 20 (1312), mùa hạ, tháng 5, dụ bắt được chúa Chiêm Thành Chế Chí đem về Tháng 6, vua từ Chiêm Thành về (đến kinh đô) lập đền thờ thần ở cửa biển Cần Hải Trước đây, vua đi đánh Chiêm Thành, đến cửa biển Cần Hải (trước
là Càn, tránh tên húy đổi là Cần) đóng quân lại, đêm mơ thấy một thần nữ khóc lóc nói với vua:“Thiếp là cung phi nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách,
Trang 28gặp phải sóng gió, trôi giạt đến đây Thượng đế phong thiếp làm thần biển đã lâu Nay bệ hạ mang quân đi, thiếp xin giúp đỡ lập công” Tỉnh dậy, vua cho gọi các bô lão tới hỏi sự thực, cho tế, rồi lên đường Biển vì thế không nổi sóng Quân nhà vua tiến thẳng tới thành Đồ Bàn, bắt được chúa Chiêm đem
về Đến nay, sai hữu ty lập đền, bốn mùa cúng tế” [23, tr 44]
“Cần Hải môn từ” trong Tục biên Việt điện u linh của Nguyễn Văn Chất
(1422-?) viết: “Phu nhân họ Triệu, là công chúa nước Nam Tống, tất cả 3 mẹ con, phu nhân là con gái út Trong năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279) đời Trần Nhân Tông, bên Trung Quốc, Trương Hoàng Phạm đem quân đánh úp quân Tống ở Nhai Sơn, quân Tống bị tan vỡ, quan tả tướng là Lục Tứ Phu ôm vua
Đế Bính cùng nhảy xuống bể, tướng sĩ nhà Tống chết dưới bể có tới hơn 10 vạn người Ba mẹ con phu nhân, ôm lấy một cột buồm một chiếc thuyền, trôi dạt đến một cái chùa bé ở bờ bể Sư chùa thương bèn cho mẹ con vào chùa ở
và nuôi cho ăn Được mấy tháng mẹ con khi đã lại sức trở nên béo tốt, vẻ mặt phu nhân coi tuyệt đẹp, sư động lòng muốn tư thông, bị phu nhân cự tuyệt, sư xấu hổ quá gieo mình xuống bể chết Mẹ con phu nhân cùng nhau khóc rằng: “Chúng ta vì sư mà được sống nay sư vì chúng ta mà phải chết, sao nỡ yên tâm” Rồi 3 mẹ con cùng đâm đầu xuống bể chết cả, xác trôi đến cửa Càn Hải thuộc huyện Quỳnh Lưu, phủ Diễn Châu nước ta, vẻ mặt vẫn còn tươi như lúc còn sống Thổ dân lấy làm lạ, vớt lên táng, thấy rất hiển linh mới lập đền thờ Phàm những thuyền đi bể, gặp khi sóng gió nguy hiểm, kêu cầu đều được thoát nạn Sau, các nơi cửa bể đều lập đền thờ, đền nào
cũng có tiếng thiêng” [51, tr 117] Như thế nếu trong Đại Việt sử ký toàn
thư, số lượng chỉ mới có một người thì đến đây thì số lượng các nhân vật đã
là ba, gồm có Hoàng hậu và hai công chúa
Sách Lĩnh Nam chích quái, có chép truyện về thần Càn Hải, tóm tắt:
"Truyện mẹ con công chúa nhà Nam Tống vì trinh liệt mà chết, được phong
Trang 29thần ở núi Nam Hải (tức sự tích Bà Chúa Tầu ở đền thờ phố Sinh Từ ngày nay)” [25, tr 120]
Từ thế kỷ XVI, không hiểu căn cứ vào đâu, trong sách Ô Châu cận lục,
Dương Văn An đã ghép vào truyện thần cửa Cờn nhiều chi tiết, trong đó đặc biệt lưu ý là, với tác giả, thần cửa Càn là con gái út trong nhóm nạn nhân 4 người của nhà Triệu Tống Vậy là thần cửa Cờn đã tăng thêm 1 người Về sau nhiều sách sử đã căn cứ vào tác phẩm này, chép lại rằng, Tứ Vị Thánh Nương thờ ở đền Cờn Nghệ An là 4 mẹ con Hoàng hậu nhà Tống Đáng chú
ý là, trong Ô Châu cận lục, còn có thêm một truyền thuyết khác về các vị
thần này, tổng số vẫn là 4 người nhưng nhân thân của từng nhóm lại hoàn toàn khác: Họ là Hoàng hậu thứ 13 của Hùng Vương cùng với hai công chúa
và một hoàng tử (do bị thứ thiếp ghen ghét, hoàng tử đã bị cắt dương vật lúc mới sinh, vua đày ba mẹ con ra biển, bị dạt vào cửa Cờn Thượng đế cho làm thần Ngư dân nằm mộng thấy thần hiển linh cho đánh nhiều cá nên lập đền thờ
