1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội ( Qua truyện kể và lễ hội

158 562 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 4,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh, chúng tôi muốn lý giải con đường dân gian hóa, Phật thoại hóa từ hiện tượng Từ Đạo Hạnh, để thấy được sự đặc biệt của hiện tượng này trong văn học

Trang 1

đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học xã hội & nhân văn

- -VŨ THỊ HUẾ

KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG TỪ ĐẠO HẠNH Ở HÀ NỘI

(QUA TRUYỆN KỂ VÀ LỄ HỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyờn ngành: Văn học dõn gian

XC 14,10 QUYỂN

Trang 2

KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG TỪ ĐẠO HẠNH Ở HÀ NỘI

(QUA TRUYỆN KỂ VÀ LỄ HỘI)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội

(Qua truyện kể và lễ hội) và toàn bộ nội dung luận văn không phải là sự sao

chép bất cứ một công trình khoa học hay luận văn nào đã được công bố trong

và ngoài nước Các tài liệu sử dụng tham khảo đã được trích nguồn đầy đủ và

chính xác

Xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 4 / 2012 Người viết luận văn

Vũ Thị Huế

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Nguyệt, người đã dành nhiều thời gian quý báu tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gian Hà Nội đã góp ý tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Tôi cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các cá nhân, đoàn thể có liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát điền dã và tìm kiếm, tập hợp tư liệu

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự giúp

đỡ, động viên của bạn bè và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2012

Học viên

Vũ Thị Huế

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử vấn đề 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4 Phương pháp nghiên cứu 12

5 Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn 13

6 Cấu trúc luận văn 14

PHẦN NỘI DUNG 15

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG VĂN HÓA HÀ NỘI, HÀ TÂY (CŨ)

VÀ NGUỒN GỐC HIỆN TƯỢNG TỪ ĐẠO HẠNH 15

1.1 Vùng văn hóa Hà Nội và Hà Tây (cũ) 15

1.1.1 Những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội của Hà Nội 15

1.1.2 Những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội của Hà Tây (cũ) 22

1.2 Bối cảnh văn hóa Phật giáo thời Lý 25

1.2.1 Vài nét khái quát về sự phát triển của Phật giáo thời Lý 25

1.2.2 Vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo tới văn hóa, chính trị của đất nước 28 1.2.3 Yếu tố Mật giáo của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi 29

1.3 Con người, cuộc đời Từ Đạo Hạnh 30

1.3.1 Thân thế Từ Đạo Hạnh 30

1.3.2 Vai trò của Từ Đạo Hạnh trong lịch sử 31

Chương 2: KHẢO SÁT TRUYỀN THUYẾT VỀ TỪ ĐẠO HẠNH 36

2.1 Khái niệm và đặc trưng của truyền thuyết 36

2.2 Khảo sát truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh 38

2.2.1 Nội dung của các truyền thuyết 38

2.2.2 Cấu trúc của kiểu truyện Từ Đạo Hạnh 43

2.3 Các motif chính của kiểu truyện Từ Đạo Hạnh 44

Trang 6

2.3.1 Motif sinh nở thần kỳ 45

2.3.2 Motif tài năng và phép lạ 47

2.3.3 Motif vật phù trợ 49

2.3.4 Motif hóa (tịch diệt thần kỳ) 53

2.3.5 Motif tái sinh 55

Chương 3: KHẢO SÁT LỄ HỘI VỀ TỪ ĐẠO HẠNH 62

3.1 Khái niệm lễ hội 62

3.1.1 Khái niệm lễ hội 62

3.1.2 Mối quan hệ giữa lễ và hội 64

3.2 Tín ngưỡng thờ Từ Đạo Hạnh 64

3.3 Lễ hội về Từ Đạo Hạnh 67

3.3.1 Lễ hội chùa Láng 67

3.3.2 Lễ hội chùa Thầy 77

3.3.3 Một số lễ hội khác 89

PHẦN KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 101

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ Đạo Hạnh (? - 1117) tục gọi là đức Thánh Láng, Thánh Từ, là một thiền sư nổi tiếng Việt Nam thời nhà Lý Cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều màu sắc huyền thoại Ông là một trong những hiện tượng văn hóa chứa nhiều nghịch lý

Từ Đạo Hạnh được biết đến không chỉ là một thiền sư, ông còn là một danh nhân văn hóa - lịch sử, một tác giả văn học.Ông có tên húy (Từ Lộ), cha ông là Từ Vinh, mẹ ông là bà Tăng Thị Loan Quê ông tại hương Yên Lãng, nay thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội Từ một con người xác thực, Từ Đạo Hạnh đã chuyển hóa dần thành nhân vật thần linh, truyền thuyết, nhân vật của truyện cổ tích Ông được tôn vinh vào hàng Thánh, Thánh Láng, thánh Từ Đạo Hạnh, tương truyền ông có phép thần thông, thác sinh làm vua Lý Thần Tông (1128 - 1138), sau còn là hậu thân Lê Thần Tông (1619 - 1643)

Tìm hiểu truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh, chúng tôi muốn lý giải con đường dân gian hóa, Phật thoại hóa từ hiện tượng Từ Đạo Hạnh, để thấy được

sự đặc biệt của hiện tượng này trong văn học dân gian

Hiện tượng Từ Đạo Hạnh không chỉ được lưu truyền trong truyền thuyết

mà còn tồn tại trong những lễ hội dân gian cho tới ngày nay Lễ hội chùa Láng,

lễ hội chùa Thầy (Hà Nội) là hai lễ hội lớn về Từ Đạo Hạnh

Trong giai đoạn hiện nay, việc gìn giữ và phát triển văn hóa dân gian rất quan trọng Vì vậy một vấn đề đặt ra là cần phải tìm hiểu các nhân vật dân gian, thông qua các văn bản truyện kể, song song với việc tìm hiểu qua đời sống tâm linh của người dân, cụ thể là qua các lễ hội dân gian Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh ở hai phương diện truyền thuyết và lễ hội, giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn một trong những đặc trưng của văn học dân gian, đó là tính nguyên hợp truyền

Trang 8

thuyết thường gắn liền với lễ hội Đây cũng là hướng nghiên cứu đồng thuận trong

xu hướng đặt văn học dân gian trong tổng thể văn hóa dân gian

2 Lịch sử vấn đề

Truyền thuyết và lễ hội về Từ Đạo Hạnh đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhưng mỗi người trên những phương diện mục đích nghiên cứu, hướng nghiên cứu khác nhau, thường chỉ quan tâm tới một phương diện nào

đó của hiện tượng này

- Về mặt văn bản sưu tầm, hành trạng của ông sớm được văn bản hóa trong sử sách

Trước tiên, phải kể đến bài minh khắc trên chuông chùa Thiên Phúc do

đệ tử của Đạo Hạnh là Huệ Hưng soạn vào năm 1109 Theo Lê Quý Đôn trong

Kiến văn tiểu lục [12]: Từ Đạo Hạnh đã đúc chuông chùa Thiên Phúc vào năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 9, Huệ Hưng soạn bài minh, nghệ nhân Lang Nghiêm Thường đúc chữ, về sau người ta khắc sắc chỉ của vua Trần Anh Tông Chuông đúc vào thời Lý hiện nay không còn, nhưng chùa hiện còn giữ được một quả

chuông thời Tây Sơn, có bài Phật Tích sơn Thiên Phúc tự tân chung ký minh Trên

quả chuông có bài minh của Phan Huy Ích, bài minh viết: “Chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích do Từ Đạo Hạnh sáng lập Đạo Hạnh sống vào thời Lý Nhân Tông (1072 - 1128), ông tu luyện trên núi, pháp lực vô biên, ông dựng am cạnh vách đá,

mở ra trường đạo riêng Vào mùa xuân năm Kỷ Sửu, niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa thứ 9 (1109), ông cho đúc một quả chuông nặng hai nghìn cân, rộng khoảng

10 vòng Mùa thu năm đó, lại đón đệ tử là Thích Huệ Hưng tới để viết bài ký dài vài nghìn câu, một bài minh theo lối 4 câu 2 vần, văn từ, điển chương rất đẹp Người viết chữ là Nghiêm Thường Chuông đúc được 7 năm thì Từ Đạo Hạnh mất Trải qua các triều đại Lý, Trần, chùa vẫn được bảo vệ tốt Riêng quả chuông thì sau cuộc xâm lược của quân Minh vẫn còn giữ được nguyên vẹn Mãi đến năm

1789 (năm Kỷ Dậu, niên hiệu Quang Trung năm thứ 2), do thiếu đồng để đúc tiền, nên quả chuông nhà Lý này mới bị phá hủy”

Trang 9

Gần đây những nhà nghiên cứu và sưu tập Di Văn Kim Thạch của các các thời đại từ Bắc thuộc đến Lý - Trần, đã tìm được bài ký và bài minh khắc trên chuông chùa Thiên Phúc do Huệ Hưng soạn năm 1109 được chép trong

một sưu tập văn bia Kim văn loại tụ (Sách hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm), có tên là: Thiên Phúc tự hồng chung minh văn (Minh

văn chuông chùa Thiên Phúc) Bài ký hơn ngàn chữ, bài minh 4 câu 2 vần Ngoài ra, truyện về Từ Đạo Hạnh còn được ghi chép trong nhiều tư liệu

cổ như: An Nam chí lược [64], Thiền uyển tập anh [77], Việt điện u linh [87],

Đại Việt sử ký toàn thư [34], Lĩnh Nam chích quái [52], Tân đính Lĩnh Nam chích quái [53], Việt sử giai thoại [74], Thơ văn Lý - Trần [43], Từ điển văn học [41], Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam [4], Truyền thuyết dân gian người Việt [22], Lễ hội Việt Nam [84], Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam [39]…

Có thể thấy dưới mỗi thời đại, mỗi điểm nhìn văn hóa, mỗi tư duy tiếp cận khác nhau, các nhà biên soạn đã có những ghi chép, đánh giá riêng về hiện tượng này Nhưng dù tiếp cận ở góc độ nào, câu chuyện về Từ Đạo Hạnh vẫn luôn luôn được thêu dệt, huyền thoại hóa, dân gian hóa

- Về mặt nghiên cứu:

+ Nhóm các công trình nghiên cứu về lễ hội dân gian nói chung và lễ hội

về Từ Đạo Hạnh nói riêng: Thử tìm hiểu giữa lễ hội với các tín ngưỡng dân gian

(Nguyễn Quang Lê), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam (Nhiều tác giả), Lễ hội Việt

Nam (Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý), Lễ hội – Một cái nhìn tổng thể (Trần Quốc

