Phải đổi mới, phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá – đó là một quy luật tất yếu, nhưng đồng thời phải giữ được bản sắc và truyền thống tốt đẹp của nền văn hoá dân tộc, văn hoá làng quê – đ
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-
NGUYỄN THỊ NHƯ NGUYỆT
VĂN HÓA LÀNG QUẢNG XÁ:
TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Việt Nam học
HÀ NỘI, 2011
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-
NGUYỄN THỊ NHƯ NGUYỆT
VĂN HÓA LÀNG QUẢNG XÁ:
TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
Mã số: 60 31 60
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Ngô Đức Thịnh
HÀ NỘI, 2011
Trang 34
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Mục đích nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc của luận văn 9
NỘI DUNG Chương 1 Tổng quan về làng Quảng Xá 10
1.1 Điều kiện tự nhiên 10
1.1.1 Vị trí địa lý 10
1.1.2 Địa hình 11
1.1.3 Khí hậu 13
1.1.4 Sông ngòi 14
1.2 Lịch sử lập làng 15
1.3 Đời sống kinh tế 18
1.3.1 Quan hệ ruộng đất 18
1.3.2 Sản xuất nông nghiệp 19
1.3.3 Thủ công nghiệp 20
1.3.4 Thương nghiệp 21
1.4 Thiết chế xã hội và quan hệ xã hội 22
1.5 Con người và truyền thống đấu tranh cách mạng của làng Quảng Xá 25
1.5.1 Con người ở làng Quảng Xá 25
Trang 45
1.5.2 Truyền thống đấu tranh cách mạng của làng Quảng Xá 27
Tiểu kết 30
Chương 2 Văn hóa vật chất làng Quảng Xá 31
2.1 Văn hóa ẩm thực 31
2.1.1 Ăn 31
2.1.2 Uống 37
2.2 Văn hóa y phục, đồ gia dụng 39
2.2.1 Y phục 39
2.2.2 Đồ gia dụng 40
2.3 Văn hóa trong kiến trúc – xây dựng , 41
2.3.1 Đình, chùa, miếu, điện, nhà thờ họ 41
2.3.2 Nhà ở 44
2.3.3 Đường làng, giếng làng, ao làng 46
Tiểu kết 50
Chương 3 Văn hóa tinh thần làng Quảng Xá 51
3.1 Tín ngưỡng và tôn giáo 51
3.1.1 Tín ngưỡng 51
3.1.2 Tôn giáo 53
3.2 Các phong tục tập quán 54
3.2.1 Phong tục trong ngày Tết Nguyên Đán 54
3.2.2 Phong tục trong hôn nhân – gia đình 55
3.2.3 Phong tục trong tang chế 59
3.3 Lễ hội và các trò chơi dân gian 60
3.3.1 Lễ hội cúng Thành hoàng và các bậc khai canh khải cư ở làng Quảng Xá 60
3.3.2 Lễ hội ngày Tết 64
3.3.3 Một số lễ hội khác 68
3.4 Văn nghệ dân gian, văn học dân gian 70
3.4.1 Các dạng sinh hoạt văn nghệ dân gian truyền thống 70
Trang 56
3.4.2 Kho tàng ca dao, tục ngữ 75
3.5 Truyền thống học tập và khoa bảng 78
3.6 Văn hóa gia đình – dòng họ 81
Tiểu kết 85
Chương 4 Một số vấn đề về xây dựng làng văn hóa ở Quảng Xá hiện nay…87 4.1 Mối quan hệ giữa văn hóa làng và xây dựng làng văn hóa 87
4.2 Những điều được và chưa được trong xây dựng làng văn hóa ở Quảng Xá 90
4.2.1 Những điều được 90
4.2.2 Những điều chưa được 95
4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình xây dựng làng văn hóa ở Quảng Xá 100
4.4 Phương hướng, giải pháp đẩy mạnh công tác xây dựng làng văn hoá ở Quảng Xá hiện nay 102
4.4.1 Phương hướng 102
4.4.2 Giải pháp 105
4.4.3 Một số kiến nghị 109
Tiểu kết 111
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC……… 1-39 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Khả năng biết thể hiện các loại hình truyền thống của làng… 91 Bảng 4.2:Thái độ của người làng đối với phong trào xây dựng làng
Trang 67
văn hoá ở Quảng Xá……….91
Bảng 4.3: Các thói hư tật xấu……… 96 Bảng 4.4: Những biểu hiện mới trong văn hoá hiện nay ở làng Quảng
Xá……….… 97
Trang 7Ngày nay, trước “cơn lốc” đô thị hoá, làng xã và văn hoá làng xã đang ở một giai đoạn thử thách quyết liệt: truyền thống và đổi mới, dân tộc và hiện đại, quốc gia và dân tộc Phải đổi mới, phải công nghiệp hoá, hiện đại hoá – đó là một quy luật tất yếu, nhưng đồng thời phải giữ được bản sắc và truyền thống tốt đẹp của nền văn hoá dân tộc, văn hoá làng quê – đó là thách thức rất lớn đối với các làng quê Việt Nam hiện nay, trong đó có làng Quảng Xá, xã Tân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
Quảng Xá được mệnh danh là “làng đọc sách”, “làng nhạc sỹ”, “làng dạy
học”, “làng ca Huế” Tuy không nằm trong “bát danh hương” của Quảng Bình
nhưng Quảng Xá cũng là một trong những làng nổi tiếng về lịch sử cách mạng
cũng như văn hoá truyền thống Trong xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hình
ảnh làng quê Quảng Xá đang dần biến đổi Không gian làng thay đổi dẫn đến nếp làng, văn hoá làng cùng những phong tục, tập quán cũng không còn nguyên vẹn
Do đó, nghiên cứu và tìm hiểu về các giá trị văn hoá truyền thống cũng như những yếu tố hiện đại trong phát triển văn hóa làng Quảng Xá theo hướng tiếp cận khu vực học là điều cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn Từ đó đưa ra giải pháp hài hoà giữa bảo tồn và phát triển trong xây dựng làng văn hoá Quảng Xá nói riêng, các làng quê Việt Nam nói chung như tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung Ương Đảng (khoá VIII) tháng 7 năm 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 89
Là một giảng viên tham gia đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học ở trường Đại học Quảng Bình và với trách nhiệm một người con của quê hương, tôi quyết
định chọn “Văn hoá làng Quảng Xá: truyền thống và hiện đại” làm luận văn
nghiên cứu của mình với mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu, lưu giữ, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống làng Việt cổ truyền ở vùng đất này Đồng thời
đó cũng là cơ sở quan trọng để bổ sung vào nguồn tư liệu văn hoá địa phương, phục vụ giảng dạy và học tập của các trường ở Quảng Bình hiện nay cũng như sự cần thiết để giới thiệu với khách du lịch khi đến với văn hoá Việt Nam, đến với văn hoá Quảng Bình – vùng đất đầy nắng, cát và gió lào khắc nghiệt
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Truyền thống, hiện đại và mối quan hệ giữa chúng trong văn hoá Việt Nam đang là đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu, nhất là trong bối cảnh có nhiều biến động về văn hoá Việt Nam hiện nay Là đề tài không hoàn toàn mới mẻ nhưng không bao giờ cũ vì trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu về vấn đề này của các làng xã trên đất nước ta, phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước Đáng chú ý là các công trình mang tính lý
luận chung như: Một số vấn đề làng xã Việt Nam (2009) và Làng xã Việt Nam -
truyền thống và hiện đại của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (người được mệnh danh
là “nhà Sử học của làng quê”); Văn hoá Việt Nam – truyền thống và hiện đại của
Lê Huy Hoà, Hoàng Đức Nhuận (tuyển chọn và giới thiệu); Cuộc sống hiện đại và
văn hoá cội nguồn của Phan Khanh; Đến hiện đại từ truyền thống của Trần Đình
Hượu; Văn hoá và thời đại của Nguyễn Chí Tình; Trang phục Việt Nam từ truyền
thống đến hiện đại của Nguyễn Thu Phương; Biến đổi văn hoá ở các làng quê hiện nay của TS Nguyễn Thị Phương Châm; Văn hoá và đổi mới của Phạm Văn Đồng; Một số giá trị văn hoá truyền thống với đời sống văn hoá ở cơ sở nông thôn hiện nay của Phạm Việt Long; Văn hoá Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá - thời cơ
và thách thức của PGS.TS Thành Duy; Con người và văn hoá Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới và hội nhập của Nguyễn Văn Dân
Trang 910
Ngoài ra là các công trình có tính trường hợp điển hình ở một số làng xã cụ
thể như: Văn hoá làng Tiên Điền - truyền thống và hiện đại của PTS Nguyễn Quốc Phẩm; Hoàng Liệt – truyền thống và hiện đại của PGS.TS Nguyễn Văn Khánh;
Văn hoá làng và làng văn hoá xứ Thanh của Hoàng Anh Nhân; Xây dựng làng văn hoá ở huyện Hải Hậu – Nam Định trong thời kỳ đổi mới của Trần Thị Kim Quế; Văn hoá làng Nam Bộ trước những biến đổi kinh tế-xã hội từ 1980 trở lại đây
(Luận án PTS KHLS) của Lương Quang Hồng; Văn hoá làng xã trước sự thách
thức của đô thị hoá tại thành phố Hồ Chí Minh của Tôn Nữ Quỳnh Trân; Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng của Tô Duy Hợp
(2000); Văn hoá làng và làng văn hoá ở Quảng Ngãi (1999) của Nguyễn Văn