Con số bốn lại tiếp tục xuất hiện ở Đại Nam nhất thống chí (bộ sách 28
tập được biên soạn từ năm 1864 – 1875, bản thảo được hoàn thành 1882)
Đại Nam nhất thống chí chép: “Khoảng niên hiệu Tường Hưng nhà Tống,
quân Tống bị quân Nguyên đánh vỡ ở Nhai Sơn, Thái hậu họ Dương cùng
ba công chúa chạy ra biển, chợt bão nổi, bị chết đuối, xác trôi dạt vào đền Cờn, nhan sắc vẫn như lúc sống, người địa phương lập đền thờ” [8, tr 166]
Các tác giả sách Địa chí Quảng Ninh dựa vào Đại Nam nhất thống chí
nhưng lại cho rằng, Tứ Vị gồm Hoàng hậu, hai công chúa và một nhũ mẫu Trong bài “Tìm hiểu sự hình thành truyền thuyết Tứ Vị Thánh nương (qua các nguồn thư tịch, truyền thuyết dân gian và tục thờ cúng), Phó giáo
sư, tiến sĩ Trần Thị An thông qua khảo sát các truyền thuyết có được qua các nguồn thư tịch và tài liệu điền dã, đã nêu ra nhận xét: “các bản kể có chung
Trang 30một điểm tương đồng là: các nhân vật chính của câu chuyện đều là nữ, liên quan đến cung đình nhà Tống (hoàng hậu, công chúa, thị nữ), họ đã đi bằng đường biển vào Việt Nam sau khi nhà Tống thất thủ” [4, tr 60]
Nhận xét: Thông qua hệ thống một số truyền thuyết cơ bản liên quan đến Tứ Vị Thánh Nương, chúng ta được biết các văn bản chưa thống nhất về con số và nhân thân của nhân vật, có văn bản hiểu Tứ Vị Thánh Nương là một “cung phi nhà Triệu Tống”, có văn bản hiểu là “Hoàng hậu, hai công chúa và một nhũ mẫu”… Đến nay, dị bản truyền thuyết được phổ biến rộng rãi nhất nghiêng về quan điểm Tứ Vị Thánh Nương là 4 mẹ con Hoàng hậu nhà Tống
1.3.2 Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội)
Đền Lộ, một danh thắng bao đời ở châu thổ Bắc Bộ mà người dân ở đây không phải sinh sống bằng nghề biển lại thờ Tứ Vị Thánh Nương – những vị thần nữ gốc tích người Trung Quốc, lại là thần biển lưu lạc từ phương Bắc
xa xôi tới Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương tại vùng Lộ cũng được truyền bá rộng rãi
“Ngọc phả bốn vị Thánh Nương Nam Hải Đại Càn Quốc gia (thờ phụng
ở xã Đại Lộ)” cho biết: “Tôn thần là bà thục phi của vua Độ Tông nhà Tống
Bà họ Triệu tên là Đoan, lúc sinh thời là người có tư sắc, lại đủ cả tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh Đến khi Đế Bính lên ngôi vua, quân Nguyên kéo đến xâm lược, Tống thừa tướng Lục Tú Phu cùng với tướng quân Trương Thế Kiệt phò vua và thái hậu vượt bể chạy đến Nhai Sơn Tướng nhà Nguyên là Hoằng Phạm đem quân đến đánh tan quân Tống Lục Tú Phu cõng vua nhảy xuống biển chết Trương Thế Kiệt chạy sang An Nam, bấy giờ thuyền bè đi qua biển cả gặp bão táp dữ dội, thuyền đều đắm vỡ chết cả Thái hậu cùng ba vị công chúa đi thuyền chạy xuống phía nam, nghe tin thuyền vua bị đắm, liền đấm ngực than rằng: “Ta liều chết lặn lội đến đây,
Trang 31hóa ra chỉ còn là cục thịt của họ Triệu Nay chẳng còn hy vọng gì nữa” Thế rồi bà hướng về phía Bắc bái vọng, than khóc một hồi rồi nhảy xuống biển
tự tử Bấy giờ là ngày 12 tháng 6 Thi thể của bà trôi theo dòng nước đến địa phận đất Hoan Châu, mặt mũi vẫn xinh tươi như khi còn sống Dân đia phương hết sức kinh dị, liền vớt lên bờ Chỉ trong chốc lát, mối đùn lên thành ngôi mộ lớn, dân địa phương bèn lập đền thờ phụng