Vượng), Địa chí tôn giáo lễ hội Việt Nam (Mai Thanh Hải), Lễ hội cổ truyền (Lê Trung Vũ), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, 60 lễ hội truyền thống

Việt Nam (Thạch Phương, Lê Trung Vũ)… và một số bài nghiên cứu: Bản chất và đặc trưng tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền Việt Nam (Nguyễn Quang

Lê), Phác thảo lịch sử lễ hội của người Việt ở Bắc Bộ (Nguyễn Xuân Kính),

Trang 10

Hội Láng (Nguyễn Vinh Phúc) và Hội chùa Thầy (Lê Hồng Lý) trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam; Hội chùa Láng, Hội chùa Thầy (Lê Trung Vũ, Lê Hồng

Lý) trong Lễ hội Việt Nam Hai công trình dày dặn nhất về lễ hội nói chung là Kho

tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam và Lễ hội Việt Nam là pho từ điển về lễ hội của ba

miền Bắc - Trung - Nam đã khảo sát diện mạo cụ thể, làm rõ những đặc trưng riêng của mỗi lễ hội từ địa điểm, thời gian tổ chức, di tích thờ cúng - nơi diễn ra lễ hội, nhân vật phụng thờ, diễn biến lễ hội, giá trị văn hóa của lễ hội

+ Nhóm các bài nghiên cứu về Từ Đạo Hạnh và các hiện tượng liên

quan tới nhân vật này:

Các công trình nghiên cứu về Phật giáo: Lịch sử Phật giáo Việt Nam [72], Việt

Nam Phật giáo sử lược [75], Việt Nam Phật giáo sử luận [34] đã giới thiệu về Từ

Đạo Hạnh với vai trò là vị thiền sư thuộc thế hệ thứ 12 của phái thiền Tì Ni Đa Lưu Chi thời Lý Đặc biệt, Từ Đạo Hạnh còn được nhắc đến như là đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng Mật giáo: “Đến thời Lý, nhiều nhà sư ở phái này vẫn tiếp tục các phép tu tập Mật giáo Đại diện tiêu biểu là thiền sư Từ Đạo Hạnh, người cùng thế hệ với sư Vạn Hạnh Tiểu sử của Đạo Hạnh gắn liền với hàng loạt chuyện thần

bí, linh dị như sai người thần, múa gậy phép, đầu thai, trút xác” [72, tr 160]

Cũng từ quan điểm triết học, Khải Nguyên có bài Từ Đạo Hạnh có phải

là vị chân tu của đạo Phật? Trong bài viết, tác giả cho rằng: nhân thân, hành

trạng của Từ Đạo Hạnh giống các đạo sĩ nhiều hơn và không nên xếp ông vào bậc chân tu Phật giáo

Từ góc độ văn hóa, PGS Nguyễn Hữu Sơn trong bài Thiền sư Từ Đạo

Hạnh - từ chùa Láng đến chùa Thầy đã cho rằng Từ Đạo Hạnh là “một trong

những hiện tượng văn hóa chứa nhiều nghịch lý”, được khúc xạ qua thời gian

và không gian, trong đó mang nhiều yếu tố của Phật – Nho và Đạo giáo

Cùng tác giả Nguyễn Hữu Sơn, các bài nghiên cứu: Tìm hiểu đặc trưng

“lạ hóa” về sự ra đời của các thiền sư trong Thiền uyển tập anh, Về motif “quy

Trang 11

tịch” của các thiền sư trong Thiền uyển tập anh, Loại hình tác phẩm Thiền uyển tập anh khi phân tích về cấu trúc, cốt truyện, các motif cơ bản của loại

truyện thiền sư cũng đã nhiều lần nhắc tới hiện tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh

Trong công trình nghiên cứu Phật giáo với 1000 năm Thăng Long, Thích Đồng Bổn có bài Đóng góp thêm các bản dịch mới về bài kệ của thiền sư Từ Đạo

Hạnh [9] Như nhan đề của bài viết, tác giả đã đưa thêm các bản dịch mới về bài

kệ Hữu không của Từ Đạo Hạnh và đánh giá cao tài năng của thiền sư Từ Đạo

Hạnh, cho bài kệ của thiền sư là “một giá trị văn học đã đạt đến chân lý giác ngộ” Trên phương diện tín ngưỡng, lễ hội, chúng ta có nhiều công trình, bài viết về các lễ hội chùa Láng, chùa Thầy, và một số chùa có thờ Từ Đạo Hạnh:

Đỗ Danh Huấn có bài Làng Đồng Bụt và thiền sư Từ Đạo Hạnh [24] Thông

qua bài viết tác giả đã chỉ ra một không gian sinh hoạt văn hóa Phật giáo với

hệ thống chùa, các sinh hoạt lễ hội và những truyền thuyết lịch sử gắn với cuộc đời thiền sư Từ Đạo Hạnh

Bài nghiên cứu Từ huyền tích của Từ Đạo Hạnh đến lễ hội chùa Thầy [32]

của Đặng Thị Phong Lan đã phân tích một số huyền tích của Từ Đạo Hạnh liên quan đến lễ hội chùa Thầy, cũng như liên quan đến việc tái hiện nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc

Cùng hướng nghiên cứu còn có các bài Chùa Láng với sự tích thiền sư Từ

Đạo Hạnh (Thích Bảo Nghiêm), Non nước chùa Thầy (Thích Viên Thành), Nghiên cứu về chùa Thầy (Thích Viên Thành), Thêm tư liệu về chùa Láng (Đỗ

Thỉnh), Thiền sư Từ Đạo Hạnh con đường tái sinh (Như Hùng), Thiền sư Từ

Đạo Hạnh và các di tích liên quan ở Hà Nội (Phạm Thị Lan Anh)…

Ngoài ra còn rất nhiều các bài viết giới thiệu về lễ hội chùa Láng, chùa Thầy với ý nghĩa quảng bá các danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước Viết về Từ Đạo Hạnh với vai trò là vị thủy tổ của nghệ thuật múa rối

nước có các bài viết: Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam (Anh Chi), Thủy tổ

Trang 12

của múa rối nước, Rối nước làng Ra, Múa rối chùa Bi,… Hàng năm, vào

ngày chùa mở lễ hội, nhân dân địa phương lại tổ chức trò múa rối nước để tưởng nhớ tới công lao của thủy tổ Từ Đạo Hạnh

Các công trình nghiên cứu chúng tôi thống kê trên đây, cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu hiện tượng Từ Đạo Hạnh một cách khái quát, tổng hợp, nhưng trên phương diện văn học, văn hóa, tín ngưỡng của hiện tượng đã phần nào được đề cập tới Trên cơ sở kế thừa những thành quả của người đi trước từ việc khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh qua truyện kể và lễ hội dân gian, chúng tôi sẽ tiến hành hệ thống hóa các truyền thuyết cũng như những lễ hội về hiện tượng này với mong muốn đưa ra cái nhìn toàn diện, hệ thống hơn

về nhân vật dưới cả hai góc độ văn học và văn hóa dân gian

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng: Nhân vật Từ Đạo Hạnh thể hiện trong văn học và trong

văn hóa dân gian, cụ thể là thể hiện trong truyền thuyết và trong lễ hội dân gian Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Những truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh (đã công bố và sưu tầm được)

- Các lễ hội dân gian xung quanh hiện tượng Từ Đạo Hạnh (qua các lễ hội ở các chùa ở Hà Nội: chùa Láng, chùa Thầy…)

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mà chúng tôi lựa chọn là một hệ thống phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp với mục đích vừa có khả năng bao quát vừa khai thác hiện tượng từ trong bản chất của nó, dưới nhiều khía cạnh

và góc độ Nghiên cứu hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học và trong văn hóa dân gian, chúng tôi sử dụng những phương pháp:

- Phương pháp cấu trúc - loại hình: là phương pháp cơ bản để nghiên cứu hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học dân gian

Trang 13

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: văn hóa học, xã hội học, dân tộc học, tâm lý học, sử học, ngôn ngữ học: giúp cho việc nghiên cứu hiện tượng

Từ Đạo Hạnh dưới góc nhìn văn hóa

- Phương pháp thống kê: thống kê các truyền thuyết, các motif, các lễ hội dân gian về hiện tượng Từ Đạo Hạnh

- Phương pháp so sánh: so sánh giữa các truyền thuyết, motif, các lễ hội dân gian về hiện tượng Từ Đạo Hạnh

- Phương pháp điền dã - khảo sát thực tế : điều tra, quan sát, lấy tư liệu thực tế tại những vùng phát tích và lưu truyền hiện tượng thờ Từ Đạo Hạnh

5 Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn

5.1 Mục đích

Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học và trong lễ hội dân gian, chúng tôi muốn nhìn nhận và khái quát hóa, hệ thống hóa về hiện tượng này từ góc độ văn học và góc độ văn hóa Qua đó thấy được mối liên hệ giữa hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học và trong đời sống lễ hội dân gian Việt Nam Từ đó chứng minh rằng hiện tượng Từ Đạo Hạnh không chỉ là một truyền thuyết, một lễ hội bó hẹp trong một địa phương nhất định mà nó được sinh ra và lưu truyền, có sức sống bền bỉ về mặt thời gian và ảnh hưởng rộng lớn về mặt không gian

5.2 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình khảo sát về Từ Đạo Hạnh từ góc nhìn văn học, văn hóa Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ đem lại một cái nhìn khái quát và sinh động về hiện tượng Từ Đạo Hạnh (trong truyền thuyết xưa và trong các lễ hội dân gian còn tiếp diễn tới ngày nay) Qua đó thấy được mối liên hệ giữa hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học và trong đời sống lễ hội dân gian Việt Nam

Trang 14

- Về mặt tư liệu: tập hợp một nguồn tư liệu tương đối hệ thống các truyền thuyết và lễ hội về Từ Đạo Hạnh

- Về nội dung nghiên cứu:

+ Phân tích, giải mã các motif, xác định vai trò của các motif này trong việc tạo nên cốt truyện

+ Góp phần xây dựng ý nghĩa của hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong tâm thức dân gian Giải mã phần nào các vấn đề xung quanh hiện tượng Từ Đạo Hạnh + Miêu tả và phân tích các lễ hội cổ truyền liên quan tới hiện tượng Từ Đạo Hạnh

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, phụ lục thơ và ảnh, phần nội dung của luận văn được chia làm ba chương

Chương 1: Tổng quan về vùng văn hóa Hà Nội, Hà Tây (cũ) và nguồn gốc của hiện tượng Từ Đạo Hạnh