vị duy nhất hiện nay ở Quảng Bình vẫn giữ được danh hiệu làng văn hoá cấp Tỉnh
5 lần liên tục, Quảng Xá đã trở thành làng văn hóa kiểu mẫu ở Quảng Bình với những nét văn hoá độc đáo và ấn tượng nên đã và đang được các nhà nghiên cứu
quan tâm Đặc biệt ở khía cạnh văn nghệ dân gian Quảng Bình, tác giả Nguyễn
Văn Tăng đã có những nghiên cứu chuyên sâu và nổi bật về đặc trưng văn hoá
làng Quảng Xá như tục ra riêng, lễ cúng Thành Hoàng, Lễ hội Đuổi chim, Hội
Đánh đu ngày Tết trong Công trình Tục - Tết Lễ hội Quảng Bình do Hội Văn nghệ
Dân gian Việt Nam tài trợ năm 2003 Một số văn hoá uống và ẩm thực của làng
Quảng Xá cũng được tác giả đề cập ở các công trình như Văn hoá uống của người
Quảng Bình thuộc Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam Quảng Bình, xuất bản
năm 2007, Ẩm thực tục truyền Quảng Bình thuộc Chi hội Văn nghệ dân gian Việt
Nam Quảng Bình, xuất bản năm 1999 Các trò chơi dân gian trẻ thơ như: chơi té
Trang 1011
nước, chơi dòng trâu vượt sông, chơi trò chơi làm giã tượng, chơi thi hát các làn điệu cổ, chơi chạy hoá trang, được tác giả khắc hoạ rất sinh động trong công
trình Trò chơi dân gian trẻ thơ do Hội văn nghệ Dân gian Việt Nam tài trợ năm
2001 Tác giả giới thiệu với bạn đọc về những nét tinh hoa dòng họ Nguyễn tộc
trong Nếp đất hương quê của Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình, xuất bản năm
2003
Quảng Xá được biết đến với “điệu múa bông” và là “làng ca Huế” trong
Quảng Bình ẩn tích thời gian (quyển 1 và quyển 2) do Nhà xuất bản Thuận Hoá
xuất bản năm 2008, 2009; là “Làng có bậc dạy vua” trong Báo Quảng Bình số 74
(ngày 15/4/2010) của tác giả Dương Minh Phong
Là làng chiến đấu anh dũng nên nhiều tác giả đã có những dòng bút nói về
tinh thần cách mạng của làng như Quảng Xá những năm tháng bi hùng của Nguyễn Xuân Nồng trong Tân Ninh - một chặng đường lịch sử của Đảng Uỷ - Hội
đồng nhân dân –Uỷ ban nhân dân – Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Tân Ninh (tháng 8 năm 2004)
Tác giả Đỗ Duy Văn trong Địa chí huyện Quảng Ninh khẳng định rõ hơn
về truyền thống yêu nước và truyền thống hiếu học của làng Quảng Xá
Quảng Xá còn được nhiều tác giả bàn về “làng văn hoá” thời hiện đại như Dương Viết Thủ, Phan Hoà, Đỗ Duy Văn Nhà văn Nguyễn Thế Tường lại đề cập đến làng có 5 nhạc sĩ họ Dương góp phần không nhỏ cho nền âm nhạc nước nhà
TS Nguyễn Thế Hoàn nghiên cứu về Cấu trúc và văn hoá làng xã người
Việt ở Quảng Bình nửa đầu thế kỷ XIX (Luận án TS Lịch sử, 2003) có nói đến
Đặng Xá (tên cũ của Quảng Xá ngày nay) nhưng chỉ đề cập qua về thời gian lập làng, tên gọi của làng chứ chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể
Tác giả Nguyễn Tú với công trình Những nét đẹp về văn hoá cổ truyền
Quảng Bình lại giới thiệu cho chúng ta biết đến làng Quảng Xá qua tên gọi, nghề
dạy học, nghề trồng bông dệt vải một thời vang tiếng lẫy lừng
Đáng chú ý là khoá luận tốt nghiệp ngành lịch sử của tác giả Lê Thị Thu
Thuỷ về Lễ hội truyền thống làng Quảng Xá, xã Tân Ninh, huyện Quảng Ninh,
Trang 1112
tỉnh Quảng Bình(2008) và tác giả Lê Thị Thuý Huyền về Văn hoá truyền thống làng Quảng Xá-Tân Ninh-Quảng Ninh-Quảng Bình(2009) đã đi sâu về mảng văn
hoá truyền thống làng Quảng Xá
Trên một số tạp chí, các báo và một số trang web cũng có nhiều bài viết khai thác một khía cạnh, một biểu hiện cụ thể nào đó của văn hoá làng Quảng Xá chứ chưa làm nổi bật được tính hoàn chỉnh của một văn hoá làng cụ thể trong thời đại mới, đặc biệt là chưa đi sâu về hướng phát triển mới trong quá trình xây dựng làng văn hóa ở Quảng Xá
Như vậy, có thể nói, văn hoá làng Quảng Xá đã được đề cập đến, được nghiên cứu đến nhưng còn rải rác, rời rạc, chưa tạo một bức tranh hoàn chỉnh về
“văn hoá làng Quảng Xá: truyền thống và hiện đại”, đặc biệt tiếp cận theo
hướng nghiên cứu khu vực học để có cái nhìn tổng hợp, bao quát trong xu thế mới thì chưa có công trình nào đề cập đến
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
- Tìm lại các giá trị văn hoá truyền thống của làng Quảng Xá đang có nguy
cơ mất dần trước “cơn lốc” hiện đại hoá
- Từ sự khảo sát thực trạng đời sống văn hoá để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong xây dựng làng văn hoá ở Quảng Xá hiện nay
- Tìm hiểu những điều được và những điều chưa được trong quá trình xây dựng làng văn hóa ở Quảng Xá để rút ra bài học kinh nghiệm tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng làng văn hóa, xây dựng đời sống mới ở nông thôn
- Góp phần vào quá trình xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho chiến lược phát triển văn hoá làng xã Việt Nam trong bối cảnh của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá, trong đó có làng Việt ở miền Trung Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Văn hoá làng là tổng thể văn hoá của cộng đồng người Việt mang tính truyền thống và bền vững, tồn tại trong nhân dân Nó chứa đựng “nội hàm văn hoá
Trang 1213
chính trị xã hội” rất phong phú đa dạng [7;39] Văn hoá làng là nơi hội tụ tài năng sáng tạo tuyệt vời của người Việt trên các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật Vì vậy nghiên cứu đặc trưng văn hoá làng là nghiên cứu những sáng tạo của chính con người trong mối quan hệ với tự nhiên, với hoàn cảnh lịch sử Đặc biệt khi có sự tác động của hoàn cảnh mới, điều kiện mới làm thay đổi khuôn mặt văn hoá làng thì sự nghiên cứu đó càng cần thiết để thấy rõ vai trò truyền thống cũng như yếu tố hiện đại trong phát triển văn hoá làng Điều đó đã thôi thúc tôi tìm về với quê cha đất tổ để góp sức vào việc lưu giữ, bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của làng cũng như sự kế thừa, phát triển văn hoá theo hướng tiên tiến, hiện đại
Chính vì vậy, đề tài luận văn của chúng tôi chọn không gian làng Quảng
Xá, xã Tân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình là một khu vực làm phạm
vi nghiên cứu của mình Về mặt thời gian, làng Quảng Xá đã trải qua một quá
trình hình thành và củng cố lâu dài với những biến động và biến chuyển về nhiều mặt Luận văn không đặt ra mục tiêu tìm hiểu các mặt đó mà chỉ tập trung nghiên cứu lĩnh vực văn hoá của làng Quảng Xá, đặc biệt từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những giá trị văn hóa truyền thống (vật chất và tinh thần) của làng Quảng Xá và xu hướng hiện đại trong đời sống văn hoá làng Quảng Xá với mô hình “làng văn hóa” Để xác định rõ đối tượng nghiên cứu, tác giả đi làm rõ một số khái niệm sau đây:
- Khái niệm Văn hoá trong luận văn được hiểu là những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm đã khẳng định:
“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [60;10] Văn hoá chính là chìa khoá của
sự phát triển Trên cơ sở đó, ta thấy rõ có 2 loại di sản văn hoá: Một là những di sản văn hoá vật thể như đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ, nhà sàn Hai là những di
Trang 1314
sản văn hoá phi vật thể bao gồm âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thế (tư thái), nghi thức, phong tục, tập quán, y dược cổ truyền, việc nấu ăn và các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống Cái vật thể và phi vật thể gắn bó hữu cơ với nhau, không tách rời nhau
- Khái niệm Văn hoá làng trong luận văn được hiểu “là những giá trị văn
hóa vật thể và phi vật thể do dân làng sáng tạo, hội tụ, lưu truyền trong lịch sử tồn tại của làng Là những cái đã được thử thách qua thời gian, là chuẩn mực của toàn thể cộng đồng đã lựa chọn, bảo lưu, giữ gìn, phát triển trong từng thời kỳ lịch sử ”[62;60] Văn hoá làng chính là một thực thể của làng Việt và là một
dạng của nền văn minh lúa nước Nghiên cứu văn hoá làng là tìm về nơi tiềm ẩn bản sắc văn hóa dân tộc, có ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng con người mới