Ngài thung dung giữ tròn khí tiết như thế, thật xứng đáng được trời xanh đền báo Năm ấy là năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279), nhà Tống mất nước, có một ngôi sao lớn rơi xuống giữa biển, ứng điềm thuyền ngự bồng bềnh ở phương Nam
Năm Hưng Long thứ 19 (1311) đời Trần Anh Tông, nhà vua cầm quân
đi xuống phía nam chinh phạt Chiêm Thành thuyền bè dừng lại ở cửa Càn Hải Đêm ấy nhà vua nằm mơ thấy một nữ thần đi đến trước mặt khóc lóc nói rằng: “Thiếp là thục phi của vua Tống, bị sóng gió mà gặp nạn ở đây Nay Thượng đế ngợi khen khí tiết, sắc phong cho thiếp làm Hải thần ở đây
đã lâu Chuyến đi này, xin được trợ giúp Thánh thượng lập công” Nhà vua giật mình tỉnh giấc, bèn đặt bàn tế lễ Sau đó đưa quân đi ra biển, sóng yên gió lặng, quân ta đánh một trận là thắng lớn Đến khi khải hoàn, nhà vua liền phong tặng mỹ tự, sai quan hữu ty lập đền thờ phụng Hàng năm tùy thời cho quan đến tế lễ
Năm Hồng Đức thứ nhất (1470) đời Lê Thánh Tông, nước Chiêm Thành đem quân đến xâm lấn nhà vua tự mình làm tướng, đem quân đi đánh giặc Khi đến cửa Càn Hải, nhà vua đến linh từ làm lễ, cầu khấn thần linh phò giúp quan quân Nhà vua làm thơ, có câu rằng:
Hương hỏa còn truyền đền Thánh Mẫu
Sóng xô thức tỉnh giấc Anh Tông
Trang 32Quan quân đóng lại ở thành Thuận Hóa rồi đi ra biển diễn tập quân thủy, tiếp đó tiến thẳng vào kinh đô Đồ Bàn, phá tan quân giặc, mở mang bờ cõi, lấy đất Chiêm Thành đặt làm xứ Quảng Nam gồm 3 phủ Quân đội nhà vua chiến thắng trở về, liền tôn xưng là Quốc Mẫu Bà Vương, ban sắc cho các vùng cửa biển tùy nghi xây dựng đền thờ để phùng thờ ngài
Đời sau, phàm những ai đi thuyền qua biển, chẳng may gặp gió to sóng
cả nguy cấp, mà thành tâm cầu đảo, thì sẽ được bình an Ngài là phúc thần tối linh ở vùng Nam Hải các đời đều phong tặng, ghi trong điển lễ thờ cúng Các đền ở Hải môn của Nghệ An, Thần Phù và Biên Nam của Thanh Hóa, Quần Anh và Ninh Cường của Sơn Nam là những đền linh thiêng nhất vùng ven biển
Lại nữa, tục truyền có vị sư tăng vớt thái hậu lên có ý muốn tư thông với
bà, song không được thỏa, sau hối hận tự tử chết Điều đó là sai lắm”
Hiển nhiên, văn bản truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương được giữ ở đền Lộ cũng đã coi bốn vị thần biển này có gốc tích từ đền Cờn ở Nghệ An
Kỷ niệm bi ký khắc ngày 9 tháng 5 năm Bảo Đại 12 (1937) đã cho biết cơ duyên để Tứ Vị Thánh Nương có một vị trí trong tâm thức người dân vùng Lộ: “Tương truyền rằng, vào cuối đời nhà Trần, khi ấy nước sông Nhị Hà lên to, bỗng nhiên có bốn cái nồi úp dưới cái nón trôi dạt vào bên bờ sông thuộc bản xã, khiến bản xã không được yên ổn Giữa lúc đó có vị thần báo mộng, phải lập ngay đền thờ, thì mới được yên Dân trong xã thấy vậy bèn dựng ngay ngôi đền thờ ở đây”
Theo điền dã ngày 8 tháng 5 năm 2011 của chúng tôi, thông qua phỏng vấn các cụ già sống ở vùng Lộ, được biết thêm một số tình tiết phong phú, sinh động hơn được dân làng truyền miệng từ đời này sang đời khác Cụ Hoàng Quốc Luật (72 tuổi) là người trông coi đền Quan Đại Lộ đã kể:
“Ngày xưa chuẩn bị vỡ đê, nhà vua lập đàn làm lễ để xin hộ đê không bị vỡ,
Trang 33dân làng cũng đi cứu đê, bỗng thấy có 2 con rắn trắng nổi lên trong sông, đồng thời có bốn cái nón trôi vào, trong bốn cái nón có bốn cái niêu đất, bốn cái bát và bốn đôi đũa, không chìm, không trôi theo dòng nước mà cứ quẩn lại, ngăn được nước, nước lũ giảm dần, dân mới đắp lại đê khỏi lụt Đây là hiện tượng vong linh của Tứ Vị Thánh Nương, dân làng thấy thế lập đền thờ