Chương 2: Khảo sát truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh

Chương 3: Khảo sát lễ hội về Từ Đạo Hạnh

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG VĂN HÓA HÀ NỘI, HÀ TÂY (CŨ)

VÀ NGUỒN GỐC HIỆN TƯỢNG TỪ ĐẠO HẠNH

1.1 Vùng văn hóa Hà Nội và Hà Tây (cũ)

1.1.1 Những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội của Hà Nội

Hà Nội có vị trí địa lý thuận lợi về mọi mặt, nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, nằm trên trục của đồng bằng hình tam giác do sông Hồng và các phụ lưu của nó tạo nên, với chóp đỉnh Việt Trì và cạnh đáy là đường ven bờ Vịnh Bắc Bộ, ngay ở phần chia ba đầu tiên của trục này Tam giác châu thổ của sông Hồng ấy, phía bắc là dải Tam Đảo - nơi hội tụ của các dãy núi và thung lũng; ở phía nam là dải Ba Vì, núi Sơn Tinh Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km2 nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn Ở vị trí này, Hà Nội là nơi non sông hội tụ, cũng là nơi các đầu mối giao thông thủy bộ hội tụ và lan tỏa xuống biển, lên ngàn, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa với các vùng trong khu vực đồng bằng châu thổ Bắc Bộ

Hà Nội được biết đến với đặc trưng “thành phố trong sông” Sông Hồng là con sông chính của thành phố Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam Trên địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết của những con sông cổ: Hồ Tây, Hồ Gươm, hồ Trúc Bạch, hồ Thiền

Trang 16

Quang, hồ Thủ Lệ… Sông, hồ không những là nguồn nước dùng trong sinh hoạt mà còn là hệ thống thủy lợi và giao thông truyền thống phát triển cho ngành nông nghiệp trồng lúa nước Sông, hồ cũng là những điều kiện thuận lợi cho việc quy tụ xóm làng, phường phố Có thể nói các yếu tố sông - hồ - núi đã tạo nên bức tranh đặc sắc cho thiên nhiên Hà Nội

Về mặt khí hậu, khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng mưa nhiều và mùa đông lạnh

ít mưa Thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh năm tiếp nhận lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao, và do tác động của biển, Hà Nội có độ

ẩm và lượng mưa khá lớn Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự khác biệt và thay đổi rõ rệt của hai mùa nóng và lạnh

Hà Nội từ xưa đã là một điểm dân cư đông đúc Các cuộc khai quật khảo cổ tại nội thành: ở Quần Ngựa (quận Ba Đình) và ven hồ Bảy Mẫu (quận Hai Bà Trưng) đã đào được những lưỡi rìu đá mài; ở ven Hồ Tây và làng Ngọc Hà (quận

Ba Đình) có mũi giáo đồng và trống đồng Các di vật đó chừng vài ba ngàn tuổi

Ở ngoại thành dấu vết cư dân cổ dày hơn Những di chỉ khảo cổ tại Cổ Loa cho thấy con người đã xuất hiện ở khu vực Hà Nội cách đây hai vạn năm giai đoạn của nền văn hóa Sơn Vi Các hiện vật khảo cổ giai đoạn tiếp theo, từ đầu thời đại đồ đồng tới đầu thời đại đồ sắt minh chứng cho sự hiện diện của cư dân Hà Nội ở cả bốn thời đại văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn Thuở đó, làng xóm dựng trên những đồi đất ven các sông và các đầm hồ lớn nhỏ Cư dân làm nông nghiệp, trồng lúa trồng rau, đánh cá và chài lưới, chăn nuôi và săn bắn

Về thủ công có mài đá, đẽo đá, nung gốm, đúc đồng, rìu sắt…

Thất bại của Thục Phán đầu thế kỷ II trước Công nguyên đã kết thúc giai đoạn độc lập của Âu Lạc, bắt đầu giai đoạn một nghìn năm bị các triều đại phong kiến Trung Hoa thống trị Thời kỳ nhà Hán, nước Âu Lạc chia thành ba quận Giao

Trang 17

Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam; Hà Nội khi đó thuộc quận Giao Chỉ Theo sách

Thủy kinh chú, Hà Nội bước vào chính sử từ thế kỷ thứ IV với tư cách là lỵ sở của

huyện Tống Bình Tới giữa thế kỷ thứ VI, Lý Nam Đế đã dựng một tòa thành trên

gỗ ở bờ sông Tô, là tòa thành đầu tiên dựng ở đất nội thành Từ đầu thế kỷ thứ VII, dưới thời nhà Đường, nơi đây trở thành lỵ sở của An Nam đô hộ phủ Năm

866, viên tướng nhà Đường là Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi thành tên Đại La - thủ phủ của Tĩnh Hải quân Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ Vì vậy sử sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ Thế kỷ thứ X, sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, Cổ Loa một lần nữa trở thành kinh đô của nước Việt Sau khi lên ngôi năm 1009 tại Hoa Lư, năm 1010 Lý Công Uẩn quyết định dời đô về Đại La Ông đã nhìn thấy những điều kiện thuận lợi nhất về địa lý,

kinh tế, chính trị của đất Đại La, điều này đã được ghi lại trong Chiếu dời đô:

“Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương ở vào nơi trung tâm trời đất: được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng phẳng, đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất trời; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời…” [34] Ngay trong thế kỷ X, nhiều công trình tôn giáo nhanh chóng được xây dựng: Trường Quốc Tử Giám xây dựng từ năm 1070, là nơi mở các kỳ thi tuyển chọn nhân tài, đào tạo đội ngũ trí thức cho cả nước Đồng thời đây cũng là một trung tâm Phật giáo với nhiều tên tuổi cao tăng nổi tiếng như Vạn Hạnh, Minh Không, Thông Biện… Thăng Long không những tập trung những cung điện của triều đình mà còn có nhiều chùa tháp nổi tiếng, tiêu biểu như chùa Diên Hựu, chùa Sùng Khánh Báo Thiên Trong bốn công trình nghệ thuật được coi là

“An Nam tứ đại khí” mang niên đại Lý - Trần thì có hai công trình thời Lý trên

Trang 18

đất Thăng Long là chuông Quy Điền (năm 1080 tại chùa Diên Hựu) và tháp Báo Thiên (1057 tại tháp Báo Thiên) Chỉ sau một thế kỷ, Thăng Long trở thành trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của cả nước

Tới thời Trần, trong cuộc chiến chống quân Nguyên, Thăng Long ba lần bị chiếm giữ nhưng đều kết thúc trong chiến thắng của Đại Việt Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần suy vi, Hồ Quý Ly lên ngôi, chuyển kinh đô về Thanh Hóa, Thăng Long được đổi thành Đông Đô Năm 1406, nhà Minh xâm lược Đại Ngu, Đông Đô bị chiếm đóng, đổi tên thành Đông Quan Sau chiến thắng của khởi nghĩa Lam Sơn,

Lê Lợi thành lập nhà Lê và Đông Quan cũng lấy lại vị trí kinh thành Năm 1430 kinh thành đổi tên thành Đông Kinh Trong giai đoạn tranh giành quyền lực giữa nhà Lê, nhà Mạc và chúa Trịnh, Thăng Long vẫn giữ vị trí kinh đô của mình Như vậy, trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển vào Huế và dưới thời vua Minh Mệnh; năm 1831, Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội Năm 1902,

Hà Nội trở thành thủ đô của liên bang Đông Dương Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay

Lịch sử văn hóa Thăng Long - Hà Nội là một dòng chảy liên tục Thăng Long - Hà Nội không chỉ là một đô thành mà còn là một vùng văn hóa Từ khi

Cổ Loa trở thành thủ đô của nước Âu Lạc thì vùng văn hóa Thăng Long - Hà Nội trở thành trung tâm văn hóa của đất nước Nếu nhà nước Văn Lang được đặc trưng bởi văn hóa Đông Sơn thì văn hóa Thăng Long - Hà Nội khi đó cũng nằm trong khuôn khổ của văn hóa Đông Sơn và trước nữa là văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun Khi An Dương Vương hợp nhất Văn Lang và Lạc Việt thành Âu - Lạc và đóng đô ở Cổ Loa thì Cổ Loa và vùng đất Thăng Long - Hà Nội thực sự trở thành trung tâm văn hóa của đất nước Nền

Trang 19

văn hóa Đông Sơn bản địa lúc này đã được bổ sung thêm những giá trị lịch sử - văn hóa của cư dân Lạc Việt Văn hóa Thăng Long - Hà Nội trải qua một quá trình phát triển không ngừng và có sự thống nhất giữa bảo lưu và tiếp nhận các giá trị văn hóa dân tộc và văn hóa ngoại lai Sau Cổ Loa, Luy Lâu là trung tâm văn hóa đất nước Xét từ bình diện địa - văn hóa, Luy Lâu thuộc vùng văn hóa Thăng Long - Hà Nội và những nền văn hóa ngoại lai Chính trong thời kỳ này, văn hóa Thăng Long - Hà Nội đã đạt một bước tiến mới khi tiếp nhận các hệ tư tưởng Nho - Phật - Lão Suốt dòng chảy lịch sử của các triều đại phong kiến, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cho tới thời kỳ hoàn toàn độc lập của đất nước, Thăng Long - Hà Nội luôn là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của cả nước Trên nền tảng của văn hóa Đông Sơn với nghề trồng lúa nước phát triển cao, kỹ nghệ đúc đồng siêu việt, nghề làm gốm cùng các nghề thủ công tinh xảo kết hợp với các thành tựu văn hóa ngoại lai, Thăng Long - Hà Nội đã là trung tâm của nền văn hóa Đại Việt rực rỡ Trong các triều đại Lý, Trần, Lê văn hóa Thăng Long - Hà Nội đã đạt đến đỉnh cao với nhiều thành tựu đặc sắc và sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nó vẫn liên tục phát triển rực rỡ Ở vị trí kinh đô hàng ngàn năm, khiến Hà Nội trở thành nơi quy tụ của những nhân vật ưu tú, những thương nhân, những nghệ nhân, những thợ thủ công tài giỏi Họ tới đây lập nghiệp và mang theo những phong tục, tập quán địa phương và Hà Nội trở thành mảnh đất tiêu biểu cho nền văn hóa của cả Việt Nam