và đặc biệt là xây dựng nông thôn mới hiện nay Với ý nghĩa đó, nghiên cứu văn hóa làng chính là nghiên cứu những giá trị văn hóa truyền thống cả vật chất lẫn tinh thần
- Khái niệm làng văn hóa “là nói đến việc xây dựng một làng cụ thể theo
những tiêu chuẩn cụ thể, là những chuẩn mực giá trị đang nỗ lực vươn tới, đạt đến, “xây dựng cuộc sống của làng một cách toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[62;60-61] Xây dựng làng văn hóa là mục tiêu phấn đấu của nhân dân
mà nội dung vừa phải kế thừa có chọn lọc truyền thống xưa, đồng thời phải tiếp thu những giá trị mới một cách có sáng tạo Cho nên, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, xây dựng làng văn hóa chính là xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh, hiện đại ở nông thôn
Tuy nhiên, với nhận thức làng xã “chính là điểm nối giữa quá khứ và tương
lai, giữa truyền thống và đổi mới, là xuất phát điểm, là đặc thù, là nền tảng, sức mạnh truyền thống để đi vào tương lai”[66;3] nên không có sự tách rời tuyệt đối
giữa văn hóa làng và làng văn hóa, giữa truyền thống và hiện đại trong văn hóa làng xã, mà ngược lại, hai vấn đề đó có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển trong xu thế mới của thời đại
Trang 1415
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp liên ngành, đa ngành
- Phương pháp nghiên cứu khu vực học (area studies)
- Phương pháp điền dã, phỏng vấn, điều tra xã hội học
- Phương pháp thống kê, sưu tầm, thu thập các thông tin, số liệu và kế thừa một số kết quả của một số nhà nghiên cứu đi trước
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn dịch, so sánh trong quá trình xử lý, đánh giá các dữ liệu thu thập được
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn bước đầu hệ thống hoá các giá trị văn hoá truyền thống (vật chất
và tinh thần) của làng Quảng Xá nhằm lưu giữ, khôi phục, khơi dậy những nét đẹp văn hoá dân tộc với ý nghĩa giáo dục các thế hệ con cháu của mình lòng yêu quê hương đất nước, yêu văn hoá làng Đồng thời góp phần vào sự phong phú, đa dạng của văn hoá làng xã cổ truyền Việt Nam
- Bước đầu dự báo được xu hướng phát triển văn hoá làng Quảng Xá nói riêng, văn hoá làng Việt nói chung trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
đô thị hoá và toàn cầu hoá
- Trên cơ sở làm rõ yếu tố truyền thống và hiện đại trong văn hoá làng Quảng Xá, luận văn sẽ chỉ ra vai trò của mỗi yếu tố cũng như mối quan hệ giữa chúng để đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển văn hoá làng hợp lý cho chính quyền xã, thôn cũng như các cấp quản lý khác
- Luận văn là công trình tham khảo có ý nghĩa cho cán bộ, giảng viên làm công tác nghiên cứu và giảng dạy văn hoá địa phương và một số cơ quan bảo tàng, quản lý, di tích, hướng dẫn du lịch ở Quảng Bình
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về làng Quảng Xá
Trang 1516
Chương 2: Văn hoá vật chất làng Quảng Xá
Chương 3: Văn hóa tinh thần làng Quảng Xá
Chương 4: Một số vần đề về xây dựng làng văn hoá ở Quảng Xá hiện nay
NỘI DUNG Chương 1 Tổng quan về làng Quảng Xá
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Xá thuộc xã Tân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
Xã Tân Ninh nằm ở phía Đông Nam của huyện Quảng Ninh, là vùng chiêm trũng nên cư dân nơi đây sống chủ yếu nhờ vào cây lúa Xã có 5 làng: làng Quảng
Xá, làng Thế Lộc, làng Bình Thôn, làng Nguyệt Áng và làng Hữu Tân
Làng Quảng Xá nằm ở 170 đến 17002’ vĩ độ Bắc, 86011’ đến 86048’ kinh độ Đông Phía Đông giáp với làng Thế Lộc, phía Tây giáp làng Bình Thôn, phía Bắc của làng gối lưng bên dòng Kiến Giang hiền hoà và bên kia là làng Hiển Vinh (xã
Trang 16Cách phong lưu văn vật ai tày
Cứ xem giới hạn mới hay Phía Đông làng Thế (Lộc), phía Tây làng Bình (Thôn) Phía Nam có Nguyệt (Áng) định ranh giới
Bắc Kiến Giang giáp với Hiển Vinh Biệt ngoại có bổn Trung Trinh Rào Trù bên ấy về mình cũng thông
Sa Bạch hổ phía Đông tạc án Đường Thanh Long Bắc ngạn triều sâu Giang sơn đề tại cũng mẩu
Quảng Cư thắng địa tiếp nhau đời đời ”
(Trích bài vè lịch sử làng Quảng Xá)
Với địa thế đó nên Quảng Xá có vị trí rất quan trọng trong kháng chiến chống thực dân xâm lược, là tiền đồn của vùng Nam huyện Quảng Ninh, nằm sát sông Kiến Giang, rất thuận lợi cho việc giao thông và hoạt động Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh đã hình thành nơi đây luỹ Trường Dục do Đào Duy Từ hiến kế cho chúa Nguyễn xây vào năm 1630 Quảng Xá nằm ở phần cuối của Lũy này
Làng Quảng Xá là một làng trù mật, có truyền thống văn hoá lâu đời Được như vậy phần lớn là do thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này những yếu tố thuận lợi để con người tồn tại và phát triển
Từ xa xưa, do nhu cầu thuỷ lợi đã xuất hiện hai con kênh lớn là kênh Thế Lộc và kênh Hiển Vinh được người xưa dùng để Vệ Nông (Vệ là bảo vệ, Nông là nông nghiệp) nhằm ngăn lũ, dẫn nước cho đồng làng, mùa màng được tươi tốt Sau này, do sự lên xuống của thuỷ triều, dần dần hình thành gò đất bồi nổi lên ổn định, dân cư từ các nơi đã dần dần tụ tập sinh sống ở đây và làng Quảng Xá đã
Trang 17vĩ có biên giới tự nhiên tiếp giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Phía Đông Bắc theo trục đường quốc lộ 1A giáp thành phố Đồng Hới, phía Tây Bắc giáp huyện Bố Trạch và phía Nam giáp huyện Lệ Thuỷ
Là phần đất nhỏ của Quảng Ninh nên địa hình của làng Quảng Xá phân hoá khá phức tạp Tuy là ở vùng chiêm trũng nhưng khi nhìn kỹ lại thấy thấp dần từ Tây sang Đông, có núi và gò đồi, phía Đông và phía Nam có sông Kiến Giang bao quanh Phía Tây, phía Bắc là một dãi đồng bằng nhô cao, nơi tập trung đông dân
cư của làng
Làng Quảng Xá ngoài lũy tre còn được bao phủ xung quanh là mặt nước lợ mênh mông, luỹ bần (đước) mọc dọc quanh hai con kênh bao quanh làng chống xói lỡ đất, giữ cho nước lợ không xâm nhập vào làng Mặc khác, luỹ bần còn chống rét, ngăn gió, bảo vệ mùa màng, bảo vệ tài sản của người dân Cây bần đã chống chọi lại với thời tiết khắc nghiệt, ngăn chặn nạn ăn sâu của sông Kiến Giang vào đất liền Cây bần còn là điểm ranh giới của làng Quảng Xá với các làng khác Ngoài việc đánh bắt khai thác các sản vật trên mặt nước, người dân đã biết tận dụng địa thế này để mở rộng dân cư Vì thế cây bần có ý nghĩa rất quan trọng với
Trang 18Theo số liệu thống kê của phòng Địa chính Uỷ ban nhân dân xã Tân Ninh, đất đai của làng trước năm 1945 là 204 mẫu, tức là 102ha Đến nay số đất đai đã
mở rộng thêm là 300ha, trong đó đất nông nghiệp là chủ yếu (132.7ha – chiếm 30% tổng số diện tích đất của cả làng), ngoài ra còn có các loại đất chuyên dùng, đất ở dân cư, nuôi trồng thủy sản, đất chưa sử dụng Là một làng có diện tích đất
tự nhiên khá rộng trong xã (có 300 ha, trong khi cả xã có 1104000 ha) nên Quảng
Xá điều kiện để phát triển thế mạnh của mình là trồng lúa nước
1.1.3 Khí hậu
Quảng Xá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây-Nam (gọi là gió Lào) nắng nóng như lửa đốt Chính vì thế, cũng như tỉnh Quảng Bình nói chung, Quảng Xá có khí hậu hai mùa rõ rệt: mùa khô thì hạn hán kéo dài và mùa mưa thì lũ lụt nước trắng trời; trên núi dưới biển, “khí núi, tiết biển đan xen nhau, mùa hạ thường nắng, mùa thu, mùa đông thường mưa Chợt nắng liền nóng, chợt mưa liền lạnh ” [16;12]
Về nhiệt độ: mùa đông nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng từ 180C đến 210C Tháng 11, 12 và tháng 1 năm sau là những tháng lạnh trong năm (tháng
1 là tháng lạnh nhất từ 150 – 200C) Trong những ngày có gió mùa Đông-Bắc tràn
về, thường rét đậm, nhiệt độ tụt xuống 70-100C Về mùa hè: nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 280-300C Tháng 6, 7 là tháng nóng nhất, vào những ngày
có gió Tây-Nam (gió Lào) nhiệt độ lên đến 380-390C Và đây cũng là tháng có số giờ nắng cao nhất (trên dưới 200 giờ)
Mưa: So với các tỉnh miền Bắc, mùa mưa ở Quảng Bình trong đó có Quảng
Xá đến chậm Nhưng do địa hình nên ảnh hưởng đến lượng mưa Lượng mưa