và làm lễ cầu nguyện Sau đó, nhà vua hàng năm đi đánh giặc sau cũng về đây cầu khẩn, rất liêng thiêng, nhà vua phong cho các sắc phong từng thời một ”
1.3.3 Nhận xét
Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở Việt Nam đã chỉ rõ lai lịch của bốn vị thần Dù là thần gốc tích Trung Quốc, nhưng uy linh của thần hiện diện ở một số nơi vùng Trung, Bắc bộ Việt Nam Các truyền thuyết được lưu truyền ở các vùng, trong đó có truyền thuyết ở đền Lộ Hà Nội đều thừa nhận đền Cờn ở Nghệ An là nơi phát tích và Tứ Vị Thánh Nương là thần biển ở Việt Nam Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ là truyền thuyết được lưu truyền từ Nghệ An đến
Với ngọc phả, các nhà Nho ghi chép sự tích Tứ Vị Thánh Nương ở đền
Lộ, chi tiết ông sư tà tâm đã bị coi là sai lắm, ở đây các nhà Nho đã nhuận sắc lại truyền thuyết dân gian trước đây theo quan điểm, đạo đức của Nho giáo
Để Tứ Vị Thánh Nương có thể đứng chân vững chắc ở vùng đất mới, người dân bản địa đã sáng tạo, bổ sung thêm một số truyền thuyết mang tính địa phương, Tứ Vị Thánh Nương với chức năng là vị thần phù trợ cho người
đi biển nay thêm chức năng là vị thần phù trợ cho cư dân nông nghiệp đắp
đê chống lũ lụt, một công việc hệ trọng của người nông dân Bắc Bộ, như vậy, câu chuyện Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ đã mở rộng không gian liêng
Trang 34thiêng của Tứ Vị Thánh Nương từ Nghệ An đến vùng sông Hồng châu thổ Bắc Bộ
1.4 Một số tương đồng và khác biệt giữa truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) với truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc)
1.4.1 Một số tương đồng giữa truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) với truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc)
1.4.1.1 Bối cảnh lịch sử
Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) và truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) đều bắt nguồn từ sự kiện lịch sử Nam Tống bị diệt vong, Thái Hậu nhảy xuống biển
tự vẫn, lấy sự kiện này làm cốt lõi để hư cấu
1.4.1.2 Nhân vật trung tâm
Nhân vật chính trong truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) và trong truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) đều lấy nguyên mẫu là Thái Hậu cuối đời nhà Nam Tống – mẹ của Tống Đế Bính làm cốt lõi để xây dựng nhân vật
1.4.1.3 Tính dân tộc
Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) và truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) đều mang tính dân tộc đậm đặc Chủ nghĩa ái quốc và tinh thần dân tộc được ca ngợi trong truyền thuyết về Dương Thái Hậu cũng được thể hiện trong truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương Sở dĩ Tứ Vị Thánh Nương là thần nước ngoài vẫn được dân chúng Việt Nam thờ phụng, ngưỡng kính, được các triều đại Việt Nam phong tặng sắc phong, coi là Thượng đẳng thần là vì nhân vật lịch sử của Trung Quốc này có khí tiết đáng trân trọng và cái chết bi tráng
Trang 35của Thái Hậu đã thể hiện một nền tảng đạo đức phù hợp với bản chất và truyền thống nhân văn của dân tộc Việt
1.4.1.4 Tính địa phương