Thăng Long - Hà Nội còn là nơi giao thoa của những nền văn hóa lớn Hơn một nghìn năm Bắc thuộc đã để lại ít nhiều trên mảnh đất này dấu ấn của văn hóa Trung Hoa Khi Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo bằng những con đường khác nhau đã được bản địa hóa và tham gia vào sự phát triển của văn hóa Thăng Long - Hà Nội Một cách gián tiếp, những giá trị của hai nền văn hóa lớn Ấn Độ

và Trung Hoa đã được văn hóa Thăng Long - Hà Nội tiếp nhận Tiếp đến là ảnh

Trang 20

hưởng của những giá trị văn hóa phương Tây Quá trình tiếp biến với văn hóa phương Tây đã diễn ra đậm nét ở Hà Nội Chính ở đây, các yếu tố của một nền văn hóa hiện đại: văn hóa, nghệ thuật, âm nhạc, báo chí, in ấn, bảo tàng… đã hình thành và phát triển dưới ảnh hưởng của văn hóa Pháp Những thập niên gần đây, một lần nữa Hà Nội và cả nước lại tiếp nhận những làn sóng văn hóa từ châu Âu và Mỹ Nhờ có một truyền thống văn hóa lâu đời và kết tụ của nhiều dòng chảy lịch sử - văn hóa đất nước nên khi tiếp nhận những giá trị văn hóa ngoại lai, văn hóa Thăng Long - Hà Nội không hề bị biến dạng, ngược lại nó càng trở nên phong phú, đa dạng mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc

Thăng Long - Hà Nội từ xưa đã nổi tiếng với những làng nghề phong phú với câu thành ngữ quen thuộc “Hà Nội 36 phố phường” Những phố phường thuở trước được biết đến như là những làng nghề, nơi buôn bán, kinh doanh các mặt hàng truyền thống Đó là nghề trồng hoa ở Nghi Tàm, nghề làm giấy ở Yên Thái, nghề đúc đồng ở Ngũ Xá, nghề vẽ tranh ở Hàng Trống, nghề kim hoàn ở Hàng Bạc, nghề làm gốm ở làng Bát Tràng… Sau khi Hà Tây sát nhập vào Hà Nội, Hà Nội lại có thêm nhiều làng nghề phong phú khác Có thể nói các làng nghề chính là nơi thể hiện các giá trị lịch sử văn hóa Hoạt động của các làng nghề đã thể hiện sự tài hoa, tính sáng tạo, phẩm chất cần cù chăm chỉ của những nghệ nhân, những con người của mảnh đất kinh kỳ nói riêng, trên quê hương Việt Nam nói chung

Bên cạnh các hoạt động sản xuất vật chất, những hoạt động văn hóa tinh thần cũng góp phần làm đa dạng các giá trị văn hóa Đó chính là những sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng - thẩm mỹ được thể hiện qua những lễ hội truyền thống Cùng với Phú Thọ và xứ Kinh Bắc, Thăng Long - Hà Nội là một trong ba vùng tập trung nhiều lễ hội của miền Bắc Việt Nam Những lễ hội này thường để tưởng nhớ đến những nhân vật lịch sử, truyền thuyết gắn liền với các đền thờ các thần, thánh và các địa danh: Lễ hội Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì (ngày 9

Trang 21

đến ngày 12 tháng giêng); lễ hội Gióng Phù Đổng, Gia Lâm (ngày 9 tháng tư), hội Gióng Xuân Đỉnh, Từ Liêm (ngày 6 tháng giêng); hội Gióng Sóc Sơn (ngày 6 đến

8 tháng giêng); lễ hội Quang Trung ở gò Đống Đa, quận Đống Đa (mồng 5 tháng giêng); lễ hội chùa Láng làng Láng, quận Đống Đa (mồng 7 tháng 3)…

Đất Thăng Long - Hà Nội từ nghìn xưa với những điều kiện kinh tế - xã hội phát triển là nơi hội tụ nhân tài của cả nước Trong những nhân tài ấy, nhiều người được sinh ra ở đây, nhiều người được chính mảnh đất này luyện thành nhân tài Tiêu biểu là Lý Công Uẩn, người sáng lập ra kinh đô Thăng Long và thời kỳ Đại Việt của văn hóa Thăng Long, là Lý Thường Kiệt, Lê Thánh Tông, Trần Hưng Đạo, là Lê Lợi, Nguyễn Huệ, là Chủ tịch Hồ Chí Minh người đã từng khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, người khai sinh ra một thời đại mới của văn hóa Thăng Long; là những tác giả văn học nổi tiếng như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát; những nhà chính trị, nhà quân sự, nhà hoạt động văn hóa, nghệ thuật lớn của Thăng Long -

Hà Nội… Kiều Thu Hoạch trong công trình Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ

niệm 995 năm Thăng Long - Hà Nội, khi đánh giá về phẩm chất người Hà Nội

đã cho rằng: “… cái công nuôi dưỡng, nhào nặn của chiếc nôi văn hóa Thăng Long đối với các nhân tài văn hóa của dân tộc là đặc điểm nổi bật, đặc sắc mà không một vùng văn hóa địa phương nào có được”

Như vậy, trải qua trường kỳ lịch sử với bao biến cố, Thăng Long - Hà Nội luôn là “nơi trung tâm bờ cõi”, “nơi đô thành bậc nhất”, nơi hội tụ tinh hoa sinh khí muôn nhà, là mảnh đất tiêu biểu về văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của cả nước Thăng Long - Hà Nội giữ vai trò kinh đô lâu dài nhất trong lịch sử dân tộc và cũng xếp hạng vào những kinh đô có bề dày lịch sử nhất trên thế giới Thật xứng đáng với sự lựa chọn và tiên liệu của vua Lý Thái Tổ

“thượng đô của kinh sư muôn đời”

Trang 22

1.1.2 Những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội của Hà Tây (cũ)

Hà Tây là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng Hà Tây hợp nhất của hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông với diện tích là 2.193km2 Sơn Tây vốn thuộc xứ Đoài, Hà Đông thuộc trấn Sơn Nam Thượng Xứ Đoài ngược lên phía Tây là vùng núi, Hà Đông xuôi xuống phía Nam là vùng trũng Hai vùng đất đều kề sát kinh thành Thăng Long - Hà Nội Hà Tây có vùng núi cao Ba Vì, phía Nam có dãy núi đá vôi thuộc huyện Mỹ Đức, nơi có động Hương Tích nổi tiếng Các huyện Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ phần lớn là vùng đồi núi thấp Còn lại là đồng bằng tương đối bằng phẳng, chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp trồng lúa nước

Hà Tây có sáu con sông cổ (sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Nhuệ, sông Bùi) chảy qua với tổng chiều dài 436km, tạo nên những bãi bồi phù sa màu mỡ giúp phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm cũng như các loại cây hoa màu Với hệ thống sông như vậy, Hà Tây còn là huyết mạch giao thông đường thủy, rất thuận tiện trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa với các vùng, hội nhập với đất Thăng Long Nhiều thương cảng, đô thị lớn đã hình thành

Hà Tây nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình: 23,3 °C, chênh lệch khá cao giữa các vùng Mùa hè ở đồng bằng lên tới 36-37 °C, cá biệt tới 41 °C, mùa đông ở vùng cao có thể xuống tới 3 °C Mùa hè có khi hạn hán kéo dài, mùa mưa thì thường xuyên dông bão, ngập lụt Để thích ứng với

tự nhiên, người dân phải đắp đê phòng lũ, đào giếng trữ nước Điều kiện tự nhiên khó khăn, tạo cho cư dân nông nghiệp nơi đây tâm lý cầu mong vào sự giúp đỡ của những vị thần thánh để có được cuộc sống yên bình

Về mặt hành chính, năm 1965, Hà Tây được hợp nhất từ hai tỉnh Sơn Tây và

Hà Đông Tới năm 1975, Hà Tây hợp nhất với tỉnh Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình Năm 1991, Hà Tây lại tách thành tỉnh riêng Ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn

Trang 23

bộ địa giới của Hà Tây được sáp nhập vào thủ đô Hà Nội Hà Tây trước khi chấm dứt gồm hai thành phố và 12 huyện, trong đó có huyện Quốc Oai nơi có chùa Thầy - nơi lưu truyền truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh và thờ Từ Đạo Hạnh

Hà Tây là một vùng đất có lịch sử phát triển lâu dài Theo những phát hiện khảo cổ học, cách đây trên vạn năm người nguyên thủy đã sống ở hang Sũng Sàm thuộc khu thắng cảnh Hương Sơn Các nhà khảo cổ cũng phát hiện một di chỉ tại núi Phượng Hoàng (Sài Sơn - Quốc Oai) qua gần 100 hiện vật: rìu đá, mảnh gốm, xương động vật Xác định di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên, có niên đại 3500 - 4000 năm trước [10, tr 3] Ngoài ra, tới nay, Hà Tây còn phát hiện được 23 trống đồng Đông Sơn Qua những kết quả khảo cổ có thể nhận thấy cư dân đã có mặt ở đây từ thời nguyên thủy, khai phá đất hoang, xây dựng xóm làng, góp phần làm nên nền văn hóa Phùng Nguyên, Gò Mùn, Đông Sơn Thời đại Hùng Vương, Hà Tây thuộc đất Phong Châu, thời thuộc Hán là quận Giao Chỉ, thời Bắc thuộc là quận Tân Hưng, quận Tân Xương, Châu Hưng, Châu Phong Trong buổi đầu đất nước độc lập tự chủ, dưới các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, đây là châu (Phong Châu và Quốc Oai), thời Trần đây là

Lộ Tới thời Lê đây là Tây Đạo Năm Quang Thuận thứ 7 đây gọi là Quốc Oai thừa tuyên và năm thứ 10 gọi là Sơn Tây thừa tuyên Đến năm Hồng Đức thứ 21 đổi thành xứ Sơn Tây rồi trấn Sơn Tây bao gồm tỉnh Sơn Tây, tỉnh Vĩnh Phúc

và cả huyện Từ Liêm, một phần Hà Đông, Hòa Bình Năm Minh Mệnh thứ 12, tỉnh Sơn Tây chính thức được thành lập [35, tr 62]

Hà Tây từ lâu đã nổi tiếng là mảnh đất trăm nghề Hiện nay, tỉnh có 1.450 làng, trong đó 900 làng có nghề và 106 làng được gọi là làng nghề Ở đây, các nghề thủ công ra đời và phát triển rất sớm Nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa có từ đời Hùng Vương (làng Cổ Đô, La Phẩm ở Ba Vì, làng Vạn Phúc,

La Khê…); nghề khảm trai (làng Nhân Hiền ở Thường Tín), nghề sơn mài

Trang 24

(Duyên Thái), tiện gỗ (Nhị Khê), thêu (Quất Động), hàng mây tre (Phú Vinh)… Đặc biệt các làng nghề nổi tiếng ở Hà Tây thường có ngày giỗ các vị

tổ nghề, hay các nhà thờ tổ Hàng năm đến ngày người dân trong làng lại mở hội tưởng nhớ tới công lao của các vị tổ nghề