Trang 1920
trung bình hàng măm vào khoảng 2000mm đến 2500mm Những tháng có lượng mưa thấp trong năm là tháng 4, 5, 6 Những tháng có lượng mưa cao trong năm là tháng 10, 11 Tuy vậy có những năm đột biến mưa tiểu mãn tháng 5 cũng kéo theo
lũ lụt Mùa mưa ở Quảng Ninh nói chung, Quảng Xá nói riêng thường kéo theo ngập lụt làm ảnh hưởng đến thu hoạch vụ mười, trôi nhà cửa, tài sản, gây không ít khó khăn cho cuộc sống
Gió: Hàng năm có 3 mùa gió: tháng 3 đến tháng 5 âm lịch có gió Đông Nam (thường gọi là gió Nồm); tháng 6 đến tháng 8 âm lịch có gió Tây Nam (gọi là gió Lào hay gió phơn Tây Nam); tháng 9 đến tháng giêng âm lịch năm sau có gió Đông Bắc Đặc điểm gió núi thường thổi về ban đêm, gió biển thổi về mùa hè-thu
Gió nam trong (gió Lào) thổi vào mùa hè mang hơi nóng, có khi thổi mạnh gọi là
nam cồ ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất [78;22]
Đặc biệt ở đây mang đặc điểm của khí hậu “giao thoa”, tức là khí hậu mùa Đông chưa hết thì mùa hè đã đến, mang theo những trận mưa rào xối xả, khi mùa
hè chưa hết thì gió mùa Đông Bắc lại sớm kéo về
Nhìn chung, thời tiết Quảng Xá khắc nghiệt, khi hạn thì “cháy đồng nung đá”, “ruộng nẻ bàu khô”, khi mưa thì “mưa thối đất thối cát”, rồi lũ lụt, bão tố luôn rình rập gây ra nạn này đến nạn khác, nhiều khi lo chống hạn chưa xong thì lụt bão bất ngờ ập đến làm cho cuộc sống, lao động sản xuất khốn khổ Cho nên con người ở đây phải vật lộn với thiên nhiên, phải nắm bắt được quy luật tự nhiên để
bố trí mùa vụ, cơ cấu cây trồng hợp lý trên cơ sở kinh nghiệm dân gian “nhất thì, nhì thục”; luôn cầu cho “mưa thuận gió hoà” để có được vụ lúa bội thu
1.1.4 Sông ngòi
Do gần biển và độ dốc vùng hạ lưu không lớn nên nước biển dâng lên xa làm hệ thống sông ngòi ở Quảng Ninh nói chung, Quảng Xá nói riêng bị nhiễm mặn
Là lưu vực của dòng nước lợ hai con sông Kiến Giang và Nhật Lệ nên ruộng đất ở Quảng Xá thường bị chua mặn, phèn Mặc dù nguồn nước lợ chiếm phần lớn nhưng thiên nhiên lại ưu đãi cho Quảng Xá một nguồn nước ngọt của hệ
Trang 2021
thống hồ chứa nước Cẩm Ly Hệ thống nước ngọt Cẩm Ly là dấu vết còn lại của một nhánh chảy của sông Bình Giang Theo Đại Nam nhất thống chí, sông Bình Giang có 2 nhánh: một nhánh chảy về phía Tây Bắc và một nhánh chạy về phía Bắc qua Võ Xá đến Trúc Ly Do điều kiện thuỷ thổ mà nước ở đây đã đổi dòng khi đi qua Kẻ Tùng (Hiển Vinh)[45] Nhờ đó, làng Quảng Xá có nước ngọt để dùng
Quảng Xá còn là một làng quê có nhiều hói, mương, đập, hồ như: hói chợ, bến Trùa, mương Trén, đập Tiền môn, đập Rấy, hồ Sao Sa đã tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thuỷ cũng như việc tưới tiêu cho ruộng đồng và phục vụ đời sống dân làng
Làng có một bàu nước lớn ở phía Đông rộng ba bốn hécta có tên gọi là Thâm Ứ Thâm Ứ nước đầy quanh năm màu như nước luộc ốc Là “rốn nước” của các cánh đồng tụ về, bao nhiêu cá tôm trụt xuống nơi đây nên Thâm Ứ như là kho hải sản tươi chung của cả làng
Từ làng Quảng Xá đi về phía nam chừng 5km là phá Hạc Hải (có tên là
“Thạch Bàn hải nhi”), dân ta thường gọi trổng là “phá” Phá ở giữa địa hạt Quảng
Ninh và Lệ Thuỷ [16;17] Trước đây “phá” là vùng nước mặn nhưng từ khi có đập ngăn mặn Mỹ Trung, nó trở thành nguồn nước tưới vô tận với diện tích trên 7.000ha Cũng là nguồn thuỷ sản phong phú như: cá tràu, cá buôi, cá chép, cá vược, cá thát lát, cá bống, các loại tôm tép và đặc sản rạm Con rạm ưa nước lợ,
cứ tháng 4 tháng 5 âm lịch là thời vụ rạm nên nhân dân quanh vùng đúc rút kinh
nghiệm “làm mùa tháng tám coi rạm tháng tư” Hạc Hải đã đi vào biểu tượng quê hương “Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên, Trường Sa vi bản” (Núi Đầu Mâu
nhọn cao như ngọn bút, Phá Hạc Hải nước đầy như nghiên mực, dãi cát Trường Sa rộng như trang giấy mở ra)
Nguồn nước của Hạc Hải cùng với hồ Cẩm Ly, nay có thêm hồ chứa Rào Đá tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp Quảng Xá phát triển Câu ca xưa đã
nói lên một vùng đất giàu có về nghề trồng lúa của Quảng Ninh: “Thứ nhất Đồng
Trang 211.2 Lịch sử lập làng
Theo sử cũ: năm 1069, ba châu Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh (Bắc Quảng Trị) được nhập vào Đại Việt Sau sự kiện đó, các triều đại phong kiến Việt Nam bắt đầu tổ chức những đợt di dân lập ấp, khai phá vùng đất Năm 1075 vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đem quân bình định lại, chính chức vẽ bản đồ ba châu và đổi tên các châu: Châu Bố Chính thành Bố Chính, Địa Lý thành Lâm Bình, và Ma Linh thành Minh Linh [20;32]
Sau khi vạch rõ cương giới lãnh thổ, vua Lý bắt đầu chiêu mộ dân chúng
đến khai hoang lập ấp (“chiếu mộ dân”) Theo Ca-di-e trong “Địa lý-lịch sử Quảng
Bình” thì vào khoảng năm 1075 bắt đầu có những đoàn người Việt di thực vào phía Nam Quảng Bình [56] Khi mộ dân khai hoang, lập ấp ở vùng đất ba châu
mới, Lý Thường Kiệt đã thi hành chính sách “ngụ binh ư nông” (tức là “gửi binh ở
nông”), biến người nông dân “mang áo lính” trở thành quân đội khi có chiến sự xảy ra và ngược lại, thời bình thì người lính trở thành nông dân Những đơn vị quân đội đóng chốt này vừa làm nhiệm vụ giữ gìn bờ cõi phía nam của đất nước vừa khẩn hoang khai phá đất hoang dần dần hình thành những tổ chức làng xóm với việc tên làng đặt theo khuôn mẫu X + Xá như: An Xá, Trần Xá, Phan Xá, Lê
Xá, Võ Xá, Cai Xá, Dương Xá, Đặng Xá, Thạch Xá, Mai Xá, Châu Xá,
Vào thời nhà Lê, vùng đất Bố Chính vẫn còn hoang sơ, dân cư thưa thớt nên ông đã có chiêu dụ “Bố Chính đất rộng, ít dân cư, liền với Châu Hoan, vậy quân dân ai đến đó khẩn hoang sẽ được lợi lớn” [56] Hưởng ứng chiếu dụ này, nhiều quan lẫn dân tự do, binh lính đến đây định cư, khai hoang lập làng Khác với
Trang 2223
đợt di cư thời Lý theo lối “ngụ binh ư nông”, đợt di cư này theo nhóm nghề thủ
công xen kẽ với nhóm người nông nghiệp cho nên các làng xóm lúc đó lấy tên là
Kẻ hay Phường như Kẻ Thá (làng nghề chiếu) là làng An Xá, huyện Lệ Thuỷ ngày nay; Kẻ Đờng (làng dệt vải gắn liền đờn ca xướng hát) là làng Quảng Xá, huyện Quảng Ninh ngày nay, Như vậy, cùng lúc thời đó Quảng Xá vừa mang tên là Đặng Xá và cũng có tên là Kẻ Đờng [73;550]
Một thực tế là, dù đã có con người di dân vào ở, đã có sự định vị về khu vực sinh sống nhưng để được nhà nước công nhận đơn vị làng thì phải có một thời
gian dài Sau này trong Ô Châu Cận lục của tiến sĩ Dương Văn An soạn năm
1555 (phần tổng luận) đã nói rằng: “làng xóm vui vầy thì có Đặng Xá” (tức là
Quảng Xá ngày nay) [1] Điều đó có nghĩa là phải từ năm 1555, ấp Đặng Xá mới được công nhận với tên gọi riêng của mình
Quảng Xá hiện nay có nhiều dòng họ, song có 3 dòng họ chính là họ Dương, họ Nguyễn và họ Trần là những dòng họ khai canh, khai khẩn ra làng Quảng Xá ngày nay
Theo tư liệu cũ, các vị tiền khai khẩn, khai canh là họ Dương (ở làng Giàng – nay là thôn Dương Xá, xã Thiệu Dương, Thiệu Hoá, Thanh Hoá) theo chúa
Nguyễn Hoàng (1558) đến nơi đầy lý tưởng “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung
thân” Họ Dương phò Chúa, đến đời Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên lập vị, năm
Quý Sửu (1613) họ Dương được Chúa cấp đất lập nghiệp vùng bắc phá Hạc Hải,
Phe ông Trùm Vừa khai phá đất đai, gieo trồng sinh sống vừa góp quân lương cho Chúa Nguyễn Ban đầu, làng là một nhóm nhỏ khoảng mười gia đình lập ấp, kinh
tế còn lạc hậu, người dân lại chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên tai, gặp rất nhiều khó khăn nhưng đã góp công phục dịch đào con kênh nối phá Hạc Hải đến
nhà Tràn (thuộc Trần Xá, xã Hàm Ninh ngày nay), tức sông Kiến Giang và đắp
đường Kẻ Vạn (Vạn Xuân) đến Kẻ Trường (Trường Dục) nối tiếp quận khởi đầu luỹ Đào Duy Từ hồi ấy
Đến năm Canh Thân (1620), thời vua Lê Thần Tông hiệu từ Vĩnh Tộ, các ông tiền khai khẩn họ Nguyễn vào theo Chúa Nguyễn chống Trịnh Năm 1635,
Trang 2324