Trong những truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) và truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) bao gồm những chi tiết liên quan đến tập tục, phong vật địa phương Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ đã giải thích nguồn gốc tục thờ Tứ
Vị Thánh Nương ở đền Lộ, sự trợ giúp của các vị thần trong đắp đê chống lũ lụt sông Hồng, bảo vệ mùa màng; truyền thuyết về Dương Thái Hậu cũng giải thích lai lịch của Điện Mẫu, đặc điểm của đặc sản bản địa là cây quất Tân Hội và món ăn đặc sắc bản địa là ngỗng quay Cổ Tỉnh Những truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ và truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu đều đã thể hiện tình cảm đằm thắm của người dân đối với quê hương mình, đã nhấn mạnh sự đồng cảm trong văn hóa dân tộc
1.4.2 Một số khác biệt giữa truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) với truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc)
1.4.2.1 Số lượng nhân vật và nhân thân của họ
Hiển nhiên, trong truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu, số lượng thần linh chỉ có duy nhất một vị chính là Dương Thái Hậu, còn truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ thì có bốn vị thần, là Thái Hậu họ Triệu tên là Đoan cùng ba vị công chúa Như trên đã nhắc đến, truyền thuyết này ở bên Việt Nam cũng không phải ngay từ đầu đã có bốn vị thần, trong
Đại Việt sử ký toàn thư, số lượng nhân vật chỉ có một, sau đó dần dần diễn
biến thành ba, hiện nay đã ổn định là “tứ vị”
Trang 361.4.2.2 Cốt truyện
Truyền thuyết Dương Thái Hậu chịu ảnh hưởng của thần tích, thần sắc
kể về cuộc đời của Dương Thái Hậu trong thời kỳ từ Nam Tống chạy nạn sang Quảng Đông đến Nam Tống bị diệt vong tại Nhai Hải Truyền thuyết
về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ cũng nhắc đến thời kỳ lịch sử này, nhưng chỉ là để chỉ rõ lai lịch của Tứ Vị Thánh Nương Truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương chủ yếu kể về những việc sau sự kiện lịch sử này, tức kể về những chuyện sau khi Dương Thái Hậu chết, nói về sự hiển linh của các vị nữ thần đối với một số việc của vua chúa và người dân ở Việt Nam
“ngôi sao lớn rơi xuống biển”, chi tiết “âm phù Trần Anh Tông, Lê Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành”, chi tiết “phù hộ cho ngư dân và lữ khách”, chi tiết “phù hộ người dân vùng đền Lộ đắp đê trị thủy”
Truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ đối sánh với truyền thuyết
về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu, tình tiết đa dạng, phong phú hơn, yếu tố thần kỳ, yếu tố tưởng tượng nhiều hơn, các chi tiết được lắp ghép, xâu chuỗi thành một câu chuyện có đầu, có đuôi mang đặc điểm văn hóa Việt
Trang 371.4.2.4 Danh hiệu và chức năng của thần
Trong truyền thuyết về Dương Thái Hậu, Dương Thái Hậu sau khi hy sinh được người dân tôn sùng là “Quốc Mẫu”, là một vị thần đa chức năng,
có thể cai quản tất cả mọi việc của cõi trần, âm phù Quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đình hạnh phúc, làm ăn phát đạt… dân muốn cầu khẩn gì đều có thể cầu khẩn bà Với danh hiệu là “Tứ Vị Thánh Nương”, theo truyền thuyết ở đền Lộ, các vị thần này vốn là thần biển, sau đó đã mở rộng uy thế đến vùng sông Hồng Bắc Bộ, phát huy chức năng của thủy thần, âm phù người dân cứu đê trị thủy