Vùng đất Hà Tây từ xưa đến nay vẫn tự hào là vùng “địa linh nhân kiệt” Đầu công nguyên, Hà Tây có bà Man Thiện Tương truyền bà có hai con là Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai bậc anh thư nữ kiệt Hai Bà Trưng - anh hùng dân tộc khởi đầu cho tinh thần “anh hùng bất khuất, trung hậu đảm đang” của phụ nữ Việt Nam Sau Hai Bà Trưng, ở làng Đường Lâm nổi tiếng có hai nhân vật Phùng Hưng, Ngô Quyền - những vị vua, những người anh hùng dân tộc đem nền độc lập, tự chủ cho đất nước Từ khi nhà Lý mở kỳ thi đầu tiên tại Quốc Tử Giám (1076) đến khoa cuối cùng (1919), cả nước có 2.898 vị tiến

sĩ thì Hà Tây có 315 vị đứng hàng đầu cả nước Trong đó có những dòng họ, những làng khoa bảng nổi tiếng Đó là những anh hùng, những nhà văn hóa: Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sĩ, Phan Huy Chú, Nguyễn Thượng Hiền…

Khi nhà Lý dời đô về Thăng Long, nhiều đền, chùa được xây dựng ở Hà Tây Còn những ngôi chùa có di tích, truyền thuyết được xây dựng từ thời Lý như chùa Thầy với truyền thuyết về thiền sư Từ Đạo Hạnh Hà Tây cũng là vùng đất của lễ hội truyền thống: lễ hội chùa Hương (Mỹ Đức), lễ hội hát du tại huyện Quốc Oai cứ 36 năm mới tổ chức một lần, lễ hội chùa Thầy (Quốc Oai), hội thả diều ở Bá Giang - Đan Phượng, hội đền Thánh Tản Viên, lễ hội Chử Đồng Tử (xã Thường Tín - Thường Tín)… những lễ hội này đã góp phần vào việc bảo lưu được nhiều loại hình văn hóa phi vật thể, tôn vinh các anh hùng dân tộc, các vị tổ nghề có công khai sáng, gìn giữ phong tục tập quán của các cộng đồng dân cư

Trang 25

1.2 Bối cảnh văn hóa Phật giáo thời Lý

1.2.1 Vài nét khái quát về sự phát triển của Phật giáo thời Lý

Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam được chia làm ba thời kỳ chính: thời kỳ từ đầu công nguyên, thời kỳ độc lập tự chủ (938) qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều Nguyễn, thời kỳ Pháp thuộc và sau 1954 Ở thời kỳ đầu công nguyên, Phật giáo được xác định là du nhập vào nước ta từ thế kỷ II Sau công nguyên bằng đường biển và đường bộ từ Ấn Độ và Trung Quốc tại Giao Chỉ và Chăm Pa Ở thời kỳ độc lập tự chủ, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến triều Nguyễn: nhà Đinh và Tiền Lê đã đưa Phật giáo lên thành quốc giáo với chức tăng thống và thiền sư có vai trò cố vấn cho các nhà vua Thời nhà Lý, Phật giáo phát triển cực thịnh, trở thành quốc giáo Thời nhà Trần, Phật giáo tiếp tục phát triển và đạt nhiều thành tựu lớn Thời Hậu Lê, Phật giáo chính thức bước vào thời kỳ suy thoái do nhiều nguyên nhân trong đó nổi bật là do Hồ Quý Ly ra sức phát triển Nho giáo vào cuối thế

kỷ XIV, và sự xâm lược của nhà Minh vào Đại Việt thế kỷ XV Trong thời kỳ đất nước phân tranh Đàng trong - Đàng ngoài, Phật giáo ở hai xứ phát triển với những học thuyết khác nhau Nếu như Phật giáo Đàng trong phát triển mạnh mẽ trên cơ sở một học lý mới nhờ vai trò của chúa Nguyễn Phúc Chu, thì Phật giáo Đàng ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ từ dòng thiền Trúc Lâm Yên

Tử Ở thời kỳ Pháp thuộc và sau 1954: trong thời Pháp thuộc Phật giáo bị đàn

áp và khủng bố gắt gao nên Phật giáo thời kỳ này có tinh thần nhập thế và chấn hưng mạnh mẽ Sau 1954, Phật giáo phát triển trở lại và dần lấy lại vị thế

Có thể thấy, trong suốt hơn hai mươi thế kỷ qua, Phật giáo đã có một vai trò, vị trí nhất định đối với lịch sử dân tộc Đặc biệt là trong triều Lý (1010 - 1225), khi Phật giáo phát triển cực thịnh và trở thành quốc giáo của dân tộc, đây cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà Từ thế

kỷ XI cho đến khoảng hết thời nhà Lý, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội nước ta trên mọi phương diện: văn hóa, chính trị, xã hội

Trang 26

Lý Công Uẩn người mở đầu triều đại Lý, đã lớn lên trong nhà chùa Trong cuộc vận động lên ngôi, ông đã được sự ủng hộ và giúp đỡ của giới Phật giáo như sư Vạn Hạnh, sư Đa Bảo Ngay sau khi lên ngôi, cũng như trong suốt các năm làm vua, Lý Công Uẩn đã có nhiều lệnh chỉ có lợi cho sự phát triển của Phật giáo: làm chùa, độ dân làm sư, sai sứ sang Trung Quốc xin kinh Tam Tạng… Không chỉ Lý Công Uẩn mà các vua triều Lý đều tôn sùng đạo Phật Lý Thái Tông thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông, Lý Thánh Tông,

Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông thuộc phái thiền Thảo Đường Sau các vua, tầng lớp quý tộc quan liêu cũng đều mộ Phật Có thể nói, thời Lý từ vua quan đến thần dân đều tôn sùng đạo Phật

Dưới triều Lý, nhiều chùa chiền với kiến trúc mỹ thuật độc đáo đã được

xây dựng Các sách như Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư trong kỷ

(chương) viết về nhà Lý đều cho thấy hầu như trong tất cả các đời vua đời nào cũng có ghi lại việc xây dựng chùa tháp, đúc tượng Năm 1010 vừa lên ngôi,

Lý Thái Tổ cho xây tám ngôi chùa ở quê vua là phủ Thiên Đức, tỉnh Bắc Ninh Tại Thăng Long vua cho dựng chùa Hưng Thiên Ngự và gần điện Thái Hòa, chùa Vạn Tuế Tiếp đó vua cho lập các chùa Thiên Quang, Thiên Đức, Thiên Vương, Thắng Nghiêm, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ Khắp trong nước chừng 300 ngôi chùa được tạo dựng Năm 1024, vua lại cho lập thêm chùa Chân Giáo Năm 1036, vua Lý Thái Tông làm lễ khánh thành tượng Phật Đại Nguyện vừa đúc xong Năm 1040, vua lại khánh thành một nghìn pho tượng Phật bằng gỗ, một nghìn bức tranh Phật và một vạn cờ phướn Năm 1041, đúc tượng Phật Di Lặc bằng đồng nặng 7.560 cân tại viên Thiên Phúc Năm 1049, vua dựng chùa Diên Hựu

Năm 1055, vua Lý Thánh Tông xây chùa Đông Lâm và chùa Tĩnh Lự ở Bắc Ninh Năm 1056, vua khởi công xây chùa Sùng Khánh Báo Thiên Năm

Trang 27

1058, vua xây điện Linh Quang, Kiến Lễ, Sùng Nghi Năm 1070, dựng chùa Nhị Thiên Vương…

Năm 1072 vua Lý Nhân Tông lên ngôi lại cho xây nhiều chùa tháp mới

Mẹ vua là thái hậu Linh Nhân cũng cho xây hơn một trăm ngôi chùa Năm

1102, xây dựng các chùa Khai Nguyên, Thái Dương, Bắc Đế Năm 1105, mở mang chùa Diên Hựu xây dựng hai tháp ở đây Năm 1114, xây dựng chùa Thắng Nghiêm Năm 1124, dựng chùa Hộ Thánh…

Trong đời vua Lý Thần Tông, năm 1130 khánh thành chùa Quảng Nghiêm Tư Thánh, năm 1133 dựng chùa Diên Sanh Ngũ Nhạc, năm 1134 dựng hai chùa Thiên Ninh, Thiên Thành…

Trong đời vua Lý Anh Tông năm 1145 dựng chùa Vĩnh Long, Phúc Thánh Năm 1158 dựng chùa Chân Giao…

Đời các vua Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông duy nhất có Đại Việt sử lược

chép: Năm 1206 xây dựng chùa Thánh Huân… Ngoài các chùa tháp do các vua xây dựng, sử sách còn ghi lại một số ngôi chùa do các quan đại thần xây dựng Trong đó, ở Hà Nội hai ngôi chùa Láng và chùa Thầy là hai ngôi chùa lớn thờ Từ Đạo Hạnh cũng được xây dựng dưới triều Lý

Những công trình mỹ thuật của đạo Phật đời Lý rất nhiều nhưng những

di tích còn lại tới ngày nay lại rất ít

Ngoài việc cho xây chùa tháp, dưới thời Lý, số lượng tăng quan, sư sãi cũng khá đông Có nhiều đợt độ dân làm tăng với số lượng lớn Năm 1010, khi mới lên ngôi, vua Lý Thái Tổ đã có lệnh độ dân làm sư Năm 1016, hơn một nghìn người ở kinh đô Thăng Long được độ làm tăng đạo Năm 1019, Lý Thái Tổ lại xuống chiếu độ dân trong cả nước làm sư Vì có nhiều người xuất gia nên thời Lý, trong nhiều chùa số tăng đồ lên rất đông Thiền sư Đa Bảo ở

Trang 28

chùa Kiến Sơ (Hà Nội) có hơn một trăm tăng đồ Thiền sư Đạo Huệ ở chùa

Quang Minh có học trò hơn nghìn người…

1.2.2 Vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo tới văn hóa, chính trị của đất nước

Trong bộ máy chính quyền trung ương của triều Lý lúc bấy giờ có một ngạch quan dành riêng cho những người tu hành gọi là hệ thống Tăng quan Đứng đầu hệ thống Tăng quan là vị Tăng thống, Tăng thống là người đứng đầu Tăng ni cả nước Bên dưới Tăng thống là hệ thống các tăng quan Khi đất nước có đại sự, các bậc Tăng quan được vua mời đến để thỉnh thị những cao kiến hay bàn bạc cùng nhà vua Một số nhà sư đóng góp công lao to lớn với đất nước được phong làm Quốc sư như Quốc sư Viên Thông, Thông Biện…