(tức 15 năm sau) ông đưa bà con gia quyến vào lập nghiệp và nhập vào Kẻ Đờng, được vua cấp đất cày cấy ở Nương Bòn Hai dòng tộc đã lập đền miếu, trồng cây huyền vũ (cây thông) cuối ấp để chắn gió, bảo vệ vùng đất
Năm Kỷ Dậu (1719), tại đây xuất hiện thêm 1 dòng họ mới là họ Trần, cũng từ Bắc vào khai khẩn lập nghiệp và nhập vào Đặng Xá Cả ba dòng họ
Dương, Nguyễn, Trần cùng “dĩ nông vi bản” làm ăn sinh sống rồi kết thành thông
gia với nhau
Suốt thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn lập đạo Lưu Đồn, xây luỹ Trường Dục từ ngọn Thần Đinh qua làng Đặng Xá đến sát bờ Hạc Hải Nhờ vậy mà dân Đặng Xá được yên ổn làm ăn đóng góp sức người sức của việc trấn giữ xứ Đàng Trong
Khoảng năm 1650, theo đường sơn cước họ Dương về Bắc đưa anh em con cháu vào, thôn ấp trở nên đông đúc, vui vẻ
Thời kỳ Tây Sơn (1771 – 1789), Nguyễn Huệ với niên hiệu là Quang Trung
đã tiến quân ra Bắc đánh bại quân Thanh (ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu 1789) Dân Đặng Xá theo quân Tây Sơn đi phu, đi lính, nộp quân lượng cùng ra Bắc với Nguyễn Huệ, nhân cơ hội này đưa thêm bà con vào Nam Thôn ấp được mở rộng, điền thổ ngày càng tăng, nghề trồng bông dệt vải phát triển, nhiều con cháu đã có học hành, thi cử
Đến năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long ứng vị lập triều, phong sắc thần cho làng và cả 3 dòng họ, đồng thời đổi ấp Đặng Xá thành làng Quảng Xá cho đến ngày nay Đến đời Minh Mạng, làng dựng đền thờ, miếu vũ, xây dựng chùa và dựng văn miếu (điện) thờ Khổng Tử Đến đời Tự Đức đã có nhiều người đỗ đạt [79;47-48]
Như vậy, trải qua nhiều biến cố của lịch sử đất nước, tên làng cũng thay đổi Mới đầu gọi là “Đặng Xá”, “Kẻ Đặng”, “Kẻ Đờng”, sau là Quảng Xá cho đến ngày nay Mặc dù về tên gọi và đơn vị hành chính thay đổi liên tục song trong suốt chiều dài lịch sử, Quảng Xá vẫn là vùng đất thân yêu của Tổ Quốc Việt Nam với
Trang 24Ruộng đất là tư liệu sản xuất rất quan trọng đối với người nông dân Theo
“Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn” thì ở Quảng Bình tồn tại hai hình thức sở hữu là: sở hữu ruộng đất công làng xã và sở hữu tư nhân (không có loại ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý)[48;29-30] Qua nghiên cứu địa bạ Năm Gia Long thứ 13, 14, 15, chúng tôi thấy: ở Quảng Ninh nói chung, Quảng Xá nói riêng, ruộng công chiếm phần lớn diện tích so với ruộng tư Ở làng Quảng Xá, ruộng công có 168 mẫu 1 sào 7 thước còn ruộng tư chỉ có 2 mẫu 2 sào trong tổng số 177 mẫu 11 sào Mặc dù sở hữu ruộng đất công làng xã chính là sở hữu ruộng đất công có thời hạn của cá nhân trong làng (chế độ quân cấp) nhưng nó minh chứng cho sức sống cộng đồng làng xã trong công cuộc khai hoang lập ấp
Hiện nay, ruộng đất thuộc quyền sử dụng của nhân dân nhưng nằm dưới sự quản lí của Nhà nước (theo Nghị định 64/1993/NĐ-CP của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp) đã và đang đem lại điều kiện thuận lợi cho nông dân Việt Nam nói chung, nông dân Quảng Xá nói riêng yên tâm làm ăn trên mảnh đất của mình
1.3.2 Sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp gắn liền với việc khai sinh ra làng Quảng Xá nên quá trình lập làng chính là quá trình khai khẩn đất đai và ổn định cư dân canh tác trên đất đai vừa khai phá được Điều đó cũng có nghĩa là làng quê Quảng Xá có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu đời với hơn 80% dân cư làm nông nghiệp Đón nhận những ưu ái từ vị trí địa lý, thiên nhiên ban tặng nhưng cũng biết khắc phục, vật lộn với những bất ngờ của thiên tai nên nền nông nghiệp ở Quảng Xá luôn có năng suất cao, sản lượng lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lương
Trang 2526
thực cho huyện Quảng Ninh và các vùng lân cận Với quan niệm “nông vi bản” (lấy nghề nông làm gốc) nên người dân Quảng Xá cũng rất chú trọng đến công tác thuỷ lợi như đắp đê ngăn lũ, nạo vét kênh mương để dẫn nước tưới tiêu cho đồng ruộng; áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật bên cạnh những kinh nghiệm dân gian trồng cấy,
Ngoài công việc trồng lúa nước, người dân nơi đây còn phát triển chăn nuôi, trồng bông, dâu tằm, trồng hoa màu, các loại cây ăn quả, rau củ không những cung cấp cho gia đình mà còn phục vụ cho cả vùng
Như vậy, kinh tế nông nghiệp làng Quảng Xá là sự thể hiện “chặt chẽ hữu
cơ giữa nghề trồng lúa nước trên cánh đồng với vườn, ao, chuồng trại trong khuôn viên gia đình và khai thác triệt để tất cả các điều kiện tự nhiên cho phép để điều tiết nguồn nước cho trồng cấy, mở rộng diện tích chăn thả, khai thác thuỷ sản và bòn nhặt tất cả những nguồn lợi có được trong thiên nhiên” [39;108] Một mô hình kinh tế nông nghiệp Việt Nam rất linh động và sáng tạo
1.3.3 Thủ công nghiệp
Đặc điểm nổi bật trong phát triển kinh tế - văn hoá là sự kết hợp sớm và hài hoà giữa nông nghiệp, thủ công và thương nghiệp Có thể nói, Quảng Xá là “tổng hoà” của các kiểu làng nông nghiệp, thủ công, thương nghiệp, làng thầy đồ
Gái canh cửi, trai sách đèn Góp vào bách nghệ ghi tên bảng vàng
Bên cạnh cây lúa nước, người Quảng Xá còn trồng phổ biến là cây dâu tằm
và cây bông lấy sợi Ở đây có cả kỹ nghệ nuôi tằm ươm tơ, sản xuất ra các loại tơ Trong làng, gia đình nào cũng có khung cửi dệt vải, chủ yếu công việc này
Trang 26Con trai xứ khác tới chơi Thấy cô dệt vải không rời được chân
Chính từ trong thực tiễn lao động đã nảy sinh ra lời ca tiếng hát tạo nên
không khí “vui vầy” mà không nơi nào có được như ở làng Quảng Xá
Ngày nay, nền công nghiệp dệt phát triển hiện đại nên nghề thủ công này ở làng đã dần bị mất đi và không còn tồn tại nữa Dẫu Vải Quảng không còn trên thị trường nhưng trong lòng mọi người dân sống ở đây đều nhớ về một thời vang tiếng và có ý nghĩa đóng góp vào “sự no ấm” không chỉ cho dân làng mà còn cung cấp cho cả vùng
Bên cạnh trồng bông dệt vải, Quảng Xá còn phát triển các ngành nghề truyền thống khác như:
“ Thợ hàn, thợ mộc, thợ may Thợ đan, thợ chạm, thợ xay, thợ nề ”
((Trích bài vè lịch sử làng Quảng Xá)
Nghề nào cũng thông thạo và được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác góp phần phát triển kinh tế của từng gia đình và cả làng Đặc biệt trong đó, thợ mộc có người giỏi đến chức cửu phẩm
1.3.4 Thương nghiệp
Do ở vị trí trung tâm của xã Tân Ninh, giao thông thuận lợi cả đường bộ, đường sông nên hoạt động giao lưu buôn bán phát triển rất sớm ở Quảng Xá Nơi trao đổi buôn bán chính là chợ làng Đối với Quảng Xá đó là chợ Bến (được lập năm 1928) Ngày xưa, chợ này được đặt ở cuối làng gần với con sông để thuận tiện cho việc đi lại bằng đường thuỷ Nhưng ngày nay, do giao thông phát triển
Trang 2728
nên chợ được đưa về đầu làng, nằm ở cổng vào làng nên người dân quen gọi là
“chợ Cổng” Chợ Cổng còn được dân làng gọi là “chợ Chạy” Sở dĩ có cái tên này
là vì chợ này được bà con tập trung từ lúc 4giờ sáng và đến khoảng 7 giờ là tan, những người buôn bán ở đây tiếp tục lên chợ Xã để bán Vì chợ chưa tan mà họ đã dọn hàng đi chợ khác nên gọi là chợ Chạy
Lúc đầu chợ này rất nhỏ, ít hàng hoá nhưng đến giờ thì trong chợ hàng gì cũng có, người bán, người mua ra vào tấp nập nhộn nhịp Chợ không chỉ là nơi trao đổi mua bán mà còn là nơi giao tiếp cộng đồng, nơi hò hẹn gặp gỡ của lứa đôi, cũng là nơi phô diễn tay nghề khéo léo của những người thợ thủ công và “duy trì kinh tế tiểu nông”[11;239] Mấy trăm năm qua chợ làng đã đóng vai trò thương nghiệp rất quan trọng Với hệ thống lều, quán; với việc tổ chức họp chợ và các loại hàng hoá trao đổi đã tạo nên nét đẹp văn hoá chợ ở làng quê Quảng Xá
Có thể thấy, là một làng thuần Việt nên kết cấu kinh tế của làng Quảng Xá
là kết cấu “kết hợp chặt chẽ cả ba thành phần kinh tế nông, công, thương nghiệp Nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp hoà quyện vào nhau thành một thể thống nhất đã tạo ra một dạng kết cấu vừa mềm dẻo vừa bền vững” [39;120] Đối với làng Quảng Xá, nông nghiệp vẫn đứng hàng đầu trong thể thống nhất đó nên có cơ sở vững chắc tạo nên tính ổn định, bền vững trong sự phát triển của làng