1.4.2.5 Chủ đề và tư tưởng
Chủ đề của truyền thuyết Dương Thái Hậu ở điện Mẫu là Dương Thái Hậu hy sinh vì nước, chủ đề của truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền
Lộ thì đã thay đổi hẳn là: Thần biển hiển linh trị thủy
Tư tưởng được phản ánh trong truyền thuyết về Dương Thái Hậu là hoài niệm đau xót về sự bại vong của vương triều, niềm nhớ tiếc quá khứ trong lòng của người dân đối với Dương Thái Hậu, đồng thời truyền thuyết về Dương Thái Hậu ca ngợi tinh thần trung quân báo quốc, thể hiện chủ nghĩa
ái quốc và tinh thần dân tộc, phản ánh niềm tự hào của dân tộc, của địa phương Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ dù cũng có thể hiện đồng cảm dân tộc về tư tưởng trung quân báo quốc, nhưng truyền thuyết được hình thành ở một vùng đất xa nơi xảy ra sự kiện lịch sử, với một môi trường chính trị khác, đã dần dần trở thành công cụ cho giai cấp phong kiến thống trị Việt Nam Như trên đã nói, giai cấp phong kiến Việt Nam trong quá trình thực hiện hoạt động nam chinh đã có được sự phù trợ từ những vị thần linh Trung Quốc và đề cao uy quyền nhà vua ban phong xếp hạng các
vị thần phù trợ cho nhà nước phong kiến Vì vậy, truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ đã gửi gắm tư tưởng và mục đích của giai cấp thống trị
Trang 38phong kiến Còn với người dân, họ không quan tâm nhiều lắm, nếu có thì, họ cũng đã quên xuất thân, gốc gác của vị thần đó là Việt hay Hoa từ rất lâu rồi Với họ, vị thần nào họ cho là liêng thiêng thì họ gửi gắm niềm tin vào sự âm phù đó và họ sẽ ngưỡng mộ, chiêm bái và thờ phụng Vì vậy, truyền thuyết
Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ không những phản ánh tư tưởng của giai cấp phong kiến thống trị của Việt Nam, mà còn phản ánh quan niệm của người dân về thế giới tâm linh trong quan hệ với cuộc sống thực tiễn của người dân Đồng thời cũng có thể nói, đối sánh với truyền thuyết về Dương Thái Hậu, truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương mang tính công lợi rõ rệt hơn 1.4.3 Nhận xét
Mặc dù thời gian ra đời khái niệm truyền thuyết Việt Nam và Trung Quốc khác nhau, cách tiếp nhận về thể loại truyền thuyết của giới nghiên cứu hai nước Trung Quốc và Việt Nam cơ bản là tương đồng Họ đều nhấn mạnh truyền thuyết bám sát với lịch sử, đồng thời mang yếu tố hư cấu, thần
kì Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) và truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) đều thể hiện đặc trưng thể loại truyền thuyết
Thông qua so sánh truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) với truyền thuyết về Dương Thái Hậu ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc), chúng tôi thấy mặc dù đã trải qua bao đời, truyền thuyết Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ vẫn giữ được rất nhiều yếu tố cội nguồn cho chúng ta biết được nguồn gốc truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (Hà Nội) xuất phát từ Trung Quốc, cùng nguồn với truyền thuyết về Dương Thái Hậu
ở điện Mẫu (Tân Hội, Trung Quốc) Tuy nhiên, theo sự thay đổi của thời gian và không gian, truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ (nơi thờ phát sinh) đã trải qua nhiều biến thiên, đã chồng chất lên nó nhiều lớp văn
Trang 39hóa khác nhau và có thêm các chức năng mới, đáp ứng nhu cầu của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ
Truyền thuyết từ Trung Quốc được truyền bá sang Việt Nam chủ yếu bằng phương thức truyền miệng, vậy nên những truyền thuyết đó thực sự khó tránh khỏi sẽ bị biến đổi, vì vậy khác biệt của số lượng và nhân thân của nhân vật trong những truyền thuyết này là chuyện bình thường thể hiện tính
dị bản của văn học dân gian
Có thể nói “Quốc Mẫu” diễn biến thành “thần biển, thần nước”, đã tạo nên một điểm khác biệt nổi bật nhất giữa truyền thuyết về Dương Thái Hậu
ở điện Mẫu và truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương ở đền Lộ Trong tâm thức người dân vùng Quảng Đông, Trung Quốc, Dương Thái Hậu là một vị Hoàng hậu có nhiều đức tính cao cả, là mẹ của vua, là “Nhất Quốc Chi Mẫu”, vì vậy bà có một vị trí tối cao trong lòng dân Người dân coi bà là một
vị nữ thần tôn nghiêm, tối cao và thiêng liêng nhất Tứ Vị Thánh Nương với
tư cách là Hoàng hậu và ba công chúa của Trung Quốc, khi sang đến Việt Nam ắt hẳn không thể nào trở thành thần linh có thần quyền tối cao như ở bên Trung Quốc
Truyền thuyết về Dương Thái Hậu và truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương đều hướng tới xu hướng địa phương hóa Ở vùng Tân Hội, lai lịch điện Mẫu, cây quất đặc sản bản địa và ngỗng quay Cổ Tỉnh đều gắn với truyền thuyết Dương Thái Hậu Truyền thuyết về Tứ Vị Thánh Nương thì thông qua càng nhiều tình tiết hết sức phong phú, ly kỳ, hấp dẫn như sự xuất hiện con rắn trắng, những vật thờ Tứ Vị Thánh Nương trong cuộc cứu đê trị thủy của dân làng Đại Lộ chứng tỏ tiến trình địa phương hóa, bản địa hóa của truyền thuyết
Trang 40CHƯƠNG 2 LỄ HỘI VỀ TỨ VỊ THÁNH NƯƠNG Ở ĐỀN LỘ (HÀ NỘI) QUA ĐỐI SÁNH VỚI LỄ HỘI VỀ DƯƠNG THÁI HẬU Ở ĐIỆN
MẪU (TÂN HỘI, TRUNG QUỐC)
2.1 Khái niệm lễ hội
2.1.1 Khái niệm lễ hội theo học giả Việt Nam
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến ở Việt Nam
Nó ra đời từ rất sớm và đã tồn tại, phát triển qua nhiều thời đại
Tuy vậy, cho đến nay cái tên gọi đích thực của nó vẫn chưa được các nhà nghiên cứu định danh một cách thống nhất Người này gọi là “lễ hội”; người kia gọi là “hội lễ” Có người lại gọi là “hội hè” hay “hội hè đình dám” v.v… Giới nghiên cứu lễ hội ở Việt Nam từ những năm 90 của thế kỉ trước đã đưa vào trong các công trình nghiên cứu của họ hai thuật ngữ “lễ hội” và
“hội lễ” Năm 1993, tại Hà Nội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại”, có 34 bài phát biểu và báo cáo khoa học trình bày tại hội thảo này Phát biểu tổng kết Hội thảo, GS.PTS Lê Hữu Tầng gói lại vấn đề trên:
“Các đại biểu đã đề cập đến nhiều yếu tố khác nhau cấu thành hội lễ, trong
đó đặc biệt nhấn mạnh đến hai yếu tố cơ bản của nó là hội và lễ Nhưng hội
là chính hay lễ là chính? Một số học giả cho rằng hội là chính Số khác cho rằng lễ là chính Người coi hội là chính thì khẳng định phải gọi là hiện tượng đang được xét là hội lễ mới đúng Người coi lễ là chính lại khẳng định ngược lại: phải gọi nó là lễ hội mới đúng Cũng có ý kiến cho rằng lễ và hội
là hai yếu tố giữ hai trò then chốt, tạo nên cốt lõi của hội lễ Thiếu một trong hai yếu tố đó thì hội lễ sẽ không còn là hội lễ nữa Vì vậy, có thể gọi nó là
hội lễ hay lễ hội đều được…” [24, tr 297] Sau Hội thảo này, phần nhiều các
bài viết thiên về cách gọi là lễ hội