Lý Thái Tổ vốn xuất thân từ cửa Phật nên sớm thấm nhuần tư tưởng của Phật giáo Vì thế Phật giáo sớm có ảnh hưởng đến đường lối, tinh thần nhân trị của không chỉ Lý Công Uẩn mà còn các vị vua triều Lý khác thông qua đội ngũ Tăng quan trực tiếp tham gia đào tạo, tham mưu các công việc triều chính Tư tưởng Phật giáo của các Tăng quan trực tiếp tác động đến phương thức hành xử trong đạo trị nước của các vua triều Lý Đường lối đó là trị nước bằng đạo đức, nhân từ theo tinh thần “thương người như thể thương thân” chẳng khác nào lòng

từ bi của đức Phật Nhờ đó mà triều đình nhà Lý đã đưa ra những chính sách hợp lòng dân, đem lại hạnh phúc ấm no cho dân chúng, đất nước thái bình an lạc Có thể nói giáo lý từ bi trí tuệ và những tư tưởng cứu thế của Phật giáo ảnh hưởng rất sâu đậm tới đời sống xã hội, chính trị của nước ta thời Lý

Không chỉ trong chính trị, xã hội mà trong đời sống văn hóa, Phật giáo cũng ghi dấu ấn mạnh mẽ Tinh thần sùng Phật của người dân đã biểu hiện qua các sinh hoạt Phật giáo, cùng với nhiều hội lễ của nó đã trở thành một đặc điểm của văn hóa thời Lý Đó là những lễ khánh thành chùa, hội khánh thành tượng, lễ tắm Phật, lễ Vu lan… Tại các ngôi chùa địa phương, người dân

Trang 29

trong vùng cũng tổ chức những lễ hội thu hút đông đảo người tham gia Ở thời Lý nhà chùa không chỉ là nơi các nhà sư tu hành, dân chúng tới cúng Phật mà còn là trung tâm sinh hoạt lễ hội văn hóa của người dân

Đối với văn học, đặc biệt phải kể tới nền văn học Phật giáo với sự xuất hiện của một lực lượng tác gia lỗi lạc mà đa phần là các vị thiền sư uyên bác: thiền sư Mãn Giác, Viên Chiếu, Viên Thông, Không Lộ, Quảng Nghiêm, Bảo Giác, Ngộ Ấn… Vào thời kỳ này một tác phẩm Phật giáo rất có giá trị là

Thiền uyển tập anh được ra đời trong đó ghi lại hành trạng của 68 vị thiền sư

lỗi lạc Các nhà sư thời nhà Lý đã đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn học

cổ dân tộc Các sáng tác của các thiền sư phần lớn mang ý nghĩa khai sáng con đường giác ngộ nhân thế nhưng vẫn bao hàm yếu tố xã hội tích cực, mang đậm giá trị nhân văn Các tác phẩm ấy đã đóng góp rất lớn vào việc khơi nguồn đạo đức, xây dựng đời sống tâm linh bền vững trên dòng chảy thế sự thông qua các chủ đề Phật giáo Khi bàn về văn học Phật giáo thời Lý,

Nguyễn Đổng Chi trong tác phẩm Việt Nam cổ văn học sử đã nhận xét: trong

thế kỷ X, cửa chùa đã đóng một vai trò rất quan trọng về văn học Cũng vì thế

mà đạo Phật ở Việt Nam từ đó càng lắm tín đồ và được chính phủ nể vì

1.2.3 Yếu tố Mật giáo của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi

Khác với Thiền tông Ấn Độ và Trung Quốc, Phật giáo Việt Nam đã kết hợp với tín ngưỡng bản địa, với yếu tố thần thuật của Đạo giáo pháp thuật nên mới có câu chuyện những thiền sư tiên đoán vận mệnh xã tắc như Vạn Hạnh, dùng thuật chữa bệnh, cầu mưa, để hàng long phục hổ… như Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không… Phật giáo thời Lý đã kết hợp với Mật tông Đã có nhiều thiền sư học chú, tu luyện các phép Tổng trì Đà La Ni của Mật tông

Theo Việt Nam Phật giáo sử luận, Mật giáo là giai đoạn phát triển thứ ba

của tư tưởng Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ Giai đoạn này bắt đầu từ thế kỷ thứ IV

Trang 30

Mật giáo bắt nguồn từ tư tưởng thâm sâu của Bát nhã đồng thời cũng bắt nguồn từ những tín ngưỡng nhân gian Ấn Độ Mật giáo chấp nhận sự có mặt của các thần linh được thờ phụng trong dân gian vì thế đạo Phật có cơ hội được phát triển rất rộng trong sinh hoạt của người dân Mật giáo được truyền vào nước ta sớm nhất là vào khoảng nửa cuối thế kỷ X mà chứng cớ là các cột kinh Đà La Ni tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình) [66, tr 39 - 50] Khi vào nước

ta, khuynh hướng của Mật giáo rất phù hợp với sinh hoạt tín ngưỡng và phong tục người Việt, vì vậy Mật giáo đã trở thành một yếu tố rất quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của người dân Theo Mật giáo, trong vũ trụ có ẩn tàng những thế lực siêu nhiên, nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên kia thì ta có thể mau chóng tới con đường giác ngộ thành đạo Sự giác ngộ có thể thực hiện trong giây lát bằng các thế lực của thần linh, sự sử dụng thần chú, ấn quyết và các hình ảnh mạn Đà La Nhờ khuynh hướng này của Mật giáo mà Phật giáo đã bao trùm mọi tín ngưỡng bình dân ở Ấn Độ cũng như ở Việt Nam

1.3 Con người, cuộc đời Từ Đạo Hạnh

Trang 31

Cha ông bị một pháp sư hại chết, để trả thù cho cha, ông đã tìm đường tu hành, rồi trở thành nhà sư thuộc thế hệ thứ 12 dòng thiền Nam phương Qua những truyền thuyết còn lưu lại, phần sau cuộc đời Từ Đạo Hạnh mang nhiều màu sắc huyền thoại Ngoài việc chữa bệnh giúp dân, xây chùa, giảng đạo… ông còn được biết đến với những tài năng kỳ lạ: có phép thiêng hàng long phục

hổ, đốt ngón tay cầu đảo, phun nước chữa bệnh, đặc biệt có truyền thuyết kể rằng, khi chết đi, Từ Đạo Hạnh hóa thành con Sùng Hiền Hầu, sau trở thành vua Lý Thần Tông Có thể nói những chi tiết hư cấu đã đi quá xa một bản tiểu

sử xác thực và biến Từ Đạo Hạnh thành một nhân vật huyền thoại

Loại trừ lớp áo huyền thoại ấy đi, theo Lịch sử Phật giáo Việt Nam, ông là

thiền sư thuộc thế hệ thứ 12 dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi thời Lý cùng với Vạn Hạnh (? - 1018), Định Huệ (? -?), Trì Bát (1019 - 1116), Thuần Chân (? - 1101)

và hai người không rõ danh tính Ông được cho là nhà sư mà mọi hành vi đều in dấu Mật giáo “Đến thời Lý, nhiều nhà sư ở phái này vẫn tiếp tục các phép tu tập Mật giáo Đại diện tiêu biểu là thiền sư Từ Đạo Hạnh, người cùng thế hệ với sư Vạn Hạnh Tiểu sử của Đạo Hạnh gắn liền với hàng loạt truyện thần bí, như sai người thần, múa gậy phép, đầu thai, trút xác… Sư thường bắt rắn rừng và dã thú đến nằm phục chung quanh Sư đốt ngón tay cầu mưa, dùng nước phép chữa bệnh, không việc gì là không linh nghiệm Cũng giống với sư Ma Hạ thời Lê, cách tu tập của Đạo Hạnh có tính chất Mật giáo: “Sư lên ẩn ở núi Từ Sơn, ngày

ngày tụng niệm kinh Đại bi tâm đà la ni đủ mười vạn tám nghìn lần””

Các sách Việt Nam Phật giáo sử lược, Việt Nam Phật giáo sử luận, cũng

nhắc đến Từ Đạo Hạnh với vai trò là một nhà sư của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi Người nổi tiếng với những pháp thuật của Mật giáo

1.3.2 Vai trò của Từ Đạo Hạnh trong lịch sử

Những đóng góp và công lao của Từ Đạo Hạnh trong lịch sử đã được dân gian kể lại, cũng như được ghi dấu trong nhiều văn bia, tài liệu cổ như:

Thiền uyển tập anh, Lĩnh Nam chích quái, Việt sử lược, Đại Việt u linh…

Trang 32

Theo truyền tụng trong dân gian làng Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội), Từ Đạo Hạnh là một thiền sư với trí tuệ lớn và những hiểu biết uyên thâm về nho, y,

lý, số Vốn ưa thích múa hát, ông đã dạy dân hát chèo và sáng tạo nên trò múa rối và truyền dạy cho dân chúng Vì thế dân gian đã gọi ông là “Thầy” với nghĩa ông là thầy thuốc, thầy dạy dân nghệ thuật rối nước Và ngôi chùa và ngọn núi Từ Đạo Hạnh tu trì và tĩnh tọa cũng có tên là chùa Thầy, núi Thầy Qua văn khắc trên chuông chùa Thiên Phúc [86], ở núi Phật Tích, xã Thụy Khê, huyện An Sơn, phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây chúng ta cũng thấy được những đóng góp mà Từ Đạo Hạnh đem lại cho người dân Đó là những đóng góp về đời sống, văn hóa, về việc truyền bá Phật giáo: “Nay có thầy Đạo Hạnh từ bé cho đến lớn, cốt cách lạ thường, tụng học kinh Liên sang sảng Xuất gia hành đạo, thấm nhuần ý Phật từ bi Xây tháp trang nghiêm Học kinh kệ thấm nhuần đạo

lý Gặp lúc trời hạn vung tay một cái trời mưa xuống dầm dề… Dân gặp lúc bịnh dịch, phẩy nước lạnh thì bịnh lành ngay Việc chưa xảy ra mà đoán biết trước như có phù phép Kinh dạy rằng Phật có “Tám Lời”, nếu không có thầy thì làm sao “Tám Lời” âm vang tiếp tục Phật đặt ra “Thi La”, nếu không có thầy thì làm sao “Thi La” bền vững Nếu không có thầy thì làm sao thắp được hương trong vườn phúc của Đế Thích… Quan âm cứu nạn, nếu không có thầy thì ai biết đến công đức của ngài Cao tăng tỏ việc linh dị, nếu không có thầy ai nối gót thần linh? Thầy ở suốt sáu năm ân huệ vun đầy Các hoàng tử xe ngựa tới lui tấp nập Mọi người trong nước đến dâng hoa đảnh lễ Vua cho người lại ban chiếu chỉ, làm tiệc chay cúng dường Ban cho áo mão cà sa, cung nghinh như bậc thượng khách” Cũng trên văn bia này còn ghi lại việc thầy trò Từ Đạo Hạnh cùng nhau đúc chuông: “Thầy nói rằng: “Chùa thì trang nghiêm, Phật tử thì đông đúc Gặp lúc lễ lượt thuyết pháp thì phải treo chuông cảnh tỉnh Phật pháp là chuyện của ta, nhưng chuông thì phải nhờ người”… Người ta tranh nhau đi theo chưa đầy hai mươi ngày mà đã quyên được đồng đỏ chất một đống cao… Chuông đúc xong thấy rõ lạ thường, có nhiều điểm tốt lành…” Có thể nói, Từ