1.4 Thiết chế xã hội và quan hệ xã hội
Dưới thời phong kiến, thiết chế xã hội làng Quảng Xá là:
Làng có nhiều xóm ngõ tạo thành Đây là một trong những điểm khác với
cơ cấu tổ chức làng xã phổ biến theo Giáp (lớp tuổi) ở Bắc Bộ
Đứng đầu làng là xã trưởng Đến năm 1828, sau khi cải tổ bộ máy xã thôn thời Minh Mạng, xã trưởng được thay thế bằng lý trưởng Cũng như các làng xã ở miền Trung, bộ máy chính quyền làng Quảng Xá chỉ có một Lý trưởng, ngoài ra còn có thêm một Phó lý và các hương chức Bộ phận giúp việc cho Lý trưởng gồm những chức viên sau:
- Hộ lại phụ trách việc hộ tịch hộ khẩu
Trang 2829
- Chưởng bạ phụ trách giấy tờ về ruộng đất
- Trương tuần trông coi việc bảo vệ trật tự trị an
- Thủ quỹ phụ trách việc ngân quỹ
Bên cạnh bộ máy chức dịch còn có Hội đồng kỳ mục Hội đồng này gồm những vị có phẩm hàm các quan lại về hưu, các nhà khoa bảng, các tài gia, hào mục và các chức sắc Đứng đầu là một tiên chỉ và một thứ chỉ giúp việc Đây là cơ quan có tính chất tư vấn giải quyết các công việc trong làng
Bộ máy chức dịch và Hội đồng kỳ mục là hai thiết chế có mối quan hệ, hỗ trợ cho nhau trong việc tổ chức, quản lý làng xã và nó được vận hành theo cơ chế chung là lệ làng (hương ước) và phép nước (quy định của nhà nước) Ngày nay, thiết chế chính trị - xã hội của làng đã thay đổi với tên thường gọi là bộ máy hành chính nhà nước trong đó gồm hệ thống quan phương, chính thống và hệ thống phi quan phương, phi chính thống
Dù có sự thay đổi về tên gọi, hình thức quản lý nhưng thực chất vẫn là các
tổ chức chính trị - xã hội của dân làng Thông qua đó các mối quan hệ xã hội được thiết lập và gắn chặt với nhau tạo thành “mạng lưới xã hội” và “vốn xã hội” không thể thiếu được của xã hội nông nghiệp nông thôn Việt Nam [67]
Quảng Xá có rất nhiều tổ chức nhưng nổi bật là dòng họ, hội đồng hương, hội cựu các nhà giáo (mang tính phi quan phương, phi chính thống) đóng vai trò quan trọng trong thiết chế xã hội ở làng hiện nay
Các dòng họ (Dương, Nguyễn, Trần) ở Quảng Xá đều có gốc gác từ Thanh – Nghệ Tĩnh Quá trình hình thành và phát triển của các dòng họ gắn liền với các cuộc thiên di cư dân và lập ấp ở vùng đất Quảng Bình Trong buổi đầu tạo dựng xóm làng, cộng đồng họ có vai trò rất quan trọng trong tình cảm và quan niệm Người ta cố kết lại với nhau không chỉ vì quan hệ huyết thống mà còn vì nhu cầu của cuộc sống mới như “khai sơn lập ấp”, sản xuất, chống giặc giã, thú dữ và khắc phục thiên nhiên khắc nghiệt Cùng làm ăn sinh sống với nhau, dù ai đi đâu xa cũng không thể quên ngày “dẩy mã” (tảo mộ) họ ở làng vào ngày 2/9 Dương Lịch hàng năm Chính ngày này đã nối kết thêm tình cảm giữa các thành viên trong gia
Trang 2930
đình, trong dòng họ với nhau Vai trò của dòng họ còn thể hiện trong việc quản lý con người Bất cứ một thành viên nào của họ tộc vi phạm qui ước của làng hoặc pháp luật nhà nước thì khi xử lý phải có đại diện của dòng họ đi kèm để nghe phán xét và ký vào biên bản Nếu thành viên đó thuộc chi, phái nào thì trưởng phái hoặc trưởng chi phải chịu trách nhiệm giáo dục thành viên đó Nếu tái phạm thì đưa ra
họ tộc giải quyết Họ tộc là sợi dây ràng buộc các thành viên cùng huyết thống trong làng thành một tổ chức cộng đồng xã hội bền vững Mối liên hệ giữa các cá nhân không chỉ diễn ra ngay trong mỗi dòng họ mà còn có sự “kết chéo” giữa dòng họ này với dòng họ khác Thông qua hôn nhân giữa nam dòng họ này với nữ dòng họ khác nên ở Quảng Xá dần dần hình thành một “hệ thống bà con” với nhau Điều đó thể hiện tính cố kết vững chắc nhưng cũng là hệ quả của quan niệm
“tre làng nào làng ấy giữ, gái làng nào làng ấy cưới” Liên kết dòng tộc và tâm thức “một giọt máu đào hơn ao nước lã” không chỉ tồn tại trong xã hội tiểu nông
và làng xã khép kín mà còn duy trì trong môi trường kinh tế thị trường hiện nay
Người Quảng Xá đi ra các vùng miền khác làm ăn sinh sống rất nhiều, nhưng không quên nơi chôn nhau cắt rốn của mình Họ đã lập ra “Hội đồng hương Quảng Xá” ở nhiều tỉnh thành trong cả nước, kết nối tình cảm con em xa quê với nhau Hoạt động của Hội đồng hương Quảng Xá không chỉ gặp mặt định kỳ hàng năm mà còn có những thăm hỏi hiếu hỉ, ốm đau Sự tương trợ lẫn nhau đó đã hình thành nên một “mạng lưới” vô hình về tình cảm, niềm tin trong cộng đồng xa quê của người Quảng Xá
Liên quan đến nghề nghiệp, Quảng Xá được mệnh danh là “làng thầy” nên
“Hội cựu các nhà giáo” (hội những thầy giáo, cô giáo đã về hưu) được thành lập Mục đích hoạt động của Hội là tiếp tục được cống hiến, góp sức xây dựng, phát triển làng văn hóa Các thành viên trong Hội dù đã lớn tuổi nhưng luôn tiên phong, mẫu mực, làm gương cho con cháu trong gia đình, trong làng xóm Tính kết nối về huyết thống, nơi cư trú và lợi ích đã tạo nên sự vững chắc cho mạng lưới xã hội này
Trang 3031
Dù mang tính phi quan phương nhưng hương ước là một dạng của “vốn xã hội” cần thiết để điều chỉnh các quan hệ trong làng, bảo vệ trật tự an ninh, đời sống văn hóa tín ngưỡng, bảo đảm các nghĩa vụ đối với nhà nước, có thưởng, có phạt Xưa là hương ước bất thành văn, còn gọi là lệ làng, giữ vai trò quan trọng trong việc cố kết các tổ chức và thành viên trong làng, góp phần vào việc vận hành
cơ chế hoạt động của làng Những qui ước tỉ mỉ và nghiêm ngặt liên quan tới sản xuất nông nghiệp, an ninh thôn xóm, bảo vệ môi trường, phong tục tập quán…đã giúp cho dân làng chủ động trong cuộc sống, đặc biệt tạo dựng được sức mạnh đoàn kết, xây dựng môi trường làng xóm lành mạnh Chẳng hạn, lệ làng có quy định: tội ăn trộm (như ăn trộm bông non - bông để dệt vải, ăn trộm măng, ăn trộm trứng gà…) sẽ bị phạt nặng Ăn trộm bông non phạt 1kg bông, ăn trộm một mụt măng phạt 1 cây tre to, ăn trộm 1 quả trứng gà phạt 1 con gà to,…Hay để trâu bò
ăn lúa khoai nhà người khác sẽ tính diện tích phạt gấp 10 lần v.v… Chính những quy định đó của lệ làng đã khiến người nông dân luôn ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ, tôn trọng người khác trong cộng đồng, hình thành nếp sống có trên có duới của dân làng, trở thành truyền thống văn hoá của làng Ngày nay, lệ làng được văn bản hoá ở dạng hương ước mới tiếp tục duy trì mục đích xây dựng làng xóm lành mạnh, đoàn kết, cùng phát triển Đặc biệt “tạo điều kiện cho mọi người thực hiện quyền dân chủ, bình đẳng, thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, làng văn hoá cấp bộ, xoá bỏ hẳn những thủ tục lạc hậu, các tệ nạn xã hội… Phát huy mọi năng lực của cá nhân, gia đình phát triển kinh tế, vững mạnh về chính trị, xóm làng ngày càng đổi mới văn minh tiến bộ” [84;2] Hương ước thôn Quảng Xá gồm 06 chương, 27 điều Cùng với pháp luật, những quy định của hương ước đang trở thành một công cụ quản lý thôn xóm hữu hiệu
Chính các mạng lưới và vốn xã hội đã làm cho kết cấu xã hội Quảng Xá được chặt chẽ hơn, an toàn hơn trước những biến động và va đập xã hội
1.5 Con người và truyền thống đấu tranh cách mạng của làng Quảng
Xá
Trang 3132
1.5.1 Con người ở làng Quảng Xá
Trải qua hàng mấy trăm năm tồn tại, nguời dân Quảng Xá đã tạo dựng cho mình một bản lĩnh mang sắc thái riêng của vùng quê đầy nắng, cát và gió Lào
Từ buổi bình minh của lịch sử, “vùng đất này đã có sự hiện diện của các
cộng đồng người Việt cổ” [16;9] Lúc đầu họ sinh sống trong các hang động (phía
dãy núi Trường Sơn), dưới các mái đá cao hoặc các hang ở gần nguồn nước Từ các hang động gần thượng nguồn, dần dần họ men theo các triền sông có đất đai màu mỡ, vào đồng bằng ven biển khai phá đầm lầy, chinh phục tự nhiên Cùng với các cuộc Nam tiến từ Bắc vào, ba dòng họ lớn đã dừng chân tại đây, sinh sống với
cư dân này tạo lập nên làng bản Ban đầu họ cũng gặp không ít khó khăn vì đây là
vùng “Ô châu ác địa” Nhưng với mong muốn “an cư lạc nghiệp” nên con người
nơi đây đã đồng tâm hợp lực khai phá mảnh đất, tạo lập cuộc sống mới Công việc làm ăn ngày một thuận lợi, vì thế đã có nhiều cuộc di dân của các dòng họ lại tiếp tục vào đây (họ Dương, họ Nguyễn, họ Trần) để bổ sung lực lượng khai khẩn và trấn giữ, mở mang bờ cõi Quảng Xá xưa từ một vùng đất ngập nước mênh mông
đã vươn mình đứng dậy từ trong luỹ tre làng
Luôn phải đối phó với phong ba bão táp, hạn hán lũ lụt, để tồn tại và phát triển nên cư dân ở vùng đất này là những người lao động cần cù, chịu thương chịu khó, thông minh sáng tạo, dũng cảm, không chịu khuất phục trước khó khăn Quá trình khai phá đất đai, mở rộng địa bàn sinh sống, khai hoá những vùng đất hoang dại, đồi núi hiểm trở, bãi bồi ven sông thành những xóm làng trù phú và đồng ruộng xanh tươi của người dân Quảng Xá là một minh chứng nói lên điều đó Mặt khác, cư dân từ mọi nơi tụ tập về mảnh đất này cùng chịu bao khắc nghiệt của thiên tai, cuộc sống gian nan nghèo khó đã tạo cho họ bản lĩnh kiên cường, kiên trì, bền bĩ, cần kiệm, giản dị, yêu thương đùm bọc lẫn nhau Để có những cánh
đồng màu mỡ tươi tốt, trù phú, các thế hệ cha ông đã phải “một nắng hai sương”,
đổ mồ hôi sôi nước mắt và xương máu của mình Những kết quả đạt được đó lại tạo cho họ biết quý trọng sức lao động, càng thêm yêu quê hương đất nước
Trang 3233
Quảng Ninh là “mảnh đất có truyền thống văn hóa lâu đời, nhiều thuần
phong mỹ tục, sinh hoạt văn hoá dân gian phong phú được lưu truyền cho đến ngày nay” [16;20] như: truyền thống ham học-học giỏi, truyền thống kiên cường,
bất khuất, dám hy sinh vì nghĩa lớn, ; trong đó Quảng Xá, là một làng cổ (hơn
450 năm tuổi), còn được biết đến là một “làng xóm vui vầy” với những điệu ca Huế, là cái nôi của văn hoá nghệ thuật, là “làng nghệ sĩ”, “làng thầy”, những lễ
hội và trò chơi dân gian đặc sắc Nét đẹp trong đời sống tinh thần đó đã làm cho con người nơi đây luôn “lạc quan, cởi mở, yêu đời, yêu cuộc sống và hướng đến tương lai với một niềm tin chiến thắng”[26;207]
Khi nhận xét chung về con người Quảng Xá, già làng Dương Viết Thủ đã nói: “Quảng Xá không chịu thua ai và cũng không muốn để ai hơn mình” Điều đó chứng minh cho những nét đẹp đã bàn đến ở trên nhưng cũng đã chỉ rõ thấy những hạn chế của con người nơi đây Đó là tính ích kỷ cá nhân, đố kỵ, kìm hãm, phe cánh Tuy nhiên những hạn chế này chỉ là mặt phụ nhưng cũng cần mạnh dạn nhìn nhận và khắc phục
1.5.2 Truyền thống đấu tranh cách mạng của làng Quảng Xá
Cùng với nhân dân cả nước, Quảng Xá sớm có truyền thống đấu tranh cách mạng Từ phong trào Mặt trận bình dân (1936 – 1939) đến cao trào khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh Dưới sự giác ngộ, hướng dẫn của ông Nguyễn Trung Thầm, các thầy giáo Dương Viết Nặc, Dương Viết Hạng, Dương Viết Hiểu, Nguyễn Tốn, Nguyễn Chuân, Nguyễn Động đã tổ chức các nhóm thanh niên yêu nước, Hội
“tương tế ái hữu giáo sư Hương Trường”, Hội Thanh niên Phan Anh để hoạt động cách mạng Ngày 7/11/1945 chi bộ Quảng Xá được thành lập là một trong hai chi
bộ lập nên huyện Đảng bộ Quảng Ninh đầu tiên [17;55]
Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ở vào vị trí rất quan trọng, Quảng Xá là tiền đồn của vùng Nam huyện Quảng Ninh, nằm sát sông Kiến Giang, rất thuận lợi cho việc tiến quân bằng đường thuỷ Đặc biệt, Quảng Xá
là một trong hai trung tâm cách mạng của huyện Quảng Ninh, nhân dân Quảng Xá
có truyền thống yêu nước, có tinh thần cách mạng cao Vì vậy, địch cho đây là một
Trang 3334
mục tiêu trọng yếu cần đánh chiếm để hòng cắt đứt mạch máu giao thông, làm bàn đạp tiến lên vùng ATK và làm lung lay tinh thần cách mạng của nhân dân vùng tả ngạn sông Kiến Giang
Nhận rõ vai trò, vị trí quan trọng của làng, sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), Chi bộ và chính quyền xã Tân Ninh đã lãnh đạo nhân dân nêu cao cảnh giác, chuẩn bị lực lượng theo hình thức chiến luỹ khép kín sẵn sàng chiến đấu khi Pháp đổ bộ vào làng Nhân dân làng Quảng Xá đã tổ chức thành hai trung đội nam nữ tự vệ, họ vừa lao động sản xuất vừa tự ôn luyện võ thuật để phục vụ chiến đấi được tốt Nhiều ban được thành lập như Ban Cứu thương, Ban Quân khí, Ban Tuyền truyền địch vận và các hội đoàn thể như: Hội Mẹ chiến sĩ, Hội Phụ lão, Hội Thanh niên cứu quốc hoạt động rất tích cực Các lò rèn trong làng rèn đại đao, mã tấu, kiếm để trang bị cho lực lượng vũ trang Đặc biệt, sau ngày phong trào “quật khởi”, ở Quảng Xá việc rào làng chiến đấu bắt đầu phát triển mạnh
Dưới sự lãnh đạo của chi bộ và chính quyền, phong trào đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị ở Quảng Xá phát triển mạnh Nhân dân Quảng Xá thực hiện tốt công tác địch vận, kêu gọi binh lính quay về với kháng chiến; đồng thời đã tổ chức phục kích, cài cắm chông, gài bom tự động, đào thêm hệ thống hầm chông ngầm quanh làng đánh trả nhiều đợt tấn công càn quét của thực dân Pháp Tính từ năm
1950 đến đầu năm 1954, dân quân, du kích Quảng Xá tiêu diệt hơn 100 tên giặc, làm bị thương hàng chục tên khác, thu được nhiều súng và lựu đạn
Từ tháng 7/1954 đến 1959, nhân dân vượt qua nạn đói khốc liệt, cuối năm
1954 từng bước phục hồi kinh tế thực hiện tốt chính sách giảm tô và cải cách ruộng đất Nhân dân được làm chủ ruộng đồng, hăng hái đẩy mạnh sản xuất Cuối năm 1959 đến 1960, ba hợp tác xã bậc thấp Bắc Xá, Trung Xá, Nam Xá được thành lập, 90% nhân dân hăng hái tham gia
Năm 1961-1964, hợp tác xã bậc cao Quảng Xá được thành lập, bờ ruộng được xoá bỏ chỉ còn bờ vùng, máy cày về nông thôn, nhân dân nô nức chào đón Phong trào sản xuất lên cao
Trang 34có nhà bị chết 3-4 người, có nhà bị cháy thiêu trụi cả nhà lẫn người lấp dưới hầm
Tuy vậy, người dân Quảng Xá vẫn kiên cường bám làng chiến đấu, bám hố bom để thâm canh, nghĩa vụ nhà nước lúc nào cũng vuợt mức Trong thời kỳ đổi
mới, hợp tác xã Quảng Xá được trở lại với tên mình Các truyền thống được phát
huy, mọi phong trào đều đi đầu xã Kinh tế văn hoá ngày càng phát triển
Lịch sử Làng chiến đấu kiểu mẫu Quảng Xá đã đóng góp những kinh nghiệm về chiến tranh du kích, rào làng chiến đấu trong kháng chiến chống giặc xâm lược Đó còn là nguồn cổ vũ động viên, giáo dục thế hệ trẻ hôm nay và mai sau luôn nhớ về một thời oanh liệt, đầy khí phách anh dũng của cha anh ngày trước để không ngừng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp
Với những giá trị đó, Làng chiến đấu Quảng Xá đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình ra quyết định công nhận Di tích lịch sử theo Quyết định số 3355/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2008
Trang 3536
Tiểu kết
Qua bức tranh tổng quan về làng Quảng Xá, chúng tôi thấy có những đặc điểm nổi bật sau:
- Quảng Xá là một làng cổ, thuần Việt
- Được hình thành chủ yếu trên cơ sở di dân lập ấp của các dòng họ từ Bắc vào nên làng Quảng Xá có tên trên bản đồ khá sớm Quá trình hình thành và phát triển của làng gắn liền với công cuộc khai phá vùng đất của các triều đại phong kiến Việt Nam, hay nói cách khác, gắn liền với lịch sử hình thành vùng đất
- Cư dân ở làng Quảng Xá là sự tập hợp, dung nạp cư dân của nhiều miền quê khác nhau nhưng đã biết gắn kết với nhau trong cuộc sống và làm nên sắc thái riêng của “xứ Quảng”
- Nét đặc biệt ở làng Quảng Xá là loại hình tổ chức theo huyết thống (dòng họ) tạo thành kết cấu vừa làng vừa họ hay kết cấu làng họ hết sức bền chặt
- Dưới góc độ kinh tế, làng Quảng Xá thuộc loại kinh tế tiểu nông lấy sản xuất nông nghiệp làm chính kết hợp với các nghề phụ khác
- Là vùng đất chịu nhiều biến động về lịch sử và thiên nhiên nhưng con người nơi đây đã làm nên lịch sử anh hùng cách mạng của mình, góp phần to lớn vào chiến thắng của dân tộc
Trang 3637
Chương 2 Văn hoá vật chất làng Quảng Xá
2.1 Văn hoá ẩm thực
2.1.1 Ăn:
Từ bao đời nay, cư dân làng Quảng Xá đã biết tận dụng những sản vật sẵn
có của địa phương để chế biến thành những món ăn phục vụ cho bữa ăn hàng ngày Ngoài các món ăn bình thường còn có các món ăn đặc sản độc đáo Các món
ăn này phần nhiều là món ăn bình dị nhưng đậm đà hương vị quê hương, ngon miệng lại giàu chất dinh dưỡng:
Xôi le le
Le le là một loại chim trời, thường sống ở các đầm, các phá nước mặn để ăn tôm cá Phá Hạc Hải là một trong những nơi “đất lành chim đậu” Bủa chim le le
là một nghề gian khổ, ăn gió nằm sương nhưng đầy thú vị khi bắt được chúng Thú
vị hơn nữa là được thưởng thức món Xôi le le hay Cháo le le
Chim le le mổ sạch, tẩm lên một lớp gia vị Muốn để cho thịt tươi thì lùi vào trong thùng gạo, tránh để vi khuẩn xâm nhập vào mà thịt vẫn tốt Nếp nấu xôi khi gần cạn thì vừa thấm mỡ qua hạt nếp thật đều đốt một vài lần là được Thịt le
le chín, nước mỡ le le thấm tan đều vào hạt xôi Khi bắc xuống xới ra rá, chỉ cần rửa tay sạch vắt ăn Xôi Le Le có lẽ là món ăn độc đáo nhất mà ai đã ăn một lần rồi thì nhớ mãi
Cháo Le Le cũng là món ăn đặc biệt Cách nấu cháo cũng đơn giản, chỉ chú
ý sự ngâm tẩm gia vị vào thịt le le Thịt le le béo, xương le le mềm, giòn, ăn có vị thơm khó quên Món ăn đã được dân gian đúc kết thành những câu ca dao trữ tình nói về tình cảm vợ chồng:
Thương chồng nấu cháo le le Nấu canh hoa lý nấu chè hạt sen
Các món ăn từ cua:
Trang 3738
Cua có nhiều anh em đồng tông khác giống Có thể kể đủ loại như: cua, de, chẹc, đam, còng, cáy, dã tràng, rạm, cua đồng, Trừ cua là đặc sản hiếm còn lại tất cả đều rất phổ biến ở các vùng đồng chiêm ao đầm, sông ngòi và ven biển
- Món đam kềnh dưa chuối:
Ở vùng đồng chiêm như Quảng Xá, đam (tức cua đồng) có sẵn ngoài đồng bắt về, chuối cây chặt trong vườn, dùng dao thật sắc thái mỏng cho thêm lá nén tươi cắt từng đoạn ngắn bằng đốt tay rồi thả muối vào trộn đều, nhồi kỹ cho xếp vào đôộc (chum nhỏ), vào vại ủ ướp vài ba ngày Khi dưa chuối đã có vị chua là dùng được Nếu có đam thì kho đam, nếu không có đam thì vắt dưa ra ăn chấm với nước mắm đam dã với ớt xanh hay mắm còng, mắm cáy, mắm ngát Cơm nắm với dưa chuối trộn đam đồng kho, ăn vừa ngọt, vừa mặn, vừa chua, vừa nồng, vừa cay
“Đam kềnh, dưa chuối trộn kho Món ăn chủ lực thơm tho lạ lùng”
Chính sự dân dã đó đã đi vào câu hát rất dung dị, mộc mạc của các chiến sĩ đại đội 362, lính địa phương Quảng Bình, truyền tụng nhau trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Và cùng chính sự dân dã đó đã góp phần “chủ lực” trong cái thời hạt muối cắn đôi, bát cơm xẻ nửa để giúp người lính làm nên nhiều chiến tích trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc
như “Làm mùa tháng 8, con rạm tháng 4” hay “Rạm đi trồi thì lụt, rạm đi trụt thì
mưa” Rạm trở thành một thứ thực phẩm bình dân và quan trọng cho mỗi nhà
Rạm có nhiều cách ăn Sau đây là một số món ăn:
+ Rạm xào chua ngọt: Để có món ăn này cần đến những nguyên liệu như: rạm, bột mì, bột đao, mỡ nước, đường, giấm, tỏi, ớt, hành tươi, nước mắm, muối,
Trang 3839
hạt tiêu Cách làm: Rửa sạch rạm, bỏ mai, yếm, chặt bớt chân phía ngoài, ướp bột, gia vị, hạt tiêu xay, để ngấm Phần lá hành thái khúc, phần củ trắng của hành hoa thái nhỏ Tỏi và ớt tươi đem băm nhỏ Bôt mì trộn với bột đao hoà vào nươc lạnh sền sệt Thả rạm vào bột cho bao kín rồi bỏ vào mỡ sôi rán vàng, xúc qua đĩa Phi thơm hành tỏi trút vào, cho nước mắm, giấm, đường, ớt, dọc hành đảo đều Ăn nóng
+ Rạm rim: Rạm rửa sạch, cắt vòng trên mai (chứ không xé bỏ cả cái mai như một số món rạm khác) Cạy bỏ phần mai đã cắt xung quanh Bóc bỏ yếm, chặt bớt đoạn chân phía ngoài, lăn vào bột mì khô Hành khô bỏ vỏ, đạp dập Phi thơm hành khô, thẻ rạm đã lăn bột vào rán vàng Cho nước mắm và hạt tiêu vào chảo đảo đều cho ngấm khô vào các con rạm Xúc ra đĩa, có thể ăn nóng hoặc ăn nguội
+ Rạm muối xổi: Rạm chặt bỏ que cọng Đánh nước muối thật mặn rồi đổ rạm vào muối sống Ba ngày sau rạm đông gạch là ăn được Ai đã ăn quen thì món rạm muối xổi trộn với cơm làm cơm vàng như xôi gấc, vừa mặn vừa ngọt, vừa béo vừa bùi có mùi thơm rất hấp dẫn
Các loại mắm:
- Mắm còng, mắm cáy:
Người Quảng Xá có một câu hát rất dí dỏm:
Rau mưng kẹp với mắm kềnh
Ai ưng làm mọn (làm lẽ) bọ (cha) miềng (mình) thì vô
Mạ (mẹ) miềng(mình) nỏ (không) nói chi (gì) mô (đâu)
Ai ưng làm mọn thì vô (vào) nhà miềng
Được ăn mắm kềnh (tức là mắm cáy, mắm còng) họ sẵn sàng làm mọn
Con cáy con còng chỉ to bằng đốt tay, đốt chân, sinh đàn nảy lú sống ven các sông nước mặn Có loại càng đỏ, có loại càng tím hoặc trắng Bắt được con còng, con cáy không dễ Thoáng thấy bóng người là chúng rúc sâu vào hang hoặc dưới những bụi cây cuốc đầy gai để tự vệ nên thành ngữ mới có câu nói “nhát như cáy” cho mỗi ai thiếu mạnh dạn là vậy Tuy thế, dân ven sông vẫn có những cách
Trang 39Mắm còng, cáy có thể dùng nêm nặm hoặc chấm sống với dưa chuối, dưa
cà tươi ăn cơm thì không có gì sánh bằng cái ngon ý vị được
- Nước mắm đam:
Đam rửa sạch, bỏ vào cối giã nhỏ, cho nước muối nấu chín vừa phải Vớt ra
bỏ vào vại, âu lấy đá dằn lên tấm mê; đợi cho nước dẫy lên, múc ra đun rồi lọc
Ta có nước mắm đam màu đen, vị ngọt; dùng chấm xôi, hoặc dưa chuối muối làm thức ăn với cơm
- Tương bần:
Với Quảng Xá, cây bần như một vị thần bảo hộ thay thế rừng Hàng năm trừ mùa xuân là mùa bần ra hoa, còn hầu như bốn mùa bần đều cho trái Trái bần chín có vị chua thanh nên được nhiều người chuộng Đến mùa bần chín rộ, người dân trong làng thường hái về làm tương bần để làm gia vị Cách làm tương bần rất đơn giản Bần chín hái về gọt lớp vỏ ngoài bỏ muối trộn và cho vào cối quết nhuyễn Khi quyết cho thêm ít cơm để cho tương dẻo Sau khi quết xong ủ lại để cho lên men, rồi bỏ vào các dụng cụ đựng
Kho cá đồng bỏ tương bần cá chóng rục xương Đánh tương bần thêm ớt, tỏi chấm với rau muống, rau dền luộc thì rất bắt vị Tương bần, món ăn bình dị dân dã nên dân làng đã có câu ca:
Thương nhau trao chén tương bần Cái nghèo càng dễ đến gần bên nhau
Món ăn từ ốc, ngao sò
Trang 4041
- Ốc bươu xào khế: Ốc ngâm nước gạo một đêm, rửa sạch, chặt trôn, cạy miệng, khêu lấy ruột, loại bỏ phần phân cuối ruột, cho ít muối bóp kỹ, rửa sạch, rửa lại bằng nước nóng cho hết nhớt, để ráo
Khế rửa sạch, cắt bỏ rìa cạnh, thái mỏng, cho ít muối xóc đều, để mươi phút cho rỏ bớt nước chua Mỡ phi hành thơm, ốc thái mỏng bỏ thêm nước mắm, muối, tiêu ớt vừa phải, xào lăn Nghệ củ giã nhỏ, chắt lấy nước, có một tí bổng càng tốt,
đổ lên chảo, ốc chín tới xúc ra ngay Cho khế vào nước ốc đảo đều, thấy khế trở màu là được Đổ ốc vào, thái ít lá tía tô hoặc ngò tàu trộn đầu, xúc ra đĩa ăn nóng
- Chép chép xào:
Chép chép thuộc họ nhà ngao nhưng rất nhỏ, chỉ bằng móng tay út Cứ đến
vụ, chép chép đặc sệt lẫn trong luồng cát của khúc sông Kiến Giang từ Mỹ Trung đến Trần Xá nên dân trong làng chỉ mang sảo, rổ đến xúc chao cho hết cát mang
về dùng Chép chép đem về rửa sạch, luộc cho nhả ra, vất bỏ vỏ, đưa ruột xào mỡ, dùng bánh đa nem quấn với rau mùi, xà lách, cải non chấm nước lèo ăn Nước luộc dùng nấu canh rất ngọt
Món ăn từ khoai, sắn:
- Bánh khoai lang:
Luộc khoai tươi bóc vỏ sạch cho vào cối giã nhuyễn Lấy một thanh tre mỏng rộng 3mm uốn cong vòng như vành nón tuỳ cỡ to nhỏ Lấy khoai nhuyễn bỏ vào dùng chai thuỷ tinh lăn qua vành tre ép khoai xuống, khoai sẽ thành một chiếc bánh rất đẹp Đem bánh phơi khô rồi xếp cất Khi cần ăn nước lên bếp than già Bánh phồng rộp thơm nức Càng nhai bột khoai tan vào miệng rất thú vị Trẻ con
ăn bánh khoai này rất tốt cho nhuận trường
- Khoai deo (còn gọi là khoai kẹo):
Khoai bới về chọn củ tốt để một thời gian để tinh bột hoá đường chuẩn bị lên mầm thì mang ra luộc chín, bóc vỏ, cắt lát phơi khô Làm đúng kỹ thuật lát khoai nhìn có sức hấp dẫn đối với người ăn Lát khoai trong veo có màu vàng tươi,
để ra gió ẩm một lúc thì mềm là ăn được Có lẽ do đặc điểm ngọt mềm nhai như