Trang 33

Đạo Hạnh đã làm rất nhiều việc giúp đỡ dân chúng cũng như các đồ đệ của mình đúng như lời truyền tụng trong dân gian

Từ xưa, người dân Hà Tây (cũ) và một số vùng thuộc đồng bằng Bắc Bộ còn tôn Từ Đạo Hạnh là thầy tổ và người bảo hộ của nghệ thuật múa rối nước

Có một tục lệ khá xưa cổ, phường rối nước làng Ra, một làng thuộc xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, kề bên làng Thầy có quyền được diễn chầu ở Thủy Đình trên hồ Long Trì vào những ngày diễn ra hội chùa Thầy Về phía làng

Ra dân chúng vẫn truyền rằng: chính thủy tổ nghề rối nước là Từ Đạo Hạnh truyền dạy nghề cho họ Để ghi nhớ công ơn thiền sư với nghề múa rối nước, trong gian Thượng điện ở chùa Thầy, phía trái có pho tượng Từ Đạo Hạnh được tạo tác theo dạng có thể cử động đứng lên ngồi xuống khi mở cửa khám thờ Ngoài làng Ra, ngày nay phương rối nước Chàng Sơn, Yên Sơn vẫn giữ được nghề tổ rối nước Cả ba làng đều tôn Đạo Hạnh là thủy tổ

Nay ở chùa Bi (Nam Giang, Nam Trực, Nam Định) có nghề múa rối Đầu

gỗ mà theo tương truyền ông tổ cũng chính là Từ Đạo Hạnh Theo tích xưa, vì cha của Từ Đạo Hạnh là Từ Vinh bị sư Đại Điên ám hại, hai mẹ con Từ Đạo Hạnh trốn tránh sự truy sát của kẻ thù mà chạy về xã Chân Đàm, huyện Tây Chấn, trấn Sơn Nam (nay là xã Nam Giang, huyện Nam Trực, Nam Định) Ở đây, ông lập am tu hành và kết bạn cùng Nguyễn Giác Hải và Dương Không

Lộ Ba người đồng hành vượt biển đi cầu đạo Sau rồi mới đắc đạo trở về Chính vì vậy mà tại đây người dân mới xây dựng ngôi chùa Đại Bi để thờ Vào ngày lễ hội (ngày 21 đến 24 tháng giêng), chùa có tổ chức trò múa rối Trong đó có tiết mục múa rối hầu Thánh Khi biểu diễn người cầm rối múa, hát, gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn che mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong nội tự chùa, mặt quay về phía ban thờ Phật và ban thờ đức thánh

Từ Đạo Hạnh nên mới gọi là múa rối hầu Thánh Theo người dân ở đây, “hầu

Trang 34

Thánh” ở đây mang ý nghĩa là để tạ ơn Thánh Từ đã có công giúp dân làng thoát khỏi nạn lụt và dạy dân làng nghệ thuật múa rối

Từ Đạo Hạnh còn được biết đến là một tác giả văn học Sáng tác của ông

để lại không nhiều (bốn bài thơ) nhưng cũng để lại dấu ấn, góp phần làm rạng

rỡ nền văn học đời Lý Trong Thơ văn Lý - Trần, Từ điển văn học có ghi lại

các sáng tác của ông: “Về văn nghiệp chỉ còn bốn bài thơ, đều là những tác

phẩm giãi bày triết lý đạo thiền Bài thứ nhất Vấn Kiều Trí Huyền (Hỏi Kiều

Trí Huyền), có lẽ làm khi chưa đắc đạo, phản ánh nỗi băn khoăn, đau khổ và

lòng mong mỏi tìm ra chân lý Bài thứ hai Thất châu (Mất hạt châu), đã tiến

hơn một bước, nhận thức được chân lý, nỗi buồn cho người đời không mấy ai

đạt được nhận thức ấy Bài thứ ba Hữu không (Có và không), cao hơn một

bước nữa, giải thích nhuần nhuyễn mối quan hệ giữa có và không, một phạm

trù cơ bản của triết lý đạo Phật Và bài cuối cùng Thị tịch cáo đại chúng (Sắp

mất bảo mọi người) là sự thể hiện hoàn chỉnh những tư tưởng biện chứng ở trên, cũng là lời căn dặn đồ đệ trước khi mất: đừng quá thương xót vì cái chết chỉ là một khâu trong quá trình chuyển hóa vô tận giữa không và sắc” [43, tr

1897 - 1898] Từ Đạo Hạnh đã cho thấy ông không chỉ là nhà thơ, mà còn là nhà tư tưởng thâm thúy Sáng tác của thiền sư là một giá trị văn học đã đạt đến chân lý giác ngộ, góp phần cho tư tưởng chủ đạo nước nhà thời bấy giờ Ngoài ra theo truyền thuyết, Từ Đạo Hạnh còn có công lớn đối với triều đình nhà Lý, khi ông ngăn không cho Giác Hoàng (hóa thân của pháp sư Đại Điên) đầu thai làm vua Sau Từ Đạo Hạnh đã thác thai làm con Sùng Hiền Hầu là Dương Hoán, vua Lý Nhân Tông không có con trai nên Dương Hoán

đã lên làm vua - tức vua Lý Thần Tông Về mặt sự thật lịch sử chi tiết này cho thấy sự hoang đường không có thực, nhưng trong tín ngưỡng của nhân dân,

nó là sự thể hiện niềm tin, sự biết ơn, tôn kính đối với công lao của Từ Đạo Hạnh một đức Phật, một vị Thánh, một vị Vua

Trang 35

Từ Đạo Hạnh là một trong những hiện tượng văn hóa đặc biệt Từ Đạo Hạnh không chỉ là một thiền sư, ông còn là một tác gia văn học, một danh nhân văn hóa - lịch sử Cuộc đời ông được kể lại với nhiều màu sắc huyền thoại

Tiểu kết

Vùng văn hóa Hà Nội, Hà Tây cũ là những vùng có lịch sử văn hóa phát triển lâu đời, là mảnh đất tiêu biểu về văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của cả nước Nổi tiếng là vùng “địa linh nhân kiệt”, nơi đây đã sản sinh ra biết bao anh hùng, những danh nhân văn hóa, những người đã đóng góp công lao to

lớn cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển của đất nước

Phật giáo đã du nhập sớm vào nước ta từ thời kỳ đầu công nguyên Trải qua các triều đại, đặc biệt trong triều nhà Lý, khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Phật giáo đã phát triển cực thịnh, trở thành quốc giáo Phật giáo

đã có những đóng góp vô cùng hiệu quả trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước

Trong thời kỳ đó, dưới tầm ảnh hưởng của Phật giáo, đã xuất hiện nhiều

vị thiền sư có công trạng, vai trò lớn đối với lịch sử dân tộc Trong đó có thiền

sư Từ Đạo Hạnh - một danh nhân văn hóa Với những công lao, đóng góp của mình, ông đã được nhân dân biết ơn, tôn thờ gọi là Thầy, là Phật, là Thánh

Trang 36

Chương 2 KHẢO SÁT TRUYỀN THUYẾT VỀ TỪ ĐẠO HẠNH

2.1 Khái niệm và đặc trưng của truyền thuyết

Truyền thuyết dân gian là một thể loại quan trọng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Truyền thuyết ở Việt Nam có từ khá sớm (thế kỷ XIV, XV), nhưng thuật ngữ cùng việc công nhận nó lại ra đời khá muộn khoảng giữa thế kỷ XX Xung quanh các vấn đề về nội hàm, ngoại diện của khái niệm và đặc trưng của truyền thuyết luôn có những tranh luận trong giới nghiên cứu văn học dân gian

Kể từ bài viết Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta của tác giả Đào Duy Anh trên tạp chí Tri ân, số 30, năm 1942, thuật ngữ truyền thuyết đã

được sử dụng Cho tới những năm 50 của thế kỷ XX với các công trình

nghiên cứu: Lược khảo về thần thoại Việt Nam, Kho tàng truyện cổ tích Việt

Nam (Nguyễn Đổng Chi), Truyện cổ tích Việt Nam (Vũ Ngọc Phan)… thể

loại truyền thuyết mới thực sự được công nhận

Năm 1961, trong bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của trường

Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả Đỗ Bình Trị thừa nhận truyền thuyết là một thể loại và đã đưa ra định nghĩa về nó: “Truyền thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu - là lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử” [79, tr.176]

Năm 1969, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong bài báo Nhân ngày Giỗ

Tổ vua Hùng đã nêu ra vấn đề mẫu chốt của truyền thuyết là mối quan hệ giữa

lịch sử và truyền thuyết: “Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi

là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hoá, gửi gắm vào

đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hoá mà đời đời con cháu còn ưa thích” [13, tr.48 - 49]

Trang 37

Năm 1971, trong công trình Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại

hình tự sự dân gian Việt Nam, tác giả Kiều Thu Hoạch có nêu khái niệm về

truyền thuyết: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích

và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân, mà thường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn, nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên

và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” [23, tr 175 - 176]

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, GS Lê Chí Quế, trong giáo trình Văn

học dân gian Việt Nam, đã đưa ra định nghĩa về thể loại truyền thuyết:

“Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những

sự kiện, nhân vật lịch sử hay di tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ” [55, tr.49]

Như vậy, qua việc tìm hiểu và tiếp thu các nghiên cứu đi trước về thể loại truyền thuyết, chúng tôi khái quát: truyền thuyết là những truyện kể về những

sự kiện lịch sử, những nhân vật lịch sử, những địa danh, những di tích dựa trên những điều có thật trong lịch sử nhưng được nhân dân hư cấu, sáng tạo

Đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyền thuyết là: tính hư cấu con người

có thực và cốt lõi hiện thực lịch sử, sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ trong hình thức biểu hiện Hình tượng nhân vật trong truyền thuyết thường được xây dựng bằng các motif cơ bản: sinh nở thần kỳ, chiến công phi thường và hóa thân Đặc điểm tư tưởng - thẩm mỹ của thể loại truyền thuyết là: thể hiện

Trang 38

ý chí quyết chiến, quyết thắng và tinh thần quật cường dân tộc mạnh mẽ của nhân dân ta mà tiêu biểu là các anh hùng chống giặc ngoại xâm; thể hiện tinh thần đoàn kết chiến đấu mà biểu hiện là chủ nghĩa anh hùng tập thể; khẳng định sức mạnh của truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam là một sức mạnh thần kỳ không kẻ thù nào thắng nổi

Giống như nhiều thể loại văn học dân gian khác, truyền thuyết cũng lưu truyền rộng rãi trong dân gian và được ghi chép lại trong các thư tịch cổ, các văn bản Ngoài ra, truyền thuyết còn gắn liền với các yếu tố phi văn bản như hội lễ,

di tích vật thể (văn bia, miếu, đình, đền, chùa ) Môi trường diễn xướng của truyền thuyết chính là hội lễ với các nghi thức thờ cúng Trong lễ hội, một lần nữa các nhân vật, các sự kiện lịch sử được tái hiện một cách cụ thể, sinh động 2.2 Khảo sát truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh

2.2.1 Nội dung của các truyền thuyết

Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh qua các nguồn tư liệu sau:

Bản kê văn bản truyện kể về Từ Đạo Hạnh

Thiền sư Đạo Hạnh Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga - Thiên uyển

tập anh [77, tr 197]

Sự tích Đại thánh Từ Đạo Hạnh Lý Tế Xuyên - Việt điện u linh [87, tr 86]

Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn

Minh Không

Vũ Quỳnh - Kiều Phú - Lĩnh Nam chích quái

[52, tr 85]

Nhà sư Từ Đạo Hạnh Lê Tắc – An Nam chí lược [64, tr 274]

Hồi hăm ba: Tiền sư họ Nguyễn

Đạo cao đức trọng, Hòa thượng

họ Từ Công vẹn danh lừng

Vũ Quỳnh - Tân đính Lĩnh Nam chích quái [53, tr 209]

Trang 39

Văn khắc chuông chùa Thiên Phúc Nguyễn Hữu Vinh (dịch và giới thiệu), Thích

Từ Đạo Hạnh Kiều Thu Hoạch, Trần Thị An, Mai Ngọc

Hồng – Truyền thuyết dân gian người Việt

[22]

Khảo sát một số văn bản về hiện tượng Từ Đạo Hạnh, chúng tôi rút ra

một số nhận xét sau: Truyện Thiền sư Đạo Hạnh trong sách Thiền uyển tập

anh là văn bản tương đối ngắn gọn Mở đầu truyện giới thiệu về quê quán,

cha mẹ của Từ Lộ Sau Từ Lộ vì muốn báo thù cho cha đã lên đường sang Ấn

Độ học phép lạ, nhưng trên đường đi ông đã quay về và vào ẩn cư tại núi Phật Tích, sau đắc đạo ông trả thù cho cha và giúp đỡ dân lành cầu mưa, chữa bệnh… Truyện còn chép việc Từ Đạo Hạnh thác sinh làm con của Sùng Hiền Hầu Truyện kết thúc khi Đạo Hạnh đọc bài kệ từ biệt các đệ tử rồi hóa: “Nói xong sư trang nghiêm mà hóa, đến nay hình xác vẫn còn”

Bản Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không trong Lĩnh Nam chích

quái Đoạn mở đầu giới thiệu khái quát về cha mẹ Từ Đạo Hạnh Đoạn nói về

hành trạng của nhân vật chính có điểm khác biệt, Từ Đạo Hạnh muốn sang

Ấn Độ học phép thuật để trả thù cho cha nhưng “đường đi qua đất rợ Kim Xỉ

Trang 40

(răng vàng) thấy hiểm trở bèn quay về, ẩn cư ở núi Phật Tích, thường ngày

đọc kinh Đại bi đà la ni đọc trọn mười vạn tám nghìn lần” Sau đoạn giới

thiệu về Giác Hoàng có thêm một câu nhấn mạnh: “Đó chính là Đại Điên hóa sinh vậy” Phần cốt truyện bao gồm các bài thơ (kệ) khá đầy đủ Phần cuối có lắp ghép thêm truyện về Nguyễn Minh Không

Trong Tân đính Lĩnh Nam chích quái, đoạn mở đầu truyện Từ Đạo Hạnh

kể chi tiết về bà mẹ, về việc ra đời kỳ lạ của Đạo Hạnh: “Tăng Thị nằm mộng thấy ở tay phải nổi lên một chấm đỏ như ngọc Rồi dần dần chấm đỏ nổi ra một cái hoa, mùi thơm ngát, bà sợ quá tỉnh dậy, bèn có mang, sau sinh ra Đạo Hạnh” Truyện cũng chi tiết về cái chết của Từ Vinh Đạo Hạnh trên đường sang Tây Thiên học phép cũng quay về vào hang Phật Tích học đạo Truyện cũng chép việc Đại Điên hóa sinh làm Giác Hoàng và cuối truyện có ghép thêm truyện về Nguyễn Minh Không chữa bệnh cho vua

Trong Việt điện u linh, ở cả 8 văn bản còn lại và so 27 truyện gốc đều không chép truyện Từ Đạo Hạnh ở phần chính biên Truyện chỉ xuất hiện trong phần Tục

biên, Tân san, Hiệu tập, Tân đính, Hiệu bình, Trùng bổ… Truyện Sự tích đại thánh

Từ Đạo Hạnh thuộc phần trùng bổ có thêm một số chi tiết: Đoạn mở đầu ghi rõ mẹ

tên là Loan “nhà ở được kiểu đất quý”, “sinh ra được Từ Đạo Hạnh có khí cốt tiên Phật, lúc còn trẻ hay chơi bời phóng túng, nhưng có chí lớn, cách cử động ít người lường biết” “Cha tên là Vinh theo học đạo Phật làm chức Đô sát ngạch tăng quan đời Lý” Từ Đạo Hạnh đi Tây Thiên học thuật lạ cùng Minh Không và Giác Hải Gặp cụ già đọc cho nghe bài kệ Minh Không, Giác Hải học được phép thiêng trở

về trước Đạo Hạnh làm phép rút ngắn đất và hóa hình làm hổ dọa hai bạn Trong bản kể này chi tiết Đại Điên hóa sinh làm Giác Hoàng bị lược bỏ mà Đạo Hạnh làm

lễ “cầu tự” thác sinh làm con Sùng Hiền Hầu sau thành vua Lý Thần Tông Phần cuối truyện ngoài chi tiết Minh Không và Giác Hải mời quân lính ăn cơm “Thạch Sanh”, chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông, truyện còn thêm chi tiết về “chân

Ngày đăng: 23/03/2015, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn An, Múa rối chùa Bi, http://www.daibieunhandan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa rối chùa Bi
Tác giả: Nguyễn An
2. Trần Thị An (2000), Đặc trưng thể loại truyền thuyết và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Thư viện Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng thể loại truyền thuyết và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2000
3. Nguyễn Huệ Chi (1977), Thơ văn Lý - Trần, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý - Trần
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1977
4. Nguyễn Đổng Chi (1993), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 3), Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Năm: 1993
5. Nguyễn Đổng Chi (1993), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 5), Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Năm: 1993
6. Anh Chi, Nghệ thuật múa rối nước của Việt Nam, http://www.honvietquochoc.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật múa rối nước của Việt Nam
Tác giả: Anh Chi
7. Nguyễn Mạnh Cường, Đinh Viết Lực, Nguyễn Đức Dũng (2011), Từ Đạo Hạnh - Trần Nhân Tông (Những trái chiều lịch sử), Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Đạo Hạnh - Trần Nhân Tông (Những trái chiều lịch sử)
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Đinh Viết Lực, Nguyễn Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện văn hóa
Năm: 2011
8. Thích Đồng Bổn (chủ biên), Thích Tuệ Nhật, Thích Phương Huyền (2010), Phật giáo đời Lý, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo đời Lý
Tác giả: Thích Đồng Bổn (chủ biên), Thích Tuệ Nhật, Thích Phương Huyền
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2010
9. Thích Đồng Bổn (2011), “Đóng góp thêm các bản dịch mới về bài kệ của Thiền sư Từ Đạo Hạnh”, Văn học, Phật giáo với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng góp thêm các bản dịch mới về bài kệ của Thiền sư Từ Đạo Hạnh”, "Văn học, Phật giáo với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Thích Đồng Bổn
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2011
10. Hà Lâm Bùi (1995), “Phát hiện thêm một di chứng khảo cổ học thuộc văn hóa Phùng Nguyên”, Báo Nhân Dân, 23/10/1995, tr 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện thêm một di chứng khảo cổ học thuộc văn hóa Phùng Nguyên”, Báo "Nhân Dân
Tác giả: Hà Lâm Bùi
Năm: 1995
11. Nguyễn Xuân Diện, Những phát hiện sớm nhất về Tứ bất tử Việt Nam, http://vietsciences.free.fr/vietnam/sudia/nhungphathien-tubattuvn.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện sớm nhất về Tứ bất tử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện
12. Lê Quý Đôn (1962), Kiến văn tiểu lục, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến văn tiểu lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1962
13. Phạm Văn Đồng, Nhân ngày giỗ Tổ vua Hùng, Báo Nhân Dân, ngày 29/4/1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân ngày giỗ Tổ vua Hùng", Báo "Nhân Dân
14. La Mai Thi Gia (2011), “Nguồn gốc Phật giáo của motif tái sinh trong truyện kể dân gian Việt Nam”, Văn học, Phật giáo với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc Phật giáo của motif tái sinh trong truyện kể dân gian Việt Nam”, "Văn học, Phật giáo với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: La Mai Thi Gia
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2011
15. Nguyễn Bích Hà (1998), Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
17. Mai Thanh Hải (2004), Địa chí tôn giáo lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí tôn giáo lễ hội Việt Nam
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2004
18. Mai Thanh Hải (2005), Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
19. Đỗ Đức Hiểu (chủ biên) (1984), Từ điển văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1984
20. Nguyễn Duy Hinh (2007), Một số bài viết về tôn giáo học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bài viết về tôn giáo học
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm